I

  Sau cuộc kháng chiến chống Minh thắng lợi (1418-1427), ngày 15 tháng 4 năm 1428, Lê Lợi từ điện Tranh ở Bồ Đề vào Đông Quan, lên ngôi hoàng đế, đại xá thiên hạ, lấy niên hiệu Thuận Thiên, sử gọi là Lê Thái Tổ Hoàng đế, quốc hiệu Đại Việt, đổi Đông Quan thành Đông Đô (Đông Kinh), Thanh Hóa là Tây Kinh, Lam Sơn được đổi là Lam Kinh. Việc đầu tiên là Lê Thái Tổ tuyên dương công trạng và ban thưởng cho những công thần đã cùng ông chiến đấu trong 10 năm để giải phòng đất nước. Ông đã giành cho người chết để cứu ông ở Chí Linh là Lê Lai và con cháu nhiều ân sủng. Khi Lê Lai vừa chết, nhà vua sai người tìm di hài về Lam Sơn mai táng. Năm Thuận Thiên thứ nhất 1428, vua phong Lê Lai là công thần thứ nhất, truy tặng là Suy Trung Đồng Đức Hiệp Mưu Bảo Chính Lũng Nhai công thần, hàm Thiếu úy, thụy là Toàn Nghĩa. Tháng 12 năm 1429, Lê Thái Tổ sai Nguyễn Trãi viết hai bài lời thề ước và lời thề nhớ công ơn của Lê Lai để trong hòm vàng, lại gia phong Lê Lai hàm Thái úy.

  Năm 1428, Truy tặng Lê Thạch là cháu Thái Tổ (con trai Lê Học, anh trai Lê Lợi) đã hy sinh làm Trung vũ Đại vương, được thờ ở tẩm miếu hoàng gia. Với Lý Triện người đã hy sinh trong cuộc bao vây Đông Quan, Lê Lợi trao cho cha ông là Lý Ba Lao (Lê Ba Lao) là Quan sát sứ, tước Thượng phẩm, lấy 400 mẫu ruộng cấp cho con Lý Triện là Lý Lăng (Lê Lăng) làm Phòng ngự sứ, tước Phục hầu. Với Đinh Lễ, tướng cũng hy sinh trong bao vây Đông Quan, Lê Thái Tổ cho em ông là Đinh Liệt làm Nhập Nội Thiếu úy, tước Á hầu, các vợ lẽ của Đinh Lễ gồm 5 người được làm Tông cơ trong đó có bà Hà Ngọc Dung.

Với những người còn sống, tháng 2 năm 1428, vua định các hạng công cho các hỏa thủ và quân nhân thiết đột có công ở Lũng Nhai, chia ra thứ bậc gồm 221 người. Công hạng nhất cho người mang họ vua là Phạm Vấn, Lê Quý, Lê Dịch, Lê Ê…Tổng cộng 52 người làm Vinh lộc Đại phu Tả kim ngô Vệ đại tướng quân, tước Thượng Trí tự. Công hạng hai cho Quốc tính là Lê Bố, Đinh Liệt, Lê Khảo gồm 72 người là Trung Lương địa phu, tả Bổng thần vệ tướng quân, tước Đại Trí tự. Công thứ ba cho mang họ vua gồm 94 người làm Trung Vũ đại phu Câu Kiềm vệ tướng quân, tước Trí tự. Tháng 3 năm 1428 ban thưởng cho ba người: Nguyễn Trãi tước Quan Phục hầu, Trần Nguyên Hãn làm Tả tướng quốc, Khu mật đại sứ, Phạm Văn Xảo làm Thái bảo, đều ban quốc tính.

Tháng 5 năm 1429 Lê Thái Tổ ban ngạch biển công thần cho 93 người, cải sang quốc tính, họ Lê. Đó là: Phong tước Huyện Thượng hầu cho 3 người: Lê Vấn, Lê Sát, Lê Văn Xảo.

Tước Á Thượng hầu cho Lê Ngân.                                                                                                    Tước Hương Thượng hầu cho 3 người: Lê Lý, Lê Văn Linh, Lê Quốc Hưng.

 Tước  Đình Thượng hầu cho 14 người: Lê Chích, Lê Văn An, Lê Liệt, Lê Miễn, Lê Lễ, Lê Chiến, Lê Khôi, Lê Đính, Lê Chuyết, Lê Lỗi, Lê Như Lãm, Lê Sao, Lê Kiệm, Lê Bật.

 Tước Huyện hầu cho 14 người: Lê Bị, Lê Bì, Lê Phủ, Lê Náo , Lê Thụ, Lê Lôi, Lê Khả, Lê Bồi, Lê Lang , Lê Xí, Lê Khuyển, Lê Bí, Lê Quốc Trinh, Lê Bật;

Tước Á hầu cho 26 người: Lê Lạn, Lê Trãi, v.v.

Tước Quan nội hầu cho 16 người: Lê Thiệt, Lê Chương...

Quan phục hầu cho 12 người: Lê Cuống, Lê Dao (Diêu)...

Tước Thượng trí tự Phục hầu cho 4 người: Lê Khắc Phục, Lê Hài, v.v...

Quy định rõ về phẩm trật quan văn võ: Hàng văn từ quan nội hầu, đại hành khiển, và quan phục hầu trở lên, hàng võ từ thượng tướng, tước trí tự, và tước phục hầu trở lên đều được phép mặc phẩm phục màu lụa pha.

Nhà vua ra tờ dụ: "Trẫm, khi mới dấy nghĩa binh, phải lặn suối trèo non, trải bao hiểm trở; bấy giờ ai đã đem gia quyến đi theo trẫm từ Mường Thôi, Bồ Đằng, Chí Linh và Khả Lam thì tên họ được ghi trong Ký công sách , con cháu trừ số đã làm quan, còn nếu không can án phạm pháp, đều được miễn sai dịch".

Về chính sách đối với những người Việt đã làm quan cho nhà Minh, năm 1428 Lê Thái Tổ ra lệnh trị tội những viên quan cộng tác với quân Minh. Năm 1429 lại ra chỉ dụ những người trước được tha tội thì ruộng đất không phải sung công. Tháng 5 năm 1429 âm lịch ra chỉ dụ cho văn võ hào kiệt còn bị bỏ sót, có thể đến chỗ Thiếu phó Lê Văn Linh mà tự tiến, không phân biệt ngụy quân hay sĩ thứ, cốt lấy người tài đức. Lê Thái Tổ cũng tha mạng cho các quan người Việt phục vụ cho nhà Minh như Lương Nhữ Hốt, Trần Phong, Đỗ Duy Trung. Nhưng Lương Nhữ Hốt và Trần Phong lại ngầm đưa thư cho quân Minh sang xâm lược, chúng sẽ làm nội ứng. Người đưa thư bị tướng Trấn Thái Nguyên là  Hoàng Nguyên Ý bắt được. Lê Lợi sai giết người đưa thư và dấu việc đó. Sau có người tố giác với vua, vua phải giết Lương Nhữ Hốt, Trần Phong mà tha cho con cái.

Bóng tối mùa hè lan tràn và bao phủ khắp Đông Kinh và hoàng thành. Các lâu đài cung điện lập lòe  với những ngọn bạch lạp. Bên góc phía nam của hoàng thành, núp dưới bóng những cây cổ thụ, một dinh thự hai tầng vươn lên. Đó là tư dinh của quan Hành khiển Nguyễn Trãi. Trong một gian phòng giản dị, Nguyễn Trãi đang ngồi trên ghế tràng kỷ cạnh chiếc bàn gỗ gụ. Chung quanh phòng sách vở xếp chồng chất, trên bàn cũng đầy giấy tờ, nghiên bút, nhưng còn chỗ để đặt bộ ấm nước trà và chỗ để cho Nguyễn Trãi có thể viết. Nguyễn Trãi có hành cung ở Côn Sơn nhưng thời gian này ông phải ở lại, phần vì do công việc triều đình, đêm về phải đọc lại bộ "Luật Thư” 6 quyển mà ông đã viết xong để trình Lê Thái Tổ. Tối nay ông bắt đầu đọc đến phần những chính sách của Lê Thái Tổ để xây dựng và phát triển Đại Việt trong thời bình. Ông tự rót một chén nước, uống xong  bắt đầu đọc và sửa:

Nhà Hậu Lê ra sức xây dựng một chế độ phong kiến tập quyền chuyên chế cao độ, hoàn bị về mọi mặt. Các vị vua thời Hậu Lê là người có quyền vô hạn. Toàn bộ các cơ quan và quan lại đặt dưới sự điều hành của nhà vua. Vua là Thiên tử (con trời). Vua không chỉ cai trị thần dân mà còn thưởng phạt cả thần thánh. Dưới triều Hậu Lê xu hướng chuyên chế độc đoán ngày càng phát triển.

Sau khi chiến thắng quân Minh, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, triều Hậu Lê được xây dựng trên cơ sở kinh tế địa chủ tá điền.  Về kinh tế, thời kỳ này đã xoá bỏ chế độ điền trang, thái ấp thời Lý, Trần, thay vào đó bằng chế độ Lộc điền. Với lộc điền ruộng đất chỉ được cấp tạm thời, quan lại chỉ được hưởng lộc điền. Để đẩy mạnh chế độ tư hữu ruộng đất,  nhà Lê thi hành chế độ “Quân điền” ban hành năm 1429 đời Lê Thái Tổ. Chế độ này qui định dùng ruộng đất công của công xã chia cho quan lại và nông dân. Phần đất của dân ít hơn phần đất của quan lại. Quan tước vị  và chức vụ thấp phần ruộng ít hơn quan có chức vụ và tước vị cao. Ví dụ một viên quan Tam phẩm được 11 phần thì  một nông dân nghèo chỉ được 3 phần. Thời gian được cấp là 6 năm. Nông dân cày ruộng được chia nhưng phải nộp tô, đi lao dịch, binh dịch cho nhà nước. Với chính sách “Quân điền” nhà Lê vẫn bảo tồn công xã,  tế bào của xã hội phong kiến, mặt khác khôn khéo lợi dụng công xã phục vụ cho lợi ích của nhà nước, biến công xã thành cơ sở để chính quyền bóc lột, công xã phải lệ thuộc vào nhà nước, nông dân công xã thành tá điền của nhà nước.   Nhà nước bóc lột - nông dân thành tá điền, phải nộp tô thuế, lao dịch, đi lính cho Nhà nước. Đây là một bước huỷ bỏ dần dần tính tự trị của công xã, đẩy nhanh quá trình phát triển của xã hội phong kiến Việt Nam.

  Nho giáo giành địa vị thống trị, trở thành hệ tư tưởng chính thống của Nhà nước. Đất nước Đại Việt thời Lê sơ đã phát triển mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực văn hoá, nghệ thuật, sử học và các bộ môn khoa học khác.   

Năm 1428, Lê Thái Tổ chia nước thành 5 đạo:  Đông đạo, gồm các lộ: Thượng Hồng, Hạ Hồng, Nam Sách thượng, Nam Sách Hạ, An Bang. Bắc đạo gồm các trấn và lộ: Bắc Giang, Thái Nguyên, Lạng Giang. Tây đạo gồm các trấn: Tam Giang, Tuyên Quang, Hưng Hoá, Nam đạo gồm các lộ: Khoái Châu, Lý Nhân, Tân Hưng, Kiến Xương, Thiên Trường. Hải Tây đạo gồm các lộ: Thanh Hoá, Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hoá. Đứng đầu các đạo là Hành khiển, bên cạnh có Tổng quản phụ trách quân sự. Dưới đạo là trấn, lộ, phủ, huyện, châu. Cai trị trấn có Trấn phủ sứ, Tuyên uý sứ; ở lộ có An phủ sứ, Tổng quản trông coi. Ở phủ có Tri phủ, Đồng tri phủ; ở huyện có Chuyển vận sứ. Ở châu có Phòng ngự sứ, Chiêu thảo sứ. Vùng thiểu số, miền núi có Tri châu và Đại tri châu cai quản.  Đơn vị hành chính cơ sở là xã. Năm 1428 Lê Thái Tổ chia xã làm 3 loại: 100 hộ trở lên gọi là đại xã, do 3 người cai quản; 50 hộ trở lên là trung xã, có 2 người cai quản; 10 hộ trở lên gọi là tiểu xã, có 1 người cai quản.                                               

Ở triều đình trung ương, vua là người đứng đầu. Dưới vua là tả, hữu Tướng quốc kiêm hiệu bình chương quân quốc trọng sự bao gồm các chức: Tam thái, Tam thiếu, Tam tư. Chức sắc đó dành riêng cho tôn thất và các đại công thần. Tiếp theo đó là hai ban văn võ. Ban văn do chức Đại hành khiển đứng đầu, bao gồm các Bộ do thượng thư điều khiển (thời Lê Thái Tổ chỉ có hai Bộ) Lại và Lễ. Cạnh Bộ là các cơ quan chuyên trách như:  Nội mật viện, Ngũ hành viện, Ngự sử đài.  Ban võ do các Đại tổng quản hoặc Đại đô đốc đứng đầu,  Đại tổng quản chỉ huy quân thường trực ở kinh thành và vệ quân ở các đạo. Dưới có các chức võ quan cao cấp khác.           

Văn bản pháp luật: Thời nhà Lê là đỉnh cao của chế độ phong kiến tập quyền. Cũng như các lĩnh vực khác, hoạt động lập pháp được đẩy mạnh để nhằm đáp ứng với nhu cầu phát triển của chế độ phong kiến. Thế kỷ 15 đánh dấu mốc quan trọng của lịch sử pháp quyền phong kiến Việt Nam. Năm 1428, đất nước được giải phóng khỏi ách thống trị của nhà Minh, Lê Lợi đã huy động một số đại thần soạn luật lệ về kiện tụng, về phân chia ruộng đất, một số quy định về hình phạt, về ân xá. Lê Thái Tổ cho đặt ra bộ luật mới theo như hình luật của nhà Đường; đặt ngũ hình là: xuy, trượng, đồ, lưu và tử. Đặt lệ bát nghị: nghị thân, nghị cố, nghị hiền, nghị năng, nghị công, nghị quí, nghị cần, nghị tân. Tháng 1 âm lịch năm  1428, thiên hạ thái bình, vua Lê Thái Tổ sai các quan Tư không, Tư đồ, Tư mã, Thiếu úy, Hành khiển bàn việc soạn các điều luật dân sự và quân sự, nhằm mục đích "để cho người làm tướng biết phép trị quân, người làm quan các Lộ biết phép trị dân, và sự răn dạy quân dân, cũng nên cho biết có phép, để những người giữ việc gì, biết phép của việc ấy mà làm". Các cơ quan triều đình đã thực thi lệnh này, và đệ trình những đề xuất của mình lên nhà vua. Năm Thuận Thiên thứ 2 (1429) Lê Thái Tổ định luật cấm cờ bạc, đánh bạc thì chặt bàn tay 5 phân, đánh cờ thì chặt bàn tay 2 phân. Những kẻ vô cớ không phải việc công mà họp nhau uống rượu thì bị 100 trượng, kẻ dung túng thì tội giảm 1 bậc. Về tội ăn hối lộ, Lê Thái Tổ quy định nếu ghi nhận ăn hối lộ 1 quan tiền trở lên thì bị xử chém.            

Đến tháng 4, năm 1428, triều đình cho đúc đồng tiền mới của  Đại Việt, gọi là tiền Thuận Thiên, được sử mô tả là mây xanh hiện, có cánh có chân, bên dưới như mâm ngọc, hai bên tả hữu hình như hai con cá chép vờn nhau. Đến tháng 12, năm Thuận Thiên thứ 1 (1428), Lê Thái Tổ lại đúc tiền Thuận Thiên thông bảo, tính 50 đồng là 1 tiền. Năm ThuậnThiên thứ 2 (1429), ông truyền cho các quan trong ngoài bàn phép dùng tiền.             

Về thi cử, năm 1426, Lê Thái Tổ tiến quân ra Bắc, đóng quân ở dinh Bồ Đề. Ông liền hạ lệnh cho học trò thi văn học, đầu đề bài thi: Bảng văn dụ thành Đông Quan, lấy đỗ 50 người, sung bổ chức An phủ các lộ bên ngoài và chức Viên ngoại lang ở sáu bộ trong Kinh. Khóa này Đào Công Soạn, người Tiên Lữ, Hưng Yên đỗ đầu. Sau khi giành độc lập năm 1428, Lê Thái Tổ cho mở lại trường Quốc Tử giám để cho con cháu các quan và người thường dân tài giỏi vào học và đặt các nhà học ở các phủ và các lộ. Lúc mới đến  Đông Đô, Thái Tổ mở khoa thi lấy đỗ 32 người. Năm 1429, Lê Thái Tổ hạ chiếu cho quân nhân các lộ và những người ẩn dật ở rừng núi, cùng các quan từ tứ phẩm trở xuống, ai thông kinh sử, thì đến cả sảnh đường để thi, năm ấy thi khoa Minh kinh. Năm 1431, Thái Tổ mở thi Hoành từ. Năm 1433, ông đích thân ra thi văn sách. Thi hai khoa này, hoặc dùng Minh kinh, hoặc luận phú hoặc dùng sách vấn, đều tùy tài năng mà cất nhắc bổ dụng vượt bậc, vẫn chưa lấy đỗ Tiến sĩ.  Sang đời Lê,  Nho học mới chiếm địa vị độc tôn. Triều đình có phép luật nghiêm khắc đối với các nhà tu hành  Phật giáo và  Đạo giáo.  Đến khi Nhà Lê phục quốc, những chế độ và thư tịch ở đời Lý, Trần đã mất, đành lấy Tống Nho làm chính thư, lấy khoa cử làm con đường dụng thân duy nhất, dùng văn chương bác cổ để làm thước đo nhân tài. Đối với tôn giáo, Lê Thái Tổ quy định những người muốn xuất gia trong  Phật giáo và Lão giáo phải thi kinh điển các đạo này. Người thi đỗ được phép làm sư hoặc làm đạo sĩ, còn người thi trượt thì phải về quê.                                                

Với lực lượng quân sự, ban đầu khi khởi nghĩa năm 1418 khoảng vài nghìn người, bao gồm quân Thiết đột, quân Nghĩa sĩ, quân Dũng sĩ mỗi binh chủng có 200 người. Đến năm 1427 khi tiến ra thành  Đông Quan, Nghĩa quân Lam Sơn đã có tổng số 35 vạn quân, trong đó có 7 vạn quân tinh nhuệ, chia làm trung, tiền, hậu, tả, hữu đều có chức năng hành quân tổng lĩnh. Lại đặt 14 vệ, Thiết đột, Kim ngô, Ngọc kiềm, Phủng thần, Xa kỵ, Câu kiềm, Thiên ngưu, Phủng thánh, Tráng sĩ, Thần vũ, Du nỗ, Thần tý, Vũ lâm, Thiên uy, Nhũ uy. Mỗi vệ có các chức thượng tướng quân, đại tướng quân, tướng quân, đô chỉ huy sứ và hỏa đầu, hỏa thủ.                   

            Sau khi đánh tan quân Minh xâm lược, Lê Lợi cho 25 vạn quân về làm ruộng, còn 10 vạn ở lại. Một nhà có ba người thì một người làm lính, việc phú dịch những gia đình này sẽ miễn trong ba năm. Lê Lợi sau khi lên ngôi tổ chức lại quân đội, chia ra làm vệ quân 5 đạo: Đông, Tây, Nam, Bắc và Hải Tây. Mỗi vệ đặt chức Tổng quản. Lại đặt sáu chân ngự tiền và Ngự tiền vũ đội. Lê Lợi đã áp dụng chế độ luân phiên với quân đội, bằng cách chia quân đội thành 5 phiên, 1 phiên lưu lại quân ngũ và 4 phiên cho về làm ruộng. Vào năm 1429, Lê Lợi tổ chức thao diễn quân đội,  lần thao diễn này là cuộc thao diễn quân đội một cách vĩ đại, điều động tất cả các vệ quân để tập trận thủy bộ.                                                                                     Trống hoàng thành đã điểm canh ba, Nguyễn Trãi đã thấy mệt, tắt đèn và đi nghỉ để mai còn có buổi thiết triều sớm. Trong giấc ngủ ông mơ thấy tiếng ngựa hí quân reo trong chiến trận hơn 10 năm trước và cả trong “Đại Cáo Bình Ngô” hùng tráng của ông.

III.

Đang là tháng 2 năm 1429, miền Lập Thạch, phủ Vĩnh Phúc gió còn se lạnh, tuy nhiên những tia nắng của đầu mùa xuân như tơ rải xuống khắp đồi núi và những cánh đồng.

Toàn bộ mang một sắc xanh của trăm cây đang đâm chồi nẩy lộc sau một mùa đông rét mướt tàn úa. Trên trời mây trắng đi lang lang. Vài đàn chim trên trời cao tung cánh bay từ phương Nam trách rét nay trở về phương Bắc. Xa xa dẫy Tam Đảo vươn lên phủ một làn sương mỏng trắng xóa mong manh. Sông Hồng, sông Lô, sông Đà tuôn nước hòa vào nhau như con về với mẹ và tuôn về  Lục Đầu Giang ra biển. Vài con thuyền chài lưới, vài con thuyền vận tải như trôi về vô định. Con đường cái quan chỉ vừa lối cho hai xe ngựa tránh nhau chạy thẳng tắp từ Thái Nguyên qua Lập Thạch. Hai hàng cây theo hai bên đường chạy về Thăng Long khoảng 140 dặm. Cách bờ sông Lô khoảng 2 dặm về phía nam có một trang viên tường xây gạch hình vuông, mỗi chiều rộng một dặm, xung quanh tường xanh rì dây leo chằng chịt. Diện tích phía trong rộng lớn là nhà cửa sang trọng, mái lợp ngói, những đầu đao hình đầu rồng của những biệt phủ nhô lên không gian trông như những con rồng đang vươn lên bay vào không trung. Trong khuôn viên đó những mái nhà ngói, cột bằng gỗ lim to hai người ôm, tường xây gạch quét vôi trắng xóa. Trên những mái nhà, những cây bồ đề, cây cau, cây sấu vươn lên xanh tươi, tỏa bóng mát xuống một không gian mát mẻ. Những lớp lá khô bay xuống mái nhà dày đặc. Trong khuôn viên có những con đường thẳng tắp vuông bàn cờ nối các dinh thự với nhau. Giữa các nhà đó, một ngôi nhà to lớn sang trọng. Bên trong gian giữa sát tường đặt những chiếc bàn thờ, bàn trong cao hơn ba bàn ngoài, trên đặt những bài vị sơn son thếp vàng, trước bài vị đặt nhiều bát hương sứ màu trắng, vẽ rồng cuộn mây bay màu xanh, còn đặt hàng chục lư hương đồng vàng chóe. Hai bàn thấp hơn cũng đặt lư hương đồng, còn có trống chuông phục vụ cho việc tế tự.

  Liền dưới bàn thờ đặt chiếc bàn lớn hình chữ nhật màu gụ nâu bóng, hai bên bàn đặt hai chiếc ghế tràng kỷ cũng màu gụ có khảm ngọc trai sáng bóng và hoa văn cầu kỳ hoa chim lá. Trên bàn đặt một bộ ấm trà màu nâu và sáu chén dùng để uống trà. Đây là trang viên của Khai quốc công thần nhà Hậu Lê Tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn. Ngồi cạnh bộ bàn ghế sang trọng và rộng rãi chỉ một người đàn ông mặt vuông vức, trạc 40 tuổi đang ngồi im lặng uống từng ngụm trà nóng. Đầu người đó búi tóc và quấn nhiều vòng chiếc khăn thếp màu đen, mình mặc áo dài đen, quần lụa trắng, nhưng không che dấu được dáng con nhà võ,  trong 10 năm xông pha khắp các chiến trường Trung Nam Bắc theo Lê Thái Tổ giết giặc Minh. Trần Nguyên Hãn thong thả uống từng ngụm trà rồi lại đăm chiêu suy nghĩ về quá khứ hào hùng, oanh liệt.

  Mười năm gian truân trôi thật nhanh như chim bay. Mới đó mà Trần Nguyên Hãn đã rời triều đình nhà Hậu Lê, rời Đông Kinh được một năm. Một năm xa rời chốn cung đình hiểm ác, đầy ganh đua quyền lực, đầy ghen ghét hiềm nguy, Trần Nguyên Hãn về sống cuộc đời phiêu diêu tự tại nơi quê nhà. Những phút nhàn rỗi ông lại nhớ về quá khứ, nhất là 10 năm kháng chiến chống giặc Minh đầy gian khó song cũng rất hào hùng và oanh liệt.

