Một ngày đã sắp qua đi, trưa đã ngả sang chiều, nắng chói chang rải xuống khắp núi đồi Yên Thế. Những đồi núi quanh co cao thấp muôn hình thù xanh mướt màu xanh cây lá chìm trong nắng chiều. Mặt trời màu vàng đã ngả về tây, phiên chợ của làng Vân đã vãn người, không còn đông đúc. Tuy vậy, các quán nước, quán cơm, hàng rau quả vẫn còn bày la liệt, người vẫn đi lại mua bán nhưng thưa thớt của buổi chợ chiều.
Quán nước của bà Màu nằm cạnh con đường cái lớn đi vào chợ nên thường đông khách nhưng bây giờ đã chiều muộn nên chỉ còn một người khách quý. Đó là một thanh nữ khoảng hơn 20 tuổi. Mái tóc dầy óng mượt được quấn trong chiếc khăn đen đội đầu vẫn thừa ra đuôi tóc đen óng ả chảy xuống. Dưới vành khăn đó là một khuôn mặt trái xoan, nước da trắng mịn, hai má hồng hồng, đôi mắt to tròn lúng liếng, môi như bông hoa đỏ thắm nước trầu, chiếc áo màu nâu ôm lấy thân hình thon lẳn lưng ong thắt đáy, bên dưới là chiếc váy màu đen buông dài tới gót chân. Bà Màu nhìn cô gái không chán mắt. Bà nghĩ thầm: “Quả là một người con gái xinh đẹp, đảm đang nổi tiếng khắp vùng. Chả trách bao kẻ nhà giàu tìm cách mượn người mai mối để mong lấy được nàng. Thậm chí mấy kẻ giàu quyền thế còn dọa dẫm ép duyên". Bà Màu nói:
-Cô Nhu uống thêm bát nước rồi hãy về.
Thì ra tên nàng là Nhu. Nhu nhẹ nhàng mĩm cười đáp lại:
-Đa tạ bà, nước chè của bà ngon thật, thì bà cho con xin bát nữa.
Bát nước đã giữ chân nàng lại thêm một ít thời gian. Nhu đang uống nước thì một người lái buôn bước vào quán. Người đó khoảng 30 tuổi, đầu chít khăn nâu, bận áo dài nâu, quần nâu, chân đi giầy vải đen, vai khoác một bọc túi nâu nhỏ. Nàng Nhu liếc nhìn thì ra đó là một người đàn ông tầm vóc trung bình nhưng vạm vỡ, khỏe mạnh, khuôn mặt vuông, mắt sáng, mày rậm, đôi môi dày, nước da đỏ au sạm màu sương gió. Người đó ngồi xuống và nói:
-Thưa bà, cho con bát nước.
Bà Màu vui vẻ:
-Có ngay, mời quan khách.
-Dạ, đa tạ bà, đa tạ, xin mời bà và quý cô.
Bà Màu và cô Nhu cùng đáp:
-Xin mời quan khách.
Trong khi người đàn ông uống nước, bà Màu hỏi:
-Quan khách từ đâu tới? Trời sắp tối rồi, quan khách định về đâu? Tên quý khách là gì?
Người đàn ông trẻ tuổi đáp:
-Thưa bà, tên con là Hoàng Hoa Thám. Con là dân đi buôn, dọc đường đến Kép đã bị bọn thảo khấu cướp hết hàng hóa, may mà thoát thân, bây giờ cũng chưa biết về đâu nữa.
Cô Nhu vừa uống nước, vừa nghe chuyện giữa hai người. Cô nhìn lại người đàn ông trẻ một lần nữa, thốt nhiên cô cảm thấy cảm thương. Cô mạnh dạn nói:
-Quý khách quả là gặp điều không may. Nhà tôi cũng gần đây, quý khách có thể về nghỉ tạm rồi sáng mai đi tiếp. Nhà tôi có cha, anh và em trai, đừng ngại.
Hoàng Hoa Thám đưa mắt nhìn người thanh nữ, quả là một người con gái xinh đẹp, sắc nước hương trời. Hoàng Hoa Thám nói:
-Đa tạ quý cô, nhưng vậy sẽ bất tiện cho quý cô.
Bà Màu nói:
-Đây là cô Nhu, hiện đang ở với bố và anh nuôi, có gì mà bất tiện. Về đó ba người đàn ông nói chuyện suốt đêm không vui à?
Cô Nhu nói:
-Bố con nói hôm nay nhà sẽ có khách quý, quả không sai.
Bà Màu nói:
-Ông cụ là thầy cúng, cũng là thầy tướng số nổi tiếng vùng Yên Thế này. Cụ đã nói vậy là trời định rồi, quý khách không nên từ chối.
Hoàng Hoa Thám nói:
-Con xin vâng lời bà và quý cô. Dạ, tiền nước hết bao nhiêu ạ?
-Thôi tiền nong gì.
-Đa tạ bà, xin cáo biệt bà.
Hai người chào bà hàng nước rồi đi. Cô Nhu mua thêm chai rượu và con gà vì nhà hôm nay có khách. Những món đồ nặng thì Hoàng Hoa Thám xách đỡ cô Nhu. Hai người đi bộ khoảng một dặm đường thì rẽ vào một cái ngõ lát gạch, từ đó đi thẳng vào một căn nhà ngói ba gian, gọn gàng sạch sẽ. Trước nhà là cái sân gạch, chung quanh sân là vườn, gần ngay ngõ là một cái ao. Những cây cau, cây mít, cây nhãn soi bóng xuống đáy ao lung linh gợn nước. Trong nhà, gian giữa kê bàn thờ gia tiên, có đặt bài vị, tay ngai sơn son thếp vàng óng ánh, phía trước là những lư hương đồng ngả màu vàng và những bát hương màu sứ trắng có vẽ long phượng màu xanh. Phía ngoài bàn thờ là bộ bàn ghế tràng kỷ màu gụ sẫm, tất cả đều khảm trai hoa văn cầu kỳ óng ánh. Hai người, một già, một trẻ đang ngồi đối diện trên ghế uống trà và đàm đạo. Một người khoảng 50 tuổi đầu chít khăn đen, mặc áo dài đen, quần trắng, một người khoảng 30 tuổi đầu chít khăn đen, áo dài nâu, quần nâu. Hai người trông thấy cô Nhu và Hoàng Hoa Thám bước vào sân vội đứng dậy bước ra. Cô Nhu đặt các thứ lỉnh kỉnh xuống và khoanh tay:
-Dạ thưa cha, thưa huynh, con về hơi muộn.
Hoàng Hoa Thám cũng đặt các thứ xuống chắp tay:
-Con chào thầy.
Hoàng Hoa Thám định chào tiếp người trẻ tuổi, chợt kêu lên:
-Đệ, Thống Luận sao cũng ở đây?
Người trẻ tuổi dáng dấp phương phi như một võ tướng nắm lấy tay Hoàng Hoa Thám và cũng kêu lên sung sướng:
-Huynh Hoàng Hoa Thám, sao lại lạc vào đây?
Cô Nhu hơi ngỡ ngàng liền nói với Hoàng Hoa Thám:
-Đây là cha nuôi của muội, còn đây là anh nuôi. Mà hai huynh quen nhau hả?
Người cha nuôi cô Nhu nói:
-Quý hóa quá, khách quý lại là chiến hữu với anh nuôi của con. Con xuống bếp nấu cơm. Sau bữa cơm rồi hàn huyên cũng chưa muộn.
Cô Nhu đáp:
-Dạ, con vâng lời cha.
Sau bữa cơm chiều thì trời đã tối. Dưới ánh sáng của ngọn đèn dầu đặt trên chiếc ghế cao, bốn người ngồi bên nhau uống trà. Thống Luận uống xong, đặt chén xuống và nói:
-Nhu này.
-Dạ.
-Lúc mà muội nấu cơm dưới bếp, huynh đã nói cho cha nghe về huynh Hoàng Hoa Thám, vì sao huynh và Hoàng Hoa Thám quen biết nhau. Bây giờ muội có muốn nghe không? Nhưng trước hết muội nói lại vì sao gặp được huynh ấy vậy?
Cô Nhu đáp, dọng trong trẻo:
-Muội đi chợ mua thức ăn, thường đem các thứ gửi ở quán bà Màu rồi đi mua tiếp, khỏi phải mang xách lỉnh kỉnh. Hôm nay muội mua xong vào uống nước, đang định về thì huynh Hoàng Hoa Thám vào quán. Huynh ấy nói với bà Màu là lái buôn nhưng đi đến Kép bị bọn cướp cướp hết tài sản tiền nong, đêm nay không biết tá túc nơi đâu, bà Màu mới giới thiệu huynh ấy đi với em về nhà ta. Huynh là chiến binh chống Pháp, sao lại quen anh lái buôn này?
Hoàng Hoa Thám chắp tay cúi đầu:
-Xin tiểu thư thứ lỗi, huynh cùng chiến hữu với Thống Luận, đề phòng bị quân Pháp truy nã nên đến đâu cũng phải che dấu thân phận, đành phải nói vậy khi mà chưa quen biết. Xin tạ lỗi, tạ lỗi.
Thống Luận đỡ lời:
-Thưa cha và tiểu muội, như con đã nói với cha khi muội đi nấu cơm. Hoàng Hoa Thám đây là chiến hữu thân thiết với Thống Luận. Quê huynh ấy ở xã Dị Chế, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, cha là Trương Văn Thân, mẹ là Lương Thị Minh. Hai cụ sinh được hai con trai, người trai đầu là Trương Văn Leo, người thứ hai là Trương Văn Nghĩa, tức Hoàng Hoa Thám. Hai thân phụ là những người trọng nghĩa, căm phẫn bất công nên đã tham gia cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Văn Nhàn, Nông Văn Vân chống lại triều đình. Cả hai cụ đã bị Bùi Duy Kỳ bắt đem nộp cho triều đình tháng 10 năm Bính Thân 1836, năm Minh Mệnh thứ 17. Khi Hoàng Hoa Thám được 7 tuổi thì bố, mẹ bị triều đình giết hại. Từ đó, trong lòng Hoàng Hoa Thám chứa đựng nỗi căm thù không đội trời chung với triều đình bán nước và giặc Pháp xâm lược. Năm 1875, Hoàng Hoa Thám đã tham gia cuộc khởi nghĩa của Đại Trận và được gọi là Đề Dương. Năm 1886, Hoàng Hoa Thám tham gia cuộc khởi nghĩa của Đề Đốc kinh Thành, Thống đốc quân vụ Cần Vương Thanh Hóa-Nghệ An Trần Xuân Soạn với chức vụ Lãnh binh Bắc Ninh.
Sau đó Hoàng Hoa Thám tham gia khởi nghĩa của Hoàng Đình Kinh. Con cũng tham gia cuộc khởi nghĩa này và trở thành huynh đệ chiến hữu. Sau khi khởi nghĩa của Cai Kinh thất bại, con và Hoàng Hoa Thám về Yên Thế đi theo cuộc khởi nghĩa của Thân Bá Phức và Lương Văn Nắm, cuộc khởi nghĩa này đang làm cho quân Pháp khiếp sợ. Ngài Thân Bá Phức lại là cha nuôi của huynh Hoàng Hoa Thám đây. Hôm nay con về đây thăm cha và muội, lại gặp được huynh ấy ở đây thật là may mắn. Huynh đi đâu rồi lại về đây vậy?
Hoàng Hoa Thám đáp:
-Đa tạ đệ đã giới thiệu kỹ về ta với thầy và với tiểu thư. Ta về Hưng Yên tìm gặp người thân, bây giờ lên Yên Thế, lại được gặp thầy với tiểu thư, với chiến hữu thật là may mắn. Nhưng đệ đi đâu vậy?
Thống Luận đáp:
-Đệ đi Lạng Giang có việc, trên đường đi nhân tiện rẽ vào thăm cha và muội đây. Giới thiệu với huynh, đây là cha Đặng, cha nuôi của đệ, còn muội đây là Đặng Thị Nhu.
Hoàng Hoa Thám chắp tay:
-Thật may mắn được làm quen với thầy, với tiểu thư.
Rồi hỏi tiếp Thống Luận:
-Thế đệ đã về Lạng Giang chưa?
-Chưa, đệ thăm cha và muội rồi mới đi.
-Vậy bao giờ thì đệ về Yên Thế?
Thống Luận chưa kịp trả lời thì thầy Đặng đã nói:
-Vội gì, con và tướng quân cứ ở chơi vài ngày rồi hãy đi.
Hoàng Hoa Thám nói:
-Đạ tạ thầy, đa tạ tiểu thư.
Thầy Đặng hỏi:
-Con nói qua về ngài Thân Bá Phức và ngài Lương Văn Nắm cho cha biết chút.
Thống Luận bê chén nước, uống một hơi rồi trả lời:
-Thưa cha, Đề Nắm, tên đầy đủ là Lương Văn Nắm, quê quán ở Rừng Tràm, làng Gia Tiến, Yên Thế. Bố Đề Nắm mất sớm, theo mẹ về sống ở quê ngoại thuộc làng Khủa, xã Tân Trung. Lương Văn Nắm là người thông minh, tài trí, sức khỏe hơn người, ngang tàng hào hiệp, trọng nghĩa khinh tài, nhân đức thương người và hay giúp đỡ kẻ khốn khó. Lương Văn Nắm thường bênh vực và bảo vệ người nghèo, thường ra tay với bọn nhà giàu, bọn cường hào ác bá ức hiếp lê dân. Cho nên bọn cường hào ác bá rất sợ Đề Nắm, ngược lại bách tính trong vùng vô cùng mến mộ. Trước đây, rừng Yên Thế hoang vu hẻo lánh, hiểm trở nên bọn thảo khấu tụ họp hoành hành cướp bóc, quan lại triều đình bất lực. Dân làng Hà, làng Lèo, làng Mạc bèn suy tôn Lương Văn Nắm làm thủ lĩnh, dân thì làm nghĩa binh dẹp giặc cướp. Khi giặc thảo khấu tan thì giặc Khăn Vàng bên Tàu tràn sang cướp bóc, đề Nắm lại đánh tan giặc Khăn Vàng. Dẹp tan giặc Khăn Vàng thì giặc Pháp tấn công thành Bắc Ninh và Bắc Giang. Đề Nắm là một trong những thủ lĩnh tập hợp trai tráng ở Yên Thế chống Pháp. Quân số của Đề Nắm hiện nay có khoảng vài trăm tay súng, trong số đó có những thủ lĩnh tài giỏi. Đề Nắm còn liên kết với các thủ lĩnh chống Pháp như với Lưu Vĩnh Phúc, với thủ lĩnh người Thái Đèo Văn Tri.
Thống Luận ngừng lại uống nước rồi nói:
-Thưa cha, ngài Thân Bá Phức là nghĩa phụ của huynh Hoàng Hoa Thám đây. Vậy huynh nói tiếp về thủ lĩnh Thân Bá Phức cho cha biết đi.
Hoàng Hoa Thám nói:
-Thưa thầy, Thân Bá Phức sinh năm 1820 tại làng Trũng, thôn Ngọc Châu, xã Ngọc Nham, huyện Tân Yên, Bắc Giang. Lớn lên trong thời loạn lạc nên Thân Bá Phức sớm suy nghĩ về chí của trang nam tử là phải xông pha trận mạc để thỏa chí tang bồng. Thân Bá Phức đã đánh dẹp bọn cướp của Lãnh Tư ở làng Nhã Nam. Dẹp xong cướp, Thân Bá Phức đem thủ hạ theo cuộc khởi nghĩa của Hoàng Đình Kinh chống Pháp và chống Triều đình ở Hữu Lũng Lạng Sơn, đã tham gia trận đánh Pháp ở Bắc Lệ. Trận này Cai Kinh đã làm cho quân Pháp đại bại và khiếp sợ. Trong khi tham gia khởi nghĩa Hoàng Đình Kinh, Thân Bá Phức đồng thời xây dựng căn cứ ở Yên Thế, xây dựng Song Yên (Yên Dũng-Yên Thế) quân thứ. Bá Phức được Hoàng thượng Hàm Nghi phong là Thống đốc quân vụ quân thứ Song Yên. Vì Thế, Thân Bá Phức là lãnh tụ tối cao của Yên Thế, còn Đề nắm là Tổng chỉ huy về quân sự.
Thầy Đặng gật gù:
-Từ khi khởi binh chống Pháp, Bá Phức và Đề Nắm có đánh thắng Pháp trận nào không?
Thống Luận đáp:
-Thưa cha, trong tháng 11 năm 1880, quân Pháp tấn công vào căn cứ Cao Thượng, Đề Nắm đã chỉ huy nghĩa quân đánh bại chúng. Tháng 12 năm 1880, quân Pháp ba lần tấn công vào đồn Hố Chuối, một trong số căn cứ lớn của quân ta nhưng cả ba lần chúng đều bị thất bại. Đến năm 1881, nghĩa quân mở rộng địa bàn hoạt động ra cả Phủ Lạng Thương. Quân Pháp tập trung lực lượng rất lớn tấn công đồn Hố Chuối. Quân ta rút lên đồn Hom để bảo toàn lực lượng. Ngày 16 tháng 3 năm 1884, quân Pháp tấn công lên Tĩnh Đạo, Quang Tiến, Yên Thế và tấn công lên Thái Nguyên. Đề Nắm chỉ huy nghĩa quân đánh cho Pháp phải tháo chạy. Sau trận này, Đề Nắm và toàn bộ nghĩa quân làm lễ tế cờ tại đình Hả, chính thức phát động và tuyên bố chống thực dân Pháp xâm lược.
- Ngày 5 tháng 12 năm 1885, Đuy gen ne đem 300 quân, một tiểu đội pháo binh, một đơn vị kỵ binh tấn công nhưng cũng bị đánh bại. Hiện nay, Pháp tạm thời rút về Nhã Nam, hai bên còn tạm thời ngưng chiến nên con mới có điều kiện về thăm cha và muội, huynh Hoàng Hoa Thám mới có thời gian về thăm nhà ở Hưng Yên. Nhưng chiến sự sắp tới sẽ diễn ra khốc liệt, đang chờ chúng con về tham chiến.
Nghe Thống Luận nói xong, thầy Đặng gật gù, còn Đặng Thị Nhu thì nói:
-Vậy là tìm đúng minh chủ rồi đấy, hai huynh lên đấy thả sức mà tung hoành giết giặc, thả sức chí anh hùng hảo hán tang bồng ngang dọc nha.
Thống Luận nói:
-Vậy huynh ở lại nhà cha Đặng vài ngày nói chuyện với cha cho vui. Mai đệ về Lạng Giang, xong việc sẽ trở lại đây cùng huynh về Phồn Xương?.
-Đa tạ đệ, đa tạ.
Thầy Đặng nói:
-Đêm khuya rồi, ba con đi nghỉ mai Thống Luận còn đi sớm.
-Đa tạ cha.
Thống Luận đi rồi, ngoài những buổi đi cúng bái cho các gia đình trong vùng, thầy Đặng thường ngồi đàm đạo với Hoàng Hoa Thám. Hoàng Hoa Thám thấy ông rất giỏi về bát quái, ngũ hành, kinh dịch, phong thủy. Cô Đặng Thị Nhu thì hết sức chăm lo cơm nước cho nghĩa phụ và cho Hoàng Hoa Thám. Cô còn giúp cha sắp xếp lễ lạt. Cô cũng rất am hiểu phong thủy, bói toán. Đôi khi Hoàng Hoa Thám bắt gặp ánh mắt xinh đẹp của cô nhìn mình với một vẻ trìu mến khác thường khiến Hoàng Hoa Thám, một người chỉ biết có súng gươm cũng bồi hồi xao xuyến.
Vài hôm sau, Thống Luận quay về báo cho Hoàng Hoa Thám:
-Đệ xong việc rồi, chơi với cha một ngày nữa, ngày kia ta về Phồn Xương.
- Hoàng Hoa Thám nói:
-Vậy tốt quá rồi.
Đặng Thị Nhu ngồi cạnh cũng nói:
-Hai huynh đi cho muội đi cùng với. Muội cũng muốn tham gia khởi nghĩa giết giặc cứu nước.
Thống Luận nói:
-Muội là nữ nhi sao tham gia chiến trận được, vả lại muội còn phải ở nhà giúp cha.
Thầy Đặng nói:
-Thống Luận đây đã biết rồi nhưng tướng quân Hoàng Hoa Thám mới đến nên chưa biết. Em Nhu đây có chút nhan sắc, đảm đang hiền thục nên bọn cường hào ác bá vùng này đều nhòm ngó, đến dạm hỏi cho con họ hoặc cho chính họ. Nhưng em Nhu ghét chúng nên đã thẳng thừng từ chối. Có kẻ đã đe dọa sẽ dùng sức mạnh để ép duyên. Quan hệ giữa nhà ta với bọn cường hào ác bá ở đây đang rất xấu. Đêm qua, hai cha con ta đã bàn với nhau rồi. Muốn trừ được cái tai họa đang lơ lững trên đầu thì phải làm hai việc. Một là em Nhu phải lấy chồng, thứ hai là đi khỏi đây.
