I

          Đó là một buổi sáng tháng 8 năm Quý Tỵ 1773, trời đã vào thu nhưng ở xứ Quy Nhơn thuộc miền Trung này hình như 4 mùa không rõ rệt. Tháng 8 mà nắng vẫn chang chang rải xuống ấp Tây Sơn, rải xuống vùng Tuy Viễn, Phù Ly, Bồng Sơn, rải xuống đèo An Khê hiểm trở điệp trùng cây lá vươn lên reo trong nắng gió. Một vùng nông thôn xanh mướt, đường sá quanh co, xóm làng chen lẫn ao hồ. Nắng dội xuống những mái nhà gianh xơ xác mà chủ nhân là những nông dân lam lũ, cơ cực đói nghèo quanh năm.

          Bên rặng dừa mát ven đường, một quán nước mái lợp lá dừa, vách đất ngoảnh mặt ra đường. Chủ hàng nước là một bà già tóc bạc phơ, mồm liên tục nhai trầu bỏm bẻm nhưng rất tươi cười niềm nở. Quán của bà không chỉ bán nước mà còn bán cả rượu. Rượu có thể mua từng chai lẻ đem về nhà, có thể uống rượu tại quán mà không cần đồ nhậu. Sớm nay, ngồi trong quán gian bên trong là ba ông già, người thì râu tóc bạc phơ dáng Nho sĩ, người thì buộc khăn màu nâu, áo dài nâu, người thì buộc khăn đen, áo dài đen. Qua câu chuyện cả ba người đều có vẻ quan tâm tới thời cuộc của Đàng Trong thời kỳ họ đang sống, tức là  thời của chúa Định Vương Nguyễn Phúc Thuần (1753-1777). Những câu chuyện của họ thường xuyên bị đứt quảng bởi những tốp người đàn ông trai tráng đói rách dừng lại hỏi thăm đường:

          -Dạ, xin chào các cụ, các cụ cho hỏi thăm đường vào chân đèo An Khê ạ.

          Cụ có bộ râu tóc trắng vuốt râu đáp:

          -Đi đâu? À, lại đến gia nhập quân đội của Tây Sơn Vương Nguyễn Nhạc đúng không?

          -Dạ, đúng ạ.

          -Tây Sơn Vương Nguyễn Nhạc và hai em là Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ cùng nhiều tướng lĩnh thân cận dấy binh từ năm 1771, sao nay các dũng sĩ mới đến?

          -Dạ, chúng con nay mới thu xếp được ạ.

          -Đây là Tuy Viễn, đất của Tây Sơn Vương rồi. Cứ theo con đường nhỏ này đi về hướng Tây, lên gặp con đường thượng đạo rẽ trái thì đến đèo An Khê, đó là Tây Sơn Trung và là hành dinh của Tây Sơn Vương Nguyễn Nhạc.

          -Đa tạ các cụ ạ, xin cáo biệt.

          Hết tốp này lại đến tốp khác, mấy cụ già cạn chén rồi lại chỉ đường rồi lại nâng chén. Cụ chít khăn nâu mặc áo dài nâu hỏi:

          -Chúa Nguyễn cai trị kiểu gì mà bách tính khổ cực, đua nhau theo về Tây Sơn hết rồi?

          Cụ già râu tóc trắng,  áo dài trắng quần trắng vuốt râu nói:

          -Thời cuộc loạn lạc, đúng là “ Quan bức dân phản mà”.

          Cụ buộc khăn nâu, áo nâu ngắn, quần nâu dáng nông dân hỏi:

-Xin cụ cho lão phu biết nhà chúa Nguyễn này đổ đốn từ khi nào hả cụ?

Cụ già râu tóc trắng cạn một ly rượu rồi nói:

-Lão phu cũng đã đọc vài cuốn sách, biết Đại Việt ta từ thời nhà Trần, đất đai đã đến Bố Chính và Thuận Hóa, Năm 1471 Hoàng đế Lê Thánh Tông đã mở đất đến Quy Nhơn. Từ năm 1611 chúa Nguyễn Hoàng đã mở đất đến Phú Yên, từ năm 1653 chúa Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần (1620-1687) đã mở đất từ Phú Yên đến Diên Khánh, Phan Rang, năm 1697 chúa Minh Vương Nguyễn Phúc Chu (1675-1725) đưa dân khai hoang đến Bình Thuận. Năm 1708, Mặc Cửu đã phục tùng theo chúa Nguyễn Phúc Chu, đã dâng toàn bộ vùng đất Kiên Giang, Cà Mau và Mạc Cửu được phong là Tổng trấn Hà Tiên. Từ năm 1732 đến 1758, dân Việt tiếp tục khai hoang tất cả các vùng đất  Trấn Biên, miền Đông và miền Tây Gia Định ngày nay. Ngoài biển Đông, các chúa Nguyễn  đã làm chủ Hoàng Sa cách ngày nay gần 100 năm. Từ năm 1711 các chúa Nguyễn đã làm chủ Trường Sa, từ năm 1708 làm chủ Phú Quốc, Côn Đảo và các đảo khác. Nay Đàng Trong của chúng ta là từ Nam sông Linh Giang đến mũi Cà Mau. Như vậy, cai trị Đàng Trong cũng nhiều chúa giỏi giang, đã mở mang đất nước, phát triển Kinh tế, văn hóa, quân sự. Đến đời chúa Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát thì bắt đầu suy tàn, thối nát. Sau khi Nguyễn Phúc Chú mất năm 1738 thì Nguyễn Phúc Khoát kế vị. Đây là vị chúa lười nhác, ham hưởng lạc, sa vào tửu sắc, sống xa hoa, không quan tâm đến việc nước. Mọi việc chúa giao hết cho quyền thần Trương Phúc Loan. Từ năm 1765 thì toàn bộ quyền hành chính thức rơi vào tay Trương Phúc Loan. Loan tự xưng là Quốc phó. Trương Phúc Loan đã giết chết Nguyễn Phúc Luân là con lớn của Nguyễn Phúc Khoát, đưa con nhỏ của Nguyễn Phúc Khoát là Định Vương Nguyễn Phúc Thuần khi đó mới 12 tuổi lên ngôi để Loan dễ bề thao túng. Trương Phúc Loan nắm Bộ hộ, Quân cơ Trung Tượng kiêm Tàu Vụ, thâu tóm quyền kinh tế, chính trị.

Nhân cụ đồ Nho râu tóc trắng ngừng lại nhấp ly rượu, cụ chít khăn nâu hỏi:

-Nghe nói Trương Phúc Loan cực kỳ tham làm phải không cụ?

-Đúng vậy, Quốc phó tham lam nổi tiếng, thuế sản vật ở các mỏ vàng ở Thu Bồn, Đông Hương, Trà Sơn, Trà Vân và tất cả mỏ ở Đàng Trong đều rơi vào tay Tương Phúc Loan hết. Thu thuế một năm cho quốc gia xong, Trương Phúc Loạn chỉ nộp cho nhà nước một đến hai phần mười. Loan còn mua quỵt, vừa mua vừa cướp của thương nhân, đặc biệt là thương nhân nước ngoài.

chuynguynhac1-1647786286.jpg
Tranh minh họa ba anh em nhà Tây Sơn: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ.

 

Cụ chít khăn đen, áo dài đen  nói:

-Nghe nói có trận lụt, vàng bạc bị ướt, Trương Phúc Loan đem ra phơi sáng chói cả một sân rộng lớn trong phủ. Cả nhà Trươg Phúc Loan chia nhau nắm giữ các chức vụ chủ chốt và làm hư hỏng bộ máy nhà nước, quan lại, công khai mua quan bán tước, ăn tiền và tha tội cho phạm nhân, hình phạt phiền nhiễu cốt để moi tiền, thuế má nặng nề. Dân Đàng Trong ta hiện nay đang chịu 1000 thứ thuế, Thuế thổ sản tính cả những sản vật nhỏ nhất. Năm 1741 ra lệnh trưng thu thuế cả những người bỏ trốn, năm 1765 có lệnh thu thuế cả 10 năm trước. Thu thuế nhiều nhưng tài chính kiệt quệ, dân tình vô cùng xơ xác đói nghèo. Chế độ thối nát thì ra sức hãm hại nhân tài như vụ hãm hại Tôn Thất Dục.

Cụ áo nâu nói:

-Đúng là “Nhà dột từ nóc”, “Thượng bất chính hạ tắc loạn”, các cụ nhà mình xưa nói không sai.

Cụ râu tóc trắng nói:

-Cụ nói không sai, Triều đình tham lam nên quan lại các cấp cũng đua nhau vơ vét, ăn hối lộ công khai, đua nhau sống xa xỉ, coi tiền bạc như cỏ rác, coi thóc gạo như bùn đất. Quan to, quan nhỏ đua nhau xây nhà cao to, lầu son gác tía, tường gạch đá, đua nhau chạm trổ, trướng vóc màn the, đồ dùng toàn là đồng sứ, bàn ghế toàn gỗ quý như gỗ đàn, gỗ trắc, lim, gụ…yên ngựa dây cương đều nạm vàng mạ bạc, áo quần là lượt, nệm hoa chiếu hoa, coi vàng bạc như cát, tóc gạo như bùn đất, đua nhau khoe khoang phú quý phong liêu, hoang phí vô cùng.

Cụ đồ Nho vừa ngừng lời thì lại một tốp trai tráng, có cả người trung niên dừng trước quán hỏi:

-Kính chào các cụ, xin các cụ chỉ giùm đường vào đèo An Khê ạ?

Cụ chít khăn đen hỏi:

-Các tráng sĩ vào chỗ Tây Sơn Vương Nguyễn Nhạc phải không?

-Dạ, đúng rồi ạ.

-Đây là đất Tuy Viễn, đất của Tây Sơn Vương rồi, còn đến căn cứ thì cứ theo con đường này đi thẳng về hướng Tây, gặp đường thượng đạo rẽ trái một dặm thì đến.

-Dạ, đa tạ các cụ. Xin cáo biệt.

Bốn cụ nhìn theo tốp trai tráng mà ngày mai họ sẽ trở thành những chiến binh của Tây Sơn Vương. Cụ đồ Nho nói:

-Quả nhiên cáo thị “Lấy của nhà giàu chia cho dân nghèo”, chủ trương bình đẳng của Tây Sơn đã chấn động thiên hạ, thu hút dân nghèo đến quy tụ dưới lá cờ đỏ mong tìm con đường sống cho mình.

Cụ chít khăn đen hỏi cụ đồ Nho:

-Nghe nói gốc gác tổ tiên ba anh em Tây Sơn Vương ở trấn Nghệ An Đàng Ngoài phải không cụ?

-Đúng rồi, quê quán của ba anh em Tây Sơn Vương vốn ở làng Thái Lão, huyện Hưng Nguyên, Trấn Nghệ An. Trong chiến tranh Trịnh-Nguyễn năm 1655-1660, quân Nguyễn Phúc Tần đánh tràn ra Nghệ An, bắt nhiều dân vào cùng dân Thanh Hóa khai hoang và tiến dần vào Nam. Tổ 4 đời của Tây Sơn Vương là Hồ Phi Long cũng bị bắt vào Đàng Trong. Cụ Long vào giúp việc cho nhà họ Đinh ở thôn Bằng Châu, huyện Tuy Viễn và kết hôn với con gái họ Đinh. Cụ Hồ Phi Long sinh ra cụ Hồ Phi Tiễn, cụ Hồ Phi Tiễn, phu nhân là cụ bà Nguyễn Thị Đồng ở ấp Tây Sơn sinh ra cụ Hồ Phi Phúc. Cụ Hồ Phi Phúc có tám con, 5 con gái, ba con trai. Ba con trai là Nguyễn Nhạc, tức Tây Sơn Vương, người thứ hai là Nguyễn Hụê, thứ ba là Nguyễn Lữ. Cả ba người học cả văn và võ. Thầy dạy là nhà Nho có tiếng Trương Văn Hiến. Nhìn ba người diện mạo khôi ngô tuấn tú, dáng anh hùng hào kiệt, khí thế đế vương, thầy đồ Trương Văn Hiến biết ba người không phải người tầm thường, khuyên ba người nên khởi sự để xây dựng đại nghiệp, cứu vớt giang sơn, bách tính. Trương Văn Hiến còn đọc cho ba người nghe câu sấm truyền khi đó: “Tây khởi nghĩa, Bắc thu công”. Sau đó không rõ lý do gì, ba anh em từ họ Hồ đổi sang họ Nguyễn.

Cụ khăn đen, áo dài đen nói:

-Lão phu cũng đã được nghe lõm bõm như vậy. Đa tạ cụ đã nói rõ ràng mạch lạc cho lão phu hiểu thêm. Đúng là thời thế tạo anh hùng, cùng tắc biến.

Cụ đồ Nho nói:

-Đúng là thời thế tạo anh hùng, nhưng anh hùng cũng tạo nên thời thế. Ba anh em Tây Sơn Vương có tạo nên được thời thế, có thay thế được thời cuộc không, lão phu cùng các cụ còn phải chờ xem đã. Nào mời các cụ cạn ly.

-Đa tạ cụ, kính mời cụ.

Ba cụ già lại nâng ly và cạn. Trước mắt các cụ như thấy đỏ chói màu cờ của quân đội Tây Sơn đang phấp phới khắp Đàng Trong.

II

Một sáng mùa thu năm 1773, Nguyễn Nhạc đang ngồi trong tổng hành dinh ở Tây Sơn Trung, nắng rải xuống khắp đồi núi xanh rờn, rải xuống ngọn núi cao nhất hiểm trở nhất phía Nam đèo An Khê. Xa xa trong núi cao rừng thẳm có ngọn núi phía Bắc An Khê là  hành dinh quân sự của của Nguyễn Huệ, Vũ Văn Dũng, Trần Quang Diệu. Nơi đó còn có Huyền Khê được cử phụ trách quân lương của Tây Sơn. Nguyễn Nhạc vừa uống xong chén trà thì có thám mã về báo:

-Dạ bẩm Tây Sơn Vương, sau lễ tế cờ, tế thiên địa hôm qua thì hôm nay quân ta đã đánh lấy được hai huyện Phù Ly và Bồng Sơn.

-Tướng nào đánh chiếm huyện Bồng Sơn?

-Dạ bẩm Tây Sơn Vương, là tướng Vũ Văn Dũng và Cao Tắc Tựu ạ.

-Tướng nào đánh lấy Phù Ly?

-Dạ, tướng Trần Quang Diệu và La Xuân Kiều ạ.

Lại có thám mã về báo:

-Dạ, bẩm chúa công, có tướng Trần Quang Diệu kéo quân về muốn gặp ạ.

-Cho vào.

-Dạ.

Trần Quang Diệu bước vào, đó là một võ tướng khôi ngô, oai phong lẫm liệt. Trần Quang Diệu cúi đầu thi lễ:

-Kính chào chúa công.

Nguyễn Nhạc đứng dậy đón Trần Quang Diệu:

-Miễn lễ.

-Đa tạ chúa công.

- Sau một lượt trà, Nguyễn Nhạc hỏi:

-Nghe nói các tướng quân đã đánh chiếm được Phù Ly, Bồng Sơn à?

Trần Quang Diệu đáp:

-Bẩm chúa công, đúng vậy, quan quân các huyện này nghe đến quân ta đã mất vía, mạt tướng chưa đánh chúng đã mở cửa đầu hàng. Hôm nay, mạt tướng kéo quân về đây là để hội quân với chúa công  tấn công lấy thành Quy Nhơn, lấy được nơi quan trọng như vậy thì thế và lực của chúng ta mới phát triển ra Phú Xuân và vào trong Nam được.

Nguyễn Nhạc nói:

-Đánh thành Quy Nhơn là phải lắm, tướng quân nói chính hợp ý ta, có lấy được Quy Nhơn mới chia cắt lực lượng chúa Nguyễn thành hai nơi Nam- Bắc. Khi đó ta sẽ đánh tới Phú Xuân, đánh chiếm Gia Định, hoàn thành đại nghiệp. Người đâu?

-Dạ, bẩm chúa công.

-Đi mời tướng Nguyễn Khê, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ và Võ Văn Dũng về đây.

-Dạ, tuân lệnh chúa công.

Chiều hôm đó, tất cả các tướng lĩnh chủ chốt của Tây Sơn đã có mặt đầy đủ chuẩn bị cho ngày hôm sau xuất quân đánh thành Quy Nhơn. Sáng hôm sau, một ngày nắng đẹp, quân Tây Sơn xuất phát từ Kiên Thành, Tuy Viễn tiến đánh thành Quy Nhơn, thủ phủ của trấn Quy Nhơn.

chuy-dob1-1647873118.jpg
Phế tích cổng thành Đồ Bàn (Bình Định). Nguồn: Internet.