  Trần Nguyên Hãn là cháu nội của quan Túc Thượng hầu Trần Nguyên Đán. Trần Nguyên Đán lại là cháu nhiều đời của Thái sư Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải nhà Trần. Thời Trần Nguyên Đán, vương triều Trần đang trên con đường suy vong dưới thời Thái thượng hoàng Trần Nghệ Tông, vua Trần Phế Đế. Trần Nguyên Đán là một trong số ít quý tộc nhà Trần học rộng biết nhiều nhưng lại không cố tìm cách chấn hưng nhà Trần mà lại xa lánh triều đình về ở ẩn ở Côn Sơn, vui thú với cảnh thiên nhiên, mây gió, cỏ hoa và chim chóc, đem hai con trai là Trần Thúc Giao và Trần Thúc Quỳnh gửi nhờ quyền thần Hồ Quý Ly. Khi nhà Minh đánh bại nhà Hồ năm 1407, Đại Việt (Đại Ngu) mất vào tay nhà Minh. Trần Thúc Giao và Trần Thúc Quỳnh đầu hàng quân giặc và được nhà Minh cho làm quan cai quản Nghệ An và Diễn Châu. Khi nhà Hậu Trần là Trùng Quang Đế (Trần Quý Khoáng) đánh Nghệ An và Diễn Châu, bắt được Trần Thúc Giao và Trần Thúc Quỳnh đem giết. Trần Nguyên Hãn không rõ là con của người nào trong hai người đó nhưng lại sống sót trong cơn binh lửa khốc liệt đó.

  Đất nước và bách tính chìm trong máu và đói khổ dưới sự thống trị tàn bạo của nhà Minh. Lớn lên Trần Nguyên Hãn có lòng yêu nước thương dân, đã ra sức học tập võ nghệ và binh thư mong có ngày có ai dựng ngọn cờ cứu nước thì theo về. Có một đêm ông đến lễ thần ở Bạch Hạc, đêm ngủ lại đền thì thần núi Tản Viên đến báo mộng rằng trời đã sai Lê Lợi ở Lam Sơn, huyện Lỗi Dương (Thọ Xuân), Thanh Hóa làm vua nước Nam, ngài đang dựng cờ chiêu tập anh hùng hào kiệt về tụ nghĩa cứu nước, giành lại độc lập, dựng lại nghiệp đế vương. Sáng hôm sau Trần Nguyên Hãn tìm vào Lam Sơn theo Lê Lợi. Lê lợi biết tài của Trần Nguyên Hãn đãi ngộ rất hậu, cho dự bàn việc quân cơ. Ông cùng Lê Lợi và các tướng lĩnh Lam Sơn trải qua những ngày chiến đấu gian khổ đầy hy sinh ở miền thượng du Thanh Hóa, những ngày bị 10 đến 20 vạn quân Minh càn quét truy đuổi, bao vây nguy khốn ở Chí Linh, hết lương thực phải ăn măng, ăn cỏ rừng mà sống. Trần Nguyễn Hãn nhớ lại những ngày gian khổ nhưng oanh liệt mai phục tập kích tiêu diệt quân Minh ở bến Bổng, Mường Thôi, Bò Mộng, Bồ Thi Lang. Để mở rộng thế và lực của cuộc kháng chiến, năm 1424, nghe theo kế của Nguyễn Chích, Lê Lợi đem nghĩa quân tiến vào Nghệ An, mở ra một cục diện mới cho cuộc khởi nghĩa. Từ cuộc khởi nghĩa địa phương ở miền núi Thanh Hóa, khi vào Nghệ An, thế và lực khởi nghĩa đã phát triển thành cuộc chiến tranh giải phóng toàn quốc. Năm 1425, Trần Nguyên Hãn được lệnh cùng Thượng tướng Lê Nỗ, Chấp lệnh Lê Ba Bồ đem 1 vạn quân và 1 thớt voi tiến vào giải phóng xứ Tân Bình-Thuận Hóa (Quảng Bình đến Thừa Thiên Huế). Trần Nguyên Hãn nhớ lại quân Lam Sơn đến Bố Chính, phía bắc sông Linh Giang (sông Gianh), đưa quân đến chỗ hiểm yếu mai phục ở Hà Khương. Tướng Minh là Nhâm Năng đem hết quân ra đánh. Quân Lam Sơn giao chiến giả thua chạy. Nhâm Năng đem quân đuổi theo, lọt vào trận địa, bị quân Lam Sơn đánh kẹp hai bên, quân Minh tan vỡ và bị tiêu diệt.

  Tuy thắng lợi nhưng quân Lam Sơn quân số ít, giặc Minh còn đông, Trần Nguyên Hãn sai người về Nghệ An cầu viện. Lê Lợi sai Lê Ngân, Lê Bôi, Lê Văn An đem 70 chiến thuyền vượt biển đánh thẳng vào Tân Bình-Thuận Hóa. Quân dân hai xứ này đều qui thuận nghĩa quân. Quân Minh rút vào thành Tân Bình cố thủ. Hai xứ này được giải phóng, thuộc nghĩa quân Lam Sơn. Chiến thắng Tân Bình-Thuận Hóa không chỉ mở rộng vùng giải phóng từ Nghệ An vào đến phía Nam mà còn có ý nghĩa về quân sự: Giặc Minh không thể tạo ra gọng kìm từ phía Nam để đánh tập hậu nghĩa quân khi nghĩa quân tiến ra giải phóng miền Bắc.

  Sau khi nghĩa quân giải phóng Thanh Hóa, quân Minh phải lui vào cố thủ ở thành Tây Đô. Mùa thu năm Bính Ngọ 1426, Lê Lợi phái ba đạo quân tiến ra giải phóng miền Bắc, mỗi đạo 1 vạn quân. Tháng 9 năm đó, Lê Lợi nhận được tin báo của Đinh Lễ, quân ta thắng một trận lớn ở Tốt Động-Chúc Động. Trận này quân ta tiêu diệt 6 vạn quân Minh, giết chết một số võ quan cao cấp của giặc, buộc Vương Thông, tên Tổng Binh mới vừa thay chức Trần Trí cũng bị thương nặng, đem 4 vạn quân còn lại chạy vào Đông Quan cố thủ. Chiến thắng này đẩy quân Minh hoàn toàn vào thế bị động, cố thủ hoàn toàn. Ngày  23 tháng 10 năm 1426, Lê Lợi sai Trần Nguyên Hãn, Bùi Bị đem 100 chiến thuyền, ngược dòng sông Đại Lũng ra cửa sông Hát rồi thuận dòng tiến đến bến Đông Bộ Đầu (sông Hồng). Lê Lợi cũng sai Đinh Lễ đem 1 vạn quân bí mật tiến đến mặt Tây Đông Quan (cầu Tương Dương-Cầu Giấy). Lê Lợi đích thân dẫn binh đến cửa Nam ngoài thành Đại La để đánh thành. Đêm canh ba quân ta ba mặt đánh ập vào phóng hỏa đốt doanh trại giặc ở ngoài thành, khói lửa ngút trời. Quân Minh ở các quân doanh ngoài thành bỏ chạy vào thành. Quân Lam Sơn thu được hơn trăm chiến thuyền, cùng nhiều khí giới nghi trượng. Quân Minh rút hết vào thành Đông Quan cố thủ chờ viện binh.

  Tháng 9 năm Đinh Mùi 1427, do Vương Thông cầu viện, vua Minh Tuyên Tông cử 15 vạn quân chia làm hai cánh tiến vào Đại Việt cứu viện. Đạo chủ lực gồm 10 vạn quân do An Viễn hầu Liễu Thăng, tiến vào Quỷ Môn Quan (ải Chi Lăng) theo đường Lạng Sơn tiến xuống Đông Quan. Đạo thứ 2 gồm 5 vạn quân do Kiềm Quốc công Mộc Thạnh từ Vân Nam theo đường Lào Cai tiến xuống. Nghe theo kế sách của Nguyễn Trãi, Lê Lợi tập trung cho tiêu diệt 10 vạn quân của Liễu Thăng thì quân ở các thành bị vây ở Tân Bình, Nghệ An, Thanh Hóa, Chí Linh, Đông Quan Phải mở cửa ra hàng, đạo 5 vạn tên của Mộc Thạnh không đánh cũng tan ra tháo chạy. Tuy nhiên các thành Tam Giang (Phú Thọ), Xương Giang (Bắc Giang) nằm trên đường viện binh giặc tiến vào nên phải tiêu diệt trước khi quân viện binh tới, mất chỗ dựa của quân viện binh khi tiến vào, sẽ bị quân ta tập kích, truy kích tiêu diệt. Do tầm quan trọng như vậy cho nên dù là tướng văn, mưu sĩ, Nguyễn Trãi cũng xin Lê Lợi ra chỉ huy quyết tâm hạ thành Xương Giang trước khi viện binh tới vì quân ta đã đánh 6 tháng ròng mà không hạ được. Dưới sự chỉ huy của Nguyễn Trãi cùng các tướng trong đó có Thái úy Trần Nguyên Hãn, Tư mã Lê Sát, Thiếu úy Lý Triện, Nguyễn Lý tập trung tất cả các lực lượng, phương tiện, kể cả kéo thần công đến và đã hạ được thành Xương Giang trước khi quân Minh chạy xuống chỉ 10 ngày. Tướng giữ thành là Lý Nhậm và Kim Dận tự sát chết. Sau trận đánh thành Xương Giang, Trần Nguyên Hãn được tham gia đánh quân Minh tại mặt trận Chi Lăng-Xương Giang. Tại đây ông làm nhiệm vụ chặn đường vận chuyển lương thực của quân Minh, góp phần làm nên chiến thắng lẫy lừng Chi Lăng-Xương Giang. 10 vạn quân Minh bị tiêu diệt hết, chỉ còn một tên sống sót chạy về nước.

  Nghe tin đạo quân của Liễu Thăng bị tiêu diệt, 5 vạn quân của Mộc Thạnh không bị đánh, tan rã chạy về nước, bị quân ta tuy kích, tiêu diệt 2 vạn. Đông Quan và các thành như Tân Bình, Tây Đô, Chí Linh, Cổ Lộng, Đông Quan còn lại 10 vạn quân mở cổng thành đầu hàng, xin rút quân về nước. Vương Thông thề không bao giờ dám xâm lược Đại Việt nữa. Sau hội thề, 10 vạn quân Minh được Lê Lợi cấp lương thực, xe ngựa rút về nước. Tháng 12 năm 1427, đất nước được sạch bóng quân thù.

  Do những công lao như vậy cho nên từ năm 1424-1425, Trần Nguyên Hãn được phong là Tư Đồ, Năm 1427 được phong là Thái úy và năm 1428 được phong là Tả tướng quốc của triều đình mới. Không chỉ Trần Nguyên Hãn mà hơn 100 khai quốc công thần cũng được phong tước vị cao, từ tước công đến tước hầu đến tước bá, được chia mỗi một người 100 mẫu ruộng theo chế độ quân điền của Lê Thái Tổ để gia đình quan lại sinh sống. Trong hoàn cảnh hòa bình, những đại thần, những khai quốc công thần lại được đem tài năng sức lực xây dựng đất nước, xây dựng một triều đại mới, một nền quân chủ mới, nền kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị, quân sự mới.

Tuy nhiên ngoài thuận lợi, các khai quốc công thần không phải không gặp những khó khăn trong hoàn cảnh thời bình. Phần lớn xuất thân từ võ tướng quen chiến trận, nay thời bình phải dùng đến kiến thức nhân trị, pháp trị, chính trị của học thuyết Nho gia. Các khai quốc công thần đã lớn tuổi học không được và tiến thu chậm chạp. Nhưng cái nguy hiểm nhất là trong thời bình, tình đồng chí, nghĩa vua tôi trong thời chiến tranh, tình đồng cam cộng khổ đến thời bình không còn nữa. Chỉ còn sự nghi kỵ giữa vua tôi, sự đố kỵ hiềm khích vì địa vị quyền lực hơn kém, từ đó dẫn tới những mâu thuẫn và dẫn tới âm mưu thủ đoạn tàn hại nhau, vu oan giá họa của các đồng lưu trong triều đình mà xưa là đồng chí. Triều đình tồn tại nhiều lực lượng, phe phái do cấu trúc của một triều chính, một nền quân chủ: Vua là quyền lực tối thượng, bên cạnh vua là bọn hoạn quan gần gũi nhà vua, được nhà vua nghe theo, trong hậu cung là các phi tần chiến ngầm với nhau để tranh giành sự sủng ái của Hoàng thượng, các phi tần  còn chiến sinh tử với nhau để tranh địa vị hoàng thái tử kế vị ngai vàng cho con của mình. Đây là một cuộc chiến khốc liệt và đáng sợ. Trong triều đình thì có bọn gian thần, bọn này cũng được vua tin dùng vì khéo ăn nói, chiều ý vua, lại có nhiều âm mưu thâm độc, chiêu thức mà chúng hay dùng là lựa lời vu cáo các trung thần. Lịch sử các triều đại cũng đã để lại không biết bao nhiêu trung thần bị hãm hại bởi bọn gian thần, đặc biệt khi vua trở nên hôn quân, triều đại thối nát. Triều Lê vừa được thiết lập sau cuộc kháng chiến chống Minh, chưa thể là triều đại thối nát và Lê Thái Tổ cũng chưa phải là hôn quân. Nhưng trong hoàn cảnh như vậy, Trần Nguyên Hãn cảm thấy lo sợ. Một cảm giác mà suốt 10 năm chiến đấu, giáp mặt với quân thù ông chưa hề có. Nay hòa bình, ông có quyền cao chức trọng nhưng lại lo sợ cho cái Lý lịch xuất thân của ông. Trần Nguyên Hãn là cháu nội Trần Nguyên Đán, một đại quý tộc nhà Trần, dòng dõi nhà Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải thời vua Trần Nhân Tông, một triều đại mà võ công dù có qua hàng trăm năm cũng không phai mờ trong trí tuệ của các thế hệ bách tính. Trước cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, nhà Hậu Trần với hai vị vua là Giản Định Đế Trần Ngỗi và Trùng Quang Đế Trần Quý Khoáng đã lãnh đạo nhân dân chống giặc Minh từ 1407 đến 1413. Cuối cùng thất bại nhưng sự hy sinh của vua tôi và tướng lĩnh Hậu Trần đã để lại những tấm gương sáng và sự cảm phục yêu mến của bách tính lâu dài về sau. Trong triều đình nhà Lê, sau khi biết xuất xứ của Trần Nguyên Hãn, hình như bọn nội quan, hoạn quan, gian thần nhìn ông với con mắt nghi ngờ không thiện cảm. Ông để ý xem thái độ của Lê Thái Tổ với ông như thế nào? Quan hệ vua tôi vẫn bình thường. Lê Thái Tổ vẫn chưa tỏ thái độ gì với Trần Nguyên Hãn, nhưng Trần Nguyên Hãn vẫn bám vào một tư tưởng dù là một minh quân bậc nhất thì khi chuyện liên quan đến tồn tại của ngai vàng thì không thể vô tư và khi ra tay thật là quyết liệt không nương tay với phương châm thà giết lầm còn hơn bỏ sót. Một điều mà ông thấy bất lợi là việc ông phò tá, ủng hộ Lê Tư Tề là con trưởng Lê Thái Tổ với Thần phi Trịnh Thị Ngọc Lữ để sau này đoạt ngôi thái tử, kế vị ngai vàng. Lê Tư Tề lớn lên đã 10 năm tham gia kháng chiến chống giặc Minh, năm 1428 được phong làm Hữu tướng quốc, Quốc vương, có thể thay Lê Thái Tổ giải quyết việc triều đình, việc nước khi cần thiết. Lê Tư Tề có đủ tài năng đức độ làm Thái tử, kế vị ngai vàng xứng đáng. Trong khi đó bà vợ thứ của Lê Lợi là Phạm Thị Ngọc Trần sinh ra Hoàng tử Lê Nguyên Long. Lê Nguyên Long năm nay mới 5 tuổi, sinh ra tại chiến trường Nghệ An. Khi Lê Nguyên Long lên 2 tuổi thì cung phi Phạm Thị Ngọc Trần đã mất. Theo lời đồn đại thì cái chết của bà liên quan đến vận mệnh của Lê Lợi và của cuộc khởi nghĩa, thực hư thế nào thì Trần Nguyên Hãn không biết. Theo tuổi tác và công lao thì ai cũng cho rằng Lê Tư Tề là người kế vị chứ không phải là Lê Nguyên Long. Lê Nguyên Long cũng được một số khai quốc công thần nổi tiếng như Nguyễn Xí, Lê Khôi (cháu Lê Lợi) phò tá. Và cuộc đấu tranh giữa các đại thần giành ngôi thái tử cho hoàng tử mình phò ta đã diễn ra quyết liệt, ngấm ngầm. Có lời dị nghị cho rằng Lê Thái Tổ đang nghiêng về ý kiến cho Lê Nguyên Long làm thái tử vì không thể để cho một hoàng tử được đại quý tộc nhà Trần xưa phò tá lên ngôi, mầm chứa đựng sự khôi phục lại nhà Trần, diễn biến này sẽ diễn ra khi ông làm phụ chính. Bài học của nhà Trần khi Hồ Quý Ly làm phụ chính cho vua Trần Thiếu Đế đã làm cho triều đình nhà Lê lo sợ. Trần Nguyên Hãn đã thấy việc ông và Phạm Văn Xảo phò tá Lê Tư Tề sẽ đem lại bất lợi cho chính Lê Tư Tề. Và hiện tại ông và Phạm Văn Xảo cũng đang ở vào vị trí bất lợi khi mà Lê Lợi đang dao động và ngày càng nghiêng về việc chọn Lê Nguyên Long làm Thái tử kế vị.

Để khuây khỏa mối u sầu, một ngày đầu năm 1429, Trần Nguyên Hãn đến thăm Nguyễn Trãi ở Côn Sơn. Nếu như Trần Nguyên Hãn là cháu nội của Trần Nguyên Đán thì Nguyễn Trãi là cháu ngoại quan Thúc thượng Hầu nhà Trần xưa. Mẹ Nguyễn Trãi là bà Trần Thị Thái, trưởng nữ của Trần Nguyên Đán, chị của mấy người con trai của Trần Nguyên Đán như Trần Thúc Giao, Trần Thúc Quỳnh, cho nên về thứ bậc Trần Nguyên Hãn phải gọi Nguyễn Trãi bằng huynh. Côn Sơn núi non hồ nước hữu tình, cách kinh thành về Phía đông khoảng 120 dặm. Nguyễn Trãi đưa Trần Nguyên Hãn đi thăm Côn Sơn. Ông như lạc vào phong cảnh thần tiên. Sau bữa cơm trưa, một lượt trà nước Trần Nguyên Hãn nói:

-Đệ đang có ý định cáo quan về hưu, huynh thấy thế nào?

Nguyễn Trãi uống một hớp trà, đặt chén xuống và nói:

- Đệ đang còn trẻ sao lại cáo quan, hay trong tâm tư và triều đình  có khúc mắc gì chăng?

Trần Nguyên Hãn thở dài đáp:

-Thưa huynh, chắc huynh cũng thấy quan đồng lưu trong triều phần lớn là đồng đội chiến đấu xưa, suốt 10 năm gian khổ nằm gai nếm mật, hy sinh, sống chết có nhau, tình nghĩa thật đậm đà vì một lý tưởng cứu dân, cứu nước. Nay thời bình quan cao chức trọng, bổng lộc giàu sang nhưng tình nghĩa không còn như xưa. Đệ thấy quan trường bây giờ ngấm ngầm sóng gió, kèn cựa ghen ghét lẫn nhau, thậm chí còn mưu hại lẫn nhau. Đệ chán nản thời cuộc, nhân tình thế thái mà xin về thôi.

Nguyễn Trãi im lặng đăm chiêu, uống trà liên tục. Trần Nguyên Hãn nói:

-Một số chiến hữu nay biến đổi thành gian thần, a dua với bọn hoạn quan nham hiểm chuyên đặt điều bịa đặt bên tai Hoàng thượng. Thế nào Hoàng thượng có lúc chả xuôi tai, quân vương dù là minh quân đôi khi cũng thích nghe lời tâng bốc nịnh nọt. Vả lại đệ về hưu còn là vì tương lai của Hữu tướng quốc Quốc vương Lê Tư Tề.

 Nguyễn Trãi ngạc nhiên:

-Sao lại vì Lê Tư Tề, huynh không hiểu?

 Trần Nguyên Hãn đáp:

-Vô hình chung không biết tự bao giờ, các đại thần trong triều chia làm hai phe, phe phò tá cho Lê Tư Tề, con trưởng của Hoàng thượng, phe phò tá cho Lê Nguyên Long, con thứ của Hoàng thượng. Phe nào cũng muốn cho người mà mình phò tá là thái tử kế vị ngai vàng để có lợi cho bản thân sau này. Huynh đã biết, đệ và Phạm Văn Xảo phò tá cho Lể Tư Tề. Có tin rằng, sau này Lê Tư Tề lên ngôi đệ sẽ nhiếp chính mà đệ là người quý tộc họ Trần, không khéo ngai vàng nhà Lê sẽ chuyển sang là của nhà Trần. Cho nên đệ mà ở lại phò tá thì Quốc Vương Lê Tư Tề sẽ bị phế truất ngôi thái tử kế vị.

Nguyễn Trãi gật gù:

-Đệ nói cũng phải. Nếu Lê Nguyên Long làm thái tử và trở thành Hoàng thượng thì bản thân Quốc Vương hoàng tử Lê Tư Tề cũng sẽ bị Lê Nguyên Long loại trừ, còn những người phò tá Lê Tư Tề thường cũng có một kết cục rất xấu, thậm chí tính mạng bị đe dọa. Nhưng hiện nay cũng chưa rõ thái độ của Lê Thái Tổ thế nào?

Trần Nguyên Hãn đáp:

-Cho đến nay Lê Thái Tổ chưa có thái độ nghiêng về Lê Tư Tề hay Lê Nguyên Long. Nhưng đệ nói thêm, đệ cáo quan còn là vì muốn nối theo chí ông nội ngày xưa, sớm rời bỏ quan trường đầy cam go, về sơn khê cho ung dung tự tại, vui thú với hoa lá chiêm muông trời đất, tĩnh tại thanh nhàn. Huynh cũng sớm nên cáo quan đi về Côn Sơn này mà thưởng thức vẻ đẹp của thần tiên nơi trần thế như ông ngoại xưa.

Nguyễn Trãi nói:

-Huynh không phải là tham quan cố giữ lại cái địa vị của mình nhưng trong huynh luôn mang nặng chữ vì dân vì nước. Đệ về trước đi, còn huynh sẽ xem xét thời cuộc rồi sẽ tính sau.

Trần Nguyên Hãn nói:

-Đúng rồi, đệ là quan võ, huynh là quan văn, các ngài quan văn bao giờ cũng nặng tình Nho gia, lời dạy của thánh hiền. Nhưng huynh ơi, thực hiện được những lý tưởng của thánh hiền trong thực tế đâu phải dễ, toàn những lý thuyết ru ngủ con người, bay trên mây trên gió.

Sau bữa cơm rượu chia biệt ở nhà Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn lên bàn thờ gia tiên đốt hương cho ông ngoại Trần Nguyên Đán, cho bác là Trần Thị Thái, bác rể là Nguyễn Phi Khanh. Xong Trần Nguyên Hãn chắp tay nói:

-Xin cáo biệt huynh, huynh bảo trọng.

 Nguyễn Trãi cũng chắp tay và nói:

-Xin cáo biệt đệ, đệ bảo trọng

-Đa tạ, đa tạ.

 Rồi Trần Nguyên Hãn rời Côn Sơn, xa dần sau núi rừng Côn Sơn hiu hắt. Nguyễn Trãi đứng lặng im nhìn, lòng buồn khôn tả.

  Từ Côn Sơn Trần Nguyên Hãn đi về Đông Kinh. Khoảng một tháng sau ông đến hành cung của Lê Thái Tổ xin vào gặp. Lê Lợi cho vào. Trần Nguyên Hãn quỳ hành lễ:

-Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.

-Miễn lễ, ái khanh đứng dậy đi.

-Tạ hoàng thượng.

Nguyễn Trãi gật gù:

-Đệ nói cũng phải. Nếu Lê Nguyên Long làm thái tử và trở thành Hoàng thượng thì bản thân Quốc Vương hoàng tử Lê Tư Tề cũng sẽ bị Lê Nguyên Long loại trừ, còn những người phò tá Lê Từ Tề thường cũng có một kết cục rất xấu, thậm chí tính mạng bị đe dọa. Nhưng hiện nay cũng chưa rõ thái độ của Lê Thái Tổ thế nào?

