I
Lại nói ở Trung Quốc vào thế kỷ III sau công nguyên, cục diện Tam quốc bắt đầu năm 220, vào những năm 60 đang đến hồi kết thúc. Năm 264, nước Ngụy của dòng họ Tào diệt nước Thục Hán. Năm 266 Tư Mã Viêm cướp ngôi họ Tào lập ra nhà Tây Tấn. Năm 280, Tấn Vũ Đế tiêu diệt nhà Đông Ngô của dòng họ Tôn, thống nhất Trung Quốc. Nhà Tây Tấn tồn tại từ 266 đến 316 thì chuyển sang nhà Đông Tấn. Nhà Đông Tấn tồn tại từ 317 đến năm 420 thì diệt vong. Trung Quốc lại bước thời kỳ hỗn chiến chia cắt được gọi là thời kỳ Nam- Bắc triều. Bắc triều là phía Bắc nhiều triều đại kế tục nhau: Bắc Ngụy từ 386 đến năm 534, Đông Ngụy từ 534 đến 550, Tây Ngụy từ 533 đến 556. Còn có triều đại Bắc Tề, Bắc Chu. Tất cả đều bị Bắc Chu tiêu diệt. Bắc Chu tồn tại từ 557 đến 581. Bắc Chu bị Dương Kiên tiêu diệt năm 581, Dương Kiên xưng là Tùy Văn Đế, lập ra nhà Tùy. Trong khi đó, phía Nam Trung Quốc theo thời gian tồn tại nhiều triều đại được gọi là Nam triều: Lưu Tống từ 420 đến 479, Nam Tề từ 479 đến 502, nhà Lương của dòng họ Tiêu tồn tại từ 502 đến 557. Nhà Trần do Trần Bá Tiên sáng lập kế tục nhà Lương tồn tại từ 557 đến năm 589. Năm 589 Tùy Văn Đế tiêu diệt nhà Trần thống nhất Trung Quốc.
Với đất thuộc địa phía Nam Trung Quốc như Giao Châu, sau thời kỳ nhà Hán thì thuộc Đông Ngô thời Tam quốc thống trị. Kết thúc thời kỳ Tam quốc thì Giao Châu bị nhà Tấn thống trị, trong thời kỳ Nam- Bắc triều thì bị nhà Lương thống trị. Về hành chính, thời Đông Ngô đã tách Giao Châu thành hai châu là Quảng Châu ở phía Bắc bao gồm các quận Nam Hải, Thương Ngô và Uất Lâm, châu trị ở Phiên Ngung, Giao Châu ở phía Nam bao gồm các quận Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam, châu trị là Long Biên. Năm 271, Đông Ngô đã tách quận Nhật Nam thành hai quận là quận Cửu Đức ở phía Bắc và Nhật Nam ở phía Nam. Đến khi nhà Lương cai trị Giao Châu, về đơn vị hành chính, quận Giao Chỉ rộng lớn được gọi là Hoàng Châu, tách đất ở miền biển Đông Bắc Giao Chỉ, giáp với Hợp Phố thành lập quận Ninh Hải gồm các huyện An Bình, Hải Bình và Ngọc Sơn. Ở miền Trung, quận Cửu Chân và Nhật Nam được tách ra thành Ái Châu, Lợi Châu, Đức Châu và Minh Châu.
Nhà Lương vẫn tiếp tục những chính sách mà nhà Hán, Đông Ngô đã thi hành trước đây, vẫn là đàn áp dân Việt dã man, tăng mức sưu thuế, cống phẩm cống nạp, phu phen tạp dịch nặng nề, đồng hóa văn hóa nhằm buộc người Việt theo văn hóa, phong tục Hán.
Dân Việt ở Giao Châu ngày càng căm thù bọn cướp nước thống trị nhà Lương mà tiêu biểu là Thứ sử Lâm Vũ Hầu Lương Tiêu Tư. Bọn quan lại nhà Lương ở Giao Châu như ngồi trên ngọn sóng ngầm, như ngồi trên núi lửa sẵn sàng bùng lên thiêu đốt bọn xâm lược bạo tàn.
Giao Châu mùa đông năm 541. Màn đêm mênh mông đen ngòm bao phủ khắp nơi. Vùng huyện Chu Diên, quận Hoàng Châu cũng chìm trong bóng tối dày đặc. Gió lạnh đêm khuya ru cây lá xạc xào. Bầu trời đen kịt không một vì sao. Vài tiếng chó sủa vang lên trong vùng thôn quê im vắng.
Có một ngôi nhà gạch ngói chìm dưới những rặng tre, chuối, cau và mít. Ba mặt của cái sân gạch vuông vức mà mỗi cạnh là những cây cau cao vút lên không trung, những tán lá cây nặng nề lắc lư theo gió. Những cây cau cao chứng tỏ chủ nhân của chúng sống trên mảnh đất này đã lâu đời.
Trong căn phòng khách của ngôi nhà cột xà bằng gỗ lim đánh bóng, ánh đèn dầu lạc vàng khè leo lét cháy. Một chiếc bàn gỗ lim kê giữa hai chiếc tràng kỷ chạm khắc hoa văn cầu kỳ. Trên bàn có một bộ ấm chè và vài ba chiếc bát màu tím sẫm. Ngồi trên ghế là một người đàn ông khoảng 50 tuổi, mặt vuông vức, phương phi, vẻ rất Nho học, mình mặc áo dài đen, khoác áo bông đen. Đó là chủ nhân ngôi nhà, hào trưởng Triệu Túc. Ngồi đối diện với Triệu Túc là một thanh niên trẻ tuổi nhưng cao lớn lục lưỡng, khuôn mặt đẹp, thanh tú, lông mày rậm oai nghi lẫm liệt. Đó là Triệu Quang Phục, con trai của Triệu Túc. Hai cha con hôm nay thức khuya, bàn bạc để quyết định một công việc trọng đại định đoạt tương lai của cả gia đình và của cả bách tính Lạc Việt ở Giao Châu. Đó là trả lời câu hỏi có quyết định tham gia cuộc khởi nghĩa của Lý Bí phát động chống lại chính quyền của nhà Lương ở Giao Châu hay không?
Số là cách đây mấy hôm, một người bạn rất thân của Triệu Túc là Lý Bí đã quyết tâm kêu gọi, tập hợp bách tính khởi nghĩa lật đổ chế độ nhà Lương. Biết Triệu Túc là một hào trưởng có uy tín, có tri thức, có mưu lược, có tài văn chương, con trai Triệu Túc là Triệu Quang Phục có cả tài văn võ, Lý Bí đã sai người đến mời hai bố con Triệu Túc tham gia khởi nghĩa. Vì thế, mấy hôm nay bố con triệu Túc và Triệu Quang Phục đều thức khuya, mỗi tối cạn hai đĩa dầu đèn, cạn vài ba ấm chè xanh mà vẫn chưa đi đến hồi quyết định.
Với Triệu Quang Phụ, chỉ nghe lời cha kể thì chàng đã rất mến mộ khâm phục Lý Bí. Theo lời Triệu Túc thì Lý Bí còn có tên dân dã là Lý Bôn. Tổ tiên Lý Bí là người Hán, để tránh nạn binh đao loạn lạc, thời Tây Hán đã sang định cư ở quận Hoàng Châu, Giao Châu. Đến thời Lý Bí đã là đời thứ 11, trở thành người Việt hoàn toàn. Quê Lý Bí ở Phổ Yên, huyện Long Uyên, Hoàng Châu. Lý Bí sinh ngày 12-9 năm Quý Mùi (17-10-503). Như vậy, khi khởi nghĩa (541) Lý Bí mới 38 tuổi, cái tuổi đủ chín chắn để suy tính cho việc làm và hành động cứu nước. Triệu Quang Phục rất khâm phục tuổi trẻ của Lý Bí. Theo lời kể của Triệu Túc thì cha của Lý Bí là Lý Toản, cũng là một hào trưởng thương dân nhưng ông mất lúc Lý Bí mới 5 tuổi, mẹ là bà Lê Thị Oánh, người Cửu Chân, bà cũng sớm ra đi lúc Lý Bí mới 7 tuổi. Lý Bí ở với người chú. Có vị pháp sư thiền tổ đi qua trông thấy Lý Bí khôi ngô tuấn tú, thông minh liền xin ông chú cho về chùa nuôi dạy. Sau 10 năm đọc sách học tập đã giúp cho Lý Bí học rộng hiểu sâu, thiên tư lỗi lạc, văn võ kiêm toàn. Theo lời khen của Triệu Túc thì mặt mũi dáng điệu, phong thái của Lý Bí như phong thái của bậc đế vương, người sinh ra để cứu nguy cho bách tính, cho dân tộc.
Triệu Quang Phục nói, cũng là hỏi cha:
-Thưa cha, người tài giỏi như Lý Bí đang làm quan cho nhà Lương, con đường hoạn lộ và tương lai rộng mở, sao Lý Bí lại từ quan mà khởi nghĩa?
Triệu Túc uống ngụm nước chè nóng mà người gia nô trong nhà vừa mang lên và đáp:
-Do tài năng đức độ mà Lý Bí được làm thủ lĩnh địa phương. Thứ sử Giao Châu nhà Lương là Tiêu Tư nghe danh Lý Bí cũng là để lấy lòng dân Giao Châu, ra vẻ trọng nhân tài đã mời Lý Bí ra làm chức Giám quân ở Đức Châu. Chính thời gian này, Lý Bí càng thấy rõ hơn sự tàn bạo, độc ác của quân Lương đối với dân Việt ta, nhất là tên Thứ sử Tiêu Tư. Do đó, Lý Bý đã bỏ quan về quê và mấy ngày trước đây, ông quyết định dựng cờ khởi nghĩa, giải phóng đất nước, cứu bách tính giống nòi Lạc Việt.
Triệu Quang Phục hỏi:
-Vậy cha có định tham gia khởi nghĩa của Lý Bí không?
Triệu Túc đáp:
-Cả đời của cha rất mong muốn làm được điều gì đó cho bách tính, cho đất nước, nhất là sự nghiệp cứu giống nòi, cho nên cha đã quyết định tham gia lời mời của đại nhân Lý Bí.
Triệu Quang Phục nói:
-Vậy cha cho con cùng theo cha với nha.
Triệu Túc nói:
-Con năm nay mới 17 tuổi, còn quá trẻ, vả lại cha đi rồi con phải ở nhà chăm sóc mẫu thân của con.
Triệu Quang Phục nói:
-Cha thường giáo dục con lòng thương dân yêu nước. Không lẽ những lời giáo huấn của cha chỉ là sách vở, học thuộc rồi cất vào ngăn bàn. Những lời giáo huấn của cha nay đã đến lúc thực hành rồi cha.
Triệu Túc còn im lặng suy nghĩ thì phu nhân Nguyễn Thị Hựu bước vào:
Khuya rồi, hai cha con còn chưa đi ngủ, mai lấy sức mà về với Lý Bí sao?
Bà Hựu nói thêm:
-Tôi nghe hết rồi. Ông cứ cho thằng Phục nó theo ông làm việc đại nghĩa, còn để giúp đỡ ông. Tôi thì bố con ông không cần lo. Tôi còn khỏe, tự mình lo cho mình được. Thằng Phục có ở lại cũng bị giặc bắt lính, bắt phu làm sao mà thoát được. Cuối cùng cũng đi lính cho giặc Lương đánh lại dân mình, để lại tiếng xấu muôn đời thôi.
Triệu Quang Phục reo lên mững rỡ:
-Con cảm ơn mẹ.
Triệu Túc nói:
-Bà nói cũng phải.
Bà Hựu thúc giục:
-Thôi hai bố con đi ngủ đi!
Triệu Quang Phục đứng dậy:
-Con chào cha, con chào mẹ.
Rồi chàng đi về phòng mình. Đêm đó, Triệu Quang Phục ngủ không ngon giấc. Cuộc đời của Triệu Quang Phục ngày mai sẽ bước sang một trang mới, cuộc đời chinh chiến đánh giặc Lương tàn ác. Nghĩ tới đó chàng chập chờn giấc mơ gươm giáo cho tới sáng.
Sớm hôm sau, Triệu Túc và Triệu Quang Phục dậy sớm ăn sáng rồi gói ghém tư trang hành lý gồm quần áo và vũ khí. Bà Hựu còn chuẩn bị cho hai cha con bốn chiếc bánh chưng ăn đường, gia nhân đã chuẩn bị hai con ngựa khỏe. Hai cha con lên đường. Phu nhân và đám gia nhân khóc tiễn đưa hào trưởng Triệu Túc và công tử Triệu Quang Phục lên đường vì nghĩa lớn. Triệu Quang Phục ôm mẹ không muốn rời. Triệu Túc nói:
-Phu nhân và mọi người đừng khóc, hãy chờ tin chiến thắng của phụ tử chúng tôi. Nào con trai lên đường thôi.
Triệu Quang phục chào mẹ, chào gia nhân. Phu nhân và đám gia nhân nhìn theo hai người. Người và ngựa xa dần về hướng Tây, nơi đang sôi sục cuộc khởi nghĩa của Lý Bí.
Chiều tối hôm đó, Triệu Túc và Triệu Quang Phục đến làng Bảo Văn, Bình Xuyên, Huyện Tây Vu, Hoàng Châu, tổng hành dinh của Lý Bí.Thấy hai cha con Triệu Túc và Triệu Quang Phục về tham gia nghĩa quân, Lý Bí rất mừng. Tối hôm đó Lý Bí mở tiệc rượu khoản đãi. Triệu Quang Phục nhìn kỹ Lý Bí, đó là một người cao lớn, khỏe mạnh, mặt vuông tai dài, miệng rộng, mắt phượng mày ngài, dáng vẻ đàng hoàng của bậc đế vương. Sau khi chia ngôi chủ khách ngồi, Lý Bí giới thiệu:-Đây là quân sư Tinh Thiều, người nổi tiếng văn chương Giao Châu ta.
Tinh Thiều chắp tay hành lễ:
-Dạ, không giám
Mọi người cùng chắp tay đáp lễ.
Triệu Quang Phục liếc nhìn Tinh Thiều. Đó là một người khoảng 40 tuổi, dong dỏng cao, mặc áo dài đen, chít khăn đen, mắt sáng, dáng người nho nhã thông minh, tài trí.
-Đây là võ tướng Phạm Tu, 60 tuổi nhưng vì sự nghiệp cứu dân, cứu nước không quản tuổi già vẫn tham gia khởi nghĩa.
Phạm Tu chắp tay vái chào:
-Dạ không dám.
Mọi người chắp tay đáp lễ lão tướng. Triệu Quang Phục nhìn thì đó một người râu tóc đã ngã màu trắng như cước, mặt vuông, gia đỏ hồng hào, khỏe mạnh lực lưỡng, đúng là một lão dũng tướng.
Lý Bí giới thiệu tiếp:
-Đây là tướng Phạm Lạng, còn đây là ái nữ của tướng quân có quý danh là Phạm Thị Toàn, hai cha con cũng về tham gia đại nghĩa.
Phạm Lạng và nữ tướng Phạm Thị Toàn chắp tay vái chào. Mọi người lại chắp tay thi lễ. Triệu Quang Phục liếc nhìn nữ tướng Phạm Thị Toàn, đó là một nữ tướng ngoài hai mươi tuổi, dung nhan xinh đẹp nhưng thể chất cực kỳ mạnh mẽ, rõ là một nữ tướng tài ba. Lý Bí chỉ vào Triệu Túc và Triệu Quang Phục:
-Đây là hào trưởng nổi tiếng đất Chu Diên Triệu Túc và công tử của ông là Triệu Quang Phục. Triệu Quang Phục có lẽ là người trẻ tuổi nhất trong số các tướng lĩnh về đây, công tử mới 17 tuổi.
Hai cha con Triệu Quang Phục và mọi người chắp tay thi lễ.
-Còn đây là nữ tướng Dương Khoan Khoáng, thủ lĩnh địa phương Bình Xuyên đây, đã từng phất cờ khởi nghĩa chống giặc Lương. Nữ Tướng đã đem theo vài trăm trai tráng tùy tùng về dưới cờ của Lý Bí này. Còn đây là các tướng Trịnh Đô, Tam Cô, Triệu Chí Thành.
Mọi người lại chắp tay thi lễ.
Lý Bí nói tiếp:
-Còn đây là người nhà của tôi, anh trai tôi Lý Thiên Bảo, các cháu của tôi Lý Phật Tử và Lý Công Tuấn.
Mọi người lại chắp tay thi lễ. Triệu Quang Phục nhìn mọi người anh em và cháu của Lý Bí, trong đó Lý Phật Tử có lẽ chỉ hơn Triệu Quang Phục vài tuổi, dáng điệu có vẻ dút dát nhưng mặt dài và đặc biệt có đôi mắt cực kỳ gian manh.
