I
Năm 589, nhà Tùy tiêu diệt nhà Trần, kết thúc cục diện Nam-Bắc triều ở Trung Quốc. Giao Châu lại thuộc nhà Tùy thống trị. Năm 617, Lý Uyên tiêu diệt nhà Tùy, thiết lập nhà Đường. Giao châu lại thuộc nhà Đường thống trị từ 617 đến năm 905. Nhà Đường gọi Giao Châu là An Nam đô hộ phủ, sau còn gọi là Tĩnh Hải Quân đứng đầu là Tiết độ Sứ. Dưới phủ là châu, dưới châu là huyện, dưới huyện là hương, dưới hương là xã, dưới xã là làng, bản ( miền núi). Toàn bộ An Nam đô hộ phủ có 12 châu, 59 huyện, trong đó có những châu lớn như Phúc Lộc Châu, Hoan Châu, Diễn Châu, Ái Châu, Trường Châu, Phong Châu, Hồng Châu, Giao Châu, Lục Châu, Thang Châu, Chi Châu, Vũ Nga Châu và hàng chục châu nhỏ ở miền núi gọi là châu ki mi. Trị sở của An Nam đô hộ phủ là thành Đại La, nơi ở và làm việc của Tiết độ Sứ. Chính quyền nhà Đường ở An Nam đô hộ phủ vẫn thi hành chính sách đàn áp, bóc lột đồng hóa nặng nề như các triều đại Hán, Đông Ngô, Tấn, Lương, Tùy.
Vào thế kỷ thứ IX, nhà Đường bước vào thời kỳ suy tàn đổ nát bởi quan trường thối nát, bóc lột nông dân vô hạn độ. Chính vì thế, năm 874 đến năm 884, Hoàng Sào đã lãnh đạo nông dân nổi dậy. Chiến tranh loạn lạc càng đẩy nhà Đường vào con đường suy yếu bất lực trong việc cai trị các thuộc địa, như không thể bảo vệ cho An Nam. Năm 862 đến năm 863, nước Nam Chiếu của người Thái ở Tây Bắc An Nam đã đem 50 vạn quân xâm lược và chiếm phủ thành Đại La. Các hào trưởng người Việt đã phải tự tổ chức chống lại giặc Nam Chiếu để bảo vệ bách tính. Trong sự suy yếu của nhà Đường đã tạo điều kiện cho các thế lực các hào trưởng Việt vươn lên và phát triển. Họ đã thành những lá cờ dẫn dắt nhân dân trên con đường đấu tranh giành quyền tự chủ độc lập. Tiêu biểu trong số đó là họ Khúc ở Hồng Châu.
Vào một đêm thượng tuần tháng 7 năm 905, ở đất Hồng Châu thuộc An Nam đô hộ phủ, tất cả chìm trong bóng đen mênh mang mịt mờ. Gió đêm từ sông Luộc, sông Kinh Thầy thổi về mát rợi làm dịu bớt cơn nắng gắt ban ngày của mùa hè oi bức. Nghìn cây xanh đủ loại bao phủ làng xóm lắc lư theo chiều gió, phát ra những âm thanh xạc xào. Những ánh sáng hắt ra từ những ngọn đèn dầu từ các cư gia le lói trong đêm. Bầu trời thẫm như màn nhung đen điểm những vì sao như những viên kim cương lấp lánh xa vời. Xa xa vang lên những tiếng chó sủa mơ hồ lan ra trong đêm trường thanh vắng.
Trang Cúc Bồ, Ninh Giang, Hồng Châu cũng chìm trong màn đêm tĩnh mịch. Cái khác là nơi đây ánh sáng phát ra từ nhiều ngọn đèn dầu hắt ra rực rỡ, xua bớt màu đen của đêm làm cho phong cảnh hiện rõ hơn. Những rặng tre nặng lá dày đặc đung đưa xạc xào. Những cây cau cao vút nhô lên không trung với những bẹ lá to lớn lắc lư. Những cây mít đang mùa trái chín, nhãn như rừng đang mùa ra quả. Đất Hồng Châu nổi tiếng vải ngon đến mức nhà Đường phải bắt nộp cống vải cho vua Đường. Núp dưới những tán cây đó là những ngôi nhà lợp ngói xây gạch khang trang với màu tường vôi đã xám theo thời gian. Đó là dinh cơ của hào trưởng họ Khúc, hào trưởng nhiều đời đất Hồng Châu giàu có và thế lực nổi tiếng khắp xứ Đông. Tiếng tăm của dòng hào trưởng này lan cả sang thành Đại La, vùng Phong Châu, Ái Châu, Hoan Châu và các châu huyện khác.
Đêm nay trong căn phòng lớn của tư dinh có bốn ngọn đèn dầu lạc ở bốn góc nhà, ánh sáng soi rõ sự sang trọng, cổ kính của căn phòng, những cây gỗ lim bóng loáng to một người ôm làm trụ cột. Gian giữa sát tường nhà kê bàn thờ gia tiên họ Khúc, có một bàn thờ lớn và nhiều bàn nhỏ sơn son thếp vàng chạm khắc tinh vi lấp lánh. Lư hương và bài vị cũng sơn son thếp vàng. Chính giữa nhà kê bàn gỗ lim, hai bên bàn kê hai chiếc ghế tràng kỷ. Bàn và hai ghế cũng chạm khắc hoa văn cầu kỳ. Màu gỗ của bàn ghế dùng lâu năm đen bóng. Trên bàn đặt bộ ấm chén uống trà xanh màu nâu bóng. Có ba người đang ngồi đối diện nhau, giữa là chiếc bàn. Gia nhân rót ba bát nước chè xanh nóng cho ba người rồi chắp tay đứng vào góc nhà. Người ngồi bên hữu là Khúc Thừa Dụ, người kế thừa chức hào trưởng của tổ tiên họ Khúc. Khúc Thừa Dụ khoảng 65 tuổi, mặt vuông, hai tai dài, đầu buộc khăn thếp, mình mặc áo dài lụa đen, đôi lông mày rậm, đôi mắt quắc thước, bộ râu đen oai nghi như ông thầy đồ Nho nhưng nghiêm khắc. Ngồi đối diện với Khúc thừa Dụ có hai người, một người là Khúc Hạo, con trai của Khúc Thừa Dụ. Khúc Hạo là một trung niên khoảng bốn mươi tuổi, mặt hơi dài, miệng rộng, mắt lấp lánh thông minh, mặc chiếc áo dài màu nâu, đầu chít khăn cũng màu nâu, tay bê nước uống, tay cầm quạt mo phe phẩy xua tan đi cái nóng của tối mùa hè. Người thứ hai ngồi cạnh Khúc Hạo là Dương Đình Nghệ, khoảng 36 tuổi, một hào trưởng quê ở Dương Xá, làng Giàng, Ái Châu (nay là Thanh Hóa). Dương Đình Nghệ người cao lớn, mặt hơi tròn và quắc thước, dáng hào kiệt. Ông mặc áo dài xanh, chít khăn xanh. Ông là gia tướng cũng là khách của Khúc Thừa Dụ. Đương Đình Nghệ từ Ái Châu ra đây để cùng mưu việc lớn với Khúc Thừa Dụ. Khúc Hạo hỏi Khúc Thừa Dụ:
-Thưa cha, nhà Đường hiện nay cực kỳ mục ruỗng và suy yếu, không thể quản lý được Tĩnh Hải Quân. Cha định liệu thế nào trong việc giành lấy chính quyền vào tay?
Khúc Thừa Dụ uống một ngụm nước rồi nói:
-Con nói đúng, hiện nay vua Đường Chiêu Tông chỉ là hư vị, toàn bộ quyền hành nằm trong tay tể tướng quyền thần Chu Ôn (Chu Toàn Trung). Nhưng cả Đường Chiêu Tông và Chu Ôn cũng không thể khống chế được bọn quân phiệt địa phương. Ngay cả An Nam Đô hộ phủ, Tiết độ sứ Độc Cô Tổn dù rất tàn ác, được bách tính gọi là “Ngục Thượng thư”, quyền hành cũng không vượt quá thành Đại La. Ở các địa phương, quyền hành đã lọt vào tay các hào trưởng người Việt. Nhưng các hào trưởng người Việt lúc này cũng chưa ai dám vùng dậy, dành lấy quyền lực cao nhất là Tiết độ sứ vào tay mình.
Khúc Hạo hỏi:
-Vì sao vậy thưa cha?
Khúc Thừa Dụ đáp:
-Con phải học tập hơn nữa để có con mắt nhận định thời thế, đặc biệt là trong thời loạn lạc để có quyết định đúng đắn hợp thời cơ mới mong có thắng lợi. Nhà Đường tuy suy yếu nhưng quốc gia chưa lâm vào thế tan rã, chưa phát triển thành cục diện cát cứ tranh hùng giữa các thế lực. Thứ nữa, ở An Nam đô hộ phủ vẫn còn tồn tại Tiết độ sứ của nhà Đường. Vậy cả thời cuộc ở Trung Quốc và thời cuộc ở An Nam chưa tạo được thời cơ thật chín muồi để chúng ta nắm lấy chính quyền.
Đương Đình Nghệ nói:
-Vậy thưa chúa công, khi nào thì các hào trưởng người Việt mới nắm lấy chức Tiết độ sứ, giành chính quyền để giành quyền độc lập?
-Khúc Thừa Dụ đáp:
-Đây là vấn đề cực kỳ quan trọng cho đất nước và cho vận mệnh dân tộc, cho nên ta đã suy nghĩ và nung nấu lâu rồi. Chỉ khi nào Trung Quốc chia cắt thành nhiều nước, chính quyền thống nhất nhà Đường sụp đổ, hoặc là khi ở An Nam Đô hộ phủ không còn Tiết độ sứ, chúng ta sẽ nắm lấy chức vụ hành chính cao nhất đó nhưng vẫn xưng là Tiết độ sứ, mềm dẻo về sách lược để không bị chúng đàn áp. Chờ khi nước ta đã hùng mạnh rồi thì mới có thể xưng vương xưng đế.
Dương Đình Nghệ gật gù tán thưởng:
-Chúa công thật là sáng suốt. Đó là một sách lược hay.
Khúc Hạo hỏi:
-Hiện nay ở An Nam Đô hộ phủ có rất nhiều thế lực của các hào trưởng ở các địa phương, nếu như có thời cơ như cha vừa nói, cha có quyết tâm vào Đại La nắm lấy chức Tiết độ sứ, hay là tôn phò một hào trưởng nào đó lên.
Dương Đình Nghệ nói:
-Cứ như mạt tướng xem xét thì hiện nay chỉ có thực lực của chúa công mới có thể làm nổi công việc này. Các hào trưởng khác hiện nay chưa ai đủ thế lực. Cho nên khi có thời cơ chúa công nên phất cao lá cờ chính nghĩa vì giang sơn và vì bách tính.
Khúc Thừa Dụ nói:
-Đúng là nói thế và lực hiện nay chúng ta mạnh hơn các hào trưởng khác. Vì thế ta đã được hầu hết các hào trưởng, anh hùng hào kiệt các châu ủng hộ, chỉ chờ ta kêu gọi là họ về ứng nghĩa. Vả lại, giành chức Tiết độ sứ không phải là mưu lợi cho bản thân cho gia đình, cho dòng họ mà phải vì quyền lợi của bách tính, vì giành quyền tự chủ độc lập cho dân tộc, tức là phải vì nước, vì dân thì mới làm được.
Khúc Thừa Dụ dứt lời. Tiếng trống cầm canh của trang Cúc Bồ đã điểm canh hai, mọi ngươi đang định đi nghỉ thì một gia nhân vào báo:
-Dạ, bẩm chúa công, có thám mã từ Đại La về muốn gặp.
Khúc Thừa Dụ nói:
-Cho vào!
Người thám mã bận quân phục màu nâu mang gia huy của họ Khúc bước vào:
-Dạ bẩm chúa công, Tiết độ sứ Độc Cô Tổn của nhà Đường không cùng bè cánh với quyền thần Chu Ôn nên bị triệu hồi về Hải Nam và bị giết chết. Thành Đại La không có Tiết độ sứ, quan viên và quân sĩ người Hán đang như rắn mất đầu. Tư mã Đặng Thiềm Âu đang lúng túng. Thành Đại La đang đại loạn ạ.
Khúc Thừa Dụ nói với Dương Đình Nghệ:
-Thời cơ đã đến rồi. Tướng quân hãy cho nổi trống tập hợp 5000 võ sĩ của ta đang ở trang Cúc Bồ, mang theo vũ khí, chiêng trống và cờ. Trước tiên cho quân tiến về trang Lỗ Xá để tập hợp thêm các anh hùng hào kiệt về tụ nghĩa, sau đó tiến về Đại La.
Dương Đình Nghệ đáp:
-Mạt tướng tuân lệnh.
Khúc Thừa Dụ nói với Khúc Hạo:
-Con ra chuẩn bị lương thực đưa xuống thuyền, chuẩn bị chiến thuyền để có thể hành quân theo đường sông Luộc về sông Hồng để nhanh chóng về Đại La.
-Dạ tuân lệnh cha.
Ngay trong đêm đó, những hồi trống cái thúc những hồi ngũ liên dồn dập vang động không gian của trang Cúc Bồ. Không đầy một canh giờ, trên một bãi rộng, 5000 võ sĩ tay cầm những bó đuốc cháy rần rật, tay cầm vũ khí, lưng đeo nặng cung tên nhanh chóng tập hợp theo biên chế quân ngũ. Ánh vũ khí kiếm, dao, giáo, búa…sáng loáng do ánh lửa bập bùng phản chiếu vào. Người nào không cầm đuốc thì cầm cờ màu vàng, giữa có chứ “Khúc” hoặc chữ “Ứng Nghĩa” màu đen to đậm. Những lá cờ bay phấp phới trong gió nam đêm hè hắt ra màu vàng rực rỡ bay phần phật như reo vui.
Khúc Thừa Dụ, Khúc Hạo, Dương Đình Nghệ và nhiều tướng lĩnh khác mang quân phục nâu, áo giáp đồng, tay cầm vũ khí, lưng mang cung tên cưỡi ngựa đứng trước hàng quân. Khúc Thùa Dụ nói:
-Thưa các tướng lĩnh, thưa các chư vị, thưa các nghĩa binh. Nước Nam ta từ hơn 1000 năm nay chịu sự thống trị tàn bạo của ngoại bang Trung Quốc. Nay nhà Đường là kẻ thống trị nước ta đã suy yếu không thể quản lý nổi An Nam đô hộ phủ, Tiết độ sứ tàn ác là Độc Cô Tổn đã bị tể tướng nhà Đường là Chu Ôn gọi về nước. Thành Đại La bây giờ vô chủ. Đây là thời cơ để chúng ta giành quyền tự chủ và độc lập. Nay nhiệm vụ của ta là phải tiến đánh Đại La, cử Tiết độ sứ là người Việt để giành lại giang sơn xã tắc. Ta ra lệnh xuất phát!
Khúc Thừa Dụ dứt lời, 5000 võ sĩ đồng thanh hô vang như sấm chấn động cả một vùng Cúc Bồ:
-Chiếm Đại La
-Chiếm Đại La!
Khúc Thừa Dụ nói tiếp:
-Ta ra lệnh các võ sĩ xuống thuyền về Lỗ Xá để hội quân với các anh hùng hào kiệt ứng nghĩa rồi từ đó tiến về Đại La!
-Xin tuân lệnh chúa công.
5000 quân rầm rộ tiến ra bến sông Dầm và sông Cầu Ràm là những chi nhánh của sông Thái Bình rồi đi theo sông Hồng, hội quân ở chợ Rằm. Đêm đó sông Dầm và sông Cầu Ràm nổi sóng bởi hàng trăm con thuyền gỗ và thuyền nan tre được những mái chèo khỏe mạnh rẽ nước chèo như bay về Lỗ Xá ( Cẩm Giàng, Hồng Châu). Tại Lỗ Xá, thêm 5000 thanh niên trai tráng từ các nơi tham gia vào đội quân tiến đánh thành Đại La. Nhiều anh hùng hào kiệt cũng về ứng nghĩa, trong đó có hào trưởng nổi tiếng Đường Lâm là Ngô Mân. Nghĩa quân còn bổ sung thêm vũ khí, lương thực vì Lỗ Xá là nơi rèn dao kiếm nổi tiếng từ xưa. Trong đêm hội quân, hàng nghìn tráng sĩ đèn đuốc sáng trưng như ban ngày, vũ khí cung tên đầy mình hoành tráng, khí thế dũng mãnh. KhúcThừa Dụ chia quân làm hai đạo, một đạo dùng thuyền đi từ các con sông nhỏ và ngược sông Hồng về Đại La, đạo hành quân bộ đi theo vùng phố Nối khoảng 50 dặm để vào Đại La.
Đêm 15 tháng 7 năm 906, thành Đại La chìm trong những rặng cây xà cừ, cây phượng, cây bàng. Chỉ khác là trong đêm rằm nên ánh trăng rải ánh sáng loang lổ xuống muôn cây, bàng bạc trên những mái nhà, trắng xóa trên những mái nhà cổ kính có từ hàng trăm năm nay. Gió đêm hè đung đưa lá cây xào xạc, phơ phất dưới ánh trăng. Dòng sông Hồng mênh mông trong đêm vẫn lững lờ đổ nước về Đông, nước lấp lánh xa mờ trong đêm tĩnh mịch. Vài con thuyền đi ngược về phương Bắc và đi xuôi về hướng Đông trong cuộc mưu sinh gian khó trên sông nước.
Do không có Tiết độ sứ nên thành Đại La như vô chủ. Quan và quân binh hết sức lo lắng. Quan Tư mã Đặng Thiềm Âu phụ trách về quân sự suốt ngày lo lắng và chìm trong rượu chè và đánh đập lính tráng. Hắn buồn bả và lo lắng cho sự đổ nát của nhà Đường.
Trong đêm nay như thường lệ, tên lính gác mở cổng thành cho 20 tên lính đi tuần tra hết phiên trở về thành, rồi 20 tên lính khác lại đi tuần tiếp. Tốp lính đi đến đoạn đường bị cây cối che lấp ánh trăng, tối mù mịt thì bất ngờ bị 40 người xông ra dùng khăn có thuốc mê bịt miệng. 20 tên lính chỉ ú ớ và ngất xỉu gục xuống. 40 người kia lập tức lột quân phục, vũ khí và mặc vào cho 20 người. 20 người biến thành lính Hán đi tuần phòng và lát sau họ quay về. Những tên lính gác cổng không chút nghi ngờ, mở cổng thành cho 20 lính Hán giả vào thành. Phút chốc hai tên lính gác cổng thành bị giết, cửa thành mở toang. Một hồi trống nổi lên. Hàng nghìn quân Việt mai phục quanh Đại La tràn vào thành đánh giết. Tiếng Loa từ miệng của những người lính Khúc Thừa Dụ vang lên bằng tiếng Việt và tiếng Hán:
-Đây là quân lính của hào trưởng Khúc Thừa Dụ. Thành Đại La đã mất. Tất cả quân lính kể cả người Hán nếu buông vũ khí đầu hàng sẽ được toàn tính mạng và được cho về nước. Loa… Loa…
Sau tiếng loa, quân lính trong thành Đại La đều buông vũ khí và những cuộc hỗn chiến chém giết đã không diễn ra. Trận đánh thành lớn và quan trọng mà chỉ diễn ra nửa canh giờ và chết 100 lính Hán do chúng chống cự. Quan Tư mã Đặng Thiềm Âu bị bắt trong trạng thái say xỉn. Cư dân Đại La và quân sĩ người Việt vô cùng vui mừng. Tiếng trống, tiếng chuông trong các chùa chiền vang lên khắp Đại La. Đuốc lửa sáng rực thành như ban ngày. Những lá cờ vàng viết chữ “Ứng Nghĩa” và chữ “Khúc” màu đen bay rợp trời. Trong khi đó, Khúc Thừa Dụ tiến vào từ cửa Đông, Khúc Hạo tiến vào từ cửa Tây, Dương Đình Nghệ tiến vào từ cửa Nam thì Ngô Mân, hào trưởng Đường Lâm tiến vào từ cửa Bắc. Khúc Thừa Dụ cùng những người vệ sĩ của mình tiến vào sảnh đường của thành Đại La, là nơi ở và làm việc của Tiết độ sứ, gia đình Tiết độ sứ và tướng lĩnh tùy tùng thân cận, là nơi quyền lực cao nhất của nhà Đường ở An Nam đô hộ phủ. Nơi công đường của Tiết độ sứ cực kỳ xa hoa lộng lẫy, choáng lộn cột và bàn ghế sơn son thếp vàng, khảm trai. Trên các bàn trang trí sừng tê giác, ngà voi, ngọc trai, đồi mồi. Nhìn kỹ thì nó tượng trưng cho máu và nước mắt của bách tính An Nam đúc thành, minh chứng cho sự thống trị, bóc lột tàn bạo của bọn thống trị phương Bắc đối với An Nam.
Khúc Thừa Dụ ngồi vào ghế Tiết độ sứ mạ vàng đặt trên nền cao. Bên dưới có hai hàng bàn ghế giành cho quan viên văn võ của phủ Tiết độ sứ. Khi đó một người lính chạy vào báo:
-Bẩm chúa công, đã bắt được Tư mã của thành Đại La Đặng Thiềm Âu, xin chúa công định đoạt.
Khúc Thừa Dụ nói:
-Cho dẫn vào!
Hai người lính dẫn Tư Mã Đặng Thiềm Âu vào. Đó là một người Hán cao lớn bị trói, dáng võ biền nhưng không mặc võ phục. Trông thấy Khúc Thừa Dụ, Đặng Thiềm Âu liền quỳ xuống:
-Bỉ chức Đặng Thiềm Âu, Tư mã của phủ Tiết độ sứ. Bỉ chức nghe đại danh của chúa công đã lâu. Nay bỉ chức đã ở trong tay chúa công, xin chúa công tha mạng.
Khúc Thừa Dụ nói:
-Cởi trói cho quan Tư mã!
Một người lính cỡi trói cho Đặng Thiềm Âu. Khúc Thừa Dụ hỏi:
-Sao nhà ngươi không tổ chức binh sĩ chiến đấu chống lại khi ta tấn công thành?
-Bỉ chức lo buồn cho sự tan rã của triều Đường bên chính quốc. Từ khi Tiết độ sứ Độc Cô Tổn bị triệu hồi và bị giết hại, bỉ chức lo cho số mạng của bỉ chức sắp tới không rõ thế nào nên bỏ bê công việc.
Khúc Thừa Dụ nói:
-Ngươi đã đầu hàng, không chống cự quân ta. Ngày mai, ngươi và những quân sĩ người Hán sẽ được lên đường về nước, đoàn tụ với gia đình.
Đặng Thiềm Âu rập đầu:
-Xin đa tạ chúa công.
Khúc Thừa Dụ ra lệnh:
-Đưa Tư mã và những binh sĩ người Hán vào một nơi cho ăn uống nghỉ ngơi và cho canh phòng nghiêm ngặt. Sáng mai sẽ cho quân ta hộ tống rút về bên kia biên giới
-Dạ.
Khúc Thừa Dụ bảo gia nhân:
-Đi tìm các tướng Khúc Hạo, Dương Đình Nghệ, Ngô Mân về đây bàn những việc quan trọng cấp bách của đất nước.
-Dạ.
Lần lượt các tướng Dương Đình Nghệ, Ngô Mân, Khúc Hạo bước vào. Tất cả đồng thanh:
-Dạ bẩm chúa công.
Khúc Thừa Dụ đáp lễ:
-Mời các tướng quân ngồi.
-Đa tạ chúa công.
Sau khi mọi người đã an tọa, Khúc Thừa Dụ nói:
-Nay chúng ta đã giành được chính quyền về tay người Việt, việc cốt tử nhất là phải bảo vệ củng cố vững chắc nền độc lập, tự chủ, muốn làm được như vậy phải cải cách, củng cố chính quyền để cho chính quyền thực sự là của người Việt, thực hiện một nền chính trị thân dân.
-Thứ nhất, nước là phải có chủ, người xưa đã nói nước một ngày không thể không có vua, tức là nước phải có người đứng đầu để điều hành đất nước, ra hiệu lệnh, pháp lệnh cho bách tính, cho quan lại các cấp. Chúng ta có thể xưng vương, xưng đế. Nhưng trong tình hình hiện nay, thực lực của ta chưa mạnh, đề phòng nhà Đường đem quân đàn áp thì ta nghĩ chỉ nên xưng là Tiết độ sứ là một chức quan của nhà Đường để nhà Đường thừa nhận, tránh được nạn binh đao mà vẫn giữ được chủ quyền của đất nước.
-Thứ hai là phải cải cách bộ máy cai trị, bãi bỏ những quan chức từ Châu trở xuống huyện mà người Hán còn nắm giữ, cử các hào trưởng người Việt thay thế vào các chức vụ đó. Ở tất cả các cấp châu, huyện, giáp, xã, dù là người Việt nhưng nếu là quan tham nhũng, cường hào ác bá bóc lột bách tính thì cũng bãi miễn. Quan lại là người Việt nhưng phải có tài đức, phải tuyệt đối vì bách tính, vì nước và trung thành với Tiết độ sứ mới.
-Thứ ba là cử ngay một đoàn sứ bộ sang Lạc Dương đề đạt nhà Đường công nhận ta là Tiết độ sứ, chủ yếu là để hòa hảo về mặt ngoại giao. Nếu họ không công nhận thì quan hệ ngoại giao sẽ căng thẳng. Trong tình hình hiện nay của nhà Đường, họ không có khả năng dùng quân đội hộ tống một Tiết độ sứ người Hán sang áp đặt. Nhưng chúng ta không được chủ quan, phải chuẩn bị quân đội mạnh để sẵn sàng đối phó. Lưu ý ta muốn hòa bình, không muốn chiến tranh nhưng chiến tranh nổ ra hay không lại không thuộc ta.