  Trần Nguyên Hãn đáp:

-Cho đến nay Lê Thái Tổ chưa có thái độ nghiêng về Lê Tư Tề hay Lê Nguyên Long. Nhưng đệ nói thêm, đệ cáo quan còn là vì muốn nối theo chí ông nội ngày xưa, sớm rời bỏ quan trường đầy cam go, về sơn khê cho ung dung tự tại, vui thú với hoa lá chiêm muông trời đất, tĩnh tại thanh nhàn. Huynh cũng sớm nên cáo quan đi về Côn Sơn này mà thưởng thức vẻ đẹp của thần tiên nơi trần thế như ông ngoại xưa.

  Nguyễn Trãi nói:

-Huynh không phải là tham quan cố giữ lại cái địa vị của mình nhưng trong huynh luôn mang nặng chữ vì dân vì nước. Đệ về trước đi, còn huynh sẽ xem xét thời cuộc rồi sẽ tính sau.

  Trần Nguyên Hãn nói:

-Đúng rồi, đệ là quan võ, huynh là quan văn, các ngài quan văn bao giờ cũng nặng tình Nho gia, lời dạy của thánh hiền. Nhưng huynh ơi, thực hiện được những lý tưởng của thánh hiền trong thực tế đâu phải dễ, toàn những lý thuyết ru ngủ con người, bay trên mây trên gió.

  Sau bữa cơm rượu chia biệt ở nhà Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn lên bàn thờ gia tiên đốt hương cho ông ngoại Trần Nguyên Đán, cho bác là Trần Thị Thái, bác rể là Nguyễn Phi Khanh. Xong Trần Nguyên Hãn chắp tay nói:

-Xin cáo biệt huynh, huynh bảo trọng.

 Nguyễn Trãi cũng chắp tay và nói:

-Xin cáo biệt đệ, đệ bảo trọng

-Đa tạ, đa tạ.

 Rồi Trần Nguyên Hãn rời Côn Sơn, xa dần sau núi rừng Côn Sơn hiu hắt. Nguyễn Trãi đứng lặng im nhìn, lòng buồn khôn tả.

  Từ Côn Sơn Trần Nguyên Hãn đi về Đông Kinh. Khoảng một tháng sau ông đến hành cung của Lê Thái Tổ xin vào gặp. Lê Lợi cho vào. Trần Nguyên Hãn quỳ hành lễ:

-Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.

-Miễn lễ, ái khanh đứng dậy đi.

-Tạ hoàng thượng.

Sau một lượt trà, Lê Thái Tổ hỏi:

-Hôm nay Tả tướng quốc vào gặp ta có việc gì không?

Trần Nguyên Hãn đáp:

-Đa tạ hoàng thượng đã quan tâm, thần quả nhiên có việc muốn nhờ Hoàng thượng chiếu cố.

-Tả tướng quốc có việc gì vậy?

-Muôn tâu Hoàng thượng, thần muốn cáo quan về quê nhà, nối chí ẩn dật của ông nội Trần Nguyên Đán ngày xưa, tiêu dao tự tại vui cảnh thiên nhiên hoa lá trời đất cho thanh thản tuổi già.

Lê Thái Tổ ngạc nhiên nói:

-Đất nước sau 20 năm bị giặc Minh tàn ác thống trị, lại bị 10 năm chiến tranh tàn phá, nay hòa bình rất cần nhân tài để vua tôi đồng lòng cùng đem tài năng để xây dựng phát triển đất nước, sao khanh lại sớm có tư tưởng an nhàn như vậy?

 Trần Nguyên Hãn đáp:

-Dạ mong Hoàng thượng tha tội. Nay hòa bình là lúc dùng văn và chính trị, thần là võ tướng không hiểu mấy về văn trị và pháp trị. Nhưng thần về rồi bao giờ cũng sẽ nhớ đến việc nước.

Sắc mặt Lê Lợi bỗng nhiên trầm tư. Lê Lợi suy nghĩ: Trần Nguyên Hãn đang phò tá Lê Tư Tề, dù sao cho cách xa Hữu tướng quốc Quốc vương thì cũng tốt vì ông ta là quý tộc nhà Trần. Nghĩ vậy Lê Lợi nói:

-Khanh đã có ý nối chí quan tư đồ ngày xưa thì trẫm cũng không gò ép để khanh thực hiện lý tưởng tốt đẹp. Khanh về viết một lá đơn đem vào đây trẫm phê duyệt, sau đó khanh đem sang Bộ lại để cho triều đình biết kẻo họ bảo khanh tự động đi khỏi triều đình sẽ bị tội.

 Trần Nguyên Hãn vội quỳ:

-Đa tạ Hoàng thượng.

Lê Lợi căn dặn tiếp:

-Về trí sĩ nhưng một năm khanh phải hai lần về triều để ta hiểu tình hình của ái khanh.

Trần Nguyên Hãn lại quỳ hành lễ:

-Đa tạ Hoàng thượng, thần tuân chỉ.

Sau khi được Lê Thái Tổ phê chuẩn, đóng con dấu vào đơn, Trần Nguyên Hãn đem trình Bộ lại rồi rời triều đình về quê, đó là tháng 1 năm 1429 âm lịch.

Về quê, Trần Nguyên Hãn cho xây dựng biệt phủ, ốp bằng gạch hoa và đá hoa cương, tạo nên một biệt điện vô cùng tráng lệ. Ông còn cho chăn nuôi gia cầm gia súc như gà vịt hàng nghìn con, ngựa hàng trăm con, trâu bò hàng đàn. Trần Nguyên Hãn còn mở một khoảng đất rộng khoảng 4-5 sào đất khô để hàng ngày ông vui chơi cùng gia nhân bắn cung luyện võ. Một thú vui nữa của ông là cưỡi ngựa đi săn với gia nhân ở Tam Đảo với hàng đàn  chó săn. Trong chuồng, ông còn nuôi hàng chục con voi to lớn. Voi để tải lúa gặt ngoài đồng về, voi còn kéo cối đá tuốt lúa. Ông thường cưỡi voi dạo quanh quê hương và dọc sông Lô. Ông còn đóng hai thuyền lớn để đi dạo trên sông Lô, sông Thao, sông Đà, hoặc cho gia nhân mang lưới cùng ông đi bắt cá trên ba con sông Đà, Thao, Lô. Đó là những trò tiêu khiển mà ông thấy tuyệt vời khi về sống với điền viên thôn dã. Ông tưởng ông đã xa được đấu trường chính trị hiểm ác. Trần Nguyên Hãn là một võ quan nên suy nghĩ đơn giản, ông nghĩ cứ có lòng trung với vua và trung với nước là được...

  Hoàng thành Thăng Long chìm trong mùa đông giá lạnh năm 1429. Sau bữa ăn sáng, Lê Thái Tổ đang ngồi uống trà trong điện Kim Loan trong một căn phòng lớn nhưng lộng lẫy. Những cây cột lớn sơn màu đỏ, có những con rồng vàng cuồn cuộn leo lên thân cột. Nền nhà rải thảm đỏ. Lê lợi ngồi sau cái bàn màu gụ, khảm trai bóng loáng. Hai bên có hai nội quan đứng hầu, bên dưới đứng hai bên bàn là hai thị nữ, hai người lính thiết đột cầm  giáo, đội mũ oai nghiêm đứng canh ngoài cửa. Lê Thái Tổ vừa uống trà vừa xem tấu sớ để phê duyêt. Chợt có quan nội giám bước vào:

-Dạ bẩm Hoàng thượng, có năm quan viên trong triều vào báo việc khẩn cấp.

-Cho vào ngay.

-Tuân lệnh Hoàng thượng.

  Quan nội thị đi ra, một lát sau năm viên gian thần bước vào. Đó là những quan viên bậc thấp trong triều nhưng ai mà chúng không bằng lòng, bằng ba tấc lưỡi của chúng bên tai Hoàng thượng hoặc trước triều đường có thể gây cho họ án tử, án lưu, án đồ, nhẹ thì giáng tước vị, chức vụ. Các đại thần từ lâu đã truyền tai nhau đó là những tên gian thần và họ đều tránh xa chúng. Lê Thái Tổ nhìn ra thì đó là Đinh Bang Bảng, Lê Quốc Khí, Trịnh Hoành Bá, Nguyễn Tông Chí, Lê Đức Dư. Bọn này thường đối diện gay gắt với văn võ bá quan, nhất là với những đại thần khai quốc công thần, quyền cao chức trọng nhờ những võ công trong kháng chiến. Lê Thái Tổ cũng không ưa gì bọn gian thần này nhưng không thể ghét được bọn chúng vì chúng nói những lời phỉnh nịnh dễ nghe. Vả lại vua cũng cần chúng để nắm tình hình các quan lại, nhất là các đại thần trong triều.

Năm viên quan quỳ xuống hành lễ:

-Hoàng thượng vạn vạn tuế.

-Miễn lễ, đứng dậy cả đi.

Đa tạ Hoàng thượng.

Lê Lợi hỏi:

-Các ái khanh vào đây có chuyện gì không?

Đinh Bang Bảng nói:

-Dạ bẩm Hoàng thượng thánh minh, chúng thần ngay đem lo lắng cho Hoàng thượng, cho an nguy của xã tắc. Hôm nay có việc hệ trọng khẩn cấp liên quan đến an nguy của triều đình nên…                                                                                 

Lê Lợi sốt ruột:

-Có gì nói ngay, quanh co vòng vèo mãi.

Lê Quốc Khí cướp lời Đinh Bang Bảng:

-Dạ bẩm Hoàng thượng, Trần Nguyên Hãn về quê Lập Thạch, Phúc Yên (nay là Vĩnh Phúc) cho xây biệt điện nguy nga tráng lệ, ốp toàn đá quý và gạch hoa, lộng lẫy xa hoa như cung điện. Trần Nguyên Hãn cũng nuôi voi chiến, ngựa chiến hàng trăm con, đóng thuyền chiến, lập xưởng rèn vũ khí, mở thao trường thường cùng binh sĩ luyện võ, luyện bắn cung tên, tích trữ lương thực, Thường cưỡi voi ngựa đi quanh vùng và lên Tam Đảo chuẩn bị xây dựng căn cứ chống lại triều đình.

Trình Hoàng Bá cướp lời Lê Quốc Khí:

-Dạ bẩm Hoàng thượng, Trần Nguyễn Hãn đã dùng ngựa, voi và thuyền đi khắp nơi để kêu gọi bách tính nổi dậy chống triều đình ạ.

Lê Tông Chí tiếp:

-Dạ bẩm Hoàng thượng, những lò rèn của Trần Nguyên Hãn ngày đêm ra sức rèn binh khí, lửa đỏ rực suốt ngày đêm, tiếng đập búa vang xa mấy dặm.

  Lê Thái Tổ nói:

-Triều đình mới đã chia ruộng đất cho nông dân, khai hoang, mở mang thủy lợi đẩy mạnh nông nghiêp. Hai năm nay được mùa lớn, không có đói khát, luật pháp nghiêm ngặt, trộm cướp không còn, đời sống bách tính no ấm bình an. Con cái bình dân cũng được vào các trượng học học tập và được thi Trạng Nguyên Tiến sĩ như con em quý tộc, sao họ lại theo Trần Nguyên Hãn làm phản được. Còn Trần Nguyên Hãn làm như vậy chắc là có lý do của ngài ấy. Ta sẽ cho thám mã đi xem xét, nếu đúng là phản nghịch triều đình sẽ xử tội.

-Đa tạ Hoàng thượng, chúng thần xin cáo lui.

Bọn gian thần đi ra, Lê Lợi gọi:

Người đâu.

Quan nội thị bước vào:

-Dạ bẩm Hoàng thượng.

-Cho gọi Bốn thám mã vào đây.

-Dạ, thần tuân lệnh.

Bốn thám mã bước vào:

-Hoàng thượng vạn tuế, vạn, vạn tuế.

-Bình thân đứng dậy đi.

-Đa tạ Hoàng thượng

Bốn người đứng dậy. Lê Thái Tổ nói:

Các ngươi hãy về Sơn Đông Phủ Vĩnh Phúc dò xét xem Trần Nguyên Hãn là đại thần của Triều đình về trí sĩ, hiện đang làm những gì, có phải gây dựng lực lượng mưu phản không? Dò xét bí mật, không được để Trần Nguyễn Hãn biết. Rõ chưa?

 -Dạ rõ, tuân lệnh Hoàng thượng.

Vài ngày sau cũng tại cung này, bốn tên thám mã vào gặp Lê Thái Tổ:

-Dạ bẩm Hoàng thượng, Hoàng thượng vạn vạn tuế.

-Miễn lễ, đứng dậy nói đi.

-Đa tạ Hoàng thượng.

Sau khi đứng dậy tên cầm đầu nhóm thám mã nói:

-Dạ bẩm Hoàng thượng, chúng hạ quan đã về Sơn Đông, Lập Thạch do thám dò hỏi thì biết được là Tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn xây nhà rất lộng lẫy, ngựa trâu bò nuôi hàng đàn hàng nghìn con, đặc biệt là nuôi 10 con voi, có thuyền to nhưng không phải là thuyền chiến, có rèn nhưng để rèn công cụ nông nghiệp mà không đúc vũ khí, có thao trường luyện võ nghệ bắn cung nhưng không phải là để luyện quân mà để chơi bời. Trần Nguyên Hãn hay cưỡi ngựa, voi thuyền đi rong chơi mà không thấy kêu gọi bách tính làm phản.

-Thôi được, lui ra đi.

-Đa tạ Hoàng thượng. Thám mã ra rồi. Lê Thái Tổ ngồi suy nghĩ: “Như vậy những hiện tượng mà bọn Đinh Bang Bảng báo là có sự thật nhưng vẫn chưa rõ đó là ý tạo phản hay là chơi ngông thôi. Tốt nhất cứ gọi Trần Nguyên Hãn vào kinh hỏi cho rõ rồi hãy xử lý sau cũng chưa muộn”. Rồi gọi:

-Quan nội thị đâu.

-Dạ, Hoàng Thượng.

-Khanh cầm chiếu chỉ này và đem theo một lực sĩ về Sơn Đông Vĩnh Phúc triệu tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn vào kinh hỏi xem đã làm những gì ở quê nhà mà một số gian thần tố cáo là chuẩn bị mưu phản. Nếu đúng thì sẽ trị tội không tha.

-Thần tuân chỉ.

Quan nội thị và 1 lực sĩ dùng thuyền đi về Sơn Đông, Vĩnh Phúc, tìm đến dinh thự của Tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn. Sớm hôm đó dù trời rét nhưng Trần Nguyên Hãn vẫn dùng voi đi dạo. Ngồi trên mình voi có quản tượng điều khiển, ông tha hồ ngắm phong cảnh thiên nhiên sông nước của quê hương tươi đẹp. Khí trời bao la trong mát làm Trần Nguyên Hãn cảm thấy vô cùng hứng khởi, sức lực dồi dào. Đi dạo thành thói quen, nếp sống hàng ngày của ông. Có lúc ông cưỡi voi, có lúc ông đi ngựa, có lúc đi xe ngựa kéo, có lúc đi bằng thuyền trên sông, mỗi phương tiện có một điều thú vị riêng.

Mãi trưa ông mới về nhà, ăn cơm xong đang ngồi uống trà thì có người Tổng quản và báo:

-Dạ bẩm chủ nhân, có sứ giả và quân của triều đình tới.

-Cho vào ngay.

-Dạ, chủ nhân.

Trần Nguyên Hãn vừa mặc triều phục vội và bước ra thì thì quan nội thị tay cầm chiếu chỉ cùng một lực sĩ bước vào. Quan nội thị nói:

-Tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn tiếp chỉ.

Trần Nguyên Hãn và những người có mặt trong nhà quỳ xuống. Quan nội thị giở chiếu ra và đọc: “Phụng thiên thừa vận, Hoàng đế chiếu viết, Trần Nguyên Hãn tham gia 10 năm kháng chiến chống giặc Minh có nhiều công lao, được phong tước hầu, được phong đến chức Tả tướng quốc, quyền ngang thừa tướng, đáng lẽ phải ở lại triều đình cùng trẫm lo xây dựng đất nước trong thời bình nhưng lại xin về để thỏa chí tự do tự tại. Trẫm chiếu cố cho về nhưng từ khi về quê tự ý xây cung điện lộng lẫy, nuôi nhiều ngựa voi trâu bò, tích lũy lương thực, mở thao trường luyện võ nghệ, mở lò rèn đúc nhiều vũ khí. Một số quan lại tố cáo Trần Nguyên Hãn chuẩn bị lực lượng làm phản, chống lại triều đình. Nay triệu về kinh để xét hỏi cho rõ, nếu đúng như vậy sẽ trừng trị theo phép nước. Nhận chiếu này phải về kinh ngay, không được chậm Trễ. Khâm thử. Thuận Thiên năm thứ 2 -1429.”

Trần Nguyên Hãn nghe chiếu xong ngạc nhiên:

-Sao Hoàng thượng chỉ nghe lời bọn gian thần mà kết tội tôi mưu phản.

Quan nội thị nói:

-Tả tướng quốc bình tâm, về kinh sư rồi Hoàng thượng mới hỏi có tội hay không?

Nếu như vậy thì chỉ một mình quan nội thị đi là được, sao lại điều lực sĩ. Rõ ràng là Hoàng thượng đến để bắt tội nhân còn gì.

-Nhà ta đề đạt với Hoàng thượng cho họ đi cùng để ta có bầu bạn dọc đường, Tả tướng quốc đừng bận tâm, mời Tả tướng quốc lên đường cho sớm.

Trước khi đi, quan nội thị cho phép gặp các gia nhân và thê thiếp, con cái trong gia đình tại hạ.

Ông bảo người Tổng quản:

-Đi gọi các phu nhân, các thiếu gia đến phòng khách ta gặp.

-Tuân lệnh chủ nhân.

  Một lát sau, các phu nhân và các thiếu gia đã tề tựu đông đủ. Trần Nguyên Hãn có hai phu nhân. Người vợ đầu người làng Cao Phong, xã Văn Quán, bà sinh được một trai là Trần Doãn Hữu, tự là Trung Khang, phu nhân thứ hai là bà Lê Thị Tuyển sinh hai con trai là Trần Trung Khoản, sau đổi sang họ Quách và Trần Đăng Huy, sau đổi sang họ Đào. Trần Nguyên Hãn nhìn vợ con và nói:

-Ta nay về nghỉ hưu sống tự do tự tại, làm cái nhà để ở, nuôi vài con voi ngựa, để kéo lúa và đi dạo, đóng hai chiếc thuyền để đi câu cá, mở xưởng rèn để rèn dụng cụ sản xuất, không ngờ trong triều đình bọn gian thần lấy đó vu cáo cho ta âm mưu làm phản. Nay Hoàng thượng có chiếu triệu ta vào kinh để làm rõ vấn đề, nếu có tội sẽ bị trị tội. Chuyến đi này lành ít dữ nhiều. Cho nên khi ta đã đi rồi thì hai nàng hãy nghe ngóng tin tức. Nếu ta đã chết thì hai nàng cho gia nhân mỗi người một ít tiền, hai nàng đem theo một ít đem con về quê mà sinh sống. Các nàng nhớ đổi họ cho các con, chớ để chúng mang họ Trần mà bị truy sát liên lụy.

  Hai phu nhân nghe nói xong thì òa lên và gào khóc, các thiếu gia cũng khóc, gia nhân, người làm trong nhà cũng khóc theo. Phu nhân vừa khóc vừa nói:

-Ngài không làm phản, tướng công không có tội. Xin tướng công đừng bỏ mẹ con thiếp hu!hu!hu!...

-Tướng công chỉ làm lụng để lấy tiền gạo giúp đỡ bá tính trong vùng mỗi khi nghèo đói, như vậy mà làm phản sao, trời ơi, sao lại bất công như vậy. Hu!Hu!Hu!...

  Cả một nhà khóc vang trời đất thảm thiết. Láng giềng chung quanh, các chức sắc và cụ lão hương thôn đều kéo đến nhà Trần Nguyên Hãn ngày càng đông. Các hương thôn nói với quan nội thị:

Tả tướng quốc đây làm lụng gạo thóc dư dật đã giúp đỡ cho bách tính nghèo đói quanh đây, một vùng rộng lớn đã bao lần chịu ơn của Tả tướng quốc. Mong đại quan về nói lại với Hoàng thượng nếu quy tội làm phản thì Tả tướng quốc bị oan.

Quan nội thị nói:

-Ta sẽ trình bày lời nói của các cụ.

-Đa tạ đại nhân.

-Không giám. Bây giờ thời gian cũng đã muộn, xin mời quan Tả tướng quốc về kinh.

Trần Nguyên Hãn nói với hai phu nhân:

-Chăm sóc hài nhi cẩn thận. Nhớ lời ta dặn, cả nhà bảo trọng, bái biệt,

  Trần Nguyên Hãn nói xong vội đi nhanh ra cửa, quan nội thị và  lực sĩ đi theo. Tiếng khóc tiếng kêu vẫn vang lên khắp trang viên và lan ra ngoài thôn xóm. Tiếng hai phu nhân rõ ràng thảm thiết:

-Tướng công, tướng công!!!

Trần Nguyên Hãn, quan nội thị và 4 lực sĩ xuống thuyền. Tiếng kêu khóc trong trang viên vẫn còn vang vọng. Khi thuyền tới giữa dòng sông Thao, Trần Nguyên Hãn có lẽ vì bức xúc quá, ngửa mặt lên trời kêu:

-Tôi ngày xưa đồng lòng nếm mật nằm gai cùng vua đánh giặc cứu nước, nay sự nghiệp đã thành, vua lại nghe lời vu cáo mà nghi ngờ tôi trung. Nếu tôi bị oan, hoàng thiên có thấu thì hãy nổi giông bão rửa sạch nỗi oan khuất này. Mong hoàng thiên chứng giám.

  Trời đang bình lặng, khi Trần Nguyên Hãn nói xong, bỗng nhiên mây đen kéo tới, mưa như trút nước, giông gió nổi lên như bão táp, chớp giật sáng lòe, con thuyền bỗng nhiên bị nâng lên khỏi mặt nước và úp sấp lại. Trần Nguyên Hãn, lực sĩ và nội quan chìm xuống nước. Hai canh giờ sau mưa tạnh, sóng yên gió lặng. Thốt nhiên quan nội thị mở mắt ra thì ông đang nằm cạnh bờ sông. Trời đang chuyển sang hoàng hôn màu tím. Trong khi mơ màng quan nội thị thấy bóng giáng một vị thần đến bảo rằng: “Ta là Trần Hưng Đạo Đại Vương đây, nhà ngươi về bảo với Lê Thái Tổ rằng Tả tướng quốc bị oan. Nhưng vận mệnh của đứa cháu ta đã hết, ta đã đón lên đài phong thần rồi”.

Tỉnh lại quan nội thị thấy mình nằm trên một chiếc thuyền lênh đênh của một ông gìa đánh cá trên sông Thao. Khi thấy ông mở mắt, ông lão đánh cả mừng rỡ nói:

-Đại nhân tỉnh rồi, đại nhân tỉnh rồi, tốt quá.

Quan nội thị hỏi:

-Các hạ đã cứu ta à? Những người trên thuyền của ta còn ai sống sót nữa không?

-Dạ bẩm đại nhân chết hết rồi, không thấy thi hài họ ở đâu. Tôi chỉ thấy mỗi ngài nằm ngất xỉu bên bờ sông nên đưa xuống thuyền.

-Đa tạ, đa tạ đã cứu mạng.

-Không dám, không dám. Bây giờ ngài về đâu?

-Tìm cho ta một chiếc xe ngựa đưa ta về kinh thành.

- Thế những người vừa chết lúc chiều là những ai vậy?

-Đó là Tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn và võ sĩ của triều đình.

Ông lão đánh cá ngậm ngùi. Đáng tiếc, tôi có nghe danh của Tả Tướng quốc, bách tính khắp vùng Lập Thạch và Sơn Đông Vĩnh Phúc đều đội ơn quan Tả tướng quốc thương dân giúp đỡ họ những khi đói khát rất nhiều.

 Sau khi có xe ngựa quan nội thị cáo biệt ông lão đánh cá và đi vào kinh thành. Sớm hôm sau vào gặp Lê Lợi, vừa trông thấy ông, Lê Thái Tổ đã hỏi:

-Trần Nguyên Hãn đâu?