 

Đi tiên phong là Nguyễn Huệ, Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng, đi trung quân là Võ Xuân Hoài, Trương Mỹ Ngọc, đi hậu quân là Lý Tài, Tập Đình, hai tướng người Hoa chỉ huy hai đạo quân người Hoa. Đạo tiên phong có 100 thớt voi do những lính người Thượng mặc quần áo thổ cẩm nhiều màu sắc làm quản tượng, tay cầm búa gỗ điều khiển. Trên lưng mỗi con voi có ba lính Tây Sơn mặc quân phục màu nâu, đầu buộc khăn đỏ, tay cầm gươm, giáo, đại đao, súng phun lửa, súng hỏa mai, lưng đeo tạc đạn, cung tên. 100 con voi như 100 trái núi di động bước đi nhanh như gió thật hùng dũng. Theo sau voi là 2000 chiến mã trên lưng là 2000 kỵ binh, mình mang giáp sắt, đầu buộc khăn đỏ. Theo sau chiến mã khoảng 2 vạn quân, quân phục nâu, đầu chít khăn đỏ, lưng đeo cung tên, tạc đạn, tay cầm giáo mác hoặc  súng hỏa mai. Trên đầu quân Tây Sơn pháp phới hàng nghìn cờ đỏ dài một phần tư trượng, trong nền đỏ có vòng tròn vàng. Trong quân có hai đơn vị là người thiểu số Tây Nguyên, cao to dũng mãnh đi tiên phong. Hai đơn vị này đặt dưới quyền chỉ huy của Nguyễn Huệ. Nguyễn Nhạc cưỡi voi đi trung quân với lá cờ đỏ viết chữ vàng: “Tây Sơn Vương”. Ngoài ra còn có những băng đỏ dài ghi chữ vàng: “Lấy của nhà giàu chia cho người nghèo”, “Diệt Trương Phúc Loan, phò Hoàng Tôn Dương”. Trên đường đi Quy Nhơn, bách tính ra đứng chật đường chào đón và úy lạo. Hàng nghìn trai tráng tự nguyện gia nhập quân Tây Sơn. Cờ đỏ rợp trời đất, trống lớn khua vang động không gian. Quân đi rung chuyển mặt đất báo hiệu những cơn bão táp Đàng Trong của những người nghèo khổ vùng dậy để lật nhào chế độ tàn bạo của chúa Nguyễn bắt đầu.

Năm 1602, Nguyễn Hoàng đã đổi phủ Hoài Nhơn thành phủ Quy Nhơn, đặt lại chức tuần phủ, khám lý. Phủ lỵ đặt tại thành Quy Nhơn, xưa là thành Đồ Bàn, một thời là kinh đô của Chiêm Thành, nằm giữa huyện Tuy Viễn và huyện Phù Ly. Cách một dặm về phía Tây là rừng thông xanh mướt. Phủ thành Quy Nhơn là lỵ sở trấn trị hành chính quân sự quan trọng của chúa Nguyễn Đàng Trong dưới sự cai trị của tuần phủ Nguyễn Khắc Tuyên. Tường thành được xây bằng đá ong cao và dầy chắc chắn. Phủ Thành lại được bao phủ bởi hệ thống sông suối và các ngọn đồi, tạo nên những vòng hào, những bức tường tự nhiên che chắn. Hai nhánh sông Cầu Ngắn phía Bắc, sông Cầu Dài ở phía Nam tạo vòng tròn bao bọc toàn bộ phủ thành. Ngoài ra, còn có ngọn đồi Tháp Phú Lốc ở phía Đông Bắc và núi Mò ở phía Đông, đồi Tháp Gầy ở phía Nam. Bởi vậy Quy Nhơn năm 1773 là căn cứ quân sự quan trọng trong hệ thống phòng thủ của chúa Nguyễn.

20.000 quân bộ, 2000 kỵ binh, 100 thớt voi quân Tây Sơn bao vây thành Quy Nhơn nhưng không tiếp cận được, chỉ dừng lại ở sông Cầu Ngắn và sông Cầu Dài. Trên thành cờ vàng bay phấp phới. Quân Nguyễn đứng trên mặt thành chuẩn bị chiến đấu. Bên ngoài từ xa, quân Tây Sơn ném tạc đạn, phun hỏa hổ, bắn súng hỏa mai nhưng không tới mặt thành. Đạn chỉ nổ ngoài thành, lửa như ánh chớp. Quân Trên thành bắn ra cũng không tới được quân Tây Sơn, Voi Tây Sơn đứng nhìn và gầm vang lên. Ngựa bị ghì cương chồm hai vó trước lên trời mà lồng lộn hí vang.

Sau ba ngày bao vây, Nguyễn Nhạc cho quân rút lui để tránh viện binh quân Nguyễn tới, trong đánh ra ,ngoài đánh vào thì quân Tây Sơn sẽ vỡ trận. Trong tổng hành dinh, Nguyễn Nhạc và các tướng đang bàn cách đánh thành, chợt có thám mã về báo:

-Dạ bẩm chúa công, tuần phủ Nguyễn Khắc Tuyên có bố cáo gửi bách tính ạ.

Nguyễn Nhạc cầm bản bố cáo đọc. Nguyễn Khắc Tuyên viết: “Nay bố cáo, ai bắt được thủ lĩnh của giặc Tây Sơn Nguyễn Nhạc đem nộp, bản phủ sẽ thưởng 100 lạng bạc, thưởng chức tri huyện, hưởng lộc triều đình muôn đời con cháu”.

Nguyễn Nhạc đọc xong truyền cho các tướng cùng đọc, Bỗng Nguyễn Nhạc nói:

-Có rồi, có kế hạ thành Quy Nhơn rồi.

- Kế như thế nào, thưa chúa công?

-Nay ta tương kế tựu kế, ta sẽ ngồi vào cũi cho 10 người khênh vào nói là đã bắt được ta đem nộp, dụ cho Nguyễn Khắc Tuyên mở cổng thành, ta sẽ phá cũi ra cùng 10 người lính tiêu diệt địch chiếm thành.

Nguyễn Huệ nói:

-Nên cho 100 lính nữa ăn mặc quần áo rách rưới giả bách tính theo sau hò reo tỏ vẻ vui mừng, khi cổng thành mở cùng xông vào chiến đấu. 110 người này phải võ nghệ cao cường vì trong thành chúng có 1 vạn quân, rất khó khăn và nguy hiểm cho huynh.

Trần Quang Diệu nói:

-Mạt tướng có cách này đỡ nguy hiểm cho chúa công, đêm nay mạt tướng và tướng Nguyễn Huệ mỗi người chỉ huy 1000 quân tinh nhuệ, giả làm thường dân vào tiếp cận gần  thành, khi có tín hiệu cổng thành mở thì xông vào tiếp ứng.

Nguyễn Nhạc nói:

-Hay lắm, ta cũng cho 2 vạn quân không cờ, không trống giả làm thường dân ẩn vào các làng gần thành để nhanh chóng tiếp cận thành.

Võ Văn Dũng cũng nói:

-Mạt tướng tán thành mọi kế hoạch như vậy nhưng để bảo vệ tuyệt đối an toàn cho chúa công thì có cách này.

-Cách gì?

-Chọn một người hóa trang giống chúa công ngồi vào cũi, trên thành cao nhìn xuống xa đến 4 trượng, Nguyễn Khắc Tuyên làm sao phân biệt được.

Nguyễn Nhạc nói:

-Chọn người giống ta nhưng phải giỏi võ nữa thì tốt. Rồi cứ như vậy. Giao cho Nguyễn Huệ và Trần Quang Diệu triển khai thực hiện kế sách này đi.

-Tuân lệnh chúa công.

Một sáng, tuần phủ Nguyễn Khắc Tuyên trong phủ thành Quy Nhơn sau bữa ăn sáng đang ngồi uống trà thì có thám mã về báo:

-Dạ, bẩm tuần phủ, có tin mừng.

-Tin mừng gì vây?

-Dạ, dân làng đã lừa Nguyễn Nhạc uống rượu say, bắt được và cho vào  cũi sắt đang khênh đến cổng phủ thành, đang chờ lệnh của  tuần phủ đại nhân ạ.

Nguyễn Khắc Tuyên vội lên thành nhìn xuống. Bên ngoài ngay cổng chính phía Nam của thành, 10 người đàn ông quần áo nâu thường dân khênh một cũi sắt, trong cũi có một người đang say. Chung quanh là 100 thảo dân khác đi theo. Một người cầm loa đang loa to:

-Loa, loa, loa…báo cho bách tính Tuy Viễn và Phù Ly biết, đã bắt được đầu sỏ của giặc Tây Sơn là Nguyễn Nhạc, loa, loa, loa …Ngài tuần phủ đại nhân hãy mở cổng thành để bọn thảo dân đưa Nhạc vào và lĩnh thưởng, Loa, loa, loa…

Nguyễn Khắc Tuyên từ trên cao nhìn xuống thấy đúng người say trong cũi sắt là Nguyễn Nhạc. Nguyễn Khắc Tuyên cả mừng đi xuống, mở cái lỗ trong của cổng bằng cái bát nhìn ra và thận trọng nói:

-Chỉ được hai người khênh cũi vào trong thôi.

-Dạ tuân lệnh đại nhân.

Hai người ghé vai vào nhấc cũi lên nhưng cũi không nhúc nhích:

-Ôi nặng quá.

-Dạ bẩm đại nhân, cái cũi sắt quá nặng, Nguyễn Nhạc cũng nặng, hai người chứ 8 người khênh còn không đi nổi.

Nguyễn Khắc Tuyên nói:

-Cho cả 8 đứa khênh vào, còn bọn thảo dân hò reo kia đứng ngoài.

-Dạ, tuân lệnh đại nhân.

Nguyễn Khắc Tuyên ra lệnh:

-Mở cổng thành.

-Dạ, tuân lệnh đại nhân.

Cổng thành nặng nề vừa mở, tám người dân ì ạch, chậm chạp khênh Nguyễn Nhạc vào khỏi cổng thành. Nhanh như chớp một ngưởi rút then cài cũi ra, cùng lúc bảy người rút gươm lia chết những tên lính gác. Nguyễn Nhạc giả nhảy từ cũi ra lao vào đâm Nguyễn Khắc Tuyên. Nguyễn Khăc Tuyên quá sợ hãi, đáng lý hô 1 vạn quân ra chiến đấu thì lại chạy ra cổng sau phi ngựa lên phía Bắc, 100 bách tính cũng lao vào thành ném tạc đạn, chém giết. 2000 quân của Nguyễn Huệ và Trần Quang Diệu gần đó  hò reo vang dậy xông vào phủ thành Quy Nhơn. Đạn nổ, khói lửa mịt mù, gươm giáo tung hoành theo những thế võ Tây Sơn, phút chốc 5000 quân giữ thành bị giết, số còn lại đầu hàng. Quân Tây Sơn chiếm phủ thành Quy Nhơn, một vị trí xung yếu về quân sự, chính trị, địa bàn chiến lược cắt đôi thế lực nhà Nguyễn, bàn đạp tấn công Quảng Ngãi, Quảng Nam, Phú Xuân, tấn công Phú Yên, Diên Khánh, Bình Thuận, Trấn Biên và Gia Định.

chunguyen-phuc-thuan-1647959081.jpg
Nguyễn Phúc Thuần (1754 - 1777, ở ngôi 1765 - 1777), hay Nguyễn Duệ Tông, còn có tên khác là Nguyễn Phúc Hân, là người cai trị thứ 9 của chính quyền Chúa Nguyễn ở Đàng Trong vào thời kì Lê Trung Hưng trong lịch sử Việt Nam. Sau cái chết của phụ vương, Nguyễn Phúc Thuần được quyền thần Trương Phúc Loan lập làm Vương khi chỉ mới 12 tuổi, và người này sau đó thâu tóm hết chính quyền, và làm nhiều việc khiến triều đình Phú Xuân ngày càng lụn bại, suy yếu. Nguồn: Internet.

Trong phủ thành Quy Nhơn, Nguyễn Nhạc họp các tướng và nói:

-Tướng quân Nguyễn Văn Bảo:

-Dạ, có mạt tướng.

-Để tăng cường số lượng quân lương, nay tướng quân cùng tướng quân Phan Văn Trị đem quân đánh chiếm kho lương ở Cang Rang và Nước Ngọt.

-Mạt tướng tuân lệnh.

Tướng quân Ngô Văn Sở:

-Dạ, có mạt tướng.

-Tướng quân lĩnh chức Chinh Nam đại tướng quân. Các tướng quân Nguyễn Văn Lộc, Lê Văn Hưng, Nguyễn Lữ, Võ Văn Cao do Ngô Văn Sở thống lĩnh đánh chiếm ba phủ Phú Yên, Diên Khánh, Bình Thuận.

-Chúng mạt tướng tuân lệnh.

Hai ngày sau trong phủ thành Quy Nhơn thám mã về báo cho Nguyễn Nhạc:

-Dạ bẩm chúa công, tướng quân Phan Văn Trị, Nguyễn Văn Bảo đã đánh chiếm được hai kho lương thực ở Cang Rang và Nước Ngọt, Viên quan giữ kho Khâm Bai Lương bị giết chết, Đốc Trưng Bằng đã chạy thoát.Toàn bộ quân lương đã được đưa về phủ thành Quy Nhơn.

-Làm tốt lắm.

Nửa tháng sau lại có thám mã về báo:

-Dạ bẩm chúa công, Chinh Nam đại tướng quân Ngô Văn Sở và các tướng đã thắng lớn, đánh chiếm được ba phủ Phú Yên, Diên Khánh và Bình Thuận. Quân Nguyễn ở ba phủ đã mở cửa thành đầu hàng. Địa bàn của ta đã kéo dài từ Quy Nhơn đến Bình Thuận ạ. Tướng Nguyễn là Nguyễn Văn Hiến bị giết, Tướng Nguyễn Khoa Kiên bị bắt sống.

Nguyễn Nhạc nói:

-Truyền gọi đại tướng Ngô Văn Sở về Quy Nhơn, để tướng Nguyễn Văn Lộc, Lê Văn Hưng, Võ Văn Cao ở lại trấn giữ ba nơi.

-Dạ, tuân lệnh chúa công.

III

Tháng 11 năm 1773, trời mùa đông của xứ Thuận Hóa mây u ám, gió se lạnh. Núi Ngự Bình phủ đầy sương bay vật vờ bảng lảng soi mình xuống sông Hương xanh ngắt lững lờ trôi. Phủ chúa Nguyễn xa hoa lộng lẫy lầu son gác tía cũng mang một màu buồn bã.

Nhìn lại quá khứ năm 1687, chúa Nguyễn Phúc Thái dời phủ từ làng Kim Long về làng Phú Xuân, huyện Hương Trà. Năm 1712, chúa Nguyễn Phúc Chú lại dời phủ về làng Bác Vọng, huyện Quảng Điền. Năm 1738, Nguyễn Phúc Khoát ngồi vào ghế chúa lại dời phủ từ  Bác Vọng về lại Phú Xuân. Phủ chúa nhìn ra sông Hương uốn khúc, mộng mơ, có núi Ngự Bình cao 25 trượng tọa lạc giữa vùng đồng bằng với đỉnh núi bằng phẳng cho mây bay phủ sớm chiều. Hai bên là cồn Hến, cồn Dã Viên tạo nên tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ cho phủ chúa. Sông Hương nằm giữa hai cồn cong như cánh cung mang lại sinh khí cho đô thành.

Trong phủ mùa đông năm 1773, chúa Định Vương Nguyễn Phúc Thuần cùng quyền thần Quốc phó Trương Phúc Loan đang thiết triều. Ngồi dưới là đông đủ bá quan văn võ. Trương Phúc Loan với bộ mặt béo phị, đôi mắt ti hí gian manh nhìn khắp lượt bá quan văn võ, hắng giọng và nói thay chúa Nguyễn Phúc Thuần.