Thầy Đặng dừng lại uống chén nước và nói tiếp:
-Việc thứ nhất phải nhờ tướng quân Hoàng HoaThám đây. Tướng quân là người có tài có đức, đáng mặt làm trai thời loạn lạc nên em Nhu rất cảm tình và ngỏ lời muốn thành phu thê với tướng quân. Thứ hai, nếu tướng quân không từ chối, cưới nhau xong thì cả hai vợ chồng lên Phồn Xương để tránh xa bọn cường hào ác bá. Không biết ý tướng quân và nghĩa tử Luận thế nào?
Thống Luận nói:
-Lời cha nói chí phải, chỉ còn là huynh Hoàng Hoa Thám đây có đồng ý hay không thôi.
Hoàng Hoa Thám nói:
-Đa tạ thầy, đa tạ đệ, đa tạ tiểu thư Đặng Thị Nhu nhưng con đã có vợ cả và vợ hai rồi ạ.
Thầy Đặng nói;
-Không sao, trai anh hùng năm thê bảy thiếp là chuyện bình thường. Phong tục tập quán và pháp luật cho phép mà.
Hoàng Hoa Thám cảm thấy ánh mắt của Đặng Thị Nhu thương yêu nhìn mình, liền trả lời:
-Đa tạ, nếu tiểu thư đồng ý thì con xin vâng lời của thầy.
Thầy Đặng nói:
-Vậy ngày mai con Nhu chuẩn bị vài mâm cơm rượu, hai con vái lạy gia tiên để kết phu thê và để cha mời mấy bô lão láng giềng gần đây sang vui với nhà ta và cũng cho họ chứng giám cuộc hôn nhân của hai con là được.
Đặng Thị Nhu đáp:
-Con xin vâng lời cha.
Hôm sau, cả nhà bận rộn tiếp khách khứa, chủ yếu người trong họ Đặng, các cụ cao niên trong làng đến nâng chén chúc mừng thầy Đặng, chúc mừng Hoàng Hoa Thám và Đặng Thị Nhu kết phu thê, đôi trai tài gái sắc. Hai người thắp nhang vái lạy trước bàn thờ gia tiên để các cụ nhận Hoàng Hoa Thám là con rể trong nhà. Ai cũng khen thật là một đôi trai tài gái sắc.
Sớm hôm sau, Hoàng Hoa Thám, Thống Luận, Đặng Thị Nhu giã từ thầy Đặng đi lên Phồn Xương gia nhập nghĩa quân Yên Thế. Cuộc chia tay thật là bịn rịn. Cô Nhu ôm lấy cha, nước mắt ngắn dài nói trong nức nở:
-Không có con ở nhà cha nhớ bảo trọng.
Thầy Đặng vỗ vai con gái:
-Đừng khóc, con nhớ chăm sóc bản thân và chăm sóc con rể của ta cho tốt.
-Dạ, con xin ghi nhớ lời căn dặn của cha.
Hoàng Hoa Thám và Thống Luận cầm tay thầy Đặng:
-Cha nhớ bảo trọng.
-Hai con nhớ bảo trọng, lúc ngừng chiến trận thì về thăm ta.
-Chúng con xin vâng lời cha.
Ba người cầm tay nải bước ra. Thầy Đặng tiễn ba đứa con thương yêu ra tận đường lớn dẫn tới Phồn Xương, nơi đó đang ngập tràn khói lứa súng đạn chiến tranh. Ba người quay lại:
-Chúng con chào cha, Cha nhớ bảo trọng
Thầy Đặng đưa bàn tay già nua ra vẫy. Mắt thầy mờ đi vì ứa lệ nhìn bóng ba người trên ba con ngựa xa mờ dần đi về hướng Phồn Xương đầy đồi núi hoang vu và rừng rậm mênh mông vô tận. Đó là một buổi sáng cuối năm 1885.
Mãi tới quá chiều, ba con ngựa khỏe mạnh mới đưa ba người về đến Khánh Nghè, Cầu Gỗ, cửa sông Sỏi, thuộc đất Phồn Xương là căn cứ của nghĩa quân. Với Hoàng Hoa Thám và Thống Luận thì đã quen thuộc nhưng với Đặng Thị Nhu thì hơi lạ lẫm dù cùng chung là đất Yên Thế nhưng ở đây là Thượng Yên Thế nên núi non rừng rậm vô cùng hiểm trở. Giữa rừng núi là hệ thống đồn lũy, chiến hào, bãi chông, lũy tre gai và dây leo đứng xa 100m không trông thấy gì bên trong. Thống Luận đưa hai người về đồn của mình và nói:
-Huynh muội ngồi đợi ở đây, đệ lên trình với Ba Phức và Đề Nắm về việc huynh và đệ đã lên.
Một lát, Thống Luận về và nói:
-Đệ đã báo chúng ta đã có mặt. Sớm mai sẽ họp các thủ lĩnh. Đồn số 5 hiện nay đang thiếu thủ lĩnh. Ngài Đề Nắm cử luôn huynh chỉ huy đồn số 5. Người đâu.
Một cận vệ bước vào:
-Dạ, Thống lĩnh.
-Bảo nhà bếp nấu ba suất cơm nhanh nha. Hôm nay ta có khách.
-Dạ, tuân lệnh.
Ăn cơm xong, Thống Luận đưa Hoàng Hoa Thám và Đặng Thị Nhu về đồn số 5 và hai người nghỉ ngơi.
Sớm hôm sau, tại Trung Đình là tổng hành dinh của nghĩa quân có cuộc hội nghị quan trọng của các tướng lĩnh Yên Thế. Trong gian nhà rộng tường chình bằng đất nện, cột bằng gỗ to, mái lợp ngói vẫy cá kê một chiếc bàn gỗ màu nâu nhìn ra ngoài, đó là bàn ghế của chủ soái. Một dãy bàn kê vuông góc đúng giữa bàn của chủ soái, hai bên cũng kê hai dãy ghế tràng kỷ màu nâu có chạm khắc hoa văn và khảm ngọc trai. Trên tất cả các bàn đặt các bộ ấm trà màu sứ trắng vẽ hoa văn xanh. Sau ghế chủ soái, bức tường cao treo lá cờ màu vàng có đề chữ màu đỏ “Giúp vua cứu nước”. Sau khi các thủ lĩnh đã đến đầy đủ, chắp tay chào nhau, ngồi vào ghế và uống trà. Ngồi ghế chủ soái là Thống đốc quân vụ quân thứ Song Yên, Tán tương quân vụ Thân Bá Phức. Ngồi ghế cạnh Thân Bá Phức là phó chủ soái Lương Văn Nắm, còn gọi là Đề Nắm, phụ trách về quân sự của nghĩa quân. Đề Nắm và Thân Bá Phức nhìn xuống dãy bàn kê vuông góc chạy dài phía trước là các thủ lĩnh dưới quyền. Các thủ lĩnh đầu buộc khăn nâu, áo nâu dài đến thắt lưng, quần nâu. Chỉ có Thân Bá Phức đầu đội khăn thếp màu đen, áo dài màu đen và quần trắng. Sau một lượt trà, Thân Bá Phức nói:
-Thưa các vị thủ lĩnh, thời gian qua, ta vừa phải đánh các cuộc tấn công, càn quét của giặc vừa xây dựng căn cứ, xây dựng hệ thống đồn lũy. Chúng ta đã xây dựng được 4 đồn. Đó là các đồn Tả Dinh, đồn Tiền Dinh, đồn Trung Dinh và Hậu Dinh. Đây là những đồn được coi là tổng hành dinh của toàn quân.
Ngừng lại để uống nước xong, Thân Bá Phức nói tiếp:
-Ngoài ra chúng ta còn xây dựng 5 đồn, được coi là 5 chiến lũy, từ đồn 1 đến đồn 5. Sau đây ta phân nhiệm cho các thủ lĩnh ở các đồn. Các thủ lĩnh chịu sự chỉ huy chung nhưng tương đối độc lập khi chỉ huy tác chiến đánh Pháp để phát huy tính chủ động, sáng tạo linh hoạt trong chiến trận tùy tình hình cụ thể. Nay ta, Thân Bá Phức, Thống đốc quân vụ quân thứ Song Yên, Tán tương quân vụ, thủ lĩnh tối cao của quân thứ, chịu trách nhiệm chung. Sau đây các thủ lĩnh nghe lệnh:
-Đề đốc Lương Văn Nắm.
-Có thuộc tướng.
-Nay ta phong Đề đốc là phó soái, phụ trách toàn bộ về quân sự tác chiến của quân thứ.
-Thuộc tướng tuân lệnh.
-Ngoài chỉ huy chung về quân sự, Đề đốc còn trực tiếp chỉ huy đồn số 1. Cho nên đồn số 1 còn gọi là đồn Đề Nắm.
-Thuộc tướng tuân lệnh.
-Thủ lĩnh Đề Lâm nghe lệnh.
-Có thuộc tướng.
-Đề đốc có nhiệm vụ chỉ huy tác chiến và mọi mặt ở đồn số 2. Đồn này còn gọi là đồn Đề Lâm.
-Thuộc tướng tuân lệnh.
-Thủ lĩnh Đề Truật nghe lệnh.
-Có thuộc tướng.
-Ta ra lệnh cho Đề đốc chỉ huy tác chiến và mọi mặt của đồn số 3. Đồn số 3 còn gọi là đồn Đề Truật.
-Thuộc tướng tuân lệnh.
-Thủ lĩnh Đề đốc Trung nghe lệnh.
-Có thuộc tướng.
-Ta ra lệnh cho Đề đốc được quyền chỉ huy tác chiến và mọi mặt của đồn sối 4. Đồn số 4 còn gọi là đồn Đề Trung.
-Thuộc tướng tuân lệnh.
-Thủ lĩnh Đề đốc Hoàng Hoa Thám nghe lệnh.
-Có thuộc tướng.
-Nay phong cho Đề đốc chỉ huy tác chiến và mọi mặt của đồn số 5. Đồn số 5 còn gọi là đồn Đề Thám.
-Thuộc tướng tuân lệnh.
Thân Bá Phức nói tiếp:
Các thủ lĩnh phải quản lý quân sĩ, sẵn sàng đánh bại những cuộc tấn công của quân Pháp.
Tất cả đồng thanh đáp:
-Chúng thuộc tướng tuân lệnh của Thống đốc quân vụ.
II.
Hà Nội, đầu xuân năm 1892, không khí mát mẻ, cây cối xanh tươi rủ bóng xuống những phố phường, biệt thự. Khu của phủ Thống sứ Bắc Kỳ, những cây cổ thụ hàng trăm năm vươn cao che lấp khung trời. Dưới bóng những tán lá là phủ Thống sứ xây dựng theo kiến trúc Pháp nhô lên tráng lệ nguy nga.
Trong phủ Thống sứ, căn phòng sang trọng nhất là nơi hội họp để quan Thống sứ bàn những công việc quan trọng trong toàn xứ. Những chùm đèn pha lê trên trần rực rỡ. Bên dưới kê những chiếc bàn gỗ quý màu gụ chế tác theo kiểu Phương Đông, chạm khắc tinh vi và khảm ngọc trai. Trên bàn bày la liệt những cốc pha lê óng ánh. Trong từng cốc đã rót đầy rượu vang màu đỏ sẫm. Dưới nền phòng trải thảm đỏ. Hôm nay có cuộc họp quan trọng. Ngồi ghế chủ tọa có Thống sứ Bắc Kỳ Le ông Sa va xi ơ, Thống tướng Pi en chỉ huy quân sự của Đông Dương, Thiếu tướng Voa rông, Đại tá Ba tay và rất đông sĩ quan cao cấp của Pháp ở Bắc Kỳ, quân phục màu xám, quân hàm, quân hiệu vàng chóe. Còn có Công sứ Bắc Ninh Ma hê, Tổng đốc Bắc Ninh Vũ Quang Nhạ. Thống sứ đứng dậy nâng cốc và nói:
-Mời các ngài, chúc các ngài sức khỏe.
Tất cả đứng dậy nâng cốc và đáp:
-Đa tạ ngài Thống sứ, chúc sức khỏe quan Thống sứ.
Tất cả đưa cốc vào những cái mồm rộng mà mép đầy râu ria màu nâu rậm rạp. Sau khi cạn cốc, tất cả ngồi xuống, Thống sứ Bắc Kỳ L. Sa va xi ơ nói :
.-Thưa các ngài, đã 7 năm rồi, kể từ năm 1885, từ khi Thân Bá Phức nổi loạn ở Yên Thế, chúng ta với những lực lượng lớn của bộ binh và pháo binh, lại có sự hỗ trợ đắc lực của quan quân triều đình Huế mà chúng ta không tiêu diệt được vài trăm tay súng ở Yên Thế. Đó là điều kỳ lạ nhất mà ta được thấy ở đây. Bảy năm chiến tranh ta còn chịu nhiều thiệt hại về nhân lực. Điều đó đã làm chấn động giới chóp bu cầm quyền ở Pháp và ở Đông Dương. Cho nên cách đây không lâu, ngài Toàn quyền Đông Dương đã ra lệnh phải tiêu diệt Yên Thế bằng bất cứ giá nào.
-Ngài Pi en, Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương hãy cho biết ta đã tác chiến như thế nào mà không có kết quả?
Tướng Pi en đứng dậy và trình bày:
-Thưa ngài Thống sứ Bắc Kỳ, thưa các ngài, tháng 7 năm 1885, khi nghe tin Thân Bá Phức xây dựng căn cứ ở Yên Thế, thành lập quân thứ Song Yên để chống pháp, chúng ta đã nhanh chóng thành lập đạo quân Tĩnh Đạo do Đại tá Đu gen nơ chỉ huy. Ngày 25 tháng 12 năm 1885, quân khởi nghĩa tập trung trên cao nguyên Na Lương bị pháo binh ta bắn cho thiệt hại nặng nề. Từ đó quân Song Yên rút kinh nghiệm không xây dựng đồn và đóng quân trên những đồi trọc. Họ chuyển sang xây dựng căn cứ ở vùng lầy, rừng rậm, cây cối rậm rạp, những chỗ khó vào nhất của rừng núi, tránh những luồng đạn trực tiếp của pháo binh ta.
Pi en ngừng lại uống một hớp rượu vang và nói tiếp:
-Thưa các ngài, vì sao quân Song Yên lại lựa chọn Yên Thế làm căn cứ chính, bên cạnh các căn cứ ở Bắc Ninh, Thái Nguyên, Tam Đảo, Phúc Yên? Vì Yên Thế nằm giữa tam giác Bắc Ninh-Thái Nguyên-Lạng Sơn. Yên Thế được chia làm hai khu vực riêng biệt. Thứ nhất là khu vực phía nam Nhã Nam, gọi là Yên Thế Hạ, vùng này có đồng bằng phì nhiêu với những cánh đồng lúa và làng mạc, đông dân cư. Vùng thứ hai là Yên Thế Thượng nhiều rừng rậm bao phủ, đồi núi đất đai gồ ghề, lồi lõm, quân ta hành binh rất khó khăn và dễ bị mai phục. Thân Bá Phức, Lương Văn Nắm, Hoàng Hoa Thám đã xây dựng giữa những núi rừng rậm một loạt những đồn lũy vững chắc. Sào huyệt của quân nổi loạn gồm nhiều đồn lũy rải ra trên 5 km, hệ thống đồn lũy gồm 5 cụm đặt dưới sự chỉ huy của các thủ lĩnh tương đối độc lập tác chiến. Cụm thứ nhất, quan trọng nhất do Đề Nắm chỉ huy. Đề Nắm cũng là người chỉ huy tối cao về quân sự của nghĩa quân Yên Thế. Cụm đồn này xây dựng ở vùng cửa sông Sỏi, một nhánh của thượng nguồn sông Thương. Sông Sỏi đã cắt Yên Thế ra làm đôi. Cụm này bao gồm vài đồn trung tâm và bao gồm cả một làng chiến đấu. Đồn này có hai đồn bảo vệ trước mặt. Để bảo vệ cho đồn trung tâm ở phía tây còn có hệ thống đồn kiên cố. Ngoài ra còn có nhiều đồn nhỏ và các đồn phụ khác bảo vệ 4 mặt cho các đồn trung tâm. Các đồn bảo vệ đồn trung tâm đều do những tướng giỏi về quân sự, giỏi tổ chức chiến đấu như Đề Thám, Đề Truật...chỉ huy. Như vậy, đặc điểm của đồn lũy Yên Thế là có những đồn chính và chung quanh có nhiều đồn phụ để phối hợp tác chiến và bảo vệ nhau. Đặc điểm thứ hai là chung quanh đồn lũy tạo ra những chướng ngại vật gây khó khăn rất lớn cho kẻ muốn tấn công, tận dụng tối đa những chướng ngại vật tự nhiên. Đồn lũy của quân Yên Thế bao giờ cũng khuất trong những núi dựng đứng và trong những khu rừng rậm rất khó trông thấy, khó thâm nhập. Dọc theo chiến lũy là những hào sâu, trên có đặt những khúc gỗ hoặc những bó củi cành để che đạn. Phía ngoài hào là từ hai đến ba hàng rào bằng gỗ có dây xanh leo chằng chịt nhằm che mắt kẻ tấn công. Giữa các hàng rào là những bãi chông nhọn rộng hàng trăm mét. Đặc điểm thứ ba của đồn lũy Yên Thế là những công trình bảo đảm trú ẩn, tránh đạn đại bác có hiệu quả. Cho nên đồn của quân Yên Thế thường xây hình lăng trụ, lũy thường cao 4m, dầy hơn 3,5m. Trên mái lũy đóng cọc tre nghiêng ra phía ngoài. Đồn có tầng hầm sâu dưới đất và những tầng nhô lên với những lỗ châu mai bố trí hai, ba tầng xuyên qua tường lũy. Chung quanh lũy có hào sâu 3m, rộng 4,5m. Hào đào dọc theo chân tường của chiến lũy. Hào có thể có nước, có thể không nhưng đều cắm chông nhọn dầy đặc. Trong chiến đấu, khi ta tấn công bắn đại bác thì quân Yên Thế chui xuống tầng hầm trong lòng đất của đồn tránh đạn. Khi đại bác ngừng tức là lúc quân ta tấn công vào thì quân Yên Thế mới lên ẩn trong chiến lũy, qua những khe hẹp của lỗ châu mai để bắn vào quân ta. Họ chờ quân ta lại rất gần mới bắn, gây thiệt hại lớn cho quân ta trong các trận đánh, gây khó khăn cho quân ta khi càn quét, tấn công. Cho đến khi bao vây tấn công vẫn không biết đồn lũy của Yên Thế ở đâu. Cho nên quân ta ngoài súng ra còn phải mang theo dao, rìu để mở lối đi qua rừng rậm, rất dễ bị mai phục, bị đánh bất ngờ nếu đột nhiên đụng phải một đồn nào đó. Một điều nữa là người dân Yên Thế bề ngoài lễ phép nhưng không bao giờ biết sợ. Quân khởi nghĩa, nhất là các thủ lĩnh đều là những anh hùng hảo hán trong giới võ lâm đã từng bị chúng ta truy lùng, giam cầm vì chúng ta cấm Đại Nam phổ biến võ nghệ. Vì thế, khi về Yên Thế, họ mang theo khí phách anh hùng trượng nghĩa, thề trung thành với minh chủ, coi cái chết là nhẹ nhàng khi biết rằng chết cho đại nghĩa cứu nước. Cho nên, nghĩa quân Yên Thế không biết sợ hãi dù là đại bác. Nghĩa quân Yên Thế còn sử dụng chiến thuật du kích linh hoạt, ngoài đồn lũy họ còn sử dụng xây dựng làng chiến đấu. Họ được dân làng nuôi dưỡng và che chở. Về phía chúng ta, do đường sá rừng núi hiểm trở nên những cuộc hành quân, tiếp viện lương thực khó khăn, cho nên không thể hành quân lâu dài, đánh mà thất bại một đợt là rút lui, lại để cho Yên Thế hồi phục. Đường sá khó khăn cũng không thể đem nhiều pháo lớn vào tập kích. Các ngài phải biết là đồn lũy kiên cố của Yên Thế chỉ có đại bác nã dồn dập mới triệt tiêu được. Đó là tất cả những lý do khiến 7 năm ròng chúng ta không sao dập tắt được Yên Thế.