Sau sự làm quen, Lý Bí mời mọi người nâng chén cùng cạn để mừng ngày hội tụ.
Cơm xong, canh khuya Lý Bí cùng các tướng lĩnh bàn nghi lễ ngày mai tế cờ, tuyên bố với bách tính Giao Châu cuộc khởi nghĩa chống Lương do Lý Bí lãnh đạo chính thức bắt đầu, kêu gọi bách tính Giao Châu nhiệt liệt hưởng ứng và tham gia ủng hộ nghĩa quân. Các tướng cũng đã cùng Lý Bí bàn kế hoạch tấn công Long Biên, Trị sở của Hoàng Châu, cũng là trấn trị của toàn bộ Giao Châu.
Triệu Túc hỏi:
-Thưa chúa công, quân ta nay được bao nhiều rồi?
Lý Bí đáp:
-Đã được 3 vạn.
Lý Bí nói thêm:
-Chưa tuyên bố khởi nghĩa chính thức nhưng các huyện lệnh người Hán của quận Hoàng Châu sợ hãi đã chạy về Long Biên hoặc đã chạy về Quảng Châu rồi. Chính quyền nhà Lương ở Quận Hoàng Châu đang trên đường tan rã.
Quân sư Tinh Thiều nói:
-Tôi nghe nói Thứ sử Giao Châu nhà Lương Tiêu Tư rất tham tàn bạo ngược, nhưng vì là dòng dõi quý tộc nhà Lương nên rất giàu có, đã giàu có thì rất sợ chết. Tôi nghĩ trước khi tiến quân ra Long Biên nên viết cho hắn một bức thư dụ hàng. Nếu Tiêu Tư đầu hàng sẽ được bảo toàn tính mạng cho cả nhà và được về Giang Nam. Nếu hắn đầu hàng thì đỡ tốn xương máu. Còn nếu không hàng chúng ta sẽ đánh cũng chưa muộn.
Lý Bí nói:
-Lời quân sư nói phải lắm.
Sớm hôm sau, sau lễ tế cờ, tế thiên địa trời đất trên một bãi rộng của chùa Diên Táo, Bình Xuyên, Huyện Tây Vu, Lý Bí đem 3 vạn quân tiến về phía Bắc tấn công Long Biên. Ba vạn quân đi dưới những ngọn cờ vàng phấp phới. Đi tiên phong là lão tướng Phạm Tu và nữ tướng Phạm Thị Toàn. Lý Bí đi trung quân dưới lá cờ vàng thêu chữ Soái màu đỏ. Đi tả quân là nữ tướng Dương Khoan Khoáng. Đi hữu quân là tướng Triệu Túc, Trịnh Đô, đi hậu quân là Triệu Quang Phục, Lý Công Tuấn, Lý Phật Tử, Tam Cô, Lý Thiên Bảo. Dọc đường, thanh niên trai tráng các làng nô nức tòng quân. Nhân dân đem bánh chưng, bánh dầy, nước chè úy lạo đón chật đường.
Long Biên lúc này là trấn trị của Giao Châu. Một sớm mùa đông năm 541, Vũ Lâm Hầu Tiêu Tư, Thứ sử Giao Châu, dòng dõi quý tộc nhà Lương đang ngồi bàn việc với các thuộc tướng thì quân gác cổng thành vào báo:
-Da bẩm Thứ sử có quân thám mã về xin gặp.
Tiêu Tư mặt xám ngoét nói nhỏ:
-Cho vào nhanh!
Tên thám mã vào thở hổn hển lo sợ:
-Dạ bẩm Thứ sử, quân nổi loạn Lý Bí đã dàn trận ngoài thành hai dặm và có gửi cho Thứ sử một lá thư.
-Trình lên đây!
Tên thám mã đưa thư cho tên lính hầu cận chuyển lên cho Tiêu Tư. Tiêu Tư tay run run mở thư đọc. Thư viết “ Các ông là những học trò của Nho gia, thừa biết một đạo lý rõ ràng là đất của người Việt là của người Việt. Vậy mà các triều đại người Ngô các ông cậy thế mạnh chiếm lấy mãi, không chịu trả cho người Việt để hợp đạo lý của trời. Nhưng nay thế mạnh của các ông đã hết. Nếu ông tự trả lại Long Biên và Giao Châu sẽ được giữ mạng sống cả nhà và được về Kiến Khang. Nếu chống cự ta sẽ tiêu hủy thành Long Biên, mạng sống của Thứ sử và của cả nhà sẽ không còn. Chờ thư phúc đáp. Nếu đầu hàng thì Thứ sử gia đình và thê thiếp được đi xe, còn tất cả binh lính người Hán phải kéo cờ trắng, đi bộ và tay không có vũ khí khi ra khỏi thành. Chủ soái quân Việt: Lý Bí”.
Tiêu Tư đọc xong thư,mặt càng xanh xám, rất căng thẳng, một lát sau mới nói với chư tướng:
-Lý Bí trong thư này khuyên ta dâng thành đầu hàng thì ta với các ngươi sẽ được về nước. Để tránh đổ máu, bảo toàn tính mạng cho ta, các ngươi và binh lính, ta quyết định giao thành, giảng hòa và về nước. Ở mãi cái mảnh đất xa xôi, khí hậu khắc nghiệt này, dân thì ương ngạnh, ta chán lắm rồi.
Một tên tuỳ tướng:
-Dạ bẩm Thứ sử, để mất Giao Châu, khi về triều đình hỏi tội thì lũ mạt tướng chúng tôi thoát thế nào được ạ?
Ta sẽ tâu giúp các ngươi với Lương Vũ Đế.
-Đa tạ Thứ sử!
Tiêu Tư viết bức thư ngắn gọn trao cho tên thám mã:
-Trao bằng được và nhanh bức thư này cho Chủ soái quân Việt.
Thám mã chuyển thư cho Lý Bí, thư viết “Tôi Thứ sử Giao châu Tiêu Tư đồng ý giảng hòa và giao thành Long Biên cho quân Việt nhưng Chủ soái phải bảo đảm cho chúng tôi, gia đình và quân lính trở về Giang Đông an toàn. Nay kính thư. Thứ sử Tiêu Tư”.
Sớm hôm sau, một ngày mùa đông nắng đẹp, nắng rải trong suốt lấp lánh xuống vùng Long Biên. Những rặng tre xanh vây quanh thành xào xạc theo gió. Thành Long Biên vươn lên xám màu trong nắng. Sông Dâu nước trong xanh lững lờ đổ về sông Đuống. Quân Việt dàn trận cách thành nửa dặm chờ đợi. Khoảng giờ Thìn, những lá cờ trắng được kéo lên mặt thành, cổng thành phía Đông hạ xuống. Từ trong thành, những chiếc xe che lụa màu xanh, cắm cờ trắng do ngựa kéo đi ra. Quanh xe có những người lính không mang vũ khí cưỡi ngựa đi kèm hộ tống. Theo sau xe khoảng 2 vạn lính nhà Lương mặc quân phục màu xanh, tay không vũ khí, lưng khoác túi cá nhân cúi đầu đi thất thểu. Lá cờ trắng đi đầu hàng quân bay phần phật theo gió. Những người lính đều nghển đầu nhìn về phía quân Việt dàn trận. Quân Việt uy nghi nghiêm khắc nhìn họ. Họ sợ quân Việt nuốt lời hứa, tấn công tiêu diệt họ vì những tội ác mà họ đã gieo rắc khắp nơi trên đất Việt chồng chất như núi. Nhưng quân Việt không có động tĩnh gì, vẫn nghiêm trang đứng nhìn quân Lương đi về phương Bắc. Những lá cờ vàng bay phần phật trên đầu quân Việt. Nắng càng trưa càng trong vắt. Gió bớt lạnh dần. Cho đến gần trưa, những tên lính Lương cuối cùng bóng dáng mờ dần phía chân trời phương Bắc. Khi đó quân Việt, Lý Bí cùng các tướng lĩnh mới tiến vào thành Long Biên.
IISang thế kỷ VI, Tư Phố vẫn là trị sở Ái Châu. Núi Voi, núi Rùa, núi Ngũ Hoa, núi Ngựa vẫn soi mình trên dòng sông Mã. Xa xa về phía Tây núi Vòm, núi Trịnh vẫn mờ mờ trong sương khói dù thời gian và triều đại đã đổi thay. Trong công đường sang trọng của thành Tư Phố, Thứ sử Ái Châu là Nguyễn Hán đang ngồi nghị sự cùng các thuộc hạ dưới trướng bàn về thời thế Giao Châu trong cơn biến loạn do cuộc khởi nghĩa của Lý Bí. Quận Hoàng Châu đã mất mà còn mất cả trấn trị của Giao Châu là Long Biên. Thứ sử Tiêu Tư không đánh trận nào đã đầu hàng làm uy danh quân Việt vang dội. Quân triều đình nhà Lương ở Ái Châu, Đức Châu, Lợi Châu, Minh Châu hoang mang khiếp sợ. Chợt có tên lính gác vào báo làm đứt dòng suy nghĩ của Nguyễn Hán.
-Dạ bẩm Thứ sử, có sứ giả vào trình chiếu thư của Thánh Thượng.
- Cho vào nhanh!
-Dạ.
Sứ giả của Lương Vũ Đế là Bạc Nhĩ Thanh ăn mặc giả thương nhân người Việt lặn lội từ Kiến Khang đi gấp về Ái Châu, Đức Châu, Lợi Châu, Minh Châu đem chiếu thư của Lương Vũ Đế cho Thứ sử các châu này. Gặp Nguyễn Hán và các tùy tướng, Bạc Nhĩ Thanh nói to như ra lệnh:
-Thứ sử Nguyễn Hán và các thuộc hạ tiếp chỉ!
Nguyễn Hán và các thuộc hạ vội quỳ xuống. Bạc Nhĩ Thanh tuyên đọc: “Phụng thiên thừa vận, Hoàng đế chiếu viết: Cuộc nổi loạn của Lý Bí thật là to lớn, đe dọa thuộc địa Giao Châu. Nay trẫm ra lệnh cho Thứ sử Ái Châu Nguyễn Hán phải hợp binh với Thứ sử Uy Trứ của Đức Châu, Thứ sử Ninh Cự của Lợi Châu, Thứ sử Lã Hùng của Minh Châu đem quân ra Hoàng Châu dẹp loạn. Quân đội ba châu này đặt dưới quyền chỉ huy của Thứ sử Ái Châu Nguyễn Hán. Khâm thử”.
Bọn Nguyễn Hán và tùy tùng hô to:
-Chúng thần xin vâng mệnh.
Bạc Nhĩ Thanh trao chiếu thư cho Nguyễn Hán.
Nguyễn Hán ra lệnh mở tiệc khoản đãi Bạc Nhĩ Thanh. Hôm sau cử bốn tên lính và 5 con ngựa tốt hộ tống Bạc Nhĩ Thanh vào trấn trị Đức Châu, Lợi Châu và Minh Châu gặp Thứ sử Uy Trứ, Thứ sử Ninh Cự, Lã Hùng tuyên chiếu chỉ của Lương Vũ Đế hợp binh chống Lý Bí.
Sau khi vào Long Biên và ổn định tình hình Hoàng Châu xong, Lý Bí nói với các tướng lĩnh:
-Chúng ta cần phải đánh Ái Châu, Đức Châu, Lợi Châu, Minh Châu trước khi quân Lương từ phía Bắc đánh vào. Nếu không chúng ta sẽ bị đánh cả mặt Nam và Bắc thì lâm nguy.
Tinh Thiều nói:
-Chủ soái nói chí phải nhưng nếu đánh thì phải đánh sớm trước khi bốn Châu đó hợp quân với nhau. Nếu để bốn Châu đó hợp quân với nhau thế giặc rất mạnh, sẽ rất khó công phá.
Triệu Túc nói:
-Chủ soái nên phái thám mã đưa thư cho các đội nghĩa binh ở Ái Châu, Đức Châu, Lợi Châu, Minh Châu chuẩn bị, khi Thứ sử bốn châu đó đem quân ra Bắc thì phải tổ chức cướp thành trì phối hợp tác chiến với quân ta.
Lý Bí nói:
-Triệu Túc nói phải lắm.
Sau khi ba thám mã đi vào miền Trung, Lý Bí điều động 5000 quân lên đất Ngô Hưng, 5000 quân lên Ninh Hải ở miền Đông Bắc phòng bị quân Lương từ Hợp Phố tràn sang, 5000 quân ở lại giữ Long Thành. Còn Lý Bí tự dẫn 4 vạn quân tiến vào Ái Châu. Ba ngày sau đại quân Lý Bí vượt cầu phao qua sông Mã tiến vào đất Thọ Hạc. Chợt có thám mã về báo:
-Cấp báo, quân của Thứ sử Lợi Châu Ninh Cự, Thứ sử Đức Châu Uy Trứ, Thứ sử Minh Châu Lã Hùng đang tiến vào phía Nam núi Văn Trinh, Tư Phố, Ái Châu.
Lão tướng Phạm Tu nói:
-Nếu đem toàn bộ quân vây đánh Tư phố thì quân địch từ phía Nam đánh tới, quân trong thành đánh ra, quân ta sẽ bị bao vây. Mạt tướng cho rằng nên cho 1 vạn quân tiến vào Tư Phố chỉ nghi binh kìm chân địch mà chưa công phá. Còn chủ lực quân đến mai phục ở núi Văn Trinh tiêu diệt quân của Ninh Cự , Uy Trứ và Lã Hùng, sau đó quay lại đánh thành Tư Phố.
Lý Bí nói:
-Lão tướng nói rất phải.
Liền cho tướng Triệu Túc, Triệu Quang phục dẫn 1 vạn quân tiến đến uy hiếp thành Tư Phố, còn đại quân rời Thọ Hạc tiến xuống phía Nam 15 dặm, dựa vào địa thế hiểm trở và cây cối rậm rạp ở vùng núi Văn Trinh, Đông Nam huyện Tư Phố, đợi chờ quân Lương đang tiến ra phía Bắc.
Lại nói Thứ sử Ninh Cự, Uy Trí và Lac Hùng nhận được chiếu chỉ của Lương Vũ Đế liền hợp quân lại và đi gấp ra Ái Châu. Quân bộ hành quân gần 300 dặm vô cùng mệt mỏi. Vào một sáng mùa hè tháng 5 năm 542, nắng như đổ lửa, 3 vạn quân Lương hành quân vào phía Nam đất Ái Châu. Đại quân đã qua sông Ghép, con sông giáp ranh giữa Ái Châu và Lợi Châu. Con đường độc đạo thiên lý ở đây không hiểm trở lắm, chỉ có những quả đồi đất bị ngắt quảng xen lẫn làng mạc. Duy chỉ có điều là hai bên đương cây cối tre trúc rất rậm rạp, lại thêm núi Văn Trinh hiểm trở. Ninh Cự nói với Uy Trí và Lã Hùng:
-Địa thế ở đây rất rậm rạp, lại thêm núi đá Văn Trinh hiểm trở, phải đề phòng có mai phục.
Uy Trí đáp:
-Nếu quân Lý Bí mà tiến được vào Ái châu thì Thái thú Nguyễn Hán ở Tư Phố đã cho thám mã phi vào báo rồi.
-Đúng thế, vậy mà tôi không nghĩ ra.
Ba người không biết rằng thành Tư Phố cũng đang bị vây chặt, thám mã không thể lọt ra ngoài được. Quân Lương đang hành quân qua sườn núi Văn Trinh thì thốt nhiên tiếng trống, tiếng thanh la vang dội khắp nơi, rồi những trận mưa tên từ sườn núi Văn Trinh và ven đường rậm rạp phía Tây. Phát tên của nữ tướng Dương Khoan Khoáng kết liễu đời của Thứ sử Ninh Cự. Mũi tên của nữ tướng Phạm Thị Toàn trúng giữa mặt Thứ sử Uy Trí. Quân Lương hoảng loạn như rắn mất đầu. Quân Việt từ sườn núi và các rừng cây ven đường xông ra vung gươm giáo chém giết. Thứ sử Lã Hùng và bọn tùy tướng của Ninh Cự, Uy Trí định quay đầu ngựa chạy về Nam thì bị các tướng Phạm Tu, Phạm Thị Toàn, Phạm Lạng, Trịnh Đô, Triệu Chí Thành, Dương Khoan Khoáng, Tam Cô tung hoành chém chết. Thây quân Lương chất thành đống dọc đường, máu chảy như suối. Số ít hoảng loạn bơi qua sông Ghép về Nam nhưng bị chết đuối. Số còn lại đầu hàng. 3 vạn quân Lương bị tiêu diệt. Quân Việt toàn thắng trận mai phục ở núi Văn Trinh, phía Đông Nam huyện Tư Phố, Ái Châu. Lý Bí hạ lệnh hành quân gấp ra phối hợp với Triệu Túc, Triệu Quang Phục đánh thành Tư Phố.
