I

.

  Dù trong những ngày chiến tranh binh lửa nhưng ban đêm kinh thành Huế tương đối yên tĩnh. Toàn kinh thành chìm trong bóng đêm mịt mùng đen sẫm. Trên trời, màn nhung đen như tấm thảm mênh mông với vô số những vì sao lấp lánh. Dòng sông Hương vẫn thản nhiên tuôn nước ra cửa Thuận An. Núi Ngự Bình xa mờ sương phủ. Gió thổi đêm khuya xạc xào cây lá.

  Tư dinh của quan phụ chính Tôn Thất Thuyết cũng chìm trong bóng đêm và cây lá che phủ. Trong căn phòng rộng sang trọng của phủ le lói ánh sáng của những ngọn đèn dầu. Quan Phụ chính Tôn Thất Thuyết và phó Phụ chính Nguyễn Văn Tường ngồi đối diện với nhau trên hai ghế tràng kỷ màu nâu khảm ngọc trai, giữa là một chiếc bàn lớn màu nâu cũng khảm trai. Trên bàn đặt bộ ấm trà màu sứ trắng có hoa văn xanh. Hai người uống hết chén này đến chén khác và trầm ngâm suy nghĩ. Cuối cùng Tôn Thất Thuyết đặt chén xuống và nói:

-Sau khi Tự Đức chết, phe chủ chiến của chúng ta thuận lợi. Chúng ta đang ra sức tập hợp lực lượng, khuyến khích, giúp đỡ các đội quân ứng nghĩa của bách tính chống Pháp. Tuy vậy, tình hình ngày càng khó khăn trầm trọng. Sau lục tỉnh Nam Kỳ đã mất, bây giờ mất thêm Bắc Kỳ. Kinh thành Huế hiện nay không còn được phòng thủ nữa và cũng chưa đủ sức để phòng thủ, giặc đã ở ngoài thành, chúng muốn vào lúc nào cũng được. Sau Hiệp định Hác măng, ta mất Bắc Kỳ và nhiều nơi khác, đẩy lực lượng của triều đình chống Pháp ngoài miền Bắc như của Phò mã Hoàng Kế Viêm, Trương Quang Đản, Ngô Tất Ninh, Nguyễn Thiện Thuật, Lưu Vĩnh Phúc vào thế bất lợi. Chống Pháp lúc này thành ra chống lại Hiệp ước, chống lại triều đình, những lực lượng yêu nước kháng Pháp lại bị đẩy vào thế bất trung. Ngài có kế sách gì để lúc này vừa yêu nước chống giặc lại là trung với vua không?

 

Nguyễn Văn Tường uống thêm một chén trà, đặt chén xuống và nói:

-Chỉ còn cách tìm một vị vua yêu nước chống Pháp thì mới thống nhất được yêu nước với trung quân là một mà thôi.

  Tôn Thất Thuyết nói:

-Ngài nói chí phải. Nhưng tìm đâu cho được một vị vua như vậy trong số hoàng tộc thân vương, như trường hợp vua Dục Đức thì…

  Nhắc đến Dục Đức, hai ông lại uống trà, trầm ngâm suy nghĩ và nhớ lại…

  “Vua Thiệu Trị là hoàng đế thứ ba của nhà Nguyễn, sau Minh Mệnh, tại vị từ 1841 đến năm 1847. Tự Đức là con cả của Thiệu Trị, tại vị từ năm 1847 đến năm 1883, có 300 cung nữ nhưng không có con, bèn nuôi con nuôi. Nguyễn Phúc Ưng Chân là con thứ hai của Thụy Thái Vương Nguyễn Phúc Hồng, em Tự Đức, được Tự Đức nhận làm con nuôi. Nguyễn Phúc Ưng Chân đã có ý thân Pháp từ khi chưa lên ngôi. Năm 1881, Ưng Chân đã chuyển nhiều tài liệu của Đại Nam cho trú sứ (lãnh sự) Pháp ở Huế là Rơ hơ nác tơ. Ngày 19 tháng 7 năm 1883, Nguyễn Phúc Ưng Chân được lên ngôi khi Tự Đức vừa chết, đế hiệu Dục Đức. Vừa lên ngôi, Dục Đức tự sửa chữa di chúc của Tiên đế Tự Đức, có đại tang mà vẫn mặc áo màu, không mặc đồ tang theo nghi lễ, thông dâm với cung nữ của Tiên đế, đặc biệt tỏ ra gắn bó với giặc Pháp, tự tiện đưa một giáo sĩ Pháp vào hoàng thành. Phái chủ chiến không thể dung thứ cho một vị vua vừa lộng hành, vừa thân Pháp. Ngày 23 tháng 7 năm 1883, tại điện Cần Chánh, Tôn Thất Thuyết hạ lệnh:

-Quân cấm vệ đâu.

-Dạ.

-Bắt 10 tên tay chân của Dục Đức hạ ngục.

-Dạ, tuân lệnh quan phụ chính.

Trần Tiễn Thành, đại thần của Dục Đức can ngăn:

-Không được, quan phụ chính hành động thận trọng.

Tôn Thất Thuyết quát:

-Ông cũng có tội giúp vua chữa di chiếu, còn nói gì nữa.

Quan ngự sử Phan Đình Phùng lên tiếng:

-Hạ quan phản đối.

Tôn Thất Thuyết nói lớn:

-Lính đâu.

-Dạ.

-Lột áo mũ của Phan Đình Phùng, cách chức đuổi về quê.

-Ngài Nguyễn Văn Tường đâu.

-Có hạ quan.

-Ngài viết bản luận tội vua Dục Đức và đưa cho các đại thần ký tên vào để gửi lên Từ Dụ Thái hoàng thái hậu, đề nghị phế truất.

-Hạ quan tuân lệnh.

  Sau khi Nguyễn Văn Tường viết xong tờ luận tội, đưa cho các đại thần trong Hội đồng Phụ chính ký tên. Trần Tiễn Thành và các đại thần khiếp sợ, đều ký tên vào tờ luận tội Dục Đức, gửi lên xin chỉ dụ của Thái hoàng Thái hậu. Thái Hoàng Thái Hậu đồng ý. Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường ra chỉ dụ phế truất Dục Đức ngày 23 tháng 7 năm 1883. Dúc Đức ở ngôi được 3 ngày, bị giáng xuống làm Thụy Quốc Công, bị giam vào ngục và không được ăn uống. Ngày 6 tháng 10 năm 1883 Dục Đức chết vì đói, thọ 32 tuổi, táng ở An Lăng".

  Tôn Thất Thuyết ngừng dòng suy tưởng, bê chén nước uống và nói tiếp:

-Sau Dực Đức, chúng ta đã đưa Nguyễn Phúc Hồng Dật, con thứ 29 của Thiệu Trị, tức là em Tự Đức, sinh năm 1847, được Tự Đức phong là Lãng Quốc Công, đế hiệu là Hiệp Hòa lên ngôi. Nhưng ngựa theo đường cũ, Hiệp Hòa lại muốn  nhận sự bảo trợ của Pháp. Đối với chúng ta, Hiệp Hòa có ý muốn tước bỏ binh quyền của chúng ta bằng cách điều ta sang làm Thượng thư Bộ binh, còn ngài sang làm Thượng thư Bộ lại.

  Nguyễn Văn Tường nói:

-Theo tin mật báo, Hiệp Hòa đã bí mật tìm sự hỗ trợ của Khâm sứ Pháp Đơ săm pơ để có lực lượng chống lại hai chúng ta. Tuy nhiên, khi ký Hiệp ước Hác măng, dưới con mắt của dân chúng và các lực lượng yêu nước, Hiệp Hòa chỉ là kẻ bán nước, uy tín của nhà vua và của triều đình tổn thương nghiêm trọng, trở thành tội đồ của lịch sử.

  Tôn Thất Thuyết nói:

-Càng tổn thương uy tín hơn khi Hiệp Hòa nghe lời Khâm sứ Pháp, ra lệnh cho các lực lượng chống Pháp ở Bắc Kỳ như Hoàng Kế Viêm, Trương Quang Đản, Lưu Vĩnh Phúc, Ngô Tất Ninh, Nguyễn Thiện Thuật phải bãi binh, giao Bắc Kỳ cho Pháp. Hiệp Hòa và triều đình khi ký và sau hiệp ước Hác măng đã hoàn toàn bán nước, làm tay sai cho giặc.

  Nguyễn Văn Tường thúc dục:

-Chúng ta nên ra tay đi. Nếu Hiệp Hòa và Pháp ra tay trước sẽ hỏng cả đại sự cứu nước, còn chúng ta sẽ bị sát hại.

  Tôn Thất Thuyết nói:

-Chờ có chứng cớ xác thực ta sẽ ra tay ngay.

  Từ đó khi gặp vua Hiệp Hòa, Tôn Thất Thuyết không chịu quỳ lạy, thường to tiếng với Hiệp Hòa cốt để thúc ép Hiệp Hòa hành động chống lại hai quan Phụ chính. Quả nhiên, Hiệp Hòa lo sợ, viết một bức thư cầu cứu tòa Khâm sứ Pháp tìm cách hạ sát hai quan Phụ chính. Thư viết đóng dấu của Hiệp Hòa và đưa cho Hồng Sâm, bí thư riêng và là anh em thúc bá với Hiệp Hòa mang sang tòa Khâm sứ. Một quan nội giám là Đạt biết được, báo cho Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường. Hai quan Phụ chính sai người đón đường bắt được Nguyễn Phúc Hồng Sâm và hộp sơn son trong đựng thư của Hiệp Hòa. Trưa ngày 29 tháng 11 năm 1883, Tôn Thất Thuyết ra lệnh đóng hết cửa hoàng thành và nhóm họp triều đình. Tôn Thất Thuyết đưa thư ra trước đình thần và nói:

-Hoàng thượng đã tư thông với khâm sứ Pháp nhằm bức hại đại thần.

  Các đại thần xem thư gửi Khâm sứ Pháp có đóng dấu của nhà vua. Hiệp Hòa không thể chối cãi được. Tôn Thất Thuyết nói thêm:

-Ngoài tội cấu kết với giặc, hoàng thượng còn phạm tội tham lam công quỹ, không chịu nghe lời khuyến cáo của các quan phụ chính. Các quan đại thần có lời tấu gì không?

  Nguyễn Văn Tường nói:

-Hoàng thượng tội đã rành rành, không xứng đáng là vua nữa. Ngài hãy tuyên bố thoái vị đi.

  Tôn Thất Thuyết gọi:

-Giám quan đâu.

-Dạ, có hạ quan.

-Ngài hãy thảo chiếu thoái vị và cho đóng dấu vào.

-Tuân lệnh.