Thống sứ Bắc Kỳ hỏi:
-Ta đã nhiều lần giao cho đạo Quan binh Bắc Kỳ phải dẹp bằng được Yên Thế. Cho đến nay các ngài đã tiến hành những chiến dịch nào rồi?
-Bẩm ngài Thống sứ, ngày 17 tháng 3 năm 1884, tướng Briere đã chiếm Thái Nguyên và điều một cánh quân về Yên Thế chiếm Tĩnh Đạo, gần Nhã Nam nhưng sau đó lại rút đi phục vụ cho chiến dịch Hưng Hóa. Năm 1885, ba thiếu tá Bec ra bu nhi ô, Pơ phe phơ, Sa xe phơ và trung tá Đuy gen nơ đã cho quân tấn công Phủ Lạng Thương, Bắc Ninh, Lục Nam, giao chiến với nghĩa quân Yên Thế ở Yên Thế Hạ và quân Thanh ở Yên Thế Thượng. Trung tá Đuy gen nơ huy động 300 quân, có pháo binh yểm trợ càn quét khắp vùng Yên Thế, phá hủy căn cứ của nghĩa quân ở Hữu Thượng và ở mỏ Na Lương. Chúng ta đã lập đồn binh ở Tĩnh Đạo, năm 1889 ta xây đồn ở Bố Hạ để bao vây quân Yên Thế. Tháng 10 năm 1889, thiếu tá Đuy mông và Pi cơ đã tấn công nghĩa quân ở Bắc Ninh, bắt được Đốc Văn và đem hành hình. Cũng tháng 10 năm đó, ta còn xây dựng đồn binh ở Bỉ Nội và đánh chiếm Hạ Châu. Ta còn có hệ thống đồn bốt ở Nhã Nam với hỏa lực rất mạnh. Năm 1890, ta tập trung lực lượng tấn công căn cứ mạnh nhất của nghĩa quân là căn cứ Hố Chuối, thuộc xã Phồn Xương, huyện Yên Thế. Gọi là đồn Hố Chuối vì đồn xây trong rừng chuối, là đồn rộng lớn nhất, kiên cố nhất mà Đề Thám cho xây dựng, là nơi ở của nghĩa quân, nơi ở của gia đình Đề Thám, nơi gặp gỡ giữa Đề Thám với các anh hùng đương thời đang chống Pháp. Đồn Hố Chuối xây dựng nửa chìm nửa nổi nhằm hạn chế hỏa lực của quân ta. Thành lũy của đồn là đất nện, có lỗ châu mai. Đồn có 3 cổng chính quay hướng đông, hai cổng phụ hướng nam-bắc có chiến hào chạy thẳng ra rừng rậm. Cả ba cổng, mỗi cổng đều có hai lớp tường bảo vệ phía ngoài. Còn có hệ thống bốt gác. Còn có hai pháo đài phong thủ bắc-nam cách đồn Hố Chuối 100m tạo thế chân vạc hỗ trợ cho nhau. Ngoài ra còn một hệ thống đồn phòng thủ chung quanh như đồn Hoan, đồn Hang So, đồn làng Nứa, đồn làng Vàng. Chung quanh còn có hệ thống làng chiến đấu như làng Dương Sặt, Thế Lộc, Luộc Hạ, Cao Thượng với nhiều chướng ngại vật hiểm trở.
Thống sứ Bắc Kỳ L. Sa va xi ơ có vẻ sốt ruột hỏi:
-Kết quả quân ta tấn công tiêu diệt đồn Hố Chuối như thế nào?
Tướng Pi en uống một hớp rượu và trả lời:
-Thưa ngài Thống sứ, chúng ta đã mở 4 đợt tấn công lớn vào Hố Chuối trong năm 1890 đều thất bại. Cuộc tấn công thứ nhất vào đầu năm không mang lại kết quả. Lần thứ hai vào ngày 6 tháng 11 năm 1890 do tướng Gô đanh chỉ huy đánh vào Cao Thượng không thu được thắng lợi, phải lập đồn binh ở Nhã Nam, gần vị trí của đồn Tĩnh Đạo. Lần thứ ba là vào ngày 9 và 11 tháng 12 năm 1890 do Đại úy Pơ le xi e và thiếu tá Ba rơ chỉ huy tấn công vào Hố Chuối, bị thất bại, nhiều lính của ta bị giết và bị thương. Năm 1890 cũng là năm Đề Thám được các tướng lĩnh bầu làm thủ lĩnh tối cao của Yên Thế thay Thân Bá Phức già yếu. Lần thứ tư, ta mở cuộc tấn công vào ngày 22 tháng 12 năm 1890 do trung tá May ơ chỉ huy, quân ta pháo kích dữ dội vào các đồn, sau đó bộ binh xông lên. Nghĩa quân chờ ta tới rất gần mới nổ súng tiêu diệt khiến quân ta chết nhiều phải tán loạn tháo chạy. Khi chỉ huy thúc lính lê dương xông lên công sự của nghĩa quân thì nghĩa quân vùng lên đánh trả. Ta tổn thất nặng nề phải rút lui. Đề Thám còn dùng loa động viên: "Hỡi những người lính trong quân đội trung nghĩa, trong đội quân bất khuất, trong đội quân tất thắng, hãy dũng cảm diệt nhiều địch, báo đền nợ nước”. Địa hình thiên nhiên hiểm trở và các vật cản do nghĩa quân tạo ra đã hạn chế tầm bắn của ta. Khi áp sát chân đồn thì bị súng trong các lỗ châu mai tiêu diệt. Trong trận này, quân Yên Thế sử dụng chiến thuật đánh trước mặt và ba cánh quân khác theo hào giao thông luồn ra đánh hai bên sườn, đánh sau lưng quân ta. Quân ta không phát hiện được hệ thống giao thông hào này nối với nhau, thông suốt ra suối Gồ phía sau. Hai cánh quân do Thiếu tá Tan và Đại úy Rô be chỉ huy sau 4 giờ tấn công chỉ tiến được 20m. Sau đó phải nhờ pháo binh chi viện. Dứt đợt pháo kích, quân ta tấn công pháo đài bắc, pháo đài nam nhưng ta bị tổn thất nặng. Trung úy Bơ le dơ tử trận, quân ta còn lại chạy ra suối Gồ. Lần 4 này 1 sĩ quan, 4 lính Pháp và 4 lính Việt bị giết, 15 lính Âu và lính Việt bị thương. Bốn lần tấn công do các tướng Gô đanh, Ta na xơ, May ơ, Fo ray chỉ huy với 2.000 quân cùng đại bác mà thất bại, hàng trăm lính phơi xác. Trong khi đó Đề Thám chỉ có 200 tay súng. Cả 4 đợt, nghĩa quân đã giết và làm bị thương hàng trăm lính, loại khỏi vòng chiến đấu 2 đại đội lính Pháp và 2 đại đội thuộc trung đoàn 11 quân khố đỏ. Hố Chuối đã làm cho giới quận sự ở Pháp và ở Đông Dương choáng váng, khâm phục tinh thần chiến đấu của nghĩa quân. Để bao vây căn cứ nghĩa quân, quân ta đã phải xây dựng hệ thống đồn bốt ở Nhã Nam, Luộc Hạ, Bố Hạ. Trong các năm 1890-1891, chiến trận ở Hố Chuối là khốc liệt nhất.
Tướng Pi en đọc xong báo cáo chiến sự năm 1885 đến năm 1891 ở Yên Thế. Y ngồi xuống và uống tiếp một ly rượu. Thống sứ Bắc Kỳ hỏi:
-Có một cái đồn nhỏ ở một nơi hẻo lánh mà huy động 4 đợt tấn công với hơn 2.000 quân trang bị súng trường bắn nhanh hiện đại nhất châu Âu cùng nhiều đại bác mà để cho Đề Thám chỉ 200 tay súng đánh cho thiệt hại nặng nề. Các anh làm ăn kiểu gì vậy?
Thống tướng Pi en vội đứng dậy:
-Thưa ngài Thống sứ, ngoài chiến lũy hiểm ác, khó tấn công còn thêm yếu tố quan trọng nữa là quân khởi nghĩa quá gan dạ, không sợi hãi, sẵn sàng chết cho mục đích của họ là trung nghĩa, là độc lập dân tộc và tự do. Họ còn có chiến thuật tác chiến du kích, lối đánh kỳ diệu, khác với lối đánh tập trung của ta.
Thống sứ hỏi:
-Nhưng cuối cùng quân ta cũng chiếm được Hố Chuối vào cuối năm 1891. Ngài Thống tướng cho là vì lý do gì?
-Thưa ngài Thống sứ, thuộc cấp cho rằng do ta tập trung binh lực lớn, với vũ khí hiện đại như đại bác thì không một đồn lũy nào có thể cố thủ lâu dài được.
Thống sứ gật gù:
-Ngài đã đúc rút kinh nghiệm thất bại và chiến thắng. Thống tướng Pi en nghe lệnh:
-Dạ, có thuộc cấp.
-Thiếu tướng Voa rông nghe lệnh.
-Dạ, có thuộc cấp.
-Công sứ Bắc Ninh Ma hê nghe lệnh.
-Có thuộc cấp.
-Tổng đốc Bắc Ninh Vũ Quang Nhạ nghe lệnh.
-Có thuộc cấp.
- Sau đây các ngài về bàn bạc với nhau, làm thế nào để trong năm 1892 tiêu diệt bằng được cuộc nổi loạn ở Yên Thế, dựa vào kinh nghiệm các năm 1885 đến 1891, nắm chắc địa hình, sử dụng pháo binh và bộ binh gấp nhiều lần so với đối phương, tấn công bao vây nhiều hướng, phá tan căn cứ hiện nay của Thân Bá Phức, Đề Nắm, Đề Thám ở chợ Gồ, cửa sông Sỏi, Phồn Xương. Thứ hai, ngoài biện pháp quân sự còn phải sử dụng các biện pháp dụ dỗ mua chuộc các thủ lĩnh Yên Thế đầu hàng, mua chuộc họ để họ ám sát những nhân vật cao cấp của Yên Thế như Thân Bá Phức, Đề Thám, Đề Nắm. Ta nghe nói các thủ lĩnh Yên Thế đều đem theo vợ con sống trong doanh trại, trong các đồn và chiến lũy. Có thể bắt cóc vợ con của họ để buộc họ đầu hàng.
Thống tướng Pi en, Đại tá Ba tay và các quan chức Bắc Ninh cùng đáp:
-Thuộc cấp tuân lệnh.
Thống sứ Bắc Kỳ nói tiếp:
-Ta đã giao cho tướng Pi en thảo kế hoạch và điều động lực lượng tấn công Yên Thế. Xin mời Thống tướng Pi e trình bày.
Pi en đứng dậy, tay cầm cuốn sổ nhỏ và nói:
-Thưa ngài Thống sứ, thưa các ngài, các ngài đều biết rằng căn cứ mới của Thân Bá Phức, Đề Nắm và Đề Thám nằm sâu trong rừng rậm khu vực Yên Thế Thượng, thuộc chợ Gồ, cửa sông Sỏi, Phồn Xương, bao gồm nhiều chiến lũy, đồn, hào và hệ thống chướng ngại vật. Chúng ta phải tiến vào rất gần mới biết được đồn đó ở rất gần ta. Cho nên chiến thuật của ta vẫn là dùng pháo binh bắn dữ dội, sau đó các cánh quân mới tiến vào. Nay các sĩ quan sau đây nghe lệnh:
-Trung tá Bec ra.
-Có thuộc cấp.
-Trung tá hãy đem binh đoàn từ Thái Nguyên, tấn công bao vây Yên Thế từ phía bắc. Đồn mà Trung tá phải đánh đầu tiên là đồn của Đề Thám. Đây là một thủ lĩnh nổi tiếng can đảm, giỏi quân sự nhất của nghĩa quân Yên Thế. Trung tá phải hết sức thận trọng. Đề Thám còn có một bà vợ ba của ông ta là Đặng Thị Nhu, lính tráng và nhân dân Yên Thế gọi là bà Ba Cẩn cũng rất có tài chỉ huy và tài bắn súng, đã làm cho quân ta nhiều phen khiếp đảm.
-Thuộc cấp tuân lệnh.
-Trung tá Bu di cơ.
-Có thuộc cấp.
-Trung tá chỉ huy binh đoàn tấn công bao vây quân Yên Thế ở phía đông.
-Thuộc cấp tuân lệnh.
-Trung tá Gây.
-Có thuộc cấp.
-Trung tá chỉ huy binh đoàn bao vây và tấn công quân Yên Thế từ phía nam.
-Thuộc cấp tuân lệnh
-Trung tá Huy nhi.
-Có thuộc cấp.
-Trung tá chỉ huy đạo quân đánh trực tiếp vào đồn của Bá Phức.
-Thuộc cấp tuân lệnh.
-Thiếu tá Cuốc tô.
-Có thuộc cấp.
-Thiếu tá chỉ huy một cánh quân đánh vào đồn của Đề Nắm.
-Thuộc cấp tuân lệnh.
-Thiếu tá Văng đơ.
-Có thuộc cấp.
-Thiếu tá chỉ huy một đạo quân đánh vào đồn Đề Chung.
-Thuộc cấp tuân lệnh.
-Thiếu tá Hăng ri.
-Có thuốc cấp.
-Thiếu tá chỉ huy một đạo quân phối hợp với Trung tá Béc ra cùng tấn công vào đồn của Đề Thám.
-Thuộc cấp tuân lệnh.
-Trung tá Béc tanh.
-Có thuộc cấp.
-Trung tá chỉ huy pháo binh khoảng 50 khẩu 95 ly, 50 khẩu 65 ly chi viện mở đường cho các đạo bộ binh tấn công.
-Thuộc cấp tuân lệnh.
-Thiếu tướng Voa rông
-Có thuộc cấp.
-Thiếu tướng chỉ huy tất cả các đạo quân hành quân tấn công Yên Thế và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quân sự Bắc Kỳ.
-Thuộc cấp tuân lệnh.
Pi en nói thêm:
-Các đạo quân ngoài mang súng còn phải mang theo dao, kiếm và rìu để phát cây mở đường mà đi vì đồn lũy của bọn nổi loạn nằm trong rừng cây cỏ dày đặc, còn phải đem theo dầu cháy có thể đốt rừng để tìm ra căn cứ. Như vậy, trong cuộc tấn công này ta đã huy động nhiều binh lực, nhiều đại bác, bao vây nhiều tầng, nhiều lớp để tấn công. Ngài Thống sứ có gì bổ sung không?
Thống sứ Bắc Kỳ nói:
-Chúng ta không chỉ tấn công về quân sự mà còn kết hợp nhiều biện pháp khác phối hợp là dụ dỗ, mua chuộc các thủ lĩnh để họ đầu hàng, để họ ám sát lẫn nhau. Đêm qua, ta vừa nhận được tin báo thủ lĩnh Đề Sặt, kẻ thân tín bên cạnh Đề Nắm, thủ lĩnh tối cao về quân sự của nghĩa quân Yên Thế sẽ quy hàng trong trận này, Đề Sặt sẽ ám sát Đề Nắm để lập công. Cho nên, trận này có khả năng ta sẽ xóa bỏ được Yên Thế. Nào nâng cốc, chúc các ngài chiến thắng.
Tất cả đứng dậy nâng cốc:
-Cảm tạ ngài Thống sứ.
Cả bọn cạn cốc, tiếng cốc thủy tinh va vào nhau rờn rợn. Một cuộc tắm máu mới lại bắt đầu.
Ngày 25 tháng 3 năm 1892, trận tấn công lớn của quân Pháp với 2.200 quân vào căn cứ Yên Thế bắt đầu. Đó là một ngày cuối xuân, nắng màu trắng nhạt tỏa khắp núi rừng Yên Thế, sương vẫn trắng xóa bao phủ khắp trời và đất, một cảnh thanh bình kỳ lạ của mảnh đất này. Nhưng trong đó những vũ điệu của chiến tranh đẫm máu đang nhảy múa. Các binh đoàn quân Pháp từ bốn hướng súng khoác trên vai, tay cầm gươm, dao vừa tiến vừa phát cây rừng tiến vào rừng Phồn Xương dọc sông Sỏi. Giặc không thấy gì bên trong cả vì rừng rậm che hết, chỉ có một màu xanh cây lá dầy đặc. Đối với quân Pháp, rừng nhiệt đới quả là đáng ghét, đủ loại cây to, cây nhỏ, giây leo chằng chịt. Trên bản đồ, thiếu tướng Voa rông nhìn tọa độ và ước lượng đồn lũy của Yên Thế đã nằm trong tầm đại bác. Qua máy bộ đàm, Voa rông ra lệnh cho Trung tá Béc tanh:
-Nã pháo 95 ly và 65 ly vào Yên Thế. Tất cả các đạo bộ binh nằm xuống để pháo binh pháo kích.
-Rõ thưa thiếu tướng.
Lập tức, bốn phía của rừng Phồn Xương vang lên rung chuyển, những ánh chớp lửa lòe ra từ hàng chục khẩu đại bác. Những viên đạn lửa hình bắp chuối bay xé không gian, rít lên ghê rợn và lao xuống mục tiêu, tạo ra sấm chớp tàn phá nơi chúng rơi xuống. Chim chóc hoảng hốt bay lên trời loạn xạ, đâu đây có tiếng hổ gầm voi hú phẫn nộ, căm thù. Như bão táp, sấm chớp lửa đạn gầm rú ghê gớm của đại bác hoành hành suốt 4 tiếng đồng hồ tàn phá rừng Phồn Xương. Lúc tướng Voa rông nhìn đồng hồ, kim chỉ vào con số 12. Voa rông qua máy bộ đàm ra lệnh:
-Ngừng pháo kích.
-Rõ.
-Bộ binh bốn hướng tấn công.
-Rõ.
Bộ binh Pháp đứng dậy nhưng không thể ào ạt xông lên mà vẫn phải dùng dao, kiếm phát rừng mở lối. Tiến lên được khoảng 200m nữa thì quân Pháp bắt đầu bước vào khu vực rộng lớn đã bị đại bác tàn phá. Rừng cháy tan hoang trơ lại cành cây và gio than còn nóng bỏng. Các chiến lũy đã sập hoàn toàn hoặc còn một nửa ngổn ngang, lửa khói vẫn còn nghi ngút cháy. Quân Pháp không biết nghĩa quân ở trong những chiếc đồn đã sụp đổ còn hay đã chết. Bây giờ đến lượt quân Pháp không còn rừng để che chở nữa mà đã phơi trần trên một không gian rộng lớn trống trải do đại bác của chúng tạo nên. Hàng chục tên lính đi đầu thốt nhiên bị rơi xuống hố, tiếng kêu la vang động. Thì ra chúng đã sa xuống những hầm chông. Hàng trăm tên phía sau lao lên để lôi những tên dưới hố. Khi đó khắp rừng Phồn Xương, từ những giao thông hào, từ những lỗ châu mai ở các đồn, tiếng súng trường, súng hỏa mai vang lên như pháo nổ khắp không gian rộng lớn. Quân Pháp vào quá gần nên hứng đạn, hàng trăm tên gục xuống. Mặc cho chỉ huy phía sau hét đến khản cổ:
-Ala xô.
-Alaxô.
Binh lính Pháp miễn cưỡng đứng lên lại đổ gục xuống. Các chỉ huy liên tục gọi bộ đàm cho Voa rông.
-Đề nghị cho pháo kích.
-Đề nghị cho pháo kích chi viện cho bộ binh.
Voa rông tức giận quát:
-Trung tá Béc tanh.
-Có thuộc cấp.
-Ngài bắn thế nào mà quân nổi loạn không chết, quân ta xung phong vào gần chết quá nhiều. Nã pháo dữ dội vào đồn Phồn Xương, nếu chúng còn sống sót ta sẽ đưa ngài ra toà án binh.
-Thuộc cấp tuân lệnh.
Trong khi bộ binh nằm rạp xuống thì pháo binh Pháp lại bắn vào các đồn của nghĩa quân Yên Thế cấp tập, dữ dội. Chĩa vào đồn Đề Nắm, pháp có 6 sơn pháo, 2 khẩu moóc chi ê tiếp tục nã đạn. Trước hỏa lực mạnh của Pháp, quân Yên Thế nao núng. Thám mã về báo với Đề Thám:
-Dạ bẩm tướng quân, đồn của ngài Đề Nắm đã vỡ, quân lính đang theo chiến hào chạy về phía đồn của ta.
Một lát lại có lính cận vệ vào báo:
-Dạ bẩm tướng quân có người lính của Đề Nắm xin vào gặp.
-Cho vào.