Lại nói Thứ sử Ái Châu là Nguyễn Hán thấy quân Việt bao vây thành Tư Phố, một số tướng xin ra đánh. Quan Đô úy trị Mã Cầm nói:
-Ta nghe nói quân của Nhật Nam và Cửu Đức đang hành quân ra phối hợp sắp đến nơi, chờ cho họ đến ta sẽ trong đánh ra ngoài đánh vào thì tất phá được quân Việt.
Nguyễn Hán cho là phải và quyết đóng chặt cổng thành, chờ quân của Úy Trị, Ninh Cự và Lã Hùng đến để cùng phối hợp tác chiến. Thành Tư Phố bị vây chặt, thám mã quân Lương muốn về báo tin tức không thể vào được. Quân Việt chỉ vây thành mà không đánh. Nguyễn Hán không biết tình hình thế nào. Một buổi sáng, một tên lính trên mặt thành xuống báo:
-Dạ, bẩm Thứ sử, quân Việt đông như kiến cỏ bắt đầu tấn công thành.
Một tên lính khác hốt hoảng chạy vào báo:
-Dạ bẩm Thứ sử, quân Việt dùng sào tre treo ba thủ cấp của ba Thứ sử Lợi Châu Ninh Cự, Thứ sử Đức Châu Uy Trí, Minh Châu Lã Hùng và kêu gọi chúng ta đầu hàng.
Nguyễn Hán sợ hãi cùng các tướng lên mặt thành xem, quả nhìn thấy đầu ba thứ sử Lợi Châu, Đức châu, Minh Châu cùng những ấn tín binh phù. Quân Việt chĩa loa lên và nói oang oang:
-3 vạn quân của Thứ sử Lợi Châu, Đức Châu và Minh Châu đã bị chúng ta tiêu diệt ở Văn Trinh. Nếu Nguyễn Hán không đầu hàng thì sẽ như ba tên Thứ sử này. Nếu đầu hàng, gia quyến được bảo toàn tính mạng, được trở về Giang Đông.
Nguyễn Hán sợ quá suýt ngất, thều thào bảo tùy tùng:
-Hỏi Lý Bí xem có giữ lời hứa không?
Một tùy tướng chĩa loa xuống hỏi:
-Chúng tôi hàng thì liệu ngài Lý Bí có giữ lời hứa không?
Tiếng loa từ người lính Việt:
-Đại trượng phu nói lời giữ lời. Các ông không xem gương của Thứ sử Tiêu Tư à, đã đầu hàng khi ta đánh Long Biên và nay ở Kiến Khang hưởng vinh hoa phú quý, biết không?
Nguyễn Hán ra lệnh cắm cờ trắng lên thành. Loa từ quân Việt:
-Mở cổng thành ra và quan chức quân sĩ phải rời khỏi thành, vàng bạc ngọc trai phải để lại. Quan lại được đi xe và mang theo tùy tùng gia quyến, binh sĩ không được mang vũ khí. Người Việt trong quân đội nhà Lương ai muốn về quê thì về, ai muốn theo chúng ta thì được dung nạp.
Quân Việt không bao vây thành nữa, lùi ra nửa dặm, dàn thế trận bên con đường ngoài thành. Cổng thành phía Đông hạ xuống, gần chục chiếc xe 4 bánh ngựa kéo có che rèm màu lụa xanh, xe của Thứ sử Nguyễn Hán và gia đình, xe của tùy tùng tướng lĩnh và gia đình. 2 vạn quân Lương tay không vũ khí, dẫn đầu là ngọn cờ trắng đi theo đoàn xe lặng lẽ. Nắng mùa hè chói chang. Nước sông Mã như thác cuồn cuộn đổ về đông. Quân Việt đứng lạnh lùng quan sát đội quân bại trận đang di chuyển về phía Bắc, rút khỏi lãnh thổ Giao Châu. Gần 2000 thanh niên người Việt bị buộc đi lính cho quân Lương nay tình nguyện tham gia khởi nghĩa, số ít xin về nhà phụng dưỡng cha mẹ già. Lý Bí cử nữ tướng Phạm Thị Toàn và Phạm Lạng đem 2 vạn quân đi kèm quân Lương cho đến khi ra khỏi lãnh thổ Giao Châu.
Cùng ngày hôm đó, Lý Bí nhận được thư do thám mã đem đến. Thư của các thủ lĩnh địa phương báo tin họ đã chiếm được trấn trị Lợi Châu, Đức Châu, Minh Châu. Như vậy, Minh Châu, Đức Châu, Lợi Châu, Ái Châu, Hoàng Châu đã được giải phóng khỏi ách thống trị của giặc Lương. Lý Bí lập tức tổ chức bộ máy hành chính để cai trị đất nước. Các hào trưởng người Việt địa phương giữ những chức vụ trong bộ máy chính quyền mới. Rồi Lý Bí kéo đại quân về Long Biên chuẩn bị đối phó với cuộc phản công sắp tới của Lương Vũ Đế.
IIINhư vậy, nhà Lương mất gần hết Giao Châu, chỉ còn hai quận Ninh Hải và Hợp Phố. Tin tức mất gần hết Giao Châu bay về kinh đô Kiến Khang làm cho Lương Vũ Đế kinh hoàng, tức giận, lo buồn. Cuối năm 542, Lương Vũ Đế xuống chiếu phong cho Tôn Quýnh làm Thứ sử Giao Châu, cùng với Thứ sử Tân Châu là Lư Tử Hùng đem 5 vạn quân tiến đánh Lý Bí, lấy lại Giao Châu. Tôn Quýnh nói với Lư Tử Hùng:
-Chúng ta đang ở Tây Bắc quận Hợp Phố thuộc địa phận Giao Châu, cho nên có hai con đường hành quân để tiến vào Hoàng Châu, một đường đi thẳng xuống phía Nam vào Quỷ Môn Quan, qua huyện Ngô Hưng và đến thẳng Long Biên. Đây là con đường nhanh nhất. Con đường thứ hai là hành quân về phía Đông Hợp Phố, đi vào Ninh Hải rồi theo đường ven biển, sau đó theo đường bộ, hoặc đường sông Bạch Đằng lên Lục Đầu Giang đánh vào Long Biên.
Lư Tử Hùng nói:
-Tôi nghe nói đi vào Ngô Hưng là qua Quỷ Môn Quan của ải Chi Lăng, cửa ải này thật đáng sợ. Tôi nghe nói thời Trưng Trắc, Trưng Nhị khởi binh chống Đông Hán, Thái thú Tô Định đi tiên phong qua cửa ải này đã mất mạng cùng 3 vạn quân đến mức Phục Ba tướng quân Mã Viện còn sợ, phải đi theo ven biển rồi phối hợp cả thủy và bộ mới đánh bại được hai Trưng Nữ Vương.
Tôn Quýnh nói:
-Thứ sử nói phải lắm, nay chúng ta đi vòng xuống Đông Nam Hợp Phố, men theo đường biển của quận Ninh Hải mà đổ bộ vào.
Nói rồi Tôn Quýnh đi tiên phong, Lư Tử Hùng đi trung quân, từ phía Tây hành quân khoảng 400 dặm về Đông Nam Hợp Phố, cờ quạt màu vàng viết chữ đen đậm bay phần phật trên đầu 5 vạn quân. Gió mùa đông cuối năm thổi thốc tháo lạnh buốt chân tay. Vó ngựa và chân người khua gió bụi mù mịt.
Trong khi đó, tại Long Biên, Lý Bí cắt cử tướng Phạm Lạng và 5000 quân giữ Long Biên, 5000 quân do tướng Triệu Chí Thành lên chốt giữ Quỷ Môn Quan, còn tự mình cầm quân ra đánh Ninh Hải để tạo địa bàn ngăn chặn quân Lương. Thái thú quận Ninh Hải là Lâm Tế hoảng sợ bỏ thành chạy về Quảng Châu. Đang khi đó thám mã của Lý Bí về báo:
-Bẩm chúa công, 5 vạn quân Lương do Tôn Quýnh, Lư Tử Hùng chỉ huy đang tiến vào Tây Nam hợp Phố để đánh vào Ninh Hải.
Lý Bí hỏi Triệu Túc và Tinh Thiều:
-Ta nên chặn đánh địch ở đâu là lợi thế nhất?
Tinh Thiều đáp:
-Bẩm chúa công, tôi đã nghiên cứu kỹ các con đường Hợp Phố đi vào Ninh Hải và ngược lại từ Ninh Hải đi Hợp Phố, chỉ có một con đường ven biển độc đạo chạy theo hướng Đông dài khoảng 100 dặm.
Lý Bí hỏi:
-Trên con đường đó có địa thế nào hiểm trở có thể mai phục được không?
Tinh Thiều đáp:
-Theo tôi biết con đường này là đường làng ven biển, mai phục không giữ được bí mật.
Lý Bí hỏi:
-Vậy làm thế nào để gây bất ngờ, gây hoảng loạn, gây bất lợi cho quân địch mà tiêu diệt?
Triệu Túc nói:
-Bẩm chúa công, không mai phục được thì ta đánh chính diện và tập hậu. Cho 2 vạn quân chọn một nơi bằng phẳng dàn trận chờ địch, 2 vạn quân bí mật dấu phía sau quân địch, khi giao chiến thì bất ngờ tấn công địch từ phía sau. Địch bị bất ngờ hoảng loạn sẽ tan vỡ và bị tiêu diệt.
Lý Bí vui mừng :
-Hay, diệu kế, diệu kế.
Lý Bí cắt cử tướng Lý Công Tuấn coi giữ Ninh Hải, rồi tự mình dẫn quân đi theo con đường độc đạo hướng Đông về Hợp Phố, cách Ninh Hải khoảng 100 dặm. Quân đi nườm nượp, cờ vàng bay phần phật, dưới rừng cờ là giáo mác. Bụi cuốn mù trời. Phía Đông sóng biển reo ầm ì bản nhạc muôn đời.
Khi quân Lý Bí vừa đến một bãi rộng chắn ngang con đường về phía Tây Hợp Phố thì từ phía xa, quân Việt đã nhìn thấy bóng cờ và quân Lương đông như kiến cỏ đang đi như gió bão tiến thẳng về phía quân Việt. Lý Bí cho 2 vạn quân do tướng Trịnh Đô chỉ huy tiến về phía Tây bãi rộng và dấu mình để đánh tập hậu, còn hai vạn quân nhanh chóng dàn trận chờ quân Lương. Gặp quân Việt, bên quân Lương cũng nhanh chóng dàn trận đối mặt với trận địa quân Việt. Tôn Quýnh và Lư Tử Hùng cưỡi ngựa cùng các tướng đứng trước hàng quân. Hai người cưỡi ngựa màu đen. Tay Lư Tử Hùng cầm gươm dài, Tôn Quýnh cầm thanh đại đao lớn. Tôn Quýnh nói lớn:
-Ta đang định vào Long Biên bắt giặc, may sao chúng đã tự đến nộp mạng. Ai ra bắt Lý Bí cho ta?
-Có mạt tướng.
Từ trong hàng quân Lương, một tướng cưỡi ngựa trắng, áo giáp sắt, nón nhọn, sử dụng ngọn giáo thúc ngựa xông ra. Bên hàng quân Việt nữ tướng Phạm Thị Toàn sử dụng hai thanh gươm, cưỡi ngựa nâu xông ra. Hai ngựa và người giáp nhau, tiếng gươm và giáo chạm nhau tóe lửa. Chỉ 10 hiệp, tướng Lương bị gươm của Phạm Thị Toàn đưa qua cổ đầu văng xuống đất. Lý Bí dùng gươm trỏ về phía trước ra hiệu lệnh, quân Việt ào ào xông lên chém giết. Vũ khí chạm nhau kêu chát chúa, tóe lửa, máu chảy đầu rơi. Quân Lương cậy thế đông không hề nao núng, chống cự kịch liệt. Bỗng nhiên phía sau quân Việt, một phát tên châm lửa bắn lên trời. Nhận được tín hiệu, 2 vạn quân Việt giấu mình xông ra đánh tập hậu vào sau quân Lương. Thế trận quân Lương phút chốc tan vỡ, náo loạn, bị quân Việt kẹp từ hai phía chém chết không biết bao nhiêu mà kể, thây chết thành núi, máu chảy ngập bãi, ngập đường. Trận đại chiến rung lên trong tiếng trống, tiếng thanh la, tiếng reo hò, kể cả tiếng thét thảm thương của quân Lương. Một vùng Đông Nam Hợp Phố trời long đất lở. Lư Tử Hùng và Tôn Quýnh nhờ các tùy tướng trung thành liều chết mở đường máu mới thoát chết, sau đó thu nhặt tàn quân còn khoảng 6000 người chạy về Quảng Châu, bỏ lại xác 4,5 vạn quân Lương nằm lại chiến trường Đông Nam Hợp Phố. Phía quân Việt, 4000 nghĩa quân đã hi sinh. Sau trận đại bại này, Tôn Quýnh và Lư Tử Hùng bị Lương Vũ Đế luận tội, bắt uống thuốc độc chết ở Quảng Châu.
Vào thế kỷ thứ VI, phía Nam Đức Châu của Giao Châu tồn tại nước Lâm Ấp của người Chăm, lãnh thổ từ Nam Đức Châu đến Đồng Nai. Kinh đô là Phật Thệ (Huế). Quân đội của Lâm Ấp ước tính 5 vạn người, có bộ binh, thủy binh, đặc biệt hùng mạnh là tượng binh có đến 1000 thớt voi, vũ khí thường sử dụng chủ yếu là gươm, giáo rèn bằng sắt tốt.
Tháng 5 năm 543 tại Long Biên, Lý Bí được thám mã báo tin khẩn cấp rằng vua Lâm Ấp là Rudravarman I đem 4 vạn quân tiến đánh Đức Châu và đã tiến sâu vào đất Lợi Châu. Lý Bí lập tức bàn luận với các tướng. Lão tướng Phạm Tu nói:
-Tôi xin đem 4 vạn quân vào Nam phá giặc.
Lý Bí nói:
-Lão tướng là người cao tuổi đã chinh chiến nhiều, chuyến đi này sẽ rất nhiều vất vả và khó nhọc.
Phạm Tu nói:
-Tôi còn đủ sức đánh cho tên vua Lâm Ấp chạy dài, xin chúa công yên tâm.
-Vậy lão tướng sẽ chọn tướng quân nào đi giúp sức.
-Cùng đi với tôi hãy cho tướng Lý Phục Man, tướng Phạm Thị Toàn và Triệu Quang Phục.
Tinh Thiều nói:
-Lão tướng nay đi chiến trường xa, phải tính toán thực chi ly. Quân Lâm Ấp có thuỷ binh nhưng lực lượng này ở ngoài biển không đáng ngại. Lực lượng mạnh của địch là bộ binh và đặc biệt là tượng binh với 1000 con voi. Lão tướng phải đánh kiểu gì mà binh lực tượng binh này không phát huy được tác dụng thì mới chiến thắng được.
Phạm Tu nói:
-Cảm ơn quân sư, tôi vào chiến trường xem xét cụ thể rồi sẽ tính sau nhưng bảo đảm tôi sẽ đánh tan quân giặc mới trở về.
Sau tiệc rượu đưa tiễn của Lý Bí và các tướng, Phạm Tu đem 4 vạn quân tiến vào Lợi Châu theo con đường thiên lý. Khi còn cách quân Lâm Ấp 2 dặm thì Phạm Tu cho dừng tiến quân và quan sát. Trước mắt Phạm Tu là doanh trại quân Lâm Ấp trắng toát một màu kéo dài san sát. Giữa những trại đó có một trại tráng lớn nhất, đẹp nhất, trên nóc có là cờ màu trắng lớn có viết chữ đen ngoằn ngoèo. Phía Tây doanh trại là dãy núi Quyết với rừng rú rậm rạp. Phía Đông là đường thiên lý nhưng đầy cây cối âm u không khác gì rừng. Phạm Tu nói với các tướng:
-Bây giờ dàn trận đánh nhau đàng hoàng chắc quân ta bất lợi khi 1000 con voi của giặc xông lên.
Triệu Quang Phục hỏi:
-Vậy thưa lão tướng, bây giờ chúng ta sẽ đánh như thế nào ạ?
Phạm Tu nói:
-Trời sắp tối rồi, đêm nay dựa vào địa hình mà quân giặc đang hạ trại, ta tấn công ba mặt. Một cánh do Lý Phục Man chỉ huy đánh từ rừng phía Tây xuống, một cánh do Phạm Thị Toàn chỉ huy đánh từ phía Đông, một cánh do tôi và Triệu Quang Phục tấn công từ mặt Bắc doanh trại.