-Đó là những chủ định của ta.Các tướng quân thấy thế nào?
Khúc Hạo nói:
-Thưa cha, kế sách của cha là vẹn toàn để xây dựng nền tự chủ, độc lập cho đất nước. Ngoài những kế sách đó con nghĩ không còn kế sách gì hay hơn trong tình hình hiện nay.
Dương Đình Nghệ tiếp lời Khúc Hạo:
-Nhà Đường hay bất cứ triều đại nào khác của Trung Quốc dù hưng thịnh hay đang suy yếu, dù lớn hay nhỏ thì không bao giờ họ muốn mất An Nam. Nhưng trong tình hình suy yếu hiện nay, nhà Đường dù muốn cũng không thể nào cắt cử được một Tiết độ sứ sang cai trị. Cho nên chúa công chỉ xưng là Tiết độ sứ khiến nhà Đường lầm tưởng An Nam đô hộ phủ vẫn còn thuộc Lạc Dương, điều đó có lợi cho ta, ta có thời gian xây dựng phát triển kinh tế quốc phòng, xây dựng chính quyền độc lập. Tôi chỉ xin chúa công cho giảm bớt sưu thuế, lao dịch đóng góp quá nặng nề thời Bắc thuộc, khoan dung cho dân được no ấm yên vui. Dân hoàn toàn tin theo chúa công thì cơ nghiệp nghìn năm sẽ bền vững, không sợ một thế lực ngoại bang nào.
Ngô Mân nói:
-Nên có cáo thị việc chúa công làm chức Tiết độ sứ và những quyết sách để quan chức thi hành và bách tính yên vui.
Tin Khúc Thừa Dụ, hào trưởng đất Hồng Châu nổi tiếng nhân từ, nghĩa hiệp chiếm được thành Đại La, xưng là Tiết độ sứ và sẽ thi hành nhiều chính sách thân dân lan truyền khắp các châu, huyện trong An Nam đô hộ phủ làm bách tính An Nam hết sức vui mừng, các hào trưởng, các anh hùng hào kiệt, các quan chức các cấp từ châu trở xuống đều ủng hộ. Họ tin với con người tài năng, đại nghĩa đã nổi tiếng từ lâu sẽ mang lại độc lập tự chủ cho cho nước nhà, mang lại cuộc sống no ấm yên vui cho bách tính. Họ tin, họ Khúc sẽ mở ra thời kỳ độc lập lâu dài cho đất nước.
II
Tin Khúc Thừa Dụ chiếm thành Đại La, tự xưng là Tiết độ sứ của An Nam Đô hộ phủ bay tới Lạc Dương, kinh đô nhà Đường. Đường Ai Đế liền thiết triều bàn công việc trọng đại này với quần thần vì nó liên quan đến việc mất còn của xứ thuộc địa quan trọng.
Triều Đường do Đường Cao Tổ Lý Uyên sáng lập năm 617 sau khi tiêu diệt nhà Tùy và khuất phục được các thế lực quân phiệt khác bằng quân sự. Trải qua ba thế kỷ hưng thịnh, vào thế kỷ thứ X, triều Đường đang bước vào buổi chiều tà xế bóng suy tàn. Quyền lực của Đường Chiêu Tông không còn gì, bị quyền thần Chu Ôn (Chu Toàn Trung) lấn át. Các thế lực quân phiệt đang cố gắng tách rời trung ương. Năm 904, Chu Ôn giết vua Đường Chiêu Tông, đưa Lý Chúc lên ngôi gọi là Đường Ai Đế. Trong buổi triều đình tàn tạ, các đại thần chỉ lo cho an toàn của bản thân và gia đình. Cho nên, trong buổi thiết triều của Đường Ai Đế diễn ra trong không khí căng thẳng lo lắng, tai bay vạ gió có thể đến bất cứ lúc nào. Thời buổi mà đồng lưu, đồng triều không thể tin nhau được, ngoài miệng ngọt ngào, trong bụng đầy gươm dao, nay còn là bạn mai đã là thù. Trong không khí im lặng thì có một thái giám bước vào:
-Dạ bẩm hoàng thượng, có phái bộ của Tiết độ sứ An Nam đô hộ phủ xin vào yết kiến.
Cả triều đình nhà Đường sửng sốt ngạc nhiên. Người Việt vốn xưa nay ương ngạnh, bất khuất, đã giành được quyền độc lập là xưng vương như hai Trưng Nữ Vương, xưng đế như Lý Nam Đế. Nay Khúc Thừa Dụ chỉ xưng Tiết độ sứ, lại còn cho sứ bộ về chầu, quả là có đối sách và có gan. Đường Ai Đế hỏi quần thần, thực chất là hỏi quyền thần Chu Ôn xem hắn quyết định thế nào:
-Có cho phái bộ của An Nam đô hộ phủ vào không các ái khanh?
Chu Ôn bước ra:
-Thần xin bẩm tấu.
-Ái khanh cứ tâu trình.
-Thần cho rằng nên cho người của Khúc Thừa Dụ vào xem họ tấu trình như thế nào để triều đình ta rõ thêm tình hình An Nam.
Đường Ai Đế truyền chỉ:
-Chuẩn tấu, cho phái bộ của An Nam vào!
Phái bộ của An Nam gồm năm người đi sau quan thái giám tiến vào hành cung. Người đi sau quan thái giám mặc áo dài lụa đen, quần trắng, đội khăn thếp đen quấn nhiều vòng trên đầu theo trang phục của người An Nam. Người đó có dáng cao to, mặt vuông, mắt sáng, dáng cực kỳ nho nhã pha chút hùng dũng của võ quan. Bốn người đi sau đầu cũng buộc khăn thếp màu nâu, áo dài màu nâu và quần dài lụa nâu. Mấy chục con mắt của triều thần nhà Đường đổ dồn vào đoàn sứ bộ với trang phục hoàn toàn theo dân tộc Việt. Người buộc khăn đen, áo đen rất đàng hoàng đĩnh đạc cùng bốn người khác quỳ xuống và tâu:
-Bẩm hoàng thượng, thần Ngô Mân dẫn đầu phái bộ của Tiết độ sứ An Nam bái kiến, chúc hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.
Đường Ai Đế nói:
-Miễn lễ!
Ngô Mân và bốn người khác cùng đứng dậy:
-Tạ ơn hoàng thượng.
Đường Ai Đế hỏi:
-Tại sao chúa công nhà ngươi là Khúc Thừa Dụ thừa dịp vô cớ đánh chiếm Đại La? Tại sao chưa được triều đình ta phong đã tự xưng là Tiết độ sứ. Muốn làm phản chăng?
Ngô Mân đáp:
-Muôn tâu chúa thượng, xứ Tĩnh Hải Quân của thần dù xa xôi nhưng lòng luôn hướng về Lạc Dương, trung thành với hoàng thượng. Nhưng sau khi Tiết độ sứ Độc Cô Tổn bị triệu hồi, thành Đại La và xứ An Nam trở nên vô chủ, lâm vào tình trạng loạn lạc, rối ren, bách tính vô cùng lo sợ và điêu đứng. Chúa công thần là Khúc Thừa Dụ, một hào trưởng tài năng và nhân nghĩa đã chủ động vào thành Đại La, trước hết là giữ yên bình cho bách tính, dẹp trừ loạn lạc, thứ hai là giữ bình yên cho giang sơn xã tắc, tránh cho trăm họ khỏi nạn binh đao. Như vậy chúa công thần là người có công với bách tính, sao gọi là tạo phản được. Nếu tạo phản thì chúa công thần đã xưng vương, xưng đế chứ sao lại chỉ xưng là Tiết độ sứ. Còn chưa nhận được sắc phong của hoàng thượng mà đã tự xưng Tiết độ sứ thì cũng do mục đích sớm yên dân, chỉ là phải có chức danh để sớm ổn định đất nước, để điều hành công việc, để quan viên và binh sĩ nghe lệnh mà chấp pháp. Đức Không Tử cũng đã nói: Có chính danh thì thì mới định phận đó sao? Nay chúng thần từ xa xôi tới đây, một là để tỏ tấm lòng trung, thứ hai là chúng thần sẽ nhận được sắc phong Tiết độ sứ của hoàng thượng cho chúa công tôi là Khúc Thừa Dụ, để chúa công tôi có danh chính ngôn thuận mà trông coi xứ An Nam cho hoàng thượng. Chúa công thần còn có tấu thư trình hoàng thượng để rõ tình hình hơn.
Ngô Mân chuyển tấu thư cho viên thái giám, thái giám chuyển dâng cho Đường Ai Đế. Đường Ai Đế mở thư đọc qua rồi đưa thái giám chuyển cho quyền thần Chu Ôn. Chu Ôn đọc thì lời lẽ trong thư Khúc Thừa Dụ viết giống như Ngô Mân đã tấu trình. Chu Ôn thừa biết đó là những lời lẽ ngoại giao thôi, còn hành động của Khúc Thừa Dụ là nhằm giành lại quyền độc lập tự chủ cho An Nam, nhằm thoát khỏi sự thống trị của các triều đại Trung Nguyên. Nếu bình thường thì phải đem quân trấn áp. Nhưng trong tình thế hiện nay của nhà Đường, của Chu Ôn thì không thể được. Vì cử một Tiết độ sứ người Hán sang thay Khúc Thừa Dụ thì phải đưa binh mã đi cùng, như vậy chắc chắn sẽ nổ ra chiến tranh Hán-Việt. Tình hình không cho phép đem binh mã ra ngoài vì Chu Ôn sắp cướp ngôi của Đường Ai Đế, lại còn phải đối phó với các thế lực quân phiệt trong nước đang hùng cứ các phương để chia cắt Trung Quốc thành nhiều nước. Thôi thì cứ phong cho Khúc Thừa Dụ làm Tiết độ sứ, giữ ổn định tình hình An Nam rồi sau sẽ liệu cũng chưa muộn.
Đường Ai Đế cất tiếng làm tắt dòng suy nghĩ của Chu Ôn:
-Chu Ôn, ái khanh có đối sách gì với An Nam không?
Chu Ôn bước ra nói:
-Bẩm bệ hạ, trong thư Khúc Thừa Dụ xưng thần, còn tất cả nội dung giống như sứ bộ Ngô Mân đã tấu trình, thần nghĩ Khúc Thừa Dụ vẫn trung thành với hoàng thượng, vì hoàng thượng mà đứng ra gánh vác trách nhiệm vì sự an ninh của An Nam và vì bách tính. Thần nghĩ nên phong Tiết độ sứ kiêm Đồng Bình Chương Sự cho Khúc Thừa Dụ để ông ta trông coi An Nam đô hộ phủ yên bình cho hoàng thượng.
Đường Ai Đế nói:
-Chuẩn Tấu.
-Thái giám tổng quản, viết ý chỉ của trẫm như sau: “Phụng thiên thừa vận, hoàng đế chiếu viết, nay sắc phong cho Khúc Thừa Dụ làm Tiết độ sứ Tĩnh Hải Quân kiêm Đồng Bình Chương Sự, Lạc Dương.Thiên Hựu năm thứ ba. Khâm thử.”
Thái giám viết xong, Đường Ai Đế đóng ấn mực đỏ vào tờ sắc phong, niêm phong lại và giao cho trưởng phái bộ Ngô Mân. Ngô Mân nhận chỉ:
-Xin đội ơn hoàng thượng, chúc hoàng thượng vạn tuế, vạn tuế.
Ngày hôm sau phái bộ rời Lạc Dương lên đường về nước.
Sau khi được nhà Đường phong Tiết độ sứ kiêm Đồng Bình Chương sự, Khúc Thừa Dụ phong cho Khúc Hạo chức “Tĩnh Hải QuânTư mã quyền tri lưu hậu”. Như vậy Khúc Hạo nắm quyền chỉ huy binh mã, quyền thay Khúc Thừa Dụ làm Tiết độ sứ. Khúc Thừa Dụ sử dụng nhân tài như Ngô Mân, Dương Đình Nghệ và nhiều anh hùng hào kiệt vào trông coi bộ máy từ trung ương đến địa phương để cải cách đất nước, xây dựng nền tảng cho độc lập của nước nhà. Khúc Thừa Dụ đã kết thúc cơ bản 1000 năm thống trị của phong kiến Trung Quốc. Ông đã xây dựng một giang sơn riêng, một triều đình riêng, thực sự là vua của một nước độc lập nên được gọi là KHÚC TIÊN CHỦ.
Ngày 23 tháng 7 (Đinh Dậu) năm 907, Khúc Thừa Dụ mất. Con là Khúc Hạo kế tiếp chức vụ Tiết độ sứ của cha. Tháng 7 năm 907 là tháng tang lễ đau buồn của họ Khúc và của bách tính người Việt. Thi hài của Khúc Tiên Chủ được đưa về trang Cúc Bồ, Hồng Châu mai táng. Các hào trưởng, các anh hùng hào kiệt các châu, huyện trong nước về chia buồn với Khúc Hạo, phúng viếng, tiễn đưa người anh hùng dân tộc về nơi an nghỉ cuối cùng. Mãi đầu tháng tám mới xong công việc tang gia. Hôm nay, tại đại sảnh đường La Thành, Tiết độ sứ Khúc Hạo mới chủ trì phiên thiết triều đầu tiên. Khúc Hạo nói:
-Suốt một tháng nay do tang gia bận rộn, hôm nay mới ngồi bàn quốc sự với các vị. Đầu tiên ta xin thay mặt gia đình và họ Khúc đa tạ các anh hùng hào kiệt, các quan chức, tướng lĩnh trong cả nước đã đến chia buồn cùng gia đình và tiễn đưa Khúc Tiên Chủ về nơi an nghỉ cuối cùng. Ta cũng như các vị đã biết một tháng qua tình hình Trung Quốc có nhiều biến động to lớn. Ta đã giao cho tướng Ngô Mân nắm bắt theo dõi tình hình chính trị Trung Nguyên. Xin mời tướng Ngô Mân trình bày để chúng ta nắm bắt được tình hình mà đề ra quyết sách cho đúng đắn.
Ngô Mân đứng dậy và nói:
-Bẩm Tiết độ sứ và các chư vị. Nhà Đường vốn đang tan rã nên các thế lực quân phiệt, hào trưởng Trung Nguyên chỉ chờ thời cơ là xưng hùng xưng bá. Tháng 7 năm nay (907), quyền thần Chu Ôn đã giết vua cuối cùng của nhà Đường là Đường Ai Đế, cướp ngôi và lập ra nhà Hậu Lương. Chu Ôn xưng đế hiệu là Lương Thái Tổ, dời đô từ Lạc Dương (Hà Nam) về Biện Kinh, còn gọi là Khai Phong (Hà Nam). Việc chu Ôn cướp ngôi nhà Đường sẽ bắt đầu một thời kỳ đại loạn, phân cát, sẽ còn nhiều nước nhỏ xuất hiện đối lập và chiến tranh với nhau. Tình hình Trung Nguyên sẽ ảnh hưởng đến tình hình An Nam ta, Kính mời các quý vị theo dõi sát sao để định ra quyết sách cho phù hợp.
Khúc Hạo hỏi:
-Tướng quân Dương Đình Nghệ có cao kiến gì không?
Dương Đình Nghệ đứng dậy đáp:
-Bẩm Tiết độ sứ, sự thay đổi từ nhà Đường sang nhà Hậu Lương hay bất cứ triều đại nào của Trung Nguyên thì họ cũng không bao giờ từ bỏ dã tâm chiếm đóng An Nam Đô hộ phủ. Trước mắt, ta nên cử một đoàn phái bộ sang Biện Kinh buộc Lương Thái Tổ thừa nhận chức Tiết độ sứ An Nam đô hộ phủ của chúa công để thuận về mặt ngoại giao, quan hệ. Thứ nữa, chúng ta phải xây dựng sức mạnh của chúng ta về kinh tế, hành chính, quân đội để thoát khỏi sự khống chế của Trung Nguyên, để chống lại nhà Hậu Lương nếu chúng sang xâm lược, để bách tính no ấm yên vui, tiến tới xưng vương xưng đế, giành và bảo vệ vững chắc độc lập cho nước nhà.
Khúc Hạo nói:
-Hai vị nói rất hợp ý ta. Ngay hôm nay ta cử một phái bộ đi Biện Kinh giao thiệp để nhà Lương thừa nhận chức Tiết độ sứ Kiêm Đồng Bình Chương Sự của ta. Việc cấp bách là phải cải cách mọi mặt của đất nước để có sức mạnh xây dựng và bảo vệ độc lập thực sự.
Ngừng một lát Khúc Hạo nói tiếp:
-Ta sẽ vạch ra chính sánh cải cách hành chính, xây dựng bộ máy quan lại có hiệu quả, thanh liêm. Tướng quân Ngô Mân phụ trách việc vạch ra phát triển nền kinh tế nông nghiệp gắn với thủ công nghiệp, có lợi cho nhà nước, nhà nông và nhà điền chủ. Tướng quân Dương Đình Nghệ suy nghĩ vạch ra quyết sách xây dựng quân đội hùng mạnh, sẵn sàng đánh bại mọi cuộc xâm lăng của các triều đại phương Bắc.
Hai tướng Ngô-Dương đáp:
-Xin phụng mệnh chúa công Tiết độ sứ.
Hai tháng sau, từ sự tổng hợp các bản tấu trình của các tùy tướng ở phủ Tiết độ sứ, Khúc Hạo cho cho thông cáo và ban hành những sắc lệnh mang tính chất pháp quy của nhà nước về hành chính, về kinh tế. Sắc lệnh như sau: “Đơn vị hành chính của An Nam dưới thời Đường là châu, huyện, hương, xã, quan lại người Hán nắm đến cấp huyện, nay đổi lại là lộ, phủ, châu, giáp, xã. Quan lại người Việt nắm tất cả các cấp. Nay chính quyền của ta chủ trương tăng cường cấp giáp và xã. Mỗi giáp có một Quản giáp và một Phó tri giáp trông coi. Xã có Xã quan: mỗi xã có Chánh lệnh trưởng, Tá lệnh trưởng. Nay trong toàn An Nam ta đặt thêm 150 giáp mới, cộng với giáp cũ tổng cộng có 314 giáp. Thời nhà Đường cấp xã, thành Đại La không nắm được, nay cấp xã cũng phải phục tùng chính quyền Đại La để xây dựng một chính quyền trung ương thống nhất. Khi cai trị, quan lại các cấp phải khoan dung, giản dị, nhân dân được yên vui. Khoan dung là không bắt buộc khắt khe quá đối với nhân dân. Kiên quyết chống tham quan ô lại. Giản dị là nền hành chính không quan liêu, không nhũng nhiễu, phiền hà nhân dân, tạo cho nhân dân yên vui, an cư lạc nghiệp. Đó là lý tưởng mơ ước của nhân dân nơi làng xã. Đó là nền chính trị thân dân.
Về kinh tế, thời Đường, tô thuế cống nạp nhiều, nhiều lao dịch gây điêu đứng nghèo khổ cho bách tính, nay chính quyền họ Khúc ta giảm nhẹ thuế ruộng, thuế đánh theo mức bình quân của số lượng ruộng đất, bỏ thuế thân (thuế đinh). Nghiêm cấm việc quan lại phiền hà, sách nhiễu nhân dân vì đồng tiền. Nghiêm cấm việc thu thuế nhiều tầng, nhiều loại nhưng cũng tránh thất thu ngân sách. Giảm nhẹ sự bóc lột của nhà giàu đối với người nghèo, giảm nhẹ sự bóc lột của nhà nước đối với bách tính. Xóa bỏ lao dịch, giảm nhẹ lao động khổ sai (chỉ dùng cho người có tội). Dung hòa quyền lợi nhà nước với làng xã, với các thành viên thôn xóm. Ta cũng chủ trương lâu dần hình thành chế độ sở hữu ruộng đất của nhà nước, đặt nền tảng xây dựng chế độ quân chủ để con cháu ta đời sau có thể bỏ chế độ Tiết độ sứ, thoát khỏi sự kiềm tỏa của Trung Nguyên mà xưng vương, xưng đế, gành độc lập hoàn toàn.
Để tiện cho việc quản lý của nhà nước, các gia đình phải lập sổ hộ khẩu, kê khai rõ quê quán, tên tuổi, số khẩu và mối quan hệ giữa các khẩu trong gia đình. Sổ hộ khẩu giao cho Trưởng giáp, Quản giáp trông coi, quản lý và thu thuế.
Ta ra lệnh cho các tướng lĩnh chú ý xây dựng phát triển lực lượng quân sự, giữ gìn biên cương, xây dựng cấm quân bảo vệ đô thành. Chính quyền Đại La sẽ có nhiều chính sách ưu ái đối với các hào trưởng và đồng bào ít người ở biên cương, tạo điều kiện cho chính quyền nơi đây vững mạnh, một lòng hướng về trung ương và đời sống đống bào được yên vui, no ấm.
Ta cũng hi vọng qua cải cách chính trị, kinh tế này sẽ tác động đến văn hóa và tinh thần của bách tính, tăng cường ý thức dân tộc, độc lập tự chủ, bảo vệ và xây dựng nền văn hóa mang màu sắc Việt của tổ tiên để lại. Qua đó, tăng cuờng sự liên kết, tạo sức mạnh cho sự ổn định vững vàng, bảo về độc lập tự chủ của dân tộc.
Nay kính cáo.
Đại La, niên hiệu Khúc Trung Chủ năm thứ 2”.
III
Trong khi Khúc Trung Chủ đang ra sức cải cách, xây dựng củng cố nền độc lập tự chủ thì Trung Nguyên đang lún sâu vào sự phân cát giữa các thế lực phong kiến. Năm 907, Chu Ôn giết Đường Ai Đế, cướp ngôi, lập ra ra nhà Hậu Lương là năm mở đầu cho cục diện 5 đời 10 nước (Ngũ đại thập quốc). Ngũ đại là phía Bắc Trung Quốc năm triều đại kế tục nhau: Hậu Lương do Chu Ôn sáng lập, tồn tại từ 907 đến 923. Lý Tồn Úc diệt nhà Hậu Lương thành lập nhà Hậu Đường (923-925).Tiếp theo Thành Kính Đường diệt nhà Hậu Đường thiết lập nhà Hậu Tấn (936-957). Sau đó Lưu Chí Viễn diệt nhà Hậu Tấn lập ra nhà Hậu Hán (957-979). Sau cùng Quách Uy diệt nhà Hậu Hán lập ra nhà Hậu Chu. Trong khi đó ở phía Nam Trung Quốc, gần như cùng một lúc ra đời 10 nước (Thập Quốc). Đó là nước Ngô (902-937) do Dương Hành Mật sáng lập, kinh đô Dương Châu, Nam Đường, Ngô Việt (907-978) do Tiền Lưu sáng lập, kinh đô Hàng Châu, Tiền Thục (903-925) do Vương Kiến sáng lập với kinh đô Thành Đô Phủ, Sở, Hậu Thục, Mân (909-945) do Vương Thấm Tri sáng lập, kinh đô Phúc Châu Kinh, Bắc Hán và Nam Hán (917-971) do Lưu Nghiễm (Lưu Cung) sáng lập với kinh đô Phiên Ngung (Quảng Châu). Năm 979 Triệu Khuông Dận diệt Hậu Chu, diệt Nam Hán, kết thúc Ngũ đại thập quốc, thống nhất Trung Quốc lập ra nhà Tống (979-1279).
Thời nhà Hậu Lương (907-923), Khúc Hạo cử một đoàn phái bộ sang Biện Kinh đề nghị nhà Hậu Lương công nhận chức Tiết độ sứ kiêm Đồng Bình Chương Sự của Khúc Trung Chủ. Ngày 1 tháng 9 năm 907, nhà Hậu Lương công nhận Khúc Hạo là Tiết Độ sứ An Nam đô hộ phủ.
Năm 917, Lưu Nghiễm (Lưu Cung) thành lập nước Nam Hán. Nước Nam Hán có biên giới giáp với An Nam nên Lưu Nghiễm có dã tâm xâm lược đối với xứ sở phương Nam quan trọng này để mở rộng đất đai. Để có quan hệ tốt với nước này, Khúc Hạo cử con là Khúc Thừa Mỹ và Đại tướng Ngô Mân đem lễ vật sang chúc mừng Lưu Nghiễm lên ngôi hoàng đế. Tháng 9 năm 917 lại cho Khúc Thừa Mỹ sang Nam Hán làm “Khuyến hiếu sứ” để bên ngoài thì kết hòa hiếu, bên trong thì do thám, nắm tình hình Nam Hán. Cuối năm 917, Khúc Hạo từ trần trong sự tiếc thương và đau buồn của bách tính, của các hào trưởng, của anh hùng hào kiệt xứ An Nam. Khúc Thừa Mỹ thay cha làm Tiết độ sứ An Nam. Khúc Hạo được tôn miếu hiệu là Khúc Trung Chủ.