Chiếu thoái vị thảo xong, Hiệp Hòa đóng dấu vào văn bản, sau đó rời khỏi điện Cần Chánh dưới sự giám sát của binh sĩ và của Ông Ích Khiêm. Hiệp Hòa về đến nội cung thì Trần Xuân Soạn và một bát thuốc độc đã chờ sẵn. Hiệp Hòa buộc phải uống hết. 16 giờ về đến tư dinh thì vua tắt thở. Bấy giờ là ngày 30 tháng 11 năm 1883, Hiệp Hòa thọ 36 tuổi. Mấy hôm sau, viên bí thư riêng của vua là Nguyễn Phúc Hồng Sâm cũng bị chém vì tội đồng lõa với Hiệp Hòa, vì từng đề đạt với vua giết hai quan Phụ chính. Phụ chính Trần Tiễn Thành không chịu ký vào biên bản phế vua, Tôn Thất Thuyết cho lính đến tận nhà đâm chết. Tuy Lý Vương vâng lệnh Hiệp Hòa giao thiệp với Khâm sứ Pháp hoảng sợ, đem vợ con chạy ra cửa Thuận An để nương nhờ Pháp nhưng dọc đường bị bắt và bị đày ra Quảng Ngãi. Phe chủ hòa thân Pháp bị phe chủ chiến chống giặc giáng những đòn mạnh, hoang mang hoảng loạn tinh thần.

  Hiệp Hòa chết, Tôn Thất Thuyết phải chọn một vua mới kế vị. Nguyễn Văn Tường bàn với Tôn Thất Thuyết:

-Để tránh một vị vua lớn tuổi, thường lo sợ mà đi kết giao với Pháp, nay ta nên chọn một vị vua nhỏ tuổi. Ngài định chọn ai?

-Tôn Thất Thuyết đáp:

-Tự Đức còn hai người con nuôi nhỏ tuổi nữa, một người là Nguyễn Phúc Ưng Đăng, hai là Nguyễn Phúc Ưng Kỷ, cả hai là con của em Tự Đức là Nguyễn Phúc Hồng Cai và bà phủ thiếp Bùi Thị Thanh. Có thể chọn Nguyễn Phúc Ưng Đăng, sinh năm 1869, năm nay 14 tuổi, tính khí ôn hòa, lễ phép, ham văn chương, có thể nghe lời các quan phụ chính.

Nguyễn Văn Tường đáp:

-Cứ làm như vậy đi.

Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường đến tư dinh mời Nguyễn Phúc Ưng Đăng về làm vua. Ưng Đăng cả sợ nói:

-Ta còn non trẻ, sợ không kham nổi việc lớn.

  Tôn Thất Thuyết tâu:

-Ngài lên ngôi là ý của Tiên đế Tự Đức. Di chiếu của Tiên đế đã chọn ngài làm hoàng tử thứ ba, còn nay là mệnh trời, xin ngài lấy tôn miếu, xã tắc làm trọng.

chvua-ham-nghi-anh-phuc-1655130544.jpg

Vua Hàm Nghi - ảnh phục dựng  Nguồn: vi.wikipedia.org

 

  Vậy là Nguyễn Phúc Ưng Đăng bị hai quan Phụ chính ép buộc lên ngôi vua. Ngày 2 tháng 12 năm 1883, vua mặc áo thêu con mãng (khi đó chưa may xong mũ cửu long, áo bào vàng và đai ngọc) đến điện Cần Chánh nhận ngọc tỉ ấn vàng truyền quốc lên ngôi, đế hiệu Kiến Phúc. Khi đó vua mới tròn 15 tuổi. Mọi công việc đều do hai quan Phụ chính Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường quyết định.

  Một ngày giữa tháng tư năm Giáp Thân (1884), Kiến Phúc và hai quan Phụ chính đang thiết triều ở điện Cần Chánh thì có quan nội giám vào báo:

-Dạ, bẩm hoàng thượng và hai quan Phụ chính, có quan Kinh lược sứ Bắc Kỳ Ngô Tất Ninh về kinh muốn vào yết kiến.

  Tôn Thất Thuyết nói:

-Cho vào ngay.

-Dạ.

  Ngô Tất Ninh vào quỳ hành lễ:

-Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.

-Kính chào hai quan Phụ chính.

  Vua Kiến phúc nói:

-Ái khanh bình thân.

-Đa tạ hoàng thượng.

Khi Ngô Tất Ninh đứng dậy, Tôn Thất Thuyết hỏi:

-Tình hình chiến sự Bắc Kỳ thế nào rồi? Thành Sơn Tây của Hoàng Kế Viêm và Lưu Vĩnh Phúc còn hay mất?

  Ngô Tất Ninh đáp:

-Dạ bẩm hoàng thượng và hai quan Phụ chính, ngày 25 tháng 9 năm 1883, Cuốc bê lên làm Phó Đô đốc thay cho Hác măng về nước. Cuốc bê đã dùng 6.000 quân cùng các sĩ quan như trung tá tham mưu trưởng Mai gơ rét, đại úy tùy viên quân sự Ra ven, đại úy Đơ dông gi rơ và đại úy Sin ve tơ re tấn công thành Sơn Tây ngày 11 tháng 12 năm 1883. Trong thành có 5.000 quân của Lưu Vĩnh Phúc, Hoàng Kế viêm có 5.000 quân ở ngoài thành. Dưới tầm đại bác dữ dội của quân Pháp, quân Cờ Đen vẫn chiến đấu ngoan cường. Nhưng ngày 16 tháng 12 năm 1884, tường thành phía tây vỡ, quân Pháp tràn vào. Lưu Vĩnh Phúc đành rút quân về Hưng Hóa. Quân Cờ Đen chết và bị thương 1.000 người, quân Pháp chết 100 lính, 350 lính bị thương, 5 sĩ quan chết, 22 sĩ quan bị thương. Đây là trận giao chiến lớn nhất và thiệt hại lớn nhất kể từ 1873 đến nay trong chiến tranh của Pháp - Bắc Kỳ.

  Tôn Thất Thuyết hỏi:

-Còn Hoàng Kế Viêm rút về đâu?

-Dạ, Hoàng Kế Viêm đóng quân ở Vân Chủng gần thành Sơn Tây mà không chi viện cho quân Cờ Đen của Đề đốc Lưu Vĩnh Phúc. Phò mã sau đó đã rút về Thanh Sơn, Phú Thọ. Ngày 12-tháng 4 năm 1884, Phò mã đánh nhau với Pháp ở Hưng Hóa. Sau trận này Hoàng Kế Viêm rút quân về Huế. Nguyễn Quang Bích lập căn cứ chống Pháp ở Yên Bái. Quân Cờ Đen rút về Tuyên Quang.

  Nguyễn Văn Tường hỏi:

-Ngài Kinh lược sứ, tình hình chiến sự ngoài Bắc Kỳ giữa giặc Pháp và quân Mãn Thanh thế nào rồi?

-Dạ bẩm hoàng thượng và hai quan Phụ chính, quân Thanh do các tướng Dương Cảnh Tùng, Diên Húc, Tổng đốc Quảng Tây, tướng Hoàng Quế Lan, bộ tướng của Diên Húc đem 5 vạn quân tràn vào, giành giật miền Bắc Đại Nam với quân Pháp. Ngày 7 tháng 3 năm 1884, 1 vạn quân Thanh do Hoàng Quế Lan chỉ huy đã giao chiến với 6.300 quân Pháp, 55 khẩu đại bác, 6 tàu chiến do Sác lơ tê ô đo Mi lô chỉ huy cùng các sĩ quan Pháp Lui Bơ riên đơ lơ, Phơ ra xi Đơ ne gơ ri ê đã giao chiến ở thành Bắc Ninh. Quân Pháp trội về pháo binh. Đến ngày 12 tháng 3 năm 1884, quân Thanh thất bại. Quân Pháp chiếm thành Bắc Ninh. Các tướng Thanh như Hoàng Quế Lan, Giả Văn Quý, Mạc Đồng Thành, Dương Cảnh Tùng cùng quân Thanh tháo chạy về Lạng Sơn và Thái Nguyên. Trên đà thắng lợi, quân Pháp đánh chiếm luôn Thái Nguyên ngày 19 tháng 3 năm 1884, chiếm Hưng Hóa ngày 12 tháng 4 năm 1884 và chiếm Tuyên Quang. Tướng Thanh Sầm Dục Anh, tướng Cờ Đen Lưu Vĩnh Phúc kéo quân đến cứu các thành trên nhưng không kịp. Trận Bắc Ninh, quân Thanh 100 lính chết, 400 lính  bị thương.

  Nguyễn Văn Tường hỏi:

 -Ta nghe nói sau khi thua quân Pháp ở miền Bắc Đại Nam, nhà Thanh đã ký với Pháp hòa ước Thiên Tân có đúng không?

Ngô Tất Ninh trả lời:

-Bẩm hoàng thượng và hai quan Phụ chính, đúng như vậy. Do thất bại trong cuộc chiến tranh với Pháp ở miền Bắc Đại Nam, nhà Thanh buộc phải nghị hòa với Pháp. Hòa ước Thiên Tân Pháp-Thanh được ký vào ngày 18 tháng tư năm Giáp Thân 1884. Hiệp ước quy định quân Thanh rút khỏi Bắc Kỳ, cho phép quân Pháp được tự do sắp đặt công việc trên đất Đại Nam.

  Tôn Thất Thuyết lo lắng:

-Thôi, nguy rồi, Pháp chiếm ưu thế ở Bắc Kỳ, chiếm nhiều tỉnh, thành quan trọng, lại được hai hiệp ước Hác măng và Thiên Tân bảo trợ về pháp lý. Phe chủ chiến của ta ngày càng khó khăn trong việc cứu nước rồi.

  Tôn Thất Thuyết vừa dứt lời thì có quan nội giám bước vào:

-Dạ bẩm hoàng thượng, bẩm hai quan Phụ chính, tòa Khâm sứ Pháp có gửi tới một văn bản hiệp ước mới được gọi là Hòa ước Đu le Pa tơ nốt. Họ nói nếu ta không ký, chúng sẽ cho quân tràn vào đánh kinh thành Huế.

  Tôn Thất Thuyết đập bàn quát:

-Bọn mắt xanh mũi lõ này thật là quá đáng.

  Nguyễn Văn Tường nói:

-Nhưng không ký, chúng đánh vào Huế, lúc này ta chưa chuẩn bị xong lực lượng, kinh thành sẽ tan hoang, bị chúng cướp phá, hoàng gia và dân chúng sẽ chết chóc, tang thương và thảm họa.

  Tôn Thất Thuyết bảo Nguyễn Văn Tường:

-Ngài đọc xem chúng viết những gì trong đó?

  Hòa ước Pa-tơ nốt có hai văn bản, một bản viết bằng tiếng Pháp, một bản bằng tiếng Hán. Nguyễn Văn Tường đọc bản tiếng Hán và nói:

-Những điều khoản hầu hết như Hiệp ước Hác Măng năm 1883, vẫn là triều đình Huế chấp nhận sự bảo hộ của Cộng hòa Pháp trên toàn cõi Đại Nam. Cái mới của hiệp ước này là điều chỉnh lại địa giới hành chính của Ba Kỳ. Bắc Kỳ, theo hiệp ước Hác măng năm 1883 là toàn bộ miền Bắc kéo dài đến hết Thanh -Nghệ-Tĩnh, nay là toàn bộ miền Bắc đến Ninh Bình, Trung Kỳ theo hiệp ước 1883 là từ Quảng Bình đến Ninh Thuận, nay theo hiệp ước Pa tơ nốt 1884 thì từ Thanh Hóa đến Bình Thuận. Bắc Kỳ và Trung Kỳ gọi là xứ bảo hộ, còn Nam Kỳ từ Biên Hòa đến Cà Mau gọi là xứ thuộc địa của Pháp.