-Bá quan văn võ có biết tình hình nguy cấp của đất nước không? Ở ấp Tây Sơn, huyện Tuy Viễn, phủ Quy Nhơn ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ do Nguyễn Nhạc cầm đầu nổi loạn từ năm 1771. Nguyễn Nhạc tự xưng là Tây Sơn Vương. Bọn giặc cỏ đã đánh chiếm các huyện Tuy Viễn, Phù Ly, Bồng Sơn. Năm nay, chúng đã đánh chiếm phủ thành Quy Nhơn, một địa điểm trọng yếu về kinh tế, quân sự của nước nhà. Chúng đã tiến quân về phía Nam đánh chiếm ba phủ Phú Yên, Diên Khánh và Bình Thuận. Chúng đang chuẩn bị lực lượng tấn công ra Bắc Quy Nhơn, chiếm các phủ Quảng Ngãi và Quảng Nam. Nay để tiêu trừ giặc cỏ, thay mặt chúa công ta cử binh như sau:

-Phò mã Chưởng cơ Nguyễn Hữu Thống.

-Dạ có mạt tướng.

-Cai cơ Phan Tiến.

-Dạ có mạt tướng.

-Cai đội Nguyễn Vệ.

-Dạ có mạt tướng.

-Tổng nhung Tôn Sùng.

-Dạ có mạt tướng.

-Tán Lý Đỗ Văn Hoảng.

-Dạ có mạt tướng.

-Tướng quân Nguyễn Hữu Sách.

-Dạ có mạt tướng.

-Các tướng quân đem 7 vạn quân, 200 chiến thuyền vào Quy Nhơn, diệt bọn giặc cỏ phản tặc Tây Sơn.

-Chúng mạt tướng tuân lệnh chúa công, tuân lệnh Quốc phó.

Hôm sau, quân Nguyễn chia làm hai đạo. Đạo bộ binh do Chưởng cơ Nguyễn Vệ chỉ huy, thủy binh do Tổng Nhung Tôn Sùng chỉ huy rầm rộ tiến vào Quy Nhơn. Quân bộ đi rung chuyển đường đất, cờ vàng bay rợp trời. Ngoài biển các chiến thuyền đè sóng, rẽ nước tiến xuống phương Nam.

Tại phủ thành Quy Nhơn, Nguyễn Nhạc được tin thám mã cấp báo:

-Dạ bẩm chúa công, 7 vạn quân Nguyễn đã tiến vào Quảng Nam, đang tiến vào đánh Quy Nhơn.

-Dạ bẩm chúa công, 200 chiến thuyền quân Nguyễn đang tiến xuống phía Nam chuẩn bị đánh Quy Nhơn.

Nguyễn Nhạc nói:

-Cho gọi tướng quân Lý Tài, Tập Đình, Nguyễn Tằng Long và Phan Văn Lân vào đây.

-Dạ, tuân lệnh chúa công.

Lý Tài, Tập Đình, Nguyễn Tằng Long và Phan Văn Lân vào:

-Chúa công, chúng mạt tướng có mặt.

Nguyễn Nhạc ra lệnh:

-Tướng quân Tập Đình nghe lệnh.

-Dạ, có mạt tướng.

-Tướng quân cùng với tướng quân Phan Văn Lân đem 2 vạn quân đi tả quân theo đường thiên lý tiến ra Quảng Ngãi diệt địch.

-Chúng mạt tướng tuân lệnh.

-Tướng quân Lý Tài.

-Tướng quân cùng tướng Nguyễn Tằng Long đem 2 vạn quân đi cánh hữu theo đường thiên lý ra Quảng Ngãi diệt địch.

-Chúng mạt tướng tuân lệnh.

-Ta sẽ chỉ huy 3 vạn quân chi viện cho cánh tả hữu. Các tướng quân cho quân sĩ xuất phát ngay hôm nay.

-Dạ, chúng mạt tướng tuân lệnh chúa công.

Nguyễn Nhạc cưỡi voi, các tướng đi ngựa. Bảy vạn quân quân phục nâu, đầu buộc khăn đỏ, cờ đỏ rợp trời. Khí thế đội quân nông dân vùng lên thật là hùng tráng.

Buổi chiều trên đoạn đường thiên lý ở đoạn Bình Đê, giữa Quảng Ngãi và Quy Nhơn, quân Lý Tài và Tập Đình gặp quân của Nguyễn Vệ. Lý Tài, Tập Đình không cần dàn trận ra lệnh:

-Xông lên giết.

Quân Tây Sơn đánh trống trận to như sấm, tiếng reo hò vang động một vùng xông vào chém giết. Hai đạo quân Trung Nghĩa và Hòa Nghĩa vóc dáng cao lớn dữ tợn lao lên làm quân Nguyễn khiếp sợ bỏ chạy. Quân Tây Sơn đuổi theo thả sức chém giết, thây đổ như chuối, máu chảy đầm đìa như sông. 5 vạn quân Nguyễn bị tiêu diệt. Chưởng cơ Nguyễn Vệ và hầu hết tướng lĩnh tử trận. Tàn quân Nguyễn chạy về Quảng Nam, bỏ lại 4 thớt voi và nhiều quân lương, vũ khí.

chuyngnhac1-1648045358.png
Tranh minh họa. Nguồn: Internet.

 

Đạo thủy binh do Tổng nhung Tôn Sùng chỉ huy giữa đường gặp bão lớn chìm hết, còn một chiến thuyền trôi dạt vào cửa sông Trà Khúc bị quân Tây Sơn bắt gọn cùng 50 thủy binh và 3 đại bác. Quân Tây Sơn chiếm Quảng Ngãi. Nguyễn Nhạc trong tổng hành dinh nói:

-Tướng quân Nguyễn Văn Xuân.

-Dạ có mạt tướng.

-Tướng quân điều 1 vạn quân đắp chiến lũy ở Bến Ván, Bình Sơn để ngăn quân Nguyễn. Đắp xong chiến lũy, tướng quân chấn giữ tại đó.

-Mạt tướng ruân lệnh.

Tháng 12 năm Quý Tỵ (1773), tại kinh đô Phú Xuân, chúa Nguyễn Phúc Thuần và Quốc phó Trương Phúc Loan thiết triều, chợt có thám mã về báo:

-Dạ bẩm Định Vương, bẩm Quốc phó, đạo bộ binh của Chưởng cơ Nguyễn Vệ bị quân Tây Sơn tiêu diệt gần hết ở Bình Đệ. Nguyễn Vệ và các tùy tướng đã tử trận. Đạo thủy binh bị bão đắm hết chiến thuyền, chỉ còn 1 chiếc dạt vào cửa sông Trà Khúc bị Tây Sơn bắt 50 thủy binh, thu 3 đại bác.

Lại có thám mã về báo:

-Bẩm Định Vương, bẩm Quốc phó, quân Tây Sơn đã chiếm Quảng Ngãi.

Cả triều đình kinh hãi:

-Hả, bọn giặc cỏ nông dân mà mạnh như vậy sao?

Nguyễn Phúc Thuần hoảng sợ hỏi Trương Phúc Loan:

-Làm sao đây Quốc phó?

Trương Phúc Loan nói:

-Chúa thượng yên tâm, ta sẽ dẹp tan bọn giặc cỏ này. Bay đâu?

-Dạ, Quốc phó.

-Cho gọi tướng Tôn Thất Hưng, Tổng nhung Thành và Tán Lý Đản vào triều.

-Dạ. Tuân lệnh Quốc phó.

Tôn Thất Hưng, Tổng nhung Thành, Tán Lý Đản bước vào:

-Định Vương thiên thiên tuế.

-Miễn lễ.

-Đa tạ Định Vương, kính chào Quốc phó.

-Miễn lễ.

-Đa tạ Quốc phó.

Trương Phúc Loan nói:

-Quân ta vừa bị thua lớn và thiệt hại nặng ở Quảng Ngãi. Giặc cỏ Tây Sơn đã chiếm Quảng Ngãi. Nay cử Tôn Thất Hưng làm tiết chế đem 5 vạn quân đánh thẳng vào Bồng Sơn.

-Mạt tướng tuân lệnh.

-Nay cử Tổng nhung Thành và Tán Lý Đản đem 5 vạn quân đánh thẳng vào Lũy Cát chiếm lại Quảng Ngãi.

-Mạt tướng tuân lệnh.

Quân Nguyễn đông như kiến cỏ, cờ vàng rợp trời, gươm giáo, súng hỏa mai như rừng, lưng đeo cung tên tạc đạn tiến vào phía Nam. Trời mùa đông gió lạnh se sắt, cát bụi tung mù, bước chân chuyển rung mặt đất.

  Tại tổng hành dinh của Tây Sơn ở Quy Nhơn, thám mã về báo:

-Dạ bẩm Tây Sơn Vương, 4 vạn quân Nguyễn do Tổng nhung Thành, Tán Lý Đản chỉ huy đã tấn công Bến Cát. Quân ta núng thế, tướng Nguyễn Văn Xuân đã rút lên thượng đạo, rút về Quy Nhơn.

Lại có thám mã về báo:

-Dạ bẩm chúa công, 5 vạn quân Nguyễn do Tiết chế Tôn Thất Hưng chỉ huy đang tiến vào Bồng Sơn.

Lại có thám mã về báo:

-Dạ bẩm chúa công, hai đạo quân Nguyễn do Tôn Thất Hưng và Tổng nhung Thành đã hợp lại với nhau và chiếm được núi Bích Khê, phủ Quy Nhơn rồi ạ.

Nguyễn Nhạc gọi:

-Người đâu.

-Dạ, bẩm chúa công.

-Cho gọi các tướng Tập Đình, Lý Tài, Nguyễn Văn Danh, Nguyễn Văn Điểm vào đây.

-Dạ.

Bốn tướng bước vào thi lễ:

-Kính chào Tây Sơn Vương.

-Miễn lễ.

-Đa tạ Tây Sơn Vương.

Bốn tướng do tướng quân Tập Đình thống lĩnh đem 3 vạn quân đến mai phục ở Trà Cầu, Quảng Ngãi chặn đường tháo lui của quân Nguyễn khi chúng thua trận chạy về Phú Xuân.

-Dạ, chúng mạt tướng tuân lệnh.

-Ngươi đâu.

-Dạ.

-Cho gọi tướng Nguyễn Văn Xuân, Tướng Nguyễn Văn Hòa, Nguyễn Văn Huấn vào đây.

-Dạ.

Bốn tướng bước vào:

-Kính chào chúa công.

-Miễn lễ.

-Đa tạ chúa công.

-Bốn tướng do tướng Nguyễn Văn Xuân thống lĩnh đem 3 vạn quân đến Mồng Gà để tiếp ứng cho đạo quân ta ở Bích Khê và đạo quân của Tập Đình ở Trà Cầu, Quảng Ngãi.

-Dạ, chúng mạt tướng tuân lệnh.

Nguyễn Nhạc tự thống lĩnh 5 vạn quân cùng Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ, Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng tiến về núi Bích Khê. Chân dốc phía Nam của núi là đường thượng đạo rất hiểm trở. Nguyễn Huệ nói:

-Nơi đây huynh nên cho quân mai phục thì có thể phá tan được quân Nguyễn.

Nguyễn Nhạc nói:

-Đệ nói phải lắm.

Liền cho 4 vạn quân mai phục hai bên đường, còn cho hai vạn quân tiến lên núi giao chiến. Tôn Thất Hưng thấy quân Tây Sơn ít ra lệnh:

-Xông lên giết.

Hai bên kịch chiến, núi rừng vang lên tiếng trống trận, Tiếng nổ liên hồi như sấm của tạc đạn, của súng hỏa mai.Tôn Thất Hưng ra lệnh cho quân Nguyễn cánh tả và cánh hữu tản ra hình thành thế bao vây quân Tây Sơn. Quân Tây Sơn núng thế vừa đánh vừa lùi và cuối cùng thì rút chạy. Quân Nguyễn ào lên đuổi theo. Tổng  nhung Thành bảo Tôn Thất Hưng:

-Đường hiểm trở cẩn thận có mai phục.

Tôn Thất Hưng cả cười:

-Giặc cỏ ít thì núng thế phải chạy, có gì mà mai phục. Thừa thắng chúng ta đánh vào phủ Quy Nhơn luôn.

Rừng núi Bình Khê vang lên tiếng bước chân chạy rung chuyển, bước chân quân Tây Sơn rút chạy, chân của hàng vạn quân Nguyễn truy kích. Thốt nhiên một phát pháo hiệu đỏ rực bay lên trời. Quân Tây Sơn đang chạy quay lại đánh vỗ vào mặt quân Nguyễn. Hai bên sườn quân mai phục Tây Sơn ném xuống núi tạc đạn, bắn súng hỏa mai và cung tên vào quân Nguyễn như mưa. Thây đổ, thây nát vụn, máu phun như suối. Tiếng nổ và khói lửa mù mịt rung chuyển cả vùng Bích Khê. Tiết chế Tôn Thất Hưng bị một quả tạc đạn xé tan xác. Thành và Đản đem tàn quân chạy về Quảng Ngãi. Chạy đến Trà Cầu bỗng nhiên thấy cờ đỏ rợp trời hai bên đường. Có tiếng thét:

-Giết.

Rồi tạc đạn, súng hỏa mai, cung tên xả xuống như bão. Hàng vạn quân Nguyễn tử trận, xác ngổn ngang, máu như suối tràn ngập đường. Các tướng Tán Lý Đản, Tổng Nhung Thành bỏ mạng. Quân Tây Sơn thắng một trận vang dội, thu được không biết bao nhiêu là quân lương, vũ khí, voi, ngựa chiến, tiếng tăm lừng lẫy, chấn động Đàng Trong. Nguyễn Nhạc lại làm chủ Quảng Ngãi, cho tướng Nguyễn Văn Xuân trấn giữ phủ thành.

Sau trận thắng lớn, trong tổng hành dinh Nguyễn Nhạc nói:

-Chúng ta nhân đà thắng lớn phải tấn công đánh lấy Quảng Nam, tiếp cận gần để vượt Hải Vân đánh lấy Phú Xuân.

Các tướng đều nói:

-Chúa công nói phải lắm.

Nguyễn Nhạc nói tiếp:

-Tướng quân Lý Tài, tướng quân Đặng Xuân Phong, Đào Văn Hổ, Đặng Văn Chân, Lê Văn Hưng, Lê Văn Lợi.

-Dạ, có mạt tướng.

-Tướng Lý Tài thống lĩnh cùng các tướng đem 3 vạn quân đến đóng ở sông Thế Giang huyện Duy Xuyên.

-Dạ, chúng mạt tướng tuân lệnh.

-Tướng quân Tập Đình thống lĩnh cùng các tướng Lê Văn Lợi, Lê Văn Thanh, Lê Văn Bưu, Mạc Phù Quan đem 3 vạn quân đến đóng gần Kim Sơn để hỗ trợ cho hai cánh quân ở Thế Giang và ở sông Cối Giang.

-Dạ, chúng mạt tướng tuân lệnh.

-Ta sẽ đem 4 vạn quân ra sông Cối Giang cùng phối hợp đánh quân Nguyễn.

-Nữ tướng Bùi Thị Xuân, Bùi Thị Nhạn, Bùi Thị Lan.

-Dạ có mạt tướng.

-Ba nữ tướng ở lại cùng tướng Phan Văn Lân lo quân lương và bảo vệ Quy Nhơn.

-Chúng mạt tướng tuân lệnh.

Bảy vạn quân Nguyễn do Quận công Nguyễn Cửu Dật, Thống binh Huy và Hiến kéo vào phố Mỹ Thị, Hòa Vang. Hai bên ở thế giằng co nhau. Nguyễn Nhạc bỏ Cối Giang rút về Thiên Lộc, Duy Xuyên. Thiên Lộc nằm giữa nhiều nhánh sông, một bên là núi và quan lộ, một bên là sông. Nguyễn Nhạc nói với các tướng:

-Vị trí Thiên Lộc này ta có thể mai phục đánh quân Nguyễn nếu chúng tấn công theo đường lớn, phía sau lưng đã có sông bảo vệ, địch không có thủy binh, ta cứ yên tâm mà đánh mặt trước.

Các tướng nói:

-Chúa công nói phải lắm.

Phía quân Nguyễn sau khi quan sát địa hình Thiên Lộc, Nguyễn Cửu Dật nói với Thống binh Huy:

-Quân Tây Sơn chỉ chú ý ở mặt đường lớn, không chú ý mặt sông sau lưng, nếu có một đạo thủy binh đánh sau lưng quân Tây Sơn thì sẽ phá được Nguyễn Nhạc.

-Thồng binh Huy nói;

-Nhưng làm sao có được thuyền chiến mà có được thì làm sao thuyền chiến lớn đi vào một con sông nước không sâu thế này?