Hai năm sau, một sáng năm 919, trong cung điện vàng son lấp lánh của kinh đô Phiên Ngung, hoàng đế Nam Hán Lưu Nghiễm thiết triều, bàn về những công việc trọng đại của quốc gia, đó là việc cử quân xâm lược An Nam. Lưu Nghiễm nói với triều đình văn võ vẻ tức giận:
-Giao Châu hàng nghìn năm nay là thuộc quốc của Trung Nguyên, đến đời Đường tách ra gọi là An Nam Đô hộ phủ đứng đầu là Tiết độ sứ. Năm 866 đời Đường Ý Tông gọi là Tĩnh Hải Quân. Năm 906, nhân cơ hội nhà Đường suy yếu, Tiết độ sứ Độc Cô Tổn bị quyền thần Chu Ôn triệu hồi và giết chết vì không cùng phe cánh. Nhân cơ hội đó, Khúc Thừa Dụ, một hào trưởng ở Hồng Châu đã nổi dậy chiếm thành Đại La, tự xưng Tiết độ sứ, giành quyền tự chủ. Từ đó cho đến nay, An Nam không chịu sự khống chế của một triều đại nào ở Trung Nguyên. Đất đai ở đó giàu có, nhiều vàng, bạc, châu báu, ngọc ngà, vừa có rừng, có đồng bằng, lại có biển, thật là một vị trí quan trọng hiếm có để mở rộng xuống phương Nam. Ta muôn đánh chiếm xứ này để mở rộng giang sơn Nam Hán, hai nữa là sử dụng sức người, sức của vào chiến tranh tranh hùng tranh bá với thập quốc. Các khanh thấy việc này có hợp ý trời không?
Tổng binh Lý Khắc Chính đứng dậy nói:
-Dạ muôn tâu thánh thượng, ở thời đại nào, các triều đại Trung Nguyên dù hưng thịnh hay suy yếu thì An Nam vẫn là Giao Châu, vẫn là thuộc địa của các triều đại. Nay Nam Hán ta đất đai không phải là rộng lớn lắm, cho nên chúng ta phải thâu tóm An Nam để mở rộng lãnh thổ, phục vụ cho sự phát triển trường tồn của Nam Hán ta. Hoàng thượng nên quyết tâm, thật là hợp ý trời và lòng người. Thần sẽ đi tiên phong trong công cuộc Nam chinh này.
Đại Tư mã Lý Tri Thuận cũng đứng dậy tấu:
-Bẩm hoàng thượng, vì lợi ích trước mắt và lâu dài của Nam Hán, dứt khoát phải đánh chiếm An Nam. Cái cớ để ta đánh An Nam hiện đã có. Thời Khúc Hạo đã giao hảo hữu hảo với ta nhưng nay Khúc Thừa Mỹ đã cắt đứt bang giao với Nam Hán ta. Tháng 9 năm 919, Khúc Thừa Mỹ sai sứ bộ sang Biện Kinh nhận Tiết việt của vua Hậu Lương. Mạt Đế Chu Hữu Trinh đã phong Tiết độ sứ Tĩnh Hải Quân cho Khúc Thừa Mỹ. Khúc Thừa Mỹ đã công khai gọi triều đình Phiên Ngung ta là Ngụy triều, là tiếm ngôi, không chính thống…
Lưu Nghiễm nghe xong tức giận đập bàn:
-Có chuyện đó sao?
Rồi Lưu Nghiễm nói thêm:
-Thực ra Khúc Thừa Mỹ có bang giao hữu hảo với ta thì cũng chẳng ích lợi gì, khi mà quyết đánh thì ta vẫn đánh. Có điều sự láo xược của Khúc Thừa Mỹ chỉ làm cho ta có cái cớ để tấn công mà thôi.
Rồi Lưu Nghiễm ra lệnh:
-Lý Khắc Chính và Lý Tri Thuận nghe chỉ: Nay phong Lý Khắc Chính làm Tiết độ sứ Giao Châu, Lý Tri Thuận làm Tư mã thống lĩnh 10 vạn quân tiến đánh Đại La, bắt Khúc Thừa Mỹ về Phiên Ngung trị tội!
-Dạ, chúng thần tuân chỉ.
Điều động binh mã thủy binh và bộ binh xong, Lý Khắc Chính nói với Lý Tri Thuận:
-Ta nay phụng mệnh đi Nam chinh, phải cố mà chiến thắng, nếu thất bại về thì không có đất mà chôn. Theo tướng quân, nay ta nên dùng mưu kế gì để giành thắng lợi?
Lý Tri Thuận đáp:
-Kiến thức dùng binh ở An Nam thì Khúc Thừa Mỹ là tầm thường, không đáng kể. Tướng giỏi của An Nam chỉ có Dương Đình Nghệ và Ngô Mân. Ngô Mân đã già yếu, chỉ còn Dương Đình Nghệ. Nay làm thế nào để tách đạo quân Khúc-Dương của Dương Đình Nghệ khỏi quân Khúc-Dương của Khúc Thừa Mỹ thì may ra mới có thể chiến thắng được. Muốn tách quân của Dương Đình Nghệ ra khỏi quân của Khúc Thừa Mỹ thì chỉ còn cách là nghi binh.
Lý Khắc Chính hỏi:
-Nghi binh như thế nào?
Lý Tri Thuận giở tấm sơ đồ An Nam ra chỉ tay và nói:
-Ta cho đạo bộ binh đánh vào Lục Châu, sau đó đánh vào Hồng Châu và phải dụ quân Khúc Thừa Mỹ giao chiến với ta tại Hồng Châu, trong khi đó 2/3 lực lượng thủy binh của ta bí mật tiến vào sông Bạch Đằng, theo sông Kinh Thầy đổ bộ lên Lục Đầu Giang đánh sau lưng quân của Khúc Thừa Mỹ. Bị đánh trước mặt và sau lưng, Khúc Thừa Mỹ chết là chắc.
Lý Khắc Chính lại hỏi:
-Còn làm sao tách được đội quân của Dương Đình Nghệ và Khúc Thừa Mỹ.
Lý Tri Thuận lại chỉ tay vào tấm sơ đồ và nói:
-Trước khi đổ bộ vào Lục Châu và Hồng Châu, ta cho 1/3 lực lượng Thủy quân đi gần bờ biển phao tin là sẽ đổ bộ vào Hoan Châu và từ Hoan châu đánh ra Bắc. Khúc Thừa Mỹ sẽ cử Dương Đình Nghệ vào mặt trận phía Nam để chặn quân ta. Thực ra quân ta sẽ không đổ bộ lên bờ ở Hoan Châu nhưng khi Dương Đình Nghệ biết được thì không kịp cứu ứng cho Khúc Thừa Mỹ vì đường quá xa. Khi đó Khúc Thừa Mỹ đã bị giết hoặc đã bị bắt.
Lý Khăc Chính hỏi:
-Vì sao tướng quân khẳng định Khúc Thừa Mỹ sẽ đi vào mặt trận Hồng Châu, còn Dương Đình Nghệ sẽ vào mặt trận Hoan Châu?
Lý Tri Thuận đáp:
-Khẳng định như vậy vì thứ nhất, Dương Đình Nghệ hiện đang ở quê mình là Ái Châu. Khúc Thừa Mỹ sẽ lệnh cho ông ta vào Hoan Châu vì từ Ái Châu vào Hoan Châu gần hơn một nửa đường từ Đại La vào Hoan Châu, thứ hai, Khúc Thừa Mỹ là vua của một nước, không thể đi chinh chiến xa mà chỉ có đến mặt trận Hồng Châu cho gần và thuận tiện hơn.
Lý Khắc Chính bái phục, cười ha hả:
-Kế hay, kế hay.Tướng quân quả là Chu Du tái thế, giỏi binh pháp và giỏi phân tích thực tiễn chiến trường. Cứ như vậy mà làm.
Lý Trị Thuận cười đáp:
-Không dám, không dám so sánh với tiền nhân.
Rồi hai tướng Nam Hán đem bộ binh tiến vào Hợp Phố vào Lục Châu rồi theo bờ biển tiến vào Hồng Châu. Trong khi đó đạo thủy binh phần lớn cải trang tiến vào sông Bạch Đằng, theo sông Kinh Thầy bí mật đến mai phục ở Kiếp Bạc Lục - Đầu Giang. Một phần nhỏ thủy binh dong cờ đánh trống, phao tin là sẽ đổ bộ vào Hoan châu và đánh ra từ phía Nam.
Lại nói Khúc Thừa Mỹ được tin thám mã báo quân Nam Hán đã vượt biên cương đánh vào Lục Châu, liền cho nổi trống ở thành Đại La triệu tập các tùy tướng vào đại sảnh đường bàn việc đánh giặc. Vừa khi đó một thám mã khác lại vào báo:
-Dạ bẩm Tiết độ sứ chúa công, quân Nam Hán do Lý Khắc Chính chỉ huy đã đánh vào Hồng Châu.
Khúc Thừa Mỹ hỏi:
-Còn đạo thủy binh có tiến vào sông Bạch Đằng không?
-Dạ bẩm, đạo thủy binh dong cờ đánh trống theo biển gần bờ đang tiến vào phía Nam, có tin đồn chúng sẽ đổ bộ đánh vào Hoan Châu.
Tùy tướngTrần Phương nói:
-Thông thường giặc Phương Bắc vào nước ta bao giờ cũng phối hợp bộ binh và thủy binh hỗ trợ cho nhau, Thủy binh bao giờ cũng tiến vào sông Bạch Đằng và vào Lục Đầu Giang để tiến sâu vào nội địa. Nay sao thủy binh của chúng lại đi vào phía nam xa xôi. Thần cho rằng chúng nghi binh để phân tán quân ta, để ta không cứu ứng được cho nhau.
Khúc Thừa Mỹ nói:
-Chúng chia quân để đánh cả Bắc và Nam hình thành thế gọng kìm kẹp quân ta vào giữa để tiêu diệt. May quá, Đại tướng Dương Đình Nghệ và quân Khúc Dương của ông đang trấn trị ở Ái Châu. Nay để cho Dương Đình Nghệ phòng thủ Ái Châu và sẵn sàng chi viện cho mặt trận Hoan Châu thì đường hành quân sẽ rất gần.Tướng quân phải giữ thành Đại La, còn ta sẽ tự cầm quân ra Hồng Châu chặn địch.
Đương Đình Nghệ đang ở Ái Châu, nghe tin Nam Hán sang xâm lược, đang định kéo quân ra Bắc thì thám mã đưa thư của Khúc Thừa Mỹ. Dương Đình Nghệ bóc thư ra đọc. Thư viết: “Thủy binh của địch đang tiến vào và sẽ đánh Ái Châu hoặc Hoan Châu, 5 vạn bộ binh đang tiến vào Hồng Châu. Tướng quân phòng thủ Ái Châu và sẵn sàng đánh địch ở Hoan Châu, ta sẽ chặn đánh địch ở Hồng Châu”. Dương Đình Nghệ còn bán tín bán nghi, cho rằng quân Nam Hán đang chơi trò nghi binh thì có tham mã về báo:
-Bẩm tướng quân, ngoài biển gần rất nhiều chiến thuyền quân Nam Hán đang tiến vào vùng biển Ái Châu.
Tin cuối cùng của thám mã đã làm cho Dương Đình Nghệ không tiến quân ra Bắc mà đành ở lại, không dám khinh suất trong việc bảo vệ hai châu quan trọng của nước nhà.
Còn ở Đại La, ngay ngày hôm đó, Khúc Thừa Mỹ dẫn ba vạn quân Khúc-Dương tiến về Hồng Châu. Chiều hôm đó, quân Việt đã tiến sâu vào vùng Kiếp Bạc - Lục Đầu Giang, quân Việt đã trông thấy quân Nam Hán đông nghìn nghịt với quân phục màu đen, cờ vàng viết chữ Nam Hán màu đen bay phần phật trong nắng chiều. Quân Nam Hán cũng trông thấy quân Việt quân phục màu nâu, cờ vàng viết chữ” KHÚC HẬU CHỦ” màu đen rợp trời bay phấp phới. Lý Khắc Chính chợt trông thấy phía sau quân Việt hai mũi tên có lửa bắn lên trời, tướng giặc biết rằng thủy quân của Lý Trị Thuận đã bổ bộ lên bờ và sẵn sàng đánh phía sau quân Việt. Không chờ dàn trận, Lý Khắc Chính trên ngựa phất cờ trỏ kiếm thét:
-Xông lên, giết!
Quân Hán đông như kiến cỏ xông lên như những làn sóng lao về phía quân Việt. Quân Việt dùng cung tên bắn trả khi quân Nam Hán còn ở xa. Hàng nghìn quân Nam Hán đổ gục bởi trúng tên. Những lớp quân sau tràn tới. Tiếng thanh la, tiếng reo hò, tiếng trống vang động, tiếng vũ khí chạm nhau tóe lửa, khô khốc, đầu rơi máu chảy, thân lính hai bên đổ gục. Thốt nhiên, trận địa quân Việt rối loạn phía sau vì bị quân Nam Hán đánh tập hậu. Quân Việt bị kẹp giữa hai gọng kìm. Tuy nhiên, họ vẫn kiên cường chiến đấu. Đây là một trận giáp lá cà khủng khiếp trong cuộc chiến tranh Việt-Nam Hán. Hai vạn quân Việt anh dũng hy sinh. Khoảng 3 vạn quân Nam Hán cũng bỏ mạng trong trận đánh này. Thây chất thành núi, máu chảy thành sông. Lý Khắc Chính quyết bắt sống Khúc Thừa Mỹ nên ra lệnh không được giết Tiết độ sứ. Các tướng bảo vệ Khúc Thừa Mỹ lần lượt hy sinh mà Tiết độ sứ không thể thoát vòng vây. Cuối cùng, bọn Nam Hán đâm chết con ngựa của Khúc Thừa Mỹ, con ngựa gục xuống, nó chảy những dòng nước mắt nhìn chủ nhân của nó rồi tắt thở. Khúc Thừa Mỹ bị hàng chục mũi giáo, mũi mác ghim chặt quanh khi ông nằm dưới đất. Lý Khắc Chính ra lệnh đỡ Khúc Thừa Mỹ đứng lên, trói ông lại và dẫn ông về bản doanh.
Dương Đình Nghệ đang ở Ái Châu, Ngô Mân già yếu đã về quê ở Đường Lâm, thành Đại La gần như vô chủ và không có quân phòng thủ. Khi Lý Khắc Chính và Lý Trị Thuận tiến về thành thì những kẻ phản bội hèn nhát đã mở cửa thành, đầu hàng giặc. Đó là mùa đông tháng 10 năm 923, thành Đại La mất, Khúc Thừa Mỹ thua trận và bị bắt, bị lưu đày sang Phiên Ngung, kinh đô Nam Hán. Nền tự chủ do họ Khúc xây dựng được 25 năm, trải qua ba đời Tiết độ sứ: Tiên Chủ Khúc Thừa Dụ, Trung Chủ Khúc Hạo, Hậu Chủ Khúc Thừa Mỹ. Lý Khắc Chính, Lý Trị Thuận tuy đánh bại được Khúc Thừa Mỹ, lấy được Đại La nhưng quyền kiểm soát không vượt quá thành này. Còn toàn bộ An Nam các hào trưởng vẫn làm chủ tình hình, cai trị ở các địa phương và bất hợp tác với giặc.
Lại nói Dương Đình Nghệ tuân lệnh Khúc Thừa Mỹ chỉ huy quân phòng thủ Ái Châu và Hoan Châu. Ông cho thám mã đi ra bờ biển phía Nam để dò xét tình hình thủy quân của giặc. Thám mã đi rồi về xin gặp. Dương Đình Nghệ đang ngồi trong hổ trướng. Ông nói:
-Cho vào!
Thám mã vào và nói:
-Bẩm tướng quân, suốt một vùng biển từ Ái Châu đến Hoan Châu không thấy bóng dáng một chiến thuyền nào của giặc. Chúng đã rút ra Bắc hết rồi ạ.
Đương Đình Nghệ đập bàn:
-Ta đã viết thư phúc đáp Tiết độ sứ nói đó là kế nghi binh của giặc, Tiết độ sứ không nghe. Nay tập trung quân đội, nhanh chóng hành quân ra Bắc để cứu Tiết độ sứ!
Vừa lúc đó một thám mã về báo:
-Bẩm tướng quân cấp báo, có tin đưa về Tiết độ sứ đã thua trận, hai vạn quân đã hy sinh trên chiến trường Hồng Châu, Tiết độ sứ bị giặc bắt, giặc đã chiếm thành Đại La.
Đương Đình Nghệ lặng người, một lát sau mới nói với Đinh Công Trứ và Phạm Bạch Hổ:
-Quốc gia lâm nguy rồi, chúng ta phải triển khai quân để chặn giặc tràn vào Ái Châu. Chúng ta không thể để mất Ái Châu và Hoan Châu được.
Đinh Công Trứ nói:
-Tướng quân nói phải lắm, còn Ái Châu và Hoan Châu thì còn có thể khôi phục được giang Sơn. Trận Hồng Châu chưa phải là trận cuối cùng giữa ta với quân Nam Hán.
Dương Đình Nghệ nói:
-Bây giờ tướng quân Đinh Công Trứ vào phòng thủ Hoan Châu.
Đinh Công trứ nói:
-Tuân lệnh chúa công.
Đinh Công Trứ điểm 5000 quân đi rồi. Dương Đình Nghệ cho một tùy tướng đem 5000 quân ra chấn giữ Tam Điệp, còn ông thì chuẩn bị tiếp ứng cho cả hai mặt trận. Nhưng chờ đợi lâu mà không thấy động tĩnh của quân Nam Hán. Thì ra tên Tiết độ sứ mới do vua Nam Hán bổ nhiệm là Lý Tiến và Tư mã Lý Khắc Chính chỉ đóng quân ở Đại La mà không dám tiến quân ra đánh những châu, huyện khác. Dương Đình Nghệ nói với các thuộc hạ:
-Bây giờ thuận đường chúng ta có thể tiến ra đánh giặc lấy lại thành Đại La, báo thù cho Khúc Hậu Chủ, không biết có nên không?
Phạm Bạch Hổ nói:
-Chúa công nên xem xét lại, quân giặc vừa thắng lớn, khí thế đang lên, quân ta vừa thua to, thiệt hại lớn, Khúc Hậu Chủ bị bắt, bị cầm tù, lòng quân dân đang phiêu tán. Quân ta còn ít, tổ chức huấn luyện chưa tốt. Nếu đánh mà không thắng được thì không còn lực lượng và cơ hội để khôi phục lại độc lập. Chi bằng chờ một thời gian để huấn luyện, tổ chức tốt quân Khúc -Dương, chiêu mộ thêm nhiều tướng giỏi. Khi đánh mà chắc thắng thì khi đó tiến công.
Tùy tướng Trương Bằng nói:
-Ái Châu là đất bản bộ, quê hương của chúa công, chúa công hay tạm lui về làng Giàng Dương Xá, chiêu mộ hiền tài dũng sĩ, anh hùng hào kiệt, chiêu mộ thêm lính tráng, thao luyện cho tinh nhuệ, thiện chiến, thứ nữa là chúa công phải kiên quyết giữ vững Ái Châu, Hoan Châu làm hậu phương tính kế lâu dài, thu hút được lòng dân và hào trưởng cả nước thì lấy lại thành Đại La chỉ một sớm một chiều.
Dương Đình Nghệ nói:
-Các tướng nói chính hợp ý ta, thôi thì cho quân Nam Hán ngủ nhờ vài đêm ở Đại La vậy.
Rồi Dương Đình Nghệ đem quân về quê hương của mình là làng Giàng có thành Tư Phố là trấn trị của Ái Châu, có con sông Mã nổi tiếng. Sông này bắt nguồn từ nước Ai Lao (Lào) chảy qua Ái Châu và đổ ra biển Đông. Sông dài 1024 dặm, chảy qua Ái Châu 820 dặm. Phụ lưu của sông Mã là sông Chu cũng bắt nguồn từ Ai Lao, chảy vào Ái Châu và hợp lưu với sông Mã ở Ngã Ba Giàng. Từ Ngã Ba Giàng xuôi xuống là một vùng đất rộng lớn với xóm làng xanh tươi cây cối, tre trúc đẹp tươi bên hữu ngạn sông Mã. Đó chính là làng Giàng, quê hương của Dương Đình Nghệ. Làng Giàng có thành Tư Phố là trấn trị bao đời của phong kiến phương Bắc ở quận Cửu Chân xưa và nay là Ái Châu. Tổ Tiên Dương Đình Nghệ là Dương Thanh, người đã nổi tiếng yêu nước, từng nổi dậy chống lại nhà Đường năm 819-820. Đến đời ông Dương Đình Thiện vốn là hào phú ở Long Vĩ, châu Cổ Pháp, Vũ Ninh. Năm 894 gia đình Dương Đình Nghệ dời về làng Giàng (Thiệu Dương, Thiệu Hóa) Ái Châu. Dương Đình Nghệ sinh ngày 10 tháng 10 năm Giáp Ngọ (874). Như vậy, từ Cổ Pháp Bắc Ninh, năm 10 tuổi Dương Đình Nghệ theo gia đình về định cư ở làng Giàng. Dương Đình Nghệ sớm có lòng yêu nước, thương dân, ngưỡng mộ sự nghiệp của họ Khúc. Ông trở thành bộ tướng tin cậy của Khúc Thừa Dụ, Khúc Hạo và Khúc Thừa Mỹ. Họ Khúc cũng phải dựa vào Dương Đình Nghệ trong việc đánh chiếm Đại La, trong việc xây dựng củng cố tự chủ độc lập, trong việc xây dựng quân đội Khúc-Dương. Họ Khúc cũng dựa vào Dương Đình Nghệ để vươn thế lực và quản lý Ái Châu, Hoan Châu.
IV
Tám năm sau.
Vào một buổi sáng mùa hè, toàn bộ làng Giàng, Dương Xá chìm trong màu xanh cây lá, ánh nắng rải xuống làm không gian trắng lấp lánh lung linh. Sông Mã vẫn lững lờ đổ nước về Đông, những dòng nước chảy xiết chồm lên như vó ngựa. Núi Ngũ Hoa, núi Voi, núi Ngựa, núi Rùa vươn mình xám trắng trong mây và nắng, phía tây, núi Trịnh, núi Vòm mờ ảo như sương khói. Thành Tư Phố vươn lên bề thế, quyền lực nhưng phủ đầy rêu phong nhuốm bụi thời gian. Dinh thự của dòng họ Dương ở Dương Xá chìm trong cây cối, tre trúc xanh rờn, êm ả , bình yên.
Sáng nay, Ngô Quyền, một tùy tướng và là con rể của Dương Đình Nghệ được lệnh của chúa công đi kiểm tra thao trường, còn gọi là “Trường đấu vật”, là nơi huấn luyện quân đội Khúc -Dương và hơn 3000 võ sĩ từ khắp nơi kéo về Dương Xá tụ nghĩa. Ngô Quyền sinh năm 898, là con của Ngô Mân, một hào trưởng được người dân mến phục ở Đường Lâm, Phong Châu. Ngô Quyền là người có dung mạo khác thường, khôi ngô tuân tú, mắt sáng như chớp, dáng đi thong thả như hổ, trí dũng hơn người, sức khỏe có thể nâng được vạc nặng. Ngô Mân về với Khúc Thừa Dụ trong cuộc hội quân ở Lỗ Xá tiến đánh Đại La năm 906, cũng là một gia tướng thân cận của dòng họ Khúc, đã nhiều lần cầm đầu phái bộ sứ giả sang Lạc Dương, kinh đô nhà Đường để đề đạt Đường Ai Đế công nhận chức Tiết độ sứ của Khúc Thừa Dụ, sang Biện Kinh buộc nhà Hậu Lương, Lương Thái Tổ Chu Ôn công nhận chức Tiết độ sứ của Khúc Hạo, đem Khúc Thừa Mỹ sang Phiên Ngung giao hảo với nhà Nam Hán và gửi Khúc Thừa Mỹ làm “Khuyến Hiếu sứ’. Ông tổ bốn đời của Ngô Quyền là Ngô Nhật Đại, quê ở châu Phúc Lộc (Hà Tĩnh). Năm 713, Ngô Nhật Đại tham gia khởi nghĩa của Mai Hắc Đế chống nhà Đường. Cuộc khởi nghĩa thất bại, Ngô Nhật Đại phải chạy ra Ái Châu làm nghề dạy học. Ngô Nhật Đại sinh ra Ngô Nhật Dụ, Ngô Nhật Dụ sinh ra Ngô Đình Thực, Ngô Đình Thực sinh ra Ngô Đình Mân. Ngô Đình Mân lấy vợ quê Đường Lâm, Mê Linh, Phong Châu, về sống ở quê vợ và sinh ra Ngô Quyền.
Năm 923, Ngô Mân xin cáo quan về nghỉ ở quê nhà do già yếu. Ngô Mân cũng là bạn tâm phúc với Dương Đình Nghệ, khi về ông giao Ngô Quyền khi đó mới 24 tuổi cho Dương Đình Nghệ, nhờ Dương Đình Nghệ dìu dắt trên con đường đi của chàng thanh niên trẻ tuổi tài ba. Bây giờ Ngô Quyền đã là bộ tướng tâm phúc và là con rể của Dương Đình Nghệ.