  Tôn Thất Thuyết im lặng. Nguyễn Văn Tường đưa hai văn bản cho vua Kiến Phúc ký rồi đưa cho quan nội giám:

-Chuyển cho Khâm sứ Pháp.

  Tôn Thất Thuyết mắt tóe lửa căm thù nhìn theo tờ hòa ước. Trong trí não của ông đang phác thảo một trận đánh quyết tử với quân Pháp tại kinh thành Huế.

  Ngay sau khi ký Hiệp ước Pa tơ nốt vài ngày, ngày 10 tháng 6 Giáp Thân (31-7-1884), vua Kiến Phúc bỗng nhiên đột ngột qua đời, tại vị mới được 242 ngày (2-12-1883 đến 31-7-1884). Thọ 15 tuổi, truy tặng thụy hiệu Duệ Nghi Hoàng Đế, an táng tại Bồi Lăng, phía trái Khiêm Lăng của vua Tự Đức, vừa là bác, vừa là cha nuôi của vua Kiến Phúc.

  Lo tang lễ cho vua Kiến Phúc xong, Nguyễn Văn Tường hỏi Tôn Thất Thuyết:

-Thưa Phụ chính binh bộ Thượng thư, bây giờ chọn ai lên ngôi được?

Tôn Thất Thuyết đáp:

-Chọn vua nào còn bé, chưa tiếp xúc với Pháp thì mới không quan hệ, không thân Pháp. Không thân Pháp thì may ra công cuộc chống Pháp mới tiến triển được.

  Nguyễn Văn Tường nói:

-Hạ quan thấy em của Kiến Phúc là Nguyễn Phúc Ưng Lịch, con thứ 5 của Kiến Thái Vương Nguyễn Phúc Hồng Cai với bà Phan Thị Nhàn là được. Nguyễn Phúc Ưng Lịch sinh năm 1871, năm nay mới 13 tuổi, có thể là vị vua chống Pháp.

  Tôn Thất Thuyết liền sai nội quan đem áo mũ, xe, kiệu đi đón Ưng Lịch về làm vua. Khi đó Ưng Lịch đang sống bần hàn với mẹ ở thôn quê. Khi gặp Ưng Lịch, quan nội giám nói:

-Thần vâng lệnh quan Phụ chính, Thượng thư bộ binh Tôn Thất Thuyết đến đón điện hạ về kinh thành lên ngôi vua.

  Ưng Lịch cả sợ đáp:

-Đó là một công việc quá sức, ta mới 13 tuổi không cáng đáng được việc lớn như vậy. Ta không nhận áo mũ đâu, các ngài hãy đi mời hoàng tử lớn tuổi hơn.

  Nội quan nói:

-Lệnh của quan Phụ chính chưa một ai dám chống lại. Nếu từ chối, thần không thể bảo đảm an toàn cho điện hạ và thân mẫu của ngài.

  Nguyễn Phúc Ưng Lịch cả sợ đành phải nhận lời. Ngày 12 tháng 6 năm Giáp Thân (2 tháng 8 năm 1884), hai hàng thị vệ đi hai bên hộ tống Ưng Lịch về điện Thái Hòa lên ngôi hoàng đế. Ưng Lịch lấy đế hiệu là Hàm Nghi.

  Trong dinh Khâm sứ Pháp ở Trung Kỳ, khâm sứ Pôn cơ hơ nác đang ngồi uống rượu với các sĩ quan, chợt có thuộc cấp vào báo:

-Dạ, bẩm Khâm sứ.

-Có việc gì không?

-Dạ bẩm, bên triều đình Huế vua Kiến Phúc đã chết. Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường là hai quan phụ chính đã lập Nguyễn Phúc Ưng Lịch là em Kiến Phúc mới 13 tuổi lên ngôi hoàng đế mới.

  Khâm sứ Pôn Cơ hơ nác tức giận:

-Tôn Thất Thuyết đã vi phạm cam kết. Đem giấy mực ra đây.

-Dạ.

  Có giấy mực, Pôn Cơ hơ nác viết công hàm cho Tôn Thất Thuyết. Tôn Thất Thuyết mở ra đọc. Công hàm viết: “Các ngài đã vi phạm cam kết rằng Nam triều lập ai lên làm vua thì phải xin phép nước Đại Pháp mới được”.

  Tôn Thất thuyết nói với Nguyễn Văn Tường:

-Ngài dùng chữ Nôm viết văn bản trả lời nó đi.

  Khâm sứ Pôn Cơ hơ nác nhận được bản chữ nôm, không chịu:

-Đem thư này đến cho Tôn Thất Thuyết.

-Dạ.

  Tôn Thất thuyết nhận được thư. Thư viết: “Ngài phải viết lại văn bản trả lời bằng chữ Hán là chữ chính thức của Nam Triều. Đồng thời, ngài phải để tất cả phái đoàn Pháp được đi cửa chính, tức cửa Ngọ Môn vào điện Thái Hòa làm lễ phong vương cho vua Hàm Nghi”.

9 giờ sáng ngày 17 tháng 8 năm 1884, phái đoàn Pháp do Khâm sứ  Pôn Cơ hơ nác dẫn đầu, tháp tùng có đại tá Gơ ri ê và thuyền trưởng Oan lác rơ me cùng 185 sĩ quan và binh lính từ tòa Khâm sứ bờ Nam sông Hương sang hoàng thành Huế. Gơ ri ê ra lệnh:

-Phải để cho toàn bộ phái đoàn Pháp đi vào cửa Ngọ Môn.

  Tôn Thất Thuyết cho người ra đáp:

-Lối chính cửa Ngọ Môn là lối chỉ giành cho hoàng đế Đại Nam đi, không ai được phép đi lối ấy.

 Hai bên dằng co nhau, cuối cùng, chỉ có 3 tên cầm đầu phái đoàn Pháp được đi cửa Ngọ Môn, còn tất cả phải đi theo cửa và đường hai bên.

chnguyen-van-tuong-1655215266.jpg

Nguyễn Văn Tường đại thần phụ chính của nhà Nguyễn. Nguồn: Internet.

 

Cuộc đấu tranh của phái chủ chiến như lập vua mới không hỏi ý kiến Pháp, như viết văn bản trả lời không bằng chữ chính thức nhà nước, không cho phái đoàn Pháp đi lối giữa của Ngọ Môn nhằm bảo vệ quốc thể cho triều đình, nhưng đã làm cho tòa khâm sứ Pháp tức giận. Pháp quyết tâm loại bỏ Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường, đập tan phái chủ chiến của triều đình Huế.

  Bấy giờ triều đình Huế chia làm hai phái. Phái chủ hòa có Trần Tiến Thành, Nguyễn Hữu Độ, Gia Hưng Quận Vương… Sau khi vua Hàm Nghi lên ngôi, phái chủ chiến do Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường đứng đầu mới nắm trọn quyền hành và đẩy mạnh việc chuẩn bị đánh Pháp. Tôn Thất Thuyết cố gắng tổ chức lại lực lượng kháng chiến ở miền Trung và miền Bắc. Ông ra lệnh cho Hoàng Kế Viêm đã về Huế sau trận Hưng Hóa (12-4-1884) quay ra hoạt động ở Sơn Tây, Trương Quang Đản hoạt động ở Bắc Ninh, Tạ Hiện hoạt động ở Nam Định, Thái Bình; Phạm Vũ Mẫn và nhạc phụ của Tôn Thất Thuyết là Nguyễn Thiện Thuật hoạt động ở Hải Dương, Hưng Yên. Tại Huế, vào tháng 1 năm 1884, Tôn Thất Thuyết đã lập đội quân Phấn Nghĩa và giao cho do Trần Xuân Soạn trực tiếp chỉ huy để sẵn sàng ứng phó ở kinh thành. Quân Phấn Nghĩa đã lên đến hàng vạn người, bí mật chuẩn bị cho ngày tổng phản công.

  Tôn Thất Thuyết còn cho xây dựng căn cứ chống Pháp. Tại Tân Sở, Cam Lộ, Quảng Trị, ông cho xây dựng chiến khu, từ đó có thể mở rộng ra miền núi, các miền trung du miền Trung với Hà Tĩnh-Nghệ An-Thanh Hóa. Tân Sở có đường từ Việt sang Lào và sang Xiêm La. Tôn Thất Thuyết cho vận chuyển lương thực, vũ khí ra Tân Sở. Tại Tân Sở duy trì 1.000 quân, 20 khẩu đại bác, cho cất giấu hơn 300.000 lạng vàng chuẩn bị cho chiến đấu lâu dài.

  Tại kinh thành Huế, Tôn Thất Thuyết cho đặt 300 khẩu thần công trên mặt thành, dựng các tấm phên đan bằng mây, tre, bọc da trâu để hạn chế bớt sự công phá của đại bác Pháp.

  Lợi dụng Pháp vừa bại trận ở Bắc Lệ, Bắc Giang với quân Cờ Đen và quân Thanh, Tôn Thất Thuyết gửi công hàm cho Pháp. Viên Khâm sứ Lơ me tơ rê đang ngồi trong dinh uống rượu cùng các sĩ quan thì có thuộc cấp vào báo:

-Dạ, có người của triều đình Huế đến trao công hàm.

-Cho vào.

  Khâm sứ Lơ me tơ rê cầm công hàm mở ra đọc. Công hàm viết: “Nhân danh đức hoàng đế Đại Nam, đòi các ngài phải rút quân khỏi Mang Cá. Đòi các ngài không được bắt bớ quan lại ở Bắc Kỳ. Hoàng đế phản đối việc khám xét tàu thuyền của người Việt Nam trên các sông, trên các cửa biển. Yêu cầu các ngài phải nộp tiền thuế khai thác các mỏ khoáng sản, than, vàng, bạc, nộp thuế buôn bán thuốc phiện".

  Lơ me tơ rê đập bàn tức giận:

-Cần phải nhanh chóng loại bỏ phái chủ chiến, loại bỏ Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường càng sớm càng tốt.

  Vừa lúc đó có viên sĩ quan phụ tá bước vào:

-Dạ bẩm Khâm sứ, có chỉ thị của ngài Bộ trưởng ngoại giao Pháp.

  Lơ me tơ rê bóc chỉ thị đọc. Chỉ thị viết: “Không thể không trừng phạt những hành vi của viên Thượng thư bộ binh nước Nam. Ngài hãy cho triều đình nước đó biết rằng chúng ta không chịu để cho ông Thuyết ở chức vụ Phụ chánh lâu hơn nữa. Ngài hãy đòi người ta bãi chức ông ấy và đưa đi xa”.

  Lơ me tơ rê uống thêm cốc săm pa nhơ và nói:

-Đã đến lúc hành động quyết liệt rồi.

  Lơ me tơ rê vừa dứt lời thì sĩ quan phụ tá vào báo:

-Dạ bẩm Khâm sứ.

-Có việc gì?

-Dạ, có ngài Đơ cuốc xi vừa được chính phủ Pháp bổ nhiệm làm toàn quyền quân sự, chính trị tại Bắc Kỳ, từ Hà Nội vào Huế muốn gặp ngài.

-Để ta ra đón ngài.