Nữ tướng Phạm Thị Toàn hỏi:
-Thưa lão tướng, còn hướng phía Nam?
- Phía Nam để cho quân địch lối thoát chúng mới không liều chết chống cự. Nếu bịt kín địch liều chết mà đánh thì ta cũng thiệt hại không nhỏ.
Các tướng bái phục:
-Đúng là lão tướng nhiều kinh nghiệm.
Phạm Tu nói thêm:
-Chỉ có tấn công bất ngờ mới làm cho lực lượng mạnh nhất của địch là tượng binh không phát huy được tác dụng.
Từ xa bên doanh trại quân Lâm Ấp cũng đã trông thấy doanh trại quân Việt ngã màu đen do trời đã tối. Một bộ tướng của Rudravarman I nói:
-Sao bệ hạ không nhân lúc quân Việt mệt mỏi mà lùa voi đi trước, bộ binh theo sau mà tiêu diệt chúng?
RudravarmanI nói:
-Cứ nghỉ ngơi đi, ngày mai dàn trận đàng hoàng ta sẽ lùa voi xéo chết bộ binh Việt là xong, cứ gì phải đánh ban đêm nhỡ trúng phục binh thì sao.
Ngừng một lát, vua Lâm Ấp trỏ tay nói tiếp:
-Ngươi không thấy quân Việt sợ voi của ta đã không dám tiến tới, không đóng trại nơi bằng phẳng mà đóng quân trên đồi cao, trước mặt có đồng lầy đó sao.
Đêm xuống, lính canh của quân Lâm Ấp vẫn thấy trong lều trại của quân Việt lửa sáng rực, quân lính ăn uống đi lại nhộn nhịp nên quân Lâm Ấp không nghi ngờ gì cả. Thốt nhiên giờ tý, toàn bộ doanh trại của quân Lâm Ấp bốc cháy ngùn ngụt, toàn doanh trại chìm trong biển lửa sáng rực. Quân Lâm Ấp thức dậy đang hỗn loạn thì bị những trận mưa tên bắn xối xả từ các hướng Bắc, Đông, Tây. Quân Lâm Ấp hết lớp này đến lớp khác gục xuống chết chồng chất. Khi đang hỗn loạn cực độ thì quân Việt từ ba hướng Tây, Đông và Bắc lao vào chém giết quân Lâm Ấp và reo hò kinh thiên động địa, chiêng trống thúc vang lừng chuyển động cả trời đất vùng núi Quyết, sông Lam. Thây quân Lâm Ấp xếp thành núi, máu chảy ngập đường như suối. RudravarmanI hốt hoảng cùng bộ tướng lên voi chạy về hướng Nam. Lạ kỳ những mũi tên cứ tua tủa tìm đến chung quanh voi và người Rudravarman I. Những tùy tướng lấy thân che tên cho chúa đã gục xuống chết dọc đường. Một tùy tướng nói:
-Bệ hạ ném cái lọng trắng đi, quân Việt biết lọng trắng là của bệ hạ nên chúng bắn dữ dội.
Rudravarman I ném lọng trắng đi, mở đường máu mới chạy thoát và đi một mạch về kinh đô Phật Thệ không dám ngoái đầu lại. Tại chiến trường Lợi Châu, 3 vạn quân Lâm Ấp đã nằm lại, 1000 con voi bị quân Việt bắt sống. Đây là trận nhớ đời của quân Lâm Ấp. Sau trận này, nước Lâm Ấp bước vào thời kỳ suy yếu cho đến năm 605 thì bị nhà Tùy tiêu diệt.
Như vậy, tới năm 543, Lý Bí đã kiểm soát toàn bộ Giao Châu, phía Bắc là quận Hợp Phố bao gồm Bắc Hải và bán đảo Lôi Châu, quận Ninh Hải, Hoàng Châu, Ái Châu, Lợi Châu, Minh Châu và Đức Châu.
Vào một buổi sáng năm Giáp Tý (544), Lý Bí ngồi bàn bạc với các tướng về công việc quốc gia ở thành Long Biên. Tinh Thiều nói:
-Bẩm chúa công, nước một ngày không thể không có vua, nay lãnh thổ được giải phóng đã kéo dài từ Hợp Phố phía Bắc đến vượt quá dãy Hoành Sơn ở phía Nam, rất cần một minh quân cai trị. Nay xin chúa công lên ngôi hoàng đế lãnh đạo xây dựng quốc gia, để thỏa lòng mong mỏi khao khát của quân dân bách tính.
Triệu Túc cũng nói:
-Quân sư nói phải, chúa công phải lên ngôi hoàng đế để cho danh chính, danh có chính thì ngôn mới thuận để hiệu lệnh thiên hạ mà trị vì đất nước, mới thực hiện được sự nghiệp kinh bang tế thế.
Phạm Tu nói:
-Chúa công xưng đế thì sự nghiệp độc lập mới sáng tỏ để sánh ngang với các triều đại ở Trung Nguyên.
Các tướng đều quỳ xuống và đồng thanh hô to:
-Bệ hạ vạn tuế, vạn tuế…
Vậy là tháng 1 năm 544, Lý Bí làm lễ đăng quang, lên ngôi hoàng đế, lấy đế hiệu là Lý Nam Đế, đặt niên hiệu là Thiên Đức, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân, lấy Long Biên làm Kinh đô, lấy thành Tô Lịch là kinh đô thứ hai. Việc Lý Bí xưng đế là ngang nhiên phủ định sự thống trị của Lương Vũ Đế đối với Giao Châu, vạch rõ Giao Châu là một thực thể độc lập, dân Việt dứt khoát làm chủ vận mệnh của mình. Lý Bí đã tổ chức một triều đình gồm hai ban văn, võ trăm quan. Tinh Thiều đứng đầu ban văn, Phạm Tu đứng đầu ban võ, Triệu Túc làm Thái Phó, Lý Thiên Bảo làm Thái sư, Phạm Lạng, Phạm Thị Toàn, Dương Khoan Khoáng, Triệu Quang Phục làm Đại tướng tả tướng quân, Trịnh Đô, Tam Cô, Lý Công Tuấn, Triệu Chí Thành, Lý Phục Man, Lý Phật Tử làm Đại tướng hữu tướng quân.
Một hôm Thái phó Triệu Túc nói:
-Bệ hạ nên cho xây một cung điện gọi là điện Vạn Thọ để làm nơi thiết triều, hội họp, sau nữa là để thể hiện uy vũ của quốc gia, của triều đình.
Lý Nam Đế nghe lời cho xây điện Vạn Thọ.
Tả tướng quốc Tinh Thiều nói:
-Hiện nay trong thiên hạ rất cần mua bán trao đổi mà không có tiền, phải trao đổi hiện vật lấy hiện vật, rất là bất tiện. Bệ hạ nên cho đúc tiền thuận lợi cho việc mua bán, phát triển kinh tế đất nước.
Lý Nam Đế nghe theo, cho đúc đồng tiền riêng của nhà nước Vạn Xuân, gọi là đồng tiền Thiên Đức.
Lý Nam Đế đã chịu ơn nhà chùa nuôi nấng dạy dỗ từ năm 7 tuổi, cho nên Người theo Phật giáo. Cuối năm 544, Lý Nam Đế cho xây ngôi chùa lớn cũng là trung tâm Phật giáo lớn của Vạn Xuân, đó là chùa Khai Quốc.
Lý Nam Đế đã thực hiện ban thưởng hậu cho các tướng sĩ có công, ban tặng vàng bạc cho các làng, miễn và giảm sưu thuế cho nhân dân, xóa bỏ tất cả các chính sách bóc lột, áp bức, đồng hóa của các triều đại Trung Quốc ở Giao Châu. Lý Nam Đế ra sức xây dựng quân đội, xây dựng những căn cứ chống Lương, xây dựng thành lũy ở đầu sông Tô Lịch đề phòng có thể phải thiên đô về đây.
IVTin mất toàn bộ Giao Châu làm cho Lương Vũ Đế kinh hoàng. Trong một buổi thiết triều ở kinh đô Kiến Khang, Lương Vũ Đế nói với quần thần:
-Chưa đầy 4 năm, chỉ riêng ở đất Giao Châu của bọn di Việt, ta đã mất 10 vạn quân, 1 Thứ sử, bốn Thái thú hàm Thứ sử, một Thái thú và nhiều võ quan khác mà kết cục nay mất toàn bộ châu này, mất một hậu phương quan trọng của nước Lương ta. Lý Bí quả là văn võ song toàn. Nay ông ta còn xưng Hoàng đế, đặt đế hiệu, niên hiệu, quốc hiệu riêng để hoàn toàn đối lập với chúng ta, Ta không thể nuốt trôi mối nhục này. Có ai có thể thay ta đi dẹp loạn Giao Châu hay là để ta phải tự thân chinh?
Quan Thái sư Tiêu Chính bước ra tâu:
-Muôn tâu, đất phương Nam khí hậu khắc nghiệt, lam sơn chướng khí, xa cách vạn dặm, bệ hạ khỏi phải khó nhọc, vả lại còn phải bận việc tranh hùng trong chiến cuộc Nam- Bắc triều hiện nay, bệ hạ không thể rời Kiến Thành này được. Bình định Giao Châu thần xin tiến cử một người có thể hoàn thành sứ mạng này.
Lương Vũ Đế hỏi:
-Ai vậy? Khanh nói nhanh.
-Thưa, đó là Đại đô đốc Tây Giang, bây giờ là Thái thú Vũ Bình Trần Bá Tiên.
-Khanh biết rõ người này không?
-Dạ bẩm, thần biết rõ. Trần Bá Tiên vốn xuất thân là tầng lớp bình dân, đã từng giữ chức Lý trưởng ở Hà Nhược, huyện Trường Thanh, châu Chiết Giang, sau theo Thứ sử Quảng Châu Tiêu Anh làm chức Tham quân, hiện giờ là Đại Đô Đốc Tây Giang, Thái thú Vũ Bình. Trần Bá Tiên là con người giỏi chiến trận, giỏi binh pháp, văn võ song toàn. Thần xin bảo đảm người này có thể bình định được Giao Châu, đáp lòng mong mỏi của bệ hạ.
-Vậy chuẩn tấu.
Lương Vũ Đế lập tức xuống chiếu phong Dương Phiêu làm Thứ sử Giao Châu, Trần Bá Tiên làm Đại tư mã, đem 5 vạn quân đi bình định Giao Châu, lại sai Thứ sử Định Châu là Tiêu Bột hội quân với Dương Phiêu ở Giang Tây để Nam chinh.
Khi hội quân ở Giang Tây, Dương Phiêu cử Trần Bá Tiên đi tiên phong. Tiên dẫn 4 vạn quân theo đường biển tiến vào Giao Chỉ. Do thuận buồm xuôi gió nên 2 ngày sau quân Lương đã đến Ninh Hải, cập bến Hạ Long. Trần Bá Tiên bắt đầu dụng binh một cách gian xảo để đánh lừa Lý Nam Đế. Đạo quân bộ 2 vạn người dong cờ đánh trống tiến vào Hồng Châu cốt cho Lý Nam Đế đem quân chặn đánh đạo quân này, còn đạo quân khác 2 vạn lính do Trần Pháp Vũ chỉ huy, được dấu trong các khoang thuyền giả thuyền đánh cá rải rác đi cách xa nhau bí mật tiến theo đường sông Bạch Đằng, theo sông Kinh Thầy rồi đổ bộ lên Lục Đầu Giang, có nhiệm vụ đánh tập hậu bất ngờ vào sau lưng quân Việt ở Hồng Châu.
Bấy giờ là Thiên Đức năm thứ hai, tháng 5 năm 545 (Ất Sửu), thám mã về báo quân Lương đã đổ bộ lên bờ biển vịnh Hạ Long, Ninh Hải và đang tiến về Hồng Châu.
Lý Nam Đế hỏi:
-Trần Bá Tiên là kẻ dùng binh rất gian trá, ngoài đạo bộ binh tiến về Hồng Châu, có đạo thủy binh tiến vào sông Bạch Đằng không?
Thám mã:
-Dạ không thấy có đạo thủy binh nào.
Tinh Thiều nói:
-Không có đạo thủy binh theo sông Bạch Đằng, sông Kinh Thầy lên Lục Đầu Giang thì Trần Bá Tiên không thể hợp vây quân ta được.
Lý Nam Đế nói:
-Quân sư ở lại coi Long Thành cùng Thái sư Triệu Túc, Đại tướng Phạm Tu đi phòng giữ thành Tô Lịch, còn ta thân chinh cùng các Đại tướng Triệu Quang Phục, Dương Khoan Khoáng và các Đại tướng khác chặn đánh địch ở Hồng Châu.
Ngày hôm sau, Lý Nam Đế dẫn 2 vạn quân rời thành Long Biên đi về hướng Đông Nam, về đất Hồng Châu. Nữ Tướng Dương Khoan Khoáng đi tiên phong, Lý Nam Đế đi trung quân, Triệu Quang Phục đi tả quân, Đại tướng Phạm Lạng đi hữu quân, các Đại tướng Triệu Chí Thành, Trịnh Đô đi hậu quân. Nắng mùa hè chói chang, quân đi bụi cuốn mù mịt theo gió. Trên đầu họ, cờ vàng tung bay phần phật. Đi sâu vào địa phận Hồng Châu, phía Đông Lục Đầu Giang 2 dặm vùng Kiếp Bạc đã thấy quân Lương dàn trận. Trần Bá Tiên và các tùy tướng cầm vũ khí chờ đợi. Trên đầu vô số cờ quạt rợp trời, lớn nhất là lá cờ chữ Soái bay trên đầu Trần Bá Tiên .
Lý Nam Đế cho dàn trận. Trần Bá Tiên thấy Lý Nam Đế cưỡi ngựa nâu, áo bào vàng, bên ngoài mặc áo giáp vàng, mũ đâu mâu vàng, trên đầu che lọng vàng, trên lọng có lá cờ chữ Soái, oai phong lẫm liệt, tay cầm kiếm cán mạ vàng. Bên tả là Đại tướng Triệu Quang Phục, bên hữu là Đại tướng Dương Khoan Khoáng. Trần Bá Tiên quát:
-Ai dám ra bắt bọn phản tặc cho ta?
-Có mạt tướng.
Mọi người nhìn ra thì đó là tướng Lưu Chí Bình. Lưu Chí Bình múa đại đao, cưỡi ngựa đen xông ra. Nữ tướng Dương Khoan Khoáng múa hai thanh gươm xông ra thét:
-Lũ giặc Lương xâm lược hãy đền tội.
Hai người và ngựa xáp nhau, gươm chạm đại đao tóe lửa, vang lên những tiếng kêu khô khốc. Chưa đầy 10 hiệp, gươm của Dương Khoan Khoáng lùa qua cổ Lưu Chí Bình làm đầu hắn đẫm máu rơi xuống đất.
Phía quân Việt xông lên chém giết. Phía quân Lương bỗng có một phát tên châm lửa bắn lên trời. 2 vạn quân Lương đột nhiên xuất hiện phía sau đánh tập hậu quân Việt. 4 vạn quân Lương ép quân Việt vào giữa chém giết. Quân Việt chiến đấu ngoan cường nhưng núng thế, thế trận dần dần tan vỡ và đại bại.
Như đã nói, Trần Bá Tiên cho 2 vạn thủy binh bí mật tiến theo sông Bạch Đằng đổ bộ lên Lục Đầu Giang, chờ cho quân Việt Tiến sâu vào trận địa Hồng Châu mới đổ bộ lên đánh tập hậu. Triệu Quang Phục, Dương Khoan Khoáng và các tùy tướng hết sức bảo vệ Lý Nam Đế mở đướng máu mới thoát về thành Tô Lịch. Gần 1,5 vạn quân Việt đã hy sinh, quân Lương dù lợi thế nhưng cũng để lại 1 vạn xác chết trên chiến trường. Trần Bá Tiên dù dùng gian kế chiến thắng nhưng hắn vô cùng khâm phục và khiếp sợ tinh thần chiến đấu của quân Việt. Trần Bá Tiên thấy rằng nhân lúc Lý Nam Đế vừa thất bại, chưa củng cố được lực lượng và thế trận cần phải truy kích quyết liệt, không cho Lý Nam Đế có chỗ đứng chân vững chắc, nếu không, hắn cũng sẽ thất bại như Lư Tử Hùng và Tôn Quýnh trước đây.