Trong khi chờ đợi các võ sĩ tập trung về “Trường đấu vật” luyện tập, Ngô Quyền đi ra bờ sông Mã, ngồi trên một phiến đá, ngắm cảnh đẹp của sông nước, của trời đất làng mạc và suy tư. Phải nói trời đất phong cảnh xứ Ái Châu thật là tươi đẹp, cảnh đẹp nước non sông núi trữ tình đó được thu nhỏ ở làng Giàng, Dương Xá. Sông Mã trong xanh cuồn cuộn nước như từ trên trời rót xuống chồm lên như vó ngựa chảy về Đông. Những ngọn núi xa, núi gần như những ngọn tháp nhô mình trong nắng gió, khói sương, hiên ngang bất khuất, thách thức với phong ba bão táp, với thời gian. Làng Giàng bao phủ một màu xanh mênh mông mát mắt và chìm dưới đó là những nhà lợp gianh, lợp ngói. Ngô Quyền nhớ lại mà thấy thời gian trôi nhanh quá. Khi theo cha về đây, chàng mới 24 tuổi, bây giờ đã tám năm trôi qua. Tại bờ sông Mã nên thơ này, bên Cầu Trăng, chàng đã ngẫu nhiên may mắn gặp được tiểu thư, con gái Dương Đình Nghệ, nổi tiếng tài sắc xinh đẹp, nết na đoan trang. Đó là tiểu thư Dương Thị Như Ngọc, em gái Dương Tam Kha. Hôm đó, Ngô Quyền cũng đang ngồi ngắm cảnh đẹp thì tiểu thư cưỡi ngựa đi qua. Thốt nhiên, con ngựa lồng lên, tiểu thư sắp bị hất xuống đất. Ngô Quyền bằng miếng võ phi thân nhanh như cắt đã tiếp cận và ghì cương con ngựa. Chàng xoa xoa thân thiết vào đầu con ngựa. Con ngựa màu hồng khỏe mạnh tuyệt đẹp như bị thôi miên, dừng lại và trở nên hiền lành, nhìn Ngô Quyền như chủ nhân thân thiết lâu ngày của nó. Dương Thị Như Ngọc e lệ cảm tạ và khi nàng nhìn rõ Ngô Quyền, nàng bỗng nhiên đỏ mặt, tim đập loạn xạ. Trước mắt nàng là một thanh niên khôi ngô tuấn tú, dáng khỏe mạnh như một võ tướng. Khi hỏi ra thì Dương Thị Như Ngọc mới biết đó là nha tướng của cha và đang ở trong nhà mình. Ngô Quyền cũng nghe nói chúa công của mình có một cô con gái xinh đẹp hương trời sắc nước đến mức hàng ngày, hàng tháng, Dương Đình Nghệ phải tiếp không biết bao nhiêu khách khứa, nào là hào trưởng trẻ tuổi, nào là công tử đến xin làm con rể nhưng vẫn chưa ai lọt vào mắt xanh của tiểu thư. Hôm nay được gặp mặt, Ngô Quyền cảm thấy choáng váng trước sắc đẹp đoan trang lộng lẫy của nàng. Lần đầu tiên trong đời Ngô Quyền bối rối, tim cũng đập liên hồi. Dương tiểu thư cũng cảm nhận được điều đó, nàng e ấp từ biệt Ngô Quyền. Ngô Quyền nhìn theo bóng nàng cho đến khi khuất nẻo. Sau lần đó, hai người yêu nhau và năm 925, được phép của thân mẫu và gia đình, hai người thành phu thê, đến nay đã có hai con trai cũng khôi ngô tuấn tú như cha.Tên chúng là Ngô Xương Ngập, Ngô Xương Văn. Làng Giàng, Dương Xá Ái Châu thật là một nơi đầy kỷ niệm đẹp trong cuộc đời chinh chiến của Ngô Quyền. Ái Châu thật là quê hương thứ hai của chàng. Tiếc rằng nay Ngô Mân, người cha kính yêu của chàng, người bạn tri kỷ của Dương Đình Nghệ đã qua đời.
Trống thúc vang dồn dập ở “Trường đấu vật” làm Ngô Quyền trở về với thực tại. Ngô Quyền đứng đậy đi về thao trường thì một gia nhân của Dương Đình Nghệ chạy lại báo:
-Bẩm tướng quân, chúa công Dương Đình Nghệ mời tướng quân về đại sảnh có việc gấp.
Ngô Quyền đáp:
-Đa tạ, ta biết rồi.
Rồi Ngô Quyền đi vội về sảnh đường cũng là phòng khách của Dương Đình Nghệ.
Sảnh đường là gian phòng rộng tường gạch quét vôi trắng lợp ngói vẩy cá, cột bằng gỗ lim nâu bóng. Dương Đình Nghệ và ba vị khách đã ngồi ở hai chiếc ghế tràng kỷ bằng gỗ gụ, giữa đặt một chiếc bàn rộng cũng bằng gỗ quý, chạm khắc hoa văn và khảm xà cừ bóng loáng. Dương Đình Nghệ và ba vị đang uống nước chè xanh. Ngô Quyền quen biết gần hết những người ngồi trên ghế khách. Một người là Đinh Công Trứ, quê quán Trường Châu, người nữa là Phạm Bạch Hổ người ở Đằng Giang, Hồng Châu, người thứ ba là Kiều Công Tiễn, quê quán Bạch Hạc, Phong Châu. Ngồi đối diện với ba người là Dương Đình Nghệ và ngồi cạnh là ba con trai của ông: Dương Nhất Kha, con trưởng, Dương Nhị Kha, con thứ hai và Dương Tam Kha con thứ ba. Cả ba đều là anh của tiểu thư Dương Thị Như Ngọc. Ngô Quyền chắp tay chào nhạc phụ, chào các quý khách, chào các huynh. Mọi người chào lại và Ngô Quyền lễ phép ngồi cạnh Dương Tam Kha. Khi đó Dương Đình Nghệ mới nói:
-Sau thất bại năm 923 của Khúc Hậu Chủ, chúng ta lùi về đây chuẩn bị lực lượng để phản công, đánh lấy lại thành Đại La từ tay quân Nam Hán, trả thù cho Khúc Hậu Chủ, giành lại quyền tự chủ độc lập. Qua tám năm chuẩn bị, bây giờ chúng ta đã có 5 vạn quân, đặc biệt chúng ta có 3000 nghĩa dũng mà họ nhận ta là nghĩa phụ, ta cũng nhận họ là nghĩa tử. Nét đặc biệt của 3000 người này là võ nghệ cao cường, sức chiến đấu dẻo dai, trèo thành vượt sông dễ dàng, kỹ thuật chiến đấu chính xác mạnh mẽ mà người lính thường không thể có. Vũ khí và lương thực của quân Khúc-Dương đã đầy đủ. Về phía quân Nam Hán, trong tám năm qua, thế và lực của chúng không vượt quá thành Đại La. Toàn bộ đất nước vẫn thuộc quyền quản lý của quan lại và các hào trưởng người Việt. Theo các thám mã về báo thì các quan lại và các hào trưởng sẵn sàng ủng hộ chúng ta tiến đánh Đại La, bách tính cũng mong mỏi chúng ta sớm giải phóng Đại La để nhổ đi cái gai ung nhọt trong cơ thể. Nay thời cơ đã đến, ta quyết định tấn công Đại La. Nay ta phân công các tướng lĩnh chỉ huy các mũi tấn công như sau:
-Đạo thứ nhất, Ngô Quyền chỉ huy 1 vạn quân, 1000 võ sĩ là đạo chủ lực tấn công cửa Đông là cửa chính của thành.
-Đạo thứ hai do Dương Tam Kha chỉ huy 5000 quân và 1000 võ sĩ tấn công cổng phía Nam của thành.
-Đạo thứ ba do Đinh Công Trứ chỉ huy 5000 quân và 1000 võ sĩ tấn công cổng thành phía Tây.
Kiều Công Tiễn nói:
-Thưa nghĩa phụ, còn con làm gì ạ, con xin được chỉ huy tấn công cửa Bắc của thành.
Dương Đình Nghệ khẽ cười và nói:
-Con sẽ ở trong quân với ta để giúp việc, đó cũng là công việc quan trọng. Cửa phía Bắc không cần vây đánh. Binh pháp đã nói là khi đánh thành phải để một cửa thoát cho kẻ địch để chúng không quyết tử giữ thành, ta sẽ đỡ thiệt hại mà vẫn chiến thắng.
Đương Đình Nghệ nói tiếp:
-Thành Đại La là một thành trì vừa để cố thủ vừa có thể tấn công. Là thủ phủ của An Nam Đô hộ phủ. Đại La ban đầu do Trương Bá Nghĩa xây dựng từ năm Đại Lịch thứ hai đời Đường Đại Tông (767). Năm Trường Khánh thứ tư đời Đường Mục Tông (824), Lý Nguyên Gia dời phủ trị đến bên sông Tô Lịch, xây một thành nhỏ gọi là La Thành, sau đó Cao Biền, Tiết Độ sứ nhà Đường cho đắp lại cao to hơn. Nay thành Đại La có chu vi 1982,5 trượng, cao 2,6 trượng, chân thành rộng 2,5 trượng, nữ tường (bức tường nhỏ đắp trên bốn mặt thành, có lỗ để quan sát và bắn tên xuống) cao 5,5 thước với 55 ụ vọng địch, 6 nơi úng môn, 3 hào nước, 34 đường đi trong thành. Cao Biền còn cho đắp đê vòng ngoài thành dài 2.125,8 trượng, đê cao 1,5 trượng, chân đê rộng 2 trượng. Trong thành có 4 vạn gian nhà.
Dương Tam Kha nói:
-Quả nhiên thành Đại La cực kỳ kiên cố. Ba đạo quân dũng mãnh như vậy nhưng phải có mưu kế gì để hạ thành đây?
Kiều Công Tiễn nói:
-Vậy chúng ta cứ bao vây thành, chờ chúng hết lương thực, chúng chết đói, ta sẽ bắt chúng dễ như thò tay vào túi lấy đồ vật.
Dương Đình Nghệ nói:
-Chúng ta bao vây lâu ngày không được vì thám mã báo Lý Tiến biết ta sẽ tấn công thành nên đã gửi thư xin Lưu Nghiễm tiếp viện. Khi ta bao vây mà quân tăng viện sang, quân ta bị đánh cả trước mặt và sau lưng sẽ rất khó khăn, có nguy cơ thất bại.
Ngừng một lát, Dương Đình Nghệ uống ngụm nước chè xanh và nói tiếp:
-Đối với Lý Tiến và Lý Khắc Chính, khi ta tiến công thì chúng có hai khẳ năng đối phó, thứ nhất là mở cổng thành đem quân ra ngoài thành tiếp chiến với Ngô Quyền. Khi Lý Khắc Chính mở cổng thành ra thì 3000 dũng sĩ với kỹ thuật tác chiến dũng mãnh của mình từ hướng Tây và hướng Nam, xông thẳng sang cửa Đông, dùng ván che tên đạn xông thẳng vào cổng thành đã mở và giữ chặt không cho đóng lại để đạo quân của Dương Tam Kha ở cửa Nam xông vào chiếm thành, đạo quân của Đinh Công Trứ ở cửa Tây xông sang cổng thành phía Đông đánh tập hậu sau lưng quân của Lý Khắc Chính. Như vậy, quân ta cầm chắc phần chiến thắng.
Khả năng thứ hai, Lý Tiến và Lý Khắc Chính cố thủ, không ra đánh chờ viện binh thì quân ta cũng không thể bao vây lâu được, phải diệt thành trước để rút lực lượng ra đánh địch từ Phiên Ngung kéo sang. Trong trường hợp này cũng dùng 3000 võ sĩ mang ván và dùng giáp che tên đạn kiến quyết tấn công dũng mảnh, dùng chất cháy và rơm rạ đốt cổng thành để quân ta tràn vào chiếm thành. Khả năng thứ hai này đòi hỏi hy sinh nhiều hơn, chiến đấu quyết liệt hơn nhưng cũng sẽ chiến thắng. Cho nên tướng Dương Tam Kha và Đinh Công Trứ phải lệnh cho 2000 võ sĩ ngoài vũ khí thì phải mang theo ván, chất cháy, rơm rạ.
-Bây giờ cho quân sĩ ăn cơm, chuẩn bị và đêm nay hành quân đánh thành Đại La. Các tướng lĩnh đồng thanh: -Dạ, xin tuân lệnh chúa công. Sau bữa cơm trưa, tiếng trống, thanh la, tiếng tù và của quân đội Khúc-Dương vang lên khắp Dương Xá, làng Giàng, 5 vạn quân khỏe mạnh hiên ngang quân phục màu nâu, mang áo giáp đồng vàng óng, mũ nhọn, gươm giáo cung tên, hành quân nườm nợp dưới bóng những lá cờ vàng mang chữ Khúc đậm nét màu đen. Đi đầu mỗi hàng quân là Đinh Công Trứ, Dương Tam Kha và Ngô Quyền. Dương Đình Nghệ, Kiều Công Tiễn, Phạm Bạch Hổ đi trung quân, trên đầu có lá cờ vàng to viết chữ Soái bay phần phật theo gió. Bách tính làng Giàng và dọc đường thiên lý từ Ái Châu ra Đại La đem chè nước, bánh trái ra úy lạo. Toàn An Nam bước vào một mùa hè nóng bỏng với quyết tâm đánh bại Nam Hán, giành lại La Thành.V
Trong Đại sảnh đường của thủ phủ thành Đại La phơi bày sự sang trọng choáng ngợp của các đồ vật trang trí trưng bày như vàng, bạc, ngà voi, sừng tê giác, ngọc ngà châu báu, những bàn ghế gỗ lim chạm khắc hoa văn cầu kỳ, khảm trai bóng loáng. Thứ sử Lý Tiến và Tư mã Lý Khắc Chính đang ngồi bàn về việc thành Đại La bị Dương Đình Nghệ tiến đánh trong nay mai. Lý Tiến nói:
-Thám mã về báo Dương Đình Nghệ đã đem 5 vạn quân, 3000 dũng sĩ với những tướng tài giỏi như Đinh Công Trứ, Dương Tam Kha, Ngô Quyền, Phạm Bạch Hổ đang tiến về thành Đại La. Cũng may trước đó, ta đã cho người về Phiên Ngung xin quân cứu viện.
Lý Tiến vừa dứt lời thì có thám mã hốt hoảng về báo:
-Dạ bẩm Thứ sử cùng Tư mã, Dương Đình Nghệ đã dàn quân ở phía Đông thành, cách Đại La chừng một dặm.
Lý Khắc Chính nói:
-Đã đến mức này mạt tướng xin đem ba vạn quân ra ngoài thành phá địch.
Lý Tiến nói:
-Ta nên cố thủ chờ viện binh tới, trong đánh ra, ngoài đánh vào mới thắng được.
Lý Khắc Chính gạt đi:
-Cố thủ sẽ làm mất nhuệ khí quân ta.Thứ sử không thấy cách đây bảy năm chỉ một trận là phá tan quân của Khúc Thừa Mỹ đó sao. Vả lại, nay quân địch hành quân từ Ái Châu ra đây đã mỏi mệt. Lấy quân nhàn hạ đánh quân mỏi mệt thì ắt thắng lợi. Đây là điều mà binh pháp đã dạy.
Lý Tiến nói:
-Thôi thì tùy tướng quân quyết định, nhưng nhớ là nếu ra ngoài mà thấy yếu thế thì phải rút ngay vào thành cố thủ
-Đa tạ lời khuyên của Thứ sử. Thứ sử yên tâm, mạt tướng biết cách phải làm như thế nào.
Rồi Lý Khắc Chính điểm 3 vạn quân cùng các tùy tướng mở cổng thành xông ào ạt như vũ bão về hướng Đông, nhìn thấy Dương Đình Nghệ đã dàn quân hình chữ nhất đông như kiến cỏ. Dương Đình Nghệ đứng dưới lá cờ vàng có chữ Soái. Quân Khúc-Dương đứng dưới hàng vạn lá cờ cũng màu vàng với chữ Khúc-Dương màu đen bay phần phật trong gió. Quân Việt rất khí thế hiên ngang. Lý Khắc Chính hơi chột dạ nhưng vẫn quát to:
-Dương Đình Nghệ, vua ta đã phong cho nhà ngươi làm Thái thú trông coi Ái Châu, sao lại làm phản?
Dương Đình Nghệ quát to:
-Ai bắt thằng giặc này cho ta, rửa hận cho Khúc Hậu Chủ?
Một tướng trẻ tuổi khôi ngô tuấn tú, oai phong lẫm liệt phi thường, cưỡi con ngựa dũng mãnh màu hồng, múa đại đao xông ra. Mọi người nhìn ra đó chính là Ngô Quyền, con ngựa màu hồng chính là con ngựa của tiểu thư Dương Thị Như Ngọc. Lý Khắc Chính cũng mua đao trên lưng con ngựa màu đen xông ra. Hai ngựa và hai người xáp nhau, hai thanh đao chạm nhau tóe lửa, phát ra những tiếng kêu khô khốc, tiếng reo hò của quân sĩ, tiếng thanh la, tiếng trống, tiếng tù và vang động cả đất trời Đại La. Thốt nhiên trong hàng quân Việt, hai phát tên châm lửa bay vút lên không trung. Nhận được tín hiệu, 3000 dũng sĩ phi như bay từ nơi dấu quân từ hướng tây sang hướng đông. 1000 quân dùng cung cứng nỏ mạnh bắn lên mặt thành, qua lỗ của các nữ tường tiêu diệt quân địch, 1000 dũng sĩ dùng ván che tên đạn xông vào cổng thành còn mở giết lính gác xông vào, theo sau là 1 vạn quân của Đinh Công Trứ lao vào chém giết. Trong khi đó 1000 dũng sĩ cùng 1 vạn quân của Dương Tam Kha ào ạt đánh tập hậu vào quân của Lý Khắc Chính. Thế trận quân Nam Hán tan vỡ rối loạn. Lý Khắc Chính thấy vậy phân tâm, bị hở sườn, bị Ngô Quyền lia một nhát đại đao, đầu rơi xuống đất. Quân Việt reo hò xông lên chém giết. Quân Nam Hán chạy về thành nhưng thành đã bị quân Việt chiếm. Quân Nam Hán đại bại, 3 vạn quân kẻ bị giết, kẻ nhảy xuống sông Tô Lịch chết đuối, 5000 quân bị bắt. Dương Đình Nghệ cho tìm Lý Tiến nhưng không thấy. Có thể Lý Tiến đã mở cửa Bắc tháo chạy ngay từ khi Lý Khắc Chính đem quân xuất trận ra khỏi thành.
Dương Đình Nghệ vào thành Đai La ra sức ổn định tình hình sau trận chiến. Bỗng có thám mã về báo:
-Dạ, bẩm báo chúa công, vua Nam Hán đã sai Thừa chỉ Trần Bảo đem 5 vạn quân đã tiến vào đất Lạng Châu.
-Chúng tiến đến đâu rồi?
-Dạ chúng vượt qua Quỷ Môn Quan rồi ạ.
Dương Đình Nghệ nói:
-Ta bận đánh thành Đại La để Trần Bảo qua được Quỷ Môn Quan, nhỡ một cuộc mai phục tiêu diệt chúng ở đấy. Tiếc quá.
Quân sư Phạm Bạch Hổ nói:
-Bẩm chúa công vẫn chưa muộn. Trên đường từ Lạng Châu tiến về Vũ Ninh, có rất nhiều địa thế hiểm trở có thể mai phục được.
Dương Đình Nghệ ra lệnh:
-Tướng quân Ngô Quyền, Đinh Công Trứ, hai người đem 3 vạn quân lên Lạng Châu chống giặc. Giặc có 5 vạn quân, thế rất mạnh. Ngoài dùng sức, các tướng quân phải dùng mưu, đặc biệt là chọn địa hình hiểm trở mai phục, tập kích thì mới có thể chiến thắng được.
Ngô Quyền và Đinh Công Trứ đáp:
-Xin tuân lệnh chúa công.
Ngô Quyền và Đinh Công Trứ ngay hôm đó đã dẫn 2000 dũng sĩ, 3 vạn quân rời khỏi thành Đại La, vượt sông Cầu và hành quân gấp lên Vũ Ninh. Quân đi rầm rập, gió bụi, cờ bay rợp trời, người ngựa nườm nượp dưới nắng hè chói chang. Đến gần hết địa phận Vũ Ninh, sang địa phận huyện kê Từ và Lạng Châu, Ngô Quyền cho quân dừng lại và ngồi trên ngựa quan sát địa hình và nói với Đinh Công Trứ.:
-Chỗ này có thể là đất tử địa của địch. Tướng quân cho quân mai phục, tôi lên khiêu chiến kéo quân Trần Bảo vào trận địa cho tướng quân tiêu diệt.
Đinh Công Trứ gật gù:
-Tướng quân nói chí phải.
Ngô Quyền dẫn một vạn quân đi tiếp lên phương Bắc. 2 vạn quân và 1000 dũng sĩ do Đinh Công Trứ chỉ huy bố trí mai phục hai bên sườn núi rừng rất hiểm trở trên đoạn đường dài khoảng 2 dặm chờ địch. Đi một dặm đường, quân Ngô Quyền đã trông thấy quân Nam Hán cờ vàng rợp trời, giữa các lá cờ ghi chữ Lưu- Nam Hán màu đen. Thấy quân Việt, quân Nam Hán dàn trận. Tướng Kiều Công Thuận xông ra quát:
-Giặc Trần Bảo ra đây chịu trói đi!
Trần Bảo thân hình cao lớn, mặc áo giáp đen, chiến bào màu xanh, đội mũ đâu mâu màu đồng, cưỡi ngưạ màu nâu, sử dụng giáo dài xông ra và quát bằng tiếng Hán, không ai hiểu hắn nói gì. Hai ngựa xáp nhau, hai người vung dao và giáo chạm nhau tóe lửa. Quân sĩ reo hò, chiêng trống vang động rừng núi. Được 10 hiệp, Kiều Công Thuận núng thế quay ngựa chạy, Trần Bảo tế ngựa đuổi theo, 5 vạn quân Hán nhất tề xông lên đuổi theo quân Việt và ngày càng lọt vào con đường thiên lý nhỏ hẹp. Thốt nhiên hai bên rừng núi rậm rạp chiêng trống vang lừng. Quân của Ngô Quyền đang chạy quay lại, quân Việt mai phục bên sườn đồi, thấy quân Nam-Hán đã lọt vào trận địa liền trút những trận tên như mưa xuống quân giặc. Hàng nghìn quân Nam Hán gục xuống đường tắc nghẽn lối đi, máu chảy như suối. Tiếp đó, quân Việt ba bên lao vào chém giết, tiếng sắt thép chạm nhau khô khốc, tiếng reo hò và tiếng trống như sấm rền bão cuốn, thây quân Nam Hán tiếp tục đổ xuống. 5 vạn quân Nam Hán bị xé nát đội hình, tan tác. Trần Bảo cùng các tùy tướng mở đường máu mới chạy thoát về phía Bắc. Ngô Quyền đánh trống thu quân. Khoảng 3 vạn quân Nam Hán chết tại trận, phía quân Việt khoảng 2000 chiến sĩ đã hy sinh. Trời đã tối. Trần Bảo cho quân tụ họp ở một thung lũng không thành trì, không rào chắn dựng lều trại ăn uống nghỉ ngơi. Trần Bảo nói với các tùy tướng:
-Ta vừa thua xong, Ngô Quyền vừa thắng, khí thế đang lên, thế nào đêm nay cũng sẽ đến cướp trại quân ta, ta sẽ mai phục thế nào cũng bắt được Ngô Quyền.
Trần Bảo vẫn cho đốt đèn đuốc trong trại, để lại một ít quân, còn tất cả lui ra mai phục xung quanh lều trại chờ quân Việt.
Thám mã về báo cho Ngô Quyền và Đinh Công Trứ:
-Dạ, bẩm hai tướng quân, quân Nam Hán dồn hết vào thung lũng và hạ trại ăn uống nghỉ ngơi.
Đinh Công Trứ bảo Ngô Quyền:
-Quân Giặc vừa thua một trận còn choáng váng, đêm nay ta vào cướp trại chắc toàn thắng.
Ngô Quyền đáp:
-Trần Bảo là tướng mưu lược nên chắc đã có đề phòng, ta cứ cho 1000 dũng sĩ võ nghệ cao cường 1 địch 10 vào cướp trại, khi Trần Bảo đem quân mai phục xuống núi đánh các dũng sĩ của ta thì gần 3 vạn quân ta từ ngoài đánh vào, trong đánh ra, ngoài đánh vào, phen này Thừa chỉ Trần Bảo chắc chết.
Đinh Công Trứ nói:
-Kế hay lắm.
Canh ba đêm đó, 1000 dũng sĩ im lìm vào doanh trại sáng đèn lửa của quân Nam Hán. Nhưng đó là doanh trại trống rỗng. Theo kinh nghiệm, 1000 dũng sĩ liền nằm xuống để tránh những trận mưa tên của quân mai phục. Sau những trận mưa tên thì những hồi trống nổi lên, gần 2 vạn quân Nam Hán ào ạt xông xuống chém giết. 1000 dũng sĩ vùng dậy quyết chiến. Đó là những dũng sĩ có võ nghệ phi thường, lại mặc áo giáp hai lần nên không hề bị thương tích, liền hăng hái chếm giết nên quân Nam Hán gục đổ như thân chuối trước những đường gươm như chớp, như mưa gió của họ. Quân Nam Hán đông như kiến cỏ đang cố vây hãm để tiêu diệt họ. Thốt nhiên, thế trận quân Nam Hán rối loạn, gần 3 vạn quân Việt từ bên ngoài đánh vào. Quân Nam Hán bị trong đánh ra, ngoài đánh vào rối loạn và chết như ngả rạ, thây chồng như núi, máu chảy thành suối. Quân giặc cố phá vòng vây nhưng không được. Trần Bảo đang cùng các tùy tướng cố mở đường máu để chạy, một dũng sĩ Việt dương cung cực mạnh bắn bừa vào một tướng trên đầu có lá cờ chữ Soái. Chính tướng đó là Trần Bảo. Đang tả xung hữu đột, Trần Bảo bị trúng tên vào mặt ngã lăn xuống đất. Gần sáng cuộc hỗn chiến kết thúc. Cả chiến dịch, 5 vạn quân Nam Hán và Tổng chỉ huy Thừa chỉ Trần Bảo và nhiều tùy tướng tử trận. Tin bại trận bay về làm chấn động Phiên Ngung. Vua Nam Hán Lưu Nghiễm vô cùng tức giận đã sai đem Khúc Thừa Mỹ, khi đó đang lưu đày ở Phiên Ngung ra giết chết. Giết xong Khúc Hậu Chủ, Lưu Nghiễm vẫn còn khiếp sợ, đến mức 7 năm sau không dám động binh gây hấn với người Việt.