-Ta bí mật vơ vét huy động thuyền nhỏ của dân chài, đặt đại bác nhỏ lên, khi xung trận thì tăng cường súng hỏa mai, tạc đạn cũng tạo được hỏa lực bất ngờ đủ sức tiêu diệt quân Tây Sơn. Ăn nhau là ở yếu tố bất ngờ.

Thống binh Huy nói:

-Ta nghĩ ra rồi.

-Thống binh nghĩ ra được diệu kế gì?

Cho lính đắp bờ chắn sông ở hạ nguồn cho nước sông dâng lên cao thuyền chiến lớn chắc cũng vận động tốt.

-Diệu kế, diệu kế.

Vào một buổi sáng hàng vạn quân Nguyễn bất ngờ tấn công từ sườn núi xuống đường cái quan. Quân Tây Sơn dồn hết lực lượng nghênh chiến, bỏ trống mặt sông sau lưng. Hai bên bắn hỏa mai, ném tạc đạn, xác quân hai bên ngổn ngang nhưng quân Tây Sơn vẫn giữ vững căn cứ thiên Lộc. Bất ngờ từ phía sau quân Tây Sơn, hàng trăm thuyền đánh cá biến thành thuyền chiến dàn kín mặt sông đến 2 dặm. Đại bác bé nhả đạn tới tấp cùng tạc đạn và súng hỏa mai bắn như mưa. Quân Tây Sơn bị đánh tập hậu chết nhiều, thế trận tan vỡ rối loạn. Các tướng Tây Sơn và hàng nghìn quân tiếp tục gục xuống. Trong đạn lửa máu chảy xương tan, các tướng Tây Sơn hộ vệ Nguyễn Nhạc mở đường máu chạy về Bến Ván và Châu Ô, Quảng Ngãi. Đạo quân của   Lý Tài cũng bị quân Nguyễn đánh úp. Tập Đình cũng không thể cứu được cả hai đạo quân. Nguyễn Nhạc rút về Mỹ Thị. Trong tổng hành dinh Nguyễn Nhạc gọi:

-Thám mã đâu.

-Dạ, bẩm chúa công.

-Tướng quân đem mệnh lệnh của ta truyền cho tướng Tập Đình ở Thế Giang cùng ta tấn công Quảng Nam.

-Dạ, vâng lệnh chúa công.

Nguyễn Nhạc lại bảo một thám mã khác:

-Tướng quân truyền mệnh lệnh của ta cho tướng Lý Tài đem quân cùng ta và Tập Đình tấn công Quảng Nam.

-Dạ, tuân lệnh.

Ba đạo quân cùng tấn công Quảng Nam. Quân Nguyễn do Chưởng cơ Tôn Thất Thăng chỉ huy hành quân sắp đến Quảng Nam, chợt có thám mã báo:

-Dạ, bẩm Chưởng cơ, ba đạo quân Tây Sơn thế mạnh như nước đang tràn vào Quảng Nam.

Tôn Thất Thăng hoảng hốt:

-Hả, sao chúng nhanh vậy? Chúng mạnh như hổ báo, ta tạm thời lui binh và tính sau.

Tôn Thất Thăng hạ lệnh:

-Toàn quân rút về đèo Hải Vân cố thủ không cho quân Tây Sơn đánh ra Phú Xuân.

-Dạ, tuân lệnh Chưởng cơ.

Rồi quân của Tôn Thất Thăng gần như tháo chạy. Quân Tây Sơn chiếm được Quảng Nam.

Tháng 4 năm 1774, trời mùa hạ nắng như đổ lửa, trong tổng hành dinh ở Quảng Nam, thám mã về báo cho Nguyễn Nhạc:

-Dạ, bẩm chúa công, Lưu thủ dinh Long Hồ là Tống Phúc Hiệp cùng tướng Nguyễn Khoa Thuyên đem 5 vạn quân từ Hòn Khói Nha Trang đã đánh chiếm Bình Thuận.

Lại có thám mã về báo:

-Dạ, bẩm chúa công, Tống Phước Hiệp để Nguyễn Khoa Toàn giữ Bình Thuận, còn ông ta kéo quân đánh Diên Khánh. Trấn thủ Diên Khánh của ta Lê Văn Hưng đã bỏ Diên Khánh rút về Phú Yên hội quân với tướng Nguyễn Văn Lộc.

IV

Tháng 9 năm 1774, trong phủ chúa Nguyễn ở Phú Xuân, Nguyễn Phúc Thuần, Trương Phúc Loan đang thiết triều thì có thám mã về báo:

-Dạ, bẩm Định Vương, bẩm Quốc phó, Tĩnh đô Vương Trịnh Sâm ở Thăng Long đã phái 5 vạn quân do Việp Quận Công, lão tướng Hoàng Ngũ Phúc làm Bình Nam Thượng tướng quân, Bùi Thế Đạt làm phó tướng đã đánh đến Bắc Bố Chính.

Cả triều đình chưa hết cơn hoảng hốt thì lại có thám mã về báo:

-Dạ bẩm chúa công, bẩm Quốc phó, Quân ta ở Bố Chính do tướng Trần Giai chỉ huy đã đầu hàng quân Trịnh và làm hướng đạo cho chúng vượt sông Linh Giang, tấn  công  lũy Thầy rồi ạ.

Nguyễn Phúc Thuần nói:

-Không được hoảng loạn, lũy Thầy kiên cố xưa đã từng 6 lần đánh bại những cuộc tấn công của quân Trịnh.

Tôn Thất Nghiêm nói;

-Tâu chúa công, lũy Thầy khó công phá nhưng thần thấy phải tăng lực lượng bảo vệ Phú Xuân.

Nguyễn Phúc Thuần nói:

-Thống suất Tống Hữu Trương;

-Có thần.

-Tướng quân đem 3 vạn quân đóng ở Lưu Đồn bên trong chiến lũy Nhật Lệ để ngăn chặn quân Trịnh, đề phòng lũy Thầy thất thủ.

-Mạt tướng tuân lệnh.

Nguyễn Phúc Thuần ra lệnh tiếp:

-Tướng quân Tôn Thất Chí, Nguyễn Văn Chính.

-Có mạt tướng.

-Hai tướng quân đem 3 vạn quân đóng ở phía Nam Lưu Đồn, khu vực Hồ Xá cùng Tống Hữu Trương bảo vệ Phú Xuân.

-Mạt tướng tuân lệnh.

Vài hôm sau, Nguyễn Phúc Thuần đang thiết triều thì thám mã về báo:

-Dạ bẩm Định Vương, quân Trịnh do Hoàng Đình Thể chỉ huy đã chiếm được lũy Thầy ở Nhật Lệ vì các tướng của ta đã không chống cự, hạ vũ khí, mở cửa chiến lũy đầu hàng.

Cả triều đình hoảng loạn. Có tiếng nói:

-Mất lũy Thầy, quân Trịnh sắp tiến vào Phú Xuân rồi…

Lại có thám mã về báo:

-Dạ, bẩm Định Vương, Lưu Đồn đã thất thủ, Thông suất Tống Hữu Trương đã bỏ chạy.

Lại có thám mã báo:

-Dạ bẩm Định Vương, Hoàng Ngũ Phúc đã đến Hồ Xá, nói nếu bắt Quốc phó Trương Phúc Loan đem nộp sẽ ngừng tấn công Phú Xuân.

chuhnphusc-1648219359.jpg
Tranh minh họa: Hoàng Ngũ Phúc 1713 – 1776 là danh tướng thời Lê Trung Hưng trong lịch sử Việt Nam. Ông quê ở xã Phụng Công, huyện Yên Dũng (hiện nay là thôn Tân Phượng, xã Tân Mỹ, Thành phố Bắc Giang, Bắc Giang). Hoàng Ngũ Phúc có công lớn trong việc đánh dẹp các cuộc khởi nghĩa nông dân Đàng Ngoài và là tổng chỉ huy cuộc Nam tiến đánh Đàng Trong, mở mang đất đai Bắc Hà tới Quảng Nam. Nguồn: Internet..

 

Trương Phúc Loan tức giận đập bàn gầm thét:

-Bọn giặc Trịnh thật vô lễ, ai dám bắt ta?

Nguyễn Cửu Dật đứng dậy nói:

-Vì sự tồn vong của nước nhà, ta dám bắt ngài. Bay đâu.

-Dạ.

Sau những tiếng dạ ran, 100 võ sĩ xông vào. Nguyễn Cửu Dật quát:

-Bắt trói tên quyền thần tàn hại nước nhà này cho ta.

-Tuân lệnh.

Bị bất ngờ, Trương Phúc Loan không chuẩn bị, không đem theo võ sĩ bị bắt và bị trói. Nguyễn Cửu Dật thét:

-Đem nhốt vào xe tù, cử 1000 lính giải tên này đem ra Hồ Xá nộp cho Hoàng Ngũ Phúc để cứu nước nhà.

-Dạ, tuân lệnh.

Hôm sau thiết triều, thám mã lại về báo:

-Dạ bẩm Định Vương, Trương Phúc Loan đã bị Hoàng Ngũ Phúc giết rồi nhưng Hoàng Ngũ Phúc vẫn tiến về Phú Xuân, nói là vào để dẹp giặc Tây Sơn.

Nguyễn Phúc Thuần nói:

-Không rõ Hoàng Ngũ Phúc muốn gì nữa đây?

Tôn Thất Nghiêm nói:

-Bẩm Định Vương, bây giờ thì đã quá rõ ràng quân Trịnh muốn lấy toàn bộ Đàng Trong, một giấc mộng mà 200 năm trước cha ông họ không thực hiện được. Thần còn được biết, chúa Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm còn cầm vài vạn quân vào Nghệ An để tăng thanh thế cho Hoàng Ngũ Phúc Nam tiến.

Lại có thám mã về báo:

-Dạ bẩm Định Vương, quân ta ở Hồ Xá do Tôn Thất Chí và Nguyễn Văn Chính chỉ huy đã bị Hoàng Ngũ Phúc đánh bại, quân Trịnh đang tiến rất nhanh về Phú Xuân. Tình hình nước nhà rất nguy cấp .

Lại có thám mã báo:

-Dạ, bẩm Định Vương, Quân Trịnh do Hoàng Đình Thể, Hoàng Nghĩa Phác chỉ huy đã qua thác Trầm Ma đánh tan quân ta và đến rất gần Phú Xuân ạ.

Tôn Thất Nghiêm nói:

-Vận nước nguy cấp, xin Chúa công và hoàng gia hãy tạm lánh về Quảng Nam rồi tính sau.

Nguyễn Phúc Thuần nói:

-Nhưng Quảng Nam đã bị quân Tây Sơn chiếm rồi?

Nguyễn Cửu Dật nói:

-Chúa công yên tâm, thần đã đánh buộc Nguyễn Nhạc bỏ phủ thành Quảng Nam chạy về miền núi rồi.

Nguyễn Phúc Thuần thở dài:

-Thôi đành vậy thôi, nhờ hai ái khanh thu xếp và hộ giá.

Triều đình Phú Xuân khi đó như ong vỡ tổ, mạnh ai nấy chạy, chủ yếu là chạy theo chúa Nguyễn vào Quảng Nam. Chúa Nguyễn Phúc Thuần đem theo gia thất vào Quảng Nam, trong đó có Nguyễn Phúc Ánh mới 13 tuổi là con Nguyễn Phúc Luân, anh trai Nguyễn Phúc Thuần đã bị Trương Phúc Loan giết. Vậy là đầu năm 1775, Hoàng Ngũ Phúc dẫn quân Trịnh tiến vào Phú Xuân. Lần đầu tiên quân Trịnh làm chủ toàn bộ Thuận Hóa. Cuộc chiến giữa Trịnh-Nguyễn và Tây Sơn bắt đầu.

Chúa Nguyễn Phúc thuần ở dinh phủ Quảng Nam, ăn sáng xong đang ngồi uống trà thì có thám mã về báo:

-Da, bẩm Định Vương, Tây Sơn Nguyễn Nhạc đã chia quân thủy bộ ra đánh Quảng Nam.

Nguyễn Phúc Thuần hốt hoảng:

-Phía Bắc có quân Trịnh, phía Nam có quân Tây Sơn, ta biết chạy đi đâu bây giờ?

Tôn Thất Nghiêm nói:

-Bẩm chúa công, chỉ còn một con đường duy nhất là đi thuyền vượt biển vào Gia Định.

Nguyễn Phúc Thuần thở dài:

-Cũng chỉ còn con đường đó thôi. Khanh đi chuẩn bị thuyền đi.

-Thần tuân lệnh.

Nguyễn Cửu Dật hộ giá. Tôn Thất Nghiêm đi tìm được một chiếc thuyền đánh cá rồi về nói với Nguyễn Phúc Thuần:

-Dạ bẩm chúa công, thần kiếm được một thuyền đánh cá nên xin Chúa công và hoàng gia thay đổi trang phục thường dân kéo thủy quân Tây Sơn bắt gặp sẽ bị lộ. Nguyễn Phúc Thuần lại thở dài nói:

-Cũng đành vậy thôi.

Rồi chúa tôi thay đồ lụa là gấm vóc bằng quần áo nâu, chít khăn nâu. Đêm chúa tôi lật đật vất vã đi ra biển xuống thuyền. Đi theo chúa là gia thất và vài người tướng như Tôn Thất Nghiêm, Tống Hữu Trương, Tôn Thất Chí, Nguyễn Văn Chính. Người nhỏ tuổi nhất là Nguyễn Phúc Ánh, cháu gọi Nguyễn Phúc Thuần là chú. Nguyễn Cửu Dật ở lại với tàn quân Nguyễn cùng Nguyễn Phúc Dương, em ruột Nguyễn Phúc Thuần. Đêm tối mịt mù, sóng biển mênh mông, đen kịt gào khóc cho thân phận chúa tôi long đong vất vả trong thời kỳ loạn ly.

Tháng 4 năm 1775, Quận Việp Hoàng Ngũ Phúc nhận được lệnh của Trịnh Sâm tiếp tục đánh chiếm Quảng Nam, diệt Tây Sơn. Hoàng Ngũ Phúc cho 4 vạn quân vượt đèo Hải Vân. Quân Trịnh đi trên những ngọn đèo sừng sững quanh co đúng là “hùng sơn quan ải”. Chân đèo dài 40 dặm vách dựng đứng, cao 125 trượng, sóng vỗ tung bọt trắng xóa. Phía Tây là những dãy núi cao hùng vĩ, những ngọn tháp đá chạm trời, với tay có thể chạm được mây trắng đang bay nhởn nhơ. Bốn phương là biển trời xanh biếc mênh mông bát ngát. Quân Trịnh và Hoàng Ngũ Phúc lần đầu đặt chân tới nơi núi non biển cả hùng vĩ như vậy. Hoàng Ngũ Phúc với con mắt của một tướng lĩnh già đời chinh chiến, tự hỏi sao chúa Nguyễn không xây thêm ở đây một lũy Thầy. Nơi đây 1 vạn quân chấn giữ thì 1 triệu quân không qua nổi. Tại chân đèo Hải Vân, quân tiên phong Trịnh đã chạm trán với quân Tây Sơn. Quân Tây Sơn thế yếu rút về Quảng Nam. Hoàng Ngũ Phúc chia quân làm hai đạo cùng tiến.

Đang tháng tư, mùa hè ở cuối Quảng Nam đầu Quảng Ngãi nắng như đổ lửa. Quân Trịnh đã tiến vào vùng Cẩm Sa, Hòa Vinh, Quảng Nam. Trời trong veo, không một gợn gió, cây cối đứng im dưới nắng không một chút xao động. Xóm làng ấp thôn chìm trong nắng mênh mông. Nhưng sôi động hơn là 3 vạn quân Trịnh đang hành quân làm chấn động, không khí nơi đây càng thêm nóng bỏng. Hoàng Ngũ Phúc sai Thế Trung Hầu Hoàng Đình Thể, Đinh Vũ Hầu Nguyễn Đình Đống đem 1 vạn quân đi tiên phong, Hoàng Ngũ Phúc, Xuân Quận Công Nguyễn Nghiễn và Xán Trung Hầu Bùi Bá Cầu đi trung quân, theo sau là 2 vạn quân đi hậu quân. Bước của voi, vó của kỵ binh cùng bước chân của bộ binh khua cát bụi mù mịt. Cờ vàng bay phấp phới tiến vào Cẩm Sa.