  Lơ me tơ rê ra ngoài cổng tòa Khâm sứ đón Đơ cuốc xi. Khâm sứ thấy ngoài Đơ cuốc xi còn có nhiều sĩ quan và nhiều binh lính châu Phi da đen. Lơ me tơ rê bắt tay Đơ cuốc xi. Đơ cuốc xi giới thiệu:

-Đây là ngài tiểu đoàn trưởng chỉ huy tiểu đoàn châu Phi Nét di e rơ.

  Lơ me tơ rê bắt tay Nét di e rơ. Đơ cuốc xi nói thêm:

-Tiểu đoàn châu Phi có 16 sĩ quan và 870 binh lính, một lực lượng hùng hậu tăng viện cho ngài để ngài thanh toán viên Thượng thư bộ binh Tôn Thất Thuyết.

-Xin cảm ơn các ngài.

  Lơ me tơ rê nói rồi đón Đơ cuốc xi, các sĩ quan cùng binh lính vào dinh khâm sứ, ra lệnh cho sĩ quan phụ tá:

-Đưa binh lính của tiểu đoàn châu Phi về doanh trại và cho ăn uống no say.

-Dạ, tuân lệnh.

-Còn nữa, ra lệnh cho nhà bếp chuẩn bị tiệc để ta khoản đãi ngài toàn quyền quân sự chính trị Bắc Kỳ và các sĩ quan đây.

-Dạ, tuân lệnh ngài Khâm sứ.

  Trong tiệc, sau khi chạm cốc no say, Đơ cuốc xi nói:

-Cái nút thắt của vấn đề Việt Nam là ở Huế. Ngoài tiểu đoàn lính châu Phi, tôi sẽ điều động thêm tiểu đoàn quân sơn cước do ngài Bôi nét chỉ huy gồm ba sĩ quan và 157 binh lính.

  Khâm sứ Lơ me tơ rê nói:

-Cảm ơn ngài toàn quyền quân sự chính trị Bắc Kỳ. Hiện nay tổng cộng lực lượng được ngài tăng viện cộng với lực lượng có sẵn ở Huế thì số binh lính đã có 1.024 người cùng 19 sĩ quan các cấp. Xin mời ngài toàn quyền và các ngài nâng cốc chúc cuộc hội ngộ, chúc mừng thắng lợi loại trừ được phe chủ chiến, loại trừ được Tôn Thất Thuyết của triều đình Huế.

 Cả bọn nâng cốc tràn săm pa nhơ, chạm cốc và cạn. Đơ Cuốc xi nói:

-Ta sẽ cho mời Tôn Thất Thuyết đến đàm phán và mai phục bắt ông ta ngay tại hội nghị.

  Lơ me tơ rê nói:

-Hay, kế hoạch của ngài đỡ tốn xương máu và thật gọn ghẽ nhanh chóng.

  Đơ cuốc xi gửi công hàm cho Tôn Thất Thuyết. Tôn Thất Thuyết mở công hàm đọc. Công hàm viết: “Ngài hãy mở cửa Ngọ Môn để toàn bộ phái đoàn Pháp đi theo con đường giữa để vào điện Cần Chánh thương nghị”.

  Tôn Thất Thuyết đáp bằng thư. Đơ cuốc xi mở thư đọc. Thư viết: "“Cửa Ngọ Môn lối giữa là nơi chỉ giành cho hoàng đế Đại Nam. Ngài là đại diện cho Thủ tướng Pháp nên được phép đi, còn tất cả phải đi cửa khác”.

  Trong cuộc đàm phán, Tôn Thất Thuyết chỉ để cho Nguyễn Văn Tường và Phạm Thận Duật đi hội nghị, còn Tôn Thất Thuyết cáo bệnh không đi. Đơ cuốc xi nói:

-Bác sĩ Mu gin đâu?

-Dạ, có thuộc hạ.

-Ngài sang Tử cấm thành chữa bệnh cho quan phụ chính và bảo ông ấy ốm thì cũng phải nằm cáng mà đi thương thuyết.

-Dạ, tuân lệnh ngài toàn quyền.

  Hai giờ sau, bác sĩ Mu gin về và nói:

-Bẩm quan toàn quyền, ngài Tôn Thất Thuyết đuổi tôi về, không cho khám bệnh, cũng không chịu nằm cáng sang đây.

  Đơ Cuốc xi nói với Nguyễn Văn Tường và Phạm Thận Duật:

-Nếu các ngài muốn yên ổn thì trong ba ngày phải nộp 200.000 thỏi vàng, 200.000 thỏi bạc, 200.000 francs. Báo với vua Hàm Nghi khi phái đoàn Pháp vào triều đình thì phải bước xuống ngai vàng ra đón tiếp.

  Nguyễn Văn Tường và Phạm Thận Duật tức giận cho sự  ngạo mạn, láo xược, tham lam của tên thực dân cướp biển. Phạm Thận Duật đập bàn quát:

-Ngài từ xa đến là khách. Khách cậy thế mạnh láo xược với chủ là đạo lý gì vậy?

  Nói xong, Nguyễn Văn Tường và Phạm Thận Duật cùng phái bộ triều đình bỏ thương thuyết ra về. Thấy Tường và Duật về trong sự tức giận, Tôn Thất Thuyết nói:

-Đơ Cuốc xi và bọn cướp biển không có lòng hòa đàm, chúng chỉ kiếm cớ gặp chúng ta để sỉ nhục và đòi hỏi. Mục tiêu của chúng là thanh trừ phái chủ chiến, buộc chúng ta phải hoàn toàn khuất phục. Chuyện đã đến mức này thì chúng ta phải hành động thôi.

  Vừa lúc đó có lính do thám về báo:

-Dạ, bẩm quan Phụ chính, theo tin tức thì đêm 4 tháng 7 âm lịch, quân Pháp sẽ họp nhau ở tòa khâm sứ để khao thưởng quân lính và sĩ quan có nhiều chiến công trong việc xâm lăng Bắc Kỳ, mừng Bắc Kỳ đã hoàn toàn thuộc tay người Pháp.

  Tôn Thất Thuyết nói:

-Tốt lắm, nhân cơ hội chúng đang yến tiệc, ta sẽ tấn công bất ngờ tiêu diệt chúng.

  Tôn Thất Thuyết ra lệnh:

-Tướng quân Lê Trực đâu.

-Dạ có thuộc tướng.

-Đêm 4 tháng 7, tướng quân cho tất cả đại bác ở trên thành chĩa nòng hướng về tòa khâm sứ và đồn Mang Cá.

-Thuộc tướng tuân lệnh.

-Tướng quân Tôn Thất Lệ đâu.

-Có thuộc tướng.

-Tướng quân chỉ huy 2.000 quân, nửa đêm vượt đến Nam sông Hương cùng với Thủy sư Đô đốc Hiệp Lý đánh vào tòa khâm sứ.

-Thuộc tướng tuân lệnh.

-Tướng quân Trần Xuân Soạn đâu.

-Có thuộc tướng.

-Tướng quân chỉ huy 2.000 quân tại kinh thành và Bắc sông Hương tấn công vào Trấn Bình Đài, tiêu diệt quân Pháp mới từ Hà Nội vào đang đóng tại đây.

-Thuộc tướng tuân lệnh.

-Tướng quân Tôn Thất Đạm.

-Có hài nhi.

-Tướng quân đem 1.000 quân mai phục ở cầu Thanh Long đánh chặn quân của tên đại tá Péc nốt qua cầu từ Mang Cá chi viện cho tòa khâm sứ.

-Hài nhi tuân lệnh.

  Ngài Phụ chính Nguyễn Văn Tường.

-Có hạ quan.

-Ngài hãy chỉ huy quân cấm vệ bảo vệ hoàng thượng và hoàng gia. Chẳng may kinh thành thất thủ thì hộ giá chạy ra sơn phòng Tân Sở Quảng Trị, ta sẽ đem quân hộ vệ phía sau.

-Hạ quan tuân lệnh.

chtrxsoan-1655295903.jpg
Trần Xuân Soạn (1849-1923), là tướng và nhà yêu nước dưới thời nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam. Nguồn: nhanvatlichsu.org

 

-Tướng quân Tôn Thất Thiệp đâu.

-Dạ, có hài nhi.

-Dưới sự chỉ huy của quan phụ chính Nguyễn Văn Tường, tướng quân trực tiếp bảo vệ an toàn cho hoàng thượng, không được mảy may sơ xuất, có thể phải hy sinh vì hoàng thượng.

-Dạ, hài nhi tuân lệnh.

-Còn ta sẽ chỉ huy đội quân thứ ba gồm 1.000 quân ở sau Đại Nội, là quân dự bị để chi viện và trợ chiến cho các cánh quân.

-Ta ra lệnh, bắt đầu tấn công giặc Pháp rửa nỗi hận cho các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh cho nước nhà và cho triều đình suốt gần 30 năm nay.

-Thưa quan Phụ chính, chúng tôi đã rõ.

Đêm 4 tháng 7 âm lịch năm 1885, lúc canh tư đang chuyển sang canh năm, Tôn Thất Thuyết ra lệnh cho đại bác trên thành bắn vào Trấn Bình Đài làm hiệu lệnh. Bên kia sông Hương, quân triều đình cũng nổ súng và tấn công vào tòa khâm sứ. Ở đồn Mang Cá, Trần Xuân Soạn cho đốt doanh trại quân Pháp. Khắp kinh thành Huế, tiếng đại bác, tiếng súng hỏa mai, tiếng reo hò của quân triều đình vang động đất trời. Tòa khâm sứ cháy dữ dội, khói lửa bốc cao sáng cả một vùng trời, lửa thiêu cháy cả trại lính, cả chuồng ngựa. Lính Pháp đang ngủ, kẻ bị đạn chết, kẻ bị chết cháy, kẻ còn sống vội vơ lấy súng bắn ra bên ngoài. Tòa Khâm sứ và đồn Mang Cá cách nhau 2.500m, cách nhau bởi sông Hương nên không cứu ứng cho nhau được. Các trại lính của đại đội 27, đại đội 30 của tiểu đoàn thủy quân lục chiến bị cháy cùng một lúc, cháy hết đồ đạc và nhà hậu cần.

  Đơ cuốc xi chỉ huy 160 lính cố thủ ở cửa số 2 tòa khâm sứ. Nhờ có hệ thống điện thoại, Đơ cuốc xi ra lệnh:

-Tất cả xuống hầm tránh thương vong, chờ đến sáng quân Việt hết đạn chúng ta sẽ phản công.

-Rõ, thưa quan toàn quyền, tất cả xuống hầm tránh đạn và cố thủ.

  Đơ Cuốc xi vừa ra lệnh cho quân Pháp ở các nơi, vừa chỉ huy 160 lính Pháp chiến đấu ngăn chặn cuộc tấn công của 1.600 lính Việt vào cửa số 2 tòa Khâm sứ. Súng trường mạnh của Pháp cùng 4 khẩu đại bác đã ngăn chặn được cuộc tấn công của quân Việt. Quân Việt không có vũ khí hiện đại, lại ở cự ly xa nên hỏa lực quân Việt không hiệu quả. Cho nên, sau gần hai canh giờ tấn công mà lực lượng quân Pháp ở đồn Mang Cá, ở Trấn Bình Đài và ở tòa khâm sứ hầu như còn nguyên vẹn cả người và vũ khí. 5 giờ sáng này 5 tháng 7 âm lịch (23-3-1885), qua điện thoại, Đơ Cuốc xi ra lệnh:

-Pháo hạm Da ven len hãy bắn vào kinh thành, dọn đường cho quân ta phản công.