VI
Tin tức Dương Đình Nghệ tiêu diệt Lý Khắc Chính, lấy lại thành Đại La, tiếp theo đó là tin Ngô Quyền và Đinh Công Trứ đánh bại quân cứu viện của Trần Bảo ở Kê Từ-Lạng Châu bay khắp cả nước làm bách tính, anh hùng hào kiệt, hào trưởng vô cùng vui mừng phấn khởi vì giành lại được quyền độc lập tự chủ, thoát khỏi ách thống trị tàn bạo của phong kiến Trung Quốc hàng nghìn năm. Cờ vàng mang chữ Khúc-Dương bay khắp thành Đại La, bay khắp cả nước, từ Hợp Phố đến Hoan Châu. Dương Đình Nghệ cho quân đội và bách tính ăn mừng trong hai ngày.
Tại đại sảnh đường trong thành Đại La, công sở của Tiết độ sứ, Dương Đình Nghệ họp mặt các tướng lĩnh. Dương Đình Nghệ nói:
-Mời các tướng quân cạn chén mừng thành Đại La và đất nước được giải phóng. Chúc mừng chiến công của tướng quân Đinh Công Trứ, Ngô Quyền, Dương Tam Kha, Phạm Bạch Hổ và của các tướng sĩ quân đội Khúc- Dương.
Mọi người đứng dậy:
-Chúc mừng chúa công, chúc mừng Đinh tướng quân, Ngô Tướng quân, Dương tướng quân, Phạm tướng quân.
-Đa tạ, đa tạ.
Mọi người cạn ly trong không khí vui vẻ và an tọa. Phạm Bạch Hổ nói:
-Thưa chúa công, thưa các chư vị tướng quân, nay ta đã giành được độc lập. Đất nước một ngày không thể không có chủ. Kính mời chúa công nhận chức Tiết độ sứ, đất nước có người chủ để bách tính, các anh hùng hào kiệt yên lòng, còn là được tuân theo hiệu lệnh để xây dựng bảo vệ đất nước.
Dương Đình Nghệ nói:
-Đó là một công việc nên làm, nhưng năm 923 Khúc Hậu Chủ bị bắt, một số con cháu của ngài đã thoát được ra ngoài và về Ái Châu với ta như Khúc Thừa Cường. Ta nghĩ Khúc Thừa Cường nên ngồi vào ghế cha ông họ Khúc đã để lại để nối chí tiền nhân.
Mọi người nhìn Khúc Thừa Cường. Khúc Thừa Cường đứng dậy chắp tay thưa:
-Bẩm chúa công, thưa các chư vị tướng quân. Năm đó hoạn nạn, đa tạ chúa công đã bao dung nuôi dưỡng cả nhà mạt tướng vẹn toàn và trưởng thành cho đến ngày nay. Nhưng mạt tướng không thể ngồi vào chiếc ghế đầy trọng trách đó. Thứ nhất là mạt tướng bất tài và còn quá trẻ, không đủ tài đức gánh vác, thứ hai là phụ thân mạt tướng là người làm mất nước, thứ ba là đất nước này được khôi phục lại được là nhờ công lao của chúa công và các chư vị, mạt tướng không có công lao gì. Xin đa tạ chúa công đã cưu mang gia đình mạt tướng trong cơn hoạn nạn, nay lại còn nhớ tới họ Khúc. Nhưng mạt tướng thực ra không đủ tài đức ở vào chức vụ quá sức như vậy, e sẽ làm tổn hại đến quốc gia. Mong chúa công nghĩ lại.
Đinh Công Trứ nói;
-Khúc Thừa Cường nói phải lắm, công việc đứng đầu quốc gia là một trọng trách quá nặng nề, khó nhọc, phải đủ tài đức, nhiều kinh nghiệm, lại phải được anh hùng hào kiệt, quan chức các cấp và bách tính tín nhiệm, tâm phục khẩu phục, uy đức vang xa bốn biển, vua chúa phương Bắc nghe phải khâm phục nể sợ. Nay chúa công là người tài đức, uy vũ vang bốn phương, bách tính đều mong muốn, xin chúa công đừng từ chối nữa.
Các tùy tướng đều đồng thanh:
-Mong chúa công ngồi vào ghế Tiết độ sứ vì đất nước, vì bách tính, vì lê dân.
Dương Đình Nghệ đứng dây:
-Đa tạ các tướng quân đã tín nhiệm, thôi thì vì đất nước, vì lê dân ta không thể thoái thác.
Mọi người đứng dậy chắp tay:
-Xin chúc mừng Tiết độ sứ chúa công.
Dương Đình Nghệ đáp lễ:
-Đa tạ, đa tạ các chư vị tướng quân.
Rồi Dương Đình Nghệ nói tiếp:
-Để phát triển kinh tế, mang lại đời sống ấm no cho bách tính, chúng ta vẫn phải tiếp tục những chính sách của Khúc Tiên Chủ và Khúc Trung Chủ, sửa đổi lại chế độ tô, thuế và lao dịch cho nhẹ gánh cho dân. Về quản lý, vẫn duy trì sổ hộ khẩu giao cho Trưởng giáp trông coi để quản dân và thu thuế, củng cố lại hệ thống quan chức nhà nước để phát huy hiệu quả của các cấp chính quyền, nhất là đơn vị giáp và xã. Sử dụng người tài đức vào bộ máy nhà nước, kiên quyết chống tham quan ô lại. Chính trị vẫn khoan dung giản dị đối với lê dân để dân được no ấm, yên vui. Quân sư Phạm Bạch Hổ và những tùy tùng ở phủ Tiết độ sứ phải viết thành pháp lệnh để thông báo cho quan và dân thực hiện.
Phạm Bạch Hổ đứng dậy:
-Xin tuân lệnh Tiết độ sứ chúa công.
Dương Đình Nghệ nói tiếp:
-Về trấn trị các nơi, nay căn cứ theo tài đức mà bổ nhiệm. Ở các châu vẫn duy trì quan viên như cũ, duy có Đại La, nay cử Dương Tam Kha làm Tổng trấn có nhiệm vụ canh phòng bảo vệ Đại La, bảo vệ tư dinh của Tiết độ sứ. Nay cử Đinh Công Trứ làm Thứ sử Hoan Châu, Ngô Quyền làm Thứ sử Ái Châu. Hai châu này là những hậu phương trọng yếu của quốc gia hiện tại và cả sau này. Hai tướng quân vào đó phải cai trị sao cho dân no ấm yên vui, thanh bình, quân giỏi tướng mạnh, lương thực nhiều để làm hậu phương cho đất nước. Thứ sử ở các châu khác cũng phải cai trị như vậy, ai vi phạm trừng trị quyết không tha.
Kiều Công Tiễn đứng dậy chắp tay:
-Thưa nghĩa phụ, quê con ở Bạch Hạc, Phong Châu, xin nghĩa phụ cho con làm Thứ sử Phong Châu.
Dương Đình Nghệ nói:
-Xưa nay, kẻ làm quan ở quê nhà sẽ trở nên hư hỏng vì họ hàng anh em nhờ cậy. Nhờ cậy quan không được thì họ nhờ vợ con quan. Nể tình anh em họ hàng, vợ con quan vi phạm và cuối cùng quan vì vợ con cũng vi phạm phép nước. Con có tài thì hãy ở lại cùng các tùy tướng giúp việc tốt ở phủ Tiết độ sứ. Đây cũng là những công việc quan trọng trong việc điều hành bộ máy nhà nước, trong việc cai trị lê dân.
Trên khuôn mặt dài và gian manh của Kiều Công Tiễn lộ vẻ tức giận, nhưng Tiễn cố dấu và nói:
-Con xin tuân lệnh nghĩa phụ
Sau đó những người họ Kiều, những người họ Khúc và những người khác theo Dương Đình Nghệ đã được bổ nhiệm quan chức trong chính quyền mới. Chính quyền Dương Đình Nghệ đã trọng dụng nhân tài, đời sống nhân dân no ấm, xã hội yên vui, quốc phòng hùng mạnh, chính trị thân dân. Các anh hùng hào kiệt, các thế lực hào trưởng đều ủng hộ, tôn kính và yêu mến Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ.
VII
Sáu năm sau. Đó là năm 937. Trấn trị Bạch Hạc, thủ phủ của Phong Châu chìm trong màn đêm yên tĩnh, bóng đêm đen phủ tối như bưng, không gian vô cùng tận. Chỉ còn phân biệt được trời cao bởi những vì sao nhấp nhánh xa xăm, chỉ còn phân biệt được hạ giới bởi muôn cây đang khua lá xạc xào theo gió. Những con sông Hồng, sông Lô, sông Đà với những dòng nước lững lờ trôi vô tận theo năm tháng. Trong màn nhung đen le lói những ngọn đèn dầu trong làng mạc tỏa ra từ những cư gia. Tiếng chó sủa văng vẳng lan xa trong đêm thanh vắng.
Trong căn phòng sang trọng của phủ Thứ sử ở Bạch Hạc xếp đầy đồ bằng vàng, bạc lấp lánh, bàn ghế gõ lim, sến khắc chạm hoa văn cây lá, hoa quả cầu kỳ, sơn son thếp vàng, khảm trai bóng loáng. Thủ phủ trấn trị của một châu địa phương miền trung du mà xa hoa lộng lẫy không kém gì phủ Tiết độ sứ ở Đại La. Chủ nhân của thủ phủ và căn phòng sang trọng này là Thứ sử Kiều Công Tiễn. Ban đầu, Kiều Công Tiễn xin Dương Đình Nghệ cho làm Thứ sử Phong Châu nhưng Dương Đình Nghệ không cho, lấy cớ quan lại làm quan ở quê nhà, họ hàng vợ con sẽ làm hư hỏng quan, quan chức ban đầu tốt nhưng sau đó theo đà đi dần vào con đường hủ bại. Nhưng Kiều Công Tiễn ôm nhiều tham vọng như tham vọng làm giàu, muốn vơ vét nhiều vàng bạc, muốn nuôi dưỡng lực lượng tay sai để tạo thế đi lên. Kiều Công Tiễn cho rằng có tiền bạc thì sẽ có vũ lực, có vũ lực thì có quyền và khi có quyền thì càng vơ vét được nhiều tiền bạc. Nhưng muốn đạt tham vọng đó phải xa Dương Đình Nghệ, một người cha nuôi nhân nghĩa, chỉ vì bách tính và vì nước. Tính cách này hoàn toàn trái ngược với tính cách của Kiều Công Tiễn, tham lam, ích kỷ và tàn bạo. Kiều Công Tiễn có thể vì quyền và vì tiền sẵn sàng phản bội và chà đạp lên đạo lý. Cho nên Kiều Công Tiễn đã nhiều lần xin Đương Đình Nghệ và cuối cùng Tiết độ sứ đồng ý cho Tiễn về làm Thứ sử Phong Châu.
Đêm nay, Kiều công tiễn cho mời con cái, anh em về để bàn một công việc quan trọng. Trong lúc chờ đợi, Kiều Công Tiễn ngồi trên tràng kỷ uống vài chén rượu suông và nhớ cái thời khoảng hơn 13 năm của hắn trước đây. Hắn nhớ lại khoảng năm 924, khi đó hắn đã 53 tuổi mà chưa lập được một chút công danh và thân phận gì, dù mang danh là con cháu hào trưởng đất Phong Châu nhưng đến đời hắn thì nghèo xơ xác. Bản thân học hành kém cõi, tài năng không có gì đặc biệt nhưng rất khát khao quyền lực và giàu có để đè đầu cưỡi cổ bách tính. Đối với Kiều Công Tiễn, nhân nghĩa và cao thượng vì dân vì nước mà các anh hùng hào kiệt, các hào trưởng đang đề cao là một sự xa xỉ, lừa bịp. Hắn cho rằng để đạt mục đích phải gian xảo, mưu mô và thủ đoạn, kể cả những thủ đoạn hèn hạ, bất nhân, bất nghĩa.
Hắn nhớ lại cái ngày năm 924, nghe tin Dương Đình Nghệ đang chiêu mộ các anh hùng hào kiệt ở Ái Châu để đánh đuổi quân Nam Hán, Kiều Công Tiễn nghĩ đến con đường lập thân là về với Dương Đình Nghệ. Hắn về với Dương Đình Nghệ không phải là vì mục đích đánh đuổi Nam Hán mà xem con đường Dương Đình Nghệ đang đi có mang lại lợi ích gì cho hắn không. Đối với hắn, ngoại bang hay người Việt thống trị không quan trọng, cái quan trọng là hắn có được thăng quan phát tài hay không. Tổ quốc và bách tính đối với hắn chẳng có ý nghĩa gì. Hắn nhớ lại lần gặp đầu tiên, Dương Đình Nghệ hỏi hắn:
-Đại nhân quê ở đâu?
-Dạ, mạt tướng quê ở Bạch Hạc, Phong Châu.
-Đại nhân về đây có nguyện vọng gì không?
-Dạ, bẩm chúa công, mạt tướng muốn gia nhập vào trong số 3000 nghĩa tử của chúa công để báo đền nợ nước…
Đương Đình Nghệ vốn đang rất ái ngại với nhân tướng của Kiều Công Tiễn. Hắn có khuôn mặt dài, môi mỏng, mắt nhìn xéo, gian xảo. Nhân tướng này là nhân tướng của kẻ vong ơn, phản bội. Trong mưu việc lớn cho nước nhà mà nuôi kẻ phản bội trong nhà thì thất bại không biết lúc nào. Nhưng lời nói của Kiều Công Tiễn đã xua tan ý nghĩ của Dương Đình Nghệ. Dương Đình Nghệ nói:
-Đại nhân gia nhập vào 3000 nghĩa tử là một vinh hạnh lớn cho lão phu. Nhưng…
Kiều Công Tiễn hỏi:
-Chúa Công còn nghi ngại gì chăng?
-Đại nhân năm nay bao nhiêu tuổi?
-Bẩm chúa công, mạt tướng sinh năm 870, năm nay mạt tướng 54 tuổi.
Dương Đình Nghệ nói:
-Vậy là bất tiện rồi, vào đội nghĩa dũng toàn là người trẻ, họ xưng là nghĩa tử và nhận lão phu làm nghĩa phụ. Lão phu sinh năm 874, kém đại nhân 4 tuổi, không dám làm nghĩa phụ của đại nhân được.
Kiều Công Tiễn nói:
-Bẩm chúa công, không sao ạ, miễn là mạt tướng được chúa công dạy dỗ, dìu dắt để mạt tướng nên người.
Dương Đình Nghệ có nhược điểm là cả tin người cho nên nghe Kiều Công Tiễn nói vậy, ông cho đó là những lời nói thật lòng. Vả lại, với Dương Đình Nghệ, công việc đánh đuổi Nam Hán là trên hết. Mọi người, mọi việc mà phục vụ cho mục đích đó đều có thể chấp nhận.
Sau này, sự xảo hoạt của Kiều Công Tiễn đã mang lại kết quả. Dương Đình Nghệ không đưa Kiều Công Tiễn về đội dũng sĩ, vì ở đó huấn luyện theo chế độ đặc biệt để đạt võ nghệ cao cường, sức bền bỉ và sức chịu đựng chiến đấu vô cùng khốc liệt, rất gian khổ trong rèn luyện, kỷ luật khắt khe. Kiều Công Tiễn tuổi cao sẽ không chịu nổi, cho nên Dương Đình Nghệ cho hắn làm gia tướng của ông.
Trong đại doanh của Dương Đình Nghệ, Kiều Công Tiễn chỉ đố kỵ và sợ một người, đó là Ngô Quyền. Kiều Công Tiễn không chỉ đố kỵ mà đôi khi còn căm thù Ngô Quyền, bởi đức độ cao thượng, nhân nghĩa, tài năng mà Kiều Công Tiễn không thể có được, lại còn tính cách hoàn toàn trái ngược với Ngô Quyền. Càng đố kỵ, ý nghĩ và khát vọng đen tối nung nấu nhiều năm nay của Kiều Công Tiễn là phải trở thành Tiết độ sứ ngày càng lớn lên làm hắn mất ăn mất ngủ. Hắn mơ ngày hắn thành Tiết độ sứ được ngồi ngồi trên cái ghế quyền lực cao nhất, ngồi trên núi vàng bạc, ngồi trên muôn triệu con người. Khi đó, những kẻ đối lập về tư tưởng, nhân cách, tài năng với hắn như Ngô Quyền phải chết.
Những ý nghĩ của Kiều Công Tiễn bị cắt đứt bởi con cháu và các tướng lĩnh đã bước vào đại sảnh. Đây là Kiều Công Thuận, em trai Kiều Công Tiễn, đây là Kiều Công Chuẩn, con trai Kiều Công Tiễn, đây cháu nội là Kiều Công Hãn, chỉ có một người ngoài là gia tướng Lưu Định. Khi mọi người đã an tọa, Kiều Công Tiễn nói:
-Mười bốn năm nay ta về với Dương Đình Nghệ, chịu nhiều thiệt thòi, nhẫn nhục và chịu đựng chỉ vì nhằm đạt quyền lợi của gia đình ta và của họ Kiều. Nay ta đã đạt được vinh hoa phú quý nhưng với chức Thứ sử một châu vẫn còn dưới tầm kẻ khác, vẫn bị kẻ khác sai khiến. Ta đã nhiều lần nằm mơ thấy ta trở thành Tiết độ sứ, có trong tay thiên hạ, đứng trên muôn triệu con người, ngồi trên đống bạc vàng như núi. Ta nay muốn biến giấc mơ thành hiện thực, về Đại La trừ bỏ Dương Đình Nghệ, lên ngôi Tiết độ sứ, mọi người thấy thế nào?
Em trai Kiều Công Tiễn là Kiều Công Thuận nói;
-Đệ hoàn toàn đồng ý với huynh, dòng họ Kiều ta vốn là hào trưởng ở Bạch Hạc nhưng đến đời anh em ta thì sa sút trở thành hèn mọn, nghèo khó, huynh trưởng phải đi nương nhờ Dương Đình Nghệ để gây dựng cơ nghiệp, nay nhờ trời chúng ta cũng đã có đất Phong Châu, vàng bạc châu báu đầy nhà, ruộng thẳng cánh cò bay, trâu bò gia súc hàng nghìn với hàng nghìn nông nô làm thuê, gia đinh võ sĩ trong nhà vài nghìn đều là những người trung thành và võ nghệ cao cường. Luật pháp của nhà nước, luật của Dương Đình Nghệ không có ở đất Phong Châu này, ở đất này chỉ có luật của họ Kiều Công. Đây là thời cơ để ta đoạt chức Tiết độ sứ, lấy thiên hạ về tay, muốn làm gì thì làm, không bị kẻ khác sai khiến bắt nạt, để làm cho họ Kiều Công rạng rỡ.
Kiều Công Chuẩn, con trai Kiều Công Tiễn nói:
-Cha và thúc thúc nói sai rồi, chúng ta nghèo khó, tài năng có hạn nên về với Dương Đình Nghệ để lập thân. Thực ra trong 14 năm qua, anh em chúng ta đóng góp cho sự nghiêp của Tiết độ sứ chúa công, cho sự nghiệp đánh giặc cứu nước không đáng kể. Nhưng là vì có mối quan hệ nghĩa tử mà Dương Đình Nghệ vẫn giúp đỡ cất nhắc, bây giờ anh em, cha con chúng ta dù tài không bằng ai cũng đã làm chủ một vùng Phong Châu trù phú, gia đình anh em cha con ta trở nên giàu có nhất nhì thiên hạ. Nay chúng ta giết nghĩa phụ Dương Đình Nghệ là bất hiếu, giết người nâng đỡ mình là bất nghĩa, giết người cầm đầu đất nước là bất trung, giết người chính nghĩa là bất đạo. Bất hiếu, bất trung, bất đạo, bất nghĩa thì giàu sang quyền lực làm gì, cũng không xứng đáng đứng trên cõi đời này nữa. Xin cha và thúc thúc đừng đưa chúng ta vào con đường phản bội.
Lưu Định, gia tướng của Kiều Công Tiễn nói:
-Tướng quân Kiều Công Chuẩn nói chí phải. Mạt tướng thấy chúa công và gia đình ta đã nhận được nhiều ơn hụê của Dương Đình Nghệ, nhận làm nghĩa tử, nhận làm gia tướng rồi bổ nhiệm cất nhắc làm đến Thứ sử Phong Châu để chúng ta có một cuộc sống giàu có, vương giả, quyền thế như ngày nay. Nhưng chúng ta đã đóng góp rất ít cho sự nghiệp giải phóng đất nước, sự nghiệp vì dân của Dương Đình Nghệ. Thậm chí, khi làm thứ sử Phong Châu, Thứ sử chúa công đã làm trái tất cả những quy định của nhà nước, của Tiết độ sứ chúa công. Chúng ta đã không giảm thuế má, lao dịch cho dân, lại còn tăng cường bóc lột nặng nề, tăng cường sách nhiễu, tăng cường cướp đoạt ruộng đất không đền bù hoặc đền bù không đáng kể, đã không làm cho bách tính yên vui no ấm như Dương Đình Nghệ mong muốn, ngược lại, đẩy bách tính Phong Châu vào một cuộc sống khổ cực, oan trái mà không biết kêu vào đâu được. Chúng ta đã thủ tiêu tất cả những cư dân nào dám kêu ca, phàn nàn, tỏ sự căm thù oán hận. Chúng ta đã hoành hành bá đạo, không coi quốc pháp là gì. Chúng ta đã dung túng cho các huyện trưởng, giáp trưởng, xã trưởng, thôn trưởng tay chân cũng hoành hành ngang ngược với bách tính như vậy. Họ không kiêng sợ gì vì đã có chúng ta dung túng, chúng ta đã báo đạo thì cũng không thể ngăn cấm, trừng phạt được họ khi họ bá đạo. Nhà dột từ nóc, thượng bất chính, hạ tắc loạn. Nay chúa công lại muốn mưu đồ phản nghịch, đó là bất trung, bất hiếu, bất đạo, phản quốc và phản bách tính. Cúi xin chúa công từ bỏ tham vọng thì họ Kiều chúng ta mới tồn tại được lâu dài. Vả lại, chúa công phải nhìn xem các thế lực khác như Ngô Quyền ở Châu Ái, Đinh Công Trứ ở Hoan Châu, Dương Tam Kha ở Đại La và tất cả các Thứ sử các châu, anh hùng hào kiệt và bách tính có tha tội cho chúa công không, có đứng nhìn chúa công hoành hành không?
Kiều công Tiễn đập bàn nổi giận:
-Im mồm đi, nhà ngươi dám lăng mạ ta sao?
Lưu Định đáp:
-Mạt tướng chỉ vì lợi ích của chúa công, của họ Kiều Công ta thôi. Việc phải làm của chúa công hiện nay không phải là đoạt chức Tiết độ sứ, đó là con đường chết. Việc chúa công phải làm là cải thiện điều kiện sống của bách tính Phong Châu. Đó là con đường sống của chúa công, của họ Kiều.
Kiều Công Tiễn thét:
-Thằng phản bội. Võ sĩ đâu trói lại chém!
Bốn võ sĩ xông vào trói Lưu Định đang định lôi ra ngoài thì Kiều Công Thuận đã rút gươm rất nhanh đâm vào bụng Lưu Định. Máu đỏ từ bụng ông chảy ròng ròng nhưng vẫn cố nói:
-Kiều Công Tiễn, ta đã nhiều lần cứu nguy cho ngươi thoát chết, nay ngươi không nghe lời nói phải, lấy oán báo ơn. Ngươi và những kẻ phản bội như Kiều Công Thuận sẽ chết không có đất chôn và bị phỉ nhổ muôn đời. Các ngươi nhớ lấy lời ta xem có hiệu nghiệm hay không.
Lưu Định còn muốn nói gì thêm nữa nhưng đầu ông đã vẹo sang một bên và tắt thở trong tay bốn tên võ sĩ. Chúng lôi ông ra ngoài.
Kiều Công Hãn, cháu nội Kiều Công Tiễn quát:
-Sao thúc thúc lại giết gia tướng có nhiều công lao, trung thành với họ Kiều ta. Lưu Định nói hoàn toàn đúng và ông nói vì sự tồn tại của họ Kiều. Tôi phản đối việc làm của ông nội và thúc thúc. Đoạt chức Tiết độ sứ là con đường chết. Ngô Quyền, Dương Tam Kha. Đinh Công Trứ, Phạm Bạch Hổ và nhiều thế lực khác hùng mạnh hơn ta nhiều. Họ không tha cho chúng ta đâu, chúng ta đánh không lại họ đâu.
Nói rồi Kiều Công Hãn tức giận bỏ ra ngoài.
Kiều Công Chuẩn đứng dậy lắc đầu buồn bã:
-Phản rồi, phản rồi. Chúng ta sẽ chết mà không có đất chôn, sẽ bị muôn đời nguyền rủa.
Vừa nói ông vừa như người thất thần buồn bã, lảo đảo bước ra ngoài.
Chỉ con lại kiều Công Tiễn và Kiều Công Thuận. Kiều Công Tiễn nói:
-Chỉ có đệ là hiểu được huynh lo lắng cho tương lai của họ Kiều, tương lai của gia đình, của các con và các cháu. Nay thời cơ để ta hạ sát Dương Đình Nghệ đã có, ta không nên bỏ lỡ.