Người lính vào, người và mặt mũi be bét bùn đất vừa thở vừa nói:
-Dạ bẩm tướng quân, Đề Sặt, Đề Tuấn, Đề Tiêu đã chạy sang phía quân Pháp. Riêng Đề Sặt trước khi tháo chạy đã dùng súng bắn chết tướng quân Đề Nắm ạ.
-Sao ngươi biết Đề Sặt giết Đề Nắm?
-Dạ, chính măt tôi trông thấy, Đề Nắm theo giao thông hào đang định cùng quân sĩ chạy sang đây. Đề Sặt đi sau lưng bất ngờ bắn ngài Đề Nắm chết ạ.
Đề Thám nổi giận:
-Thằng phản bội đê tiện, mày phải bị trừng trị, Đề Sặt.
Lại có thám mã về báo:
-Dạ, bẩm tướng quân, đồn của Thân Bá Phức và tất cả các đồn ở cửa sông Sỏi đã sụp đổ do đại bác của Pháp ạ. Thân Bá Phức và các thủ lĩnh các đồn đã rút hết rồi ạ.
Đặng Thị Nhu đứng cạnh Hoàng Hoa Thám nói:
-Các căn cứ đã sụp đổ, đồn của ta đã bị lộ, nếu ở lại sẽ bị tiêu diệt hết, chi bằng rút khỏi đây bảo toàn lực lượng rồi tính sau.
Đề Thám nói:
-Phu nhân nói phải lắm.
Rồi hạ lệnh:
-Cho toàn quân rút khỏi căn cứ cửa sông Sỏi về đồn Hố Chuối phía bắc.
Toàn quân bí mật rút về căn cứ Hố Chuối. Tháng 4 năm 1892, quân Pháp chiếm được toàn bộ hệ thống cứ điểm sông Sỏi.
Tại căn cứ mới, Đặng Thị Nhu nói với Đề Thám:
-Tình thế khó khăn, Pháp dùng thủ đoạn mua chuộc, dụ hàng, dùng kẻ đầu hàng để ám sát thủ lĩnh. Kẻ trong nội bộ mà phản bội, ám sát thì rất khó đề phòng. Tướng công nên bắt giết bằng được Đề Sặt, lấy đầu về tế vong linh Đề Nắm, hơn nữa để răn đe kẻ khác không dám làm như vậy, dù muốn đầu hàng cũng không dám giết thủ lĩnh.
Đề Thám nói:
-Phu nhân nói phải lắm.
Rồi gọi:
-Bay đâu.
-Dạ.
-Gọi Cả Dinh đến đây.
-Dạ.
Cả Dinh đến:
-Nghĩa phụ cho gọi con.
-Con đem theo 5 binh sĩ tinh nhuệ, dò cho ra Đề Sặt đang ở đâu giết chết, đem đầu về đây để tế vong linh của ngài Lương Văn Nắm.
-Dạ, con tuân lệnh nghĩa phụ.
Cả Dinh do thám và biết được nơi ở của Đề Sặt. Đêm 7 tháng 2 năm 1893, 6 tên lính của đồn Đề Sặt đi tuần quanh đồn, 6 bóng đen bất ngờ xông ra dùng thuốc mê dí vào miệng, 6 tên lính gục xuống. Cả Dinh và 5 người lính thay quân phục, siết cổ giết chết 6 tên lính rồi đi vào cổng gác. Lính gác hỏi:
-Ai?
-Chúng mày mù à? Chúng tao là lính tuần tiễu. Mở cửa.
Tên lính gác mở cửa, hắn bị dao dí vào cổ:
-Kêu sẽ chết ngay. Phòng ngủ của Đề Sặt ở đâu? Dẫn đường sẽ được tha chết.
-Dạ.
Đến cửa phòng Đề Sặt, 3 người tiếp tục khống chế tên lính, 3 người đạp cửa xông vào. Đề Sặt vội vùng dậy thì hai họng súng đã dí vào ngực:
-Chúng tao đến để tuyên án tử hình mày, trả thù cho Đề Nắm.
Đề Sặt giơ hai tay lên trời:
-Tôi biết lỗi rồi, xin tha mạng.
Hắn chưa dứt lời, Cả Dinh đã xuyên một dao qua ngực, máu phun ra đẫm giường. Cả Dinh cắt đầu Đề Sặt gói vào túi vải, thoát ra khỏi đồn rồi tha cho tên lính dẫn đường.
Trong tang lễ của Đề Nắm, sau các nghi lễ, Đề Thám nói:
-Ngài Đề Nắm đã không ít công lao dìu dắt cho Đề Sặt trưởng thành như nghĩa phụ đối với nghĩa tử. Nay Đề Sặt hủ bại ra đầu hàng quân giặc đã là bất trung, lại còn sát hại thủ lĩnh như nghĩa phụ của mình là bất hiếu, trái với lời thề của các anh hùng hảo hán ở đền Thề, không thể dung tha. Kẻ nào đi theo con đường bất trung, bất hiếu của Đề Sặt thì trông kết cục của hắn đây.
-Cả Dinh đâu.
-Dạ.
-Đem đầu của tên Sặt tế vong linh ngài Đề Nắm.
-Dạ.
Cả Dinh đem chiếc đầu đẫm máu của Đề Sặt giơ lên. Các thủ lĩnh chắp tay kính cẩn:
-Dạ, chúng mạt tướng xin ghi nhớ lời của chủ tướng.
Đề Thám nói tiếp:
-Hôm nay lo tang lễ cho Đề đốc Lương Văn Nắm, ngày mai xin mời các thủ lĩnh về sảnh đường ở Hố Chuối bầu ra người lãnh đạo quân sự tối cao thay cho Đề Nắm.
Tất cả đồng thanh đáp:
Xin tuân lệnh của tướng quân.
Bài vị của Đề Nắm được Đề Thám đưa về đình Hà, làng Thế Lộc thờ như một vị thành hoàng, lễ hội là ngày 15-16 tháng giêng âm lịch.
Sớm hôm sau, trong đại sảnh đường ở đồn Hố Chuối, tập trung đông đủ các thủ lĩnh của Yên Thế. Trước ghế chủ với chiếc bàn lớn nhìn ra sân, một dãy bàn kê dọc với hai dãy ghế tràng kỷ dài. Trên các bàn đặt những bộ ấm trà. Căn cứ Hố Chuối vẫn hiểm trở như xưa được Đề Thám cho xây dựng lại sau khi căn cứ sông Sỏi sụp đổ. Cây cối vẫn tươi tốt um tùm xung quanh và trước sân đại sảnh. Một vài giọt nắng long lanh lọt xuống giữa một rừng rậm trùm kín bao quanh. Ngồi ghế chủ là Thân Bá Phức, là người khởi xướng phong trào Cần Vương Yên Thế năm 1885. Qua 8-9 năm lăn lộn với trận mạc, bây giờ nom ông già sọm hẳn đi, ý chí anh hùng hảo hán, ham muốn xông pha giữa trận tiền thời thanh xuân bây giờ đã hết, chỉ còn nét mệt mỏi trên khuôn mặt gầy và mái tóc trắng bạc phơ.
Ngồi hai hàng ghế dưới là các thủ lĩnh. Ngay gần Thân Bá Phức là Đề Thám, kế đến là Đề Lâm, Đề Tuất. Ghế đối diện là Đề Chung, Thống Luận, bà Ba Cẩn Đặng Thị Nhu đã được thừa nhận là một nữ tướng từng làm cho quân Pháp khiếp đảm, bà còn lo vũ khí, lương thực cho toàn bộ nghĩa quân Yên Thế, kế đến là Cả Dinh, con nuôi của Hoàng Hoa Thám, cả Trọng, con cả của Hoàng Hoa Thám với bà vợ cả. Sau một lượt trà, Thân Bá Phức nói:
-Thưa các thủ lĩnh, đợt tấn công của quân Pháp vừa qua gây cho chúng ta nhiều tổn thất, trong đó lớn nhất là do tên Đề Sặt phản bội đã giết chết thủ lĩnh tối cao quân sự tài giỏi của chúng ta là Đề Nắm. Đề Nắm trong 8 năm lãnh đạo quân sự Yên Thế đã đánh bại 1 vạn quân Pháp do các tướng Gô đanh, Voa rông, Priedelinle chỉ huy khiến quân Pháp rất khiếp sợ. Ta ngày nay đã 70 tuổi, đã mệt mỏi qua 9 năm xông pha chiến trận. Sắp tới có lẽ ta sẽ cáo lão về vui thú điền viên sơn dã, rửa tay gác kiếm. Cho nên hôm nay các thủ lĩnh hãy bầu ra một thủ lĩnh quân sự có tài năng để gây dựng lại sự nghiệp của Yên Thế. Mong các vị sáng suốt lựa chọn.
Đề Chung đứng dậy nói:
-Thưa các anh hùng hảo hán, qua 9 năm chống Pháp ở Yên Thế, ta thấy rằng chỉ có Đề Thám thay được Đề Nắm dắt dẫn chúng ta trên con đường đại nghĩa.
Thân Bá Phức hỏi:
-Các vị khác còn ý kiến tiếp.
Tất cả các thủ lĩnh đều đáp:
-Nhất trí cử Đề Thám làm thủ lĩnh quân sự tối cao lãnh đạo nghĩa quân Yên Thế.
Thân Bá Phức nói:
-Các thủ lĩnh đã nhất trí lựa chọn, ta hoàn toàn nhất trí. Xin mời tướng quân Đề Thám lên nhận trách nhiệm.
Đề Thám với dáng vẻ đậm khỏe, uy nghi quắc thước, đầu quấn khăn đen, mặc áo dài đen, quần trắng bước lên hành lễ với Thân Bá Phức và nói:
-Kính thưa nghĩa phụ, thưa các thủ lĩnh. Đa tạ nghĩa phụ và các thủ lĩnh đã tín nhiệm. Thám tuy bất tài nhưng sẽ làm hết sức mình để không phụ sự ủy thác của nghĩa phụ và các huynh đệ. Ngày mai, xin kính mời nghĩa phụ và các huynh đệ làm lễ tế cờ ở đình làng Đình Đông. Tiếp theo lễ tế cờ là lễ ăn thề ở Đền Thề. Chúng ta thề sẽ sống chết cùng nhau, thề trung thành với sự nghiệp trung nghĩa. Xin đa tạ nghĩa phụ, xin đa tạ các vị.
III.
Tháng 12 năm 1894, Hà Nội chìm trong mùa đông giá rét, gió lạnh lùa lan tràn khắp các phố phường. Trời mang một màu mây xám xịt. Vài đàn chim sãi cánh bay về phương Nam tránh rét. Lá vàng bay lả tả khắp đường và cuốn bay theo gió. Dưới trời đông ảm đạm, phủ Thống sứ Bắc Kỳ nhô lên. Trong căn phòng sang trọng, Thống sứ Bắc Kỳ F.Rô đi ê đang họp với các tướng lĩnh, sĩ quan bàn về đàn áp Yên Thế, dự họp có Thống tướng Pi en, Thiếu tướng Voa rông. Thống sứ Bắc Kỳ nâng cốc rượu vang và nói:
-Xin hai ngài nâng cốc mừng cuộc hội ngộ.
-Xin đa tạ ngài Thống sứ.
Cả bọn cạn cốc rồi ngồi xuống. Thống sứ Bắc Kỳ F. Rô đi ê nói tiếp:
-Xin mời Thống tướng Pi en tổng kết chiến dịch năm 1892 đến hết năm 1893 tiêu diệt quân nổi loạn Yên Thế.
Pi en đứng dậy và nói:
-Thưa ngài Thống sứ, thực hiện chỉ thị của ngài Toàn quyền Đông Dương và của ngài Thống sứ, tháng 7 năm 1892 ta đã huy động 2.217 quân với nhiều đại bác hạng nặng 65ly, 95 ly chia làm 5 đạo do Thiếu tướng Voa rông chỉ huy, tham gia còn có 8 quan tư cấp tá. Lực lượng hùng mạnh đó đã tấn công vào hệ thống căn cứ sông Sỏi do Đề Nắm và nhiều thủ lĩnh chỉ huy. Kết quả trong trận này, hàng trăm binh sĩ Yên Thế tử trận. Thành quả lớn nhất là với kế dụ hàng và ám sát, một số thủ lĩnh của Yên Thế đã ra hàng như Đề Tuân, Đề Kiều, Tổng Chế, Đề Sặt. Đề Sặt trước khi ra hàng đã có công bắn chết Đề Nắm, thủ lĩnh quân sự cao cấp nhất của Yên Thế, một người trong 9 năm đã lãnh đạo nghĩa quân tiêu diệt gần 1 vạn quân Pháp, đánh bại ba đại tướng nổi tiếng của ta và hàng trăm sĩ quan các cấp của quân đội Pháp. Toàn bộ hệ thống cứ điểm của quân khởi nghĩa ở cửa sông Sỏi đã bị đập nát.
Voa rông đứng dậy:
-Thưa ngài Thống sứ, thưa ngài Pi en, đợt tấn công vào Yên Thế có thu được thắng lợi nhưng chỉ thắng lợi một nửa. Sau khi Đề Nắm mất đi, nghĩa quân Yên Thế đã bầu Hoàng Hoa Thám đứng đầu nghĩa quân. Thân Bá Phức là lãnh tụ tối cao nhưng chỉ là danh nghĩa. Thân Bá Phức đã già yếu và muốn về với đồng ruộng. Đề Thám là một tướng lĩnh kiên cường, kiên quyết chống Pháp, rất giỏi về quân sự và tổ chức chiến đấu. Đề Thám lại có nhiều trợ thủ đắc lực như bà Ba Cẩn, vợ ba ông ta không chỉ giỏi lo quân lương, vũ khí mà cũng giỏi chỉ huy chiến đấu, còn có cả Dinh, cả Trọng, cả Tuyển, Thống Luận là những thủ lĩnh đắc lực. Khi tấn công mà gặp đồn của Đề Thám thì quân ta rất khiếp sợ. Lính Pháp thì nằm lỳ không dám tiến lên, còn lính khố xanh, khố đỏ thì bỏ chạy.
Thống sứ Bắc Kỳ F. Rô đi ê ngắt lời:
-Khoan đã, nhưng làm thế nào khi tấn công quân ta lại biết được đó là đồn do Đề Thám chỉ huy?
-Thưa Thống sứ, khi tấn công mà quân ta bị bắn vào cánh tay phải thì đó là Đề Thám bắn, còn bị bắn vào cánh tay trái thì đó là do bà Ba Cẩn bắn. Không phải là họ bắn trượt mà là bắn cảnh cáo. Cách bắn đó đã làm cho quân ta cực kỳ hoảng loạn, sụp đổ về tinh thần và tan rã. Họ còn có tâm lý cảm ơn Đề Thám và bà Ba Cẩn không bắn giữa ngực họ, đã tha cho họ một mạng sống.
Thống sứ Bắc Kỳ trầm ngâm một lúc rồi hỏi:
-Nay Đề Thám thay Đề Nắm và Thân Bá Phức, tình hình chiến sự giữa Yên Thế và quân ta thế nào?
Voa rông đáp:
-Từ năm 1893 đến nay, Đề Thám ra sức xây dựng lại căn cứ Hố Chuối, Phồn Xương vững chắc và hiểm trở hơn các năm 1891-1892. Căn cứ nghĩa quân còn được mở rộng ra các tỉnh Thái Nguyên, Phúc Yên, Vĩnh Yên. Ngoài Hố Chuối, Phồn Xương, Đề Thám còn xây dựng chung quanh 10 làng chiến đấu. Chiến thuật du kích được Đề Thám vận dụng và nâng lên một nghệ thuật ở trình độ cao trong tác chiến khiến kẻ thù đối phó một cách rất khó khăn.
-Ngày 7 tháng 2 năm 1893, quân của Đề Thám bắt giết Đề Sặt lúc nửa đêm, cắt thủ cấp tế vong linh Đề Nắm làm cho những thủ lĩnh ra hàng ta rất khiếp sợ.
-Ngày 27 tháng 6 năm 1893, quân Yên Thế đánh lính khố xanh ở Đáp Cầu, tiêu diệt hai lính, 1 lính bị thương. Tháng 6 năm 1893, Đề Thám cho 30 tay súng tấn công đồn gần Nhã Nam. Ngày 17 tháng 7 năm 1893, một cuộc giao tranh ác liệt trên đường Phủ Lạng Thương giữa quân của Đề Thám và quân của Công sứ Bắc Ninh Ma hê. Ngày 3 tháng 11 năm 1893, quân ta tổ chức đánh úp Thân Bá Phức, Tổng Trụ nhưng không thành công. Cũng tháng 11 cùng năm, Thiếu tá Ba ri đem 370 tay súng nhằm bao vây làng Bằng Cục nhưng khi đến nơi thì nghĩa quân đã rút. Ngày 31 tháng 12 năm 1893, quân Đề Thám hoạt động ở một làng Nhã Nam, khi rút đi đã bắn vào đồn quân Pháp.
-Về phía quân ta, đến tháng 1 năm 1894, đã xây được các đồn bao vây Yên Thế ở Nhã Nam, Mỏ Trạng, Bố Hạ.
Voa rông dừng lại uống một ngụm rượu và nói tiếp:
-Thưa ngài Thống sứ, tôi nghĩ chúng ta đối phó chật vật với quân Yên Thế vì Đề Thám và những thủ lĩnh của ông ta là những người kiên cường và giỏi về quân sự. Phần đông nghĩa quân Yên Thế là những người trọng nghĩa, sẵn sàng hy sinh vì nghĩa lớn cho dân, cho nước. Cho nên họ không hề sợ hãi dù đại bác của ta bắn như mưa, sát thương và tàn phá như sấm sét. Điều cơ bản là chúng ta không hiểu được người Việt. Cho nên, thuộc cấp cho rằng Thống sứ nên điều một quan lại người Việt hiểu về người Việt để hợp tác với chúng ta về mưu lược quân sự cùng tấn công Yên Thế. Các ngài xem cuộc khởi nghĩa lớn nhất phong trào Cần Vương là khởi nghĩa Phan Đình Phùng ở Hà Tĩnh, chúng ta đối phó thất bại liên tục, chỉ đến khi điều ngài khâm sai đại thần Nguyễn Thân ra cùng với ta thì nay phong trào Hương Khê đang suy tàn và sắp bị tiêu diệt. Lại nữa, ai đã góp phần đàn áp khởi nghĩa Bãi Sậy, đó là ngài Kinh lược sứ Hoàng Cao Khải. Ở Yên Thế cũng cần một đại thần tài giỏi của triều đình Huế hợp tác với chúng ta.
Thống sứ Bắc Kỳ F. Rô đi ê nói:
-Lời của thiếu tướng Voa rông nói phải lắm. Theo các ngài, trong số các quan lại của triều đình Huế ở Bắc Kỳ có ai giỏi về quân sự, chính trị có thể cộng tác với chúng ta cùng đàn áp khởi nghĩa Yên Thế?
Pi en đáp:
-Theo ý thuộc cấp, giỏi cơ mưu và hiểu về Yên Thế, Bắc Giang chỉ có ngài Lê Hoan, hiện nay là Tuần phủ Hưng Hóa kiêm Tiễu phủ sứ Tam Tuyên: Sơn Tây, Hưng Hóa, Tuyên Quang.
Thống sứ Bắc Kỳ hỏi:
-Thống tướng Pi en biết gì về ngài Lê Hoan không?
-Dạ bẩm Thống sứ, Lê Hoan sinh năm 1856, quê quán tại làng Mộc, xã Nhân Mục, tổng Khương Đình, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông. Thời trẻ, ngài Lê Hoan đi lính cho triều đình Huế, sau đó tham gia quân của Hoàng Kế Viêm ở Bắc Kỳ. Vì vi phạm quân luật, bị kết án tử hình nhưng được giảm án. Năm 1886 dưới triều Đồng Khánh, ngài Lê Hoan quy thuận người Pháp nên được bổ nhiệm làm thông phán ở Lạng Sơn và Hưng Yên. Đến thời Thành Thái năm 1892, được bổ nhiệm chức Bố chánh Sơn Tây, Tuần phủ Hưng Hóa kiêm Tiễu phủ sứ Tam Tuyên. Bây giờ ngài Thống sứ nói với quan Toàn quyền ra lệnh cho triều đình Huế bổ nhiệm ngài Lê Hoan làm Khâm sai đại thần Bắc Kỳ là có thể cộng tác với chúng ta.