-Tướng Péc nốt chỉ huy 3 cánh quân tiến vào kinh thành Huế.

-Tuân lệnh toàn quyền.

  Pháo hạm Da ve len của Pháp dưới sông Hương bắt đầu nã đạn dữ dội vào kinh thành, nhiều cung điện, thành lũy và lâu đài bị phá hủy, lửa cháy dữ dội. Rất nhiều lính Việt đã hy sinh. Trong khi đó một cánh quân Pháp đã tràn vào chợ Đông Ba, cửa Thượng Tứ, cửa Chánh Đông, cửa Chánh Tây, cửa An Hòa. Cánh thứ hai của Pháp từ cầu Thanh Long vượt sông Ngự Hà tiến vào khu Lục Bộ, tấn công vào cửa Hiền Nhơn vào Đại Nội. Toán thứ ba vượt cầu Kho tấn công vào vườn Thượng Uyển, tiếp ứng cho cánh thứ hai ở cửa Hiền Nhơn, cửa phía Đông Đại Nội.

  Trên thành quân Việt sử dụng các vọng lâu làm pháo đài chặn đánh quân giặc dữ dội. Quân Việt bắn thủng ruột thiếu úy Pơ li cô tơ. Một pháo đài chứa chất cháy của quân Việt bị trúng đạn, pháo đài bốc cháy, toàn bộ lính và chỉ huy ở đây đã hy sinh. Phía tòa sứ quán Pháp, dưới sự chỉ huy của Sơ ru tơ re và Bô mét, Se dốt đã tiến được vào thành. Kinh thành Huế thất thủ. Hai đạo quân Việt trong và ngoài tan vỡ tháo chạy ra cửa Đông Ba. Quân Pháp từ cửa Trài bao vây và tàn sát, 1.500 lính Việt hy sinh.

  Quân Pháp vào thành hạ lá cờ vàng của triều đình, treo cờ tam tài lên kỳ đài. Quân Pháp tiếp tục tiến vào Đại Nội, ra sức đốt phá, tàn sát, cướp bóc, hãm hiếp không từ một ai. Chúng đốt công sở bộ lại, bộ binh và kho thuốc súng, chia nhau chiếm giữ các kho tàng, cung điện, cướp bóc vàng bạc và số tiền hơn 1 triệu quan. Nguyễn Văn Tường vào cung đề nghị vua Hàm Nghi xuất cung. Hữu quan Hồ Văn Hiếu cùng Tôn Thất Thiệp hộ giá đưa hoàng gia ra cửa Tây Nam. Từ Dụ Thái hoàng thái hậu bảo Nguyễn Văn Tường:

-Khanh ở lại lo chuyện giảng hòa với người Pháp.

-Tâu Thái hoàng thái hậu, việc cấp bách bây giờ là thần phải bảo vệ hoàng thượng và hoàng gia an toàn ra chiến khu.

Vừa khi đó, Tôn Thất Thuyết đem 1.000 quân đến hộ vệ Hàm Nghi và hoàng gia chạy ra sơn phòng Tân Sở, Quảng Trị.

  Trong Tử cấm thành, Đơ cuốc xi ra lệnh:

-Truy kích hoàng gia, Tôn Thất Thuyết và vua Hàm Nghi.

-Tuân lệnh quan toàn quyền.

   Đơ Cuốc xi hỏi sĩ quan tham mưu:

-Quân ta chết bao nhiêu?

-Dạ, quân ta chết 16 lính, 80 người bị thương.

-Quân Việt chết bao nhiêu?

-Dạ, quân Việt chết 1.500 lính trong số 3 vạn quân tham gia tấn công chúng ta.

-Chiến lợi phẩm thu được những gì, bao nhiêu?

-Dạ, ta chiếm được kho vũ khí có 812 khẩu thần công, 16.000 súng hỏa mai, ta lấy được 2,6 tấn vàng, 30 tấn bạc, 228 viên kim cương, 266 món trang sức nữ nạm kim cương, hạt trai, hạt ngọc, 271 đồ bằng vàng trong cung của bà Thái hoàng thái hậu Từ Dũ và tại các miếu thờ các vua. Tất cả các thứ quý giá có thể mang đi được ta đã mang đi hết. Pháp chiếm khoảng 700.000 lạng bạc. Riêng số bạc, 5 lính Pháp đóng hòm 5 ngày mới xong để gửi về Pháp.

  Theo linh mục Pơ rơ si dơ, nhân chứng trực tiếp trận Pháp tấn công cướp bóc kinh thành Huế có ghi, kho tàng hoàng cung mất đi 24 triệu quan vàng và bạc. Cuộc cướp bóc của quân Pháp kéo dài suốt 2 tháng trời gây tổn hại nghiêm trọng cho kinh thành Huế, gây tai tiếng và hổ thẹn sỉ nhục cho người Pháp còn hơn cả cuộc cướp bóc cung điện Mùa Hè ở Bắc Kinh Trung Quốc của Liên quân do Anh -Pháp cầm đầu trong cuộc chiến tranh thuốc phiện lần 2. Ngày 24 tháng 7 năm 1885, Đơ Cuốc xi điện cho chính phủ Pháp: "Trị giá các quý vật bằng vàng, bạc khoảng 9 triệu quan. Đã khám phá thêm nhiều ấn, tín và kim sách đáng giá bạc triệu. Việc xúc tiến hiểu biết những kho tàng mỹ thuật rất khó khăn, vì chúng tôi không có chuyên môn. Cần cử sang đây một chiếc tàu với nhiều nhân viên thành thạo để họ mang về mọi thứ cùng với kho tàng”.

  Theo Quốc sử quán triều Nguyễn thì tại phủ nội vụ, tầng dưới có cất giữ 91.424 thỏi bạc đỉnh (1 thỏi bằng 10 lạng), 78.960 thỏi bạc đỉnh (1 thỏi 1 lạng), tầng trên cất giữ khoang 500 lạng vàng, 700.000 lạng bạc, kho gần cửa Thọ cất giữ 898 lạng vàng, 3.400  lạng bạc. Toàn bộ vàng bạc trên đã bị quân Pháp cướp đi. Trên đường truy kích Tôn Thất Thuyết, vua Hàm Nghi và hoàng gia, quân Pháp còn thu được 34 hòm bạc đựng 36.557 tiền bạc và 6 hòm đựng 196 thỏi bạc và 18.696 tiền bạc.

  Ngoài cướp bóc, quân Pháp còn tàn sát hàng vạn dân lành vô tội ở Huế. Ngày đó, đất kinh thành tràn ngập máu và trời tháng 7 cũng đỏ như máu và đột nhiên mưa gió giông lốc tầm tả, sấm sét vang lên giận dữ, gầm thét lên những tiếng rền rĩ căm hờn quân xâm lược và uất hận đau thương cho nạn nước. Ngày 5 tháng 7 âm lịch 1885, gia đình nào ở Huế cũng có người bị tàn sát. Năm 1894, Bộ lễ đã xây dựng trước hoàng thành một cái đàn âm hồn, diện tích 1.500m2, gần cửa Quảng Đức để các gia đình làm giỗ chung.

  Lại nói, ngày 5 tháng 7 năm 1885, vua Hàm Nghi rời kinh thành Huế. Lúc đầu vua đi kiệu nhưng chạy nhanh va đập, vua không chịu nổi, sau đổi sang nằm võng cho lính khiêng mà chạy. Cuối cùng vua và tam cung lục viện trải qua bao gian nan, vất vả  cũng lên được căn cứ Tân Sở, Quảng Trị ngày 9 tháng 7. Căn cứ nằm phía bên trong thành Cam Lộ. Để cản đường quân Pháp truy kích, bảo vệ hoàng gia, nhiều người đã hy sinh trong đó có tướng Tôn Thất Lệ, em của Tôn Thất Thuyết. Đang ở kinh thành phồn hoa, đô hội, triều đình kháng chiến phải lên rừng thẳm núi cao, chung quanh toàn cây  lá hoang vu, không gian vang lên những khúc nhạc rừng, tiếng chim hót, tiếng hổ gầm, tiếng voi kêu the thé vang xa. Nắng như đổ lửa. Tuy nhiên, nhiều người lần đầu thấy được cảnh hùng vĩ bao la của đất trời, rừng núi.

  Vài ngày sau, có thư của Nguyễn Văn Tường, người được Thái hoàng thái hậu Từ Dụ cho ở lại thu xếp giảng hòa với Pháp. Nguyễn Văn Tường qua trung gian của giám mục Ca sơ pác ra đơ gặp được toàn quyền Đơ Cuốc xi. Đơ Cuốc xi nói:

-Trong hai tháng ngài hãy thu xếp xong việc tam cung lục viện, vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết về lại kinh thành.

  Nguyễn Văn Tường đáp:

-Ta sẽ viết thư mời họ về, còn họ có về hay không là việc của họ.

  Đơ Cuốc xi lo lắng sự bôn tẩu của vua Hàm Nghi sẽ làm bùng lên một cuộc chiến tranh chống Pháp trên toàn cõi Đại Nam.

  Nhận được thư của Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết nói với Thái hoàng thái hậu:

-Thái hoàng Thái hậu và tam cung nên trở về kinh thành. Nơi đây không thích hợp với tam cung. Còn tôi, phái chủ chiến và Hoàng thượng sẽ tiếp tục cuộc kháng chiến chống Pháp.

  Một ngày nắng ráo, phái chủ chiến gồm Tôn Thất Thuyết, hai con là Tôn Thất Đạm, Tôn Thất Thiệp, Trần Xuân Soạn, Ông Ích Khiêm, Lê Trực, Nguyễn Phạm Tuân, Nguyễn Thúy và vua Hàm Nghi tiễn Thái hoàng Thái Hậu Từ Dụ, mẹ của Tiên đế Tự Đức và Nguyễn Đức Tông, bà Nguyễn Thái Phi, mẹ nuôi của Nguyễn Giản Tông, bà Khiêm hoàng hậu, vợ vua Dục Tông và những người cùng đi. Thái hoàng Thái hậu, bà Thái hậu, bà hoàng hậu và những người trong tam cung lục viện gạt nước mắt từ biệt vua Hàm Nghi:

-Hoàng thượng bảo trọng.

-Hoàng thượng bảo trọng.

  Vua Hàm Nghi cũng quỳ lạy Thái hoàng thái hậu Từ Dụ:

-Trẫm bất hiếu để cho Thái hoàng thái hậu và hoàng gia gian nan. Thái hoàng thái hậu bảo trọng. Mọi người bảo trọng.

  Thái hoàng thái hậu lại đỡ vua Hàm Nghi đứng dậy và nói trong tiếng khóc:

-Nước mất thì nhà tan. Vận nước gian nan. Rồi đây hoàng thượng còn phải gian nan nhiều để cứu nước. Hoàng thượng bảo trọng. Tạm biệt.