Kiều Công Thuận hỏi:
-Thời cơ đó là gì huynh?
Kiều Công Tiễn đáp:
-Theo thám mã về báo, Dương Tam Kha, Tổng Trấn Đại La đã về Ái Châu vì công việc. Hiện sức phòng thủ của thành Đại La không đáng kể và cái chính là không ai bảo vệ Dương Đình Nghệ. Hơn nữa, ta lợi dụng là nghĩa tử vào thăm rất dễ. Khi giết xong Dương Đình Nghệ mà vắng Dương Tam Kha ta sẽ khống chế những kẻ còn lại buộc chúng công nhận ta là Tiết độ sứ rất dễ dàng. Dương Đình Nghệ phen này chết chắc rồi.
-Vậy cụ thể kế hoạch của huynh như thế nào?
Kiều Công Tiễn đáp:
-Ngay hôm nay ta cho 1vạn quân đóng giả thường dân về gần thành Đại La. Ta chỉ dẫn theo 10 võ sĩ đi theo, khoảng gần tối xin vào gặp Dương Đình Nghệ. Khi vào giết lính giữ cổng thành, 5 võ sĩ khống chế cổng thành, 5 võ sĩ theo ta vào tư dinh giết xong Dương Đình Nghệ thì bắn tên lửa báo hiệu cho lính của ta mở cổng thành, 1 vạn quân ta vào thành không chế, ai theo ta thì tha, không theo ta thì giết hết. Khi đó ta sẽ ngồi vào chiếc ghế Tiết độ sứ. Ngô Quyền, Dương Tam Kha, Đinh Công Trứ ở xa, khi biết thì việc đã xong rồi.
Kiều Công Thuận tán thành:
-Kế hoạch của huynh chu đáo, bất ngờ, Dương Đình Nghệ chắc không kịp trở tay. Đệ sẽ chỉ huy 1 vạn quân để vào thành Đại La.
Kiều Công Tiễn mừng rỡ:
-Tốt lắm, nhưng đệ không được giết bừa bãi, chỉ giết những ai chống cự, không công nhận ta là Tiết độ sứ thôi.
-Huynh yên tâm.
Trưa hôm đó binh lính ăn cơm xong, Kiều Công Thuận ra lệnh cho 1 vạn quân giả làm thường dân, dấu vũ khí trong tay nải tiến gấp về Đại La. Kiều Công Tiễn dùng ngựa cùng 10 võ sĩ phi nhanh về Đại La. Kiều Công Chuẩn biết cha và thúc thúc sắp gây biến ở Đại La nên không đi, chuẩn bị đem con nhỏ là Kiều Công Đĩnh rời trấn trị Bạch Hạc khi có biến thì về quê ngoại. Kiều Công Hãn muốn báo cho Dương Tam Kha và Ngô Quyền, cũng lên ngựa phi một mạch về Đại La để nắm tình hình.
Canh một đêm đó Kiều Công Tiễn mới tới Đại La. Lính canh hỏi:
-Đại nhân vào thành muộn vây?
Kiều Công Tiễn quát:
-Các ngươi không biết ta là ai à, ta là Thứ sử Phong Châu, nghĩa tử của Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ, ta từ Bạch Hạc về nên vào muộn. Ta vào thăm nghĩa phụ và bẩm báo một số việc quan trọng.
-Ấn tín và lệnh bài đâu?
Những người lính cũng đã nghe nói đến Kiều Công Tiễn, khi xem ấn tín và lệnh bài là thực, hai người lính chắp tay nói:
-Đa tạ, xin mời đại nhân vào.
Kiều Công Tiễn và 10 tên võ sĩ bước vào. Hai tên nhanh như cắt rút dao nhọn đâm hai người lính chết, lột quân phục của họ và hai tên mặc vào đứng khống chế cổng thành.
Kiều Công Tiễn và tám tên võ sĩ đi vào tư dinh của Dương Đình Nghẹ theo một hành lang mờ tối, đèn dầu leo lét. Sắp đến tư dinh, lối vào hành lang có hai người lính canh chặn lại không cho vào. Cả hai người bị bọn võ sĩ đâm chết. Khi đến phòng gõ cửa, người gia nhân ra mở cửa cũng bị đâm chết. Kiều Công Tiễn và các võ sĩ xông vào phòng, thấy đúng là Dương Đình Nghệ đang ngồi cạnh án thư đọc sách. Thấy Kiều Công Tiễn, ông định đứng dậy tiếp đón thì đã bị mấy tên võ sĩ đâm chết. Dương Đình Nghệ trỏ tay vào mặt Kiều công Tiễn nói:
-Ngươi, ngươi làm phản…
Và ông gục xuống tắt thở.
Kiều Công Tiễn sai võ sĩ lùng sục trong phòng nhưng không có ai. Cũng may gia đình Dương Tam Kha đã theo ông về Ái Châu thăm nhà. Kiều Công Tiễn sai hai tên võ sĩ bắn hai phát tên lửa lên trời. Nhân được tín hiệu, bọn lính canh trá hình đã mở toang cổng thành và 1 vạn quân của Kiều Công Thuận tràn vào thành. 5000 quân Khúc-Dương của Dương Đình Nghệ bị bất ngờ, số ít chống cự bị giết, số còn lại bị không chế và buông vũ khí. Quân Kiều Công Thuận chiếm các công sở, đại sảnh đường, kho vũ khí, kho lương thực, bao vây và chiếm phủ của Tổng trấn Đại La Dương Tam Kha. Lá cờ vàng mang chữ Khúc- Dương bị hạ xuống. Quân Kiều Công Thuận kéo là cờ có chữ Kiều lên cột, lá cờ trong đêm không gió nên không bay mà đen một màu tang tóc, ủ rủ xuống một cách thê lương, báo một điềm không lành cho thành Đại La hay cho họ Kiều. Trong đêm, một cuộc biến loạn phản bội đáng xấu hổ đã diễn ra một cách tương đối lặng lẽ. Đó là đêm 1 tháng 4 năm 937. Dương Đình Nghệ từ trần năm ông 63 tuổi. Kiều Công Tiễn đã làm chủ Đại La.
Kiều Công Thuận hỏi:
-Bây giờ thi hài của Dương Đình Nghệ chúng ta làm thế nào?
Kiều Công Tiễn suy nghĩ rồi đáp:
-Cứ khâm liệm cho vào quan tài tử tế để dùng thi hài Dương Đình Nghệ ra điều kiện với Ngô Quyền và Dương Tam Kha, buộc chúng muốn nhận thi hài thì phải phục tùng ta.
Kiều Công Thuận hỏi:
-Bây giờ giải thích thế nào về việc ta giết Dương Đình Nghệ, hay là nói ông ta ốm chết?
Kiều Công Tiễn suy nghĩ rồi nói:
-Bây giờ không thể dấu diếm hoặc nói dối được nữa. Ông ta chết khi ta có mặt ở Đại La, ta lại ngồi vào chức Tiết độ sứ, hơn nữa thằng Kiều Công Hãn sớm muôn sẽ báo cho Ngô Quyền, Dương Tam Kha chuyện này. Cho nên có kẻ nào hỏi thì ta đáp, giết Dương Đình Nghệ là để trả thù cho Khúc Hậu Chủ, vì Dương Đình Nghệ đánh quân Nam Hán năm 931, giết Tư mã Lý Khắc Chính nên Nam Hán đã giết Khúc Thừa Mỹ khi đó đang bị quản thúc ở Phiên Ngung.
Kiều Công Thuận nói:
-Hay, có lý, may ra làm dịu được lòng căm thù trách móc và oán hận của bách tính và các anh hùng hào kiệt, các hào trưởng trong cả nước.
Kiều Công Tiễn đắc ý:
-Không nên lo sợ nhiều, muốn nên nghiệp lớn thì phải biết chà đạp lên dư luận mà đi.
Sáng hôm sau, toàn dân Đại La thức dậy đi ra phố thì được đọc cáo thị của Kiều Công Tiễn dính trên các tường thành. Cáo thị viết: “Ta, Kiều Công Tiễn, Thứ sử Phong Châu. Nay kính báo cho bách tính biết: ta đã giết Dương Đình Nghệ để báo thù Cho Khúc Thừa Mỹ, vì năm 931, Dương Đình Nghệ đã đánh quân Nam Hán, giết chết Lý Khắc Chính nên cùng năm đó, Nam Hán đã giết Khúc Hậu Chủ khi đó đang bị quản thúc ở Phiên Ngung. Nay ta sẽ giữ chức Tiết độ sứ để điều hành đất nước. Ai phục tùng sẽ sống, ai chống lại ta sẽ bị chu di cả họ. Nay thông báo. Tiết độ sứ Tĩnh Hải Quân Kiều Công Tiễn”.
Cáo thị của Kiều Công Tiễn làm Đại La và toàn thể An Nam chấn động. Bách tính khóc lóc, thương xót Dương Đình Nghệ và ở đâu người ta cũng nguyền rủa Kiều Công Tiễn là tên vong ân bội nghĩa, tên bất hiếu, bất trung, tên tàn ác, tên phản bội. Bách tính còn lo lắng cho vận mệnh cuộc sống của mình. Đời sống khổ cực thê thảm của bách tính Phong Châu dưới sự cai trị của Kiều Công Tiễn bảy năm qua đã truyền ra cả nước, cả nước cũng đã biết sự tàn bạo, tham lam, xảo quyệt, giết người không ghê tay để vơ vét của tên cẩu Thứ sử này. Nay tên này nắm chức Tiết độ sứ thì tương lai, vận mệnh dân tộc đen tối rồi. Trong khi đàm đạo, một số cụ già nói:
-Không lo, Ngô Quyền và Dương Tam Kha không ngồi yên cho tên cẩu tặc này bá đạo đâu.
-Chỉ còn hy vọng như vậy thôi.
-Khi đó chắc tên giặc này lại cầu cứu quân Nam Hán, đất nước lại chiến tranh rồi.
-Sợ gì, giặc đến thì đánh. Mà rước giặc vào nhà thì thằng giặc Kiều Công Tiễn chết trước và không có đất mà chôn.
-Đang yên đang lành, đất nước vừa hòa bình được mấy năm, bách tính được no ấm yên vui dưới thời Dương Đình Nghệ. Sao thằng giặc già này lại trở chứng như vậy. Mà nó có nghèo khổ gì cơ chứ, nghe dân Phong Châu nói vàng bạc của cải nhà nó xếp chật cả phủ đường Phong Châu.
-Nó tham lam chức Tiết độ sứ để vơ vét trong cả nước cơ.
-Đúng là loại sâu dân mọt nước, thằng cẩu quan đáng chết.
VIII
Màn đêm mùa hạ bao phủ không gian. Làng Giàng và thành Tư Phố, trị sở của Ái Châu cũng chìm trong bóng tối, chỉ còn tư dinh của quan Thứ sử Ngô Quyền là còn ánh sáng đèn le lói.Trong phòng, Ngô Quyền vẫn chong đèn đọc sách. Trống trên thành đã điểm canh ba. Người gia nhân luôn miệng nhắc Ngô Quyền:
-Bẩm chúa công khuya rồi, xin chúa công đi nghỉ.
Ngô Quyền nói:
-Đa tạ, không rõ đêm nay thế nào mà ruột gan ta nóng như lửa đốt, không muốn đi ngủ.
Chợt có tiếng la hét trong phòng Ngô Phu Nhân Dương Thị Như Ngọc. Ngô Quyền vội chạy vào, thị nữ các phòng cũng hốt hoảng chạy sang. Ngô phu nhân đang ngồi trên giường, chân tay run rẩy vô cùng sợ hãi. Ngô Quyền hỏi:
-Nương tử sao vậy?
Ngô Phu nhân đáp:
-Sợ quá, thiếp vừa mơ thấy một giấc mơ khủng khiếp, cha vừa về đứng trước thần thiếp, người bị sáu lưỡi gươm đâm xuyên qua, đẫm máu. Cha nói, con ơi hãy báo thù cho cha. Thần thiếp sợ quá…
Ngô Quyền an ủi:
-Chắc không có chuyện gì với cha đâu, có lẽ nàng quá nhớ cha nên mơ vậy. Mai ta đưa nàng ra Đại La thăm cha. Nàng ngủ tiếp đi.
Đêm đó, Ngô Quyền cũng không ngủ được nên ông dậy sớm ngồi trong phòng khách uống trà. Chợt có gia nhân vào báo:
-Dạ bẩm chúa công, có tướng Kiều Công Hãn, cháu nội Kiều Công Tiễn, Thứ sử Phong Châu tới có việc gấp.
Ngô Quyền ngạc nhiên:
-Phong Châu xa xôi, Kiều Công Hãn tới Ái Châu có việc gì? Cho vào!
Kiều Công Hãn vào thi lễ trước Ngô Quyền:
-Xin kính chào Ngô Thứ sử chúa công.
-Xin chào tướng quân, xin mời an tọa. Người đâu lấy nước.
Kiều Công Hãn rất mệt và khát, bê bát nước uống một hơi rồi nói:
-Mạt tướng đem báo cho chúa công một đại hung tin. Xin chúa công bình tĩnh nghe.
Ngô Quyền hỏi:
-Hung tin gì vây, tướng quân nói mau.
-Dạ bẩm, nhạc phụ của chúa công, Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ đã bị giết đêm qua tại phủ thành Đại La rồi.
Ngô Quyền ngạc nhiên và choáng váng:
Ai giết? Vì sao lại giết?
Kiều Công Hãn phủ phục xuống trước Ngô Quyền:
-Dạ bẩm chúa công, chúng tôi là những người có tội với chúa công, người giết Tiết độ sứ chúa công là ông nội của mạt tướng là Kiều Công Tiễn, Thứ sử Phong Châu. Ông nội của mạt tướng là nghĩa tử của Tiết độ sứ, đã được Dương Tiết độ sứ nâng đỡ, làm đến Thứ sử Phong Châu, sống trong giàu sang và phú quý, Nhưng suốt mấy năm nay nẩy ra ý định sát hại Dương Tiết độ sứ để đoạt chức. Sáng hôm qua họp bàn âm mưu sát hại. Mạt tướng và cha Kiều Công Chuẩn đã phản đối, nhưng ông vẫn cùng thúc thúc Kiều Công Thuận đem võ sĩ và 1 vạn quân về Đại La, gần tối tới nơi và Chúa công Tiết độ sứ đã bị giết.
Ngô Quyền ngồi lặng người. Kiều Công Hãn nói tiếp:
-Mạt tướng đã phi ngựa đến nước đại để mong về sớm báo cho Tổng Trấn Dương Tam Kha ở Đại La, nhưng đến Đại La mới biết Tổng Trấn Dương Tam Kha đã về Ái Châu công cán. Có lẽ ông nội mạt tướng đã nắm chắc thời cơ khi Tướng quân Dương Tam Kha vắng mặt để hành động. Còn Ngô Chúa công thì ở xa quá. Mạt tướng phải phi ngựa suốt đêm mới về đến đây. Mong chúa công định đoạt.
Ngô Quyền ngồi lặng đi đau đớn. Những giọt nước mắt chực trào ra nhưng ông cố trấn tính lại:
-Đa tạ tướng quân đã đưa tin. Tướng quân đứng dậy ngồi vào ghế và uống nước nghỉ ngơi. Sau khi Kiều Công Hãn đã ngồi vào bàn, Ngô Quyền gọi:
-Người đâu.
Người gia nhân bước ra:
-Dạ bẩm chúa công.
-Bảo người nhà nấu một suất cơm cho tướng quân ăn và bố trí một phòng cho tướng quân nghỉ. Tướng quân đã phi ngựa suốt đêm từ Đại La về đây, rất mệt.
Kiều Công Hãn đa tạ Ngô Quyền rồi đi theo gia nhân.
Ngô Quyền một mình ngồi suy nghĩ những công việc phải làm trong sự kiện bi thảm này. Việc trước tiên nhưng rất khó khăn của Ngô Quyền là báo tin này cho Ngô Phu nhân và các con, rồi báo tin cho gia đình huynh trưởng Dương Nhất Kha, Dương Nhị Kha, Dương Tam Kha và các cháu, làm sao phải an ủi được họ, nhất là đối với Ngô Phu Nhân và Dương phu nhân, rồi báo tang cho toàn thể họ Dương. Sau đó tổ chức đại tang. Muốn tổ chức tang lễ phải có thi hài, rồi cất quân đánh Đại La ngay để bắt Kiều Công Tiễn hay là chờ xong 100 ngày rồi hãy đánh.Tất cả cứ quay cuồng lộn xộn trong đầu Ngô Quyền, sau đó Ngô Quyền lý giải những việc phải làm nhưng phải chờ Dương Nhất Kha, Dương Nhị Kha, Dương Tam Kha đến mới bàn và quyết được. Ngô Quyền gọi:
-Người đâu?
-Dạ bẩm chúa công.
-Ngươi đến Dương Xá, dinh thự của nhạc phụ ta mời Tướng quân Dương Tam Kha, Dương Phu nhân và các cháu đến đây ngay.
-Dạ, tuân lệnh chúa công.
-Người đâu.
-Dạ
-Hai ngươi một đến phủ Dương Nhất Kha, một đến phủ Dương Nhị Kha mời hai đại nhân và gia đình về đây.
-Dạ., tuân lệnh chúa công.
Một lát sau thì cả nhà Dương Tam Kha, Dương Phu Nhân và hai cháu nội của Dương Đình Nghệ, một trai một gái cùng đến, tiếp theo là gia đình Dương Nhất Kha và Dương Nhị Kha. Ngô Quyền và Ngô phu nhân ra thi lễ, Ngô Xương Ngập, Ngô Xương Văn ra chào các bác và các anh chị. Cả nhà vui vẻ. Ngô Quyền để cho cả nhà dùng bữa trưa rồi mới thông báo tin dữ:
-Sớm nay, ta được tin từ Đại La tới báo, nhạc phụ đã bị Kiều Công Tiễn, vốn là nghĩa tử của nhạc phụ, nay là Thứ sử Phong Châu, đêm qua đã đột nhập vào tư dinh và giết hại nhạc phụ để đoạt chức Tiết độ sứ.
Dương Tam Kha hỏi:
-Tin do ai báo về ?
-Do chính Kiều Công Hãn, cháu nội Kiều Công Tiễn nhưng phản đối việc làm phản của Kiều Công Tiễn đã về Đại La và từ Đại La phi ngựa suốt đêm về đây báo cho đệ.
Ngô phu nhân Dương Thị Như Ngọc đau đớn kêu lên:
-Cha ơi!
Rồi gục xuống trong tay của nữ tì, ngất xỉu.
Dương Phu nhân cũng gần như ngất đi và khóc lóc thảm thương. Các đứa trẻ cũng òa khóc. Rồi các gia nhân cũng khóc. Dinh thự của Thứ sử Ái Châu Ngô Quyền đầy tang tóc. Dương Nhất Kha, Dương Nhị Kha, Dương Tam Kha ngồi lặng đi rồi cũng rơi nước mắt. Ngô Quyền nói:
-Đệ cũng đau xót như các huynh, nhưng chúng ta là trụ cột của gia đình, của dòng họ. Các huynh phải bình tâm cùng đệ quyết định nhưng công việc trong và sau cái chết của cha.
Dương Tam Kha nói:
-Huynh và đệ phải xuất binh đánh Đại La bắt tên phản phúc đó về trị tội để báo thù cho cha.
Ngô Quyền nói:
-Bắt Kiều Công Tiễn, bắt nó đền tội thì phải bắt rồi, nhưng theo đệ trước tiên là phải tổ chức đại tang cho cha, sau đó theo nghi lễ phong tục phải tổ chức 49 ngày, 100 ngày. Trong lúc đại tang không nên động binh đao mà phải sau 100 ngày mới có thể. Theo đệ, tổ chức đại tang rất quan trọng, thứ nhất cha là vua một nước, mất đi phải có đại tang, thứ hai tổ chức đại tang cho cha, chúng ta mới tròn đạo hiếu, thứ ba trong lễ tang, tất cả anh hùng hào kiệt, hào trưởng, quan chức các cấp từ châu, huỵện, giáp đều tới, ta nhân đó vạch bộ mặt tàn ác, phản bội của Kiều Công Tiễn để họ ủng hộ ta trong cuộc xuất binh sau 100 ngày.
Dương Nhất Kha hỏi:
-Nhưng thi hài cha còn trong tay Kiều Công Tiễn, làm sao lấy được thi hài mà phát tang?
-Ngày mai làm 3 ngày cho cha xong, chúng ta đem 3 vạn quân ra Đại La đòi thi hài. Nếu nó trả thi hài thì tạm thời chưa đánh, nếu nó không trả ta đánh Đại La ngay, không cần chờ 100 ngày, Việc này đệ sẽ viết thư cho người đàm phán với Kiều Công Tiễn. Dương Tam Kha nói:
-Huynh rối trí và đau đớn quá. Đệ cứ như vậy mà làm đi.
-Dạ, huynh cứ yên tâm.
Dương Nhị Kha nói:
-Thôi thì mọi việc nhờ đệ làm chủ lo liệu. Ta cũng rối trí và đau xót quá rồi.
-Các huynh cứ yên tâm.
Ngay hôm đó, Ngô Quyền cho gọi Kiều Công Hãn và nói:
-Đa tạ tướng quân đã thông báo. Tôi cũng đã vừa nhận được tin thám mã từ Đại La đưa về. Không ngờ người ông phản bội lại có một người cháu biết đi về chính nghĩa. Hôm nay, tôi nhờ tướng quân đưa giúp lá thư này cho Kiều Công Tiễn, bảo ông ta trao lại thi hài của nhạc phụ tôi để chúng tôi làm tang cho phải đạo. Tướng quân đưa thư xong không cần về lại Ái Châu hồi âm. Theo sau tướng quân, chúng tôi sẽ có 3 vạn quân đi ngay ra Đại La. Nếu Kiều Công Tiễn không đưa thi hài thì chúng tôi sẽ đánh ngay, còn nếu trả thi hài thì chưa đánh, chúng tôi còn bận việc tang.
Kiều Công Hãn nhận thư và nói:
-Tôi sẽ lên đường ngay, tạm biệt chúa công.
Ngô Quyền đáp:
-Tạm biệt tướng quân.Hẹn ngày gặp lại.
Tại Đại La, Kiều Công Tiễn nhận được thư của Ngô Quyền do Kiều Công Hãn chuyển tới, liền mở thư đọc. Thư viết: “Gửi ngươi, Kiều Công Tiễn. Nhà người về tài cán không có gì, về chữ nghĩa biết vài chữ bẻ đôi. Vậy mà Dương Tiết độ sứ thương yêu, nhận làm nghĩa tử, coi như con cái trong nhà, ưu ái cho ngồi vào ghế Thứ sử Phong Châu, vinh thân phì gia. Tại Ái Châu, ta đã được nghe bách tính Phong Châu kêu ca ai oán tên Thứ sử tham lam, tàn bạo, vơ vét, cướp bóc, giết hại những người vô tội. Nay lòng tham không cùng, lại giết hại cả nghĩa phụ của mình, lấy oán báo ơn, bất trung, bất hiếu, bất nghĩa, vô đạo, trời không dung, đất không tha. Nhưng nay ta chưa tính toán chuyện đó với ngươi. Trước mắt, ngươi phải trả lại thi hài của Dương tiết độ sứ để ta đem về Ái Châu tổ chức tang lễ, ngươi còn được một chút gọi là hiếu thì hãy làm theo điều này. Nếu ngươi từ chối, 3 vạn quân sẽ tấn công thành Đại La ngay, ngươi sẽ không có đất mà chôn. Thứ sử Ái Châu Ngô Quyền”.
IX
Vào một sáng mùa xuân năm 938, tại đại sảnh đường trong thành Đại La, Kiều Công Tiễn đang ngồi trên ghế Tiết độ sứ, dáng vẻ lo lắng, khuôn mặt nham hiểm đã gầy càng gầy hơn, càng tăng sự gian manh tàn ác hơn. Ban đầu do tham lam, say mê quyền lực, Kiều Công Tiễn nghĩ rằng cứ giết được Dương Đình Nghệ, ngồi lên ghế Tiết độ sứ, có quyền hành thì có tất cả, mọi người đều phải khuất phục.Nhưng sự đời không đơn giản như vậy, nhất là trong lĩnh vực quyền lực chính trị. Cái tiếng tăm không mấy tốt đẹp, gian tham, tàn bạo khi còn cai trị ở Phong Châu của hắn đã lan truyền khắp nước. Nhưng khi ở Phong Châu, miền trung du xa xôi, người thì tin, kẻ thì nghi ngờ. Nhưng sau khi về Đại La giết Dương Đình Nghệ là nghĩa phụ, ân nhân của Kiều Công Tiễn, đoạt chức Tiết độ sứ thì sự xấu xa, đê tiện, phản trắc của Tiễn không thể che đậy được nữa. Hắn mới hiểu ra trong chính trị quyền lực, kẻ xấu xa về nhân phẩm, tha hóa về đạo đức, kém tài năng mà ngồi ở ngôi cao thì thật không sung sướng gì và cực kỳ nguy hiểm, như cưỡi trên lưng hổ, như ngồi trên núi lửa, có thể bị hổ ăn thịt và bị thiêu cháy bất cứ lúc nào. Gần một năm nay, Kiều công Tiễn đã cho tay chân của mình đi đến tất cả các châu nhằm thuyết phục, mua chuộc kết giao bè phái với các Thứ sử, với các anh hùng hào kiệt, với các hào trưởng. Nhưng tất cả người của Kiều Công Tiễn đều bị từ chối không tiếp, hoặc bị đuổi đi, các thư từ công văn bị trả lại kèm theo những bức thư thóa mạ của họ. Đại lược là họ không bao giờ ủng hộ cho một kẻ bất hiếu, bất trung, vô đạo, tham lam ích kỷ tàn bạo, chỉ biết vinh thân phì gia, không biết bách tính và đất nước. Họ đều báo cho Tiễn biết rằng hắn phải bị trừng phạt, phải đền tội ác. Bây giờ hắn mới biết rằng bách tính Việt là ghê gớm chứ không như hắn hiểu lầm chỉ là lớp người nghèo khổ cam chịu khuất phục để những bậc vương, tướng gian manh như hắn muốn làm gì cũng được. Vì thế, suốt gần một năm nay, quyền lực của Kiều Công Tiễn không vượt quá thành Đại La.