* *
*
Đó là một đêm mùa đông năm 1894, toàn bộ màn đêm bao phủ mịt mùng lấy xứ Bắc Ninh, gió thổi khua cây lá xào xạc trên những mái nhà của phố xá. Bầu trời đen kịt không một vì sao. Xa xa, trong ánh đen lờ mờ, dòng sông Cầu vẫn âm thầm tuôn nước về Lục Đầu Giang. Vài con thuyền lặng lẽ ngược xuôi giang hồ tỏa ánh đèn dầu le lói. Trấn trị Bắc Ninh bị bao phủ màn đêm, phủ đường của quan Khâm sai đại thần Bắc Kỳ vươn lên mờ ảo. Trong gian phòng rộng của phủ vẫn còn le lói ánh đèn. Một người dáng dấp nho nhã, đầu chít khăn đen, mặc áo dài đen, quần trắng, đi giầy Tây đang chắp tay sau lưng đi đi lại lại trong phòng. Sau đó người ấy lại ngồi xuống và uống hết chén trà này đến chén trà khác rồi lại ngồi im nhâm nhi chén chè và suy nghĩ. Đó là quan Khâm sai đại thần Bắc Kỳ Lê Hoan. Cách đây vài hôm, Lê Hoan còn là Tuần phủ Hưng Hóa kiêm Tiễu phủ sứ Tam Tuyên. Chắc là do yêu cầu của Thống sứ Bắc Kỳ, của Toàn quyền Đông Dương, của Khâm sứ Trung Kỳ nên triều đình phong cho Lê Hoan chức khâm sai đại thần Bắc Kỳ với nhiệm vụ nặng nề là dẹp bằng được cuộc khởi nghĩa Yên Thế do Thân Bá Phức khởi xướng từ năm 1885 và bây giờ là do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo chống Pháp càng quyết liệt hơn xưa. Triều đình Huế và các quan thầy Pháp thì Lê Hoan không lạ gì. Họ muốn biến Lê Hoan thành một Nguyễn Thân, một Hoàng Cao Khải nhưng ông khác hai người trên là ông đã có một thời yêu nước và chống Pháp khi trong quân ngũ của Hoàng Kế Viêm và quân Cờ Đen Lưu Vĩnh Phúc, thời kỳ quân Pháp đánh Bắc Kỳ lần 1 (1873), lần 2 (1882). Nhưng rồi thời đã thế thế thời phải thế, Lê Hoan lại quy phục người Pháp và trở thành viên quan cao cấp của triều đình với cái giá phải trả là đánh dẹp bằng được cuộc khởi nghĩa Yên Thế. Biện pháp thì Lê Hoan đã có, cứ cho càn quét, bao vây, tách bách tính ra khỏi nghĩa quân, làm cho nghĩa quân kiệt quệ về lương thực, vũ khí, nhân lực, sau đó dùng lực lượng gấp 10 lần với hàng trăm khẩu đại bác tiến gần bắn suốt ngày đêm thì công sự kiên cố đến đâu, nghĩa quân gan dạ dũng cảm đến đâu thì cuối cùng vẫn bị tiêu diệt. Như bài học kinh nghiệm ở Hương Khê, ở Bãi Sậy. Lực lượng của Pháp và Yên Thế quá chênh lệch. Pháp có toàn bộ Đông Dương, Yên Thế chỉ có một huyện nghèo. Lê Hoan biết rằng Hoàng Hoa Thám cũng biết điều đó nhưng họ là những người yêu nước theo kiểu anh hùng hảo hán, sẵn sàng xả thân vì đại nghĩa. Lê Hoan cũng biết rằng thời kỳ từ năm 1885 đến năm 1892, khi Thân Bá Phức và Đề Nắm lãnh đạo thì phong trào Yên Thế mang tính chất Cần Vương với danh nghĩa quân thứ Song Yên, Thân Bá Phức là Thống đốc quân vụ, Tán tương quân vụ. Khi Đề Nắm mất đi, Thân Bá Phức già yếu chỉ còn danh nghĩa, Hoàng Hoa Thám lãnh đạo thì phong trào là của nông dân, đấu tranh cho tự do, độc lập và ruộng đất, cho nên cuộc xung đột càng gay gắt quyết liệt, không đội trời chung. Họ đã uống máu ăn thề, “Tứ hải giao huynh đệ" xem thường cái chết thì với họ đại bác súng đạn không có gì đáng sợ, họ đã quyết chết cho đại nghĩa, cho lý tưởng tự do, ruộng đất, độc lập.
Nhưng Lê Hoan không muốn tàn sát đồng bào của mình, những người anh hùng mà Lê Hoan khâm phục. Lê Hoan không muốn tàn sát nghĩa quân cũng như những sinh mạng của những lính khố xanh, khố đỏ chỉ vì quyền lợi của người Pháp và bọn Việt gian bán nước. Nhưng thời cuộc chưa đến lúc cho phép tống khứ bọn người Pháp xa lạ ra biển. Cần phải tiết kiệm xương máu của đồng bào mình để chờ thời cơ. Muốn dẹp được Yên Thế mà không đổ máu thì chỉ còn một cách là làm cho Yên Thế đầu hàng dưới danh nghĩa giảng hòa để Hoàng Hoa Thám có thể chấp nhận. Muốn giảng hòa phải tìm người trung gian có quan hệ với Yên Thế để dàn xếp. Nghĩ tới đó, Lê Hoan tự vỗ tay xuống bàn:
-Hay, hay, tìm ra rồi.
Tiếng đập bàn làm người lính cận vệ chạy vào:
-Dạ, quan Khâm sai cần gì ạ.
-Đem chai rượu ra đây.
-Dạ.
Người lính mang chai rượu vào và rót ra một cốc đầy.
Lê Hoan nói:
-Đem một cốc nữa ra đây.
-Dạ.
-Rót ra.
-Dạ.
Người lính rót ra một cốc nữa. Lê Hoan nói:
-Cầm lên uống đi.
-Dạ, con không dám ạ.
-Ta bảo uống thì uống, không nghe lệnh ta sao.
-Dạ, đội ơn quan Khâm sai.
Cạn chén xong, Lê Hoan dặn:
-Ta đi nghỉ, mai có Thiếu tá Va len xa đem quân đến thì gọi ta dậy để ta hành quân lên Yên Thế.
-Da, tuân lệnh quan Khâm sai.
Sớm hôm sau, Lê Hoan cùng Thiếu tá Va len xa đem 200 lính khố xanh, 600 lính khố đỏ cùng một đạo quân Pháp với 50 đại bác hành quân lên Yên Thế, đóng hành dinh ở Nhã Nam. Ngày hôm sau đang chuẩn bị hành quân lên Hố Chuối càn quét thì có lính về báo:
-Bẩm ngài Khâm sai và Thiếu tá, có thư của quan Thống sứ Bắc Kỳ gửi Thiếu tá.
Va len xa mở thư đọc và nói với Lê Hoan:
-Tiếc quá không được cộng tác với ngài Khâm sai trong chiến dịch này, ta phải đem quân lên biên giới có việc quân quan trọng.
Lê Hoan nói:
-Thật là đáng tiếc. Người đâu.
-Dạ.
-Đem rượu ra đây để ta tiễn biệt Thiếu tá.
-Dạ.
Lê Hoan nâng cốc và nói:
-Chúc Thiếu tá thượng lộ bình an, may mắn.
-Đa tạ ngài Khâm sai, chúc Khâm sai bình an, hoàn thành sứ mệnh.
-Đa tạ ngài Thiếu tá.
Hai người cạn cốc rồi Va len xa lên ngựa dẫn đoàn chiến binh Pháp khoảng 200 người rời Nhã Nam đi về Lạng Sơn giữa mùa đông gió lạnh se sắt, cát bụi mù mịt. Lê Hoan nhìn đoàn quân đi cho đến khi khuất dần trong rừng núi. Về hành dinh, Lê Hoan gọi:
-Người đâu.
-Dạ.
-Đem ấm trà nóng lên đây.
-Dạ.
Lê Hoan ngồi vào bàn uống trà và cố nhớ lại xem trong vùng Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Nguyên có quan chức nào xưa chống Pháp mà ra đầu thú không. Chợt Lê Hoan nhớ ra có Phùng Quý Phúc xưa có quan hệ đi lại với Thân Bá Phức. Theo tin tình báo, Thân Bá Phức nay đã già, đã chán thời tung hoành trong binh lửa, muốn ra hàng chính quyền bảo hộ để làm chức thương tá. Ta thử qua Phùng Quý Phúc để dò thái độ của Thân Bá Phức thế nào? Thân Bá Phức mà quy hàng có thể lôi kéo được Hoàng Hoa Thám vì Thám là con nuôi của Phức khi ông ta còn nhỏ, bố mẹ bị triều đình giết hại vì tham gia khởi nghĩa chống triều đình. Nghĩ vậy, Lê Hoan gọi:
-Người đâu.
-Dạ.
-Hãy dùng con ngựa tốt chạy lên Bắc Cạn đưa bức thư này cho ngài Phùng Quý Phúc.
-Dạ, tuân lệnh quan Khâm sai.
Phùng Quý Phúc đang ngồi trong hành dinh ở Chợ Mới thì có lính vào báo:
-Dạ bẩm, có người của Khâm sai đại thần Bắc Kỳ Lê Hoan đưa thư tới cho ngài.
-Cho vào.
Người lính của Lê Hoan vào chắp tay:
-Dạ bẩm tướng quân, có thư của ngài Khâm sai đại thần gửi cho tướng quân.
Phùng Quý Phúc nhận thư bóc ra xem. Thư viết: “Hiện nay ta là Khâm sai đại thần Bắc Kỳ nhận một trọng trách nặng nề là dẹp yên cuộc nổi loạn Yên Thế. Ta không muốn dùng đại bác tàn hại đồng bào mình. Ta muốn dụ Thân Bá Phức và Hoàng Hoa Thám đầu hàng. Tướng quân xưa có quan hệ với Thân Bá Phức thì hãy giúp ta liên hệ với ngài ta. Việc lớn thành công, tướng quân sẽ được ghi nhận công lao”. (Khâm sai đại thần Bắc Kỳ Lê Hoan kính thư).
Phùng Quý Phúc đọc xong thư gọi:
-Người đâu.
-Dạ.
-Người này là cận vệ của Khâm sai đại thần Bắc Kỳ Lê Hoan, đem ra phòng khách tiếp đãi tử tế, không được sơ suất.
-Dạ, tuân lệnh tướng quân.
Lại nói:
-Tướng quân đi ăn cơm nghỉ ngơi, chiều lên nhận thư phúc đáp của ta cho ngài Khâm sai.
-Dạ, đa tạ tướng quân.
Người lính của Lê Hoan đi rồi, Phùng Quý Phúc lại gọi:
-Người đâu.
-Dạ.
-Đem giấy mực ra đây.
-Dạ.
Có giấy mực, Phùng Quý Phúc ngồi viết, viết xong lại gọi:
-Người đâu.
-Dạ.
-Cho người cận vệ của Khâm sai đại thần lên gặp ta.
-Da.
Người lính của Lê Hoan lên, Phùng Quý Phúc trao thư và nói:
-Tướng quân hãy cầm bức thư quan trọng đưa tận tay cho ngài Khâm sai.
-Dạ, đa tạ, cáo biệt tướng quân.
Lê Hoan nhận được thư mở ra đọc. Thư viết: “Nếu ngài thực lòng muốn Thân Bá Phức và Hoàng Hoa Thám đầu thú thì hạ quan sẽ làm trung gian, sẽ viết thư ngay cho Thân Bá Phức”. (Kính thư-Phùng Quý Phúc).
Ở đồn Hữu Nhuế, Thân Bá Phức nhận được thư của Phùng Quý Phúc mừng rỡ, liền cho tay chân thân tín tin cậy là Thân Văn Tảo và Hoàng Văn Sơn đi gặp đại diện của Phùng Quý Phúc là Châu Bảo Kế trong một nhà hàng cơm ở phố Chợ Mới. Châu Bảo Kế gọi rượu thịt cơm. Sau khi rót đầy ba cốc rượu, Châu Bảo Kế nói:
-Chúc mừng cuộc hội ngộ.
-Đa tạ, đa tạ, xin mời.
Sau khi cơm rượu no say, Châu Bảo Kế nói với Thân Văn Tảo và Hoàng Văn Sơn:
-Hai tướng quân về nói với Thống đốc quân vụ quân thứ Song Yên Thân Bá Phức nếu thực lòng muốn giảng hòa với ngài Khâm sai đại thần Bắc Kỳ thì 5 ngày nữa, nay là ngày 15, tức là ngày 20 tháng 11 năm 1894, ngài Thân Bá Phức lên tư dinh của ngài Phùng Quý Phúc ở Chợ Mới gặp đại diện của ngài Khâm sai đại thần Lê Hoan.
Thân Văn Tảo đáp:
-Đa tạ tướng quân thu xếp, hôm đó chắc chắn ngài Thống đốc quân vụ sẽ lên.
Châu Bảo Kế nhắc lại:
-Hai tướng quân nhớ nhé, ngày gặp là ngày 20 tháng này, nhớ kẻo hỏng việc lớn đấy.
-Chúng tôi nhớ rồi, đa tạ tướng quân.
Trưa 20 tháng 11, Phùng Quý Phúc đang ngồi trong tư dinh uống trà thì có lính vào báo:
-Dạ, bẩm tướng quân, có ngài Thống đốc quân vụ Song Yên Thân Bá Phức và tùy tùng lên ạ.
-Cho mời vào.
-Dạ.
Tên lính ra rồi thì Phùng Quý Phúc cũng đi ra cổng đón khách quý, trông thấy Thân Bá Phức đang đi vào. Đó là một ông già không còn sức vóc là một dũng tướng như xưa nữa. Phùng Quý Phúc chắp tay cúi chào:
-Kính chào ngài Thống đốc quân vụ Song Yên và hai tướng quân.
Thân Bá Phức và hai tùy tùng là Thân Văn Tảo và Hoàng Văn Sơn vội đáp lễ.
-Chào tướng quân.
-Chào tướng quân.
-Lâu mới gặp lại cố nhân.
Vào đại sảnh, chủ khách chia ngôi thứ ngồi. Phùng Quý Phúc gọi:
-Người đâu.
-Dạ.
-Rót trà và rượu.
Các cốc đã đầy rượu, Phùng Quý Phúc nâng chén lên nói:
-Xin kính mời Thống đốc quân vụ, chúc sức khỏe ngài, chúc sức khỏe các tướng quân.
Thân Bá Phức và mọi người nâng chén:
-Đa tạ, đa tạ, xin mời tướng quân.
Mọi người vừa cạn tuần rượu thứ hai thì có lính vào báo:
-Bẩm tướng quân, có ngài Lê Đình Thiện, Phái viên của quan Khâm sai tới ạ.
Phùng Quý Phúc cũng đứng dậy và nói với Thân Bá Phức:
-Hạ quan xin lỗi.
Rồi tiến ra cửa thì thấy Lê Đình Thiện bước vào. Phùng Quý Phúc chắp tay hành lễ:
-Xin chào quan Phái viên.
-Xin chào tướng quân.
Đáp lễ rồi Lê Đình Thiện vào trước, chủ nhà theo sau. Mọi người đứng dậy:
-Chào quan lớn.
-Xin chào các tướng quân.
Chủ khách an tọa. Phùng Quý Phúc chỉ vào Thân Bá Phức:
-Đây là ngài Thân Bá Phức, người chỉ huy cao nhất của nghĩa quân Yên Thế. Còn đây là ngài Lê Đình Thiện, đặc phái viên của ngài Khâm sai đại thần Bắc Kỳ. Xin mời các quý vị nâng cốc mừng cuộc hội ngộ.
-Đa tạ, đa tạ, xin mời.
-Xin mời, xin mời.
Khi mọi người đã cạn, đặt chén xuống thì Phùng Quý Phúc nói:
-Thưa các ngài, hôm nay chúng ta gặp nhau ở đây là vì một việc lớn. Ngài Khâm sai đại thần Lê Hoan đang gánh một nhiệm vụ nặng nề là dẹp yên cuộc xung đột giữa Yên Thế với người Pháp. Nhưng ngài Lê Hoan không muốn dùng đại bác đổ máu dân mình nên ngài muốn giảng hòa với Yên Thế, nói rõ hơn là ai muốn quy phục về với triều đình cũng được. Qua cuộc thương thuyết giữa phái viên của ta và đại diện của ngài Thân Bá Phức, ta biết được ngài muốn quy phục triều đình và Chính phủ bảo hộ vì tuổi cũng đã cao, không còn xông pha trên chiến trường được nữa. Vậy hôm nay ngài Thân Bá Phức và ngài Lê Đình Thiện hãy bàn với nhau xem sao.
Lê Đình Thiện hỏi:
-Hôm nay ngài Đề đốc Hoàng Hoa Thám không tới ạ?
Thân Bá Phức đáp:
-Thưa đại nhân, Đề đốc Hoàng Hoa Thám không rõ lý do không tới. Hôm nay ta cũng chỉ thương lượng cho ta và những tùy tướng dưới quyền ta, còn ta không đại diện cho Hoàng Hoa Thám.
Lê Đình Thiện hỏi:
-Ngài về với triều đình có điều kiện gì không?
Thân Bá Phức đáp:
-Tại hạ không có yêu cầu gì nhiều, chỉ yêu cầu nhà cầm quyền bảo đảm an toàn, cho đất đai nhà ở và cho làm một nhân viên là chức thương tá để có nguồn sinh sống.
Lê Đình Thiện đáp:
-Hai điều kiện của ngài triều đình có thể đáp ứng. Còn phía triều đình yêu cầu ngài thứ nhất phải nộp hết ấn tín thời vua Hàm Nghi phong cho ngài chức vụ, thứ hai phải nộp lại hết vũ khí. Thứ ba đúng trưa 25 tháng 11 ngài và các thuộc tướng phải có mặt ở đồn Nhã Nam để ngài giao vũ khí và triều đình tiếp nhận ngài quy thuận.
Thân Bá Phức nói:
-Để có vật làm tin, tại hạ có mang theo ấn tín, ngài có thể nhận và về trao lại cho ngài Lê Hoan được không?
-Nếu như ngài tin tưởng ta, ta sẽ nhận và chuyển cho ngài Khâm sai đại thần giúp ngài.
-Đa tạ ngài.
Nói rồi Thân Bá Phức trao tín vật cho Lê Đình Thiện, đó là ấn Thống đốc quân vụ Song Yên mà triều đình Hàm Nghi đã ban khi ông dương ngọn cờ Cần Vương khởi nghĩa ở Yên Thế.
Khi Thân Bá Phức trao di vật cho Lê Đình Thiện, mọi người mới cảm thấy bàng hoàng, trầm lặng và buồn bã. Người anh hùng hảo hán đã chín năm trời tung hoành dưới ngọn cờ Cần Vương Yên Thế bây giờ sức lực đã cạn, chí lớn đã sụp đổ mất rồi. Để phá tan không khí nặng nề, Phùng Quý Phúc nói:
-Kính mời các ngài xuống đại sảnh vui với hạ quan chén rượu nhạt.
Mọi người đều nói:
-Đa tạ, đa tạ.
Và mọi người tiến vào đại sảnh trong không khí trầm lắng lạ thường.
Theo thỏa thuận tại hành dinh của Phùng Quý Phúc, ngày 25 tháng 11 năm 1894, Thân Bá Phức cùng các thuộc hạ gồm Đề đốc Nguyễn Văn Trứ, Lãnh binh Nguyễn Văn Vi, Lãnh binh Nguyễn Văn Công, Đề đốc Thân Văn Luật, Đề đốc Hoàng Đình Thám, Lãnh binh Nguyễn Văn Chiến cùng 100 tay súng ra đồn Nhã Nam quy thuận triều đình, quy thuận chế độ bảo hộ của Pháp, chấm dứt chín năm chiến đấu của quân thứ Song Yên dưới ngọn cờ Cần Vương Yên Thế.
IV
Mùa xuân năm 1895, khắp vùng Yên Thế nắng chan hòa tuy tiết trời vẫn còn se lạnh. Cây cối đã bắt đầu đâm chồi nẩy lộc tiễn đi một mùa đông lạnh giá. Cây lá xanh bát ngát phủ lên thôn làng, phủ lên những núi đồi tươi tốt. Mây đi lang thang trên trời, những đàn chim bay về tổ đón nắng ấm mùa xuân.
Trong hành dinh của Lê Hoan, hôm nay có một người vừa là hàng binh, vừa là khách. Đó là Thân Bá Phức. Từ khi ra đầu thú, hôm nay Lê Hoan mới chính thức gặp Thân Bá Phức. Hai cốc rượu vang đã được lính rót ra. Lê Hoan nâng cốc nói:
-Nghe đại danh của Thống đốc quân vụ đã lâu, nay mới được gặp. Nào xin mời ngài nâng cốc mừng cuộc hội ngộ.
Thân Bá Phức nâng cốc và nói:
-Tại hạ nay không còn là Thống đốc quân vụ nữa, từ nay là một bại tướng đã rửa tay gác kiếm. Xin ngài Khâm sai cứ gọi tại hạ là Thân Bá Phức là được. Nào, xin đa tạ ngài.