Lý Nam Đế đem 5000 quân còn lại rút về cùng Đại Tướng Phạm Tu giữ thành Tô Lịch trên sông Hồng. Trần Bá Tiên thúc thủy binh và bộ binh đuổi tới bao vây thành. Thành Tô Lịch là một thành tạm bợ được rào chắn bằng tre và gỗ. Vì chiến tranh liên miên nên Lý Nam Đế chưa kịp cho gia cố thành bằng gạch và đá kiên cố. Quân Lương bao vây và tấn công thành ở hướng Đông và hướng Bắc. Hướng Tây và hướng Nam của thành cây cối rậm rạp, nhiều hồ nước đầm lầy, quân Lương sợ bị quân Việt tập kích. Đã ba lần trong 3 ngày, quân Lương tấn công vào nhưng bị tên và đá của quân Việt bắn ra, quân Lương chết như rạ. Cuối cùng sang ngày thứ tư, quân Lương dùng chất cháy đốt thành lũy gỗ và đốt nhà cửa doanh trại trong thành. Quân Lương tràn vào thành chém giết. Quân Việt kháng cự ngoan cường. Tiếng trống trận, tiếng reo hò, lửa cháy, khói mù trời đất, máu tuôn, những xác quân lính gục đổ. Thốt nhiên, hàng ngũ quân Lương vòng ngoài rối loạn. Thì ra quân Việt ở thành Long Biên do Triệu Túc đã chi viện kịp thời, phá dãn vòng vây quân Lương. Nhân cơ hội đó, Triệu Quang Phục, Dương Khoan Khoáng mở đướng máu đưa Lý Nam Đế vượt ra ngoài thành, chạy về hướng Tây Bắc. Trong hỗn chiến, lão tướng Phạm Tu và 1 vạn nghĩa quân đã anh dũng hy sinh. Đó là ngày 20 tháng 7 Ất Sửu (tháng 8 năm 545). Phía quân Lương cũng để lại thành Tô Lịch 1 vạn xác chết.
Sau trận Tô Lịch, Lý Nam Đế chạy về thành Gia Ninh (xưa là kinh đô Bạch Hạc), thuộc đồi núi trung du, ngã ba sông Hồng, sông Lô, Sông Đà. Lý Thiên Bảo, Lý Phật Tử chạy về miền Tây Cửu Chân và chạy sang đất Ai Lao. Ở phía Bắc, Dương Phiêu đánh chiếm Hợp Phố, Ninh Hải và tiến vào Hoàng Châu, chiếm kinh đô Long Biên. Vận nước Vạn Xuân vô cùng nguy nan. Thủy Binh và bộ binh quân Lương truy đuổi ráo riết, bắt đầu công phá thành Gia Ninh. Trần Bá Tiên cho quân đi đầu dùng những tấm khiên đồng ghép lại che chắn tên đạn của quân Việt để hạn chế thương vong và tiến lên công thành. Quân Việt bắn tên, ném đá như mưa nhưng quân Lương thiệt hai rất ít. Quân Lương tiến sát cổng thành, dùng những cây gỗ to, nhọn, dài vài trượng do những tên lính lục lưỡng đâm mạnh vào cổng thành. Chỉ cần vài khắc, cổng thành Gia Ninh bị húc đổ. Quân Lương tràn vào đốt phá chém giết. Quân Việt rất ngoan cường chống lại. Một cuộc hỗn chiến trong và ngoài thành Gia Ninh diễn ra khốc liệt, thây người chồng chất, máu đỏ dòng sông Hồng Hà, Lô Giang và Đà Giang đậm đặc, tiếng reo hò kinh thiên động địa. Quân Việt đại bại. Lý Nam Đế được các tùy tướng mở đướng máu, hộ giá chạy về thượng nguồn sông Lô. Đó là miền núi rừng hiểm trở, miền Động Lão, Tân Xương thuộc núi rừng Việt Bắc.
Tại núi rừng Động Lão, Lý Nam Đế nói với các tướng Dương Khoan Khoáng, Triệu Quang Phục, Triệu Túc, Lý Công Tuấn, Trịnh Đô:
-Nay vận nước lâm nguy, muốn cứu được Vạn Xuân, muốn thắng được quân Lương cần thêm một căn cứ ở đồng bằng để làm thế ỉ dốc, hỗ trợ cho nhau, xây dựng lực lượng. Cho nên ta trao binh quyền cho Thái phó Triệu Túc và Đại tướng Triệu Quang Phục trở về quê nhà Chu Diên, tìm một địa thế hiểm trở xây dựng căn cứ và lực lượng, chờ thời cơ phản công. Cuộc kháng chiến này không thể đánh nhanh thắng nhanh được mà phải đánh lâu dài. Tất cả nhờ vào Thái Phó và Đại tướng quân.
Triệu Túc và Triệu Quang Phục quỳ lạy nhận di mệnh của Hoàng đế Vạn Xuân rồi vua tôi gạt lệ chia tay. Triệu Túc và Triệu Quang Phục cùng 1vạn quân cải trang rời Động Lão, trở về Khoái Châu chiều hè năm đó.
Lý Nam Đế còn nói với các tướng:
-Trần Bá Tiên sở dĩ thắng được quân ta một phần là nhờ sức cơ động của thủy quân. Ở một nước nhiều sông ngòi như nước ta thủy quân thật là quan trọng. Cho nên ngoài bộ binh chúng ta phải đóng chiến thuyền và xây dựng thủy binh.
Các tướng nghe xong đều nói:
-Bệ hạ anh minh.
Từ đó Lý Nam Đế cùng các tướng đốc thúc binh sĩ hạ gỗ, mời thợ về đóng chiến thuyền. Một năm sau đã đóng được 300 chiến thuyền. Lý Nam Đế chọn hồ Điển Triệt (đầm Miêng, Tứ Yên, Sông Lô, Phong Châu), cách thành Gia Ninh về phía Bắc khoảng 30 dặm. Với trên 300 chiến thuyền, 1 vạn thủy binh Việt ngày đêm luyện tập thủy chiến chuẩn bị đánh giặc. Lại nói Trần Bá Tiên đóng quân ở thành Gia Ninh hơn một năm mà không thể tiến vào miền Động Lão để tiêu diệt quân của Lý Nam Đế để hoàn thành cuộc chinh phục Giao Châu, nay nghe thám mã về báo:
-Dạ bẩm Đại Tư mã, thủy quân Việt đang tập trung hàng trăm chiến thuyền ở hồ Điển Triệt.
Trần Bá Tiên nghe báo mừng rỡ nói:
-Tốt, có thể kết thúc được việc tiêu diệt Lý Nam Đế.
Trần Bá Tiên liền kéo thủy binh ngước dòng sông Lô tiến lên nhưng gặp nước cạn không thể tiến vào hồ Điển Triệt, liền dàn trận ở cửa sông Lô chờ đợi. Bấy giờ là tháng 8 năm 546, niên hiệu Thiên Đức năm thứ 3. Tháng 8 là mùa mưa lũ của nước Vạn Xuân, nước sông Lô và nước các con sông khác dâng lên cuồn cuộn. Thế rồi, trong một đêm một ngày mưa như trút nước, nước sông Lô dâng lên và cửa sông Lô vào hồ Điển Triệt biến thành biển cả mênh mông. Trần Bá Tiên cho thủy binh tiến vào hồ. Đến hồ, thủy binh Lương rẽ làm hai hướng chạy vòng quanh hồ tạo thành thế bao vây thuỷ quân Việt. Thủy quân Lương chạy như bay bao vây bốn mặt hồ, xả tên như mưa và ném chất cháy vào chiến thuyền quân Việt. Quân Việt chống cự mạnh mẽ nhưng thuyền bốc cháy. Thủy quân Việt hoặc bị trúng tên, hoặc bị chết cháy. 300 chiến thuyền thành những bó đuốc rực lửa chìm dần xuống đáy hồ, mang theo khoảng 1 vạn quân Việt anh dũng hi sinh vì nước. Lý Nam Đế được các tướng phò giá lên bờ, chạy về miền rừng núi động Khuất Lão, Phong Châu.
Sau khi Lý Nam Đế đăng quang cho đến trận hồ Điển Triệt, nước Vạn Xuân gặp biết bao biến cố đau buồn: quân Việt liên tục thất bại ở Diên Châu, thành Tô Lịch, thành Long Biên, Thành Gia Ninh. Hàng vạn nghĩa binh, hàng trăm tùy tướng, trong đó có cả Đại tướng Phạm Tu hi sinh vì nước. Người anh của Lý Nam Đế là Lý Thiên Bảo, người cháu họ là Lý Phật Tử cùng ba vạn quân bị tướng Lương Trần Pháp Vũ đánh tan tác phải chạy sang Ai Lao, bây giờ không biết sống chết ra sao. Cha con Thái phó Triệu Túc và Triệu Quang Phục về quê nhà Khoái Châu xây dựng lực lượng cũng không có tin tức gì. Nữ tướng Phạm Thị Toàn, người nữ tướng trí dũng và sắc đẹp song toàn, đã lập nhiều chiến công trong những trận chiến thắng quan trọng như Hợp Phố, Ái Châu, đánh Lâm Ấp ở Lợi Châu. Sau khi đăng quang, Lý Nam Đế có ý dành ngôi cung phi cho Phạm Thị Toàn nhưng bà từ chối và xin về quê hương chăm sóc mẹ già cho tròn chữ hiếu, đã lâu rồi cố nhân cũng bặt vô âm tín. Trận hồ Điển Triệt không chỉ làm tan vỡ cố gắng cuối cùng của Lý Nam Đế trong cuộc kháng chiến chống Lương mà trong trận đó, Hoàng hậu của Lý Nam Đế là Hứa Trinh Hòa, con ông Hứa Minh và bà Bùi Thị Quyên, người làng Đông Mán, Đông Phong, đất Vũ Ninh xưa, sau bao năm cùng ông chinh chiến nhưng bà đã hy sinh trong trận hồ Điển Triệt. Việc Hoàng hậu hy sinh tại hồ Điển Triệt là giọt nước tràn ly tăng thêm sự ưu tư buồn bã của Lý Nam Đế. Cho nên khi chạy vào động Khuất Lão, Lý Nam Đế thường xuyên đau ốm. Các tùy tùng đã tìm nhiều lang y miền núi chữa trị cho ông nhưng không qua khỏi. Lý Nam Đế từ trần ngày 13 tháng 4 năm Mậu Thìn (548) tại động Khuất Lão, Phong Châu, ở ngôi 5 năm, thọ 46 tuổi.
VSau trận thành Gia Ninh, Lý Nam Đế chính thức trao binh quyền cho hai cha con Triệu Túc và Triệu Quang Phục, toàn quyền lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Lương và trở về quê nhà để xây dựng lực lượng. Triệu Túc và Triệu Quang Phục nhận di mệnh, bí mật đem 1 vạn quân đi một ngày đường thì đến Chu Diên. Sau bữa cơm tối, Triệu Quang Phục nói:
-Hiện nay lực lượng của nước Vạn Xuân chỉ còn chúng ta là trụ cột, Trần Bá Tiên dứt khoát sẽ tiến đánh chúng ta trong nay mai thì hắn sẽ hoàn thành công cuộc Nam chinh. Bây giờ cha tính phải làm sao đây?
Triệu Túc nói:
-Bây giờ không có cách nào tốt hơn là phòng thủ kháng chiến lâu dài, xây dựng lực lượng, tiêu hao quân địch, chờ cục diện Nam-Bắc triều chuyển biến xấu với nhà Lương thì đó là thời cơ của chúng ta phản công giải phóng đất nước.
Triệu Quang Phục nói:
- Muốn phòng thủ thì phải có thành cao hào sâu, nay ta không có thành lũy mà nay mai Trần Bá Tiên đã đánh tới rồi, sao xây dựng kịp.
Triệu Túc hỏi:
-Con có biết đầm Dạ Trạch không?
-Con có nghe nói, có phải nơi đó gắn với sự tích chuyện của công chúa Tiên Dung và Chữ Đồng Tử thời Hùng Vương không ạ?
Triệu Túc nói:
-Đúng rồi, Đầm Dạ Trạch ở bãi Màn Trò, Khoái Châu, diện tích rộng không biết bao nhiêu mà kể, chu vi cũng không biết bao nhiêu dặm mà bốn mặt thì bùn lầy, cây cối và cỏ um tùm rậm rạp, người ngựa và thuyền to không đi được vì bùn sâu và nhão nhoét, lại vướng cỏ cây, chỉ có thể dùng thuyền độc mộc đi trên bùn và cỏ, lại dễ lạc lối, nếu ngã xuống thì sẽ bị rắn độc cắn chết. Giữa bãi bùn lầy và cây cối rậm rạp mênh mông như vậy lại nổi lên một bãi đất cao và rộng chứa được hàng vạn người. Chỉ có lấy Đầm Dạ Trạch làm căn cứ thì quân Lương không thể tấn công ta được.
Triệu Quang Phục nói:
-Nhưng quân Lương cứ bao vây bên ngoài vài tháng thì quân ta hết lương thực sẽ chết đói trong đó.
Tướng Trương Hống nói:
-Đại tướng lo gì, đầm lầy thì có thể gieo cấy lúa mà ăn.
Trương Hát nói:
-Bây giờ cho quân đi gom lương thực thì gom luôn cả thóc giống, nông cụ cày bừa, cuốc, xẻng đem vào Đầm Dạ Trạch, vừa làm ruộng vừa chống giặc.
Triệu Túc nói:
-Hai anh em nhà tướng quân Trương Hống, Trương Hát quả là những nhà nông thông minh và giàu kinh nghiệm.
Sớm hôm sau, 5000 quân của Triệu Túc và Triệu Quang Phục chia nhau vào nhà dân quanh vùng mua gạo, lương thực, thóc giống và nông cụ. Bách tính sau khi biết ý định của nghĩa quân rút vào Đầm Dạ Trạch, vừa sản xuất vừa chiến đấu thì tình nguyện đóng góp với số lượng lớn. Trong khi đó, 5000 quân khác được giao nhiệm vụ chặt cây, cứ hai cây gỗ ghép thành mặt cầu và kéo dài từ bờ đầm cho đến bãi cát nổi giữa đầm cho quân rút vào. Suốt một vùng Chu Diên cho đến các địa phương lân cận thêm một vạn thanh niên tham gia tòng quân vào nghĩa quân. Sau cùng thì 2 vạn người đã vào bãi nổi giữa đầm lầy, cây cối um tùm rậm rạp không để lại dấu vết. Những toán lính đi sau cùng có nhiệm vụ phá cầu, kéo theo gỗ vào đầm để làm thuyền độc mộc.
Sau trận hồ Điển Triệt, Trần Bá Tiên nói với phó tướng Dương Sàn:
-Nay công cuộc bình định Giao Châu sắp đến ngày thắng lợi hoàn toàn. Đạo quân của Lý Nam Đế đã bị tiêu diệt, Lý Nam Đế đã chạy vào núi rừng hiểm trở rồi cũng chết già trong đó mà thôi, 3 vạn quân của Lý Thiên Bảo và Lý phật Tử chạy vào vùng Ái Châu đã bị tướng Trần Pháp Vũ đánh cho tan tác, Bảo và Tử phải chạy sang Ai Lao lánh nạn. Hiện nay chỉ còn 2 vạn quân do cha con Thái phó Triệu Túc chỉ huy chạy về Chu Diên. Nay ta phải hành quân gấp về Chu Diên tiêu diệt nốt đạo quân này thì sẽ kết thúc chiến tranh. Ta có thể kê cao gối mà ngủ được rồi.
Dương Sàn nói:
-Đại Tư mã nói phải lắm.
Lập tức từ thành Gia Ninh, Trần Bá Tiên, Dương Sàn kéo quân về hướng Đông để đánh Triệu Quang Phục. Nhưng quân Lương đã đến chậm một bước, quân Viêt đã lọt hết vào bãi nổi giữa Đầm Dạ Trạch mênh mông bát ngát cây cối um tùm, mặt đầm chỉ có bùn lầy nhão nhoét và cỏ gai chằng chịt. Kỵ binh, bộ binh không tấn công được. Thủy binh cũng bất lực vì đầm không có nước, lại vướng cây cỏ chặn lối đi, thuyền lớn, thuyền nhỏ không thể di chuyển được. Ban ngày Đầm Dạ Trạch rất hoang vu, không một ngọn khói đóm lửa, không một bóng người. Chỉ có tiếng ếch nhái kêu rả rích trong đêm, chỉ có tiếng bìm bịp kêu mỗi buổi hoàng hôn chiều tím. Sự hoang vu thật là rùng rợn. Trước tình hình đó, Trần Bá Tiên cho quân bao vây bốn mặt, hi vọng một tháng sau quân Việt hết lương thực sẽ đói khát mà ra đầu hàng. Nhưng quân Lương cũng không thể yên ổn mà bao vây. Ban đêm, quân của Triệu Quang Phục dùng thuyền độc mộc ra tập kích quân Lương và cướp lương thực. Chính quân Lương cũng thiếu lương thực và chết dần chết mòn. Một hôm Triệu Quang Phục nói với Trương Hống, Trương Hát:
-Chúng ta phải chuẩn bị ruộng để gieo cấy vụ chiêm mới đủ lương thực cầm cự với giặc.