Thế lực đáng sợ nhất của hắn là Ngô Quyền và Dương Tam Kha. Thám mã đã về báo rằng trong đại tang của Dương Đình Nghệ, hầu hết các Thứ sử, hào trưởng, anh hùng hào kiệt khắp nơi đều về dự, thậm chí họ còn thống nhất ngỏ lời với Ngô Quyền, Dương Tam Kha sẽ hợp lực với Ngô Quyền đánh bắt Kiều Công Tiễn báo thù cho Dương Đình Nghệ, người trong một năm hai lần đánh bại quân Nam Hán hùng mạnh, giành lại tự chủ độc lập cho nước nhà, đem lại cuộc sống no ấm, yên vui cho bách tính. Người như vậy mà chết dưới tay một kẻ tiểu nhân tàn độc thì tội ác của Kiều Công Tiễn là không thể tha thứ được.
Những ngày gần đây, thám mã lại về báo rằng Ngô Quyền gia tăng số lượng quân đội Khúc- Dương, tăng cường số lượng dũng sĩ, một binh chủng đặc biệt đáng sợ với mọi kẻ thù lên đến gần 1 vạn, Thời gian huấn luyện được tăng cường cả ngày lẫn đêm. Ngô Quyền cũng đã xây dựng thủy binh hùng mạnh với nhiều loại chiến thuyền, thuyền lớn, thuyền nhỏ, có những chiến thuyền mông bằng đồng, không chỉ chạy bằng chèo mà chạy bằng buồm do tận dụng sức gió. Quân đội Khúc-Dương còn được tăng cường về kỵ binh, vũ khí nhiều loại bằng sắt tốt. Binh sĩ được huấn luyện kỹ chiến thuật chiến đấu phong phú, thiện chiến và hiệu quả, còn được huấn luyện sự phối hợp chiến đấu giữa các quân binh chủng, còn được huấn luyện tổ chức và kỹ luật nghiêm khắc, chặt chẽ. Ngô Quyền còn sử dụng những nhân tài quân sự và mưu trí tham mưu về quân sự. Các tướng lĩnh trong quân đội Khúc- Dương bây giờ là những tướng tài. Nhìn chung, quân đội Khúc –Dương thời Ngô Quyền đã được nâng cao một bước về chất lượng toàn diện, mọi mặt so với thời Dương Đình Nghệ, lại càng vượt xa so với thời họ Khúc.
Trong khi đó, quyền lực của Kiều Công Tiễn cho đến bây giờ không vượt khỏi thành Đại La, còn bên ngoài Đại La và cả nước mênh mông là các thế lực thù địch. Ngay ở Đại La, ngoài 1 vạn quân bản bộ từ Phong Châu về thì còn đáng tin cậy, còn vài nghìn quân Khúc-Dương của Dương Đình Nghệ, họ đã đầu hàng, nhưng lòng dạ của họ thì làm sao biết được, mà đem giết hết để trừ hậu họa thì cũng không được. Giết hết những kẻ đầu hàng, chạy về với mình, nay mai còn ai dám về với Kiều Công Tiễn, thứ hai, làm vậy là quá tàn bạo, Kiều Công Tiễn không muốn chuốc lấy tiếng tàn bạo hơn nữa. Một quân đội như vậy làm sao chống lại với quân đội Khúc -Dương của Ngô Quyền. Mà Ngô Quyền có lẽ đã sắp đánh Đại La đến nơi rồi. Đã quá thời gian 100 ngày của Dương Đình Nghệ lâu rồi. Càng suy nghĩ, Kiều Công Tiễn càng thấy bị cô lập và bế tắc. Kiều Công Tiễn bắt gia nhân rót và uống thêm vài chén rượu nữa, cuối cùng dằn chén mạnh xuống bàn và quát:
-Đi mời Tổng trấn Đại La Kiều Công Thuận đến đây!
-Dạ.
Một lát, Kiều Công Thuận đến và chắp tay:
-Huynh cho gọi đệ?
Kiều Công Tiễn đưa cho Kiều Công Thuận một chén rượu và nói;
-Đệ uống đi rồi bàn quốc sự với ta.
-Đa tạ huynh
Rồi Kiều Công Thuận uống một hơi. Khi Thuận đặt chén xuống bàn thì Kiều Công Tiễn nói:
-Thuận này.
-Dạ
Kiều Công Tiễn với dọng lè nhè say:
-Thuận này, huynh đệ ta hiện nay bị cô lập, Thứ sử các châu, anh hùng hào kiệt, hào trưởng trong cả nước không ủng hộ chúng ta mà họ ủng hộ Ngô Quyền. Quân đội của chúng ta ít và yếu, lại còn thêm quân của Khúc- Dương đầu hàng, không biết lòng dạ họ thế nào. Theo thám mã báo thì chỉ nay mai là Ngô Quyền và Dương Tam Kha tiến đánh Đại La, lực lượng của chúng đông và rất mạnh. Chúng ta đã bị cô lập. Ngay trong gia đình ta cũng đã không đồng lòng. Cháu của thúc là Kiều Công Chuẩn không về Đại La, chỉ ở lại Phong Châu và còn định đem theo Kiều Công Đĩnh còn nhỏ rời khỏi trấn trị Bạch Hạc, còn Kiều Công Hãn đã đi theo Ngô Quyền, hiện đang ở Ái Châu. Đệ có kế sách gì để chống lại quân của Ngô Quyền không ?
Kiều Công Thuận hỏi:
-Thế bố cáo của huynh nói về lý do huynh giết Dương Đình Nghệ để báo thù cho Khúc Thừa Mỹ người ta không tin à?
-Không ai tin, họ còn mắng chúng ta là xảo biện, là ngu xuẩn. Họ cho rằng Dương Đình Nghệ đánh quân Nam Hán, giết Lý Khắc Chính, giết Trần Bảo là để giành lại quyền tự chủ, độc lập, còn Nam Hán giết Khúc Thừa Mỹ khi đó đang bị lưu đày ở Phiên Ngung là tàn bạo, là giận cá chém thớt, không liên quan gì đến Dương Đình Nghệ. Vả lại, giết Lý Khắc Chính và Trần Bảo là Ngô Quyền, Đinh Công Trứ, đâu phải Dương Đình Nghệ.
Ngừng một lát Kiều Công Tiễn bỗng reo lên vui mừng:
-À có rồi
-Có cái gì vậy huynh?
-Nhắc đến quân Nam Hán ta mới nhớ ra, đó có thể là chỗ dựa cho chúng ta, cái phao cứu ta khỏi chìm. Chúng ta phải lập tức cầu cứu Lưu Nghiễm đem quân sang cứu chúng ta. Khi đó trong đánh ra, ngoài đánh vào thì Ngô Quyền và Dương Tam Kha chắc là bị bắt. Suýt nữa thì quên, hay, hay, có lối thoat rồi. Ha! Ha! Ha!
Kiều Công Thuận nói:
-Nhưng đó là hành động bán nước, là phản quốc, huynh biết không. Với dân Việt, tội gì họ cũng có thể tha thứ, nhưng tội phản quốc thì họ không tha, lại còn bị muôn đời nguyền rủa, hàng nghìn năm, con cháu không ngóc đầu lên được.
-Đệ yên tâm, ta chỉ nhờ họ mang quân sang tiêu diệt Ngô Quyền xong, sau đó đề nghị họ về nước, ta chỉ hết lòng thần phục và nộp cống là được.
Kiều Công Thuận nói:
-Huynh không thuộc lịch sử nước ta rồi, cái bọn vua chúa phương Bắc từ đời này qua đời khác, từ triều đại lớn đến triều đại nhỏ đều có dã tâm xâm chiếm nước ta. Huống chi Nam Hán là nước nhỏ, đang muốn chiếm An Nam để vơ vét sức người sức của cho cuộc tranh hùng với năm đời mười nước đang diễn ra khốc liệt. Huynh mời chúng vào thì dễ, đuổi chúng về nước thì khó, khi đó mất nước, anh em ta sẽ là tội đồ của lịch sử, của dân tộc, bị phỉ nhổ muôn đời.
Ngừng một lát, Kiều Công Thuận nói tiếp:
-Còn một con đường nữa là huynh bỏ chức tiết Độ sứ, bỏ Đại La lui về Phong Châu làm Thứ sử là tốt nhất.
Kiều Công Tiễn nói:
-Bây giờ đã muộn rồi, đã cưỡi lưng cọp rồi, xuống là bị nó ăn thịt. Thù giết Dương Đình Nghệ, liệu ta chạy về đâu mà Ngô Quyền và Dương Tam Kha tha thứ?
Kiều Công Tiễn uống thêm vài chén rượu nữa rồi đập bàn:
-Thuận à, cầu cứu Nam Hán là con đường thoát duy nhất của huynh và đệ, còn hậu thế ư, dân tộc ư, bách tính lạc Việt ư, kệ xác nó. Làm chính trị đôi khi cũng phải dày mặt, kệ cho nó chửi rủa.
-Bay đâu.
-Dạ.
-Đem bút mực ra đây!
-Dạ.
Có giấy mực và bút, Kiều Công Tiễn liền viết thư cho vua Nam Hán Lưu Nghiễm, đóng ấn Tiết độ sứ màu đỏ, niêm phong rồi gọi:
-Bay đâu cho gọi Kiều Công Đại vào!
Kiều Công Đại bước vào, đó là người trong họ hàng và là người giúp việc cho Kiều Công Tiễn:
-Dạ, bác gọi cháu.
- Nay ta giao trọng trách cho cháu, cháu chọn lấy 5 người và cháu cầm đầu phái đoàn sứ bộ đến Phiên Ngung, kinh đô của nhà Nam Hán, đưa bằng được bức thư này cho vua Nam Hán. Sai người chọn vàng bạc châu báu, ngọc trai đồi mồi đóng một thùng lớn và dâng lên cùng với thư, rõ chưa?
-Dạ, thưa, cháu rõ rồi ạ.
Kiều Công Đại lui ra chuẩn bị lên đường, còn Kiều Công Tiễn lại tiếp tục uống rượu. Kiều Công Thuận lui ra ngoài, miệng lẩm bẩm:
-Chúng ta chết không có đất mà chôn rồi, thành tội đồ của bách tính, của quốc gia rồi. Tội ác này trời không dung đất không tha rồi.
Hôm sau, lính canh cửa thành thấy Kiều Công Thuận cưỡi ngựa đi ra cửa Bắc và phi nước đại về hướng Phong Châu.
X -|- Tháng 10 năm 938, nắng ban mai của mùa đông mờ ảo rải xuống khắp làng Giàng, Dương Xá và thành Tư Phố. Núi Voi, núi Ngựa, núi Rùa, núi Ngũ Hoa vẫn nhô mình trong nắng và sương. Sông Mã vẫn chồm nước lên trắng xóa đổ về Đông. Ngô Quyền đang ngồi trong Đại sảnh đường Tư Phố suy nghĩ về cuộc tấn công Đại La bắt Kiều Công Tiễn. Một gia nhân bước vào:
-Dạ, bẩm Thứ sử chúa công, có tướng quân Kiều Công Hãn xin vào gặp.
-Cho vào!
Ngô Quyền bước ra cửa phòng để đón thì Kiều Công Hãn cũng vừa bước vào và thi lễ:
-Dạ, kính chào Thứ sử chúa công.
-Chào tướng quân.
Hai người bước vào sảnh đường chia ngôi chủ khách. Sau một vài chén nước, Ngô Quyền hỏi:
-Tướng quân mới từ Ái Châu về Phong Châu thăm nhà, có việc gì mà tướng quân phải vội về ngay Ái Châu vậy?
Kiều Công Hãn nói vẻ nghiêm trọng:
-Dạ, bẩm Thứ sử chúa công, có công việc quan trọng liên quan đến vận mệnh quốc gia. Số là tôi về Phong Châu thì thấy Kiều Công Thuận, người cùng ông tôi gây ra cái chết của Tiết Độ sứ Dương Đình Nghệ, được phong Tổng trấn La Thành. Tôi không gặp thúc thúc nhưng người nhà nói thúc thúc đã cãi nhau với ông tôi nên bỏ về. Tôi lập tức về La Thành xem có chuỵện gì xẩy ra. Hỏi một người lính thì họ nói nhỏ:
-Phản rồi, phản rồi, hôm qua Tiết độ sứ Kiều Công Tiễn đã phái sứ bộ sang cầu xin vua Nam Hán đem quân sang đánh Ngô Quyền và Dương Tam Kha. Phản rồi, phản rồi. Thúc thúc tôi không đồng ý với Kiều Tiết độ sứ nên đã bỏ về Phong Châu. Tôi hỏi thêm vài người lính nữa họ cũng nói như vậy.
Vừa lúc đó một gia nhân vào báo:
-Bẩm chúa công, có thám mã từ Đại La về:
-Cho vào ngay!
-Dạ.
Người thám mã vào báo:
-Da, bẩm chúa công, có tin khẩn cấp, Kiều Công Tiễn đã cho sứ bộ sang Phiên Ngung cầu cứu quân Nam Hán vào đánh nước ta.
Ngô Quyền nói:
-Đa tạ, tôi cũng vừa nhận được tin này do tướng quân Kiều Công Hãn đây mang tới, như vậy tin này là hoàn toàn chính xác. Kiều Công Tiễn thế ngày càng cô lập nên ngày càng lao sâu vào con đường tội ác, mà tội lớn nhất là tội rước giặc vào nhà, tội bán nước. Như vậy, hiện nay vận mệnh nước nhà đang ở thế rất nguy nan, thù trong giặc ngoài. Cần phải bố cáo cho bách tính và các anh hùng hào kiệt khắp An Nam biết, kêu gọi về tụ nghĩa để giết giặc cứu nước. Người đâu!
-Dạ.
-Đem bút mực và giấy khổ lớn ra đây
-Tuân lệnh.
Có giấy mực bút, Ngô Quyền ngồi vào bàn viết, chừng canh giờ sau thì Ngô Quyền viết xong, liền gọi;
-Người đâu?
-Dạ.
- Ngươi đem bài viết này cho văn phòng phủ Thứ sử chép thành nhiều bản lớn rồi sai phi ngựa đem dán ở tất cả các trấn trị lớn, các châu lớn như Tư phố, Đại La, Hồng Châu, Hoàng Châu, Ái Châu, Hoan Châu, Phong Châu, Lộc Châu, Hợp Phố… ngoài ra còn chép thành nhiều bản nhỏ niêm phong chuyển cho tất cả Thứ sử các châu. Nên nhớ, cáo thị và công văn trước khi niêm yết và gửi đi phải đóng dấu đỏ ấn Thứ sử Ái Châu. Rõ chưa?
-Dạ bẩm, rõ.
Ngô Quyền nói với một gia nhân khác:
-Ngươi đi mời các tướng Dương Tam Kha, Phạm Bạch Hổ, Đỗ Cảnh Thạc, Ngô Xương Ngập, Ngô Xương Văn vào sảnh đường ngay!
Dạ, tuân lệnh.
Lát sau, các tướng bước vào, họ thi lễ chào Ngô Quyền, chào Kiều Công Hãn. Ngô Quyền và Kiều Công Hãn đáp lễ. Sau khi mọi người an tọa, Ngô Quyền nói:
-Các vị đều biết đây là tướng quân Kiều Công Hãn. Tướng quân là cháu Nội Kiều Công Tiễn nhưng kiên quyết phản đối những việc làm trái đạo nghĩa của ông nội. Hôm qua, Tướng quân đã đi từ Phong Châu xuống Đại La rồi từ Đại La đi suốt đêm về Ái Châu để thông báo một việc quan trọng khẩn cấp là Kiều Công Tiễn đã sai sứ bộ sang cầu viện vua Nam Hán đem quân vào giúp đỡ để bảo vệ chức Tiết độ sứ và quyền lợi của ông ta.
Mọi người sửng sốt:
-Sao lại làm như thế được!
Ngô Quyền nói tiếp:
-Ta cũng vừa được thám mã ở Đại La về báo tin này là chính xác. Như vậy đất nước đang bước vào thời kỳ nguy nan, thù trong giặc ngoài, bên trong là thế lực nội phản của Kiều Công Tiễn, bên ngoài là hàng vạn quân giặc sắp tiến vào xâm lược. Nếu để hai thế lực này hợp nhất được với nhau thì vận mệnh đất nước như nghìn cân treo sợi tóc. Ta đã viết “Cáo Thị” và công văn gửi đi tất cả các Thứ sử và bách tính các châu, kêu gọi họ về Ái Châu ứng nghĩa để chuẩn bị chống giặc. Tình thế hiện nay rất khẩn cấp, quân Nam Hán chỉ nay mai là kéo vào, vì vậy, phải tiêu diệt Kiều Công Tiễn, chiếm thành Đại La trước khi quân Nam Hán đến, làm mất chỗ dựa bên trong của chúng. Cho nên, phải cử một đạo quân tiến đánh Đại La trước khi quân Nam Hán đến, cũng trước cả khi các anh hùng hào kiệt về đây đầy đủ.
Đỗ Cảnh Thạc nói:
-Tình hình như vậy rất khẩn cấp, đòi hỏi phải hành động nhanh chóng, chúa công cứ ra mệnh lệnh, chúng tướng sẽ chấp hành.
Ngô Quyền nói:
-Trong bảy năm qua, ta đã xây dựng quân Khúc-Dương lên một chất lượng mới. Chúng ta có bộ binh hùng mạnh, có kỵ binh, có thủy binh. Thủy binh có nhiều loại thuyền, thuyền lớn, thuyền nhỏ. Ta có một đội quân đặc biệt tinh nhuệ vô song, có 3000 dũng sĩ từ thời nhạc phụ ta, nay ta phát triển lên một vạn. Trang bị của quân Khúc- Dương cũng được tăng cường gồm giáo, mác, gươm, dao, khiên, mộc, cung mạnh, nỏ cứng chất lượng tốt. Ta đã sử dụng cất nhắc nhiều tướng tài chỉ huy. Tuy nhiên, thắng lợi của chiến tranh còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhưng sức mạnh, chất lượng của quân đội là rất quan trọng. Nay đánh thành Đại La được giao cho các tướng sau đây:
-Dương Tam Kha làm Tổng chỉ huy, Đỗ Cảnh Thạc làm Phó cùng các tướng Ngô Xương Ngập, Ngô Xương Văn, Phạm Bạch Hổ đem 3000 võ sĩ, 3 vạn quân tiến đánh Đại La, ngay chiều hôm nay xuất phát. Càng hạ được Đại La sớm càng tốt. Quân số lực lượng như vậy là rất mạnh. Chúc huynh Dương Tam Kha và các tướng quân thắng lợi. Còn việc tổ chức đánh quân Nam Hán, ta chờ hai hôm nữa khi các anh hùng hào kiệt đến sẽ bàn sau.
Dương Tam Kha và các tướng đứng dậy chắp tay:
-Xin đa tạ chúa công, chúng tôi nhất định đem tin thắng lợi trở về.
Ngay chiều hôm đó, đạo quân tiến đánh Đại La do Dương Tam Kha làm chủ soái, Đỗ Cảnh Thạc làm phó soái lên đường. Quân đi suốt đêm, chiều hôm sau thì đến nơi, khi con cách thành nửa dặm thì dàn trận, chờ quân Kiều Công Tiễn ra nghênh chiến. Chờ đến hai canh giờ mà cửa thành vẫn đóng. Thốt nhiên, từ trên mặt thành một mũi tên bắn xuống rơi ngay trước mặt Dương Tam Kha. Một người lính nhặt lên, rút tờ giấy ghim ở đầu mũi tên đưa cho Dương Tam Kha. Dương Tam Kha mở tờ giấy. Thư viết; “Kiều Công Tiễn tướng yếu, quân ít, sợ không ra giao chiến mà ngồi đợi viện binh của Nam Hán đến. Chúng tôi là quân Khúc-Dương của Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ đã trá hàng, giấu mình trong thành. Đêm nay canh ba khi chúng tôi giết lính canh, mở cổng thành thì có hai phát tên lửa bắn lên, Tướng quân hãy tấn công vào thành sẽ bắt được Kiều Công Tiễn.”
Ngô Xương Văn nói:
-Nhỡ đây là kế mai phục của Kiều Công Tiễn thì sao?
Ngô Xương Ngập nói:
-Ta cho 3000 dũng sĩ tràn vào trước, sau đó 3 vạn quân tiến theo sau, cho dù chúng có kế mai phục thì chúng vẫn bị tiêu diệt.
Dương Tam Kha dặn quân lính:
-Khi vào thành không được đốt phá, không được giết bừa bãi, chỉ giết những tên chống cự, ai đầu hàng thì thôi, vì trong thành có cả quân Khúc- Dương trá hàng Kiều Công Tiễn để náu mình.
Mọi người nói:
-Xin tuân lệnh chủ soái.
Đêm đó, canh ba, quân Dương Tam Kha tiến đến gần thành. Trên thành không một mũi tên bắn trả vì lính của Kiều Công Tiễn đã bị quân Khúc- Dương xưa của Dương Đình Nghệ trá hàng giết hết. Hai phát tên lửa bắn lên không trung sáng rực, cổng phía Đông thành Đại La mở toang. 3000 dũng sĩ lao vào, theo sau là 3 vạn quân. Thành Đai La náo loạn. Hầu hết quân trong thành đều buông vũ khí, quỳ xuống đầu hàng, số chống cự và bị giết rất ít. Dương Tam Kha chĩa gươm vào một tên tùy tướng và hỏi:
-Dẫn ta đến chỗ Kiều Công Tiễn ta sẽ tha mạng.
-Dạ mạt tướng xin dẫn đường.
Tên tùy tướng chạy trước. Dương Tam Kha và 100 võ sĩ theo sau đến hành cung của Tiết Độ Sứ. Những tên lính gác chống cự đều bị giết. Dương Tam Kha xông vào căn phòng sang trọng, mấy võ sĩ đạp tung cửa xông vào. Kiều Công Tiễn đang run rẩy trên giường ngủ kêu lên:
-Kiều Công Thuận đâu, các võ sĩ của ta đâu, người đâu!
Dương Tam Kha bước lại gần trỏ gươm vào mặt Kiều Công Tiễn:
-Thằng phản bội, mày đã ăn nát bát nát nồi nhà tao ở Dương Xá, mày bất tài nhưng cha ta đã cho mày quyền cao chức trọng ở Phong Châu, vinh hoa phú quý, mày không đền ơn lại còn giết hại nghĩa phụ của mình. Con chó được nuôi còn biết ơn trung thành với chủ, mày không bằng loài cầm thú, lại còn cầu viện Nam Hán, bán rẻ giang sơn cho lũ giặc ngoài.
Kiều Công Tiễn run rẩy:
-Lão phu biết tội rồi, xin đệ nể tình mà tha cho huynh. Lão phu sẽ từ chức mà về Phong Châu…
-Ai huynh đệ với loài cầm thú như mày. Tao tha nhưng các anh hùng hào kiệt, bách tính có tha cho mày không. Họ đang nóng lòng muốn xé xác tên bán nước, phản dân như mày.
Dương Tam Kha xuống gươm qua cổ Kiều Công Tiễn, cái đầu đẫm máu lăn xuống đất, cái thây cũng nhuộm máu vật xuống giường. Dương Tam Kha ra lệnh:
-Đem đầu hắn treo trước cổng chính thành Đại La để răn dạy kẻ bất hiếu, bất trung, bất nghĩa, bán nước cầu vinh, để cho bách tính thỏa lòng!
Khi quân Dương Tam Kha đang đánh Đại La thì ở tất cả các trấn trị các châu, bách tính khắp nơi đã đọc được bản “Cáo thị” của Thứ sứ Ái Châu Ngô Quyền. “Cáo thị” viết: “Tên Kiều Công Tiễn là nghĩa tử của Dương Tiết độ sứ, bất tài nhưng đã được nâng đỡ thành Thứ sử Phong Châu. Bảy năm cai trị Phong Châu, Kiều Công Tiễn tham lam, tàn bạo, vơ vét, bóc lột, giết hại bách tính, tham lam của cải, còn tham lam quyền lực. Tháng 4 năm 937 đã giết hại nghĩa phụ của mình và đoạt chức Tiết độ sứ. Nay, để bảo vệ cho chức Tiết độ sứ của mình, Kiều Công Tiễn đã cầu viện quân Nam Hán tiến vào xâm lược An Nam. Kiều Công Tiễn đã phạm tội bất hiếu, bất trung, bất nghĩa, cam tâm bán nước, làm tay sai cho giặc ngoại bang.Tội của Kiều Công Tiễn trời không dung đất không tha.
Hỡi bách tính, hỡi các anh hùng hào kiệt, hào trưởng bốn phương, nay vận nước lâm nguy, trong thì nội phản, ngoài thì giặc Nam Hán sắp kéo sang. Mạt tướng là Ngô Quyền kêu gọi các anh hùng hào kiệt, hào trưởng bốn phương hãy về Ái Châu tụ nghĩa để tiến ra biên cương diệt thù cứu nước!