Sau khi hai người cạn và đặt cốc, Lê Hoan có vẻ sốt ruột:
-Hôm nay là ngày Đề Thám hứa đem thuộc hạ ra hàng, không biết ông ta có đến không? Đã quá giờ rồi.
Thân Bá Phức nói:
-Hôm trước tuân lệnh ngài Khâm sai, tại hạ đã đến Hữu Nhuế gặp Đề Thám.
Lê Hoan hỏi:
-Đề Thám nói sao?
-Đề Thám có đặt điều kiện ra hàng với ngài và với người Pháp.
-Những điều kiện gì?
-Điều kiện thứ nhất là không được buộc ông ta phải nộp vũ khí, điều kiện thứ hai là người Pháp phải rút quân khỏi các đồn ở Yên Thế, giao Yên Thế cho Đề Thám cai quản. Cho nên hôm nay ngài ấy sẽ không đến đâu. Vả lại theo tại hạ được biết thì Đề Thám đang ra sức củng cố, xây dựng lại các làng chiến đấu, các pháo đài Hố Chuối, đồn Hom, Phồn Xương, Hữu Nhuế đã bị Đại tá Fơ rây tàn phá trong các trận tấn công năm 1891-1892.
Lê Hoan gọi:
-Người đâu.
-Dạ.
-Đem rượu ra đây, không thấy các cốc đã cạn rồi hả?
-Dạ.
Có rượu Lê Hoan nói:
-Xin mời ngài Thân Bá Phức, hôm nay không say không về.
-Đa tạ ngài Khâm sai.
Lê Hoan vừa uống vừa im lặng suy nghĩ, hết cốc này đến cốc khác, sau cùng nói với Thân Bá Phức:
-Những điều kiện ngài Đề Thám đưa ra ngài ta biết là người Pháp không chấp nhận được. Hiện nay Đề Thám thành nhân vật chủ chốt của Yên Thế, chỉ có hạ sát được ngài ta thì mới dẹp được Yên Thế. Ngài Thân Bá Phức này.
-Xin ngài Khâm sai chỉ giáo.
Lê Hoan đứng dậy vươn người về phía Thân Bá Phức, ghé sát vào tai nói nhỏ một hồi, cuối cùng mới nói to:
-Cứ thế, cứ thế…
Thân Bá Phức gật đầu. Sau đó Lê Hoan ngồi lại ghế và cầm cốc:
-Chúc ngài thành công.
Thân Bá Phức nói:
-Cách này hơi bần tiện nhưng cũng không có cách gì khác.
Lê Hoan nói:
-Chúng ta chẳng ai muốn nhưng đành vậy thôi.
Hai người lại uống, vừa uống vừa đăm chiêu suy nghĩ.
Thân Bá Phức nói:
-Ngài Khâm sai yên tâm, tại hạ sẽ thực hiện theo đúng kế hoạch của ngài. Vốn từ lâu là tình nghĩa phụ-nghĩa tử sâu đậm với Đề Thám, tại hạ sẽ sử dụng tình thân này để hoàn thành nhiệm vụ.
Lê Hoan mừng rỡ:
-Đa tạ đại nhân. Ta chờ đợi tin vui từ ngài.
Vài hôm sau, một biểu chiều có vẻ thanh bình của Yên Thế. Quân Pháp chưa càn quét vì còn chờ Đề Thám ra đầu hàng. Tại phòng khách của đồn Hữu Nhuế, Đề Thám vừa ngồi uống rượu vừa xem diễn tuồng. Đề Thám ngồi trên ghế tràng kỷ nhìn về sân khấu trước mặt. Trước ghế đặt một chiếc bàn, trên bàn đặt bộ ấm trà, chai rượu và cốc chén bằng sứ trắng. Phía trước cách 20m là sân khấu nhỏ, kèn nhạc réo rắt xen lẫn tiếng trống chầu tùng tùng gõ nhịp theo tiếng hát. Hai diễn viên, một nam một nữ mặc áo quần lộng lẫy màu lụa vàng đang diễn tích Điêu Thuyền - Lã Bố. Chung quanh Đề Thám có nhiều vệ sĩ mang súng bảo vệ. Lối cửa ra vào cũng có hai nghĩa quân cầm súng đứng gác. Chợt có lính vào báo:
-Dạ bẩm tướng quân, có ngài Thân Bá Phức đến thăm đang chờ ngoài cửa.
-Mời vào.
Người lính đi ra thì Đề Thám cũng đứng dậy đi ra cửa đón. Đề Thám gặp Thân Bá Phức trước cửa phòng. Đề Thám chắp tay cúi đầu:
-Con kính chào nghĩa phụ.
-Không dám, không dám, lão phu chào Đề đốc tướng quân.
-Kính mời nghĩa phụ vào cùng xem hát bội.
Đề Thám dẫn Bá Phức vào cùng ngồi xuống ghế tràng kỷ, rót ra hai chén rượu:
-Xin mời nghĩa phụ dùng rượu.
Hai người bê chén, cùng uống, cùng nhìn về sân khấu ra vẻ xem. Thân Bá Phức hỏi:
-Xem hát vui thế này, Đặng phu nhân không đi cùng Đề đốc sao?
-Dạ, nhà con còn bận lo lương thực cho nghĩa quân.
Thân Bá Phức gật gù:
-Chà, vừa là nữ tướng chỉ huy chiến đấu giỏi, lại còn kiêm vai “Bà Chúa Kho” nữa, quá giỏi, quá đảm đang.
Đề Thám cùng Thân Bá Phức uống và cười nói vui vẻ.
Trong khi đó hai người lính của Bá Phức cũng được vào phòng, đứng sau Bá Phức và Đề Thám cách 2m, gần bức tường. Một người tay cầm một cái hộp gỗ, chắc là dụng cụ cá nhân của Bá Phức. Lính bảo vệ của Đề Thám thấy họ không mang vũ khí nên cũng yên tâm. Đề Thám và Thân Bá Phức lại uống. Canh giờ sau, bỗng nhiên Thân Bá Phức ôm bụng gục xuống bàn và kêu:
-Ta đau bụng quá. Chết mất.
Đề Thám và lính cận vệ hốt hoảng. Hai người lính của Thân Bá Phức chạy lại sau lưng và hỏi:
-Thưa ngài làm sao vậy?
-Ta đau bụng quá, không chịu nổi, dìu ta về đi.
Một người lính của Bá Phức nhân lúc nhốn nháo đã đặt chiếc hộp gỗ xuống và đẩy sâu vào dưới ghế tràng kỷ, nơi Đề Thám ngồi và vội vã cùng người kia dìu Bá Phức ra ngoài. Đề Thám và mọi người cũng ra theo. Đề Thám gọi:
-Người đâu.
-Dạ.
-Đem hai con ngựa ra đây.
-Dạ.
Có ngựa, mọi người dìu Bá Phức ngồi sau, ôm người lính ngồi trước cho khỏi ngã, hai con ngựa lồng lên phi nước đại đưa ba người ra khỏi đồn Hữu Nhuế. Đề Thám và mọi người còn đứng trông theo Thân Bá Phức, chợt trong phòng tuồng một tiếng nổ cực lớn phát ra. Sau tiếng nổ là những làn khói đen đặc khét lẹt tỏa ra. Một người lính hốt hoảng chạy ra báo:
-Dạ bẩm chủ tướng, cái hộp gỗ của ngài Thân Bá Phức quên dưới gầm ghế tràng kỷ, nơi ngài ngồi xem hát phát nổ. Bàn và ghế tan nát.
-Lính của ta và đám hát bội có ai việc gì không?
-Dạ lính của ta theo ngài ra ngoài hết, đám hát ở xa nằm xuống nên không ai việc gì, chỉ là họ rất hoảng sợ.
-Vào trả tiền công cho họ và bảo họ về đi.
-Dạ, tuân lệnh.
-Còn nữa, thu dọn chỗ cháy nổ đi. Báo cho bà Ba biết xong cơm tối nay triệu tập các tướng lĩnh họp để đánh quân Pháp ngày mai.
-Dạ, tuân lệnh Đề đốc.
Sớm hôm sau, có mặt trong Tổng hành dinh quân Pháp ở Nhã Nam gồm Khâm sai đại thần Lê Hoan, Công sứ Bắc Ninh Ma hê, Trung tá Va len xa. Sau khi cạn xong một lượt rượu, Lê Hoan nói:
-Theo kế hoạch, chiều hôm qua ngài Thân Bá Phức cùng hai người lính đem theo mìn nổ chậm đã đặt và ám sát được Đề Thám ở đồn Hữu Nhuế lúc Đề Thám đang ngồi xem tuồng. Để xác minh lại, sớm nay ta đã cho tình báo đi Cổ Nhuế do thám lại một lần nữa cho chắc chắn để chúng ta có kế hoạch hành động.
Lê Hoan vừa nói tới đó thì có lính tình báo về báo:
-Dạ, bẩm ngài Khâm sai, bẩm Công sứ, đồn Cổ Nhuế đã phát tang và đang tiến hành lễ viếng Đề Thám..
Công sứ Bắc Ninh Ma hê nói:
-Vậy chắc chắn Đề Thám đã chết, ngồi trên một quả mìn có sức nổ phá tường mà không tan xương nát thịt thì mới lạ. Ha!Ha!Ha! Quan Tổng đốc cử 200 lính Việt, ngài Va len xa chỉ huy 200 lính Pháp đến đồn Cổ Nhuế chiêu hàng, nếu không hàng thì giết hết.
Lê Hoan nói:
-Nay như rắn mất đầu, tang gia bối rối chắc là họ sẽ đầu hàng.
Mahê thúc giục không được chậm trễ, ra lệnh hành quân về Cổ Nhuế ngay trưa nay.
Va len xa đáp:
-Tuân lệnh ngài Công sứ.
Ma hê hỏi:
-Có cần tiến quân thành nhiều hướng bao vây và có cần mang đại bác không?
Lê Hoan nói:
-Quân của Đề Thám đang rối loạn, chúng ta vào để dụ hàng cần gì phải bao vây và đại bác.
Va len xa nói:
-Tuân lệnh ngài Khâm sai.
Trưa đó, quân Va len xa hành quân thành một khối đi theo đường chính vào Cổ Nhuế. Gọi là đường chính nhưng hai bên đường cây cối rậm rạp, còn đồn Cổ Nhuế thì cũng nằm trong khu rừng rậm, âm u bởi những cây lá che khuất. Từ xa, Va len xa đã nghe thấy tiếng kèn và tiếng trống ai điếu buồn bã dùng trong những đám tang của người Việt. Va len xa càng tin rằng Đề Thám đã chết, thúc quân đi gấp. Còn cách Cổ Nhuế 500 m, thốt nhiên súng hai bên đường từ rừng rậm bắn ra như mưa vào quân Pháp. Ngay loạt đạn đầu, hàng chục tên đã gục xuống, máu phun đỏ đất. Tiếng kêu thất thanh hoảng loạn hòa trong tiếng súng nổ. Va len xa nói:
-Chúng ta bị mai phục rồi, rút nhanh.
Quân Pháp và quân Việt bắn loạn xạ vào hai bên đường và dày đạp lên xác đồng đội mà tháo chạy trở ra. Súng vẫn nổ, binh lính Pháp, Việt vẫn gục xuống. Khi đã thoát khỏi khu mai phục thì phía sau quân Yên Thế vừa bắn vừa truy kích theo. Va len xa và tàn quân khiếp đảm chạy một mạch về Nhã Nam. Điểm lại thì quân Va len xa chết 100 lính Việt, 70 lính Pháp. Chưa có trận nào tại Yên Thế suốt 9 năm nay mà quân Pháp và quân triều đình lại chết nhiều như vậy. Công sứ Ma hê tức giận đập bàn quát:
-Thì ra Bá Phức báo cáo láo, ông ta rõ ràng đã thông đồng với Đề Thám để tương kế tựu kế với chúng ta. Cần đem ra xử bắn.
Lê Hoan nói:
-Xin ngài Công sứ bớt giận, nếu xử bắn Bá Phức thì còn ai dám về hàng với chúng ta nữa, đại sự sẽ khó khăn hơn. Vả lại mìn đã đặt vào chỗ Đề Thám ngồi và mìn đã nổ, vì thế Bá Phức cho rằng Đề Thám đã chết. Không rõ Đề Thám đã thoát nạn bằng cách nào? Bá Phức vội thoát khỏi hiện trường thì làm sao biết chắc chắn được.
Ma hê nói:
-Chúng ta chuẩn bị lực lượng mở cuộc càn quét lớn đánh Đề Thám.Trung tá Va len xa.
-Có thuộc cấp.
-Trung tá đem theo 200 tay súng, 10 đại bác tiến đánh Hữu Nhuế. Đề phòng bị mai phục.
-Thuộc cấp tuân lệnh.
-Đại úy Tô ken.
-Có thuộc cấp.
-Đại úy đem 100 tay súng, 20 khẩu đại bác đi hậu quân, tiếp ứng cho Trung tá Va len xa nếu bị mai phục. Khi đến Hữu Nhuế, cả hai cánh quân triển khai thành thế vòng cung bao vây tấn công đồn.
-Thuộc cấp tuân lệnh.
Quân Pháp không bị mai phục và cả hai đạo quân triển khai thành vòng cung bao vây Hữu Nhuế. Chỉ còn cách Hữu Nhuế 500m mà vẫn không thấy đồn vì bị rừng và dây leo che lấp. Dù vậy, Công sứ Ma hê vẫn ra lệnh:
-Nã đại bác 30 phút vào Hữu Nhuế.
-Tuân lệnh.
20 đại bác dàn hình cánh cung gần như từ ba hướng gầm lên như sấm sét phun những cục lửa liên tiếp vào Hữu Nhuế, đạn rơi xuống, gây khói lửa, tàn phá, cây cối bốc cháy ngả nghiêng gục đổ. Sau 30 phút bão lửa, Ma hê ra lệnh:
-Ngừng pháo kích, bộ binh xông lên.
Binh lính đang nằm nghe lệnh đứng lên, dùng dao và kiếm phát dây cỏ rậm mở đường. Mải chặt cây cỏ mở đường, quân Pháp và quân khố xanh đã áp sát trận địa quân Yên Thế mà không biết. Tới khi hàng loạt đạn bắn xối xả như mưa, hàng chục lính Pháp và Việt gục xuồng, máu nhuộm đỏ cây rừng. Công sứ Ma hê hét lên:
-Nằm xuống.
Vừa hô xong thì Ma hê cảm thấy choáng váng, cánh tay phải bị đạn phun đầy máu. Hắn kinh hoàng. Theo lời của binh lính truyền nhau thì nếu bị bắn vào cánh tay phải tức là phát đạn đó của Đề Thám, còn trúng cánh tay trái thì phát đạn đó là của bà Ba Cẩn, bắn cảnh cáo, còn tiến nữa thì phát thứ hai là trúng tim và bỏ mạng. Bên cạnh Công sứ, Đại úy Tô ken trúng đạn vào ngực đã gục xuống. Ma hê hoảng loạn ra lệnh:
-Rút lui, rút lui.
Quân lính được lệnh vội vàng quay đầu dày xéo lên nhau chạy ra. Chợt chúng nghe có tiếng trống, tiếng thanh la, tiếng tù và tiếng hô xung phong vang vọng khắp núi rừng. Quân Yên Thế nhô lên khỏi trận địa phục kích vọt lên vừa bắn vừa truy kích. Nếu cự ly gần nhau thì quân Yên Thế dùng những chiếc sáo sắt (thiết địch côn) với những thế võ bí hiểm gia truyền giết chết quân địch trong chớp mắt, kẻ bị giết không vỡ đầu, không chảy máu. Quân Pháp kinh hoàng khiếp đảm phải gọi đại bác bắn chặn mới chạy thoát về Nhã Nam. Trong khi chạy chúng còn nghe tiếng sáo như dông bão, như thác nước ào ào phía sau như thiên binh vạn mã.
Tháng 5 năm 1895, nắng như trút lửa xuống rừng núi Yên Thế, nắng chói chang rải màu trắng xuống khắp không gian chói lóa vào từng kẽ lá của cây cối xanh tươi bạt ngàn không một làn gió nhẹ. Trời như xanh hơn và cao lồng lộng. Mặt trời trên cao phun lửa làm bá chủ vũ trụ, không gian. Vài làn mây trắng nhởn nhơ du ngoạn trên cao. Đồn Hố Chuối của nghĩa quân cũng chìm trong nắng. Rừng chuối như bạt ngàn mênh mông giữa rừng cây lá dây leo chằng chịt kín như bưng. Trong đại doanh của đồn, tường bằng đất nện chìm sâu dưới lòng đất. Đồn Hố Chuối cũng giống như các đồn khác của nghĩa quân đều xây nhiều tầng. Một tầng chìm dưới lòng đất khoảng 4m để tránh đạn đại bác. Tầng trên cao khoảng 3m bằng đất nện rất kiên cố, có lỗ châu mai để chĩa súng ra 4 hướng. Chung quanh đồn có hào lũy cắm chông tre kín mít. Hệ thống hào giao thông nối giữa các đồn đảm bảo cho nghĩa quân vận động chiến đấu chi viện cho các đồn, hoặc theo giao thông hào đánh vào hai bên sườn, đánh sau lưng, bao vây chúng khi chúng tiến vào sâu.
Hôm nay trong hầm đại sảnh ở đồn Hố Chuối, Đề Thám đang ngồi uống nước chè ở ghế chủ soái chờ các tướng lĩnh tới họp vì theo thám mã báo về, quân Pháp sau thất bại ở Hữu Nhuế đang tập kết quân do Lê Hoan và Công sứ Bắc Ninh Ma hê chỉ huy để tấn công vào Hố Chuối. Đề Thám ngồi trên chiếc ghế dài, trước mặt là một chiếc bàn đơn sơn. Phía trước nối với bàn chủ soái là hai chiếc bàn, hai bên kê hai dãy ghế cũng đơn sơ không sơn, không khảm trai hoa văn. Trên bàn đặt những bộ ấm chén uống trà. Vì là tầng hầm nên phải đốt đèn. Ánh sáng của những ngọn đèn dầu mà bấc nằm trong những bát dầu và ngọn bấc nhô lên khỏi miệng bát có ngọn lửa cháy leo lét, tỏa ánh sáng vàng vọt ra khắp gian phòng. Một lát sau các thủ lĩnh lần lượt tới ngồi vào dãy bàn ghế trước mặt Đề Thám. Ngồi hàng tả bên trong gần Đề Thám là Đề đốc phu nhân Đặng Thị Nhu (bà Ba Cẩn), nữ tướng lừng danh Yên Thế. Bà mặc một chiếc áo màu nâu, quần nâu, thắt lưng gọn gàng, tóc búi cao trùm khăn đen. Nom bà còn trẻ và xinh đẹp, dũng cảm và kiên quyết. Tiếp theo là Cả Trọng, con cả của Hoàng Hoa Thám với phu nhân thứ nhất. Tiếp theo là Cả Dinh, con nuôi của Hoàng Hoa Thám, Cả Tuyển, con trai Nguyễn Thiện Thuật, lãnh tụ khởi nghĩa Bãi Sậy, Cả Huỳnh, Ba Điều, Thống Luật. Hàng ghế bên hữu ngồi gần Đề Thám là Lý Bảo, cận vệ của chủ tướng, Đề Công (Tạ Văn Công), Đề Nguyên (Tạ Văn Nguyên), Đề Cần (Tạ Văn Cần), Thống Ngô, Quản Khôi. Đề Thám quan sát các tướng một lượt rồi nói:
-Mời các thủ lĩnh xơi nước.
Tất cả đều đáp:
-Đa tạ, kính mời chủ tướng, kính mời Đê đốc phu nhân.
Sau một lượt trà, Đề Thám nói:
-Theo thám mã của ta báo về, sau thất bại ở trận Hữu Nhuế, Lê Hoan và Công sứ Bắc Ninh Bu lô sơ sẽ chỉ huy hàng nghìn quân có đại bác yểm trợ sẽ tấn công đồn Hố Chuối lần thứ năm. Các tướng quân có kế sách gì hay đánh bại cuộc tấn công này của giặc không?
Cả Trọng nói:
-Để bảo toàn lực lượng, khi đại bác Pháp bắn dồn dập thì binh sĩ nên xuống tầng hầm của đồn hoặc giao thông hào, chờ khi chúng ngừng pháo kích thì lên tầng mặt đất mà tiêu diệt địch.
Cả Dinh nói:
-Chủ tướng nên ra lệnh chờ khi quân Pháp vào thật gần thì hãy bắn cho có hiệu quả.