  Quan nội thị tâu:

-Bẩm Hoàng thượng, quan Tả tướng quốc có xây nhà đẹp nhưng mà để ở, có nuôi ngựa, voi và trâu bò, gà vịt là để phát triển nông nghiệp, chuyên chở thóc lúa ngày mùa thu hoạch, mở xưởng rèn để rèn đúc công cụ sản xuất, không phải rèn vũ khí, hai chiếc thuyền là để ngài đi dạo trên sông Thao, sông Lô, sông Đà và câu cá giải trí, người ở trang viên là nông dân quanh vùng thuê để làm đồng, chăn nuôi, không phải là binh lính, có một bãi tập là để ngày nhàn rỗi Tả tướng quốc cùng gia nhân đấu vật, bắn cung tên, đấu võ để rèn thể lực và vui chơi mà không phải là thao trường luyện quân. Hương thôn cụ lão và bách tính đến nói với thần rằng hàng nghìn hộ ở vùng Sơn Đông đã được Tả tướng quốc giúp đỡ chu cấp khi đói ăn, thiếu thốn. Họ nói rằng dân cư bách tính ở vùng đó đội ơn quan Tả tướng quốc rất nhiều.

  Lê Thái Tổ vẻ đăm chiêu và hỏi:

-Thế còn Tả tướng quốc đâu, có về kinh đô không?

-Dạ bẩm Hoàng thượng, chúng thần rời trang viên của Tả tướng quốc, đi thuyên từ sông Lô để về kinh thành. Đến đoạn sông Thao, Trần Nguyên Hãn có lẽ quá bức xúc đã cầu xin trời đất nếu ông bị oan thì hãy đón ông đi, ông dùng cái chết để tỏ lòng trung với triều đình, với Hoàng Thượng. Quả nhiên trời đang yên lặng bỗng nhiên nổi giông gió, mưa to và sấm chớp, sóng cuộn lên nâng thuyền và lật úp. Trần Nguyên Hãn  lực sĩ đã chìm xuống sông mất tích. Thần bị trôi dạt vào bờ, may được ông lão đánh cá vớt lên thuyền. Trong khi chết giấc mơ màng thần được một vị thần xưng là Hưng Đạo Đại Vương đến bảo với thần về bẩm tấu với Hoàng thượng rằng Trần Nguyên Hãn bị oan, rằng Hoàng thượng không nên nghe lời của bọn gian thần mà giết hại trung thần, nhân tài và trung thần là vốn quý của triều đình. Vả lại Trần Nguyên Hãn cũng đã hết số ở trần gian, ta đã đón lên Đài phong thần bất tử rồi.

 Vua Lê Thái Tổ buồn rầu nói:

-Quả nhiên là Đinh Bang Bảng là bọn người đáng ghét, quả nhiên là Tả tướng quốc bị oan. Ta cũng chỉ định triệu ngài ta vào kinh để hỏi cho ra lẽ, không ngờ lại quyết lấy cái chết để tỏ lòng trung, thật đáng thương thay.

  Lê Thái Tổ ngồi lặng, quan nội thị cũng đứng bên. Cả hai lặng lẽ nghe tiếng mưa rơi buồn bả ngoài cung điện.

IV.

Thăng Long một buổi sáng mùa xuân năm 1431, gió se lạnh thổi làm muôn cây trên nóc lâu đài cung điện đung đưa, lá vàng rơi lả tả, chồi non đang nhú lên nẩy lộc báo một mùa xuân sang. Các mái cung điện nhô lên tráng lệ cùng với những đà đao đầu rồng vươn lên trời xám. Nắng rải chan hòa, gió hơi se lạnh. Vài đàn chim từ phương nam bay về quê hương phương bắc sau một thời gian di cư tránh rét.

  Trong điện Kính Thiên, Lê Thái Tổ đang thiết triều. Điện Kính Thiên trong hoàng thành vàng son rực rỡ như xưa, vẫn là màu đỏ của những cây cột sơn son. Trên từng cây cột, vẫn những con rồng vàng oai dũng cuồn cuộn leo lên. Đằng sau ngai vàng trên nền cao, hai con rồng vàng màu trên tường trắng cũng cuồn cuộn ôm lấy mặt trời ở giữa.

  Lê Lợi mặc áo long bào, hai con rồng đỏ ôm lấy toàn thân nhà vua vươn về trước ngực và cũng chầu vào mặt trời ở giữa, chiếc mũ miện có gắn mấy chục viên hạt ngọc tua tủa quanh đầu và trước mặt. Các quan đứng dưới quỳ hành lễ:

-Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.

-Miễn lễ, các ái khanh bình thân.

-Tạ Hoàng thượng.

  Khi các quan đã đứng dậy thành hai ban văn, võ, Lê Thái Tổ nói:

-Các ái khanh có gì tấu?

Gian thần Đinh Bang Bảng bước ra:

-Tâu Hoàng thượng, thần có tấu.

Các đại thần giật mình. Bá quan văn võ quyền lớn tước trọng, tài văn võ, thi gan 10 năm trên chiến trường nhưng khi bọn gian thần xin tấu thì đều lạnh người. Cách đây một năm chỉ những lời sàm tấu của bọn này đã giết chết đại công thần, Tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn. Lê Thái Tổ hỏi:

-Khanh có gì tấu, nói đi.

-Dạ, muôn tâu Hoàng thượng, hiện nay trên thượng du Tây Bắc nhiều thổ ty người dân tộc đang có âm mưu chống lại triều đình như Đèo Cát Hãn ở Lai Châu. Sở dĩ họ dám khởi binh vì họ cấu kết được với một số đại thần của triều đình ủng hộ,

Cả triều đình ồ lên:

-Hả ai vậy? Đại thần nào vậy? Lại là sự vu cáo của bọn gian thần.

Lê Lợi ngạc nhiên hỏi:

-Ta nghe thám mã báo một số tù trưởng đang rục rịch khởi binh chống lại triều đình là có thực, nhưng chưa nghe nói trong triều đình có đại thần cấu kết với chúng. Ai vậy, khanh có biết không?

-Dạ bẩm hoàng thượng, đó là quan Huyện thượng hầu, Thái bảo Phạm Văn Xảo.

Cả triều đình lại ồ lên:

-Hả, thật vậy sao, lại trò vu cáo hãm hại đại thần.

Phạm Văn Xảo từ hàng võ thần bước ra:

-Dạ bẩm Hoàng thượng, thần có tấu.

-Khanh nói đi.

-Dạ bẩm hoàn thượng, thần bị gian thần Đinh Bang Bảng vu oan.

Rồi Phạm Văn Xảo quay sang mắng Đinh Bang Bảng:

-Ta với nhà ngươi không thù không oán, sao nhà ngươi lại ngậm máu phun người, đẩy ta vào đất chết.

Gian thần Lê Quốc Khí bước ra:

-Dạ bẩm Hoàng thượng, thần có tấu.

-Khanh tấu đi.

-Dạ bẩm Hoàng thượng, thần có chứng cớ về tội cấu kết của Phạm Văn Xảo với phản nghịch Đèo Cát Hãn.

Lê Lợi hỏi:

-Chứng cớ gì?

-Dạ, đây là bức thư Đèo Cát Hãn gửi cho Phạm Văn Xảo.

-Trình lên đây.

Quan nội thị đi xuống chỗ Lê Quốc Khí cầm phong thư bóc ra, thấy không có gì nguy hiểm liền đưa cho Lê Lợi. Lê Lợi cầm thư liếc qua và bảo quan nội thị:

Khanh đọc to lên cho triều đình nghe xem nó viết gì?

-Dạ, thần tuân chỉ.

Quan nội thị cầm thư đọc. Thư viết: Xin cảm tạ sự cộng tác, liên kết của quan Huyện thượng hầu, Thái bảo Phạm Văn Xảo. Đó là sự cổ vũ động viên cho tại hạ khởi binh. Nay mai sự nghiệp thành công sẽ mời ngài lên làm minh chủ đứng đầu một cõi giang sơn tự do tự tại miền Phục Lễ (Lai Châu), không phụ thuộc vào bất cứ một hôn quân nào. Xin đa tạ. Thủ lĩnh Đèo Cát Hãn kính thư.”

Lê Thái Tổ nghe xong nghĩ bụng: “Phạm Văn Xảo tước cao chức lớn của Đại Việt, sống ở kinh thành không thiếu gì, dại gì mà lên cái miền núi xa xôi lạ nước lạ cái. Đây lại là chiêu trò vu cáo của bọn gian thần. Vả lại thư chỉ là một chiều từ Đèo Cát Hãn, không có thư của Phạm Văn Xảo làm bằng cớ chữ viết của ông ta. Đây chỉ là thư giả mạo. Nhưng vì bảo vệ ngôi báu, trừng trị bọn gian thần thì sau này có làm phản thật lấy ai là người dò biết, tố cao, thôi thì cứ tạm giam Phạm Văn Xảo rồi tính sau. Nghĩ vậy Lê Thái Tổ vờ nổi giận đập bàn quát:

-Có sự thật như vậy sao?

Quan Hành khiển Thượng thư Bộ lại Nguyễn Trãi bước ra:

-Tâu Hoàng thượng, thần có tấu.

-Khanh tấu đi.

-Mong Hoàng thượng bớt giận, quan Huyện Thượng hầu Thái bảo phong cho Phạm Văn Xảo là đã gia ân cực lớn, chức vụ gần như cao nhất nhì trong triều đình, phú quý đến cực phẩm, không lý gì ngài Phạm Văn Xảo lại còn mơ ước viễn vông, đứng đầu một xứ xa xôi Phục Lễ. Vả lại thư đây chưa chắc là của Đèo Cát Hãn, cho dù đúng như vậy thì cũng chỉ là một chiều, phải có thư của Ngài Phạm Văn Xảo mới là bằng cớ đích thực. Không có thư của ngài Phạm Văn Xảo thì chỉ là sự vu cáo nhằm làm rối loạn triều đình, ly gián vua tôi. Xin Hoàng thượng minh xét.

Quốc vương hoàng tử Lê Tư Tề bước ra:

-Bẩm phụ vương, thần có tấu.

-Dạ bẩm phụ vương, hài nhi tán thành ý kiến của q uan Hành Khiển Nguyễn Trãi. Hơn nữa lời của ngài Đinh Bang Bảng không đủ chứng cớ, xin giao thư lại cho văn phòng hình sự để kiểm tra chữ của ai viết và mạo danh Đèo Cát Hãn. Xin phụ hoàng minh xét.

Lời tâu của Nguyễn Trãi và của Lê Tư Tề cũng giống suy nghĩ của Lê Thái Tổ nhưng ngài chưa biết quyết thế nào. Các quan văn võ thì sục sôi nhìn bọn gian thần Đinh Bang Bảng với những ánh mắt căm thù, Bọn Đinh Bang Bảng, Lê Quốc Khí... vênh mặt đắc thắng cười. Không khí đang nhốn nháo căng thẳng như vậy thì quan nội thị vào báo:

-Dạ bẩm Hoàng thượng, có thám mã ở Cao Bằng về báo tin khẩn cấp.

-Cho vào ngay.

-Dạ, tuân chỉ.

Quan nội thị đi ra, một thám mã mệt nhọc, quần áo đầy gió bụi vào quỳ hành lễ:

-Hoàng Thượng vạn tuế, vạn tuế.

-Miễn lễ, có gì đứng dậy nói ngay đi.

-Dạ bẩm Hoàng thượng, Thổ ty châu Thạch Lãm, trấn Thái Nguyên (gồm Thái Nguyên-Cao Bằng) Bế Khắc Thiện, Nông Đắc Thái nổi dậy làm phản, trung tâm chính là thành Na Lữ, Cao Bằng ạ.

- Cho ngươi lui về dịch quán nghỉ ngơi ăn uống, đi một mạch 400 dặm về kinh đô báo tin đã rất mệt.

-Đa tạ Hoàng thượng.

Lê Thái Tổ nói:

- Tình hình khẩn cấp phải đem quân ứng chiến dẹp phản loạn. Ta sẽ thân chinh làm chủ soái. Quốc vương Lê Tư Tề nghe chỉ:

-Có Tề nhi, bẩm phụ hoàng.

-Quốc vương ở nhà thay ta điều hành và trông coi triều chính những ngày ta vắng mặt.

-Dạ, Tề nhi tuân chỉ.

-Trịnh Khả nghe chỉ:

-Dạ bẩm Hoàng thượng, có thần.

-Khanh cầm 1 vạn quân đi tiên phong.

-Thần tuân chỉ.

-Nguyễn Xí nghe chỉ.

-Dạ bẩm Hoàng thượng, có thần.

-Khanh lĩnh 1 vạn quân đi hậu quân.

-Thần tuân chỉ.

-Lê Thụ nghe chỉ.

-Dạ bẩm Hoàng thượng có thần.

-Khanh dẫn 3 vạn quân đi trung quân cùng ta dẹp loạn.

-Thần tuân chỉ.

- Còn quan Thái bảo Phạm Văn Xảo, có thể khanh bị oan nhưng đã có lời tố cáo nên cần phải làm rõ vấn đề cho nên khanh chịu khó chờ ta diệt xong quân phiến loạn sẽ tra xét tiếp vụ án này.

Phạm Văn Xảo kêu:

-Dạ bẩm Hoàng thượng, thần bị oan.

-Ta đã nói rồi. Đã có tố cáo nếu để khanh tại ngoại thì chính ta cũng phạm luật. Khanh định đẩy ta phạm luật chăng?

-Vậy vì Hoàng thượng thần tuân chỉ.

-Bay đâu.

Hai võ sĩ bước vào.

-Dạ, Hoàng thượng.

-Đem quan Thái bảo quản thúc ở tư dinh, đợi ta dẹp xong loạn về sẽ tra xét cho rõ.

-Tuân lệnh Hoàng thượng.

Hai võ sĩ dẫn Phạm Văn Xảo đi. Các quan nhìn theo thương xót. Đinh Liệt bước đến trước mặt bọn Đinh Bang Bảng, Lê Quốc Khí, Trịnh Hoành Bá, Nguyễn Tông Chí, Lê Đức Dư nhổ một bãi nước bọt trước bọn chúng. Bọn Đinh Bang Bảng đang hí hửng vì Phạm Văn Xảo bị quản thúc tại  nhà, liền sa sầm bộ mặt đen tối gian xảo của chúng. Nguyễn Tông Chí nói:

-Liệu hồn, sẽ đến lượt ngài đó.

Đinh Liệt khinh bỉ bỏ đi, mặc bọn gian thần đứng nhìn tức tối căm thù.

Sau buổi thiết triều định mệnh đó, Phạm Văn Xảo từ Huyện thượng hầu, Khu mật đại sứ, Thái bảo bị lính dẫn về nhà. Bốn lính cấm vệ thay nhau canh ngoài cổng đêm ngày. Phạm Văn Xảo được tự do trong tư dinh. Nhưng đang là mùa đông nên tư dinh như lạnh lẽo thêm. Sau những bữa cơm, Phạm Văn Xảo ngồi uống nước và buồn bã nhìn ra ngoài khung cửa sắt hiện ra không gian mùa đông u ám mờ mờ ảo ảo như tâm tư của ông. Phạm Văn Xảo ngồi tựa lưng vào ghế tràng kỷ, nhâm nhi ly nước trà, đăm chiêu suy nghĩ, hồi tưởng lại những tháng ngày đã qua...

Phạm Văn Xảo quê ở Đông Kinh, có tinh thần yêu nước thương dân. Tuy nghe tiếng có cuộc khởi nghĩa Lam Sơn từ lâu nhưng do hoàn cảnh gia đình có cha mẹ già không ai chăm sóc. Mãi tới đầu năm 1426 ông mới vào Nghệ An tham gia, khi đó nghĩa quân đã làm chủ từ Thanh Hóa đến Tân Bình-Thuận Hóa, thế lực hùng mạnh. Tháng 8 năm 1426 Lê Lợi cho ba đạo quân, mỗi đạo 1 vạn tiến ra giải phóng miền Bắc, vây hãm Đông Quan. Phạm Văn Xảo được ở trong đạo quân của Đỗ Bí, Trịnh Khả, Lê Triện tiến ra phía Tây Bắc Đông Quan, Lưu Nhân Chú, Bùi Bị tiến ra phía Đông Bắc, Đinh Lễ, Nguyễn Xí đánh ra thẳng Đông Quan. Số quân còn lại của Lam Sơn khoảng 15 vạn người bao vây quân Minh ở các thành Tân Bình, Nghệ An, Tây Đô (Thanh Hóa), Cổ Lộng, Chí Linh. Cánh quân Tây Bắc do Phạm Văn Xảo chỉ huy tiến đến Tam Giang (Phú Thọ) chặn đánh 1 vạn quân Minh do Đô ty Vân Nam Vương An Lão chỉ huy tiến đến cầu Xa Lộc. Quân Minh đại bại rút vào thành Tam Giang cố thủ.

  Khi đó quân Minh thất bại liên tục nên vua Minh sai Sơn thành hầu Vương Thông đem 5 vạn quân sang tiếp viện. Vương Thông vào nhập với 5 vạn quân ở thành Đông Quan là 10 vạn, nắm quyền Tổng Binh thay Trần Trí. Vương Thông đem 10 vạn quân ra hướng Ninh Kiều để tiêu diệt quân Lam Sơn do Đinh Lễ, Nguyễn Xí, Lý Triện chỉ huy. Đinh Lễ, Lý Triện, Nguyện Xí đã đánh lừa Vương Thông và dụ 10 vạn quân Minh vào trận địa mai phục Tốt Động-Chúc Động (Chương Mỹ) và tiêu diệt 6 vạn địch, giết nhiều võ quan cao cấp. Tổng binh Vương Thông cũng bị thương, đem tàn quân chạy vào Đông Quan cố thủ. Lê Lợi ra lệnh cho quân Lam Sơn bao vây bốn mặt thành Đông Quan. Vương Thông cầu cứu viện binh. Tháng 9 năm 1427, vua Minh Tuyên Tông cử 15 vạn quân chia làm hai đường tiến vào Đông Quan. Đạo thứ nhất gồm 10 vạn quân do An Viễn hầu Liễu Thăng, một viên tướng trẻ theo đường Quỷ Môn Quan Lạng Sơn tiến vào, đạo thứ hai do Kiềm Quốc Công Mộc Thạnh, một lão tướng già chỉ huy 5 vạn quân từ Vân Nam vào phủ Quy Hóa (Lào Cai) tiến  xuống. Phạm Văn Xảo và Trịnh Khả giữ ải Lê Hoa, châu Thủy Vĩ chặn đạo quân Mộc Thạnh.

Khi hay tin đạo quân Liễu Thăng cùng nhiều võ quan cao cấp bị tiêu diệt ở chiến dịch Chi Lăng-Xương Giang, cả 10 vạn quân chỉ một tên sống sót chạy được về nước, Mộc Thạnh ở đạo Tây bắc khiếp đảm bỏ chạy. Phạm Văn Xảo và Trịnh Khả tung quân ra đánh, phá địch ở Lãnh Câu-Đan Xá, chém 2 vạn, bắt sống hơn 1.000 tên, thu nhiều quân lương, vũ khí.

   Sau chiến thắng, nước nhà sạch bóng quân thù. Năm 1428 Lê Lợi luận công ban thưởng cho các tướng lĩnh. Phạm Văn Xảo được phong làm Thái bảo, được ban Quốc tính nên còn gọi là Lê Văn Xảo. Ngày 1tháng 5 năm 1429 Lê Thái Tổ cho khắc biển ghi tên các công thần và phong tước, Phạm Văn Xảo được phong tước Huyện thượng hầu, tên ông xếp thứ ba sau Phạm Vấn, Lê Sát, thăng hàm Thái úy. Ông trở thành Đại thần, khai quốc công thần được triều đình và thiên hạ trọng vọng.

Vậy mà nay bọn gian thần không bằng chứng dám vu cáo ông tội làm phản, tội đứng đầu bảng trong tội hình sự, tội “Thập ác”. Tội này theo quy định, dù là bậc bát nghị, vương công quý tộc vẫn bị tử hình. Một câu hỏi mà Phạm Văn Xảo không trả lời được là dựa vào thế lực nào mà năm tên gian thần dám ngang nhiên vu cáo hãm hại đại công thần, không kiêng sợ gì cả. Chính Tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn cũng đã bị bọn gian thần vu oan, ôm hận mà chết tức tưởi ở dòng Thao Giang. Sau vụ này đáng lý Lê Thái Tổ phải trừng trị chúng tội vu cáo đại thần. Dù Lê Lợi có thừa nhận Trần Nguyên Hãn bị oan nhưng vẫn để chúng nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật để chúng tiếp tục vu cáo đại thần. Vì sao vậy? Trần Nguyên Hãn và ông không thù oán gì bọn chúng, vì sao chúng vu cao Trần Nguyên Hãn xong thì bây giờ đến lượt ông. Không biết ông và Trần Nguyên Hãn có gì giống nhau cản trở bọn chúng, hay chủ nhân bọn chúng. Qua suy nghĩ lao lung, Phạm Văn Xảo chợt kêu lên: Thôi chết rồi ta với Trần Nguyên Hãn cùng phò Quốc vương Lê Tư Tề và có ý đưa Lê Tư Tề lên ngôi thái tử, kế vị ngai vàng. Một số đại thần khác thì phò tá hoàng tử thứ hai là Lê Nguyên Long. Việc kế vị của một triều đại không chỉ dính dáng đến các đại thần mà còn quan hệ đến bọn hoạn quan, bọn gian thần, đến hậu cung. Ở đây quả nhiên thế lực của Hoàng tử Lê Nguyên Long rất mạnh. Chúng đã triệt hạ được hai đại thần phò tá Lê Tư Tề là ông và Trần Nguyên Hãn. Phải chăng ở đây có sự dung túng của Lê Lợi. Có lẽ Lê Lợi đã ngả về hướng đưa Lê Nguyên Long làm thái tử kế vị, nếu vậy thì Quốc Vương Lê Tư Tề nguy rồi. Cuộc đấu tranh của hai phe dù có gay gắt thế nào nhưng cuối cùng, ai làm thái tử và nối ngôi vẫn do Lê Thái Tổ quyết định, nhưng việc triệt hạ vây cánh của Lê Tư Tề không phải là không có tác dụng. Trần Nguyên Hãn và Phạm Văn Xảo bị vu oan là tội phản quốc thì Lê Tư Tề vẫn bị ảnh hưởng và yếu thế, Lê Thái Tổ sẽ nghi ngờ Lê Tư Tề chịu ảnh hưởng của Trần Nguyên Hãn và Phạm Văn Xảo. Chỉ có lấy cái chết để minh oan cho mình, bảo vệ danh tiếng của một khai quốc công thần, của những tráng sĩ Lam Sơn không bao giờ sợ chết, hơn nữa còn bào vệ được Lê Tư Tề. Có lẽ vì thế mà Tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn đã quyên sinh ở sông Thao. Ta, Phạm Văn Xảo, khai quốc công thần nhà Hậu Lê, Tước Huyện thượng hầu, chức Thái bảo, danh tiếng lừng lẫy trong thiên hạ, sao lại không bằng Trần Nguyên Hãn ư, ta sẽ sống anh hùng, chết cũng sẽ kiên trung. Rồi Phạm Văn Xảo lấy ra viên thuốc độc dự phòng luôn mang bên mình, đưa vào miệng nhai và nuốt. Bầu trời bỗng nhiên sấm chớp vang dội, mưa to gió lớn suốt đêm hôm đó. Trời cũng đau xót nhỏ lệ thương xót một anh hùng, một trung thần lại ra đi giữa thời bình đầy sóng gió của chính trị cung đình.

V.

Tháng giêng năm 1431 âm lịch, thời gian đã bắt đầu sang xuân của năm mới nhưng tiết trời còn như mùa đông. Đường từ Thái Nguyên lên Bắc Kạn, Cao Bằng chỉ có một con đường nhỏ chạy uốn lượn quanh sườn đồi núi. Dọc đường đi, núi non trùng điệp, cao thấp vòng vèo. Cây rừng cao thấp mênh mông bát ngát. Khắp núi rừng những làn sương phủ trắng xóa cùng những làn mây bay lơ lững trên bầu trời xanh ngắt. Chung quanh sườn đồi gần con đường thiên lý, những mái nhà sàn của người dân tộc Tày, Nùng nằm rải rác chen lẫn với đồi lúa nương và sắn. Vài đàn trâu kiếm ăn đi lang thang mõ khua lốc cốc. Những làn nắng vương tơ lọt qua những lá cây rừng làm không gian bừng sáng. Đây đó vài con suối uốn lượn quanh co. Vài ruộng lúa nước ven bờ suối đang thì con gái xanh mơn mởn bên bờ suối vắng. Không gian thật là tĩnh lặng âm u.