Rồi kẻ ở lại rừng xanh, người trở lại kinh thành đều gạt nước mắt phân ly. Đâu đó có tiếng hổ gầm, tiếng voi kêu, tiếng vượn hú càng làm cho cuộc phân ly bi thiết buồn não ruột. Mọi người đều biết rằng cuộc phân ly này không thể có ngày gặp lại. Sau này bà Từ Dụ có nhiều lần gửi thư cho vua Hàm Nghi khuyên cháu về nhưng nhà vua không về. Pháp treo giải thưởng 2.000 lạng bạc cho ai bắt được Tôn Thất Thuyết, 500 lạng cho ai bắt được vua Hàm Nghi. Sau hai tháng, Tôn Thất Thuyết và vua Hàm Nghi không trở lại kinh thành, Pháp cách chức Nguyễn Văn Tường và đày ông ra đảo Ta hi ti ở Thái Bình Dương. Một thời gian sau thì ông mất, thi hài đã được con cháu, thân hữu đưa về Việt Nam.

 

Ngày 14 tháng 9 năm 1885, Đơ Cuốc xi ra lệnh đưa Nguyễn Phúc Kỷ, em của Hàm Nghi lên ngôi, đế hiệu là Đồng Khánh.

  Tại Tân Sở Quảng Trị, Tôn Thất Thuyết tâu:

-Dạ, bẩm hoàng thượng, muốn đánh đuổi được giặc Pháp, hoàng thượng phải xuống chiếu Cần Vương, kêu gọi sĩ phu, văn thân và bách tính cả nước đứng dậy vũ trang chống Pháp thì may ra mới giành lại được đất nước.

  Vua Hàm Nghi đáp:

-Khanh nói phải lắm. Người đâu?

-Dạ, bẩm hoàng thượng.

-Đem bút mực ra đây.

-Dạ.

  Có bút mực, vua Hàm Nghi liền xuống chiếu Cần Vương. Chiếu Cần Vương kể lại tình chiến đấu ở kinh thành Huế giữa quân ta và quân Pháp. Kinh thành thất thủ nên xa giá hoàng thượng phải bôn tẩu, vận nước nguy nan. Chiếu Cần Vương kêu gọi văn thân, sĩ phu và toàn dân ứng nghĩa chống xâm lăng, đánh đuổi giặc Pháp, giúp vua cứu nước. Viết xong, nhà vua nói:

-Cho khắc bản và in nhiều bản gửi về tất cả các tỉnh miền Trung, miền Bắc.

-Hạ thần tuân chỉ.

  Chiếu Cần Vương hạ xuống không lâu, một hôm Tôn Thất Đạm, người bảo vệ vua vào báo:

-Bẩm hoàng thượng, có quan Ngự sử Phan Đình Phùng ở Hà Tĩnh, hưởng ứng chiếu Cần Vương đã khởi xướng khởi nghĩa khắp vùng Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa và Quảng Bình.

  Vua Hàm Nghi phấn khởi nói:

-Tuyên chỉ, phong Phan Đình Phùng chức Tán Lý quân vụ đại thần lãnh đạo các tỉnh miền Trung chống giặc.

-Thần tuân chỉ.

  Lại một hôm, Tôn Thất Thuyết vào báo với vua Hàm Nghi:

-Bẩm hoàng thượng, vùng đồng bằng Hải Dương và Hưng Yên có Tán tương quân vụ Nguyễn Thiện Thuật nổi dậy đánh Pháp, hưởng ứng chiếu Cần Vương.

-Vua Hàm Nghi nói:

-Nay truyền chỉ, phong Nguyễn Thiện Thuật làm Bắc kỳ hiệp thống quân vụ đại thần, Gia trấn Trung tướng quân.

Tôn Thất Thuyết nói:

-Thần sẽ truyền chỉ.

Một hôm Tôn Thất Thuyết nói với vua Hàm Nghi:

-Theo tin báo, ở Yên Thế, Bắc Giang có một cuộc khởi nghĩa của nông dân chống Pháp rộng lớn do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo, không biết có phải là hưởng ứng chiếu Cần Vương hay không?

  Vua Hàm Nghi đáp:

-Cứ nổi dậy chống Pháp là yêu nước, giúp vua rồi. Ái khanh xem có thể liên lạc được với Hoàng Hoa Thám để trẫm phong chức vụ, tức là giao nhiệm vụ cho Hoàng Hoa Thám.

-Thần sẽ cho người liên hệ.

  Tháng 9 năm 1885, để bảo đảm an toàn, xa giá vua Hàm Nghi dời từ sơn phòng Tân Sở, Cam Lộ, Quảng Trị về sơn phòng rừng núi Ấu Sơn, Hương Khê, Hà Tĩnh, trải qua những ngày tháng gian khổ. Nhà vua đã được nhân dân các tỉnh Quảng Trị, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An ra sức giúp đỡ. Nay do chiếu Cần Vương của ông mà các sĩ phu, văn thân và bách tính nổi dậy chống Pháp khắp các tỉnh miền Trung, miền Bắc, không sợ hy sinh, chỉ một lòng vì nghĩa lớn. Cho đến bây giờ Hàm Nghi mới nhận rõ được vai trò của ông trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc. Tên tuổi của nhà vua thành ngọn cờ của phong trào đấu tranh rộng lớn. Nhà vua ở Sơn phòng Hà Tĩnh được hơn một tháng, do Pháp lùng sục bắt vua rất gắt gao nên ngày 7 tháng 10 năm 1885, Tôn Thất Thuyết lại cho dời xa giá về Khe Ve, Tà Bảo, phủ Thanh Lạng, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình, căn cứ bên cạnh sông Nan, một nhánh quan trọng của thượng nguồn sông Gianh.

  Một ngày tháng 2 năm 1886, Tôn Thất Thuyết nói với vua Hàm Nghi và các thuộc tướng:

-Nay căn cứ đã vững chắc, phong trào Cần Vương kháng Pháp lan rộng khắp miền Trung và miền Bắc, thần nghĩ rằng cần phải thêm lực lượng bên ngoài bổ sung cho lực lượng bên trong thì phong trào càng mạnh. Cho nên thần muốn sang Trung Quốc xây dựng lực lượng, vũ khí tăng viện cho bên trong, vả lại có thể nhờ nhà Thanh là kẻ thù của Pháp giúp sức.

  Vua Hàm Nghi nói:

-Khanh hãy nghĩ lại đi. Năm 1882-1883, quân Thanh đã vào Bắc Kỳ chiến tranh với Pháp để tranh giành, đã bị quân Pháp đánh bại và phải ký hiệp ược Thiên Tân 1883, thừa nhận quyền bảo hộ của Pháp ở Bắc Kỳ và ở toàn Đại Nam. Vả lại, Trung Quốc  cũng đã và đang bị các nước, cầm đầu là Anh-Pháp đánh cho đại bại, phải ký nhiều hiệp ước bất bình đẳng, khiến Trung Quốc mất nhiều đất đai và chủ quyền độc lập. Họ không cứu được mình thì còn cứu được ai. Tốt nhất, khanh hãy ra sức hoạt động, làm cho các phong trào miền Trung, miền Bắc liên kết phối hợp với nhau, tạo nên một làn sóng mạnh mẽ nhấn chìm quân giặc thì chắc ta sẽ thắng lợi.

  Tôn Thất Thuyết nói:

-Thần đã quyết, hoàng thượng cứ để thần đi một chuyến xem sao.

  Vua Hàm Nghi im lặng. Tôn Thất Thuyết nói với hai con:

-Hai con Tôn Thất Đạm, Tôn Thất Thiệp ở nhà chăm sóc và hộ giá, bảo vệ hoàng thượng cho chu đáo.

  Tôn Thất Đạm và Tôn Thất Thiệp quỳ gối, chắp hai tay hướng về Tôn Thất Thuyết:

-Chúng con xin vâng lời phụ thân căn dặn. Mong cha đi sang nước người tự bảo trọng vì chúng con không chăm sóc được cha.

  Tôn Thất Thuyết nói với Lê Trực, Nguyễn Phạm Tuân,  Nguyễn Thúy, Nguyễn Đình Tình và Trương Quang Ngọc:

-Năm ngài ở nhà cùng Tôn Thất Đạm, Tôn Thất Thiệp hộ giá bảo vệ hoàng thượng, phải canh phòng sơn phòng cho cẩn mật. Bọn giặc Pháp thì không biết đường đất nhưng đề phòng bọn Việt gian bán vua, bán nước. Bọn này thông thạo đường sá, rất nguy hiểm.

  Lê Trực, Nguyễn Phạm Tuân, Nguyễn Thúy, Nguyễn Đình Tình, Trương Quang Ngọc cùng chắp tay cúi đầu đáp:

-Chúng thuộc tướng tuân lệnh quan Phụ chính. Quan Phụ chính đi xa nhớ bảo trọng, sớm trở về.

  Tháng 2 năm 1886, một ngày mùa xuân, sương bao phủ trắng núi đồi, tại sơn phòng Khe Ve, bên bờ sông Nan, thượng nguồn sông Gianh, Minh Hóa, Quảng Bình, vua tôi Hàm Nghi ra đưa tiễn Tôn Thất Thuyết, Trần Xuân Soạn, Ngụy Khắc Kiều sang Trung Quốc lo việc lớn. Ba người quỳ lạy vua Hàm Nghi và nói:

-Hoàng thượng nhớ bảo trọng long thể.

  Vua Hàm Nghi nói:

-Miễn lễ, các ái khanh nhớ bảo trọng, chúc thượng lộ bình an, nhanh chóng hồi hương, trở về với trẫm.

-Đa tạ hoàng thượng.

  Tôn Thất Đạm và Tôn Thất Thiệp có cảm giác như đây là cuộc chia ly không hẹn ngày xum họp. Hai người nén đau buồn quỳ lạy Tôn Thất Thuyết và nói:

-Cha nhớ bảo trọng, thượng lộ bình an, nhanh chóng trở về với chúng con.

  Tôn Thất Thuyết đỡ hai con dậy và nói, giọng run run:

-Hai con cũng phải bảo trọng và hộ giá hoàng thượng cho thật tốt.

-Dạ, hai con xin vâng.

  Lê Trực, Nguyễn Thúy, Nguyễn Phạm Tuân, Nguyễn Đình Tình và Trương Quang Ngọc chắp tay vái chào:

-Quan Phụ chính, Trần đại nhân, Ngụy đại nhân thượng lộ bình an, nhớ bảo trọng.

-Đa tạ, đa tạ, xin cáo biệt.

  Vua Hàm Nghi và các bề tôi đứng nhìn ba người khuất dần trong nẻo xa xăm của rừng núi. Những cuộc chia tay của vua tôi trong thời loạn lạc này khó mà nói trước được điều gì. Vua Hàm Nghi nhìn xa xăm và buông một tiếng thở dài buồn bã. Gió rừng buổi sáng cũng khua lá xào xạc thê lương.