Nữ tướng Đặng Thị Nhu nói:
-Muốn trận này tiêu diệt địch có hiệu quả, tiêu diệt địch cao thì ta chỉ để một bộ phận ở đồn, còn hai phần ba lực lượng khi địch đã vào sâu thì theo hào giao thông tản ra đánh vào hai bên sườn, đánh vào sau lưng địch. Như vậy quân địch bị vây, bị đánh bốn mặt chắc thiệt hại không nhỏ.
Thống Luật nói:
-Hay lắm, lời của Đề đốc phu nhân quả là cao kiến. Kế này giúp ta phân tán binh lực, tránh được hỏa lực đại bác của địch mà lại còn bao vây đánh địch bốn phía. Hay, hay…
Các tướng đều nói:
-Chiến thuật này tuyệt vời, hệ thống giao thông hào của Hố Chuối thông khắp mọi nơi, cho phép thực hiện chiến thuật này.
Đề Thám nói:
-Nếu đa số thủ lĩnh tán thành chiến thuật này thì các tướng nghe lệnh:
-Tướng quân Cả Trọng.
-Có thuộc tướng.
-Tướng quân đem 50 tay súng bao vây và đánh vào sườn quân Pháp phía tả của đồn Hố Chuối.
-Thuộc tướng tuân lệnh.
-Tướng quân Cả Dinh.
-Có thuộc tướng.
-Tướng quân đem 50 tay súng tấn công sau lưng quân giặc.
-Thuộc tướng tuân lệnh.
-Tướng quân Đề Công.
-Có thuộc tướng.
-Tướng quân đem 50 tay súng đánh vào sườn hữu quân Pháp.
-Thuộc tướng tuân lệnh.
-Tất cả các cánh quân chỉ rời khỏi đồn, triển khai thế bao vây khi có pháo hiệu bắn lên trời.
-Thưa chủ tướng, đã rõ, xin tuân lệnh.
-Nữ tướng Đặng Thị Nhu.
-Có thuộc tướng.
-Ngoài chiến đấu, nữ tướng phải bảo đảm hậu cần, cứu thương đầy đủ cho toàn quân đánh giặc.
-Thuộc tướng tuân lệnh.
Đặng Thị Nhu vừa dứt lời thì có thám mã chạy vào báo:
-Dạ bẩm chủ tướng, 2.000 quân Pháp và quân khố đỏ, khố xanh do Lê Hoan và Công sứ Bắc Ninh chỉ huy đã bắt đầu tấn công Hố Chuối.
Đề Thám nói:
-Các tướng theo sự phân công về vị trí chiến đấu.
-Tuân lệnh chủ tướng.
Trong khi các tướng đi về vị trí của mình thì trống báo động vang lên những hồi ngũ liên gấp gáp, tù và tu lên, tiếng “Thiết địch sáo” vang lên như vũ bão, vang vọng khắp miền Yên Thế. Xen lẫn các âm thanh đó là tiếng đại bác gầm lên chung quanh Hố Chuối và hàng trăm quả đạn xé gió mang lửa khói nổ ầm ầm gần đồn lũy, rất ít đạn trúng vào đồn vì pháo binh Pháp bị rừng cây và dây leo dày đặc che mắt không thấy rõ được đồn hay chiến lũy ở đâu. Theo sau đại bác là quân Pháp, quân khố đỏ, khố xanh lưng đeo súng, tay cầm dao, kiếm phát rừng mở lối đi. Cho tới khi đại bác ngừng thì quân giặc đã tiến vào gần Hố Chuối. Nghĩa quân cũng từ tầng hầm lên tầng một nằm vào vị trí bắn có lỗ châu mai, hoặc từ các chiến hào bắt đầu ngồi dậy chĩa súng về phía trước. Họ nhìn thấy quân giặc đã đeo dao và kiếm vào hông, tay cầm súng xông lên ào ạt. Khi đã ở tầm rất gần, hàng loạt súng trường, súng kíp bắn ra như mưa, trong một cự ly không cần ngắm, hàng chục quân Pháp và quân triều đình máu phun ra, kêu rống lên, đổ gục xuống. Quân giặc vội nằm xuống nhưng bị chỉ huy thúc ép phía sau lại lổm nhổm đứng dậy, chạy lên, lại bị trúng đạn. Những tên lính bò sau phải bò qua xác đồng đội để bò tiếp vào tử địa. Tiếng súng trường xen lẫn tiếng hỏa mai nổ ran như pháo cối, khói lửa mù mịt. Chợt trên không trung một phát hỏa pháo sáng rực bay vút lên. Quân Pháp không hiểu đó là tín hiệu gì nhưng các tướng của Yên Thế như Cả Trọng, Cả Dinh, Đề Công thì hiểu. Mỗi tướng đem theo 50 tay súng chạy theo chiến hào vòng ra bên trái, bên phải và sau lưng quân Pháp và bắt đầu nổ súng khiến quân Pháp ở vào thế bị bao vây bốn mặt, phía trước bị đạn, phía sau, sườn phải, sườn trái đều trúng đạn. Công sứ Bắc Ninh Ma hê đang cùng Lê Hoan thúc quân từ phía sau thì bị một phát đạn trúng vào vai, máu chảy đầm đìa. Tên cận vệ vội lấy băng băng tạm cầm máu. Ma hê mặt tái nhợt kêu lên:
-Chúng ta bị bao vây rồi, rút lui nhanh.
Tiếng loa điện cầm tay của quân Pháp vang lên những câu tiếng Pháp và tiếng Việt:
-Công sứ lệnh cho toàn quân rút khỏi Hố Chuối.
Ma hê ra lệnh:
-Pháo binh bắn vào phía sau, mở đường cho quân ta rút lui.
Đại bác pháp gầm lên nhã đạn vào phía sau, vào chiến hào quân Yên Thế, đạn lạc cả vào nơi quân Pháp đang nằm gây thương vong không nhỏ. Sau khi ngừng đợt pháo kích, quân Yên Thế chưa kịp ngóc đầu lên thì quân Pháp vội vã ào ào rút ra ngoài. Quân Yên Thế vươn người bắn theo cũng diệt được vài chục tên.
Công sứ Ma hê và Khâm sai Lê Hoan dẫn tàn quân chạy một mạch về Nhã Nam. Điểm quân số lúc ra đi 2.010, khi về chỉ còn 1200 tên. Mahê tái mặt hoảng sợ cho sự thiệt hại quá lớn này.
V.
Tháng 9 năm 1895, trời mùa thu làm cho Yên Thế mát mẻ. Trong Tổng hành dinh ở Nhã Nam, một sáng Lê Hoan đang cùng Ma hê ngồi đàm đạo, hai người dùng rượu vang thay cho nước chè. Lê Hoan hỏi:
- Vết thương của Công sứ khỏi chưa?
Ma hê đáp:
-Không nhiễm trùng nữa nhưng vẫn còn đau.
Chợt có tình báo về báo:
-Dạ bẩm ngài Khâm sai, bẩm Công sứ.
-Có gì mới không?
-Dạ, có ngài Bang Kinh, một điền chủ trong vùng Yên Thế đã đem 50 tay súng về theo Đề Thám ạ.
Lại có tin tình báo:
-Dạ, ngày 9 tháng 9, quân Đề Thám đã chặn đánh một đoàn xe lửa từ Phủ Lạng Thương đi Lạng Sơn ạ. Cùng ngày đó Đại úy Gờ ri cô đi thám thính bị Bang Kinh đánh úp, thiệt hại nặng.
Ngày 17 tháng 9 lại có tin tình báo:
-Dạ bẩm Công sứ, ngài điền chủ Pháp Sét nây, Chủ nhiệm tờ báo “Tương lai Bắc Kỳ” kiêm thầu khoán đường xe lửa Hà Nội-Lạng Sơn bị Bang Kinh bắt ở giữa suối Ghềnh và Bắc Lệ, Hữu Lũng Lạng Sơn ạ.
Ma hê hốt hoảng:
-Ngài Sét nây bị bắt, tin đúng như vậy không?
-Dạ, tin tình báo chính xác ạ.
Ma hê thở dài:
-Ông này bị bắt là lớn chuyện rồi, thưa ngài Khâm sai, việc này sẽ kinh động tới giới tài phiệt giàu có ở nước Pháp, chấn động phủ Toàn quyền Đông Dương, phủ Thống sứ Bắc Kỳ. Chúng ta không được yên thân rồi.
Ma hê nâng cốc rượu vang lên uống và bực tức đặt chiếc cốc xuống bàn.
Lê Hoan khuyên:
-Ngài Công sứ đừng lo, chờ xem phủ Thống sứ phản ứng thế nào đã. Có lẽ sẽ có một giải pháp để cứu Sét nây.
Không phải đợi lâu, chiều hôm đó, một sĩ quan cộng sự của Công sứ vào báo:
-Dạ bẩm Công sứ, có thư của phủ Thống sứ.
-Đưa ta xem.
Ma hê bóc thư đọc. Thư viết: “8 giờ sáng mai, ngài và ngài Khâm sai đại thần Lê Hoan phải có mặt ở phủ Thống sứ Bắc Kỳ bàn về một việc tối quan trọng”.
Đúng giờ Lê Hoan cùng Ma hê đã có mặt. Bầu trời mùa thu Hà Nội chỉ có nắng vàng nhạt rải xuống các phố phường, gió se lạnh, những tán lá cây đung đưa rồi rớt những lá vàng tung bay trên đường theo gió. Phủ Thống sứ kiến trúc kiểu Pháp nhiều tầng nhô lên tráng lệ. Ma hê cùng Lê Hoan bước vào đại sảnh sang trọng, bàn ghế màu gụ khảm trai, hoa văn kiểu cổ của Đại Nam nhưng nội thất trang trí kiểu châu Âu. Nền nhà trải thảm đỏ. Trên trần những chùm đèn hoa lá bằng pha lê tỏa ánh đèn điện sáng chói.
Thống sứ Bắc Kỳ F. Rô đi ê ngồi ghế chủ tọa. Trước mặt là chiếc bàn gỗ màu gụ sáng bóng. Bốn chiếc bàn cũng màu gụ sáng lung linh kê phía dưới vuông góc ở giữa với bàn của Thống sứ. Hai bên cũng kê những tràng kỷ màu gụ khảm trai. Bàn ghế rộng nhưng chỉ có 4 người: Thống sứ, Thống tướng Pi en, Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương, Công sứ Bắc Ninh Ma hê, Khâm sai đại thần Bắc Kỳ Lê Hoan. Trên bàn đã rót đầy 4 cốc rượu săm pha nhơ. Thống sứ Bắc Kỳ nâng cốc và nói:
-Xin mời ngài tư lệnh quân đội Pháp, ngài Khâm sai đại thần Bắc Kỳ, ngài Công sứ Bắc Ninh.
Ba người đứng lên nâng cốc:
-Đa tạ ngài Thống sứ, xin mời.
Sau khi đã cạn, đặt cốc xuống bàn. Thống sứ Bắc Kỳ nói:
-Thưa các ngài, hôm nay phủ Thống sứ triệu tập các ngài về đây vì vấn đề Yên Thế. Đã 9 năm nay, chúng ta tốn bao nhiêu sinh mạng của lính Pháp và lính Việt. Từ năm 1892 đến nay Đề Nắm bị tiêu diệt, sau đó Thân Bá Phức đã ra hàng, tưởng phong trào đó sẽ tan rã. Nhưng không ngờ Đề Thám lên nắm quyền chỉ huy, phong trào càng mạnh hơn. Sau trận Hữu Nhuế, trận Hố Chuối năm nay, quân ta đều khiếp đảm, gọi Đề Thám là “Hùm thiêng Yên Thế".
Thống sứ dừng lại, uống một hớp rượu và nói tiếp:
-Nhưng sự kiện chấn động giới tư bản Pháp và nước Pháp, giới tư bản Pháp ở Đông Dương là ngày 17 tháng 9 năm 1894, ngài Sét nây bị Bang Kinh, một tướng của Đề Thám bắt ở Hữu Lũng Lạng Sơn. Sét nây là chủ bút báo “Tương lai Bắc Kỳ” (Lavennir Du Tonkin), lại là nhà tư bản, điền chủ lớn của Pháp. Mấy ngày nay, trên tất cả các tờ báo lớn của Pháp ở Pháp, các tờ báo tiếng Pháp ở Đông Dương đều đăng bài không ngớt. Đây các ngài xem đi.
Thống sứ Bắc Kỳ F. Rô đi ê cầm một tập báo ở bàn giơ lên, rồi không chờ có ai cầm xem, ông ta lại đặt xuống bàn và nói tiếp:
-Trong các báo, các ông chủ nói là để cứu Sét nây chỉ có một biện pháp duy nhất là giảng hòa với Đề Thám và chuộc lại bằng bất cứ giá nào. Các ngài có kế sách gì hay để giải thoát Sét nây không?
Sau câu hỏi của Thống sứ Bắc Kỳ, cả Pi en, Ma hê, Lê Hoan đều đăm chiêu suy nghĩ. Lúc lâu Ma hê nói:
-Giới tài phiệt và báo chí mà lên tiếng thì đó là áp lực lớn mà Chính phủ Pháp và Chính phủ Đông Dương phải chịu cho nên ta không thể có biện pháp quân sự mạnh tay với Đề Thám e gây nguy hiểm đến tính mạng ngài Sét nây. Cho nên tạm thời giảng hòa với Đề Thám để chuộc Sét nây ra là biện pháp tốt nhất.
Thống sứ hỏi:
-Ý kiến ngài Pi en thế nào?
Pi en đáp:
-Thưa ngài thống sứ, ta cũng cho rằng giảng hòa với Đề Thám để chuộc Sét nay là tốt nhất.
Thống sứ hỏi Lê Hoan:
-Ngài khâm sai đại thần Bắc Kỳ?
Lê Hoan đáp:
-Ta cũng cho rằng nên hòa hoãn để chuộc Sét nây, đó là giải pháp tối ưu.
Thống sứ nói như kết luận:
-Vậy theo sách lược như vậy mà hành động. Còn tiến hành cụ thể như thế nào ta giao toàn quyền cho ngài Lê Hoan và ngài Ma hê.
-Tuân lệnh Thống sứ.
Thống sứ nói thêm:
-Ta sẽ trình lên ngài Toàn quyền Đông Dương biện pháp như vậy. Nào, chúc các ngài thành công.
Thống sứ F. Rô đi ê cùng Ma hê, Pi en và Lê Hoan nâng cốc và cạn.
Sớm hôm sau, trong dinh Khâm sai ở Bắc Ninh, Lê Hoan ăn sáng xong đang ngồi uống trà thì có lính vào báo:
-Dạ bẩm ngài Khâm sai, có ngài Công sứ đến.
-Cho mời vào.
-Dạ.
Một lat sau Ma hê đi vào:
-Chào ngài Khâm sai.
-Chào ngài Công sứ. Mời ngài ngồi.
Lê Hoan rót trà và hỏi:
-Ngài Công sứ uống trà Việt có quen không?
-Đa tạ, quen, quen.
-Quen rồi sẽ nghiện như nghiện rượu đấy.
Mahê uống một ngụm trà, đặt chén xuống và hỏi:
-Ngài Khâm sai, ngài đã nghĩ ra cách liên hệ với Đề Thám chưa?
Lê Hoan đáp;
Ta nghĩ ra rồi, ta có thể dùng một tù binh Yên Thế vì hắn quen đường sá cầm thư của ta vào Hố Chuối cho Đề Thám và nhận thư của Đề Thám về cho ta. Nếu Đề thám đồng ý giảng hòa thì ta cho một cố đạo do người lính này dẫn đường vào thương thuyết với Đề Thám về điều kiện giảng hòa. Còn bước tiếp theo thì còn xem Đề Thám yêu cầu gì mà hành động.
Ma hê nói:
-Phương pháp của ngài Khâm sai thật là tuyệt vời, cứ vậy mà thực hiện đi.
Lê Hoan gọi:
-Người đâu.
-Dạ.
-Xuống nhà ngục, bảo người cai ngục dẫn một người tù binh Yên Thế khoảng 40 tuổi lên đây.
-Dạ.
Hai người uống trà chờ đợi. Một lát sau người cai ngục dẫn một tù binh khoảng 45 tuổi ngang tàng đi vào, tay bị trói nhưng không hề sợ hãi. Lê Hoan quát người cai ngục:
-Cởi trói cho hắn.
-Dạ.
Lê Hoan chỉ vào chiếc ghế:
-Ngồi xuống.
Người lính ngồi xuống và hơi ngạc nhiên, không rõ hai vị quan này định làm gì?
Lê Hoan hỏi:
-Nhà ngươi có vợ con chưa?
-Ta có một vợ hai con. Nhưng việc tham gia quân của Đề Thám không liên quan gì đến vợ con ta, ta gánh hết trách nhiệm.
-Có muốn về sống với vợ con không?
-Ai mà chả muốn sống với vợ con.
-Vậy thì nhà ngươi hãy giúp ta một việc. Hiện nay người Pháp và ta muốn giảng hòa với Đề Thám, nhà ngươi là quân Yên Thế, thuộc đường đất cho nên hãy cầm phong thư đề nghị giảng hòa của ta cho Đề Thám và cầm thư trả lời của Đề Thám về cho ta. Nếu Đề Thám không đồng ý giảng hòa, ngươi vẫn được 5 lạng bạc và về quê sinh sống, nếu Đề Thám đồng ý giảng hòa ngươi sẽ giúp ta các bước tiếp theo. Kết thúc công việc này nếu thành công ngươi sẽ được thêm 15 lạng bạc nữa. Ý nhà ngươi thế nào?
-Vì hòa bình của hai bên ta đồng ý. Đại nhân hãy viết thư đi.
Lê Hoan gọi:
-Người đâu.
-Dạ.
-Đem bút mực ra đây.
-Dạ.
Có giấy mực rồi Lê Hoạn nói.
-Nấu cơm cho người lính này ăn no, chọn cho anh ta một con ngựa, một lá cờ trắng để anh ta đi làm công vụ ngay.
-Dạ.
Rồi Lê Hoan nói với người lính:
-Nhà ngươi đi ăn cơm đi, xong lên đây nhận thư, ta dặn dò thêm và đi ngay.
Người lính cùng người hầu cận đi ra. Lê Hoan ngồi vào bàn viết thư, niêm phong, đóng dấu Khâm sai đại thần vào. Một lát sau người tù binh lên. Lê Hoan đưa thư và dặn:
-Đây là 5 lạng bạc đi đường. Nhà ngươi mặc quân phục quân Yên Thế vào, đưa phong thư này cho Đề Thám và nhận thư trả lời, dùng ngựa mà đi đến đồn Hữu Nhuế, sắp đến nơi thì dương cờ trắng lên để quân Yên Thế không bắn. Rõ chưa?
-Rõ.
-Chúc thượng lộ bình an. Ta đợi tin ngươi.
Người tù binh nhận thư và bạc cho vào tay nải đeo qua vai ra sau lưng, ra khỏi phủ Khâm sai, lên ngựa, phi nước đại về đồn Hữu Nhuế.
Lại nói lính trong đồn Hữu Nhuế quan sát từ xa thấy một người lính phi nước đại vào đồn, mặc quân phục Yên Thế, trên lưng ngựa có cờ trắng nên không dám bắn, liền báo cho Cả Trọng, chỉ huy đồn. Cả Trọng cho 4 người lính ra chặn đường và hỏi:
-Người kia đi đâu, sao lại cắm cờ trắng xông vào đồn?
Người tù binh xuống ngựa đáp:
-Tại hạ là lính của Yên Thế bị bắt làm tù binh trong cuộc giao chiến gần đây. Người Pháp muốn giảng hòa với ngài Đề Thám nhờ ta đưa bức thư này tận tay cho tướng quân và cầm thư trả lời về cho Lê Hoan.
Một người lính nói:
-Thư với chả từ, lại cài bom trong thư để ám sát chủ tướng chứ gì. Mấy lần Pháp định ám sát tướng quân Hoàng Hoa Thám mà không thành, lần thì Bá Phức đặt mìn, lần thì mời dự tiệc cho thuốc độc vào chén rượu của chủ tướng. May mà chủ tướng nhân lúc chúng sơ suất xoay mâm đi, kết cục là một tên quan trúng độc. Cái bọn xâm lược thật là hiểm độc và bần tiện.
Một người lính nói:
-Giảng hòa là việc quan trọng. Cứ đưa hắn về đồn rồi báo cho ngài Cả Trọng quyết định.
Cả bọn đưa người tù binh về đồn, ngồi đợi một lát thì Cả Trọng tới. Cả Trọng hỏi:
-Nhìn ngươi có vẻ quen quen. Ngươi làm sao mà gặp được Lê Hoan.