Trương Hống đáp:
-Tuân lệnh chủ tướng.
Trương Hống, Trương Hát chỉ huy quân sĩ be bờ, thu cỏ và cây tạo ra những mảnh ruộng trong đầm lầy rồi cày bừa gieo cấy lúa. Triệu Quang Phục cũng xuống ruộng cầm cày, cầm bừa cày bừa đất làm gương và động viên quân sĩ. Sau khi thu vụ lúa chiêm được hàng chục kho thóc, quân Việt lại làm đất chuẩn bị gieo cấy vụ mùa.
Kế hoạch bao vây để quân Việt thiếu lương thực của Trần Bá Tiên thất bại. Ngược lại, bao vây lâu dài quân Lương cũng lâm vào tình trạng thiếu lương thực, lại thường xuyên bị quân Việt hằng đêm tập kích tiêu hao, tổn thất khá lớn. Triệu Quang Phục được bách tính và quân sĩ gọi là “Dạ Trạch Vương”.
Trong khi đó, cục diện Nam- Bắc triều ở Trung Nguyên ngày càng chuyển biến xấu cho nhà Lương. Nam Triều cũng đang lâm vào cục diện rối bời, đánh giết lẫn nhau để tranh giành ngôi báu. Năm 502, Tiêu Diễn (464-549) đã giết vua Nam Tề là Tiêu Bảo Dung Hòa Đế và lập ra nhà Lương. Tiêu Diễn xưng là Lương Vũ Đế. Hầu Cảnh vốn là quan Tư Đồ nhà Đông Ngụy (Bắc Triều) theo hàng nhà Lương. Tháng 9 năm 548, Hầu Cảnh làm phản chống lại nhà Lương. Từ Thọ Dương, Hầu Cảnh đã vượt Trường Giang bao vây kinh đô Kiến Khang. Trong tình thế hỗn loạn đó, tám tôn thất nhà Lương tranh hùng, khiến tình thế càng thêm rối ren. Trước tình hình đó, Trần Bá Tiên giao quyền bính quân đội ở Giao Châu cho Dương Sàn chỉ huy, về nước tham gia vào cuộc đấu tranh giành quyền lực. Trần Bá Tiên nói với Dương Sàn:
-Hầu Cảnh làm phản, nước nhà nguy nan, tôi không thể không về cứu Lương Vũ Đế. Tướng quân ở lại thống lĩnh quân đội chống nhau với Triệu Quang Phục, nếu thắng lợi sẽ vinh hiển ở Giao Châu.
Dương Sàn nói:
-Đại Tư mã là trụ cột của nhà nước Lương ta, hãy về nhanh cứu giá Lương Vũ Đế và lập lại kỷ cương nước nhà. Tôi nay bất tài nhưng không phụ lòng tướng quân ủy thác.
-Được như vậy là ta yên tâm rồi, sau này ta sẽ không quên công lao của tướng quân ở Giao Châu.
Dương Sàn đáp lễ:
-Đa tạ Đại Tư mã, chúc ngài thượng lộ bình an.
Rồi Trần Bá Tiên nhanh chóng đem thủ hạ về nước, giao quân Lương ở Giao Châu cho phó tướng Dương Sàn chống nhau với Triệu Quang Phục. Bằng tài văn võ của mình, Trần Bá Tiên sớm đè bẹp được Hầu Cảnh, dẹp được tất cả các thế lực quân phiệt nhà Lương, nắm toàn bộ quyền lực và năm 557, phế truất Lương Kinh Đế, lên ngôi vua, lập ra nước Trần, xưng là Trần Vũ Đế. Nhà Trần tồn tại từ 557 đến năm 589 thì bị Dương Kiên (Tùy Văn Đế) nhà Tùy tiêu diệt. Kể ra trong thời kỳ rối loạn như vậy, Trần Bá Tiên cũng là một trong người hùng của thời Nam Bắc- Triều.
Dương Sàn ở lại chống nhau với Triệu Quang Phục vào lúc quân Lương lâm vào đói khát, bị quân Việt tiêu hao nhiều nên khiếp sợ, lại thêm rối loạn ở nước nhà nên tinh thần và sức lực chiến đấu của quân giặc hoàn toàn sụp đổ. Một ngày cuối năm 550, Triệu Quang Phục bàn với các tướng:
-Nay quân Lương đã nguy kịch cả về tinh thần và sức lực, thời cơ cho ta phản công đã tới. Đêm nay, ta chỉ huy một cánh quân, Trương Hống chỉ huy một cánh, Trương Hát chỉ huy một cánh dùng thuyền độc mộc tấn công doanh trại của Dương Sàn. Chỉ cần giết được Dương Sàn thì toàn bộ quân Lương đang bao vây Đầm Dạ Trạch sẽ bị tiêu diệt.
Trương Hát nói:
-Kế này của Chủ tướng thật là tuyệt chiêu.
Đêm đó, quân Việt không một đóm lửa, không một tiếng động, dùng thuyền độc mộc lặng lẽ đi trong màn đêm, đổ bộ lên bờ, giết lính gác, hợp vây doanh trại có chữ “Soái” rồi quân Việt bất ngờ xông vào đánh giết. Dương Sàn đang ngủ không phòng bị, bị Trương Hống phóng một mũi giáo vào ngực xuyên qua lưng mà chết. Sau đó, quân Việt phóng hỏa đốt các doanh trại khác và lao vào chém giết quân Lương. Trong đêm tối, quân Lương như rắn mất đầu, kẻ thì bị giết, kẻ thì chạy về hướng Bắc. Dọc đường, bị phục binh của Triệu Quang Phục tiêu diệt không sống sót một tên nào. Thứ sử Giao Châu Dương Phiêu ở Long Biên nghe tin Dương Sàn bị giết, quân Lương đại bại ở Dạ Trạch, đã dẫn tùy tùng tháo chạy về Quảng Châu. Đất nước lại sạch bóng quân thù, nước Vạn Xuân lại được khôi phục. Triệu Quang Phục dẫn đoàn quân chiến thắng vào kinh đô Long Biên. Vì Lý Nam Đế không còn nên Triệu Quang Phục lên ngôi và xưng đế hiệu là Triệu Việt Vương.
Năm 545, khi quân Việt bị thất bại ở thành Tô Lịch, người anh của Lý Nam Đế là Lý Thiên Bảo và người cháu họ là Lý Phật Tử đem 3 vạn quân chạy về Ái Châu và bị tướng Lương Trần Vũ Pháp đánh tan. Lý Phật Tử và Lý Thiên Bảo chạy sang đất Ai Lao lánh nạn. Năm 550, Lý Thiên Bảo đem 1 vạn quân về vùng Dã Năng. Dã Năng là vùng đất đầu nguồn sông Đào Giang, đất đai bằng phẳng và màu mỡ. Lý Thiên Bảo liền cho xây thành, đặt quốc hiệu Dã Năng, xưng là Đào Lang Vương. Năm 556, Lý Thiên Bảo chết, Lý phật Tử nối ngôi.
Một ngày cuối năm 556, vào buổi sáng, Lý phật Tử đang ngồi trong biệt phủ ở Dã Năng thì thám mã về báo:
-Dạ, bẩm chúa công, Triệu Quang Phục đã tiêu diệt hết giặc Lương, đã trở về kinh đô Long Biên, lên ngôi vua, xưng là Triệu Việt Vương và đã khôi phục lại quốc hiệu Vạn Xuân.
Tin vui đó không làm cho Lý Phật Tử vui mừng mà lại làm cho Tử tức giận, đập tay xuống bàn nói to:
-Lý Nam Đế là tổ tiên của ta đã khó nhọc mới gây dựng được nước Vạn Xuân. Triệu Quang Phục chỉ là Đại tướng, khôi phục được nước phải trao lại cho ta là con cháu Lý Nam Đế mới phải, sao lại tiếm ngai vàng làm của họ Triệu.
Biệt súy phủ là Lý Phổ Đỉnh nói:
-Chúa công nói phải lắm, thiên hạ là của họ Lý chứ đâu phải của họ Triệu. Theo thần muốn lấy lại ngai vàng không khó.
Lý Phật Tử hỏi:
-Lấy bằng cách nào ?
Biệt súy Lý Phổ Đỉnh hiến kế:
-Đem quân tiến đánh Triệu Quang Phục.
-Phải lắm.
Rồi Lý Phật Tử đem 3 vạn quân từ Ái Châu tiến ra Bắc đánh Triệu Việt Vương. Triệu Việt Vương nghe tin Lý Phật Tử đem binh tiến đánh liền nói:
-Dù sao thì Lý Phật Tử cũng là cháu của Lý Nam Đế, nếu về triều trình diện sẽ được phong chức cao bổng hậu, sao phải gây chiến tranh tổn hại binh lính, cũng là người Việt, cũng là binh lính nước Vạn Xuân.
Đại tướng Trương Hống nói:
-Bẩm Triệu Việt Vương, cùng họ Lý nhưng Lý phật Tử chưa chắc đã là hậu dụê của Lý Nam Đế, hơn nữa, lúc đất nước lâm nguy thì hèn nhát bỏ trốn sang tận Ai Lao, nay đất nước vừa mới khôi phục lại muốn tranh đoạt ngai vàng, đẩy đất nước vào xung đột bi thương chết chóc. Đúng là loại người phi nhân nghĩa, ích kỷ, chỉ nhìn thấy quyền lợi danh vọng của mình mà không biết dến bách tính và đất nước. Thần xin đem quân ra hỏi tội hắn.
Đại tướng Trương Hát nói:
-Bệ hạ không nên nghĩ hắn là cháu của Lý Nam Đế thì được kế vị ngai vàng. Về mặt pháp lý và danh chính ngôn thuận, chính Lý Nam Đế đã khẩu dụ truyền di mệnh cho Thái Phó và bệ hạ quyền được thay Lý Nam Đế lãnh đạo quân đội và lãnh đạo tối cao đất nước để kháng chiến chống Lương. Như vậy, Lý Nam Đế đã chính thức truyền ngôi cho bệ hạ. Vả lại, bệ hạ đã gian khổ cùng quân đội gian nan bao năm mới lấy lại được nước. Đúng là Lý Phật Tử là tên không biết điều, sự ngu xuẩn ích kỷ đã làm cho hắn mờ mắt. Thần xin cùng Trương Hát đem quân hỏi tội hắn.
Triệu Việt Vương vốn là người nhân từ nên dặn Trương Hống, Trương Hát:
-Các khanh chỉ cần đánh cho Lý phật Tử thua để hắn hối cải mà về với triều đình, không nên giết nhiều quân, không được tàn sát nhiều, không được đuổi cùng diệt tận.
-Dạ, chúng thần tuân chỉ.
Trương Hống, Trương Hát đem 3 vạn quân ra vùng Câu Lậu chặn quân Lý Phật Tử. Hai bên dàn trận. Lý Phật Tử ngồi trên ngựa quát:
-Nước Vạn Xuân là do tiên đế Lý Nam Đế của ta khởi nghiệp dựng nên, ngôi báu là của họ Lý ta, cớ sao Triệu Việt Vương lại dành lấy. Nay ta đem quân hỏi tội và buộc Triệu Việt Vương phải trả lại ngai vàng cho ta.
Trương Hống nói :
-Lúc Lý Nam Đế rút khỏi thành Gia Ninh, trong cơn thế nước nguy cấp đã trao binh quyền cho Triệu Việt Vương để lãnh đạo kháng chiến cứu nước. Sao ông không ở lại nhận chiếu kế vị quyền lực, lãnh đạo kháng chiến mà hèn nhát bỏ trốn tận Ai Lao. Nay đất nước thanh bình lại về đòi ngai vàng. Ta bảo cho mà biết, quyền thừa kế của ông không còn, vì chính Lý Nam Đế truyền di mệnh kế thừa cho Triệu Quang Phục. Nay ngươi biết điều thì quy thuận triều đình, lương cao lộc hậu, vinh hoa phú quý dù ngươi chẳng có công cán gì khi đất nước nguy nan.
Lý Phật Tử đáp:
-Ta cần ngai vàng của ông bác ta chứ không thèm của bố thí. Ai
ra bắt thằng giặc này cho ta.
Một tướng trong hàng quân của Lý Phật Tử phi ngựa múa giáo xông ra:
-Có mạt tướng đây.
Mọi người nhìn ra thì đó là biệt súy Lý Phổ Đỉnh. Đỉnh cưỡi ngựa đen, sử dụng ngọn giáo dài. Trương Hát múa đại đao xông ra. Chỉ 10 hiệp, Lý Phổ Đỉnh không địch nổi Trương Hát quay ngựa chạy. Quân của Trương Hát xông lên chém giết. Quân Lý Phật Tử đại bại tháo chạy. Nhớ lời dặn của Triệu Việt Vương, lính Lý Phật Tử cũng là lính của Vạn Xuân, cũng là người Việt, chỉ cần đánh cho thua mà không cần đuổi cùng diệt tận, nghĩ như vậy nên Trương Hát khua trống thu quân.
Cứ như vậy 5 lần, lần nào dàn trận giao chiến, quân Lý Phật Tử cũng thất bại tháo chạy. Quân của Trương Hống, Trương Hát đuổi theo không truy sát rồi lại gõ trống thu quân. Nếu quân Triệu Việt Vương truy đến cùng thì Lý Phật Tử chắc chắn bị tiêu diệt.
Sau năm lần thất bại, Lý Phật Tử biết không thể thắng Triệu Việt Vương bằng sức mạnh. Lý Phật Tử lấy làm lạ là cả 5 lần quân Triệu Việt Vương không quyết chiến mà tiêu diệt hắn, nếu như vậy thì hắn đã không còn trên đời nữa. Và Lý Phật Tử hiểu lòng nhân từ của Triệu Việt Vương, không nỡ ra tay với hậu duệ của Lý Nam Đế để mong hắn thay đổi mà quy thuận triều đình. Qua đó, tên hèn nhát nhưng gian ngoan như Lý Phật Tử hiểu rằng hắn chỉ có thể lấy lại ngai vàng bằng mưu kế, bằng lợi dụng chính ngay lòng nhân từ của Triệu Việt Vương.
Một buổi sáng, Triệu Việt Vương đang ngồi trong cung ở thành Long Biên thì có thám mã vào báo:
-Bẩm bệ hạ có người của Lý Phật Tử xin vào yết kiến.
Triệu Việt vương nói:
-Cho vào!
Lý Đạo Quyền, người của Lý Phật Tử bước vào khấu đầu làm lễ:
-Triệu Việt Vương vạn tuế, vạn tuế, mạt tướng xin dâng lên Triệu Việt Vương bức thư của Lý Phật Tử chúa công.
Lý Đạo Quyền đưa thư cho cận thần, cận thần nhận thư và chuyển cho Triệu Việt Vương. Triệu Việt Vương bóc thư. Thư viết: “ Hậu dụê của Lý Nam Đế là Lý Phật Tử khấu đầu trước Triệu Việt Vương. Sau khi Lý Nam Đế qua đời, sự nghiệp giải phóng nước Vạn Xuân là do tài năng và công lao của bệ hạ. Lý Phật Tử xa Hoàng Châu lâu ngày không rõ tình hình nên đã vô cớ động binh, thật là mạo phạm. Nay Lý Phật Tử hối hận và xin giảng hòa. Từ nay không động binh đao cho bách tính thanh bình, Vạn Xuân hưng thịnh. Nay xin thề nếu Phật Tử hai lòng sẽ bị trời chu đất diệt. Kính thư- Lý Phật Tử”.
Triệu Việt Vương đem việc xin giảng hòa của Lý phật Tử nói với các tướng tâm phúc:
-Lý Phật Tử có nói không hiểu tình hình nên gây hấn binh đao, nay hắn thua trận và xin giảng hòa. Các khanh thấy thế nào?
Đại tướng Trương Hát nói:
-Lý Phật Tử là hậu duệ của Lý Nam Đế, khi chúng ta thắng lợi, nước nhà được giải phóng, hắn phải mừng rỡ về triều chúc mừng và hưởng vinh hoa phú quý, lại gây ra chuyện binh đao là do tham vọng muốn dành ngai vàng, muốn thống trị toàn bộ nước Vạn Xuân. Khi thất bại về quân sự mới xin giảng hòa. Thần cho rằng đây là kế sách của hắn mà thôi, qua hành động của hắn thì Lý Phật Tử là một người hẹp hòi tham lam và nham hiểm. Mong bệ hạ hãy đừng trúng kế của hắn.
Triệu Việt Vương nói:
-Lý Phật Tử dẫu sao cũng là hậu duệ của Lý Nam Đế. Nay nếu diệt trừ hắn tận gốc sẽ bị thiên hạ chê cười. Vả lại hắn đã thề với thiên địa thần linh. Nay ta định đem một phần đất nước trao cho hắn để trả cái công ơn của Lý Nam Đế, tỏ cho thiên hạ biết ta là kẻ uống nước nhớ nguồn.