Nhưng không gian yên tĩnh của rừng núi sáng nay bị rung động bởi bước chân của 5 vạn người ngựa quân nhà Hậu Lê đang hành quân tiến lên Cao Bằng dẹp loạn. Cờ vàng bay phấp phới, bước chân người ngựa khua vang. Đoàn quân đi theo con đường  nhỏ hẹp nên dòng người trải dài uốn vòng vèo theo ven đồi tưởng như vô tận. Đi tiên phong là trướng Trịnh Khả và vài người trong bộ tướng, theo sau là 1 vạn quân. Đi trung quân là vua Lê Thái Tổ, tướng Lê Thụ và các bộ tướng. Lê Lợi ngồi trên xe màu lụa vàng do hai ngựa kéo, trên xe ngựa có lọng vàng, có lá cờ màu vàng đề chữ soái lớn màu đỏ bay phần phật trước gió. Lê Lợi ngồi trong xe tổng chỉ huy cuộc viễn chinh. Theo sau là 3 vạn quân đi trung quân, một vạn quân đi hậu quân do tướng Nguyễn Xí chỉ huy và bộ tướng. Các tướng mặc võ phụ màu xanh, áo giáp, mũ đâu mâu đồng vàng chóe, gươm dao đeo lủng liểng bên hông, cưỡi trên những con tuấn mã màu đen màu nâu khỏe mạnh. Quân lính mặc quân phục màu nâu, đội nón sắt, chân đi giầy vải, vai mang nặng gươm giáo cung tên và lương thực, nước uống. Đoàn quân đi, cờ vang bay phấp phới rợp trời, bụi cuốn mù mịt như sắp có bão táp.

Quân Hậu Lê hành quân hai ngày một đêm, sáng hôm sau nữa thì đến Cao Bằng, cách thành Na lữ 10 dặm. Từ đỉnh núi Thạch Lâm, Lê Lợi quan sát thấy núi non trùng điệp nhưng vẫn nhìn thấy dòng sông Bằng Giang nước từ trên cao dội xuống trắng xóa cuồn cuộn chảy về xuôi. Vua Lê Thái Tổ cho toàn quân nghỉ và ăn trưa. Thức ăn là bánh đa, bánh chưng, gạo hấp chín, giò bò, giò lợn. Lê Thái Tổ rời kiệu vàng ra ngoài quan sát, phong cảnh Cao Bằng quả nhiên hùng vĩ đẹp tươi, mây trời bay trên cao cuồn cuộn. Nhà vua cảm thấy thư thái, khí lực tràn đầy. Ông thấy 10 năm cùng bách tính quân đội, các tướng lĩnh chiến đấu hy sinh gian khổ giành lại non sông gấm vóc này thực là xứng đáng. Lê Lợi cảm hứng làm một bài thơ chữ Hán và cho thợ đá khắc vào đá ở vách đá núi.

Bất từ vạn lý chỉnh sư đồ

Duy lực biên manh xích tử tô

Thiên địa bất dung gian đảng tại

Cổ kim thủy xá bạn thần chu

Trung lương tự khả lương đa phúc

Bạo bội chung nan bảo nhất khu

Đái lệ bất di thần tử tiết

Danh thùy vạn cổ dữ sơn câu.

Dịch nghĩa:

Đường xa chẳng quản ngại ra quân

Chỉ muốn biên cương cứu lấy dân

Trời đất chẳng dung phường phản tặc.

Xưa nay ai xá tội gian thần

Trung lương ắt tự giành nhiều phúc

Bạn nghịch đành khôn giữ chiếc thân

Sông cạn đá mòn không đổi tiết                                             

Danh cùng núi ấy vạn niên xuân.

  Thuận Thiên tứ niên tân hội chính nguyệt Thị thập nhất đà.

Quân Hậu Lê tiếp tục tiến về phía thành Na Lữ. Còn cách thành Na lữ 8 dặm, Lê Thụ nói với Lê Thái Tổ:

-Sắp qua một đoạn đường hẹp, cây cối hiểm trở, Hoàng thượng đề phòng có mai phục.                       Lê Lợi bước ra khỏi xe ngựa kéo, quan sát rồi nói:

-Tướng Lê Chích đâu.

-Dạ, có hạ thần.

-Khanh dẫn 5.000 quân thiết đột, đem theo kiệu có lọng vàng, cờ soái đi vào đoạn đường hiểm trở, nếu có mai phục thì nằm xuống tránh tên đạn, chờ quân ta tới vây chặt lại, trong đánh ra ngoài đánh vào chúng phải chết.

-Thần tuân chỉ.

5.000 lính thiết đột, một binh chủng đặc biệt tinh nhuệ, võ nghệ cao cường, mũ sắt, áo giáp sắt che kín người đi theo chiếc xe ngựa kéo có lọng vàng, bên trên là lá cờ màu vàng có chữ soái để đánh lừa quân phản loạn tưởng xe của Lê Lợi sẽ tấn công. Hai bên đường Bế Khắc Thuận và Nông Dã Thái đã cho 1 vạn quân mai phục. Trông thấy cờ chữ Soái, xe lọng vàng, Bế Khắc Thuận nói với Nông Dã Thái:

-Đây là xe và cờ soái của Lê Lợi, còn chờ gì nữa, cho quân bắn vào xe lọng vàng và xông xuống bao vây chém giết, Lê Lợi khắc phải chết.

Rồi ra lệnh:

-Bắn pháo hiệu lên trời! Bắn tên cung nỏ xuống.

Thấy pháo hiệu biết là có mai phục, Nguyễn Chích hô to:

-Nằm xuống.

Quân thiết đột vừa nằm xuống thì những trận tên như mưa bắn xuống, Hai con ngựa kéo xe bị trúng tên đau đớn hí vang lồng lên lật đổ cả xe. Quân lính Bế Khắc Thiện từ hai sườn đồi hò reo lao xuống chém giết. Khi tới gần, một vạn quân thiết đột bất ngờ vùng dậy bằng những kỹ thuật chiến đấu điêu luyện chém chết lính của Bế Khắc Thiện như chuối. Phía sau hậu quân Việt ào lên vây bọc quân nổi loạn vào giữa mà giết, máu chảy như suối, thây đổ chất chồng. Bế Khắc Thiện trong cơn loạn binh bị một đại đao lia vảo cổ, đầu cùng thây đổ vật xuống đất. Nông Dã Thái dẫn tàn quân vài chục người còn lại chạy về thành Na Lữ (Hà An) đóng cửa thành cố thủ. Quân Việt đông như kiến cỏ bao vây thành.

  Thành Na Lữ xây bằng đất nện, chỉ cao 2 trượng và rào chắn sơ sài. Một vạn quân đã chết gần hết trong trận mai phục, chỉ còn vài chục tên lên mặt thành cố thủ bị quân Việt từ dưới bắn lên chết gần hết. Chỉ hai cú đâm mạnh của cây gỗ nhọn tông vào cửa thành, cửa mở toang và văng xuống đất. Quân Hậu Lê tràn vào chém giết, lính tráng quân phản loạn phần lớn đầu hàng. Nông Đắc Thái bị Lê Thái Tổ bắt sống. Một vùng rộng lớn của phủ Thái Nguyên (bao gồm Thái Nguyên-Cao Bằng) với một dải biên cương phía Bắc bình yên. Lê Thái Tổ cắt quân đội đồn trú và rút quân về.

Trong buổi thiết triều  ở điện Kính Thiên sau khi từ Cao Bằng về. Bá quan văn võ quỳ hành lễ:

-Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.

Lê Thái Tổ nói:

-Miễn lễ, các ái khanh bình thân.

-Tạ Hoàng thượng.

-Các khanh ai có tấu?

Quan Hành khiển thượng thư Bộ lại Nguyễn Trãi bước ra:

-Thần có tấu.

-Khanh nói đi.

-Dạ bẩm Hoàng thượng, quan Thái bảo Phạm Văn Xảo đã dùng thuốc độc tự sát tại tư dinh để tự minh oan cho mình. Kính mong hoàng thượng trừng trị năm tên gian thần đã vu cáo Phạm Văn Xảo để yên lòng triều đình, yên lòng bá tính, để chúng không còn hãm hại trung thần nữa.

Lê Thái Tổ im lặng buồn rầu, lát sau nói:

-Quả nhiên là quan Thái bảo Phạm Văn Xảo bị oan, giống như Tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn cách đây 2 năm. Lỗi là ở trẫm và năm tên gian thần. Bay đâu.

-Dạ, bẩm Hoàng thượng.

-Lôi năm tên gian thần ra chém.

Năm tên gian thần Đinh Bang Bảng, Lê Quốc Khí, Trịnh Hoành Bá,  Nguyễn Tông Chí, Lê Đức Dư vội bước ra quỳ xuống kêu la:

-Xin Hoàng thượng tha mạng, chúng thần bị oan, Phạm Văn Xảo cấu   kết với Đèo Cát Hãn là có thật, xin hoàng thượng minh xét.

Lê Thái Tổ gọi:

-Bay đâu.

-Dạ, bẩm Hoàng thượng.

-Đem ra đây năm bộ bút giấy mực.

-Dạ, tuân lệnh.

Khi có giấy bút mực rồi, Lê Lợi nói:

-Các ngươi ngồi dậy mỗi người viết một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt.

-Dạ, tuân lệnh Hoàng thượng.

Năm tên gian thần ngồi viết, canh giờ sau Lê Lợi nói với quan nội thị:

Thu lại đây cho trẫm xem.

Dạ.

Năm tờ giấy được đặt trước bàn Lê Thái Tổ. Cả triều đình im lặng không biết nhà vua làm  gì. Lê Thái Tổ gọi:

-Bay đâu.

-Dạ.

-Đem bức thư của Đèo Cát Hãn gửi Phạm Văn Xảo ra đây.

-Dạ,

Bức thư của của Đèo Cát Hãn gửi cho Phạm Văn Xảo được mang ra. Lê Thái Tổ đối chiếu với chữ viết của năm bài thơ và nhận ra nét chữ của Đinh Bang Bảng giống hệt nét chữ trong bức thư của Đèo Cát Hãn. Lê Thái Tổ giơ hai bản viết lên cho triều đình:

-Các khanh xem, lá thư của Đèo Cát Hãn là do Đinh Bang Bảng viết.

Cả triều đình ồ lên:

-Sao lại như vậy, sao lại tàn độc đến như vậy?

Lê Thái Tổ hỏi năm tên gian thần:

-Thế nào, chứng cớ vu oan cho các đại thần rành rành, còn chối cãi được không?

-Xin Hoàng thượng tha mạng, chúng thần sẽ không dám như vậy nữa.

-Tha cho các ngươi thì các ngươi sẽ giết hết đại thần ư? Các ngươi không chỉ vu cáo đại thần mà còn phạm tội lừa dối cả ta. Bay đâu.

-Dạ.

-Lôi năm tên gian thần ra ngoài chém.

           -Dạ, tuân lệnh Hoàng thượng. 10 võ sĩ, hai võ sĩ lôi một tên ra ngoài hành quyết. Tiếng kêu xin của        chúng vẫn vọng vào điện Kính Thiên. Lê Lợi nói với các quan văn võ:

-Là đồng lưu với nhau thì phải đoàn kết để cùng trẫm mưu việc lớn đưa nước nhà đến hùng cường, bách tính no ấm. Chỉ suốt ngày đêm mưu sát hại lẫn nhau thì còn đâu thời gian để lo nghĩ cho dân cho nước. Thật là đáng hổ thẹn. Các Khanh phải nhớ lấy.

Bá quan văn võ quỳ xuống hô to:

-Hoàng thượng anh minh, chúng thần tuân chỉ.

Chợt có quan nội thị vào báo:

-Dạ, bẩm Hoàng thượng, có thám mã biên cương Tây Bắc về báo tin khẩn cấp.

-Cho vào ngay.

-Dạ, tuân lệnh.

Thám mã vào quỳ hành lễ:

-Hoàng thượng vạn tuế, vạn tuế.

-Miễn lễ, đứng dậy nói đi.

-Dạ bẩm Hoàng thượng, tù trưởng Đèo Cát Hãn ở châu Mường Lễ- Châu Ninh Viễn nay gọi là Châu Phục Lễ (Lai Châu) cấu kết với Kha Đôn (bề tôi phản nghịch của Ai Lao liên kết với tù trưởng Mường Bồ là Đinh Quế cùng phản tặc Hối Khanh đánh chiếm Mường Mỗi (Thuận Châu Sơn La) chiếm đóng Gia Hương, Đà Giang, định thống trị toàn bộ Tây Bắc Đại Việt ạ.

Cả triều đình sửng sốt:

-Hả. Đèo Cát Hãn ba lần làm phản đã được chiêu dụ đầu hàng, được phong tước cao, cai quản xứ Phục Lễ, giàu có sung sướng quyền lực, nay lại trở chứng làm phản lần nữa sao?

Lê Thái Tổ nói:

-Đúng như các khanh đã nói, trước năm 1427, khi ta còn đánh giặc Minh, Hãn đã theo quân Minh phản bội quê hương, phản lại Đại Việt. Năm 1427 trẫm đã cho Chủ thư Thị sử Trần Hổ đi tuyên dụ. Thấy quân Minh sắp thua, Hãn quy thuận, ta đã cho cai quản xứ Phục Lễ. Năm 1431, Hãn lại làm phản lần thứ 2, ta đã cho Quốc vương Lê Tư Tề đi đánh, Hãn thua lại quy phục, được khoan hồng, được phong chức, vẫn cai quản xứ Phục Lễ, trông coi xứ Tây Bắc. Đến nay lại mưu phản lần 3, quy mô to lớn, tham vọng ngông cuồng, muốn thâu tóm cả vùng Thuận Châu Sơn La. Phàm các quan chức bất trung, phạm tội mưu phản vì tham vọng mưu bá đồ vương quá lớn, bất chấp tính mạng, bất chấp họ hàng vợ con, lăn vào chỗ chết. Ở miền núi xa xôi, tham vọng đó càng cuồng nhiệt vì cách kinh đô xa xôi, địa thế núi rừng hiểm trở, tưởng có thể vùng vẫy mà thoát lưới trời. Nếu triều đình mà ngại chinh chiến xa xôi thì kẻ kia càng ngông cuông càn rỡ. Quốc vương Lê Tư Tề nghe chỉ:

-Dạ, Tề nhi xin nghe chỉ

-Khanh đem 2 vạn bộ binh hành quân theo đường bộ  tấn công Ninh Viễn, tiêu diệt Đèo Cát Hán.

-Tề nhi tuân chỉ.

-Quan Tư khấu Lê Sát nghe chỉ.

Lê Sát bước ra:

-Bẩm Hoàng thượng, thần nghe chỉ.

-Khanh đem 100 chiến thuyền, 1 vạn thủy binh đi lên Phục Lễ bằng đường thủy, từ sông Hồng đi vào sông Đà lên Phục Lễ, phối hợp với Lê Tư Tề bao vây tiêu diệt Đèo Cát Hãn.

-Thần tuân chỉ.

-Tướng Nguyễn Chích nghe lệnh.

-Có thần.

-Khanh cùng ta đem 2 vạn kỵ binh thiết đột, loại binh chủng tinh nhuệ bậc nhất của quân ta nhanh chóng tấn công Mường Mỗi tiêu diệt Kha Đốn và phản tặc Đinh Quế.

-Thần tuân chỉ.

Quan Hành Khiển Thượng thư Bộ lại bước ra:

-Thần có tấu.

-Khanh tấu gì?

-Dạ muôn tâu, Hoàng thượng mới đi chinh chiến dẹp phản loạn ở Cao Bằng vất vả và mệt nhọc, ngọc thể năm nay cũng không được như trước, xin Hoàng thượng cử một Đại tướng đi thay thì vẫn đem về chiến thắng.

Lê Thái Tổ nói:

-Khanh nói có cái phải có cái không phải, phải vì sức khỏe của ta trong năm nay đã không còn tráng kiện như xưa, biên ải xa xôi hiểm trở, khanh biết lo cho trẫm, đó là cái nghĩa tri ngộ quan tâm của bề tôi, trẫm thật là cảm kích. Cái không phải là các bậc quân vương, kể cả các ái khanh không được coi nhẹ miền biên cương xa xôi, nơi đó bách tính ngày đêm trông chờ ơn mưa móc, uy vũ của triều đình, của Hoàng đế đem lại bình yên no ấm cho họ. Không để cho bọn phản loạn cậy đường sá xa xôi, núi non hiểm trở mà tác oai, tác quái. Ta muốn bách tính thấy trẫm quan tâm tới họ bằng sự có mặt ở biên cương không ngại xa xôi gian khổ hiểm nguy để tăng sức mạnh phòng thủ biên giới không chỉ bằng sức mạnh quân sự mà bằng sức mạnh lòng dân nhớ về trẫm. Ý ta đã quyết, các khanh đừng khuyên can nữa. Ta không phải là người ham chinh chiến mà ta muốn chuyến đi này chinh phục lòng dân ở miền xa xôi biên viễn. Ngày mai đại quân xuất phát.

Bá quan văn võ vội quỳ xuống:

-Chúc hoàng thượng bình an, chúc Hoàng thượng chiến thắng trở về.

-Bình thân, hãy đợi tin chiến thắng của trẫm. Bãi triều.

Ngày hôm sau đạo thủy binh gồm 100 chiến thuyền chở 2 vạn thủy binh từ sông Hồng xuất phát lên sông Thao và rẽ vào sông Đà lên miền Tây Bắc. Cùng lúc 2 vạn thủy binh tinh nhuệ đầy dũng khí do Quốc vương Lê Tư Tề chỉ huy hành quân theo đường bộ tiến lên Lai Châu. Cờ vàng bay phấp phới, gươm giáo sáng lòa, bụi bay mù mịt. Sớm hôm sau nữa 2 vạn kỵ binh thiết đột, loại binh chủng tinh nhuệ bậc nhất trong quân đội Lam Sơn do Lê Thái Tổ chỉ huy theo đường bộ Đông Kinh-Sơn La xuất phát. Lê Thái Tổ đi xe màu vàng 4 bánh có 2 ngựa đen khỏe mạnh kéo, trên có lọng vàng, trên lọng vàng có ngọn cờ vàng lớn có chữ soái màu đỏ. Cờ tung bay phần phật theo bước đi của ngựa, tiếng khua vang rừng núi, bụi bay mù trời. Để bảo đảm tốc độ hành quân phần lớn thời gian dọc đường Lê Thái Tổ cưỡi ngựa cùng đi với tướng sĩ, cũng là để đề phòng bọn phản loạn mai phục nhằm xe bắn tới. Xe chỉ là đề phòng lúc nhà vua mệt mỏi, lúc đường sá bằng phẳng và không nguy hiểm.

Trong khi đó 2 vạn kỵ binh đi không nghỉ ngơi, cần ăn uống thì binh sĩ ngồi trên lưng ngựa mà ăn lương khô là bánh chưng, bánh đa, giò lợn, giò bò, gạo hấp chín, nước uống thì mỗi binh sĩ đều mang bầu bằng da bò khô khâu kín đeo bên hông cùng vũ khí, cung tên. Chỉ nghỉ hai lần cho ngựa uống nước, ăn thóc hoặc cỏ do chính nó mang theo trên mình. Khi cách Thuận Châu khoảng 20 dặm trời đã gần tối, gặp con suối dọc đường, Lê Thái Tổ cho nghỉ cho ngựa ăn và uống nước. Trời đã về chiều muộn, hoàng hôn tím ngắt ở trời tây. Bóng đêm bắt đầu bao phủ, rừng núi Sơn La mênh mông, gió lạnh khua cây cối xạc xào, tiếng vượn hú voi gầm vang lên trong không gian âm u huyền bí của núi rừng. Lê Lợi ra lệnh:

-Tướng quân Nguyễn Lý nghe lệnh.

-Thần nghe chỉ.

-Tướng quân đem 100 quân kỵ đi tiên phong, có nhiệm vụ dò xem tổng hành dinh của Kha Đốn và Đinh Quế ở đâu, thứ hai là xem có mai phục không, thứ ba nếu có thám mã của Kha Đốn phải bắt hết hoặc giết nhưng phải bắt một tên, không để tên nào sống sót chạy về. Tốt nhất bắt sống chúng về để chúng dẫn đường cho quân ta. Thứ tư, nếu không bắt được do thám, tướng quân phải biết rõ đường lối để dẫn đường cho đại quân.

-Hạ thần tuân chỉ.

Nguyễn Lý dẫn 100 kỵ binh đi trước, một lát 2 vạn kỵ binh cũng đi theo. Lê Lợi hạ lệnh:

-Tháo nhạc ngựa và cuốn hết cờ để giữ bí mật cho cuộc tập kích vào doanh trại địch.

-Xin tuân lệnh.

Canh giờ sau hai lính kỵ binh áp giải một tên lính của Kha Đốn về:

-Bẩm hoàng thượng, đội thám mã của Kha Đốn 5 tên bị giết chỉ còn một tên đây ạ.

Lê Thái Tổ hỏi:

-Nhà ngươi tên gì?

-Dạ tiểu nhân tên là Kha Đại ạ.

Lê Thái Tổ nói:

-Nhà ngươi hãy dẫn đường cho ta đến doanh trại của Kha Đốn, ta thưởng cho 100 lạng bạc và cho làm chức Tri châu. Ta là Hoàng đế Đại Việt đây.

Kha Đại vội quỳ xuống vái lạy:

-Xin Hoàng thượng tha mạng, tiểu nhân xin dẫn đường.

Lê Thái Tổ nói:

-Để đề phòng nhà ngươi bỏ chạy, ta tạm trói hai tay nhà ngươi và buộc vào ngựa của một lính, nhà ngươi tạm thời chịu thiệt một chút.

-Dạ bẩm Hoàng thượng, xin trói tiểu nhân lại ạ.

Kha Đại bị trói hai tay và đặt lên yên ngựa. Một người lính ngồi sau kìm chặt. Kha Đại đi trước dẫn đường. Đoàn kỵ binh chỉ toàn bóng đen người ngựa như quỷ thần đi xuyên rừng. Hai canh giờ sáng đến một thung lũng, từ trên cao nhìn thấy một cái thành đất rào chắn sơ sài. Kha Đại chỉ tay nói:

-Dạ bẩm Hoàng thượng, kia là doanh trại của Kha Đốn và Đinh Quế. Lê Lợi hỏi Kha Đại:

-Chung quanh thành có hào nước và chông chà không?

-Dạ bẩm Hoàng thượng không có ạ.

-Có mấy cổng?

-Dạ, chỉ có cổng trước và cổng sau ạ.

Lê Lợi nói:

-Chuẩn bị hai khúc gỗ nhọn phá thành.

Nguyễn Lý nói:

-Tuân lệnh Hoàng thượng.

Lê Lợi cho quân tiến xuống thung lũng bao vây thành. Trong thành còn sáng đèn nhưng lính tráng uống rượu say ngủ như chết. Bốn người lính khênh hai khúc gỗ to, nhọn lao vào tông mạnh vào cửa thành, cửa thành bật mở, quân Hậu Lê tràn vào chém giết. Có hai bóng người chạy ra chuồng ngựa định lên ngựa tháo chạy. Kha Đại chỉ cho Lê Lợi:

-Bẩm Hoàng thượng, đó chính là Kha Đốn và Đinh Quế.

Lê Lợi sai Nguyễn Xí:

-Tướng quân đem quân bắt sống, nếu chống cự thì giết, đừng để chúng trốn thoát lên miền cao hơn nữa, đường rừng núi ta không thể bắt được đâu.

-Tuân lệnh Hoàng thượng.

Nguyễn Xí cùng chục kỵ binh vây bọc lấy Kha Đốn và Đinh Quế. Hai kẻ định chống cự nhưng bị lính Đại Việt giết chết. Cuộc hỗn chiến giữa quân triều đình với lính phản loạn không thiện chiến lại đang say rượu nên chỉ canh giờ sau kết thúc, 500 tên bị giết chết, 3.000 tên còn lại đầu hàng, một bộ phận của cuộc phản loạn vùng Tây Bắc ở Thuận Châu bị dập tắt. Hai trong số ba tên cầm đầu đã bị tiêu diệt. Chỉ còn lại Đèo Cát Hãn ở vùng Phục Lễ. Chúng bị tiêu diệt nhanh vì quá chủ quan, cho rằng đường sá xa xôi hiểm trở, quân triều đình không thể đến nhanh được, có đến cũng không biết đường mà đánh vào sào huyệt của chúng. Thứ nữa lính tráng phản loạn chỉ là những dân binh kỹ thuật chiến đấu, trang bị, kỷ luật kém, suốt đêm say rượu thì còn sức đâu mà chiến đấu.