-Dạ bẩm, trước kia tại hạ là lính của chủ tướng. Tại hạ bị bắt trong trận Hố Chuối năm 1892, Lê Hoan và người Pháp muốn giảng hòa, cần một người đưa thư nên nhờ đến tại hạ.
-Nhà ngươi tên gì?
-Dạ, tại hạ tên An ạ.
An đưa thư cho Cả Trọng và nói:
-Lê Hoan muốn nhận được thư trả lời của chủ tướng Đề Thám ạ.
Cả Trọng nhận thư và nói:
-Ngươi cứ ăn cơm và nghỉ ngơi. Sáng mai ta sẽ đưa thư trả lời của chủ tướng cho ngươi cầm về.
-Đa tạ tướng quân.
Cả Trọng gọi:
-Bay đâu.
-Dạ.
-Cho người lính này ăn cơm chiều, bố trí phòng nghỉ đêm tử tế không được sơ suất. Cho cả ngựa của anh ta ăn nữa.
-Dạ.
Tối hôm đó Cả Trọng sang Hố Chuối trao thư cho Đề Thám:
-Thưa cha, Pháp muốn giảng hòa, đây là thư của Lê Hoan.
Đề Thám gọi:
-Lính đâu.
-Dạ.
-Ngươi đem ra ngoài bóc bức thư này ra rồi đem vào cho ta.
-Dạ.
Người lính bóc thư kiểm tra, trong thư không có chất nổ, chất độc rồi đem cho Đề Thám:
-Dạ, trình chủ tướng.
Đề Thám cầm thư đọc. Thư viết: “Tại hạ là Lê Hoan kính chào tướng quân Đề Thám. Ở vùng Yên Thế suốt 10 năm nay binh đao khói lửa triền miên, bách tính lầm than khổ cực, cả hai bên Pháp, triều đình và tướng quân đều tổn thất nặng nề. Nay người Pháp muốn giảng hòa với ngài. Nếu tướng quân đồng ý thì xin có thư trả lời. Xin hẹn ngày và địa điểm đàm phán để Pháp cử đại diện tới thương thuyết. Người cầm thư qua lại vốn là cựu chiến binh của ngài, ngài có thể tin cậy. Nay kính thư” (Khâm sai đại thần Bắc Kỳ Lê Hoan). Dưới thư có đóng dấu của Lê Hoan.
Đề Thám rót chè, uống một chén và gọi:
-Người đâu.
-Dạ.
-Đem giấy bút mực ra đây.
-Dạ.
Có giấy bút mực, Đề Thám ngồi vào bàn viết thư và gọi:
-Cả Trọng đâu?
-Dạ.
-Con đưa thư này cho Lê Hoan, chắc là họ muốn cứu tên Sét nây nên đề nghị giảng hòa.
-Ý cha thế nào ạ?
- Ta đồng ý đàm phán, nếu có lợi cho ta thì cũng nên giảng hòa một chuyến. Con đưa thư cho người lính và bảo hắn đi về cho sớm.
-Dạ.
Ngay chiều hôm sau, Lê Hoan nhận được thư của Đề Thám. Thư viết: “Kính chào ngài Khâm sai đại thần Bắc Kỳ, bản tướng quân đã nhận được thư của ngài, xem xét thì không phải là một mưu kế, cho nên bản tướng quân đồng ý đàm phán. Địa điểm hai bên gặp nhau là đồn Hữu Nhuế, thời gian là ngày 24 tháng 10 năm 1894. Ngài có thể cử đại diện tới và được bảo đảm an toàn tuyệt đối. Người Yên Thế là anh hùng hảo hán nên lấy chữ tín hàng đầu cho nên các ngài cứ an tâm cho sự an toàn của các “sứ giả”của các ngài.
Đọc xong thư Lê Hoan đưa cho Ma hê:
-Đây là thư đồng ý đàm phán của Đề Thám, ngài Công sứ xem đi.
Ma hê đọc xong hỏi:
-Chúng ta chọn ai làm đại diện đàm phán cho tiện lợi?
Lê Hoan đáp:
-Quan lại triều đình không được, võ quan Pháp càng không được. Tốt nhất là chọn vị Cố đạo người Tây Ban Nha ở nhà thờ Bắc Ninh, vị này vừa nói được tiếng pháp, vừa nói được tiếng Việt, vừa có vẻ khách quan cho quân Yên Thế một chút tin tưởng, yên tâm.
Ma hê nói:
-Ta nhớ ra rồi, ở trấn trị Bắc Ninh có vị cố đạo người Tây Ban Nha, tên là Lô ve sten.
Lê Hoan nói:
-Thật tốt, ngài cho đi mời ông ta đến ngay đi.
Công sứ gọi:
-Lính đâu.
Một người lính Pháp, cận vệ của Ma hê bước vào:
-Dạ, ngài Công sứ.
-Đi mời cha Lô ve sten ở nhà thờ trấn trị Bắc Ninh cho ta.
-Dạ, tuân lệnh.
Một canh giờ sau, cha Lô ve sten bước vào:
-Kính chào ngài Công sứ, chào ngài Khâm sai.
Lê Hoan và Ma hê đứng dậy:
-Xin chào cha, mời cha ngồi.
Lê Hoan gọi:
-Người đâu.
-Dạ.
-Mang rượu ra đây.
-Dạ.
Lê Hoan nâng cốc:
-Nào, xin mời, chúc sức khỏe cha, chúc sức khỏe Công sứ.
Đa tạ, đa tạ.
Sau khi ba người đặt cốc xuống bàn, Lê Hoan nói:
-Xin cha giúp cho một việc quan trọng. Cha đọc xong bức thư của Đề Thám đi và ta sẽ nói.
Cha Lô ve sten đọc xong thư, ngẩng lên hỏi:
-Triều đình và Pháp định giảng hòa với Đề Thám à? Cha giúp được gì cho các ngài.
Ma hê nói:
-Thưa cha, việc quân Yên Thế bắt Sét nây, một tư sản kiêm điền chủ lớn đã làm chấn động giới giàu có ở Pháp, chấn động dư luận Pháp và Đông Dương. Quan Toàn quyền Đông Dương và Thống sứ Bắc Kỳ muốn giảng hòa với Đề Thám để cứu Sét nây và Lô gi u là trợ lý của ngài ta. Ta muốn cha đại diện cho Pháp tới đồn Hữu Nhuế đàm phán với Đề Thám.
-Vì sao lại là ta, quan triều đình và quan chức Pháp thiếu gì người?
-Thưa cha, cha là giới tôn giáo được coi là trung lập, không gây nghi ngờ cho quân Yên Thế.
Cha Lô ve sten hỏi:
-Điều kiện giảng hòa thế nào?
Mahê đáp:
-Thưa cha, điều kiện giảng hòa của ta là Đề Thám phải thả Sét nây và Lô gi u. Còn phía Yên Thế chưa rõ họ sẽ đưa ra những điều kiện gì. Nhưng Toàn quyền Đông Dương đã nói phải cứu Sét nây và Lô gi u bằng mọi giá cho nên những yêu cầu của họ về quân sự thuộc phạm vi Yên Thế thì chấp nhận, những yêu cầu về tiền chuộc bao nhiêu cũng chấp nhận. Tinh thần là như vậy thưa cha.
-Ta đồng ý giúp các ngài. Bao giờ phải lên đường?
-Thưa cha, ngày mai, cha phải lên đường để ngày 24 tháng 10 này còn kịp đàm phán.
Lê Hoan gọi:
-Người đâu.
-Dạ.
Đưa người lính Yên Thế hôm nọ đến đây.
-Dạ.
Người lính Yên Thế bước vào. Lê Hoan nói:
-Trong thư hôm nọ nhà ngươi chuyển về, Đề Thám đã đồng ý đàm phán giảng hòa. Đây là cha Lô ven sten, đại diện cho Pháp đi đàm phán với Đề Thám. Ngày mai ăn sáng xong, nhà ngươi một ngựa, cha một ngựa, nhà ngươi đưa cha đến đồn Hữu Nhuế. Cũng như lần trước, khi đến gần đồn thì dương lá cờ trắng lên cho quân Yên Thế biết để họ đón vào. Đây là 5 lạng bạc nữa cho nhà ngươi hoàn thành công việc ngày mai. Trong khi cha đàm phán, nhà ngươi phải ở lại cùng về với cha.
-Ta đã rõ rồi.
Trưa hôm sau, lính trong đồn Hữu Nhuế đã biết sẽ có người của Pháp tới đàm phán nên khi thấy hai người họ ra đón từ xa và đưa vào đại sảnh, đem cơm cho hai người ăn, bố trí chỗ nghỉ trưa. Chiều lúc 14 giờ thì Cả Trọng dẫn Hoàng Hoa Thám đến. An và cha Lô ve sten đứng dậy:
-Chào tướng quân.
-Chào tướng quân.
Đề Thám đáp lại:
-Chào cha.
Sau một lượt trà, người lính tên An rút phong thư trong túi ra kính cẩn đưa cho Đề Thám:
-Thưa Chủ tướng, đây là thư của Lê Hoan gửi ngài.
Cả Trọng cầm bức thư và gọi:
-Lính đâu.
-Dạ.
Đem bức thư ra ngoài bóc ra, nếu thấy an toàn thì đem vào đây.
-Dạ.
Một lát người lính cận vệ vào:
-Dạ bẩm tướng quân, thư an toàn ạ.
Cả Trọng cầm thư sau đó chuyển cho Đề Thám. Trong thư Lê Hoan viết: "Kính gửi tướng quân Đề Thám, đây là cha Lô vesten, đại diện cho phía Pháp đàm phán với ngài về các điều kiện của hai bên để giảng hòa. Cha có toàn quyền quyết định những điều kiện do ngài đưa ra. Kính thư. Khâm sai đại thần Lê Hoan”.
Đề Thám đọc xong ngước nhìn cha Lô ve sten:
-Cha nói và nghe tiếng Việt tốt không?
-Thưa tướng quân, ta nói và nghe được tiếng Việt, tướng quân cứ nói.
-Trong thư, ngài ngài khâm sai và Công sứ Bắc Ninh cho cha toàn quyền đàm phán, vậy phía Pháp đòi ta đáp ứng điều kiện gì để có thể giàng hòa?
-Thưa tướng quân, điều kiện đầu tiên là hai bên ngừng bắn, điều kiện thứ hai là các ngài thả ngài Sét nây và ngài Lô gi u trợ lý của Sét nây.
Ngừng lại uống một chén nước, cha Lô vesten nói tiếp:
-Thế còn phía tướng quân có điều kiện gì với người Pháp để các ngài thả Sét nây, Lô gi u và thực hiện ngừng bắn?
Hoàng Hoa Thám thong thả uống một chén trà nóng và nói:
-Điều kiện thứ nhất, Pháp phải thả tất cả những chiến binh Yên Thế mà Pháp bắt và hiện đang bị giam cầm. Điều kiện thứ hai, Pháp phải trả một khoản tiền chuộc Sét nây và Lô gi u là 15.000 fơ răngce, số tiền này trả bằng bạc trắng theo giá quy đổi. Thứ ba, Pháp phải rút quân khỏi khu vực Yên Thế, bàn giao lại 4 tổng Pháp còn chiếm lại cho Yên Thế là Nhã Nam, Hữu Thượng, Mạc Sơn và Yến Lệ. Bách tính ở 4 tổng này không nộp thuế cho Pháp mà nộp cho nghĩa quân Yên Thế.
Đề Thám ngừng lại để hỏi cha Lô ve sten:
-Cha nghe được hết chứ?
-Ta nghe được hết, nhưng mà…
Cả Trọng hỏi:
-Nhưng mà sao cha?
-Những điều kiện này lớn quá, ta không đủ quyền lực quyết định, Cho nên tướng quân cho ghi lại nội dung đàm phán thành văn bản để có giá trị pháp lý. Ngày mai ta ở lại, anh An sẽ đem văn bản này về Bắc Ninh cho ngài Lê Hoan và Công sứ Ma hê đọc, nếu đồng ý thì cả hai người đó ký vào, sau đó chuyển lên đây ngài ký vào nữa là xong, cứ theo đó mà thi hành.
Đề Thám nói:
-Cha nói phải lắm.
Rồi gọi:
-Người đâu.
-Dạ.
-Đi mời tướng quân Hoàng Điển Ân tới đây.
-Dạ.
Một lát Hoàng Điển Ân bước vào, dáng dấp nho nhã:
-Kính chào chủ tướng, chào cha.
Lô ve sten đáp lễ:
-Chào tướng quân.
Hoàng Hoa Thám nói:
-Quân sư ngồi đi.
Rồi nói với cha Lô ve sten:
-Đây là ngài quân sư Hoàng Điển Ân, giỏi về tiếng Pháp và tiếng Trung, thư ký của ta. Ngài Hoàng Điển Ân này, đây là cha Lô ve sten, đại diện của Pháp đến đàm phán với ta để giảng hòa. Bây giờ xin mời cha đọc lại những điều kiện, yêu cầu của Pháp đối với nghĩa quân Yên Thế để thực hiện giảng hòa, ngài Hoàng Điển Ân đây sẽ ghi hai bản bằng tiếng Pháp và tiếng Việt. Sau đó ta cũng sẽ nói những điều kiện của Yên Thế yêu cầu quân Pháp thực hiện.
Cha Lô ve sten nói xong, đến lượt Hoàng Hoa Thám nói những điều kiện giảng hòa cho Hoàng Điển Ân ghi. Dưới hai văn bản tiếng Pháp và tiếng Việt, Hoàng Điển Ân ghi địa điểm, ngày tháng năm đàm phán, tên họ chức vụ đại diện cho Yên Thế và đại diện cho triều đình và Pháp. Viết xong Hoàng Điển Ân đọc lại cả tiếng Pháp và tiếng Việt, nhấn mạnh Hiệp ước này ký kết tại Đồn Hữu Nhuế, Yên Thế, ngày 25 tháng 10 năm 1894. Đại diện cho nghĩa quân Yên Thế, Đề đốc Hoàng Hoa Thám, đại diện cho triều đình Huế, Khâm sai đại thần Bắc Kỳ Lê Hoan, Đại diện cho phía Pháp, Công sứ Bắc Ninh Ma hê.
Hoàng Hoa Thám nói:
-Quân sư hãy viết thêm hai bản, một tiếng Việt, một tiếng Pháp nữa để sau này mỗi bên đều có đủ một bản tiếng Việt và một bản tiếng Pháp.
-Tuân lệnh chủ tướng.
Canh giờ sau, Hoàng Điển Ân nói:
-Thưa chủ tướng, đã xong hai bản tiếng Việt, hai bàn tiếng Pháp rồi ạ.
Đề Thám nói với cha Lô ve sten:
-Thưa cha, xong mọi giấy tờ rồi. Cha thì ở lại vì công việc chưa xong. Bây anh An hãy cầm 4 tờ văn bản này đưa cho ngài Lê Hoan và công sứ Mahê, nếu đồng ý thì ký tên vào, nếu không đồng ý thì đàm phán lại hoặc hủy bỏ cuộc đàm phán.
Người lính tên là An nói:
-Tuân lệnh chủ tướng.
Hoàng Hoa Thám gọi:
-Cận vệ đâu.
-Dạ.
-Cho anh An này đi ăn cơm trước, ăn xong anh ta còn về Bắc Ninh trước khi trời tối.
-Dạ.
Người lính đi rồi, Hoàng Hoa Thám nói với Cả Trọng và Hoàng Điển Ân:
-Quân sư và Cả Trọng ở lại tiếp cơm cha, xong bố trí phòng ngủ cho cha nghỉ. Nhớ canh phòng cẩn mật bảo vệ cha.
-Con hiểu rồi thưa cha.
-Ngày mai, người của Lê Hoan đem văn bản Hiệp ước lên lúc nào thì báo cho ta.
-Dạ.
Đề Thám hướng về phía Lô ve sten:
-Xin chào cha.
Lô ve sten vội đứng dậy:
-Xin chào tướng quân.
Chiều hôm sau Đề Thám đang ngồi trong Tổng hành dinh ở Đồn Hố Chuối thì có lính vào báo:
-Dạ bẩm chủ tướng, thủ lĩnh Cả Trọng mời ngài sang Hữu Nhuế có việc.
Đề Thám đi sang và vào phòng khách đồn Hữu Nhuế thì đã thấy Cả Trọng, quân sư Hoàng Điển Ân, cha Lô ve sten, người lính tên An đã ngồi đợi. Đề Thám nói:
-Chào cha.
Lô ve sten và cả ba người đứng dậy:
-Chào tướng quân.
-Chào chủ tướng.
-Chào cha.
Lô ve sten nói:
-Thưa tướng quân, các văn bản của Hiệp định đưa về Bắc Ninh đã được ngài Lê Hoan và công sứ Ma hê đồng ý và đã ký, xin mời tướng quân ký vào để thành văn bản chính thức.
Đề Thám nói:
-Quân sư Hoàng Điển Ân đọc lại tất cả các văn bản để ta ký vào.
-Dạ, tuân lệnh chủ tướng.
Đề Thám lại gọi:
-Cận vệ đâu.
-Dạ.
-Đem bút mực ra đây.
-Dạ.
Chờ canh giờ, quân sư Hoàng Điển Ân đọc xong, đưa văn bản cho Đề Thám:
-Dạ bẩm chủ tướng, thuộc tướng đã đọc xong, không có gì thay đổi.
Đề Thám cầm bút nhúng mực ký vào bên dưới hàng chữ: “Đại diện cho nghĩa quân Yên Thế” ký và ghi: Đề đốc Hoàng Hoa Thám. Sau khi đưa cho cha Lô ve sten hai bản Tiếng Việt và tiếng Pháp, Đề Thám còn đưa tiếp một bức thư cho ông ta và nói:
-Đây là thời gian và trình tự thi hành Hiệp ước. Nhờ cha chuyển giúp cho ngài Lê Hoan và ngài Công sứ Ma hê.
Cha Lô ve sten sốt ruột hỏi:
-Bao giờ thì tướng quân thả ngài Sét nây và Lô gi u.
-Trong thư gửi ngài Lê Hoan và Công sứ, ta đã nói trình tự ghi trong Hiệp ước, đại lược là Sét nây và Lô gi u sẽ được trả cuối cùng sau khi người Pháp đã thả tù binh Yên thế, rút quân khỏi Yên Thế và trả xong tiền chuộc đầy đủ.
-Vậy đa tạ, xin chào tạm biệt ba tướng quân.
-Xin chào cha.
Người cựu binh Yên Thế cũng bước lại cúi đầu:
-Xin chào chủ tướng, chào hai hai tướng quân.
-Chào, thượng lộ bình an.
-Đa tạ chủ tướng, đa tạ hai tướng quân.
Hôm sau tại phủ Khâm sai Bắc Ninh, Lê Hoan và Ma hê nhận lại hai văn bản Hiệp ước có thêm chữ ký của Đề Thám và một bức thư của Đề Thám. Thư viết: "Kính gửi ngài Lê Hoan và ngài Công sứ Ma hê, sau đây là mốc thời gian các ngài phải thực hiện những cam kết đã ký: Ngày 30 tháng 10 năm 1894, các đồn binh Pháp phải rút khỏi Yên Thế, cùng ngày đó tất cả các tù binh Yên Thế bị bắt phải được thả hết. Ngày 1 tháng 11 năm 1894, các ngài đem tiền chuộc đặt cách đồn Hữu Nhuế 500m để quân Yên Thế ra lấy. Sau khi có báo hiệu đã đủ tiền thì ngài Sét nây và Lô gi u sẽ được thả. Các ngài vào gần Hữu Nhuế 500m đón mà không sợ hỏa lực” (Chủ tướng quân Yên Thế, Đề đốc Hoàng Hoa Thám).
Lê Hoan đọc xong thư đưa cho Ma hê và nói:
-Ngài Công sứ đọc đi và thực hiện Hiệp ước để Sét nây và Lô gi u được giải thoát, chúng ta cũng thoát được một trách nhiệm nặng nề.
Ma hê đọc xong thư, tức giận nói:
-Chúng ta bị ép quá chừng.
Lê Hoan nói:
-Ngài không nhớ ngài Toàn quyền Đông Dương và ngài Thống sứ Bắc Kỳ nói phải chuộc Sét nây bằng bất cứ giá nào à. Giải thoát xong Sét nây, ngài muốn xé bỏ Hiệp ước lúc nào chả được, muốn tấn công Đề Thám lúc nào chả được.
-Ma hê gật gù:
- Ngài Khâm sai nói chí phải.
Sau đó quân Pháp thực hiện đầy đủ các bước mà Hoàng Hoa Thám yêu cầu. Sét nây và Lô gi u được thả và hòa bình ngừng bắn được một năm.