Đại tướng Trương Hát nói:
-Trả ơn cho Lý Nam Đế thì bệ hạ phong cho hắn quan cao chức trọng là được, còn nước là của dân, không thể mang cái của dân đi tặng được, vả lại nước là phải thống nhất, một nước không thể có hai vua được. Bệ hạ không thể đem vận mệnh quốc gia mà trao vào một kẻ gian tham như vậy. Lời hứa của kẻ hẹp hòi gian xảo như vậy có ý nghĩa gì. Xin bệ hạ anh minh.
Triệu Việt Vương nói:
-Ý ta đã quyết, hai Đại tướng quân chớ nhiều lời khiến ta bị thiên hạ chê cười là bất nghĩa. Cai trị thiên hạ mà bị coi là bất nghĩa thì còn gì để nói đây.
Rồi Triệu Việt Vương viết thư trả lời, cho sứ giả đưa đến doanh trại của Lý Phật Tử. Lý Phật Tử bóc thư đọc. Thư viết: “ Về việc vô cớ động binh đao, ta có thể hiểu được tâm trạng của các hạ. Nay các hạ đã nhận ra điều đó là không nên làm là tốt. Về quyền lợi của hậu dụê Lý Nam Đế, ta vẫn ghi nhớ công lao của Lý Nam Đế là người khai sáng ra nước Vạn Xuân. Nay đối với quận Hoàng Châu, ta lấy bãi Quần Thần làm ranh giới, phía Nam là của ta, phía Tây thuộc các hạ cai quản. Các hạ nên giữ lời thề trước thiên địa thần linh của mình, nếu không sẽ gây họa lớn cho đất nước và cho bản thân mình. Nay Kính thư. Triệu Việt Vương”.
Lý phật Tử đọc thư cười ha hả, hồ hởi nói với sứ giả:
-Ngươi về nói với Triệu Việt Vương, ta sẽ suốt đời thực hiện lời thề hòa hiếu hai bên.
Lý Phật Tử như nằm trong giấc mơ, không khó nhọc gì, không mất một mũi tên hòn đạn, một tên lính, bỗng nhiên được một phần đất rộng lớn của Hoàng Châu. Với phần đất rộng lớn này, hắn trù tính sẽ xây dựng phát triển lực lượng để thâu tóm toàn bộ nước Vạn Xuân, giành lại ngai vàng, quyền lực. Lý Phật Tử dời trấn trị về thành Ô Diên, Tây Mê Linh. Nhưng rồi càng ngày hắn càng hiểu ra không thể dùng chiến tranh với Triệu Việt Vương mà đạt được tham vọng. Hắn chỉ có thể đạt được tham vọng bằng âm mưu quỷ kế, nhất là đối với một người nhân từ như Triệu Việt Vương. Thành công bước đầu đã cho hắn kinh nghiệm đó. Cho nên, trong cung điện Ô Diên, ngày đêm hắn nung nấu những kế hoạch, những âm mưu để lấy nước Vạn xuân, chiếm đoạt ngai vàng.
Nhã Lang, con trai lớn của Lý phật Tử thấy bố suốt ngày đăm chiêu suy nghĩ mưu kế để tiêu diệt Triệu Việt Vương, liền nói với Lý Phật Tử:
-Chúng ta không thể thắng Triệu Việt Vương bằng sức mạnh quân sự, qua 5 trận chiến, ta đã thua cả 5. Lực lượng quân sự của Triệu Việt Vương qua kháng chiến chống Lương trở nên hùng mạnh. Lại thêm tài quân sự của ông ta rất lỗi lạc, lại được những đại tướng giỏi như anh em Trương Hống, Trương Hát, Chiêu Công phò tá. Cho nên chúng ta chỉ có thể thắng Triệu Việt Vương bằng mưu kế.
Lý Phật Tử hỏi:
-Nhã nhi có mưu kế gì hay?
-Đó là mưu kế của Triệu Đà dùng để đánh An Dương Vương, chiếm nước Âu Lạc.
Ta không hiểu Lịch sử lắm, nói rõ hơn xem nào?
Nhã Lang đáp:
-Phụ thân biết rồi đấy, hài nhi đã lớn rồi mà chưa có thê thiếp, nương tử. Bên Triệu Việt Vương thì có công chúa lớn là Cảo Nương rất xinh đẹp, đoan trang, thùy mị nhưng nghe nói chưa có chồng. Phụ thân sang hỏi công chúa Cảo Nương cho con. Còn nói với Triệu Việt Vương cho con ở gửi rể ở thành Long Biên. Con sẽ dò la cách bố phòng, bí mật quân sự, gây dựng lực lượng, khi có thời cơ con sẽ làm nội ứng, mở cổng thành cho quân ta tấn công. Triệu Việt Vương bị bất ngờ chắc chắn là thất bại. Phụ thân có thể ngồi lên ngai vàng và cai trị toàn bộ nước Vạn Xuân.
Lý Phật Tử mừng rỡ nói:
-Quả là kế hay, con giỏi lắm.
Rồi Lý phật Tử viết một bức thư, sai Lý Đạo Quyền đưa về kinh thành Long Biên cho Triệu Việt Vương. Triệu Việt Vương mở thư đọc. Thư viết: “ Thần Lý Phật Tử khấu đầu trước Triệu Việt Vương bệ hạ. Muôn tâu, lo cho con cái là bổn phận của cha mẹ. Thần nay sống ở thành Ô Diên, trấn trị trên mảnh đất mà bệ hạ đã ban tặng, thật là đội ơn đức của bệ hạ. Nhưng thần còn một việc cầu xin. Nay thần có một con trai lớn là Nhã Lang, cũng có chút tài văn chương và võ nghệ, dung mạo tuấn tú, đã lớn rồi mà chưa có thê thiếp. Nghe nói bệ hạ có công chúa Cảo Nương bằng tuổi Nhã Lang mà còn kén chọn hôn nhân. Thần mạo muội ngỏ lời muốn kết thông gia với bệ hạ vì hạnh phúc của Nhã Lang và công chúa Cảo Nương và tình nghĩa của hai nhà Triệu-Lý càng thêm bền chặt, thắm thiết. Nếu hai trẻ đã thành phu thê, thần cũng xin bệ hạ cho thần gửi Nhã Lang ở Long Biên để bệ hạ dạy dỗ Nhã Lang nên người. Đội ơn bệ hạ. Lý Phật Tử kính thư”.
Triệu Việt Vương bảo Lý Đạo Quyền:
-Ngươi cứ về đi, ta sẽ bàn với người nhà và phải hỏi công chúa rồi phúc đáp sau.
-Dạ, thần mong Lý chúa công sẽ nhận được tin vui từ bệ hạ.
Rồi Triệu Việt Vương đem hai việc đó bàn với Chiêu Công, anh của quý phi Ngọc Nương, với Đại tướng Trương Hống, Trương Hát. Thái sư Chiêu Công nói:
-Lý phật Tử có ý tranh giành ngôi vua và muốn chiếm toàn bộ Vạn Xuân nhưng lực lượng quân sự không thể thắng nổi bệ hạ nên đây là mưu kế cho Nhã Lang gửi rể để làm nội ứng bên trong. Bệ Hạ không thể nghe được.
Đại tướng Trương Hát nói:
-Lấy công chúa Cảo Nương thì còn có thể là bình thường nhưng hà cớ gì phải ở gửi rể. Lý Phật Tử đâu phải không có nhà rộng sang trọng cho con ở. Đó là điều bất thường, đây là kế chui sâu làm nội ứng đã rõ ràng.
Trương Hống nói:
-Đây là kế của Triệu Đà Nam Việt ngày xưa đánh Âu Lạc không được đã lập mưu cho con trai là Trọng Thủy lấy công chúa Mỵ Châu và ở gửi rể ở Cổ Loa làm nội ứng và cuối cùng nước Âu Lạc mất, An Dương Vương phải chạy ra biển mà chết. Bệ hạ hãy lấy đất nước làm trọng, không thể không đề phòng.
Triệu Việt Vương thở dài:
-Con gái lớn thì phải gã chồng. Khi đã đồng ý gã cho người ta thì con rể cũng là con trong nhà. Khi đã là người nhà thì Nhã Lang về Long Biên ở thì có gì là lạ. Khi ta yêu cầu, từ chối ở gửi rể thì thật là buồn cười, coi con rể như người ngoài, sẽ ảnh hưởng tình thông gia và ảnh hưởng đến đôi vợ chồng trẻ.
Trương Hát nói:
-Vậy thì…
Triệu Việt Vương ngắt lời:
-Ý tướng quân muốn nói không gã Cảo Nương cho Nhã Lang chứ gì. Thôi, ta đã quyết rồi, các khanh đừng nói nữa.
Triều thần lắc đầu chán nản. Chiêu Công nói nhỏ:
-Bọn ta chắc chết không toàn thây và không có đất mà chôn rồi.
Sau khi được Triệu Việt Vương đồng ý cả hai điều kiện, gã công chúa Cảo Nương và cho Nhã Lang đến ở Long Biên, tiệc cưới giữa công chúa và Nhã Lang diễn ra hết sức tưng bừng náo nhiệt và sang trọng ở Ô Diên và sau đó ở Long Biên. Sau lễ cưới, Phò mã Nhã Lang được về kinh đô Long Biên, vào hậu cung ở gửi rể. Để lấy cớ hầu hạ phục vụ cho Nhã Lang, 100 võ sĩ võ nghệ cao cường dưới áo khoác là lính hầu đã được phép vào hậu cung một cách hợp pháp.
Thái sư Chiêu Công là một trong những người đã nhận rõ, với cuộc hôn nhân này, nước Vạn Xuân đang đứng trước tai họa mà trước tiên là hoàng gia họ Triệu và Triệu Việt Vương, một con người nhân từ, tín nghĩa nhưng nhân từ, tín nghĩa đã đặt nhầm chỗ. Bên trong bây giờ là nội phản của bọn Lý Phật Tử bất tài, hèn nhát nhưng tham lam danh vọng, địa vị quyền lực, tiền tài, khi kháng chiến gian khổ thì bỏ trốn, khi đất nước phục hưng thì giở đủ trò gian manh để thỏa mãn vinh thân phì gia, giở đủ mưu kế hèn hạ, kể cả lợi dụng hạnh phúc của con cái, không đếm xỉa đến sự tồn vong của dân, của đất nước. Bên ngoài thì bọn ngoại bang phương Bắc không ngừng nhòm ngó thuộc địa phương Nam giàu có và quan trọng trong mưu đồ bành trướng của chúng. Trong khi đó, Triệu Việt Vương đã đặt quyền lợi gia đình lên lợi ích quốc gia, không nhận rõ bạn thù, không nghe lời những trung thần và những người có tri thức nhận rõ thời cuộc. Những trung thần và những người yêu nước nhận rõ tình thế nhưng không có cách gì để cữu vãn, chỉ có thể ra sức khuyên can nhưng Triệu Việt Vương không nghe. Than ôi, thời thế đã khác so với thời nằm gai nếm mật ở Đầm Dạ Trạch cùng chung lòng cứu nước. Còn đâu thời quân vương tướng sĩ một lòng!
Ngay sau đó, Chiêu Công xin Triệu Việt Vương cho cáo quan về quê với lý do chăm sóc mẹ già, nhưng chủ yếu về quê để chiêu mộ gia tướng, chuẩn bị vũ khí lương thực, phòng khi nay mai nước nhà có biến may ra cứu vãn được Triệu Việt Vương, xoay chuyển được tình thế nguy nan của đất nước. Triệu Việt Vương đồng ý cho ông về quê nhà ở Lỗi Dương, Ái Châu, phong cho Thái sư Chiêu công tước Triết gia Quận công.
Còn em của Thái sư Chiêu công là Đệ tứ cung phi Ngọc Nương (mỹ hiệu Xuân Hoa) vô cùng xinh đẹp, đoan trang, hiền thục, được Triệu Việt Vương vô cùng sủng ái. Nhưng đã 10 năm chung sống với Triệu Việt Vương mà không có con. Ngọc Nương đau buồn, xin cho xuất gia tu Phật. Triệu Việt Vương biết khó giữ được người đẹp, đồng ý cho Ngọc Nương về quê nhà, trang Bảo Đai, huyện Lỗi Dương, Ái Châu, tu hành tại một ngôi chùa nơi cố quận.
VIIVào một buổi hoàng hôn đầu năm 571, thành Long Biên chìm dần trong bóng tối, gió lạnh thổi se sắt, lá rung theo gió xạc xào. Trong cung điện của hoàng gia họ Triệu, Nhã Lang và Cảo Nương vừa ăn tối xong, hai người rời phòng ăn trở về căn phòng ấm cúng, xa hoa và lộng lấy của đôi vợ chồng trẻ. Con sói Nhã Lang khoác vỏ con cừu rất thành đạt. Gần 5 năm về làm phò mã, Nhã Lang tỏ ra một người con rể mẫu mực, một người chồng rất đáng yêu, tận tình yêu quý và chăm sóc vợ. Sự xinh đẹp và thùy mỵ của Cảo Nương đôi khi cũng làm cho tâm tư của Nhã Lang xao động, rối bời, giằng xé bởi hạnh phúc gia đình và sự phản bội để có được ngai vàng và nước Vạn Xuân cho Lý Phật Tử cũng là cho Nhã Lang mai sau. Đêm nay như mọi khi, khi về phòng, Cảo Nương nũng nịu nói:
-Mùa đông nhưng sao tối nay lạnh quá, chàng đi ngủ sớm đi!
Nhã Lang không đáp lời Cảo Nương mà hỏi lại:
-Còn bao nhiêu ngày nữa thì đến ngày giỗ ông ngoại?
-Chàng hỏi ông ngoại Triệu Túc hả. Phụ vương nói khi vào Đầm Dạ Trạch không bao lâu thì ông ngoại mất vì bị thương hàn, năm thì thiếp không nhớ nhưng giỗ thì 15 tháng 10, nay đã là mùng 5 rồi, còn 10 ngày nữa. Mà nay sao chàng lại quan tâm đến giỗ ông ngoại vậy?
Nhã Lang đáp:
-Để báo cho phụ thân biết ngày và chuẩn bị lễ sang thắp hương cho ông ngoại.
Cảo Nương hài lòng:
-Chàng là đứa cháu rể thật chu đáo và hiếu nghĩa.
Nhã Lang nói:
-Nàng đi ngủ sớm đi, ta phải sang phòng bên viết bức thư cho thân phụ.
-Rồi, chàng viết nhanh mà đi ngủ sớm, không được thức khuya đâu, trời hôm nay quá lạnh.
Nhã Lang sang phòng bên chốt cửa lại và ngồi vào bàn, lấy giấy và tự mài mực. Dưới nét bút của hắn, toàn bộ sơ đồ bố phòng thành Long Biên, vị trí các hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, trung tâm được vẽ lại một cách chính xác. Đâu là hoàng cung, đâu là cung ở của Triệu Việt Vương, đâu là trại lính, đâu là chỗ canh phòng của quân cấm vệ, đâu là kho lương thực, đâu là kho vũ khí, sự bố trí quân đội và vũ khí trên mặt thành để đánh trả khi bị tấn công. Tất cả thuộc bí mật quân sự, bí mật quốc gia mà chỉ có Đại tướng như Trương Hống, Trương Hát và Triệu Việt Vương được biết mà thôi. Trong sơ đồ, Nhã Lang còn vẽ những mũi tên chỉ hướng tấn công cho Lý Phật Tử. Nhã Lang thừa biết phụ thân Lý Phật Tử của hắn là người rất tầm thường về quân sự. Cho nên ngoài sơ đồ, hắn còn viết một bức thư hướng dẫn, căn dặn cặn kẽ. Thư viết: “Phụ Thân, sơ đồ này thể hiện hết những cơ quan quan trọng của thành Long Biên, phụ thân sử dụng lực lượng ở mỗi vị trí cho phù hợp khi tấn công. Thời gian tấn công là vào giờ tý, canh ba đêm 15 tháng 10 này là ngày giỗ của Triệu Túc, ngày đó, theo thông lệ bao giờ cũng yến tiệc linh đình. Sau yến tiệc xong, canh hai hài nhi sẽ lấy tư cách Phò mã khao đãi rượu cho binh lính, trong rượu có thuốc mê, như vậy sức chiến đấu bảo vệ hoàng thành gần như tê liệt. Về phía phụ thân, quân lính đến Long Biên phải đóng giả con buôn, thường dân mà đến gần thành, con và 100 binh sĩ bên trong sẽ mở cổng thành cho quân ta tràn vào. Trong ngoài phối hợp cộng yếu tố bất ngờ chắc chắn sẽ thành công. Hài nhi Nhã Lang kính thư.”