  Trong phủ Toàn quyền Đông Dương tại Hà Nội, Toàn quyền Pôn bec đang ngồi bàn việc với Đơ cuốc xi. Toàn Quyền Pôn béc nói:

-Tình hình Bắc Trung Kỳ và Bắc kỳ rất rối loạn. Sau khi vua Hàm Nghi xuống chiếu Cần Vương, hầu như tất cả các tỉnh trong hai vùng đó đã nổi dậy chống lại chúng ta. Quân lực của Phan Đình Phùng từ Hà Tĩnh đã lan vào Quảng Bình, lan ra Nghệ An. Thanh Hóa có cuộc nổi dậy của Phạm Bành, Đinh Công Tráng ở Ba Đình, Nga Sơn. Hưng Yên, Hải Dương có cuộc nổi dậy của Nguyễn Thiện Thuật, ảnh hưởng của cuộc khởi nghĩa này còn lan ra Thái Bình, Nam Định, Quảng Ninh, Bắc Ninh và các vùng quanh Hà Nội, Phúc Yên. Những lực lượng này mà liên kết phối hợp với nhau thì nền cai trị ở Trung Kỳ, Bắc Kỳ của chúng ta có nguy cơ sụp đổ. Một trong những mấu chốt là muốn làm tan rã phong trào này thì phải bắt được vua Hàm Nghi hoặc là lôi kéo được Hàm Nghi theo ta vì Hàm Nghi là linh hồn, ngọn cờ của phong trào này.

  Pôn béc ngừng lại cùng Đơ Cuốc xi uống cạn hai cốc rượu săm pa nhơ. Sau khi đặt cốc xuống bàn Pôn béc nói tiếp:

-Thế cho nên tôi đã gửi một bức thư cho vua Hàm Nghi cho ông ta tạm thời làm vua bốn tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hóa.

  Pôn béc nói đến đó chợt có viên sĩ quan tùy tùng vào báo:

-Dạ, bẩm ngài toàn quyền, có thư của vua Hàm Nghi gửi ngài.

  Pôn béc nói:

-Đưa mau, ta đang chờ đợi lá thư này.

  Pôn béc bóc thư đọc. Thư viết: “Khi nước đã mất, ta thà chết trong rừng còn hơn là đầu hàng, làm vua nô lệ trong vòng cương tỏa của các ngài”.

Pôn béc tức giận tái mặt, đẩy bức thư cho Đơ Cuốc xi nói:

-Ngài đọc đi, thư trả lời của Hàm Nghi đấy.

  Đơ Cuốc xi  đọc xong nói:

-Kế hoạch dụ hàng Hàm Nghi thất bại, ngài định thế nào?

  Pôn béc nói:

-Dụ hàng không được thì ta lùng bắt Hàm Nghi vậy.

  Đơ Cuốc xi nói:

-Vấn đề là chúng ta không biết Hàm Nghi ở đâu, không biết đường mà đi vào đó bị mai phục thì chắc chết hết.

 

  Nghĩ một lúc, Đơ Cuốc xi nói:

-Ta phải qua chính người của Hàm Nghi đang ở sơn phòng Quảng Bình dẫn đường thì không bị mai phục mà còn bất ngờ thì quân bảo vệ Hàm Nghi không kịp chống đỡ. Nghe nói Hàm Nghi đang ở thượng nguồn sông Gianh.

-Ý ngài là dùng nội gian.

-Phải rồi, trong các cuộc chiến ta đánh Nam Kỳ, Bắc Kỳ, bao nhiêu kẻ người Việt vì tiền bạc, vinh thân phì gia đã phản bội tổ quốc, quê hương của họ, dẫn đường chỉ lối góp phần chiến thắng của quân ta. Thời nào cũng có bọn Pháp gian ở Pháp quốc thì ở Đại Nam  cũng vậy, thời nào cũng có bọn Việt gian tham tiền, tham chức vụ, danh lợi bán nước, bán vua. A, ta nhớ ra rồi. Có một tên là Phạm Văn Mỹ, từng là cận thần của vua Hàm Nghi đã đầu hàng ta. Nay qua người này bắt mối, mua chuộc cận vệ của Hàm Nghi chắc việc thành công. Ta  hứa thưởng cho chúng vài trăm lạng bạc, thêm chức vụ lãnh binh, tri huyện hoặc tri phủ thì bảo đảm chúng sẽ phản bội Hàm Nghi, dẫn đường vào sơn phòng cho ta.

  Pôn béc vui mừng nói:

-Ngài nói phải lắm.

  Vài ngày sau, Toàn quyền Pôn béc nói với Đơ Cuốc xi:

-Tên Phạm Văn Mỹ nói đã bắt mối được với tên đội Nguyễn Đình Tình và Lãnh binh Trương Quang Ngọc trong đội quân bảo vệ Hàm Nghi.

 Đơ Cuốc xi  cười ha hả:

-Vậy là việc lớn thành công đến nơi rồi. Vả lại, tình hình quân sự cũng rất thuận lợi cho ta bắt Hàm Nghi. Ba đạo quân chốt đường vào sơn phòng đã tan rã, Nguyễn Phạm Tuân đã tử trận và đội quân của ông ta đã bị bị xóa sổ, quân của Lê Trực tan rã sau khi ông ta ra đầu thú để cứu vợ con bị ta bắt, còn Tôn Thất Đạm đang ngoài Hà Tĩnh, đại diện cho vua Hàm Nghi liên hệ với Cần Vương Trung Kỳ và Bắc Kỳ. Tôi cam đoan rằng lực lượng bảo vệ Hàm Nghi hiện nay rất mỏng.

Và hai tên thực dân chạm cốc:

-Chúc việc lớn thành công.

  Tại sơn phòng Khe Ve, Tà Bảo, tổng Thanh Lạng, Minh Hóa Quảng Bình, bóng đêm bao phủ mịt mùng khắp sông Nan và thượng nguồn sông Gianh, chỉ còn nghe tiếng gió thổi lá cây xào xạc trút lá, tiếng côn trùng rỉ rả buồn thê lương trong đêm khuya. Chợt có một toán lính súng lăm lăm trong tay tiến vào căn cứ. Có tiếng quân ngự lâm quát:

-Ai, dừng lại, các ngươi đi đâu?

  Dưới ánh đuốc lập lòe, tướng ngự lâm quân Tôn Thất Thiệp nhìn thấy đi đầu toán lính là suất đội Nguyễn Đình Tình và Lãnh binh của Hàm Nghi là Trương Quang Ngọc. Tôn Thất Thiệp hỏi:

-Đêm khuya, hai ngài đem quân tiến vào hành cung của hoàng thượng làm gì vậy?

  Nguyễn Đình Tình đáp:

-Thưa tướng quân, có thư khẩn của quan Phụ chính Tôn Thất Thuyết từ Trung Quốc gửi về, phải trình hoàng thượng gấp.

  Tôn Thất Thiệp không nghi ngờ, mở đường cho Nguyễn Đình Tình và Trương Quang Ngọc đi vào. Khi vừa đến gần nhà ở của vua Hàm Nghi, bọn lính cùng Nguyễn Đình Tình, Trương Quang Ngọc bất ngờ nổ súng bắn chết tiểu đội ngự lâm quân và cả Tôn Thất Thiệp. Cha con Thống chế Nguyễn Thúy nghe tiếng động chạy ra cũng bị bắn chết. Vua Hàm Nghi đang ngủ, vội vùng dậy thì đã bị Nguyễn Đình Tình và Trương Quang Ngọc bắt. Dưới ánh đuốc, vua Hàm Nghi nhận ra hai kẻ bắt mình là Nguyễn Đình Tình, Trương Quang Ngọc, những kẻ hầu cận của mình. Vua nổi giận mắng:

-Đồ phản vua, phản quốc, không bằng loài súc sinh. Mày giết tao đi.

  Trương Quang Ngọc nhếch mép cười đáp:

-Giết ngài thì làm sao chúng ta lấy được 500 lạng bạc mà ngài toàn quyền Pháp treo thưởng.

  Vua Hàm Nghi mắng:

-Thì ra chúng mày tham vàng bạc mà phản vua, phản quốc. Đất nước ngày nay mất vào tay ngoại bang phần lớn do bọn Việt gian như chúng mày.

  Nguyễn Đình Tình nói:

-Ngày xưa, cha ông của ngài làm vua có nghĩ tới dân tình đói khổ, lầm than mà giảm sưu thuế đâu, mà không nghĩ tới dân thì đâu có nghĩ tới nước. Các ông đã làm mất nước từ khi làm mất lòng dân rồi.

  Vua Hàm Nghi nói:

-Chúng mày không thoát kiếp nạn đâu. Quân Cần Vương các nơi sẽ xẻo thịt chúng mày. Vàng bạc và quân Pháp không bảo vệ được mạng của chúng mày và gia đình đâu.

  Tới đó thì Nguyễn Đình Tình và Trương Quang Ngọc cả sợ. Hai đứa run rẫy nhưng đã trót rồi, có quay đầu cũng không được nữa. Chúng dí súng buộc vua Hàm Nghi rời sơn phòng Khe Ve, Minh Hóa, Quảng Bình. Đó là đêm 1 tháng 11 năm 1888. Tình và Ngọc giao vua Hàm Nghi cho Pháp, nhận vài chục lạng bạc thưởng, chia nhau. Tên Ngọc nhận chức lãnh binh của Pháp, nhưng đến đâu nhậm chức cũng bị nhân sĩ và bách tính sỉ vả, sau nhục nhã quá, bỏ chức vụ trốn về Trà Cước, Minh Hóa, Quảng Bình, sa vào nghiện phiện, sống mà như chết. Năm 1893, Lãnh binh Thạch của nghĩa quân Phan Đình Phùng đã đến thi hành bản án phản quốc, phản vua và chém chết Ngọc. Còn Nguyễn Đình Tình rất sợ quân Cần Vương truy sát nên trốn về Nam Trung Kỳ và mất tích. Chúng đã mắc món nợ quá lớn với bách tính Đại Nam và quân Cần Vương. Còn Khâm sai chưởng lý quân vụ đại thần Tôn Thất Đạm, khi đó đang đại diện vua Hàm Nghi ở Hà Tĩnh, thấy mình không làm tròn trách nhiệm bảo vệ vua nên đã tự vẫn ở chùa Vân Liễu, thuộc núi Hoành Sơn, Quảng Bình. Năm đó Tôn Thất Đạm mới 19 tuổi. Tôn Thất Thiệp hy sinh lúc 15 tuổi trong đêm bảo vệ vua Hàm Nghi.

  Pháp đưa vua Hàm Nghi xuống tàu Bông nơ Fo do một viên trung úy chỉ huy, đi từ Thuận Bài qua Bố Trạch, qua Đồng Hới và ngày 22 tháng 11 năm 1888 về đến cửa Thuận An. Triều đình Huế và vua Đồng Khánh được tin định ra đón vua Hàm Nghi nhưng Pháp không cho, sợ nhân dân bị kích động và nổi dậy đòi thả vua. Ngày 25 tháng 11, vua bị đưa vào Lăng Cô. Ngày 13 tháng 12 năm 1888, giặc đưa vua vào Sài Gòn và đưa xuống tàu Biên Hòa, vượt đại dương đi đày ở Bắc Phi. Ngày 13 tháng 1 năm 1889, vua đến thủ đô An giê của An giê ri, một thuộc địa của Pháp ở Bắc Phi. Khi đó vua Hàm Nghi mới 18 tuổi. Pháp đưa vua về biêt thự “Rừng Thông”, làng Fơ  bi e, cách thủ đô An giê 5 km. Tháng 11 năm 1889, vua Hàm Nghi bắt đầu học tiếng Pháp và sau này ông nói và viết rất thông thạo Pháp ngữ. Nhà vua cũng hứng thú với sáng tạo nghệ thuật vẽ tranh. Bức tranh “Chiều tà" của ông ký tên Xuân Tử rất nổi tiếng. Ngày 24 tháng 11 năm 2010 bán đấu giá tác phẩm "Chiều tà”của ông ở Pa ri được 800 Ơ rô.