Phía Tây Sơn, Nguyễn Nhạc đem 2 vạn quân, 50 thớt voi. Lý Tài dẫn 1 vạn quân đi tiên phong. Nguyễn Nhạc dẫn 1 vạn quân đi trung quân, Nguyễn Lữ đi hậu quân. Cờ đỏ rợp trời, khăn đỏ trên đầu 2 vạn quân làm cho bầu trời Cẩm Sa toàn màu đỏ. Quân tiên phong của quân Trịnh và Tây Sơn gặp nhau. Hai bên ném tạc đạn, hàng vạn khẩu hỏa mai khạc lửa. Phút chốc cả vùng Cẩm Sa ngập trong khói lửa. Trong khỏi lửa mịt mù, quân hai bên lao vào nhau chém giết. Quân Tây Sơn khí thế rất hăng, chém giết dữ dội, tiếng reo hò vang trời, trống lớn thúc vang rung chuyển không gian trời đất, thây gục đổ chồng chất, máu tuôn như suối. Đang khi đó Hoàng Đình Thể, Hoàng Phùng Cơ cho 2000 kỵ binh nhanh chóng xông vào phá thế trận Tây Sơn. Voi của Tây Sơn bị thương rống lên quay đầu chạy trở về. Quân Tây Sơn vỡ trận, Hoàng Ngũ Phúc tung 2 vạn quân phía sau xông lên chém giết. 1 vạn quân Tây Sơn bị tiêu diệt gần hết, máu chảy như mưa, thây đổ chồng chất. Lý Tài phải chạy về. 1 vạn quân Tây sơn phía sau không chống cự nổi làn sóng ào ạt của 3 vạn quân Trịnh đang xốc tới. Nguyễn Nhạc và các tướng phải rút lui. Quân Trịnh do Nguyễn Đình Đống chỉ huy truy kích đánh tan cả đạo quân mai phục của Nguyễn Lữ. Tại cửa biển Đại Chiêm, thủy binh Tây Sơn do Tập Đình chỉ huy đấu pháo dữ dội với thủy binh Trịnh, 5 thuyền chiến Tây Sơn bốc cháy, 100 thủy binh hy sinh, phía Trịnh cũng bốc cháy chìm 3 thuyền. Thuyền chiến thành những bó đuốc cháy trong tiếng gầm của đại bác và từ từ chìm xuống. Trong khi đó, thuyền chiến quân Trịnh thắng thế đang lao vào bao vây chiến thuyền Tây Sơn. Tập Đình phải dong buồm chạy về Trung Quốc, rời bỏ quân đội Tây Sơn. Trên bộ Nguyễn Nhạc đem quân chạy về Bàn Tân, Quảng Ngãi thế thủ.

Trận Cẩm Sa cả hai bên mất 5000 quân, hàng chục tùy tướng tử trận. Nha hiệu của Hoàng Ngũ Phúc là Quế Vũ Bát bị quân Tây Sơn giết tại trận ngay cạnh Việp Quận Công Hoàng Ngũ Phúc.

Trong tổng hành dinh ở Bàn Tân, Nguyễn Nhạc nói:

-Từ khi quân Trịnh Nam tiến, quân ta lâm vào tình thế khó khăn. Sau trận Cẩm Sa, thế của chúng ta ngày càng nguy hiểm, hai đầu thọ địch. Quân Nguyễn do Tống Phúc Hiệp chỉ huy đã đánh đến Phú Yên, Quy Nhơn bị đe dọa. Phía Bắc, quân Trịnh đã đến đầu Quảng Ngãi, quân lực của ta bị chia sẻ hai nơi nên lâm vào thế yếu. Các huynh đệ có kế sách gì hay để cứu vãn tình hình không?

chtrqdieu1-1648304936.jpg

Trần Quang Diệu và Bùi Thị Xuân 2 vị tướng kiệt xuất thời Tây Sơn. (Nguồn ảnh: Pinterest)

 

Nguyễn Huệ nói:

-Qua các trận, quân Trịnh đánh quân Nguyễn tiến vào Phú Xuân, qua trận Cẩm Sa, quân Trịnh tỏ ra là một quân đội thiện chiến, mạnh mẽ, lại có lão tướng Hoàng Ngũ Phúc dày dạn kinh nghiệm chinh chiến. Chi cho bằng chúng ta  thi hành kế sách tạm thời hòa hoãn với quân Trịnh ở phía Bắc, dồn lực lượng chống quân Nguyễn ở phía Nam. Tạm thời hòa với Trịnh, chúng ta mới bảo vệ được Quảng Ngãi, Quy Nhơn. Nếu không lưỡng đầu thọ địch chúng ta có thể mất hết.

Trần Quang Diệu nói:

-Mạt tướng tán thành cao kiến của tướng quân Nguyễn Huệ. Ta hòa với Trịnh để chờ thời cơ diệt Nguyễn, diệt Trịnh. Vả lại quân Trịnh từ xa tới đây sẽ nhiều khó khăn, không lâu sẽ có biến do lương thực, vũ khí  thiếu thốn, ốm đau bệnh tật, không chịu nổi cái nóng khắc nghiệt của miền Trung. Thân già như Hoàng Ngũ Phúc trụ được bao lâu nữa. Xin chúa công quyết đi.

Võ Văn Dũng nói:

-Mạt tướng cho rằng kế sách ấy là hay để cứu vãn tình hình của ta hiện nay. Binh pháp đã nói trong chiến tranh lừa nhau là chuyện thường tình. Chúa công hãy quyết đi.

Nguyễn Nhạc nói:

-Các đệ nói phải lắm.

Nguyễn Nhạc gọi:

-Người đâu.

-Dạ, chúa công.

-Cho gọi tướng Phan Văn Thế vào đây.

-Dạ.

Tướng Phan Văn Thế bước vào:

-Dạ, chúa công cho gọi.

Nguyễn Nhạc nói:

-Tướng quân có tài ăn nói, nay giao cho tướng quân một trọng trách liên quan đến vận mệnh còn mất của Tây Sơn. Tướng quân thay ta đến doanh trại của Hoàng Ngũ Phúc xin hàng, xin làm quân tiên phong đánh quân Nguyễn, đem toàn bộ Đàng Trong về cho chúa Trịnh. Quà cáp nhớ đem theo voi, ngựa đẹp, vàng bạc châu báu, sổ sách quân dân, quan lại, đất đai Quy Nhơn, Quảng Ngãi, Phú Yên. Rõ chưa?

-Dạ, mạt tương sẽ không phụ lòng tin cậy ủy thác của chúa công, của các anh hùng hào kiệt Tây Sơn.

Một sáng, Hoàng Ngũ Phúc đang ngồi trong tổng hành dinh ở Chu Ổ, huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi, Hoàng Ngũ Phúc thấy trong người mệt mỏi, các khớp xương đau nhừ. Từ khi Nam tiến đến nay, công việc nặng nhọc làm Việp Quận Công ăn không ngon, ngủ không yên. Cái nóng mùa hè ở xứ này thật là khủng khiếp. Hai  tùy tướng đua nhau quạt mà mồ hôi ngài vẫn vả ra như tắm. Hoàng Ngũ Phúc vừa uống xong ly trà thì có tùy tướng vào báo:

-Dạ, bẩm Việp Quân Công, có tùy tướng Tây Sơn muốn vào gặp.

-Cho vào.

-Dạ, tuân lệnh.

Phan Văn Thế và đoàn tùy tùng mạng theo lễ vật bước vào, cúi đầu hành lễ:

-Mạt tướng kính chào Việp Quận công.

-Miễn lễ.

-Dạ, đa tạ Việp Quận Công.

-Ngồi đi. Người đâu lấy nước.

Phan Văn Thế và các tùy thuộc ngồi. Sau một tuần nước, Hoàng Ngũ Phúc nói:

-Ta hiểu các tướng quân tới đây làm gì rồi, có gì thì nói đi.

Phan Văn Thế nói:

-Dạ bẩm Việp Quận công, dưới ách thống trị tàn bạo, hà khắc của quyền thần Trương Phúc Loan, bá tính Đàng Trong hết đường sống cho nên chúa công tôi đã nổi dậy mong tiêu trừ Trương Phúc Loan, mong chúa Nguyễn có những đối sách thương bách tính. Chúa công tôi cũng đã nhiều lần muốn theo về Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm, làm vai trò đi tiên phong đánh quân Nguyễn, mang lại cơ đồ Đàng Trong về một mối thống nhất cho Lê-Trịnh. May nay có lão tướng quân khó nhọc vào đây, chúa công tôi có chút lễ mọn tỏ tấm lòng thành, xin hàng Việp Quận Công, về với Lê- Trịnh và nguyện làm tiên phong diệt nhà Nguyễn, đem lại Đàng Trong về cho Lê Trịnh. Mong Lão tướng quân chấp nhận thì phúc cho bá tính.

Phan Văn Thế dứt lời, bảo tùy tùng đưa ra một hộp gỗ màu gụ. Phan Văn Thể mở nắp hộp, lấy ra những cuốn sổ sách và nói:

-Chúa công tôi xin dâng sổ sách quân, dân, quan chức, đất đai của ba phủ Phú Yên, Quy Nhơn, Quảng Ngãi cho lão tướng quân, cho triều đình Lê-Trịnh.

Hoàng Ngũ Phúc là lão tướng lão luyện, nửa tin nửa ngờ thành ý của Tây Sơn, nhưng tình hình trước mắt của quân Trịnh rất nhiều khó khăn đang xuất hiện như thiếu lương thực, vũ khí, thuốc men, quân sĩ đã bắt đầu đau ốm hàng loạt do khí hậu khắc nghiệt. Ngay Hoàng Ngũ Phúc cũng đã cảm thấy rất mỏi mệt do tuổi già, do công việc chinh chiến nặng nhọc. Đánh một lúc cả Tây Sơn và chúa Nguyễn là không thể được. Chi cho bằng mượn tay Tây Sơn tiêu diệt nhà Nguyễn, sau đó sẽ tính với Tây Sơn sau. Nghĩ như vậy Hoàng Ngũ phúc nói:

-Tây Sơn là những anh hùng hào kiệt của Đàng Trong, yêu lẽ phải và công bằng, chúa công và các tướng Tây Sơn về với Lê-Trịnh là hợp lẽ trời, thuận lòng người. Ta đồng ý mở rộng cửa đón Nguyễn Nhạc và các anh hùng Tây Sơn về với Lê-Trịnh.

Phan Văn Thế và các tùy tướng đứng dậy hành lễ:

-Đa tạ Việp Quận Công. Chúa công Tây Sơn và các mạt tướng nguyện hết lòng vì Lê-Trịnh.

Phan Văn Thế nâng sổ sách dâng cho Hoàng Ngũ Phúc:

-Nhờ Việp Quận công trình lên triều đình Lê-Trịnh.

Hoàng Ngũ Phúc nhận và gọi:

-Người đâu.

-Dạ.

-Tổ chức đưa lễ vật và sổ sách quan trọng này về Thăng Long, trình hoàng thượng phong cho Nguyễn Nhạc làm “Tây Sơn trại trưởng Tráng tiết tướng quân”, đi tiên phong trong việc tiêu diệt nhà Nguyễn cho triều đình Lê-Trịnh. Còn đây là biểu của ta dâng Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm và hoàng thượng Lê Hiển Tông xin sắc phong cho Nguyễn Nhạc.

-Dạ, tuân lệnh Việp Quận Công, chúng mạt tướng sẽ khởi hành về Thăng Long ngay.

Phan Văn Thế và các tùy tùng lại cúi đầu làm lễ:

-Đa tạ Việp Quận Công.

Hoàng Ngũ Phúc nói thêm:

-Tùy tướng của ta về Thăng Long trình tấu, vừa đi vừa về mất khoảng nửa tháng. Nửa tháng nữa chúa công của các tướng quân mới nhận được sắc chỉ của triều đình. Nhưng không sao, ta đã tấu trình thì hoàng thượng và Tĩnh Đô Vương sẽ  phê chuẩn. Tướng quân về nói với Nguyễn Nhạc cứ thi hành phận sự, đi tiên phong đánh quân Nguyễn đi.

-Dạ, đa tạ Việp Quận Công, xin cáo biệt.

-Cáo biệt.

Nửa thang sau, một hôm Nguyễn Nhạc đang ngồi trong phủ thành Quy Nhơn thì có tùy tướng vào báo:

-Bẩm chúa công có người của Hoàng Ngũ Phúc tới.

-Mời vào.

-Dạ.

Bước vào là một người không mặc quân phục mà đội khăn thếp đen, áo đen, quần lụa trắng, đi theo còn có ba tùy tướng:

-Kính chào Chúa công.

chunguyen-hue-124-1648391391.jpg

Quang Trung Nguyễn Huệ (1753-1792). Nguồn: Internet.

 

Nguyễn Nhạc đáp:

-Không dám, chào tiên sinh và các  tướng quân. Mời tiên sinh và các tướng quân ngồi. Người đâu.

-Dạ.

-Tiếp nước.

-Dạ.

Nguyễn Nhạc hỏi:

-Tiên sinh và các tướng quân từ tổng hành dinh của Việp Quận Công ghé thăm?

Người mặc thường phục đáp:

-Bẩm chúa công, đúng vậy, tại hạ là Nguyễn Hữu Chỉnh, gia tướng của Việp Quận Công. Hôm nay được Nam chinh Thượng tướng quân ủy thác mang sắc, ấn, cờ và kiếm của hoàng thượng Lê Hiển Tông ban cho chúa công. Chính thức chúa công là “Tây Sơn trại trưởng, Tráng Tiết tướng quân”.

Nguyễn Nhạc vội quỳ hành lễ:

-Đa tạ hoàng thượng. Thần tuân chỉ.

-Người đâu.

-Dạ, chúa công.

-Làm tiệc rượu để ta khoản đãi Nguyễn đại nhân và các tướng quân.

-Người đâu.

-Dạ.

-Đi mời Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ, các tướng Võ Văn Dũng,, Trần Quang Diệu đến dự tiệc và làm quen với Nguyễn đại nhân.

-Dạ.

Mọi người đến thi lễ và dự tiệc rất vui vẻ. Nguyễn Hữu Chỉnh lời lẽ có vẻ một trí thức đương thời rất am hiểu thời cuộc, khuyên Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ hãy lật đổ nhà Nguyễn, xây dựng đại nghiệp. Nguyễn Hữu Chỉnh trong lúc say luận rằng Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ có khí thế đế vương. Chỉnh nói:

-Hai chúa công đừng từ chối, trời đã trao cho vận mệnh, đừng có thoái thác.

Khi ra về Nguyễn Hữu Chỉnh còn nói;

-Hôm nay cáo biệt nhưng tại hạ và các chúa công còn duyên hội ngộ, sẽ còn gặp nhau.

Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ đáp:

-Vậy thì còn gì bằng, hẹn ngày tái ngộ.

-Cáo biệt, cáo biệt, hẹn ngày tái ngộ.

Hôm sau Nguyễn Nhạc gọi:

-Người đâu.

-Dạ.

-Gọi tướng Phan Văn Thế vào đây.

-Dạ.

Phan Văn Thế bước vào:

-Dạ, chúa công cho gọi.

-Nhờ tài thuyết khách của tướng quân, cuộc “quy hàng” đã thành công. Nay tướng quân đem khay vàng này đến tạ ơn Hoàng Ngũ Phúc, xin khôi giáp và xin cho đệ của ta là Nguyễn Huệ làm Tiên phong tướng quân để tiết chế ba quân, tiến đánh  Phú Yên, Diên Khánh, Bình Thuận và Gia Định.

-Mạt tướng tuân lệnh.

Hôm sau Phan Văn Thế về bẩm báo với Nguyễn Nhạc:

-Dạ bẩm chúa công, Hoàng Ngũ Phúc ban cho chúa công khôi giáp, phong cho tướng quân Nguyễn Huệ làm “Tiên phong tướng quân”, Nam tiến đánh chúa Nguyễn.

Một tháng cuối năm 1775, Hoàng Ngũ Phúc đang ngồi lo lắng về dịch bệnh lan tràn trong quân Trịnh làm chết hàng nghìn binh sĩ, chợt có tùy tướng vào báo:

-Dạ, bẩm Việp Quận Công, lại có thêm 3000 quân sĩ nữa bị dịch, 1000 người đã chết rồi ạ.

Lại có tùy tướng vào báo:

-Dạ bẩm Thượng tướng quân, lương thực và vũ khí gần hết rồi ạ.

-Ta biết rồi.