Trong khi đó đạo quân thủy gồm 1 vạn thủy binh và 100 chiến thuyền xé nước sông Hồng, sông Thao và sông Đà, xuyên qua sông Đà giữa núi non rừng thẳm quanh co, thâm sơn cùng cốc, chỉ hai ngày một đêm thì đến thượng nguồn sông Đà rồi dừng lại ở đoạn sông chảy qua đất Phục Lễ (Lai Châu). Lê Sát ra lệnh cho 50 thủy binh:

-Các ngươi đi lên do thám xem đại bản doanh của Đèo Cát Hãn ở đâu nhưng đừng để lộ tung tích, thay áo thường dân người Thái vào.

-Dạ, tuân lệnh tướng quân.

Lê Sát lại dặn 10 lính:

-Các ngươi lên bờ do thám xem Quốc vương Lê Tư Tề và 2 vạn quân đến chưa, đóng ở đâu để ta phối hợp chiến đấu, mặc thường phục người Thái vào.

-Dạ, tuân lệnh tướng quân.

Ngày hôm sau do thám về báo:

-Dạ bẩm tướng quân, đất mà ta đang dừng lại đúng là Mường Địch, Đèo Cát Hãn và Kha Lại ở Mường Lư, cách chúng ta 10 dặm về phía bắc.

Lại có thám mã về báo:

-Dạ bẩm tướng quân, Đại quân của Quốc Vương đã đến Mường Địch nhưng ở trên bộ, cách chúng ta 10 dặm.

Lê Sát nói:

Hai ngươi đem thư này đến cho Quốc Vương Lê Tư Tề, hẹn đêm nay cùng thủy quân tấn công vào Mường Lư, doanh trại của Đèo Cát Hãn. Khi đến dặn Quốc Vương bắn pháo hiệu lên, ta cũng sẽ bắn pháo hiệu và hợp vây cùng tấn công vào hành dinh của giặc.

-Tuân lệnh chủ tướng.

Nhận được thư của Lê Sát và viết thư trả lời xong, Lê Tư Tề nói với Đỗ Khuyển:

-Theo do thám hành dinh của địch trong thung lũng chỉ có một đường ra. Tướng quân đem 3.000 quân mai phục, khi Đèo Cát Hãn chạy ra phải bắt sống hoặc giết chết, đừng để nó chạy thoát lên vùng núi cao, chúng ta không bắt được đâu.

-Mạt tướng tuân lệnh.

Đêm đó Lê Tư Tề tiếp tục cho quân hành quân lên hướng bắc Mường Địch, cách doanh trại của Đèo Cát Hãn nửa dặm thì trông thấy hai phát tên lửa bắn lên trời, Lê Tư Tề cũng cho bắn hai phát tên lửa rồi cho quân tiến vào bao vây, Lê Sát cũng hạ lệnh cho thủy binh lên bờ bao vây doanh trại Đèo Cát Hãn cùng bộ binh của Lê Tư Tề. 3 vạn quân triều đình bao vây và tấn công sào huyệt của Đèo Cát Hãn. Thành Mường Lư xây bằng đất sét và rào chắn sơ sài, không có hào giao thông và không có chông chà. Chỉ hai phát tông mạnh của khúc gỗ to nhọn, cửa thành bật ra, quân triều đình reo hò như sấm xông vào chém giết, một vài tên chống cự bị giết, còn một vạn quân đầu hàng. Đèo Cát Hãn dẫn vợ con theo đường hầm ra ngoài thành chạy ra ngoài và theo con đường nhỏ duy nhất chạy trốn. Bỗng nhiên đèn đuốc sáng trưng, tiếng reo hò vang động. Đèo Cát Hãn nhanh hơn chạy thoát nhưng ba người vợ và 9 đứa con nhỏ bị bắt.

Sơm hôm sau, trong hành dinh của quân đội triều đình, ba vạn bách tính Thái, Tày, Nùng đem nước và rượu đến úy lạo ba quân. Chợt ngoài sân hành dinh xuất hiện 2 vạn kỵ binh, xe vàng, lọng vàng trên cao xuất hiện lá cờ vàng có chữ Soái. Lính vào báo:

-Dạ bẩm Quốc Vương, xa giá của Hoàng thượng từ Mường Mỗi đã tới.

Lê Tư Tề, Lê Sát, Đỗ Khuyển, Nguyễn Lý vội ra đón, ba vạn bách tính Phục Lễ cũng quỳ xuống hô to:

-Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.

Lê Thái Tổ bước xuống xe và nói:

-Miễn lễ, các ái khanh bình thân, bách tính trăm họ bình thân.

-Đa tạ Hoàng thượng.

Mọi người vừa đứng dậy thì ngạc nhiên thấy một người tự trói tay, lê thân vào quỳ trước mặt Lê Thái Tổ, miệng kêu:

-Hoàng thượng vạn vạn tuế, xin Hoàng thượng tha mạng, thần xin đầu hàng, thần biết mình sai rồi, xin đầu hàng, xin tha mạng.

Lê Lợi cũng ngạc nhiên nói:

-Miễn lễ, đứng dậy đi.

-Đa tạ hoàng thượng.

Người đó đứng lên, mọi người nhìn ra thì đó là Đèo Cát Hãn. Đèo Cát Hãn biết chạy trốn không thoát đã ra đầu hàng còn để cứu vợ con. Lê Thái Tổ cũng nhận ra Đèo Cát Hãn liền mắng:

-Ta đã tha cho nhà ngươi đến ba lần, lần nào cũng ân điển cho chức vụ và nhiều ruộng đất để nhà ngươi thay ta chăn dân cho tốt, vậy mà nhà ngươi vẫn theo đường cũ, động binh đao làm khổ bách tính, chết con em của họ, làm khó nhọc quân đội và khổ cả trẫm phải thân chinh miền núi xa xôi hiểm trở, nay còn xin tha ư? Tội của nhà ngươi là tru di cửu tộc theo luật triều đình mà ta mới ban hành.

Đèo Cát Hãn quỳ xuống vái lạy như tế sao:

-Lần này tiểu nhân thề không dám làm phản nữa, nếu còn vi phạm xin trời đất tru diệt. Xin Hoàng thượng tha mạng.

Vợ con Đèo Cát Hãn cũng chạy ra quỳ xuống kêu khóc:

-Xin Hoàng thượng khai ân.

Cả hàng vạn bách tính người Thái, Nùng, Tày cũng quỳ xuống:

-Xin Hoàng thượng khai ân với tù trưởng của chúng tôi lần cuối. Chúng tôi không bao giờ quên ơn của Triều đình, của Hoàng thượng.

Lê Thái Tổ nói:

-Họ Đèo của nhà ngươi đời đời được các vua ta cho làm phụ đạo ở miền Phục Lễ này. Nay nhà ngươi không nghĩ tới tổ tiên, cậy nơi biên viễn xa xôi, núi rừng hiểm trở thì có thể hùng cứ mà triều đình không thể làm gì được. Nhà ngươi nhầm, ta cũng là dân miền núi Thanh Hóa đây, ngươi quên rồi sao. Ngươi cũng quên bao lần ở miền núi hiểm trở ta đã đánh bại hàng 20 vạn quân Minh sao. Ngươi giỏi lắm cũng chỉ 1 vạn quân trình độ thanh niên ở đây chiến kỹ thuật đã bằng 20 vạn quân Minh chưa. Cho nên ngươi còn làm phản lần sau ta diệt tận gốc không tha. Nay theo sự hối cải thực sự của ngươi, thể theo nguyện vọng của bách tính ở đây, ta tha  cho ngươi lần cuối cùng, ngươi vẫn là thủ lĩnh cai quản châu Phục Lễ nhưng phải chăm lo đời sống của bách tính, dẹp bọn trộm cướp, bảo vệ biên cương và đời sống thanh bình của bách tính.

Đèo Cát Hãn. vợ con cùng 3 vạn bách tính quỳ xuống và nói:

-Đa tạ Hoàng thượng khai ân. Ơn nghĩa của Hoàng thượng như trời đất. Hoàng thượng vạn vạn tuế.

Tiếng hô vang động cả một không gian rộng lớn của núi rừng.

     Lê Thái Tổ nói:

-Miễn lễ, bách tính đứng dậy cả đi.

-Tạ ơn Hoàng thượng.

Khi bách tính đã đứng dậy, Lê Thái Tổ nói tiếp:

-Đèo Cát Hãn nghe chỉ.

Đèo Cát Hãn quỳ xuống:

Tiểu nhân nghe chỉ.

Nay tha tội chết cho Đèo Cát Hãn, phong làm Tư mã, khanh phải có nhiệm vụ trung thành với triều đình, tổ chức phòng thủ, coi sóc biên cương, tiêu trừ giặc dã, trộm cướp, ngăn chặn giặc ngoại xâm, bảo đảm đời sống bình an cho bách tính. Trẫm đã ban bố chính sách ruộng đất quân điền, chia ruộng đất cho các gia đình nông dân để họ tự sản xuất, làm ăn. Nay tại đây ta cũng chia ruộng đất cho mọi nhà, của quan chức thổ ty thì nhiều hơn của dân thường để bách tính có ruộng đất làm ăn thì đời sống sẽ no ấm. Ruộng đất ở đây ít thì chia cả đồi và rừng để họ chăm sóc bảo vệ và thu nhập. Phải mở trường lớp dạy chữ cho con em để lớn lên họ làm việc, phải duy trì phong tục tập quan tốt đẹp, còn hủ tục thì bỏ bớt đi. Còn bách tính cũng phải siêng năng đẩy mạnh sản xuất, giúp cho quan lại địa phương thi hành nhiệm vụ, giữ gìn kỷ cương phép nước và kỷ cương của địa phương. Ái Khanh Đèo Cát Hãn phải thực thi ngay những chỉ dụ của trẫm. Ta sẽ thường xuyên cử Khâm sai đại thần về kiểm tra và úy lạo bách tính, có công được thưởng, có tội sẽ nghiêm trị.

Ba vạn bách tính lại quỳ xuống:

-Đa tạ Hoàng thượng, cảm ơn công đức của Hoàng thượng. Ơn đức của Hoàng thượng đã thấm sâu xuống vùng Tây Bắc xa xôi này. Chúng thảo dân không bao giờ quên.

Đèo Cát Hãn nói:

-Đa tạ Hoàng thượng đã tái sinh ra thần lần thứ tư, thần sẽ đem hết sức lực già còn lại thực hiện lời căn dặn của Hoàng thượng, thương yêu chăm sóc bách tính, coi họ như con.

Lê Thái Tổ hỏi:

-Ái khanh có đứa con nào lớn nhất?

-Dạ bẩm Hoàng thượng, thần có đứa lớn nhất là Đèo Cát Vượng.

-Công tử đâu?

-Đèo Cát Vượng, con hãy  lạy tạ Hoàng thượng đi.

Một thanh niên khoảng 16 tuổi quỳ và rập đầu nói:

-Thảo dân xin kính chào Hoàng thượng, Hoàng thượng vạn vạn tuế.

Lê Thái Tổ nói:

-Miễn lễ, đứng dậy đi, Vượng nhi có vẻ thông minh đấy. Nếu khanh đồng ý ta sẽ đem nó về kinh thành dạy dỗ cho nó biết chữ và học tập nên người để sau trở về cai quản quê hương Tây Bắc, kẻo sau khanh già không có ai thay thế.

Đèo Cát Hãn cảm động gần nhứ khóc, cả nhà lại rập đầu:

-Đa tạ Hoàng thượng, đa tạ công ơn như rừng như núi của Hoàng thượng. Xứ Tây Bắc xa xôi đội ơn Hoàng thượng muôn đời.

Canh giờ sau Lê Tư Tề và các tướng đón Lê Thái Tổ vào trại quân cơm nước. Xế chiều Lê Thái Tổ trao quyền chỉ huy kỵ binh cho Lê Tư Tề, còn nhà vua cùng Lê Sát đi thuyền của thủy quân về kinh đô vì quá trình hành quân theo Kỵ binh, sức lực Lê Thái Tổ đã giảm sút và mệt mỏi. Bộ binh và kỵ binh lại rầm rộ tiến về xuôi. Lê Lợi lên xe đi ra hướng sông Đà. Ba vạn bách tính Phủ Lễ tiễn đưa nhà vua ra tận bờ sông. Khi nhà vua đã lên thuyền, bách tính quỳ xuống bờ sông hô vang:                                       -

-Đa tạ Hoàng thượng đã đem lại thái bình, ruộng đất, rừng nương cho bách tính Phục Lễ. Đa tạ. Đa tạ. Hoàng thượng vạn tuế, vạn tuế…

Lê Thái Tổ trên chiến thuyền vẫy tay chào bách tính.

Đoàn thuyền chiến đi đã xa mà tiếng hô của dân chúng còn vang theo. Bóng họ mờ dần trong buổi chiều sương khói. Đoàn thuyền theo dòng sông Đà về Thuận Châu. Bóng chiều xuống dần, sương buông trắng xóa, dòng sông quanh co nước chảy cuồn cuộn. Rừng núi nhấp nhô chìm dần vào màn đêm. Ánh đèn trên các chiến thuyền như sao sa lướt trên sông như dãy ngân hà ở hạ giới đang trôi về xuôi. Sớm hôm sau đoàn chiến thuyền đi trên đoạn sông có vẻ bằng phẳng, đỡ quanh co. Lê Thái Tổ hỏi Lê Sát:

-Ái khanh có biết đây là địa phận phủ nào không?

Lê Sát đáp:

-Dạ bẩm Hoàng thượng, đây vẫn là địa phận châu Phục Lễ, phủ Sìn Hồ ạ.

Lê Lợi nói:

-Tướng quân hãy cho dừng thuyền.

-Thần tuân chỉ.

-Dừng thuyền lại, tất cả các thuyền bỏ neo.

Mệnh lệnh được các thuyền truyền đi, đoàn thuyền dừng lại dằng dặc hùng dũng trên dòng sông nước tuôn cuồn cuộn. Lê Thái Tổ ngắm phong cảnh bên hữu dòng sông thấy rừng rậm cây cao ngất chạm trời xanh, có tiếng hươu nai gầm tác. Một trái núi cao nhất đứng soi mình ngay sát bờ sông, vách núi dựng đứng, bằng phẳng như một cái bảng đá khổng lồ nhưng không có chữ. Lê Thái Tổ nhìn ngắm giang sơn gấm vóc và nói với Lê Sát cùng tùy tùng:

Có một tấm bia mà trời chờ ta đến viết cái gì lên đó để ghi dấu tích võ công lưu lại muôn đời cũng là nhắc nhở hiện tại và mai sau, phải giữ gìn biên cương Tây Bắc và chăm lo cho bách tính ở đây.

Lê Sát nói:

-Hoàng thượng nói phải lắm. Trong binh thuyền ta có một đội công binh thủy chiến, họ có thể trèo lên bằng thang dây, dùng búa và đục chữ vào đá. Hoàng thượng viết gì đi, thần ra lệnh họ làm ngay. Nhưng thần e ngại…

-Khanh e ngại điều gì?

-Dạ bẩm thần sợ Hoàng thượng chờ đợi lâu, công trình này ít nhất phải một ngày một đêm mới xong.

-Không sao, ta có thể ở lại.

-Nhưng Hoàng thượng viết có dài không?

-Khoảng hơn 100 chữ Hán.

-Dạ, vậy thần cho tổ chức thực hiện.

Lê Thái Tổ nói:

-Cho thủy binh ăn uổng nghỉ ngơi, tuy nhiên phải bố trí canh phòng quanh sông nơi chiến thuyền ta neo đậu rồi mới cho công binh làm việc.

-Thần tuân chỉ.

-Trong khi Lê Sát cho đội công binh leo lên núi, buộc thang dây dòng xuống vừa mặt đá phẳng thì Lê Thái Tổ gọi:

-Kê chiếc bàn và đem giấy mực ra đây.

-Dạ, tuân lệnh Hoàng thượng.

Và Lê Thái Tổ chăm chú ngồi viết, canh giờ sau văn bản được viết xong. Lê Thái Tổ đưa cho Lê Sát:

-Ái khanh đọc đi.

-Dạ, thần tuân chỉ.

Lê Sát đọc thì tờ văn bia được chia làm hai phần, phần văn khoảng 123 chữ Hán, một bài thơ ngũ ngôn bát cú. Văn bia được dịch ra như sau: “Kẻ phản nghịch là mối họa ở vùng biên giới, từ cổ đã có như Hung Nô đời Hán, đột Quyết đời Đường và các tộc người Man ở miền tây nước Việt ta. Ít lâu do chính sự cuối đời Trần, Hồ suy yếu, bọn phiên thần hung hăng táo tợn, Cát Hãn khư khư giữ tật cũ, ngoan cố không sửa đổi. Nay ta đem quân tiến đánh, hai quân thủy bộ cùng tiến. Đánh một trận là dẹp yên ngay. Nhân làm một bài thơ luật, khắc vào đá núi để răn các tù trưởng đời sau ngang ngạnh phải tuân theo đức hóa.

Thơ rằng:

Bọn giặc dữ tránh sao trừng phạt

Dân biên thùy khao khát chờ ta

Lạ chi thói kẻ gian tà

Từ nay đất hiểm hóa ra yên lành

Tiếng gió hạc đủ kinh hồn giặc

Núi sông ta vào một bản đồ

Khắc trên đá núi bài thơ

Miền Tây nước Việt muôn thu vững vàng.

   Ngày lành thượng tuần tháng 1 năm Nhâm Tý 1432 Ngọc Hoa Động chủ đề.

Trưa hôm sau, giữa cảnh núi rừng hùng vĩ, Lê Thái Tổ cùng các tướng lĩnh và các thủy binh nhìn xem tấm bia sừng sững được khắc vào vách núi đá Pú Huồi Chõ, Thác Lai, sông Đà, bản Chang, phủ Sìn Hồ, châu Phục Lễ (phường Lê Lợi, T.p.Lai Châu). Bia cách mặt nước 50m . Một vạn quân quỳ xuống hô vang:

-Xin chúc mừng Hoàng thượng, Hoàng thượng vạn vạn tuế.

-Miễn lễ, đứng dậy đi.

-Tạ ơn Hoàng thượng.

Lê Lợi nói:

-Ta sẽ dịch và đọc cho các tướng và quân sĩ cùng nghe.

-Đa tạ hoàng thượng.

Lê Thái Tổ nói tên bài thơ là Hoàn Lai cơ bí, nội dung là răn dạy các thế lực không được phản loạn rồi ra lệnh cho đoàn chiến thuyền đi về kinh đô. Tháng 3 năm 1432, đoàn thủy binh đi đến đoạn sông Đà, qua địa phận Thác Bờ (chợ Bờ Hòa Bình). Lê Thái Tổ lại cho khắc bài thơ thứ hai lên vách núi đá một ngọn núi Hào Tráng (Xã Hào Tráng, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình). Nội dung văn bia viết: “Ta đi đánh Đèo Cát Hãn về qua đây, làm một bài thơ để báo cho đời sau biết. Trên đường đi đánh dẹp bọn phản loạn ở Mường Lễ, như có ý chống lại giáo hóa của ta, thì lập tức tiêu diệt ngay, đừng sợ vì lam chướng hiểm trở, phải nên nghĩ đến những sinh linh trong thiên hạ làm trọng, thì cái kế lược đi đánh dẹp ở hai trận Thao-Đà này nên tiến quân đường thủy là hơn vậy. Thơ rằng:

Gập ghềnh hiểm hóc chẳng từ nan

Già vẫn còn nguyên sắt đá gan

Hào khí nghìn mù đều sạch quét

Tráng tâm muôn núi cũng bằng san

Biên phòng tắt khéo mưu phương lược

Xã tắc nên trù kế cừu an

Ghềnh thác ba trăm đừng nói nữa

Như nay dòng thuận chỉ xuôi nhàn.

Ngày trong sáng hạ tuần tháng 1 Năm Nhâm Tý, niên hiệu Thuận Thiên thứ 5 (1432).

 Sau cuộc tây chinh về, khoảng giữa năm 1433, sức khỏe Lê Lợi yếu dần đi, không ăn uống được, mệt mỏi và ngày càng ốm nặng đến mức không ngồi dậy, không thiết triều được nữa. Thiết triều để giải quyết những công việc của triều đình, của đất nước đã chỉ định cho Quốc vương Lê Tư Tề làm thay với sự giúp đỡ của các vị khai quốc công thần. Đại phu giỏi nhất nhì triều đình được gọi đến bắt mạch và chữa trị cho nhà vua. Các đại phu không tìm ra được căn bệnh gì. Nếu già mà sinh bệnh thì không phải. Lê Thái Tổ sinh ngày 10 tháng 9 năm 1385, vậy là năm 1433 này Hoàng thượng chỉ mới 48 tuổi. Có lẽ trong 10 năm chiến đấu gian khổ, trải qua sương gió và ăn uống đói khát, lại thêm lao lung suy nghĩ ngày đêm để lãnh đạo kháng chiến đánh quân Minh thắng lợi. Tất cả gộp lại đã làm cho sức lực Hoàng thượng vốn đã suy yếu. Vừa rồi lại lao tâm khổ tứ đề ra chính sách kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội, quốc phòng để xây dựng phát triển đất nước sau chiến tranh. Lại thêm năm 1431, 1432 mở cuộc chinh phạt phía Bắc (Cao Bằng) và miền Tây Bắc dẹp trừ phản loạn càng làm cho sức khỏe Hoàng thượng suy yếu nghiêm trọng. Thời gian nằm trên giường Lê Thái Tổ thấy như dài vô tận. Ông nhớ lại những chặng đường đã qua suốt 15 năm gần đây.

   Lê Lợi sinh ngày 10 tháng 9 năm 1385 trong một gia đình hào trưởng ở Lam Sơn, Lôi Dương (Thọ Xuân) Thanh Hóa, Cha là Lê Khoáng (truy tôn Trình Phúc Hoàng đế), thân mẫu là Trịnh Ngọc Thương (truy tôn Hiển phúc Hoàng hậu) sinh ra anh cả là Lê Học (truy tặng Chiêu Hiếu Đại Vương), thứ hai là Lê Trừ (truy tặng Lam Quốc công) và Lê Lợi. Ông bà còn sinh ba người con gái, sau này là Quốc trưởng công chúa Ngọc Vĩnh, công chúa Ngọc Tá và công chúa Ngọc Tiến. Lê Lợi sinh ra và lớn lên lúc vương triều Trần đến hồi tàn tạ suy vong, quyền hành triều đình vào tay quyền thần Hồ Quý Ly. Năm 1397 Hồ Quý Ly buộc triều đình dời kinh đô về Tây Đô Thanh Hóa. Năm 1400 Hồ Quý Ly đoạt ngôi nhà Trần, dựng ra một triều đại mới là triều Hồ. Vua cuối cùng nhà Trần là Trần Thiếu đế, Cháu Ngoại Hồ Quý Ly. Hồ Quý Ly làm vua một năm thì truyền ngôi cho con thứ hai là Hồ Hán Thương, về làm Thái thượng hoàng nhưng vẫn nắm quyền bính của triều đình, của đất nước. Hồ Quý Ly đã tiến hành một loạt cải cách về kinh tế, quân sự, văn hóa, quân sự để mong cứu vãn chế độ phong kiến dựa trên kinh tế điền trang thái ấp từ mấy trăm năm nay đã hết sức sống và đưa chế độ xã hội, kinh tế đến cuộc khủng hoảng trầm trọng, Nhưng những cải cách của Hồ Qúy Ly bị thế lực nhà Trần chống lại, quý tộc nhà Hồ cũng cướp đoạt hết ruộng đất lấy được từ tay quý tộc nhà Trần, cuối cùng nông dân vẫn không có ruộng đất càng nghèo khổ hơn xưa. Cuộc khủng hoảng của chế độ phong kiến vô phương cứu chữa. Năm 1406-1407, Giặc Minh đem 20 vạn quân sang xâm lược. Cậy có thành Đa Bang vững chắc, cậy có súng thần công mạnh gọi thần cơ sang pháo đặt trên thành, Hồ Quý Ly sai con cả là Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng đem 10 vạn quân lên cố thủ ở thành Đa Bang. Kết quả thành Đa Bang nhanh chóng thất thủ và sau đó Đông Đô mất vào tay giặc Minh. Tại trận Hàm Tử, quân nhà Hồ giao chiến một trận lớn với giặc Minh, 10 vạn quân Hồ bị tiêu diệt và tan rã. Năm 1407 kinh đô An Tôn Tây Đô thất thủ. Vua tôi nhà Hồ chạy vào Hà Tĩnh thì bị bắt, vậy là tháng 6 năm 1407 nhà Hồ sụp đổ. Đại Ngu (Đại Việt) bị quân Minh thống trị bóc lột dã man tàn bạo theo chế độ diệt chủng và tiêu diệt nền văn hóa Đại Việt.