Nay kính cáo. Thứ sử Ái Châu Ngô Quyền”.
Ở các phủ đường các châu, các quan Thứ sử cũng nhận được công văn của Ngô Quyền với nội dung như trên.
Sau bảy ngày gửi “Cáo thị” và công văn, lần lượt Thứ sử và hào trưởng các châu đã đem quân bản bộ của mình về làng Giàng, Dương Xá, Ái Châu tụ nghĩa để cùng Ngô Quyền đánh quân Nam Hán. Gồm có:
1.Lê Minh Trang, hào trưởng Thuận Thành Vũ Ninh.
2.Phạm Chiêm, hào trưởng Nam Sách, Hồng Châu.
3.Nguyễn Khoan, Cần Hạt tướng quân.
4.Nguyễn Thủ Tiếp, Tứ Xuyên Đô hộ.
5.Nguyễn Siêu, Thống Lĩnh tướng quân.
6.Nguyễn Tất Tố, hào trưởng Gia Viên, Lục Châu.
7.Đào Nhuận, hào trưởng Gia Viên, Lục Châu.
8.Phạm Lệnh Công, hào trưởng Nam Sách, Hồng Châu.
9. Đinh Công Trứ, Thứ sử Hoan Châu.
10. Đinh Bộ Lĩnh, hào trưởng Trường Châu .
11. Lê Hương, hào trưởng Ái Châu.
Các hào trưởng đem theo hàng nghìn quân bản bộ của mình về. Cùng với quân Khúc- Dương, quân của các hào trưởng hạ trại màu xanh, đỏ, nâu mênh mông suốt một vùng hữu ngạn sông Mã.
Sau tiệc đón mừng thì Ngô Quyền cho họp với các hào trưởng ở đại sảnh đường phủ đường Tư Phố. Ngô Quyền đứng lên thi lễ và nói:
-Đa tạ các anh hùng hào kiệt, các vị tướng quân, các hào trưởng đã về để lo việc cứu nước. Việc đánh giặc là việc khó khăn trọng đại và phải có Thống soái chỉ huy thống nhất. Nay xin các quý vị cử ra một Chủ soái để điều hành chỉ huy ba quân đưa sự nghiệp chúng ta tới thắng lợi, đánh tan quân Nam Hán, cứu nước, cứu nhà.
Đinh Công Trứ nói:
-Qua cuộc kháng chiến đánh quân Nam Hán năm 931, tài năng quân sự của Thứ sử Ngô Quyền đã được thể hiện, vả lại, nay Thứ sử là chủ soái của quân Khúc -Dương hùng mạnh, để thống nhất chỉ huy, lão phu đề đạt Ngô Thứ sử là thống soái chỉ huy ba quân.
Sau ý kiến của Đinh Công Trứ, cả đại sảnh đường hơn chục vị tướng quân đều đồng thanh:
-Ngô Thứ sử là chủ soái.
Ngô Quyền đứng dậy nói :
-Đa tạ các tướng quân đã tín nhiệm.Vậy mạt tướng xin tuân lệnh. Mạt tướng có một kế hoạch điều động quân đội như sau lên các mặt trận chống giặc.
-Theo truyền thống tấn công vào nước ta của quân phương Bắc thì quân Nam Hán sẽ vào nước ta theo ba đường. Đạo bộ binh thứ nhất có thế đi vào Quỷ Môn Quan, tiến vào vùng Lạng Châu và tiến xuống Đại La. Nay điều tướng quân Lê Minh Trang, Phạm Chiêm, Nguyễn Khoan, Nguyễn Thủ Tiếp đem quân lên chặn địch ở đầu địa phận Lạng Châu. Cánh quân này do tướng Lê Minh Trang làm chủ soái, Tướng Nguyễn Khoan làm phó soái. Nhiệm vụ của các tướng quân là chặn không cho địch tiến xuống Đại La. Ở đây địa hình hiểm trở, các tướng có thể dùng mai phục, truy kích tập kích mà tiêu diệt địch, không được sơ suất và mọi người phải chịu theo quân luật.
-Đạo bộ binh địch còn có thể tiến theo Hợp Phố vào Lục Châu và theo ven bờ biển tiến vào Hồng Châu. Ở đây xin điều động các tướng Nguyễn Siêu, Phạm Lệnh Công, Lê Hương, Đinh Công Trứ, Đinh Bộ Lĩnh chặn địch ở vùng Hợp Phố, không cho chúng tiến vào để phối hợp với thủy binh. Đạo này do Tướng quân Đinh Công Trứ làm chủ soái, tướng Phạm Lệnh Công làm phó soái.
- Đạo thứ ba là đạo thủy binh. Thủy binh Nam Hán sẽ tiến vào sông Bạch Đằng rồi từ đó vào sông Kinh Thầy tới Lục Đầu Giang để phối hợp với bộ binh. Tại mặt trận này do mạt tướng chỉ huy, có nhiệm vụ chặn đánh tiêu diệt địch trên sông Bạch Đằng, không cho chúng tiến vào Lục Đầu Giang để phối hợp với bộ binh.
-Tham gia mặt trận Bạch Đằng còn có tướng quân Nguyễn Tất Tố, Đào Nhuận, hai tướng quân này quê ở Gia Viên, trên bờ sông Bạch Đằng, có thể giúp mạt tướng hiểu địa hình bố trí trận địa. Mạt tướng xin thông báo tin vui, đạo quân đánh thành Đại La do tướng Dương Tam Kha chỉ huy đã hạ thành, giết chết Kiều Công Tiễn. Đầu của hắn đã treo ở cổng chính thành Đại La. Kiều Công Thuận đã chạy thoát về Phong Châu. Như vậy, thế lực nội ứng bên trong của quân Nam Hán đã mất, chúng sẽ choáng váng và thất bại. Sau khi ổn định tình hình Đại La, mạt tướng có thể sẽ điều lực lượng của Dương Tam Kha về tác chiến ở Bạch Đằng. Các vị còn cao kiến gì không?
Các hào trưởng đều đứng dậy đồng thanh:
-Xin tuân lệnh của chủ soái. Chúc mừng chủ soái đã giết được Kiều Công Tiễn, báo thù cho Dương Tiết độ sứ, làm thỏa mãn vui mừng của bách tính. Chúc chủ soái thắng lợi tại trận Bạch Đằng.
Ngô Quyền thi lễ đáp:
-Đa tạ các tướng quân. Chúc các tướng quân chiến thắng trên các mặt trận.
Ngày hôm sau, các hào trưởng cùng một mặt trận hợp quân lại và hành quân về Đông Bắc và về phương Bắc. Bộ binh và thủy binh của quân Khúc-Dương do Ngô Quyền thống lĩnh tiến về hướng Bạch Đằng Giang. Tham gia mặt trận thủy chiến này có các tướng Nguyễn Tất Tố, Đào Nhuận, nữ tướng Dương Phương Lan. Sau này Ngô Quyền chỉ để Ngô Xương Văn coi thành Đại La, còn điều thêm Dương Tam Kha, Đỗ Cảnh Thạc, Ngô Xương Ngập, Phạm Bạch Hổ từ Đại La về bổ sung lực lượng tại mặt trận Bạch Đằng Giang. Trước đó, Ngô Quyền đã sai Kiều Công Hãn đi tiên phong chọn và chuẩn bị nơi hạ trại cho toàn quân bên bờ sông Bạch Đằng, sao cho gần cửa sông, thuận lợi cho việc thực hiện chiến dịch.
Toàn cõi An Nam bước vào cuộc chiến tranh mới với Nam Hán. Bách tính lại một lần nữa hướng đôi mắt và trái tim của mình về phương Bắc và miền Đông Bắc, đặc biệt là mặt trận Bạch Đằng Giang.
XI -|- Mãi đến canh ba, Ngô Quyền mới cùng với quân sĩ và các tướng lĩnh về đến bờ nam sông Bạch Đằng, nơi mà tướng tiên phong Kiều Công Hãn đã chuẩn bị và lựa chọn cho toàn quân hạ trại, đó là đoạn sông vùng Xương Lâm, cách cửa sông Bạch Đằng khoảng một dặm. Các lều trại quân bản bộ của Ngô Quyền rải dọc bờ sông san sát chìm trong đêm đông và gió lạnh với những ánh lửa bập bùng. Đó là ánh sáng của những ngọn đuốc của lính tuần tra. Ba quân đã chìm vào giấc ngủ say. Giữa các lều trại bé, nổi lên một chiếc lều màu vàng cao rộng nhô lên, trên đỉnh nóc lều vàng tung bay lá cờ đỏ với chữ Soái màu vàng. Đó là nơi làm việc của Ngô Quyền, là đầu não, là Tổng hành dinh của cuộc kháng chiến. Dòng sông Bạch Đằng trong đêm im lìm đen thẳm, mênh mông, những dãy cù lao núi đá, những rừng cây dại mọc hai bên bờ sông như một bức tranh huyền bí, gió khua xào xạc.
Sau một ngày đi kiểm tra về đến Tổng hành dinh, ăn vội bữa tối, Ngô Quyền đã lại ngồi vào bàn rà soát lại toàn bộ trận tuyến Bạch Đằng và việc bố trí triển khai quân đội chuẩn bị kháng chiến. Hai đạo quân của tướng Lê Minh Trang chỉ huy đã tập kết lên miền Lạng Châu, sẵn sàng chặn đánh bộ binh quân Nam Hán tràn xuống Đại La. Đạo quân khác do tướng Đinh Công Trứ chỉ huy cũng đã lên miền Hợp Phố, chặn bộ binh địch từ Đông Bắc tràn xuống tả ngạn sông Bạch Đằng hỗ trợ cho thủy quân. Việc bố trí Trận địa cọc ở cửa sông Bạch Đằng cũng đã hoàn thành đúng thời hạn. Ông khâm phục tinh thần của quân đội và nhân dân chịu đựng gian khổ suốt một tháng ròng, dầm mưa dãi nắng, dầm mình trong nước, lặn xuống đáy sông trong giá rét để xây dựng trận địa cọc. Ông đã quan sát từ sáng cho đến trưa khi nước thủy triều rút, bãi cọc nhô lên nhọn hoắt, như vạn bàn chông, nghiêng về phía trong sông vững chắc, sẵn sàng đâm thủng thuyền địch thì thuyền địch không thể thoát ra ngoài được. Ngược lại, buổi chiều và đêm khi thủy triều dâng cao, cửa dòng sông trở nên rộng lớn mênh mông che hết cả bãi cọc, thuyền dù to lớn nặng nề vẫn lướt qua vào trong sông được. Trong các dãy núi cù lao đá vôi, rừng cây ven dòng sông Bạch Đằng khoảng bốn dặm, Ngô Quyền đã cho thủy binh và bộ binh mai phục sẵn sàng xông ra tấn công đạo thủy binh của địch. Dương Tam Kha chỉ huy quân Khúc- Dương mai phục tả ngạn sông Bạch Đằng, Đỗ Cảnh Thạc mai phục hữu ngạn sông. Hai cánh quân mai phục này bao gồm cả quân bộ và quân thủy. Còn có một đạo quân thủy do nữ tướng Dương Phương Lan và Phạm Bạch Hổ chỉ huy chờ sẵn ở thượng lưu để chặn đánh thuyền địch khi chúng tiến vào. Ngô Xương Ngập được lệnh bịt cửa sông Cấm để buộc thuyền địch phải đi vào cửa sông Bạch Đằng có trận địa cọc và quân Dương Tam Kha và Đỗ Cảnh Thạc mai phục. Đào Nhuận mai phục bịt cửa sông Giá buộc thuyền giặc phải vào cửa Bạch Đằng
Một ngày mùa đông năm 938, gió lạnh thổi vù vù, miền biển Đông Bắc sóng chồm lên từng đợt màu xám. Trời cũng một màu xám ngắt. Nhưng mặt biển không yên tĩnh. Hơn 300 chiến thuyền chở hàng vạn thủy binh Nam Hán đang đè sóng hùng dũng tiến sang xâm lược lại miền mà xưa là Giao Châu và đến nhà Đường gọi là An Nam đô hộ phủ. Những chiến thuyền cao to màu nâu, mũi còm xuống nom rất hung dữ. Trên thuyền đông đặc nhưng tên lính đồng phục màu đen, gươm giáo sáng lòa, lưng đeo cung mạnh, nỏ cứng và những ống đựng tên. Các tướng lĩnh quân Nam Hán giáp trụ màu kim khí lấp lánh, kiếm, gươm lấp lóe trong tay dữ dội như những thần chết đang tiến vào đất nước xa lạ gieo rắc chiến tranh chết chóc và tàn phá, xé tan cuộc sống thanh bình của một đất nước mà không hề làm hại đến người Nam Hán. Đoàn chiến thuyền dàn đội hình chiến đấu lướt nhanh trên sóng, những mái chèo như hàng nghìn cánh tay khổng lồ quái dị gạt nước đưa thuyền đè sóng tiến lên như những con quái vật khủng khiếp. Giữa đoàn chiến thuyền, một chiếc thuyền màu vàng cao to với vọng lâu phủ lọng vàng. Đó là chiến thuyền của Thái tử Nam Hán Lưu Hoằng Thao, Tổng chỉ huy cuộc xâm lược An Nam. Là Tổng chỉ huy nhưng Lưu Hoằng Thao chỉ là một thanh niên đang lớn, kiêu ngạo. Hắn tin tưởng vào sức mạnh của nhà Nam Hán dù chỉ là nước bé trong cục diện phân liệt năm đời mười nước khi nhà Đường sụp đổ. Lưu Hoằng Thao càng tin tưởng khi tiến quân cùng với đoàn thuyền chiến còn có đạo bộ binh hùng hậu do vua Nam Hán Lưu Nghiễm thân chinh chỉ huy tiến theo đường bộ, sẵn sàng tiếp ứng cho đạo thủy binh.
Lưu Hoằng Thao ngồi trên vọng lâu thuyền vừa quan sát cuộc tiến quân vừa uống rượu, vừa xem mười cung nữ xinh đẹp, xiêm y lộng lẫy múa hát theo điệu nhạc cổ du dương trầm bổng. Khi đoàn chiến thuyền đi qua Bái Tử Long và Vịnh Hạ Long, Lưu Hoằng Thao sững sờ trước vẻ đẹp như tiên cảnh bồng lai. Những hòn núi đủ hình thù kỳ quái phải hàng vạn năm thiên nhiên mới tạo được nhô mình trên mặt biển sóng yên biển lặng lung linh soi bóng. Trên một số đảo những đàn khỉ trông thấy chiến thuyền hung hãn của bọn người xa lạ hoảng hốt bồng bế con lẩn tránh, trèo lên tít những ngọn cây cao hay lẩn vào khe đá. Có những con hình như không biết sợ dương mắt nhìn quân xâm lược ngạc nhiên lẫn ánh mắt căm thù. Đàn hải âu trắng xóa bay loạn xạ. Lưu Hoằng Thao hớp cạn một ly rượu nói:
-An Nam quá đẹp xứng đáng để ta cất công chinh phục.
-Dạ, Thái tử nói không sai. Tên vệ sĩ đứng cạnh Lưu HoằngThao đáp lời nịnh nọt.
Từ ngoài bước vào một tên lính hoa tiêu dẫn đường. Tên lính khoanh tay cúi đầu báo:
-Dạ bẩm Thái tử đã đến vùng biển rẽ vào sông Bạch Đằng rồi ạ.
Lưu Hoằng Thao bước lên đài quan sát, Khi đó đang là buổi chiều, nước thủy triều đang lên mênh mông. Bỗng xuất hiện một đội binh thuyền nhỏ bé của người An Nam chặn ngay phía trước đoàn binh thuyền đồ sộ của quân Nam Hán. Đoàn chiến thuyền nhỏ ra khiêu chiến này do tướng Nguyễn Văn Tố chỉ huy, có nhiệm vụ dụ thuyền quân Nam Hán vượt qua bãi cọc vào trong sông, vào trận địa mai phục. Lưu Hoằng Thao cười:
-Ha...Ha...thủy binh của An Nam có thế này thôi sao.
Rồi Hoằng Thao ra lệnh:
-Dàn đội hình chiến đấu tấn công.
Thủy quân Nam Hán đang đội hình hàng dọc phút chốc những chiến thuyền phía sau tiến lên dàn thành hình tam giác mà mũi nhọn hướng vào sông Bạch Đằng. Lâu thuyền của Hoằng Thao lọt vào giữa được bảo vệ nghiêm ngặt. Từ những chiến thuyền Nam Hán những trận mưa tên bay về phía chiến thuyền Ngô Quyền. Những chiến thuyền nhỏ bé của Ngô Quyền bắn lại. Những chiến thuyền Nam Hán lướt sóng chồm lên như muốn nuốt chửng quân Việt. Đội chiến thuyền của Ngô Quyền có vẻ núng thế quay mũi chạy vào sông Bạch Đằng. Hoằng Thao cười ha hả, phất cờ hạ lệnh đại đội binh thuyền xông lên truy kích. Lúc này trời đã xế chiều nên nước thủy triều đang dâng cao ngập hết bãi cọc. Toàn bộ hàng trăm chiến thuyền Nam Hán vượt qua. Cửa biển Bạch Đằng tung lên từng đợt sóng. Tiếng reo hò náo động vang cả một vùng. Những mái chèo của thuyền Nam Hán khua gấp, thuyền lướt như tên bay gió thổi. Đội hình thuyền Nam Hán kéo dài suốt bốn dặm nhưng vẫn giữ nguyên đội hình tam giác bao gồm mũi tiên phong sau đó là tả quân, hữu quân, hậu quân bảo vệ cho chủ tướng và hỗ trợ cho nhau. Bỗng nhiên trên đỉnh núi cao nhất bờ Bắc sông Bạch Đằng một lá cờ xanh phất lên. Hoằng Thao hỏi tên tì tướng:
-Quân Nam phất cờ xanh là ý gì vậy?
Tên tùy tướng ấp úng:
-Dạ thưa Thái tử, tiểu tướng đáng chết, tiểu tướng không biết ạ.
Hoằng thao và toàn bộ thủy binh Nam Hán không hiểu nhưng quân Việt thì hiểu. Đó là hiệu lệnh đánh cầm chừng không cho quân địch tiến lên, cũng không cho quân địch rút ra biển chờ nước thủy triều rút xuống mới tổng công kích.
Sau tín hiệu cờ xanh phất lên, Hoằng Thao và quân Nam Hán thấy xuất hiện khoảng một dặm trước mặt một đoàn thủy binh hùng mạnh chặn ngang chiến thuyền Nam Hán nhưng chỉ dừng lại phất cờ đánh trống mà không tiến công. Hoằng Thao ra lệnh cho chiến thuyền giảm tốc độ, khi vừa tầm tên ra lệnh bắn dữ dội vào chiến thuyền quân Việt. Quân Việt cũng dùng tên bắn lại như mưa. Thủy binh Nam Hán trúng tên, xác nằm la liệt trên các chiến thuyền. Tuy nhiên chiến thuyền Nam Hán vẫn không nhích lên được, không ra khỏi trận địa mai phục của Ngô Quyền. Thời gian trôi dần và màn đêm đã bao phủ không gian, bao phủ cả dòng sông Bạch Đằng nhưng màn đêm bị xé rách loang lổ bởi ánh lửa vàng vọt của các chiến thuyền. Nước thủy triều đang rút dần rất nhanh, rất mạnh. Hoằng Thao và thủy binh Nam Hán cảm thấy chiến thuyên nhích lên rất chậm và có vẻ như đang trôi ra biển, nước róc rách ào ạt dưới đáy thuyền. Bỗng nhiên Hoằng Thao trông thấy trên đỉnh núi cao phía Bắc một mũi tên lửa bắn lên không trung. Thủy binh và bộ binh Việt hiểu rằng đó là tín hiệu phản công mãnh liệt vào thủy binh Nam Hán vì bãi cọc ở cửa sông đã nhô lên sẵn sàng chặn bước tháo chạy ra biển của quân thù. Sau khi mũi tên lửa rớt xuống và tắt ngấm trong màn đêm, Hoằng Thao trông thấy các chiến thuyền quân Việt từ các núi đá, từ các rừng cây xông ra đánh mãnh liệt vào quân Nam Hán. Chiến thuyền quân Việt tiếp cận gần dùng búa phá thuyền, dùng câu liêm móc lính Nam Hán xuống sông mà giết. Quân Nam Hán bị công kích dữ dội phía trước mặt và cả hai bên sườn. Lính Việt nhảy cả lên thuyền chém giết. Quân Nam Hán chết như ngả rạ. Quân Nam Hán rối loạn, xác chết rơi xuống sông bị sóng đánh dập dềnh kín đặc. Rồi đột nhiên tất cả các mái chèo đều vô hiệu không đẩy được thuyền quân Nam Hán tiến lên, cũng không giữ chiến thuyền lại được. Các chiến thuyền Nam Hán cứ lao vun vút về phía cửa sông do nước thủy triều đang rút mạnh. Trên đỉnh núi cao phía Bắc lại hai mũi tên lửa bắn lên không trung sáng rực. Phút chốc sau tín hiệu, toàn bộ chiến thuyền quân Việt tản ra hai bờ dòng sông và những chiếc bè lửa cháy rừng rực đang theo nước triều trôi ngay phía trước mặt binh thuyền Nam Hán. Binh thuyền Nam Hán trôi với tốc độ khủng khiếp ra đến cửa sông chưa kịp định thần thì đã vang lên những tiếng kêu khủng khiếp. Những chiếc thuyền trôi đầu tiên xuyên vào cọc nhọn, chiếc tan tành chìm xuống nước, chiếc bị cọc chọc thủng xoay quanh như chong chóng. Hàng trăm chiến thuyền bị dồn lại, tắc nghẽn, không thoát ra biển được dù chỉ còn cách biển vài mét. Đang khi hoảng hốt thì thủy binh Nam Hán kinh hoàng vì những bè lửa rừng rực đang theo nước triều áp vào chiến thuyền Nam Hán. Hoằng Thao kêu lên tuyệt vọng:
-Trời ơi! Lưu Thái Tổ ơi! hỏa công. Sao Người lại đẩy con vào đất chết thế này?
Ngọn lửa hung dữ bén vào chiến thuyền Nam Hán. Gần ba trăm chiến thuyền đồng loạt cháy biến thành một biển lửa thực sự. Các chiến thuyền biến thành than, tan vỡ chìm xuống nước . Lính tráng bị cháy đen thui vùi xác xuống sông hoặc nổi dập dềnh. Có những tên lính bị cháy và chết chìm cùng thuyền, có tên bị lửa bén vào quần áo nhảy xuống sông chết đuối. Quân Việt đứng bên ngoài reo hò kinh thiên động địa, trút tên vào trong đám loạn quân của giặc. Nhiều tên bị chết vì trúng tên sau đó mới chết cháy. Chiếc lâu thuyền của Hoằng Thao cũng sớm bị bén lửa, các tướng sĩ hộ vệ chết hết không ai che chắn cho y được nữa. Hoằng Thao cuống cuồng chạy quanh lâu thuyền, khóc lóc gọi tên phụ vương Lưu Nghiễm, quần áo bén lửa rừng rực và chìm dần cùng chiếc lâu thuyền xuống nước. Giấc mộng Nam Vương mà người cha tham lam vẽ ra cho y đã đẩy y vào chỗ chết lúc đang tuổi thanh xuân. Cửa sông Bạch Đằng ngùn ngụt khói lửa, đêm mùa đông vùng Đông Bắc rực sáng với những âm thanh khủng khiếp của chiến trường, với một trận hỏa công hoành tráng. Đất trời Đông Bắc như nghiêng ngửa trong cơn giận dữ trừng phạt quân thù.
Ngô Quyền suốt đêm chỉ huy trận đánh. Chính Ngô Vương cũng thấy trận thủy chiến Bạch Đằng thật là hùng tráng. Trong ánh bình minh của một ngày mới, Bạch Đằng giang sau trận thủy chiến thật là khủng khiếp. Nước sông bốn dặm đỏ một màu máu quân Nam Hán. Xác ván thuyền cháy không hết tan vỡ dập dềnh cùng với xác quân thù kín đặc dòng sông. Chung quanh sông vẫn vang lừng chiêng trống như khúc ca chiến thắng khải hoàn của quân Việt. Nhân dân quanh vùng kéo về hai bên bờ sông nhìn xem phong cảnh hoành tráng của chiến trường và nhảy múa tưng bừng ăn mừng chiến thắng.
Vua Nam Hán chỉ huy đạo bộ binh chưa kịp vào nước Việt thì nghe tin đạo thủy binh đã bị tiêu diệt, thái tử Lưu Hoằng Thao tử trận. Lưu Nghiễm khóc rống lên:
-Trời ơi! Cha có tội với con. Sao cha lại đẩy con vào đất chết như vậy?
Kêu khóc thảm thiết và hối hận. Nhưng không biết đến lúc chết vua Nam Hán có nhận ra một điều đơn giản rằng thèm muốn đất đai, sông biển của nước khác đều phải trả giá đắt cho những giấc mộng điên rồ của mình. Biết bao đế quốc đã sụp đổ, biết bao kẻ ôm giấc mộng bình thiên hạ với kết cục cũng chẳng ra gi.
Đó là tháng 10 Mậu Tuất (938)
Sau chiến thắng Bạch Đằng năm 938, năm 939 Ngô Quyền xưng Ngô Vương, đóng đô ở Cổ Loa. Thủy chiến Bạch Đằng Giang đã kết thúc hơn 1.000 năm đô hộ của phong kiến Trung Quốc, mở ra một thời kỳ độc lập lâu dài cho đất nước của những người Việt phương Nam.
(Hết tập I)
(Còn nữa – Tập II)