Nói xong, Hoàng Ngũ Phúc bỗng thấy mệt rã rời, ngày thứ hai thì không thể đi lại được nữa, phải nhờ hai tùy tướng đỡ hai bên. Hoàng Ngũ Phúc biết bản thân và quân Nam tiến đã đến hồi nguy cấp, liền gọi:

-Người đâu.

-Dạ.

-Cho gọi tướng Nguyễn Đình Đống vào đây.

-Dạ.

Nguyễn Đình Đống bước vào hành lễ:

-Dạ, Việp Quận Công cho gọi mạt tướng.

-Tướng quân thấy tình cảnh của quân ta rồi, khí hậu ở đây rất khắc nghiệt. Tướng quân hãy về Thăng Long nói với Tĩnh Đô Vương cho quân ta tạm rút khỏi Quảng Nam để về Phú Xuân.

-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.

Nguyễn Đình Đống đi rồi, Hoàng Ngũ Phúc cho gọi Hoàng Đình Bảo, Hoàng Đình Thể, Hoàng Phùng Cơ vào và nói:

-Chắc các tướng quân đã biết bệnh dịch đang hoành hành, giết chết hàng nghìn quân ta. Các tướng quân truyền lệnh của ta cho toàn quân rút về Phúa Xuân Thuận Hóa.

-Chúng mạt tướng tuân lệnh.

Gần 2 vạn quân Trịnh, 2000 kỵ binh, voi cờ xí rợp trời lại hành quân qua đèo Hải Vân “hùng sơn quan ải” trong một tâm trạng mệt mỏi, rã rời và hoảng loạn vì dịch bệnh hoành hành, chết dần, chết mòn, lại còn đói khát do hết lương thực. Chinh Nam Thượng tướng quân phải nằm trên cáng để quân sĩ thay nhau khênh. Tháng 10 năm 1775, Hoàng Ngũ Phúc gọi:

-Người đâu.

-Dạ.

-Cho gọi phó tướng Nam chinh Bùi Thế Đạt vào.

-Dạ.

Bùi Thế Đạt bước vào:

-Dạ, Tiết chế cho gọi.

Hoàng Ngũ Phúc trên giường bệnh nói yếu ớt:

-Ta không qua khỏi nên mai phải về Thăng Long, tướng quân hãy thay ta thống lĩnh quân đội ở Thuận Hóa.

Bùi Thế Đạt nói:

-Mạt tướng tuân lệnh, chúc chủ tướng thượng lộ bình an.

Rồi Hoàng Ngũ Phúc kéo 1 vạn quân về Bắc. Dọc đường về, Hoàng Ngũ Phúc trút hơi thở cuối cùng, kết thúc cuộc đời chinh chiến trên con đường hành quân gió bụi mà không kịp trở về cố hương.

Khi quân Trịnh vừa rút đi, tháng 11 năm 1775, Tôn Thất Quyên, Tôn Thất Xuân nhà Nguyễn khởi binh ở huyện Thăng Bình và Điện Bàn nhằm chiếm lại Quảng Nam. Nữ Tướng Bùi Thị Xuân cùng Tướng Đặng Xuân Phong tiến đánh, giết chết Tôn Thất Quyên và Tôn Thất Xuân. Nguyễn Nhạc cho quân tiếp quản Quảng Nam. Vài ngày sau có chỉ của Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm cử Nguyễn Nhạc làm trấn thủ Quảng Nam. Nguyễn Nhạc cử Nguyễn Văn Tuyết giữ Quảng Nam, Đặng Xuân Phong làm trấn thủ Quảng Ngãi. Quân Tây Sơn rảnh tay mặt Bắc, mở cuộc chiến đánh chúa Nguyễn ở phía Nam.

V

Mùa đông năm 1775 gió se lạnh nhưng nắng vẫn chan hòa rải xuống khắp trấn Phú Yên, thành Phú Yên nhô cao lên sừng sững vững chắc. Những khẩu thần công đặt trên tường của bốn mặt thành lạnh lùng, đen sì sẵn sàng nhả đạn bảo vệ thành. Trong thành, tại dinh của Lưu thủ, Tống Phước Hiệp đang ngồi nhâm nhi ly rượu. Trong thời gian này, Tống Phước Hiệp đang rất vui vẻ xen lẫn kiêu ngạo, tự hào. Không tự hào sao được khi giặc Tây Sơn Nguyễn Nhạc đuổi quan quân chạy dài từ Phú Yên đến Gia Định, mất hết một giải đất từ Phú Yên đến Bình Thuận. Vậy mà Tống Phước Hiệp chỉ ra tay vài trận, quân Tây Sơn đã tháo chạy, quân Nguyễn thu hồi từ Bình Thuận đến Phú Yên dễ như thò tay vào túi lấy đồ vật. Tống Phước Hiệp còn yên tâm trong việc phòng thủ vì tự cho đã bố trí một thế trận liên hoàn vững chắc để bảo vệ Phú Yên.

chuynghuej-1648478866.jpg
Tranh minh họa: Nguyễn Huệ (1753-1792), còn có tên là Nguyễn Quang Bình là em út của ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ. Nguồn: Internet.

 

Thành Phú Yên có tường đá che chắn, cao hai trượng, chung quanh thành có hào nước như sông. Trên mặt thành đặt 20 khẩu thần công có sức công phá mạnh, ngoài ra còn nhiều loại vũ khí khác như hỏa cầu (tạc đạn), súng hỏa mai, cung cứng nỏ mạnh. Trong thành có 2 vạn quân sẵn sàng phòng thủ hoặc ra ngoài thành chiến đấu. Nếu đóng cửa thành phòng thủ thì bên ngoài rất khó tấn công. Lương thực, vũ khí dồi dào đủ ăn và chiến đấu trong một năm.

Ngoài thành Phú Yên kiên cố là trung tâm, Tống Phước Hiệp còn tin tưởng vào các căn cứ bộ binh có 2 vạn tinh binh ở núi Xuân Đài do Nguyễn Khoa Kiên chỉ huy. Thủy quân có 200 chiến thuyền trang bị đại bác đóng ở đầm Lãnh Úc phía Đông Nam Đồng Xuân do Nguyễn Văn Hiền chỉ huy. Còn có 2 vạn quân do Bùi Công Khê chỉ huy đóng ở Bình Khang và đạo quân của Tống Văn Khôi ở Ứng Hòa  có thể cứu ứng cho thành Phú Yên và cùng tấn công vào Quy Nhơn nếu có thời cơ. Tống Phước Hiệp dốc cạn một ly rượu nữa, chợt có tùy tướng vào báo:

-Bẩm Lưu thủ, có người của Nguyễn Nhạc Tây Sơn muốn vào gặp.

Tống Phước Hiệp nói:

-Cho vào.

-Dạ.

Tùy tướng của Tây Sơn Nguyễn Nhạc là một võ tướng bước vào:

-Kính chào Lưu thủ, chúa công mạt tướng có thư gửi tướng quân.

Tống Phước Hiệp cầm thư bóc ra và đọc. Thư viết: “Kính chào Lưu thủ Tống Phước Hiệp, tại hạ là Nguyễn Nhạc nay muốn về hàng với Định Vương Nguyễn Phúc Thuần để chống lại quân Trịnh đang xâm lược Đàng Trong nhưng tại hạ có mong muốn là cùng tướng quân tôn phò hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương lên làm chúa của chúng ta. Nay kính Thư. Nguyễn Nhạc”.

Tống Phước Hiệp cười ha hả:

-Tốt lắm. Người đâu.

-Dạ.

-Đem bút mực ra đây.

-Dạ.

Tống Phước Hiệp viết xong thư, niêm phong và đưa cho tùy tướng Tây Sơn:

-Tướng quân về đưa thư này cho chúa công của Tây Sơn.

-Dạ, đa tạ, mạt tướng xin cáo biệt.

-Cáo biệt.

Nguyễn Nhạc bóc thư ra đọc, thư viết: “ Nếu thật lòng về hàng thì thứ nhất hãy đem Nguyễn Phúc Dương đến Phú Yên, thứ hai là ngay lập tức khởi binh đánh quân Trịnh. Kính thư. Tống Phước Hiệp”.

Nguyễn Nhạc đọc xong thư bảo tùy tướng:

-Tướng quân về ấp Tây Sơn, Tuy Viễn gọi Nguyễn Huệ về Quy Nhơn gặp ta có việc gấp.

Sau khi nhận lệnh về Quy Nhơn, Nguyễn Huệ giao hết công việc ở Tây Sơn cho nữ tướng Bùi Thị Xuân rồi cùng tùy tướng đem 2000 quân Trung Nghĩa, Hòa Nghĩa người Thượng về Quy Nhơn gặp Nguyễn Nhạc. Trong bữa tiệc rượu Nguyễn Nhạc nói với Nguyễn Huệ:

-Ta phải lấy lại Phú Yên, Diên Khánh, Bình Khang và Bình Thuận. Ta đã viết thư giả hàng Tống Phước Hiệp, hắn tin và đang lơ là cảnh giác. Việc Nam tiến nay ta giao cho đệ.

Nguyễn Huệ nói:

-Tốt lắm, nếu Tống Phước Hiệp đang chờ ta về hàng thì ta sẽ bất ngờ dụng binh. Đệ rất thích đánh bất ngờ và thần tốc.

-Ta chờ tin chiến thắng của đệ.

-Huynh yên tâm, đệ sẽ sớm đem Phú Yên, Diên Khánh, Bình Khang, Bình Thuận về cho huynh.

Sau một đêm thức đọc sơ đồ bố trí binh lực của Tống Phước Hiệp, sớm hôm sau Nguyễn Huệ gọi tùy tướng vào nói:

-Tướng quân cầm thư này đến đưa cho tướng kỵ binh của ta là Trần Quang Sáng.

-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.

Nguyễn Huệ lại nói với một tùy tướng khác:

-Tướng quân hãy đem thư này cho tướng thủy quân ta là Phạm Ngạn.

-Dạ, mạt tướng quân lệnh.

Tại doanh trại của mình, tướng kỵ binh Tây Sơn Trần Quang Sáng nhận được thư của Nguyễn Huệ, bóc ra xem. Thư viết: “Tướng quân hãy hợp với quân của tướng quân Lương Văn Trực, với Thủy Xá Ma Khương, Tụ Nghĩa La Hiên, bất ngờ tấn công căn cứ bộ binh quân Nguyễn ở Xuân Đài, ở Đồng Xuân”.

Trần Quang Sáng lập tức thi hành lệnh hợp quân và tiến đánh Xuân Đài.

Tại căn cứ  thủy quân Tây Sơn, tướng Phạm Ngạn nhận được thư của Nguyễn Huệ. Thư viết: “Tướng quân hãy đem thủy binh phối hợp với thủy binh của tướng Lưu Quốc Hưng, Trần Văn Nhâm, bất ngờ tấn công căn cứ thủy quân Nguyễn ở đầm Lãnh Úc”. Phạm Ngạn lập tức thực hiện kế hoạch của Nguyễn Huệ.

Đạo kỵ binh và bộ binh của Nguyễn Quang Sáng cùng các tướng với 2 vạn người, ngựa bỏ chuông, không cờ không trống đi trong đêm đến Xuân Đài. Tướng Nguyễn Khoa Kiên trong bữa tiệc ban chiều nói với các tướng và binh sĩ:

-Lưu thủ Tống Phước Hiệp có nói với ta rằng giặc Tây Sơn Nguyễn Nhạc đã quy hàng Định Vương Nguyễn  Phúc Thuần, tự làm tiên phong đi đánh quân Trịnh ở Phú Xuân. Chúng ta không lo gì nữa, cứ nhậu cho thoải mái đi.

-Đa tạ tướng quân, nhậu cho thoải mái đi. Ha!ha!ha!...

-Nhậu, nhậu!ha!ha!ha!...

Nhậu tới canh ba thì tất cả binh sĩ bị ma men làm cho bất tỉnh, 2 vạn quân nằm la liệt như đã chết. Quân Tây Sơn bao vây doanh trại và xông vào chém giết. 2 vạn người không ai sống sót, thây chồng như núi, máu ngập như sông ở căn cứ Xuân Đài.

Đạo thủy binh Nguyễn ở đầm Lãnh Úc trong buổi nhậu bữa chiều, tướng Nguyễn Văn Hiền thông báo:

-Giặc Tây Sơn đã quy hàng chúng ta rồi, hôm nay các tướng sĩ được phép nhậu hết đêm.

-Thật hả, đa tạ tướng quân, lâu lắm mới được bữa nhậu suốt đêm. Ha!ha!ha!...

Thế là quân lính trên các thuyền chiến neo đậu hò reo ép nhau uống suốt đêm. Thủy quân Tây Sơn do tướng Phạm Ngạn chỉ huy bí mật bao vây các chiến thuyền của quân Nguyễn Văn Hiền và thay nhau ném tạc đạn, phun hỏa hổ vào. 200 chiến thuyền quân Nguyễn biến thành những bó đuốc cháy dữ dội vì lửa bén vào thuốc pháo và đạn dược trên thuyền. Những tiếng nổ và lửa khói như bão táp sáng rực hết cả một vùng biển trời Phú Yên. Tất cả thủy binh, kể cả tướng Nguyễn Văn Hiền đều chìm xuống lòng đầm Lãnh Úc, vùng biển Phú Yên.

Tại thành Phú Yên, Tống Phước Hiệp đang ngủ say sưa thì một tùy tướng vào báo:

-Dạ bẩm Lưu thủ, phía căn cứ bộ binh Xuân Đài và phía căn cứ thủy quân đầm Lãnh Úc hình như có chiến sự, đang giao tranh ác liệt, tiếng pháo nổ và lửa cháy rất dữ dội.

Tống Phước Hiệp vội vàng mặc quần áo lên mặt thành quan sát thì quả nhiên hai nơi đó pháo nổ như sấm sét, lửa cháy ngút trời sáng rực cả một vùng. Tống Phước Hiệp nói:

-Thôi chết, quân Tây Sơn bất ngờ tấn công chúng ta rồi. Người đâu.

-Dạ.

-Nổi trống tập hợp toàn quân để ta đi cứu viện.

-Dạ.

chunguyenlu2-1648564116.jpg
Tượng Nguyễn Lữ (? -1787. Nguoodn: Internet
 

 

Trong đêm khuya, trống ngũ liên thúc dồn dập vang khắp thành. Phút chốc cửa thành mở. Tống Phước Hiệp mặc giáp cưỡi ngựa, tay cầm siêu đao dẫn 2 vạn quân ùn ùn ra khỏi thành, lao về phía núi Xuân Đài. Người ngựa phi rầm rập trong đêm. Thốt nhiên, một phát pháo sáng bắn lên trời. Quân Nguyễn còn đang ngơ ngác thì tạc đạn, súng hỏa mai, súng phun lửa, cung nỏ từ hai bên đường dội như mưa vào quân Tống Phước Hiệp. Tùy tướng của Tống Phước Hiệp la to:

-Chúng ta bị quân Tây Sơn Nguyễn Huệ mai phục rồi.

Viên tùy tướng lấy tay chỉ, Tống Phước Hiệp nhìn theo thì thấy lá cờ đỏ rộng lớn bay phần phật có ghi chữ vàng; “Đại tướng tiên phong Nguyễn Huệ”. 2 vạn quân Nguyễn lần lượt gục xuống, thây chồng như núi, máu chảy như sông. Quân Tây Sơn lao ra chém giết những tên còn sống sót. Tống Phước Hiệp hoảng sợ mở đường máu chạy lên phía Tây theo đường thượng đạo về Gia Định.

Hôm sau, tướng Nguyễn ở Bình Khang đem quân ra cứu Phú Yên, khi giáp chiến với quân Tây Sơn, Bùi Công Khế bị Nguyễn Huệ bắt sống. Tướng Tống Văn Khôi ở Khánh Hòa ra tiếp viện cho Phú Yên cũng bị Nguyễn Huệ giết tại trận.

Chiến thắng Phú Yên của quân Tây Sơn làm chấn động toàn bộ miền Trung  và miền Gia Định, Nguyễn Huệ khi đó mới 23 tuổi tăm tiếng lừng lẫy. Nguyễn Nhạc báo tin thắng trận cho Hoàng Ngũ Phúc. Hoàng Ngũ Phúc phong Nguyễn Huệ làm “Tây Sơn hiệu Tiên phong Tướng quân”. Nguyễn Nhạc cử Lý Tài trấn thủ Bình Thuận. Đó là mùa đông Giáp Ngọ năm 1774.