Nhân dân Đại Việt căm thù cực độ quân xâm lược tàn bạo đã liên tục nổi dậy chống lại chúng. Lớn nhất là cuộc khởi nghĩa của nhà Hậu Trần do Giản Định Đế và Trùng Quang Đế lãnh đạo, nhưng cuộc quật khởi này đã bị quân Minh tiêu diệt năm 1413 (1407-1413).

Vốn có lòng yêu nước thương dân, căm thù giặc, quyết tâm cứu dân, cứu nước cho nên lớn lên Lê Lợi đã trau dồi binh thư. Lê Lợi là người thiên tư, tuấn tú khác thường, lớn lên thần sắc minh anh kỳ vĩ, mắt sáng mũi cao, trên vai có nốt ruồi đỏ, tiếng nói như chuông, dáng đi tựa rồng, nhịp bước như hổ. Khi nhỏ Lê Lợi được người anh là Lê Học nuôi nấng, dạy dỗ.

  Để thực hiện mục đích khôi phục quốc gia, đánh đuổi quân thù, Lê Lợi đã tôn người hiền tài, bỏ tiền giúp đỡ người nghèo, nuôi binh sĩ, sử dụng những người chống đối quân Minh. Anh hùng hào kiệt khắp nơi nghe tiếng đều về quy phục. Tướng Hoàng Phúc nhà Minh biết tiếng mời ông ra làm quan nhưng Lê Lợi không ra. Lê Lợi ẩn mình ở rừng núi làm nghề cày cấy, đọc kinh sử, chuyên tâm đọc sách binh thư, thao lược, hậu đãi các tân khách, chiêu nạp những kẻ căm thù nhà Minh, ngầm nuôi mưu trí, bỏ của phát thóc để nuôi kẻ côi cút nghèo khó, hậu lễ nhún thời để thu hút anh hùng hào kiệt. Lê Lợi quả nhiên đã cảm phục được họ. Các anh hùng hào kiệt đã lần lượt đến tụ nghĩa như Lê Văn An, Lê Văn Linh, Bùi Quốc Hưng, Lưu Nhân Chú, Trịnh Võ, Vũ Uy Lê Liễu, Xa Lợi.

  Năm 1416, Lê Lợi mở hội thề Lũng Nhai ở làng Lũng Mi, xã Ngọc Phụng, huyện miền núi cao Thường Xuân, Thanh Hóa. Hội thề diễn ra ngày Kỷ Mão, tháng 2 năm Canh Dần 1416. Tham gia gồm 19 anh hùng hào kiệt đến với Lê Lợi đầu tiên, bao gồm  Lê Lợi, Lê Lai, Lê Thận, Lê Văn An, Lê Văn Linh, Trịnh Khả, Trương Lôi, Lê Liễu, Bùi Quốc Hưng, Lê Ninh, Lê Hiểm, Vũ Uy, Nguyễn Trãi, Đinh Liệt, Lê Nhân Chú, Lê Bôi, Lê Lý, Đinh Lan, Trương Chiến.

 Một buổi sáng mùa xuân năm Canh Dần, núi rừng Thường Xuân cao vót đậm một màu xanh như chạm trời. Sương giăng trắng xóa nom trời đất càng linh thiêng, gió se lạnh. Tại thung lũng Làn Mé, trong không khí thanh bình hoang vu, 19 vị anh hùng hào kiệt đứng đầu là Lê Lợi đứng trước bàn thờ có bài vị các vua Hùng, Cha Lạc Long Quân, mẹ Âu Cơ, linh vị của các thần thánh, anh hùng nước Đại Việt đã có công chống xâm lăng, bảo vệ đất nước, giải phóng dân tộc. 19 vị anh hùng hào kiệt đốt hương cắm vào các bát hương. Trước bàn thờ, 19 người cúi đầu hành lễ. Một hồi trống vang lên khua vang rừng núi. Tiếng trống vừa dứt, Lê Lợi cất tiếng đọc lời thề: “Phụ đạo lộ Khả Lam nước Đại Việt là Lê Lợi cùng Lê Lai, Lê Thận, Lê Văn An, Lê Văn Linh, Trịnh Khả, Trương Lôi, Lê Liễu, Bùi Quốc Hưng, Lê Ninh, Lê Hiểm, Vũ Uy, Nguyễn Trãi, Đinh Liệt, Lê Nhân Chú, Lê Bôi, Lê Lý, Đinh Lan, Trương Chiến kính đem lễ vật, sinh huyết tấu cáo cùng Hạo Nhiên Thượng đế, Hậu thổ hoàng địa và các tôn linh thần bậc Thượng, thần bậc Trung, thần bậc Hạ coi sông núi ở các xứ nước ta. Cúi xin chứng giám cho: Rằng có bạn ở phương xa đến kết giao vui vẻ cùng giữ lòng tín. Vì thế phải có lễ tấu cáo. Nay ở trong nước, tôi là Phụ đạo lộ Khả Lam nước Đại Việt là Lê Lợi cùng Lê Lai, Lê Thận, Lê Văn An, Lê Văn Linh, Trịnh Khả, Trương Lôi, Lê Liễu, Bùi Quốc Hưng, Lê Ninh, Lê Hiểm, Vũ Uy, Nguyễn Trãi, Đinh Liệt, Lưu Nhân Chú, Lê Bôi, Nguyễn Lý, Đinh Lan, Trương Chiến, tuy họ hàng quê quán khác nhau nhưng kết nghĩa, thân nhau như một tổ liền cành, phận vinh hiển đều có khác nhau, mong có tình như cùng một họ.

  Có kẻ bằng đảng xâm chiếm nước ta, qua cửa quan làm hại nên Lê Lợi cùng Lê Lai đến Trương Chiến 19 người chung sức đồng lòng giữ gìn đất nước, làm cho xóm làng được ăn ở yên lành. Thề sống chết cùng nhau, không dám quên lời thề sắt son.

  Tôi cúi xin trời đất và các vị thần linh chứng giám, ban cho trăm phúc, đến thân mình, nhà mình, con cháu trong họ hàng đều được yên vui hưởng lộc trời. Nếu như Lê Lợi cùng Lê Lai đến Trương Chiến sinh lòng này khác, cầu ơn hiện tại, núp bóng quân thù, không cùng một lòng, quên lời thề ước, chúng tôi muốn trời đất và các thần linh giáng trăm tai ương, trị mình cho đến họ hàng, con cháu đều bị tru diệt, chịu hết hình phạt của trời,

  Kính xin có lời thề”.

  Lê Lợi đọc xong, cả 19 người đều cúi đầu vái lạy tổ tiên thánh thần Đại Việt, sau đó tất cả uống chung một bát rượu để tỏ lòng sống chết gian khổ có nhau, một lòng đồng tâm cứu nước.

  Đầu năm 1418 do tên Việt gian Lương Nhữ Hốt thông báo về hoạt động chuẩn bị khởi nghĩa của Lê Lợi, quân Minh chuẩn bị tấn công lên Lam Sơn. Lê Lợi quyết định dấy binh khởi nghĩa. Lê Lợi nói: Ta cất quân đánh giặc không phải có lòng ham muốn phú quý, mà chính vì muốn để ngàn năm sau, người đời biết ta không chịu làm tôi tớ cho bọn giặc tàn ngược”.

  Mùa xuân ngày 2 tháng 2 năm Mậu Tuất 1418, Lê Lợi đã cùng các hào kiệt Phạm Vấn, Lưu Nhân Chú, Lê Văn An, Lê Sát, Lê Ngân, Nguyễn Lý…tất cả 50 tướng văn và võ, trong đó có 19 người từng tham gia hội thề Lũng Nhai năm 1416 chính thức phát động cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Lê Lợi xưng là Bình Định Vương. Tướng võ là Lê Thạch, Đinh Lễ, Lê Vấn, Nguyễn Lý, Lê Ngân...35 người.

Tướng văn là Lê Văn Linh, Nguyễn Trãi, Bùi Quốc Hưng cùng những quân thần như cha con, có lúc lực lượng chỉ có 200 thiết kỵ, 200 nghĩa sĩ và 14 thớt voi, cùng những người vận chuyến lương thực già yếu với vợ con của họ tổng cộng chừng 2.000 người. Lê Lợi đặt chức quan lại và liêu thuộc, phát hịch nơi xa gần kêu gọi dân tình tham gia khởi nghĩa. Tại vùng thượng du Thanh Hóa, Lê Lợi tổ chức quân đội bằng cách lập ra các đạo binh phụ tử gồm ba binh chủng: Quân thiết đột, quân dũng sĩ, quân nghĩa sĩ, mỗi binh chủng có 200 người. Thời kỳ 1418-1423, quân Minh dùng tới 20 vạn tấn công bao vây càn quét kiên quyết tiêu diệt nghĩa quân. Lê Lợi đã thực hiện chiến thuật rút lui, phục kích, tập kích tiêu diệt địch, không cho địch đánh theo cách đánh của chúng là dàn trận hỗn chiến giáp lá cà. Từ 1418-1423 chỉ 5.000 nghĩa quân đã đánh 18 trận với giặc Minh bằng lối đánh mai phục như trận Lạc Thủy (Lam Sơn), ngày 13 tháng 1 năm 1418, 20 vạn quân Minh do Mã Kỳ chỉ huy tiến vào Lạc Thủy. Các tướng Đinh Bồ, Lê Ngân, Lê Kỳ đã cho quân mai phục, chém 3.000 thủ cấp giặc, thu được hàng nghìn quân trang, khí giới. Sau đó nghĩa quân rút về núi Chí Linh. Lúc này nghĩa quân hết lương thực 2 đến 3 tháng do bị giặc bao vây. Sau đó quân Minh rút đi nhưng nghĩa quân chỉ còn 100 nghĩa quân. Lê Lợi dẫn các tướng Lê Vấn, Đinh Lễ, Đỗ Bí, Lê Sát, Nguyễn Xí, Lê Đáo về Lam Sơn xây dựng lại lực lượng và phong trào ngày càng mạnh lên.

  Cuối năm 1418, quân Lam Sơn bị thua ở Mường Một, chạy thoát về Trịnh Cao. Quân Minh dùng 20 vạn bao vây chặt. Lê Lợi hỏi: “Có ai dám bắt chước Kỷ Tín ngày xưa để cứu chúa không?”. Lê Lai nhận lời đóng giả Lê Lợi đem 500 quân ra đánh bị quân Minh bắt được. Lê Lai hy sinh. Quân giặc tin rằng đã giết được Lê Lợi, liền rút quân về. Lê Lợi và nghĩa quân được cứu thoát.

 Tháng 10 âm lịch năm 1420, nghĩa quân mai phục tiêu diệt quân Minh ở Bến Bỗng, giết 1.000 tên địch, thu 100 ngựa. Lê Lợi cho quân rút về Mường Thôi. Tướng giặc là Lý Bân và Phương Chính do Tri châu Quỳ Châu là Cầm Lạn dẫn đường kéo 10 vạn quân đến. Lê Lợi sai Lý Triện, Nguyễn Lý, Lê Vấn đem quân mai phục ở Bò Mộng, giết 300 giặc. Sau đó nghĩa quân lại mai phục ở Bồ Thi Lang diệt 1.000 tên địch, Lý Bân và Phương Chính chạy thoát lấy thân mình, quân Lam Sơn truy kích 6 ngày đêm. Đánh bại 10 vạn quân Minh trong trận Bồ Thi Lang là một bước ngoặt. Thế giặc ngày càng yếu, khiếp sợ lối đánh của nghĩa quân, khiếp sợ mỗi khi hành quân. Nghĩa quân lập phòng tuyến ở Lỗi Giang, uy hiếp thành Tây Đô. Nhân dân nô nức tham gia, thế và lực của nghĩa quân ngày càng mạnh.

  Ngày 20 tháng 11 năm 1421, 10 vạn quân Minh do Trần Trí chỉ huy tiến về Lỗi Giang. Lê Lợi đem quân tập kích trại giặc, phá 4 trại, giết 1.000 tên, sau đó Bình Định Vương sai quân mai phục ở Đèo Ông, đánh giết nhiều giặc khiến Trần Trí tháo chạy về Tây Đô. Vua Ai Lao đem 3 vạn quân, 100 thớt voi giúp quân Minh. Lê Lợi đánh tan quân Ai Lao, chém chết 1 vạn tên, bắt 14 thớt voi, truy kích thêm và rút quân về Sách Thủy, sau đó nghĩa quân rút về Sách Khôi.

  Tháng 12 năm 1422, quân Minh tấn công quân Lam Sơn ở trại Quan Du. Bình Định Vương rút quân về Sách Khôi. Bảy ngày sau quân Minh tiến đánh Sách Khôi. Các tướng Lê Lĩnh, Phạm Vấn, Lê Hào, Lý Triện xông lên giết giặc, chém tướng Minh là Phùng Quý và hơn 1.000 thủ cấp giặc, bắt 100 chiến mã. Quân Minh đại bại, Mã Kỳ, Trần Trí tháo chạy về Đông Quan.

 Dòng hồi tưởng của Lê Thái Tổ bị cắt đứt bởi lời của nội quan:

-Dạ bẩm kính mời Hoàng thượng uống thuốc.

Viên nội quan đỡ Lê Thái Tổ ngồi dậy, thái y bê thuốc cho nhà vua uống, xong vua lại nằm xuống hồi tưởng.

Vào ngày 20 tháng 9 âm lịch năm 1424 Bình Định Vương hỏi các tướng:

-Nay muốn tiến lên giải phóng toàn bộ đất nước phải có quân số 20 vạn, ta làm sao có được bằng ấy số quân để hoàn thành sự nghiệp.

Thiếu úy Nguyễn Chích cũng như Nguyễn Trãi đều đồng thuận:

-Thưa Bình Định Vương, nên tiến vào Nghệ An để từ đó giải phóng toàn bộ miền Trung, khi đó quân số sẽ lên hơn 20 vạn, sẽ tiến ra giải phóng miền Bắc thì hoàn thành sự nghiệp.

 Lê Lợi nghe theo. Ngày 20 tháng 9 năm đó ra lệnh tiến vào giải phóng Nghệ An. Nghĩa quân đánh úp thành Đa Căng, giết 1.000 địch, thu được nhiều lương thực, khí giới. Tiếp đó đánh tan quân Minh do tướng Hoa Anh đến cứu viện. Quân Minh thua to phải chạy về thành Tây Đô. Quân Lam Sơn tiến vào Trà Long (Trà Lân), Lê Lợi dẫn quân qua núi Bồ Lạp Châu Quỳ. Quân Minh do Đồng Trí Sư Hựu, tri phủ châu Trà Long Cầm Bành đem 5.000 quân chặn đánh phía Nam. Phía Bắc quân của Trần Trí, Phương Chính, Lý An, Thái Phúc đánh ép vào. Lê Lợi cho phục binh chặn đánh bọn Trần Trí, diệt 2.000 tên. Đô Ty Trần Trung bị giết chết, thu 100 ngựa chiến. Hôm sau nghĩa quân đến trang Đinh Sơn, châu Trà Long, đánh bại Sư Hựu, chém thiên hộ Trường Bản và 1.000 tên giặc. Trần Trí lui quân về giữ thành Nghệ An. Tháng 11 năm 1424 Cầm Bành đầu hàng và châu Trà Long được giải phóng.

  Tại Nghệ An, nghĩa quân ở phía trên, quân Minh ở phía dưới. Lê Lợi cho quân mai phục ở những nơi hiểm yếu. Quân Minh lọt vào trận địa mai phục ở Khả Lưu, bị thiệt hại vô kể, liền đắp đồn cố thủ. Khi quân Lam Sơn giả vờ tháo chạy, quân Minh truy kích theo. Các tướng Lê Sát, Lê Vấn, Đỗ Bí, Đinh Lễ, Lưu Nhân Chú, Lê Ngân, Lê Chiến tung quân giết giặc, quân Minh đại bại. Tướng tiên phong của Minh là Hoàng Thành bị chém chết, tướng Chu Kiệt cùng hơn 1.000 quân bị bắt. Quân Minh phải lui vào thành Nghệ An cố thủ.

 Tháng 5 năm 1425, Lê Lợi sai Đinh Lễ đem quân đánh chiếm thành Trài Diễn Châu, quân Minh do tướng Thiết Trụ chỉ huy thua trận lui vào thành Diễn Châu cố thủ. Quân Minh ở Tây Đô Thanh Hóa do Đô ty Trương Hùng chỉ huy đem 300 chiến thuyền vào cứu viện bị tướng Đinh Lễ tiêu diệt viện binh ở cửa Vạn đến các ngã ba sông Bùng, sông Trài, diệt 300 chiến thuyền, quân ta đánh chiếm Thôn Trang, chiếm thành Trài Diễn Châu, Thiết Trụ thua đem quân chạy ra Tây Đô. Bình Định Vương điều quân do Lê Sát chỉ huy, thêm tướng Lưu Nhân Chú, Lý Triện tiếp ứng cho Đinh Lễ tiến ra giải phóng Thanh Hóa, quân Minh phải lui về cố thủ ở Tây Đô. Lê Lợi sai Trần Nguyên Hãn, Doãn Nỗ, Lê Đa Bồ, sau lại thêm Lê Ngân, Lê Văn An đem thủy quân tiếp ứng cho Trần Nguyên Hãn, đánh bại quân Minh do tướng Nhậm Năng chỉ huy phải rút vào cố thủ ở thành Tân Bình, toàn bộ phía nam Nghệ An là Tân Bình-Thuận Hóa được giải phóng. Như vậy, quân Lam Sơn đã làm chủ một giải miền Trung từ Thanh Hóa đến Tân Bình-Thuận Hóa. Quân Minh còn lại bị vây hãm ở các thành Tân Bình, Nghệ An, Tây Đô. Chính quyền của quân Minh sụp đổ, chính quyền các cấp của quân Lam Sơn được thành lập. Quân số nghĩa quân lúc này lên 35 vạn. Từ cuộc khởi nghĩa địa phương miền núi Thanh Hóa đến năm 1426 đã phát triển thành cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc phạm vi toàn quốc.

  Lúc này thấy đủ sức lực tiến ra giải phóng miền Bắc, tháng 8 năm 1426 Bình Định Vương chia quân làm 3 đạo, mỗi đạo 1 vạn quân tiến ra giải phóng miền Bắc và hạ thành Đông Quan, đầu não đô hộ của quân Minh. Cánh quân thứ nhất gồm các tướng Phạm Văn Xảo, Đỗ Bí, Trịnh Khả, Lý Triện tiến ra hướng Tây Bắc Đông Quan, cánh thứ hai do Lưu Nhân Chú, Bùi Bị chỉ huy tiến ra hướng Đông Bắc Đông Quan, cánh thứ ba do các tướng Đinh Lễ, Nguyễn Xí, Lý Triện tiến ra hướng Đông Nam Đông Quan. Lý Triện đánh bại Trần Trí ở Trận Ninh Kiều gần ĐôngQuan.

  Nhà Minh cho  Sơn Thành hầu Vương Thông sang thay chức Tổng Binh của Trần Trí. Vương Thông đem 5 vạn quân vào Đông Quan hợp với 5 vạn quân có sẵn là 10 vạn quân. Vương Thông đem 10 vạn quân mở cuộc phản công ra hướng Cao Bộ nhằm tiêu diệt nghĩa quân. Đinh Lễ, Nguyễn Xí đem quân mai phục ở Tốt Động-Chúc Động (Chương Mỹ, Hà Tây). Vương Thông cùng 10 vạn quân lọt vào trận địa mai phục, bị quân ta giết 6 vạn, nhiều võ quan cao cấp tử trận. Vương Thông bị trọng thương phải đem tàn quân chạy vào thành Đông Quan cố thủ. Quân Lam Sơn tiến vào bao vây Đông Quan. Tại mặt trận Tây Bắc, Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả đánh tạn viện binh của địch từ Vân Nam tiến xuống, quân Minh phải chạy vào thành Tam Giang (Phú Thọ) cố thủ. Tại thành Nghệ An, Lý An, Phương Chính để Thái Phúc giữ thành, còn hai tướng đem quân chạy ra Đông Quan, hợp binh với Vương Thông. Lê Lợi cho Lê Văn Linh, Lê Văn An ở lại Nghệ An vây thành, còn ông kéo đại quân ra miền Bắc. Trong khi bao vây Đông Quan do chủ quan lỏng lẻo quân Lam Sơn bị Vương Thông xông ra đánh úp, Lý Triện tử trận, Đinh Lễ bị bắt và bị giết, Nguyễn Xí bị bắt nhưng trốn thoát. Lúc này Bình Định Vương đã ra bến Bồ Đề Gia Lâm chỉ huy các trận đánh giải phóng miền Bắc.

 Cuối năm 1427 quân Minh bị vây ở các thành vô cùng khốn đốn, nhất là Đông Quan, nhưng Vương Thông ngoan cố, phá tan giao ước đầu hàng và lại cầu viện binh. Vua Minh Tuyên Tông cử 15 vạn viện binh sang cứu. Đạo 10 vạn quân do An Viễn hầu Liễu Thăng chỉ huy theo đường Quảng Tây vào ải Chi Lăng, theo đường Lạng Sơn tiến xuống, đạo 5 vạn quân do Kiềm quốc công Mộc Thạnh từ Vân Nam theo đường Lào Cai tiến xuống. Do viện binh của quân Minh tiến sang, quân Lam Sơn đứng trước 3 khối quân lớn: Đạo viện binh 10 vạn quân của Liễu Thăng, đạo viện binh của Mộc Thạnh gồm 5 vạn quân, khối quân thứ ba là 10 vạn quân Minh đang bị vây  ở các thành Tân Bình,  Nghệ An, Tây Đô, Cổ Lộng, Chí Linh, Xương Giang, Điêu Diêu, Tam Giang, Đông Quan. Nghe theo ý kiến của các mưu sĩ quân sư, Lê Thái Tổ tập trung quân đánh bại đạo quân của Liễu Thăng, đạo quân này bị tiêu diệt thì đạo quân Mộc Thạnh không đánh cũng tan rã tháo chạy, đạo quân ở các thành cũng sẽ đầu hàng. Riêng thành Xương Giang và Tam Giang nằm trên đường của viện binh đi qua nên phải tiêu diệt bằng được trước khi viện binh tới, triệt tiêu những căn cứ mà viện binh dựa vào để cố thủ. Cho nên 2 thành Xương Giang và Tam Giang đã được quân Lam Sơn triệt hạ trước khi viện binh tiến vào Đại Việt. Thành Xương Giang, quân Minh đã cố thủ được 6 tháng. Đánh thành Xương Giang do Nguyễn Trãi chỉ huy cùng các tướng Thái úy Trần Nguyên Hãn, Tư mã Lê Sát, Thiếu úy Nguyễn Lý đã hạ thành chỉ trước 10 ngày Quân Minh tràn vào Đại Việt. Thành Điêu Diêu ở Thị Cầu- Bắc Ninh cũng bị tiêu diệt sau đó. Thành Tam Giang ở Việt Trì đã bị các tướng Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả chỉ huy quân Lam Sơn triệt hạ.

  Lê Lợi điều các tướng Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Lê Lãnh, Đinh Liệt, Lê Thụ, Lê Văn An, Nguyễn Lý lên giết giặc ở mặt trận Lạng Sơn- Xương Giang. Ngày 18 tháng 9 âm lịch năm 1427, Liễu Thăng bỏ 9 vạn quân đi phía sau, tự đem 100 quân và 1 vạn quân đi trước đuổi theo quân  của tướng Trần Lựu ra đánh giả thua chạy, Liễu Thăng bị dụ vào trận địa mai phục và bị chém chết ở gò Mã Yên, ải Chi Lăng Lạng Sơn. Lương Minh lên thay Tổng chỉ huy cố đem 9 vạn quân tiến xuống Xương Giang, bị quân Lam Sơn mai phục chặn đánh ở ở Cần Trạm- Kép, Lương Minh bị chém chết, Thượng thư Lý Khánh sợ hãi tự sát, 4 vạn quân Minh bị tiêu diệt. Hoàng Phúc, Thôi Tụ còn 5 vạn quan cố chạy về thành Xương Giang may ra còn thành để cố thủ. Nhưng đến nơi thì thành Xương Giang đã bị hạ. Quân Minh đành phải đóng ở cánh đồng mà không có thành trì, hào lũy. Lê Lợi sai Trần Nguyên Hãn chặn đường vận tải lương thực của giặc, sai các tướng Phạm Vấn, Lê Khôi, Lê Sát, Nguyễn Lý, Lưu Nhân Chú, Lê Văn An bao vây và tổng công kích, tiêu diệt 5 vạn quân Minh, 3 vạn quân bị bắt cùng tướng giặc Hoàng Phúc. 10 vạn quân của đạo quân Liễu Thăng chỉ còn 1 tên chạy thoát về Trung Quốc.