  Năm 1904, vua Hàm Nghi kết hôn với bà Méc xơ La lô e (1884-1974) là Chánh tòa thượng thẩm An giê. Hai ông bà sinh ba người con: công chúa La lô e, công chúa Như Mai (1905-1999) là kỹ sư canh nông, công chúa Như Luân (1908-2005), tiến sĩ y khoa và một hoàng tử là Minh Đức (1910-1990). Hai ông bà Hàm Nghi có ba cháu ngoại.

  Ngày 14 tháng 1 năm 1944, vua Hàm Nghi qua đời vì bệnh ung thư dạ dày tại biệt thự Gia Long, thủ đô An giê, thọ 72 tuổi, mai táng tại To nác (Pháp). Suốt cuộc đời, vua Hàm Nghi không bao giờ nguôi ngoai được nỗi hờn vong quốc. Dù sự nghiệp cứu nước không thành do nhiều nguyên nhân, nhưng nhà vua là một người yêu nước và suốt đời đấu tranh cho độc lập, tự do của đất nước.

*       *

*

  Sau khi từ biệt Triều đình kháng chiến, Hàm Nghi, Tôn Thất Thuyết cùng Trần Xuân Soạn, Ngụy Khắc Kiều xuyên qua núi rừng Hà Tĩnh, Nghệ An, tháng 3 năm 1886 ba người tới Cẩm Thủy rồi Thạch thành là hai huyện miền núi của Thanh Hóa. Tại đây, Tôn Thất Thuyết nói với Trần Xuân Soạn và Ngụy Khắc Kiều:

-Hai tướng quân phải ở lại đây phát động khởi nghĩa ở Thanh Hóa, thực hiện chiếu Cần Vương và hỗ trợ cho nghĩa quân của Phan Đình Phùng ở Hà Tĩnh.

  Trần Xuân Soạn và Nguyễn Khắc Ngụy nói:

-Xin tuân lệnh quan Phụ chính. Quan phụ chính bảo trọng, chúc ngài thượng lộ bình an.

-Đa tạ, chúc hai tướng quân thành công.

  Từ biệt hai người, Tôn Thất Thuyết đến tổng Trịnh Ván thuộc huyện Thường Xuân, Thanh Hóa. Tại đây, Cầm Bá Thước ra đón. Tôn Thất Thuyết nói:

-Ngài phải dấy binh khởi nghĩa chống Pháp, gây dựng phong trào Cần Vương ở Thanh Hóa, phối hợp với Ngụy Khắc Kiều, Trần Xuân Soạn đang chuẩn bị khởi nghĩa ở Cẩm Thủy và Thạch Thành.

  Cầm Bá Thước chắp tay đáp:

-Xin tuân lệnh quan Phụ chính.

  Ngày 22 tháng 4 năm 1886, Tôn Thất Thuyết qua châu Quan Hóa gặp Hà Văn Mao. Tôn Thất Thuyết cũng thúc dục Hà Văn Mao khởi nghĩa. Hà Văn Mao đáp:

-Xin tuân lệnh quan Phụ chính.

  Tháng 2 năm 1887, Tôn Thất Thuyết đến Vân Nam và từ Vân Nam đến Quảng Đông, gặp Tổng đốc Quảng Đông. Trong bữa tiệc rượu đón tiếp của Tổng đốc, Tôn Thất Thuyết nói:

-Ngày nay cả Đại Nam và Trung Hoa có chung một kẻ thù là giặc Pháp, ngài hãy tâu với hoàng đế nhà Thanh viện trợ cho Việt Nam chống Pháp.

  Tổng đốc Quảng Đông nâng cốc:

-Xin chúc mừng cuộc hội ngộ với quan Phụ chính. Ý kiến của ngài bản Tổng đốc sẽ tâu với hoàng thượng của ta. Xin mời cạn chén.

  Sau đó, không biết Tổng đốc Quảng Đông có tấu lên Bắc Kinh không mà nhà Thanh im lặng. Cuộc cầu viện của quan Phụ chính bất thành.

  Cuối năm 1888, Trần Xuân Soạn sang Quảng Đông báo tin cho Tôn Thất Thuyết:

-Bẩm quan Phụ chính, Hai tên lính cận vệ của hoàng thượng Hàm Nghi là Nguyễn Đình Tình và Trương Quang Ngọc phản bội, đã dẫn đường cho quân Pháp bắt hoàng thượng ở sơn phòng Minh Hóa, Quảng Bình. Hai tướng quân Tôn Thất Thiệp và Nguyễn Thúy vì bảo vệ hoàng thượng cũng đã hy sinh. Tướng quân Tôn Thất Đạm cảm thấy không hoàn thành việc bảo vệ hoàng thượng nên cũng tự vẫn hy sinh.

Tôn Thất Thuyết ngồi lặng đi một lúc. Hình bóng hai con trai thương yêu hiện ra trước mắt ông. Một lúc sau, nén đau buồn ông nói:

-Đã quên mình, quên nhà dấn thân vì nước thì phải chấp nhận hy sinh thôi.

  Trong chiến đấu vì độc lập dân tộc, không thiếu gì những gia đình Việt Nam đã hy sinh nhiều người cho sự nghiệp thiêng liêng này, trong đó có gia đình Tôn Thất Thuyết. Cha ông là Đề đốc Tôn Thất Đính, cháu năm đời Chúa Nguyễn Phúc Tần. Năm 1885, trong khi kinh thành Huế thất thủ, ông tìm cách chạy theo theo vua Hàm Nghi thì bị giặc bắt ở Quảng Bình, bị đày ra Côn Đảo và mất ở đó ngày 5 tháng 7 năm 1893. Vợ Tôn Thất Thuyết là bà Nguyễn Thị Thành theo giúp vua Hàm Nghi, bất chấp gian nan khổ cực nên mất ở sơn phòng Quảng Trị ngày 26 tháng 9 năm 1885. Em ruột Tôn Thất Thuyết là Tôn Thất Lệ, Tham biện sơn phòng, chỉ huy cánh quân đánh vào tòa khâm sứ. Khi kinh thành thất thủ đã hộ giá vua Hàm Nghi và hoàng gia, đã hy sinh ở Mai Lĩnh, Quảng Trị, cản giặc truy kích cho vua và hoàng gia chạy thoát. Em ruột Tôn Thất Thuyết là Tôn Thất Hàm, tri huyện Nông Cống, Thanh Hóa, đang xây dựng phong trào Cần Vương thì bị giặc bắt, tuyệt thực mà hy sinh khi đang trên đường bị đưa vào Đà Nẵng. Hai con trai là Tôn Thất Thiệp, Tôn Thất Đạm là những tướng lĩnh trong phái chủ chiến, hi sinh ở sơn phòng Quảng Bình khi bảo vệ vua Hàm Nghi. Con trai Tôn Thất Hoàng bị giặc bắt ở Cam Lộ, Quảng Trị, bị đày lên Lao Bảo và hy sinh tại đây. Con trai thứ chín của ông là Tôn Thất Trọng, khi 8 tuổi đã theo thủ lĩnh Cần Vương Nguyễn Phạm Tuân ở Quảng Bình. Về sau theo Phan Bội Châu đi Đông Du và mất ở nước ngoài. Cha vợ Tôn Thất Thuyết là Tán tương quân vụ Nguyễn Thiện Thuật, thủ lĩnh lừng danh của phong trào Cần Vương Bãi Sậy Hưng Yên, Hải Dương và một vùng rộng lớn đồng bằng Bắc Bộ. Con rể Tôn Thất Thuyết là Nguyễn Thượng Hiền, đỗ hoàng giáp năm 1892, được bổ nhiệm làm Quốc sử Quán, sau làm đốc học Ninh Bình. Năm 1907, Pháp phế truất vua Thành Thái, Nguyễn Thượng Hiền bỏ quan, đi theo phong trào Đông Du của Phan Bội Châu. Người đời đã tặng gia đình Tôn Thất Thuyết là “Toàn gia yêu nước”, tấm gương sáng chói của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam trên con đường hy sinh vì nghĩa lớn  của dân tộc.

  Tại Trung Quốc, Tôn Thất Thuyết đã nén thương đau, cùng các đồng chí của mình như Trần Xuân Soạn, Nguyễn Thiện Thuật mua sắm vũ khí đưa về nước cho nghĩa quân Cần Vương đánh Pháp. Việc này kéo dài cho đến năm 1894, khi biên giới Việt -Trung bị đóng. Hầu hết các thủ lĩnh ở Bắc Kỳ đều liên hệ với Tôn Thất Thuyết. Ông đã xây dựng nhiều toán vũ trang từ Trung Quốc xâm nhập về nước đánh giặc. Tháng 6 năm 1892, Tôn Thuyết cho Lương Phúc đưa quân về đánh Pháp ở Hoành Bồ, Quảng Ninh mang danh nghĩa quân Hàm Nghi. Tháng 3 năm 1895, Tôn Thất Thuyết đánh vào Cao Bằng. Năm 1895, Pháp ở Đông Dương yêu cầu nhà Thanh quản lý Tôn Thất Thuyết và Lưu Vĩnh Phúc. Từ đó hoạt động của Tôn Thất Thuyết coi như chấm dứt. Cả cuộc đời chống Pháp của ông thất bại. Tuy  nhiên khi đó ông chưa biết được rằng phong trào Cần Vương do ông và vua Hàm Nghi khởi xướng dù không thành công nhưng đã làm chậm tiến trình xâm lược Đại Nam của Pháp tới 30 năm, chúng phải xâm lược lại những vùng đã xâm lược. Sự hy sinh của các anh hùng, liệt sĩ Cần Vương đã nêu cao truyền thống bất khuất của dân tộc, đã để lại những tấm gương sáng chói, những bài học kinh nghiệm cho các thế hệ sau tiếp bước trên con đường đấu tranh giải phóng dân tộc. Anh hùng phẫn chí, Tôn Thất Thuyết thường cầm dao chém vào đá để trút mọi căm hờn quân xâm lược. Dân ở Long Châu, Quảng Đông gọi ông là "“Đả thạch lão" (ông già chém đá). Tôn Thất Thuyết mất tại Trung Quốc ngày 22 tháng 9 năm 1913, thọ 74 tuổi. Kính trọng ông là người trung liệt, đại thần  nhà Thanh là Lý Căn Nguyên đã xây mộ ông và dựng bia ở Thiên Quang. Nhân sĩ Quảng Châu có câu đối viếng ông: "Thù Tây chẳng đội trời chung muôn thuở anh hồn về Quận Tượng. Giúp chúa riêng  tìm cõi thác nghìn năm xương nát gửi Long Châu!”.