Xuân Ất Mùi năm 1775, Nguyễn Phúc Dương trốn về Gia Định. Lý Tài làm phản Tây Sơn cũng trốn vào đây, tôn Nguyễn Phúc Dương làm Tần Chính Vương, đưa về Thành Gia Định (Sài Gòn), Tôn Định Vương Nguyễn Phúc Thuần làm Thái thượng Vương. Đỗ Thành Nhơn không phục Lý Tài  đem quân bỏ về Đông Sơn.

Mùa xuân năm 1775, Nguyễn Nhạc ngồi trong tổng hành dinh ở thành Quy Nhơn, chợt có tùy tướng vào báo:

-Bẩm chúa công, Tán tương quân vụ Nguyễn Lữ đi đánh Gia Định đã chiến thắng trở về, xin vào gặp.

Nguyễn Nhạc mừng rỡ vội đứng dậy nói:

-Cho mời vào.

Nguyễn Lữ bước vào, dù là trong bộ quân phục võ quan nhưng dáng Nguyễn Lữ vẫn như xưa, khoan thai, chậm chạp và hiền lành, nhìn Tán tương quân vụ không ai có thể nghĩ đó là một võ sư, tác giả của môn võ “Hùng kê quyền”, một môn võ lấy nhu thắng cương nổi tiếng của Tây Sơn và của cả vùng Quy Nhơn, không ai có thể nghĩ đó là tướng chuyên lo lương thực, vũ khí cho quân đội Tây Sơn, một công việc vô cùng trọng đại và khó khăn.

Nguyễn Nhạc mừng rỡ ra đón:

-Xin chúc mừng đệ đã ca khúc khải hoàn.

-Đa tạ huynh.

Nguyễn Nhạc gọi:

-Người đâu.

-Dạ.

-Đem nước mời Tán tương quân vụ.

-Dạ.

-Còn nữa, làm một bữa cơm rượu thịnh soạn để chúng ta chúc mừng chiến thắng của Tán tương quân vụ.

-Dạ, tuân lệnh chúa công.

Sau một lượt nước trà, Nguyễn Nhạc hỏi:

-Đệ đánh bại Nguyễn Phúc Thuần như thế nào? Có giết được Nguyễn Phúc Thuần và Nguyễn Phúc Dương không?

Nguyễn Lữ chậm rải đáp:

-Đệ đem 200 chiến thuyền và 3 vạn quân, từ biển rẽ vào sông Cần Giờ tiến tới thành Gia Định. Đệ cho nã đại bác đánh tan 100 chiến thuyền của Nguyễn Phúc Thuần. Vậy là tuyến phòng thủ Gia Định bị phá. Đệ áp sát chiến thuyền nã đại bác vào thành. Khi đổ bộ lên thì Nguyễn Phúc Thuần, Nguyễn phúc Dương đã chạy về Trấn Biên, không bắt được hai chúa Nguyễn. Đệ xin chịu quân luật.

Nói xong Nguyễn Lữ bước ra quỳ xuống.

Nguyễn Nhạc đỡ Nguyễn Lữ dậy và nói:

-Đệ chỉ quen lo quân lương chứ chưa quen chiến trận, đó là vì chú ba Huệ bận đi dẹp hai con của Nguyễn Phúc Khoát dấy binh ở Quảng Nam mà phải cho đệ cầm quân. Trận đầu mà thắng lợi như vậy là lập công rồi. Nguyễn Phúc Thuần và Nguyễn Phúc Dương cứ để cho chúng sống thêm vài ngày nữa, bắt lúc nào chả được. Đệ ngồi vào uống rượu đi. Nguyễn Lữ nói thêm:

-Đa tạ huynh đã tha tội. Đệ cũng đã để Phan Văn Lân ở lại giữ Gia Định.

Nguyễn Lữ ngồi vào bàn uống  rượu, vừa uống vừa nói:

-Huynh này.

-Gì vậy đệ?

Nguyễn Lữ cứ chậm rải nhỏ nhẹ như thuộc tính của mình xưa nay:

-Vào Gia Định lần này đệ cho rằng các hào trưởng và bách tính Gia Định lòng vẫn hướng về họ Nguyễn vì họ Nguyễn giúp họ khẩn hoang để sinh sống bao đời. Vả lại chúng ta cũng chưa đặt được sự cai trị lên Gia Định, chưa có một kế sách nào mang lại lợi ích cho bách tính, nhất là những người nghèo khổ. Để lấy được lòng dân còn khó hơn lấy Gia Định. Xin đại huynh sau này lưu ý.

Nguyễn Nhạc nói:

-Huynh sẽ lưu tâm.

Rồi tiệc rượu linh đình bày ra, đầy đủ các tướng lĩnh, các anh hùng hào kiệt Tây Sơn. Các tướng đua nhau chúc mừng Nguyễn Nhạc và Nguyễn Lữ:

-Xin chúc mừng chúa công, xin chúc mừng Tán tương quân vụ chiến thắng trở về.

-Đa tạ, đa tạ.

Cứ như vậy cuộc vui đến canh ba, Nguyễn Lữ mới về phòng ngủ.  Trong giấc ngủ không mơ thấy binh đao, chiến trận mà lại mơ thấy một thế giới âm u, nơi rừng sâu núi thẳm huyện bí, nơi các bậc tu tiên của đạo Lão để thoát khỏi hồng trần đầy gió bụi kinh hoàng.

Nguyễn Lữ quả là con người không mơ sự nghiệp công hầu khanh tướng mà hoài bão của Nguyễn Lữ là thế giới tâm linh, đem tâm linh giúp cho bách tính lầm than khổ cực trong cuộc đời đầy bão táp do bọn cường quyền gây nên.

VI

Biển mùa xuân tháng 3 năm 1777, gió vẫn còn se lạnh thổi thốc tháo. Sóng biển miền Trung hình như dữ dội hơn các miền khác. Sóng xanh đen vỗ tới tấp vào 300 chiến thuyền quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy vào đánh chúa Nguyễn ở Gia Định. Thuyền chiến đè sóng đi như ngựa biển vì mỗi thuyền hai bên có tới 20 tay chèo. Cờ đỏ rợp trời biển. Thần công nòng đen tràn đầy sức mạnh dương cao nòng.

Trên lâu thuyền chỉ huy cao nhất, Nguyễn Hụê suy nghĩ về trận đánh sắp tới. Sau trận đánh của Nguyễn Lữ vào Gia Định năm 1775, chúa Nguyễn Phúc Thuần chạy ra Trấn Biên (Biên Hòa). Sau khi Nguyễn Lữ về Quy Nhơn, chúa Nguyễn tập hợp lực lượng, chiếm lại thành Gia Định, tập Trung các tướng Đỗ Thành Nhơn, Mạc Thiên Tứ, tổng trấn Hà Tiên. Ngoài Thái Thịnh Vương Nguyễn Phúc Thuần còn có chúa Nguyễn Phúc Dương vốn bị Tây Sơn bắt, nhưng tháng 10 năm 1775 trốn thoát về Gia Định. Điều đáng cho Nguyễn Huệ lưu tâm là lần này Tiết chế của quân Nguyễn là Lý Tài, tướng chỉ huy đội quân người Hoa, đã từng theo Tây Sơn và chiến đấu ngay những ngày đầu khởi nghĩa. Sau trận Phú Yên năm 1773, Lý Tài được Nguyễn Nhạc cử làm trấn thủ Bình Thuận, khỏng rõ vì cớ gì, Lý Tài phản Tây Sơn và chạy về Gia Định theo chúa Nguyễn. Về đây, Lý Tài tranh giành thế lực với tướng Đông Sơn Đỗ Thành Nhơn. Lý Tài chiếm ưu thế, buộc Nguyễn Phúc Thuần làm Thái Thượng Vương, đưa Nguyễn Phúc Dương là Đông cung thế tử lên ngôi chúa. Đỗ Thành Nhơn hận Lý Tài, lui quân về giữ Đông Sơn. Lần này chính Lý Tài là tiết chế chỉ huy quân Nguyễn ở thành Gia Định chống lại quân Tây Sơn mà Lý Tài đã 6 năm chiến đấu dưới cờ.

Những chiến thuyền tiên phong đã nhìn thấy khoảng 100 chiến thuyền quân Nguyễn do Mạc Thiên Tứ chỉ huy dàn trận ngay ở cửa sông Cần Giờ, một đường thủy duy nhất từ biển đi vào thành Gia Định. Nguyễn Huệ cho đây là phòng tuyến số 1 để bảo về thành Gia Định từ xa, cách Gia Định khoảng 100 dặm. Nguyễn Huệ nghĩ rằng để tiêu diệt phòng tuyến này cần phải bao vây, thần tốc dáng đòn mãnh liệt, sấm sét. Nguyễn Huệ ra lệnh:

-Hình thành thế bao vây, các chiến thuyền bên tả, bên hữu bao vây thuyền địch, còn các chiến thuyền trung quân xông lên.

chnguyhuej-1648650475.jpg
Tượng Quang Trung Nguyễn Huệ. Nguồn: Internet.

 

Các chiến thuyền Tây Sơn xông lên, trống trận vang rền, tiếng reo hò át tiếng sóng. Các chiến thuyền quân Nguyễn nhả đạn nhưng tầm bắn còn xa, đạn rơi xuống biển. Có lẽ do quá hoảng loạn mà quân Nguyễn bắn từ xa không hiệu quả. Lợi dụng lúc quân Nguyễn còn nạp đạn, Nguyễn Hụê thúc chiến thuyền xông lên khi vừa tầm bắn thì ra lệnh:

-Bắn.

Pháo trên tất cả các chiến thuyền Tây Sơn nổ ầm ầm, đạn bay vào các chiến thuyền quân Nguyễn. Sau những quầng lửa cháy lên là xác thủy binh Nguyễn tung lên trời, chiến thuyền bốc cháy và chìm dần. Hết đợt pháo này lại đến đợt pháo khác từ chiến thuyền Tây Sơn nã vào chiến thuyền quân Nguyễn cả trước mặt, sau lưng, ngoài biển và gần bờ. Quân Nguyễn hoàn toàn bất lực, không đánh trả được. Các chiến thuyền Tây Sơn sau đó áp sát vào dùng hỏa hổ phun xuống và ném tạc đạn xối xả. Toàn bộ 100 chiến thuyền và một vạn quân Nguyễn trở thành gio than chìm dần, lửa khói vẫn ngùn ngụt ngút trời ở cửa biển Cần Giờ mù mịt. Mạc Thiên Tứ nhanh chân lên một thuyền con chạy về bản doanh ở Hà Tiên.

Cửa vào thành Gia Định đã mở, Nguyễn Huệ cho quân ăn bữa chiều bằng bánh chưng, bánh đa, giò bò, giò lợn, sau đó rẽ hướng Tây, theo đường sông Cần Giờ vào thành Gia Định.

Sông Cần Giờ quanh co, có nhiều nhánh phụ. Mặt sông có thể dàn được ba chiến thuyền. Nguyễn Huệ cho 50 thuyền đi tiên phong dò đường. Mãi tới canh ba khi còn cách thành Gia Định nửa dặm, Nguyễn Huệ cho các chiến thuyền con tấn công. Đại bác đặt trên mặt thành Gia Định nã vào các chiến thuyền Tây Sơn, có tới 10 thuyền con trúng đạn bốc cháy. Các thuyền cháy rẽ vào các lạch ven sông mở đường cho các thuyền sau tiến lên. Trong khoảng lặng khi trên thành quân Nguyễn còn nạp đạn vào đại bác, Nguyễn Huệ ra lệnh cho đại bác ở các thuyền chiến lớn bắn dồn dập không ngừng. Thành Gia Định đắp bàng đất sét nên bị công phá, vỡ toang từng mảng lớn, các khẩu thần công trên thành gục đổ theo, quân trên thành tan xác bay lên trời. Khi gần bờ, quân Tây Sơn nhảy lên đốt cháy cổng thành rồi ào ạt xông vào phun hỏa hổ, ném tạc đạn. Thành Gia Định bốc cháy tan hoang. 2 canh giờ sau, 2 vạn quân Nguyễn bị giết. Nguyễn Phúc Dương và Nguyễn Phúc Thuần được Lý Tài hộ giá chạy đi đâu không rõ.

Sáng hôm sau, trong tổng hành dinh, Nguyễn Huệ ăn sáng xong đang ngồi uống trà thì có thám mã về báo:

-Bẩm chủ tướng, Lý Tài đã đem hai chúa Nguyễn chạy về Hóc Môn.

-Gọi tướng Võ Văn Dũng, Phan Văn Lân vào đây.

-Dạ.

Võ Văn Dũng, Phan Văn Lân vào:

-Chủ tướng cho gọi

-Tướng quân Võ Văn Dũng đem 1 vạn quân đi đường thủy, đến Hóc Môn cho đổ bộ bắt Lý Tài và 2 chúa Nguyễn.

-Mạt tướng tuân lệnh.

-Tướng quân Phan Văn Lân đã từng cai trị và chiến đấu ở đây nên thuộc địa hình đường sá, tướng quân đem 1 vạn quân đi đường bộ truy kích đến Hóc Môn bắt Lý Tài và hai chúa Nguyễn về đây.

-Mạt tướng tuân lệnh.

Ngày hôm sau Nguyễn Huệ được thám mã về báo:

-Dạ bẩm chủ tướng, Lý Tài từ Hóc môn chạy về Ba Giòng và đã bị Đỗ Thành Nhơn mai phục giết chết rồi ạ.

-Còn Nguyễn Phúc Dương và Nguyễn Phúc Thuần, Nguyễn Phúc Ánh chạy đi đâu?

-Dạ, Nguyễn Phúc Thuần, Nguyễn Phúc Ánh theo Đỗ Thành Nhơn về Tranh Giang rồi ạ.

-Còn Nguyễn Phúc Dương ?

-Dạ mạt tướng chưa dò la được ạ.

Lại có thám mã về báo:

-Dạ bẩm chủ tướng, Nguyễn Phúc Dương theo Trương Phúc Thân về Tam Phụ rồi ạ.

-Lệnh cho tướng quân Phan Văn Lân truy kích đến Tam Phụ.

-Dạ.

10 ngày sau, thám mã về báo:

-Dạ, bẩm chủ tướng, Nguyễn Phúc Dương và Nguyễn Phúc Thuần chạy về Long Xuyên bị Chưởng cơ Thành quân ta bắt rồi ạ.

-Giải về đây.

-Dạ, tuân lệnh chủ tướng.

Ngày 29 tháng 10 năm 1777, Thái Thượng Vương Nguyễn Phúc Thuần và chúa Nguyễn Phúc Dương cùng 18 tướng lĩnh bị xử tử tại thành Gia Định. Chỉ có Nguyễn Phúc Ánh khi đó mới 15 tuổi chạy thoát. Nguyễn Phúc Thuần ở ngôi chúa được12 năm, thọ 23 tuổi, Nguyễn Phúc Dương ở ngôi chúa được 1 năm.

Sau 7 tháng chiến tranh, Nguyễn Huệ đã lật đổ ách thống trị của chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Tại Nam Trung Bộ, Nguyễn Nhạc cũng đánh bại đạo quân Nguyễn do Chu Văn Tiếp chỉ huy. Tây Sơn cho đến năm 1777 đã làm chủ từ đèo Hải vân cho đến toàn bộ miền Nam Đại Việt gọi là Gia Định.

VII

Sáng mùa hè năm 1788, nắng như lụa mỏng rải xuống miền Trung, nắng rải xuống thành Quy Nhơn đầy núi non, sông ngòi, cảnh sắc thiên nhiên như bức tranh tuyệt mỹ của trần gian. Phía Tây thành có dãy Kim Sơn cao xanh chất ngất, có núi Long Côn và gò Thập Tháp như hổ cuộn rồng chầu. Bốn nhánh của dòng sông Côn quanh co như rồng cuộn gặp nhau ở Lý Nhân tạo nên sự quy tụ thiêng liêng. Xa xa bốn hướng của thành có núi non cao thấp trùng trùng điệp điệp. Phía Bắc là núi Sa Lung, xa nữa là núi Phù Cũ, Hai Lương (đèo Nhông), núi Ô Nhi. Phía Nam thành, xa nữa có núi Phước Du, An Tường, phía Tây là dãy Hương Sơn nhô lên chạm mây gió quanh năm. Đầm Hải Hạc chu vi gần 1 vạn trượng tạo nên biển nước mênh mông. Núi Tháp Thầy soi xuống đầm làm nước thêm lung linh. Xa nữa là đầm Thị Nại mênh mông quanh năm vỗ sóng vào chân núi Triều Châu hoang dã, hoành tráng.