Đọc xong thư Lý Phật Tử gõ tay xuống bàn cười ha hả:
-Thằng Nhã Lang nhà mình làm giỏi thật.
Liền viết thư hẹn Nhã Lang cứ hành động theo ngày giờ và kế hoạch mà Nhã Lang đã trình bày. Còn hẹn thêm, khi quân tập kết ngoài Long Biên đầy đủ sẽ bắn một mũi tên có châm lửa để Nhã Lang biết mà mở cổng thành.
Thấm thoắt đã đến ngày 15 tháng 10, ngày giỗ của Thái Phó Triệu Túc. Buổi trưa, Triệu Việt Vương đến trước bàn thờ gia tiên họ Triệu hương khói cho tổ tiên và cho người cha quá cố là Thái phó Triệu Túc. Chiều tối, cả hoàng gia ăn giỗ theo phong tục của người Việt. Buổi tối quân lính cũng ăn cỗ bàn. Canh hai, cả hoàng thành sau một ngày cỗ bàn mệt mỏi say giấc. Nhã Lang cùng đồng bọn còn cho khênh không biết bao nhiêu thùng rượu đến cho quân sĩ, kể cả lính bảo vệ hoàng gia và bảo vệ hoàng thành. Được Phò mã khao, quân lính phấn khởi uống không kiêng dè và tất cả đều gục xuống ngay ở vị trí đang làm nhiệm vụ của mình.
Canh ba trong không gian im ắng của màn đêm, ngoài thành Long Biên, một mũi tên có lửa sáng bay lên, trong thành cũng có một mũi bay lên không trung sáng rực đáp lại.
Những người lính giữ cổng thành phía Đông Long Biên đều bị giết hết trong khi say, cổng thành được mở toang, quân của Lý Phật Tử lao vào thành chém giết. Khắp thành, kho lương thực, kho vũ khí bốc cháy, khu hoàng thành cũng phát hỏa. Thành Long Biên biến thành một biển lửa. Quân cận vệ của Triệu Việt Vương say nên bị tiêu diệt hết, chỉ còn quân của Đại tướng Trương Hống, Trương Hát chống cự quyết liệt nhưng trong thế bị động lúng túng và yếu ớt. Họ không biết chuyện gì đang xẩy ra. Trương Hống, Trương Hát chạy đến biệt cung của Triệu Việt Vương. Trương Hát nói:
-Nhã Lang làm phản, Lý phật Tử bội ước tấn công đã làm chủ kinh thành rồi, bệ hạ để thần hộ giá nhanh chóng rút khỏi kinh thành rồi tính sau.
Triệu Việt Vương thất kinh:
-Ta ưu ái chúng hết mực sao chúng làm phản, quân xấu xa đê tiện này…
Khắp nơi kinh thành giáo gươm chạm nhau chan chát, đầu rơi máu chảy, tiếng reo hò như điên dại. Triệu Việt Vương kêu lên:
-Còn hoàng gia, còn Cảo Nương…
Trương Hống nói:
-Bệ hạ cùng Trương Hát chạy đi trước, thần sẽ tìm hoàng gia và Cảo Nương và rút sau.
Triệu Việt Vương lên ngựa. Trương Hát cùng đám tùy tùng mở đường máu mới thoát được ra ngoài thành và chạy về hướng Đông Nam. Sau lưng là quân của Nhã Lang đèn đuốc sáng trưng đuổi theo đã đến gần. Trương Hát ngoảnh đầu nhìn lại thì Nhã Lang đang dẫn đầu toán quân. Trương Hát giận sôi người, quên cả nhiệm vụ hộ giá Triệu Việt Vương, dừng ngựa lại và dương cung chờ sẵn, khi vừa tầm, Trương Hát quát lên:
-Thằng Phò mã phản bội chó chết này, hôm nay mày phải chết.
Sự căm thù làm Trương Hát kéo dây cung rất căng, khi dứt lời thì mũi tên phóng vút ra trúng giữa mặt Nhã Lang, hắn ngã lăn xuống đất. Bọn lính hốt hoảng kêu lên:
-Phò mã! Phò mã!
Trương Hát quay ngựa chạy đuổi theo Triệu Việt Vương nhưng không thấy bóng dáng Triệu Việt Vương đâu nữa.
Lại nói khi Trương Hát dừng ngựa bắn Nhã Lang thì Triệu Việt Vương vẫn chạy, đang chạy thì lại gặp một toán quân do chính Lý Phật Tử dẫn đầu đuổi theo. Lý Phật Tử cũng nhận ra Triệu Việt Vương nên ra sức đuổi cùng diệt tận, quyết giết bằng được Triệu Việt Vương. Gần sáng, Triệu Việt Vương chạy đến một vùng mà trước mặt là biển. Sau lưng là quân lính Lý Phật Tử. Triệu Việt Vương xuống ngựa ngửa mặt lên trời mà than :
-Ta thật là mê muội, không biết nhìn rõ bạn thù, lòng nhân từ và tín nghĩa đã đặt nhầm chỗ, lại không chịu nghe lời khuyên can của Chiêu Công, của Trương Hống, Trương Hát và những trung thần, chia đất nước, thông gia và cho ở gửi rể, đã giúp cho kẻ tham lam, bần tiện gian xảo, ích kỷ có điều kiện thực hiện dã tâm phản trắc. Ta đã làm hại hoàng gia, con gái ta, làm hại giang sơn xã tắc của nước Vạn Xuân mà bao chiến sĩ hy sinh mới giành lại được. Ta đã phụ lòng mong mỏi của Lý Nam Đế, của Phạm Tu, của cha ta Triệu Túc và của biết bao anh hùng liệt sĩ trong cuộc kháng chiến chống Lương. Ta đã đặt lợi ích gia đình lên lợi ích quốc gia. Ta còn mặt mũi nào sống trên đời này nữa.
Rồi Triệu Việt Vương tự đi ra biển. Con ngựa của Triệu Việt Vương đứng trên bờ nhìn chủ, nó hí lên những tiếng thảm thiết và nó cũng đi ra biển. Cả triệu Việt Vương và ngựa đều chìm dần trong sóng cho đến khi bóng người và ngựa không còn. Biển bỗng nhiên nổi sóng dữ dội, trời đất tối xầm, gió thổi thốc tháo, còn sóng thì thét những tiếng gào khóc thê lương. Đây là cửa biển sông Đáy, gọi là cửa biển Đại Nha, còn gọi Đại An, thuộc Nam Điền huyện Câu Lậu. Đó là ngày 5 tháng 1 năm Tân Mão ( 571).
Trong khi Trương Hát hộ giá Triệu Việt Vương chạy ra ngoài thành Long Biên thì Trương Hống ở lại xông pha khói lửa, tên đạn, gươm giáo chạy về khu hoàng gia nhưng tất cả chỉ còn là biển lửa đỏ rực. Cảo Nương và Hoàng Gia họ Triệu đã chết trong đám loạn quân và trong biển lửa mất rồi. Trương Hống tìm mãi không thấy đành mở đường máu phá vây, thoát ra ngoài thành Long Biên, chạy về phía Bắc.
Trưa hôm sau khi chiến sự kết thúc, Lý Phổ Đỉnh vào báo cho Lý Phật Tử:
-Dạ bẩm chúa công, Phò mã Lý Nhã Lang đã bị bắn chết trên đường truy kích Triệu Việt Vương.
Lý Phật Tử hỏi:
- Ai đã bắn chết Phò mã?
-Trên mũi tên có ghi chủ nhân của nó: Đại tướng Trương Hát.
Lý Phật Tử nói:
-Nếu bắt được Trương Hống, Trương Hát thì phanh thây xé xác hai anh em nhà chúng ra!
Lý Nhã Lang chết nhưng Lý Phật tử không tỏ ra chút đau buồn, hắn đang vui mừng hả hê vì đã đánh bại Triệu Việt Vương, bước lên ngai vàng, làm chủ cả nước Vạn Xuân, phía Bắc từ Hợp Phố, phía Nam đến Minh Châu, vượt quá dãy Hoành Sơn. Hắn như đang nằm mơ không tin đó là sự thật.
Năm 571 Lý Phật Tử lên ngôi xưng là Hậu Lý Nam Đế. Lý Phật Tử đóng trị sở ở Cổ Loa, sai cháu là Lý Đạo Quyền giữ thành Long Biên, Lý Phổ Đỉnh giữ thành Ô Diên.
Nói về Thái sư Chiêu Công, anh của cung phi Ngọc Nương, cáo quan về quê nhà ở trang Bảo Đài, Lỗi Dương, Cửu Chân chiêu mộ được 2000 quân sĩ đề phong quốc gia có biến. Khi nghe tin Lý Phật Tử tấn công Long Biên, Thái sư Chiêu Công đem quân cứu giá nhưng đến nơi thì Triệu Việt Vương đã mất. Chiêu Công biết không thể cứu vãn được thời cuộc liền gieo mình xuống sông Hồng tự vẫn.
Trong cơn biến loạn, hai anh em Trương Hống, Trương Hát cuối cùng cũng gặp nhau ở rừng núi Bắc Giang. Hậu Lý Nam Đế cho người đến gặp và nói:
-Hậu Lý Nam Đế thấy hai Đại tướng là người trung nghĩa, có tài nên có chiếu chiêu dụ về phục vụ triều đình, không trách tội đã bắn chết Phò mã Nhã Lang.
Trương Hát nói:
-Tôi trung không thờ hai chủ, vả lại tin làm sao được lời hứa của Lý Phật Tử, một kẻ ti tiện, íc kỷ, tham lam, dối trá, phản nghịch. Ngày xưa hắn chả thề suốt đời hòa hiếu với Triệu Việt Vương đó sao? Chúng ta không bao giờ tôn thờ một kẻ xấu xa ti tiện như vậy.
Sứ giả về thuật lại, Lý Phật Tử tức giận sai quân đến đánh. Anh em Trương Hống, Trương Hát lùi sâu vào rừng và ăn lá ngón mà chết.
Lại nói cung phi của Triệu Việt vương là Ngọc Nương dù ở cửa thiền, xa rời cuộc sống trần thế nhưng vẫn quan tâm đến tình hình đất nước, đặc biệt là sự an nguy của Vạn Xuân và của Triệu Việt Vương. Khi nghe tin Triệu Việt Vương và sau đó là Chiêu Công đã mất vì nạn nước, Ngọc Nương vô cùng đau xót. Nàng tắm gội sạch sẽ, tụng kinh niệm Phật một ngày và sau đó uống thuốc độc mà đi lên cõi Niết Bàn.
Trong khi nước Vạn Xuân đang trên đường xuống dốc do nội phản của Lý Phật Tử thì ở Trung Nguyên, cục diện Nam -Bắc triều đang đến hồi kết thúc. Năm 581, Dương Kiên, một thế lực to lớn của triều đại Bắc Chu đã chiếm ngôi của Tĩnh Đế Vũ Văn Xiển, Bắc Chu bị diệt vong, Dương Kiên lập ra nhà Tùy và xưng đế hiệu là Tùy Văn Đế. Năm 597, Tùy Văn Đế phế truất Tây Lương Hậu Chủ Tiêu Tông. Nhà Tây Lương mất. Năm 589 Tùy Văn Đế chiếm kinh đô Kiến Khang tiêu diệt nhà Trần. Đến đây Trung Quốc thống nhất sau 169 năm chia cắt (420-589).
Năm 602 Tùy Văn Đế tính đến việc xâm lược lại Giao Châu, nay độc lập gọi là Vạn Xuân. Tùy Văn Đế sai Lệnh Hồ Ly đi sứ sang Vạn Xuân, buộc Hậu Lý Nam Đế phải sang triều kiến. Lý Phật Tử cả sợ, khất đến tháng 11 sẽ sang. Tùy Văn Đế nói với triều thần:
-Nay Lý Phật Tử không sang, ta muốn dùng binh khôi phục lại thuộc địa Giao Châu, không biết cử ai làm đại tướng cầm quân đây?
Thừa tướng Dương Tố nói:
-Bẩm bệ hạ, thần xin tiến cử Lưu Phương, thứ sử Qua Châu, người này tài kiêm văn võ, có thể chiến thắng được Vạn Xuân, đem Giao Châu về cho bệ hạ.
Tùy Văn Đế nói:
-Chuẩn tấu.
Rồi Tùy Văn Đế xuống chiếu phong Lưu Phương làm Giao Châu Đạo Hành Tổng Quản, thống lĩnh 27 quân doanh tiến đánh Vạn Xuân. Đó là năm 602.
Nước Vạn Xuân thời Hậu Lý Nam Đế từ vua cho đến tướng đều hèn nhát, bên trong thì đàn áp bóc lột nhân dân, chỉ lo vơ vét đầy túi cho vinh thân phì da, bên ngoài nghe đến giặc Tùy thì mặt xanh xám, tay chân lẩy bẩy, tham sống sợ chết, không biết giang sơn xã tắc là gì. Trong tình hình đó, Lưu Phương chiếm Hợp Phố, từ Hợp Phố tiến thẳng xuống Hoàng Châu, bao vây thành Cổ Loa mà không gặp một sự kháng cự nào. Đất nước Vạn Xuân như không có người. Lưu Phương ban đầu đe dọa rồi chuyển sang dụ dỗ, hứa hẹn để khuyên Lý Phật Tử đầu hàng dâng nước Vạn Xuân cho giặc. Khi được hứa sẽ được bảo toàn tính mạng, cho vinh thân phì gia thì Lý Phật Tử vội đầu hàng. Trái với lời hứa hẹn của Lưu Phương, sau khi Lý Phật Tử đầu hàng thì cả Hoàng đế Vạn Xuân và hoàng gia bị đẩy lên xe, bị lính áp tải như xe tù đưa về Trung Quốc lưu đày. Vào một ngày mùa đông giá lạnh, đoàn xe đi theo con đường thiên lý gập ghềnh, khúc khuỷu lên phương Bắc. Gió lạnh thổi tái tê, bầu trời u ám. Ngồi trên xe xa rời quê hương xứ sở sang lưu vong xứ người, Lý phật Tử mới thấm nổi đau của câu nói: Nước mất nhà tan. Lý Phật Tử thấy rằng bây giờ hắn đang phải trả giá quá đắt cho sự ích kỷ, tham lam, phản trắc. Hắn không hiểu vì sao Triệu Việt Vương lại dung nạp hắn, mà hắn có công lao gì đâu. Thời chống Lương gian khổ hy sinh thì hắn theo Lý Thiên Bảo chạy trốn sang Ai Lao. Vậy mà khi trở về với danh nghĩa là hậu duệ của Lý Nam Đế đã được Triệu Việt Vương phong cho một vùng đất đai giàu có đủ để vinh thân phì gia, được mọi người gọi là chúa công, được kết thông gia với Triệu Việt Vương, con trai Nhã Lang của hắn là một kẻ bất tài, chỉ giỏi gian manh như hắn mà được lấy công chúa Cảo Nương xinh đẹp, thùy mị, nết na. Hắn đã được quá nhiều nhưng lòng tham quyền lực và địa vị tiền tài đã đưa hắn vào con đường phản trắc. Trước tiên hắn đã giết chết con trai Nhã Lang của hắn, đã giết chết Cảo Nương, con dâu ngoan hiền xinh đẹp của hắn, đã phá tan hạnh phúc gia đình của đôi vợ chồng trẻ. Hắn đã lật đổ triều đại Triệu Việt Vương, một triều đại có đủ sức mạnh bảo vệ đất nước Vạn Xuân cho dân Việt và cho cả hắn. Kết cục, hắn đã làm mất nước Vạn Xuân và đánh mất cả ngai vàng mà hắn tiếm đoạt. Kết cục cuối cùng là gia đình hắn tan nát, bản thân hắn bị bắt thành tù nhân, bị lưu đày sang đất khách quê người. Càng suy nghĩ hối hận, Lý Phật Tử nung nấu ý nghĩ tự sát. Nhưng bản thân hắn hèn nhát, không thể tự chết được.Nhưng hắn hiểu rằng hắn đang sống nhưng là đã chết, chết dần chết mòn với những khổ đau ân hận vò xé hắn suốt đời, cuộc đời của một tên phản bội tổ tiên, phản bội non sông đất nước, phản bội giống nòi, và cuối cùng Lý Phật Tử đã chết già trong cô đơn như một con thú ở rừng núi lạnh giá phía Bắc nước Tùy.
Nhà Tiền Lý tồn tại được 61 năm, từ 541 đến năm 602.
Nước Vạn Xuân tồn tại được 58 năm, từ 544 đến năm 602.
Sau khi Lý Phật Tử đầu hàng ngoại xâm, nước ta bị nhà Tùy, sau đó là nhà Đường thống trị. Lịch sử gọi là thời kỳ Bắc thuộc lần thứ ba, kéo dài suốt 336 năm, từ năm 602 đến năm 938.