  Đạo quân 5 vạn tên của Mộc Thạnh mới vượt qua biên giới vào Quy Hóa (Lào Cai) nghe tin đạo quân Liễu Thăng bị tiêu diệt hoảng hốt tháo chạy, bị các tướng Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả đuổi theo chém hơn 2 vạn tên, bắt sống 1.000, thu được nhiều ngựa và lương thực khí giới.

  Ngày 22 tháng 11 năm Đinh Mùi (1427) Lê Lợi cùng các tướng bại trận nhà Minh: Sơn thành hầu Tổng binh Vương Thông, Tham mưu Mã Anh, Thái giám Sơn Thọ, Mã Kỳ, Vinh Xương hầu Trần Trí, An Bình hầu Lý An, Đô ty Phương Chính, Chưởng Đô ty sự Trần Huyền, Trần Hựu, Giám sát Ngự sử Chu Kỳ Hậu, Cấp sự trung Viết Thanh, Hữu Bố Chính sứ Dặc Khiêm, Tả hữu tham chính Hồng Bỉnh Lương, Lục Trinh, Lục Quảng Bình, Án Sát sứ Dương Thời Tập, Thiêm sự Quách Đoan Hầu hội thề ở cửa Nam thành Đông Quan. Vương Thông thề không bao giờ sang xâm lược Đại Việt, thề ngày 12 tháng 12 năm 1427 sẽ rút hết quân về nước.

  Lê Lợi ra lệnh cho quân Lam Sơn đang bao vây các thành Tây Đô, Cổ Lộng, Chí Linh cho phép quân Minh ra Đông Quan, hội quân với Vương Thông cùng về nước. Lê Lợi cho quân Minh rút làm hai cánh: cánh đường thủy gồm 500 chiến thuyền do Phương Chính, Mã Kỳ chỉ huy. Cánh đường bộ do Sơn Thọ, Hoàng Phúc chỉ huy, còn 2 vạn tù binh, 2 vạn ngựa do Mã Anh chỉ huy, tất cả được cấp lương thực nước uống đủ về tới nước Minh. Lê Lợi cử Chinh man tướng quân Trần Tuấn đem quân Việt đi theo áp tải. Tất cả quân Minh khi đi qua Bồ Đề biết Bình Định Vương còn ở đó đều quỳ xuống vái lạy công ơn Lê Thái Tổ không giết. Đất nước Đại Việt được giải phóng, sạch bóng quân thù. Lê Lợi sai Nguyễn Trãi viết “Bình Ngô Đại cáo” bố cáo cho thiên hạ biết cuộc kháng chiến chống giặc Minh đã thắng lợi, đất nước được thái bình, độc lập, Nam- Bắc thôi việc binh đao.

  Trong dòng hồi ức về nhưng năm tháng lãnh đạo khởi nghĩa và chiến tranh giành độc lập dân tộc, Lê Thái Tổ sống lại những ngày hào hùng, oanh liệt. Trước mắt ông như sống lại những bức tranh quân reo ngựa hí, trống trận vang lừng, cờ xí tung bay rợp trời, quân đi như hùm như sói, những tướng sĩ với ông cùng một lòng phụ tử. Nghĩ tới đó Lê Thái Tổ nhớ tới những tướng lĩnh đã hy sinh anh dũng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc như Lý Triện, Đinh Lễ, Lê Lai, Lê Thạch (con trai Lê Học, anh cả của Lê Lợi, được tuy phong Trung Vũ Vương) và hàng vạn binh sĩ có danh, vô danh, làm sao mà đền ơn cho họ hết được. Những người còn sống đã được Lê Thái Tổ  ban tước vị, chức vụ, ruộng đất, cho hưởng bổng lộc, phú quý. Lê Thái Tổ bỗng nhớ tới hai vị khai quốc công thần Trần Nguyên Hãn và Phạm Văn Xảo đã bị bọn gian thần vu oan mà chết, trong đó có một phần trách nhiệm của ông. Cộng tác với nhau 15 năm trời mà ông chưa hiểu hết tính cương liệt của họ, sẵn sàng chết để minh oan cho mình, sẵn sàng chết vị danh dự, coi cái chết nhẹ như mây bay gió thổi. Nếu mai đây bình phục thiết triều được có lẽ ông sẽ xuống chiếu minh oan cho Trần Nguyên Hãn và Phạm Văn Xảo. Còn một việc hệ trọng liên quan đến triều đại, đến quốc gia, ông phải làm trước khi xa rời trần thế, đó là việc chọn người kế vị ngai vàng.

Lê Thái Tổ có ba bà vợ, bà vợ thứ nhất là Phạm Thị Nghiêu, được truy phong Huệ phi,  bị quân Minh bắt cùng với một công chúa vào năm 1419 khi chúng càn quét vào Lam Sơn và bà mất tại quê nhà. Bà thứ hai là Trịnh Thị Ngọc Lữ quê ở làng Bái Để, huyện Lôi Dương (Thọ Xuân) Thanh Hóa, kết duyên với Lê Lợi khi mới 20 tuổi, sinh ra Hoàng tử Quốc Vương Lê Tư Tề. Lê Tư Tề được phong Quốc Vương. Từng theo Lê Thái Tổ tham gia cuộc kháng chiến chống Minh, lập được nhiều chiến công. Khi Lê Lợi lập Trần Cao làm vua theo yêu cầu của nhà Minh, Lê Tư Tề được phong là Thị trung, tháng 6 năm 1427 được thăng chức Tư đồ, tháng 11 năm 1427 khi trao đổi con tin với Vương Thông, phía quân Minh cho Mã Kỳ, Trần Thọ sang quân Lam Sơn, Lê Tư  Tề và Lưu Nhân Chú vào thành Đông Quan với nhà Minh, tháng 12 năm 1427 khi quân Minh rút về thì Lê Tư Tề trở về. Năm 1428 được phong Hữu tướng quốc, tước Quận vương. Sau Lê Lợi sai Nhập nội Kiểm hiệu Bình chương sự Phạm Vấn, Nhập nội Đại tư mã Lê Ngân, Nhập nội Thiếu phó Lê Văn Linh mang kim sách lập Lê Tư Tề làm Quốc vương. Quần thần xưng hô với Tề phải xưng là Quốc vương điện hạ, dùng chữ "Khải" thay cho chữ “Tấu”, các giấy tờ ban xuống thì dùng “Quốc vương chỉ huy” thay cho chữ "sắc”. Lê Tư Tề  từng chinh phạt Tây Bắc đánh Đèo Cát Hãn khi Hãn phản loạn lần thứ 2 và chỉ huy cánh quân bộ cùng Lê Thái Tổ chinh phạt Tây Bắc khi Hãn làm phản lần thứ 3. Lê Tư Tề cũng được Lê Thái Tổ cho phép thiết triều giải quyết những công việc của triều chính mỗi khi Lê Thái Tổ ốm đau hoặc đi chinh chiến. Trong kháng chiến khi hai bà mất sớm, chính bà Trịnh Thị Ngọc Lữ, thân sinh ra Lê Tư Tề đã chăm sóc Lê lợi cho đến ngày nay. Tước hiệu của bà là Quốc Thái mẫu (Sau này là Quận Vương mẫu, rồi khi Lê Tư Tề bị Lê Thái Tông giáng làm thứ dân là Thần phi mẫu). Lê Tư Tề sinh năm 1401, nay đã 32 tuổi, đã trưởng thành trong chiến đấu và trong trị nước. Hai đại thần phò tá Lê Tư Tề là Trần Nguyên Hãn và Phạm Văn Xảo, cả hai đã bị vu cáo mà tự sát chết. Phu nhân của Lê Tư Tề là quận chúa Xuân Hoa Hương. Bà vợ thứ ba của Lê Thái Tổ là Phạm Thị Ngọc Trần (Cung từ hoàng Thái hậu), sinh năm 1381, quê quán Hương Tuần Lai, Huyện Lôi Dương (Thọ Xuân, Thanh Hóa), mất ngày 24-3 năm 1425 khi nghĩa quân đang tác chiến ở Nghệ An. Bố của bà Phạm Thị Ngọc Trần là Phạm Hoành, tước hầu của triều đại Lê Thái Tổ, anh ruột là tướng Phạm Vấn, khai quốc công thần, đại thần nhà Hậu Lê. Bà sinh ra Hoàng tử Lê Nguyên Long, bà được truy phong Hoàng hậu, Bà Trần mất tại Hưng Nguyên, Nghệ An táng tại núi Na, xã Xuân Lam, huyện Nghi Xuân Hà Tĩnh. Bà sinh ra Hoàng Tử Lê Nguyên Long năm 1423, khi nghĩa quân và Lê Lợi còn ở miền thượng du Thanh Hóa. Như vậy năm nay 1433, Lê Nguyên Long mới 10 tuổi.

  Lê Thái Tổ ba vợ nhưng không lập ai làm chính thất. Khi Mã Kỳ càn quét đã bắt đi Huệ Phi Phạm Thị Nghiêu và đứa con gái. Ngày 1 tháng 11 năm 1428, nhà vua cử Đỗ Như Hùng sang nhà Minh đòi và xin lại con gái 9 tuổi bị chúng bắt, nghe nói Mã Kỳ đã đem về nuôi, về sau đưa về Yên Kinh làm cung từ. Đó là công chúa Lê Thị Đào Nữ (chết bên Trung Quốc). Con gái thứ hai của Lê Lợi là công chúa Ngọc Châu đã lấy con trai của đại công thần Bùi Bị là Bùi Ban. Bùi Ban hy sinh trong cuộc chiến đánh Chiêm Thành. Ngọc Châu tái giá lấy Khôi Quận công Trần Hùng rồi sau vào chùa đi tu. Từ đầu năm 1433, Lê Thái Tổ không thiết triều được nữa, chính Lê Tư Tề đang thay vua giải quyết những công việc của đất nước, của triều chính.

  Lê Nguyên Long là hoàng tử thứ hai, năm nay mới 10 tuổi, được phong là Lương Quận Công. Những đại thần phò tá Lê Nguyên Long là Lê Sát, Lê Ngân, Lê Khôi, Phạm Vấn (Anh ruột Phạm Thị Ngọc Trần). Trong khi Lê Thái Tổ nằm liệt giường thì cuộc đấu tranh giữa hai phe giành ngôi kế vị cho hoàng tử mình tôn thờ ngày càng quyết liệt, trong đó Lê Tư Tề yếu thế vì hai đại thần tôn phò Quốc vương là Trần Nguyên Hãn và Phạm Văn Xảo đã bị vu oan mà chết. Trong khi đó có lẽ do phe của Lê Nguyên Long tung ra nên hàng ngày trong cung, trên giường bệnh, Lê Thái Tổ thường nghe bọn hoạn quan truyền đến nhưng điều không tốt đẹp về Lê Tư Tề rằng Quốc vương có máu điên khùng, cậy quyền cao, giết tì thiếp bừa bãi, rằng không coi các đại thần ra gì. Điều đó đã làm cho Lê Lợi phân vân không biết chọn ai xứng đáng làm người kế vị. Lê Tư Tề đã trưởng thành nhưng nếu đúng như đồn đại thì không xứng là bậc quân vương, còn Lê Nguyên Long thì còn quá nhỏ, chưa từng trải. Lê Lợi phân vân và chìm vào giấc ngủ thì canh khuya mơ màng thấy bóng dáng của Hiền Phi Phạm Thị Ngọc Trần về đứng cạnh Lê Thái Tổ khóc mà nói: “Tướng công đã quên mất lời nói năm xưa với thiếp, nay định ruồng bỏ con thơ của thiếp, không cho nó làm Thái tử kế vị ngai vàng như đã hứa. Thiếp cùng thần linh dưới suối vàng đã phù hộ cho tướng công chiến thắng mà nay tướng công phụ thiếp và con thiếp, hu!hu! hu!...” Lê Thái Tổ bàng hoàng thức giấc, nhớ lại trong lúc lâm chung ở Nghệ An, Hiền phi Phạm Thị Ngọc Trần nắm tay Lê Thái Tổ mà nói: “Tướng công hứa với thiếp một điều thì thiếp mới nhắm mắt ra đi và dưới suối vàng thiếp sẽ phù hộ cho tướng công chiến thắng, hoàn thành đại nghiệp.”

Lê Lợi hỏi:

-Nàng muốn ta hứa điều gì.

 Phạm Thị Ngọc Trần đáp:

-Tướng công hãy hứa sau này lập Lê Nguyên Long là con của chúng ta làm Thái tử, kế vị ngai vàng.

Nhìn cảnh đứa con mới 3 tuổi đang khóc đòi mẹ, nhìn sự khẩn khoản trong đôi mắt của một hiền thê thân yêu sắp đi xa, Lê Lợi không nén được cảm thương xúc động liền nói:

-Ta hứa với nàng sau này sẽ lập Lê Nguyên Long làm Thái tử, kế vị ngai vàng.

Phạm Thị Ngọc Trần ứa nước mắt nói:

-Đa tạ tướng công, thiếp sẽ phù hộ cho chàng chiến thắng. Vĩnh biệt, vĩnh biệt...

Tiếng của Hiền phi nhỏ dần và nàng ra đi giữa tuổi thanh xuân, để lại cho Lê Lợi một đứa con thơ dại.

Sau đêm mơ đó trên giường bệnh, sáng hôm sau, Lê Lợi bảo quan nội thị:

-Đi mời đại thần Thiếu úy Lê Khôi vào đây gặp trẫm.

-Dạ thần tuân chỉ.

Quan nội giám đi ra, một lát sau, Lê Khôi vào. Lê Khôi là con của người anh thứ hai của Lê Lợi là Lê Trừ, gọi Lê Thái Tổ là chú, đã tham gia khởi nghĩa Lam Sơn, là dũng tướng xuất sắc, còn là nhà cai trị tài ba, năm 1430 được cử đi trấn thủ Châu Hóa. Thời gian này Lê Thái Tổ đang ốm nặng nên nhà vua cho triệu Lê Khôi về kinh đề phòng có việc. Lê Khôi chắp tay quỳ hành lễ:

-Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.

 Lê Lợi nói:

-Người nhà, miễn lễ, cho ngồi.

-Đa tạ hoàng thượng.

-Cháu này.

-Dạ.

-Nay ta ốm nặng khó qua khỏi, có việc công việc hệ trọng ta muốn nói với cháu vì cháu là người trong nhà, trong hoàng tộc.

Lê Thái Tổ đưa mắt nhìn quanh, Lê Khôi hiểu ý nói:

-Tất cả ra ngoài đi.

Quan nội thị, hai thị nữ, hai cấm quân ở cửa đáp:

-Dạ.

Khi chỉ còn lại hai người, Lê Thái Tổ mới nói:

-Việc hệ trọng ta bàn với cháu là chọn người kế vị ngai vàng, ta có hai con trai, trưởng nam là Lê Tư Tề, thứ hai là Lê Nguyên Long. Lê Tư Tề thì đã trưởng thành, từng trải qua chiến đấu, cũng từng thay ta nhiều lần thiết triều. Nhưng gần đây có tiếng đồn đại không tốt về Quốc vương, còn Lê Nguyên Long thì còn nhỏ...Theo khanh thì ta chọn ai là đúng?

Lê Khôi đáp:

-Vấn đề này thần cũng đã suy nghĩ từ lâu. Lê Tư Tề đã lớn, đã trưởng thành, từng trải qua chinh chiến, nhưng qua những lần thay Hoàng thượng nắm quyền đã tỏ ra nhiều nhược điểm của một bậc quân vương cai trị đất nước. Hai đại thần phò tá Lê Tư Tề đã bị gian thần vu cáo mà chết hẳn là tác động không nhỏ đến Lê Tư Tề. Nếu Lê Tư Tề kế vị hắn sẽ có những cuộc tắm máu trả thù những người liên quan. Lê Nguyên Long còn nhỏ nhưng đã bộc lộ bản chất, có năng lực của một quân vương.

 - Ta cũng nghĩ như khanh, Khanh gọi đem bút mực giấy ra đây.

-Dạ.

Lê Khôi gọi:

-Người đâu.

Một thị nữ xuất hiện

-Dạ.

-Đem giấy, bút, mực ra đây.

-Dạ.

Có giấy bút mực rồi, Lê Khôi đỡ Lê Thái Tổ ngồi dậy, lấy miếng ván đặt lên hai đùi của nhà vua để ông viết. Sau khi viết xong, Lê Thái Tổ đưa cho Lê Khôi và nói:

-Ái khanh cất đi, bao giờ ta mất hãy thiết triều đọc cho triều thần nghe, đưa Lê Nguyên Long lên nối ngôi.

-Thần tuân chỉ.

-Khanh cho gọi quan nội thị vào đây.

-Thần tuân chỉ.

Lê Khôi cho gọi quan nội thị vào, Lê Thái Tổ nói với quan nội thị:

-Khanh cho gọi Nhập nội Tư khấu Lê Sát, Tư không Lưu Nhân Chú, Nhập nội Tư mã Nguyễn Lý, Nhập nội thiếu úy Bùi Quốc Hưng vào đây.

-Thần tuân chỉ.

Canh giờ sau bốn vị Đại thần bước vào, cả bốn quỳ dưới long sàng và nói:

-Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.

Thiếu úy Lê Khôi đỡ Lê Thái Tổ dậy, mệt nhọc nói;

-Bốn ái khanh nghe chỉ.

-Chúng thần nghe chỉ.

-Các ái khanh hãy đem Kim sách và ý chỉ của trẫm lập Lương Quận Công Lê Nguyên Long làm hoàng thái tử kế vị ngai vàng khi ta nằm xuống.

Bốn đại thần nhận cố mệnh, khóc mà nói:

-Chúng thần tuân chỉ.

Lê Thái Tổ lại nói:

-Dặn lại vua mới đối với các khai quốc công thần không được ngược đãi họ. Phải ưu đãi con cháu của Lê Lai. Khi làm giỗ phải cho giỗ Lê Lai trước trẫm một ngày, hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi, rõ chưa?

- Chúng thần tuân chỉ. Chúng thần ghi nhớ.

Khi bốn đại thần đi ra, Lê Khôi còn giúp Lê Thái Tổ ngồi tựa viết tờ chiếu thứ hai, phế truất chức vụ Quốc vương của Lê Tư Tề. Lê Tư Tề chỉ còn là Quận vương sau tờ chiếu này. Hai tờ chiếu quyết định vận mệnh cho hai con trai ông được nhà vua viết vào cuối tháng 9. Ngày 5 tháng 10 năm 1433,  Lê Thái Tổ qua đời tại Đông kinh, thọ 49 tuổi, trị vì 5 năm (1428-1433).                   Hôm sau, tại điện Kính Thiên, bá quan văn võ thiết triều. Theo thông lệ, khi vắng Lê Thái Tổ thì Quốc vương Lê Tư Tề chủ trì nhưng hôm nay Thiếu Úy Lê Khôi tự lên đứng cạnh ngài vàng không  có vua và nói:

-Ta thông báo cho bá quan văn võ một tin buồn là Hoàng Thượng đã băng hà chiều hôm qua. Để tổ chức quốc tang phải lập Hoàng thượng mới. Quan nội thị tuyên chiếu.

Quan nội thị giở di chiếu của Lê Thái Tổ ra đọc: “ Phụng thiên thừa vận, Hoàng đế chiếu viết: Ta nay di chiếu lại cho Thái tử Lê Nguyên Long là người kế vị ngai vàng, hãy xứng đáng là đấng minh quân trị vì thiên hạ. Khâm thử. Niên hiệu Thuận Thiên năm thứ 5-1433.”.

Sau đó các đại thần cố mệnh như Lê Sát, Lê Ngân dìu Lê Nguyên Long, cho mặc áo bào, đội vương miện và ngồi trên ngai vàng. Bá quan văn võ quỳ xuống hô to:

-Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.

Lê Nguyên Long nói:

-Miễn lễ, các ái khanh bình thân.

- Tạ hoàng thượng.

Lê Nguyên Long nói tiếp:                                                       

-Ta nay lên ngôi Hoàng đế, niên hiệu Đại Bảo, năm 1433 là năm Đại Bảo thứ nhất. Truy phong Lê Thái Tổ thụy hiệu là Thái Tổ Cao Hoàng Đế, an táng tại Vĩnh Lăng, Lam Sơn Thọ Xuân, Thanh Hóa. Truy phong thân mẫu Phạm Thị Ngọc Trần là Cung Từ quốc Thái mẫu. Nay trẫm mới lên ngôi nên xuống lệnh Đại xá thiên hạ.

Bá quan văn võ lại quỳ hành lễ:

-Hoàng thượng vạn vạn tuế, Hoàng thượng anh minh.

-Miễn lễ, các ái khanh bình thân.

-Tạ Hoàng thượng.

Tiếp đó Lê Thái Tông nói tiếp.

Quan Nội thị tuyên chỉ thứ hai của Lê Thái Tổ.

Bá quan văn võ lại quỳ xuống, quan nội thị đọc tờ chiếu thứ hai:

“ Phụng thiên thừa vận, Hoàng đế chiếu viết: Làm tôi phải trung, làm con phải hiếu, thế mà con trẫm là Lê Tư Tề không trung hiếu với cha mẹ, ngược đãi quần thần, kinh nhờn trời đất, không theo đạo của các đấng quân vương. Nay giáng Tư Tề xuống tước Quận vương. Vậy bố cáo cho thiên hạ biết. Khâm thử”. Thuận Thiên năm thứ 5, 1433”. Thì ra đó là một tờ sắc tuyên bố bãi chức của Lê Từ Tề, các đại thần văn võ bá quan sửng sốt nhưng cũng đành phải hô:

-Hoàng thượng vạn vạn tuế.

Lê Thái Tông nói:

-Các đại thần cố mệnh nghe chỉ.

Bốn đại thần cố mệnh Lê Sát, Lê Ngân, Phạm Vấn, Nguyễn Xí quỳ xuống.

-Chúng thần nghe chỉ.

-Nay tuyên bố cho thiên hạ biết Quốc tang trong 10 ngày. Cho các khanh thời hạn 5 ngày chuẩn bị nghi lễ, xe ngựa, tang phục, quân đội, điếu văn đưa thi hài Lê Thái Tổ về Lam Kinh an táng. Không được sơ suất.

-Chúng thần tuân chỉ.

-Quan Hành khiển Nguyễn Trãi nghe chỉ.

- Thần nghe chỉ.

Ái khanh chuẩn bị bài văn bia khắc vào bia Vĩnh Lăng dựng cạnh mộ Lê Thái Tổ ở Lam Kinh,

-Thần tuân chỉ.

-Lê Thụ, Nguyễn Xí nghe chỉ:

-Chúng thần nghe chỉ.

-Hai ái khanh chỉ huy quân đội và cùng với quân cấm vệ bảo vệ kinh thành trong khi triều đình, hoàng gia và trẫm đưa phụ hoàng về an nghỉ ở Lam Kinh.

-Chúng thần tuân chỉ.

Bãi triều

5 ngày sau buổi thiết triều của vua mới Lê Thái Tông, hoàng gia, văn võ bá quan và 5 vạn quân đội đưa thi hài của Lê Thái Tổ về quê. Đó là một đám tang vĩ đại chưa từng có, cờ tang rợp trời, quân đội hoàng gia và văn võ bá quan đều trong tang phục trắng xóa bước đi dằng dặc trên đường thiên lý từ Đông Kinh đến Thanh Hóa suốt 300 dặm. Thi hài Lê Thái Tổ được mai táng ở Vĩnh Lăng, Lam Kinh, Thọ Xuân, Thanh Hóa. Bài Văn bia trên bia Vĩnh Lăng của Hành khiển Nguyễn Trãi biên soạn đã ca ngợi công lao của đức Thái Tổ đối với đất nước, đối với dân tộc. Đời sau cũng tôn vinh ông là anh hùng dân tộc do công lao giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước khỏi ách thống trị của ngoại bang và đã đề ra những chính sách kinh tế, xã hội, chính trị, quân sự, văn hóa, Pháp luật để xây dựng và phát triển đất nước trong thời hòa bình, đặt nền tảng để sau này cháu ông là Lê Thánh Tông xây dựng và phát triển Đại Việt thành một cường quốc, Đại Việt lên đỉnh cao nhất của chế độ quân chủ tập quyền phong kiến, đó là giai đoạn nhà Lê Sơ (1428-1527).