Thành Quy Nhơn còn gọi là thành Đồ Bàn do vua Chiêm Thành InđravarmanIV xây dựng vào thế kỷ X. Trong hai năm 1777-1778, Nguyễn Nhạc cho sửa chữa lại thành, rộng hơn chu vi thành cũ 10 dặm, cao 2 trượng, tường dầy nửa trượng. Phía Ngoài thành còn có một vòng thành thứ hai bao quanh gọi là Càn Thành. Trong thành có điện bát giác cho hoàng đế thiết triều. Phía sau điện bát giác có chính tâm điện của cung phi và hoàng hậu, phía trước có lầu bát giác cho vua ở. Tả hữu là từ đường thờ tứ thân phụ mẫu của vua và còn nhiều cung điện khác như cung Quyền Bồng, Nam Môn Lầu. Trong thành Đồ Bàn bày la liệt những tác phẩm điêu khắc của Chiêm Thành như voi đá, ngựa đá, nghé đá, vũ công, vũ nữ bằng đá. Qua bao binh lửa, trong thành Đồ Bàn vẫn còn lại ngọn tháp Chăm màu nâu sừng sững nhô lên trời cao bất tử.

Hôm nay, trong điện Bát Giác tụ hội đầy đủ các anh hùng hào kiệt, các tướng lĩnh đang dự buổi lễ đăng quang lên ngôi hoàng đế của Nguyễn Nhạc, khai sáng ra nhà Tây Sơn. Trên ngai vàng, Nguyễn Nhạc mặc áo long bào màu vàng có hai con rồng màu đỏ uốn quanh và quy tụ đầu vào hình mặt trời trước ngực, đầu đội vương miện vàng có nhiều dây dài xuống gần vai là những hạt minh châu óng ánh, buông xuống phất phơ lung linh. Chân hoàng đế đi hài vàng. Một hồi trống cái nổi lên báo hiệu lễ đăng quang bắt đầu. Nguyễn Nhạc nói:

-Hỡi các anh hùng hào kiệt, chúng ta là những nông dân áo vải ở ấp Tây Sơn chỉ muốn thời thế thanh bình để an cư lạc nghiệp, nhưng nhà Nguyễn suy tàn đẩy bách tính vào con đường khổ cực, nghèo đói qua các đời. Trong khi đó, bọn quý tộc cầm quyền sống cực kỳ xa hoa lãng phí. Để có tiền xa hoa lãng phí chúng ra sức tận thu vơ vét bóc lột nông dân và bách tính, cái gì cũng có thể mua bán, mua bán kỷ cương pháp luật, mua bán quan tước làm bại hoại thuần phong mỹ tục, bại hoại đạo đức xã hội và con người. Vì “Quan bức dân phản”,  chúng ta phải đứng lên cứu lấy mình, cứu bách tính khỏi cơn nước sôi lửa bỏng đã 200 năm trời. Nhờ sự phù hộ của trời đất, tổ tiên, nhờ sự hy sinh của bách tính và của các anh hùng hào kiệt, chúng ta đã lật đổ sự thống trị của chúa Nguyễn, giải phóng giang sơn, giải phóng bách tính từ Quảng Nam đến mũi Cà Mau. Đất nước một ngày không thể không có vua. Nay ta tuân theo mệnh trời và lòng dân, đáp ứng lòng mong mỏi của các anh hùng hào kiệt, của thần thánh tổ tiên, ta chính thức lên ngôi hoàng đế, lấy đế hiệu Minh Đức hoàng đế, niên hiệu Thái Đức, lấy kinh đô là thành Đồ Bàn, nay đổi là thành Hoàng Đế, quốc hiệu Đại Việt. Nay bố cáo cho trời đất thánh thần, bách tính trong thiên hạ biết, ngõ hầu hướng về để tự hào đất nước từ nay có minh chủ.

chngunhac-1648736481.jpg
Tranh minh họa: Thái Đức Hoàng Đế Tây Sơn Vương Nguyễn Nhạc. (1743 – 1793). Nguồn: Internet

 

Nguyễn Nhạc nói xong, bá quan văn võ trong điện Bát Giác quỳ xuống chắp tay hành lễ:

-Chúc mừng hoàng thượng, hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.

-Miễn lễ, các ái khanh bình thân

-Đa tạ hoàng thượng.

Nguyễn Nhạc nói tiếp:

-Nay phong Trần Thị làm chính cung hoàng hậu.

Bá quan văn võ hành lễ:

-Chúc mừng Trần hoàng hậu. Hoàng hậu thiên tuế, Thiên thiên tuế.

-Miễn lễ, các ái khanh bình thân.

-Đa tạ hoàng thượng.

-Nguyễn Huệ tiếp chỉ.

-Dạ có thần.

-Nay phong Nguyễn Huệ làm Long Nhương Tướng Quân, tước Bắc Bình Vương, lo công việc bình định các vùng Bắc Quảng Nam, Thuận Hóa.

-Đa tạ hoàng thượng, thần tuân chỉ.

-Nguyễn Lữ tiếp chỉ.

-Dạ có thần.

-Nay phong Nguyễn Lữ là Tán Tương Quân Vụ, tước Đông Định Vương, lo công việc ở miền Gia Định.

-Đa tạ hoàng thượng, thần tuân chỉ.

- Phan Văn Lân tiếp chỉ.

-Dạ có thần.

-Nay phong Phan Văn Lân làm nội hầu.

-Đa tạ hoàng thượng, thần tuân chỉ.

-Trần Quang Diệu tiếp chỉ.

-Dạ, có thần.

-Nay phong Trần Quang Diệu làm Thiếu phó.

-Đa tạ hoàng thượng, thần tuân chỉ.

-Võ Văn Dũng tiếp chỉ.

-Dạ có thần.

-Nay phong Võ Văn Dũng làm Đại tư khấu.

-Đa tạ hoàng thượng, thần tuân chỉ.

-Võ Đình Tú tiếp chỉ.

-Dạ có thần.

-Nay phong Võ Đình Tú là Thái úy.

-Đa tạ hoàng thượng, thần tuân chỉ.

-Ngô Văn Sở tiếp chỉ.

-Dạ có thần.

-Nay phong Ngô Văn Sở làm Đại Tư mã.

-Đa tạ hoàng thượng, thần tuân chỉ.

-Bùi Thị Xuân tiếp chỉ.

-Dạ có thần.

-Nay phong Bùi Thị Xuân làm Đô Đốc, kiêm nữ tướng Tây Sơn, quản đốc mọi việc trong hoàng thành và vùng đất thang mộc Tây Sơn.

-Đa tạ hoàng thượng, thần tuân chỉ.

-Võ Xuân Hoài tiếp chỉ.

-Dạ, có thần.

-Nay phong Võ Xuân Hoài làm Trung Thư Lệnh.

-Đa tạ hoàng thượng, thần tuân chỉ.

Tiếp theo tất cả các tướng lĩnh đều được phong Đô Đốc, Đại Đô đốc.

Nguyễn Nhạc nói thêm:

-Nay để mừng ta đăng quang hoàng đế, sáng lập nhà Tây Sơn cho phép thiên hạ mở tiệc ăn mừng trong 10 ngày.

-Hoàng thượng anh minh, hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.

Sau đó Nguyễn Nhạc mời thầy học xưa là Trương Văn Hiến về làm quân sư. Quân sư nói:

-Nhà vua nên tiến hành cải cách hành chính cho bộ máy quan lại có hiệu quả, thanh liêm để bách tính được nhờ cậy.

-Dạ, thầy nói phải lắm.

VIII

Một ngày tháng 3 năm 1782, hoàng hôn đang xuống dần trên đầm Thị Nại, đầm nước mặn rộng dài 20 dặm chìm dần trong cảnh thần tiên. Hai dòng sông Côn và sông Hà Thanh vẫn mải mê đưa nước vào đầm làm đầm càng mênh mông như biển cả. Sóng xô lăn tăn vào tận chân tháp Thầy Bói và miếu thờ thủy thần nhô lên trên mặt nước. Xa xa rừng Côn chìm dần trong ánh sáng vàng vọt của hoàng hôn. Những đàn chim nhỏ tung cánh trên trời cao rồi mất hút trong khu rừng để ngủ đêm sau một ngày lang thang lữ thứ. Cửa Rùa phía Tây, núi Phong Mai phía Đông vẫn lầm lũi mở cửa cho đầm Thị Nại thông với biển. Bóng hoàng hôn cũng đã hắt ánh chiều lên 400 chiến thuyền quân Tây Sơn dưới hàng trăm lá cờ đỏ phấp phới. Những thủy binh đi lại trên các chiến thuyền tấp nập. Những khẩu đại bác dương nòng lên trời oai vệ. Các vị chỉ huy đã đứng trên lâu thuyền chuẩn bị cho chiến thuyền xuất phát. Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ đứng trên chiến thuyền ở giữa. Nguyễn Hụê bảo viên tùy tướng:

-Bắn pháo hiệu và nổi trống báo đến giờ xuất phát.

-Dạ, tuân lệnh.

Phát pháo hiệu đỏ bay vút lên trời sáng rực, trống lớn khua vang liên hồi. Quân Tây Sơn chỉ dùng một âm thanh là trống, trống báo hiệu, trống trong khi xung trận, trống trong khi đấu võ, trống trong các trò vui chơi dân dã. Trống đã làm nức lòng, cổ vũ  các chiến binh và làm hoảng loạn, kinh hoàng kẻ địch. Trống dứt hồi thì đoàn chiến thuyền chuyển động. Đủ loại chiến thuyền: Thuyền con đặt một đại bác, thuyền vừa đặt ba đại bác, thuyền lớn 40 đại bác. Các chiến thuyền nối đuôi nhau ra cửa đầm Thị Nại và ra biển lớn, tiến về phương Nam đánh Nguyễn Phúc Ánh đã quay về chiếm cả Gia Định và đánh lan ra cả Bình Thuận.

Trong trận chiến Gia Định năm 1777 do Nguyễn Huệ chỉ huy đã lật nhào ngai vị của chúa nguyễn, kết thúc 200 thống trị Đàng Trong của dòng họ này. Thái Thượng Vương Nguyễn Phúc Thuần, chúa Nguyễn Phúc Dương bị bắt và bị giết cùng 18 tướng lĩnh nhà Nguyễn. Chỉ riêng Nguyễn Phúc Ánh khi đó mới 15 tuổi chạy thoát. Nguyễn Phúc Ánh là cháu nội Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát, con của thế tử Nguyễn Phúc Luân, gọi Nguyễn Phúc Thuần và Nguyễn Phúc Dương là chú. Thế tử Nguyễn Phúc Luân đã bị quyền thần Trương Phúc Loan giết chết để đưa Nguyễn Phúc Thuần còn bé lên ngôi chúa để Loan dễ bề thâu tóm quyền lực. Khi quân Trịnh chiếm Phú Xuân, Nguyễn Phúc Ánh cũng chạy theo Nguyễn Phúc Thuần vào Gia Định. Trong trận chiến 1777, Nguyễn Phúc Ánh chạy ra đảo Thổ Chu. Cuối tháng 10 năm 1777, Nguyễn Phúc Ánh được tướng Đông Sơn Đỗ Thành Nhơn đưa về Gia Định, tập hợp lực lượng và năm 1781, Nguyễn Phúc Ánh xưng là Đại Nguyên soái, Nhiếp Chính Vương. Nhưng không lâu sau Nguyễn Phúc Ánh nghe lời dèm pha của Quận Công tả Chưởng cơ Tống Phước Thiêm và Huỳnh Thiên Lộc lại giết chết Phương Quận Công Đỗ Thành Nhơn vì Đỗ Thành Nhơn lộng quyền, không coi Nguyễn Phúc Ánh ra gì. Theo thám mã về báo thì lực lượng của Nguyễn Phúc Ánh lúc này có 3 vạn quân, 400 chiến thuyền, trong đó có 80 thuyền loại vừa, 13 thuyền chiến lớn, còn có 5 tàu hiện đại kiểu châu Âu đặt đại bác cỡ lớn, có tính năng sát thương và phá hủy cao, trong đó có 3 tàu Bồ Đào Nha do sĩ quan và thủy thủ Bồ Đào Nha điều khiển. 5 tàu châu Âu đặt dưới sự chỉ huy chung của một sĩ quan pháp là Manuel Cacluy. Cũng theo tin thám mã, sau khi có lực lượng hùng hậu, vào năm 1782, Nguyễn Phúc Ánh đã chiếm dinh Long Hồ, Gia Định và Bình Thuận. Và bây giờ, Nguyễn Phúc Ánh đang dàn quân ở Cần Giờ, dựa vào thành Gia Định để mong đánh bại quân Tây Sơn.

Tiếng viên tùy tướng hướng đạo cắt đứt dòng suy nghĩ của Nguyễn Huệ:

-Dạ bẩm Bắc Bình Vương, chúng ta đã tiến vào vùng biển Cần Giờ.

Nguyễn Hụê lên lâu thuyền quan sát. Trời đã sang chiều. Phía cửa biển Cần Giờ không có thủy binh quân Nguyễn dàn ra như năm 1777. Nguyễn Huệ ra lệnh:

-Cho rẽ phải tiến vào sông Cần Giờ, sẵn sàng chiến đấu.

chquang-trung-1-1648821685.jpg
Tranh minh họa: Quang Trung Nguyễn Huệ. Nguồn: Internet.

 

Từ xa, Nguyễn Huệ đã trông thấy 400 chiến thuyền quân Nguyễn do Quận Công Tả chưởng cơ Tống Phước Thiêm chỉ huy và 5 tàu chiến lớn của Bồ Đào Nha dàn trận ở Thất Kỳ Giang, khúc hạ lưu của sông Lòng Tàu, nhận nước của bảy con sông khác như sông Đồng Tranh, sông Dưa…tạo nên nơi giao nhau của 7 con sông-Thất Kỳ Giang. Chiều hôm đó, nước từ ngoài biển dâng vào sông Cần Giờ, vào Thất Kỳ Giang rất cao, gió thổi rất mạnh về hướng chiến thuyền quân Nguyễn. Nguyễn Hụê biết đây là thiên thời địa lợi đánh hỏa công rất tốt, liền ra lệnh:

-Cho 50 thuyền nhỏ chứa chất cháy xuống  và đốt cháy, đánh hỏa công.

-Tuân lệnh Bắc Bình Vương.

Quân Tây Sơn hạ 50 thuyền con chứa chất cháy xuống, châm lửa và đẩy về phía chiến thuyền quân Nguyễn. 50 thuyền lửa cháy rừng rực theo gió và nước trôi nhanh về chiến thuyền của Tống Phước Thiêm. Tống Phước Thiêm hoảng hốt ra lệnh nã đại bác vào thuyền lửa, vài chiến thuyền lửa trúng đạn vỡ ra, dầu lửa loang ra nhanh chóng và trôi dạt như bay vào, bắt đầu đốt cháy chiến thuyền quân Nguyễn. Từ vài chiếc lửa bắt đầu cháy lan ra 400 chiến thuyền, cháy vào cả 5 chiến hạm châu Âu, Thất Kỳ Giang biến thành biển lửa. Các chiến thuyền Tây Sơn đi sau các thuyền lửa, tiến vừa tầm thì nã đại bác vào làm cho các chiến thuyền Quân Nguyễn cháy dữ dội hơn và tan nát. Khu vực Thất Kỳ Giang và vùng Cần Giờ khói lửa lưng trời, tiếng nổ của đại bác Tây Sơn, tiếng nổ của đạn dược trên tàu quân Nguyễn bị cháy làm rung chuyển mặt đất, khói bốc cao vài trượng đen kịt trời. Dòng sông Cần Giờ, Thất Kỳ Giang đầy máu xác chết, tro than và lửa thảm thương. Hòa với tiếng đại bác của quân Tây Sơn gầm rú, nước của dòng Thất Kỳ Giang cũng sôi lên sùng sục như chiếc chảo không lồ luộc chín 2 vạn thủy binh Nguyễn. Tàu khổng lồ 10 đại bác của tướng Pháp Manuel cũng bốc cháy và chìm dần. Nguyễn Phúc Ánh có một đội thuyền nhỏ ở ngoài trận hỏa công, đứng nhìn bất lực vốn liếng xây dựng 4 năm trời mà không thể cứu ứng được, cuối cùng bị thiêu rụi. Nguyễn Phúc Ánh chạy về Bến Nghé, bị thủy binh Tây Sơn truy kích, Nguyễn Phúc Ánh dẫn tàn quân chạy về Ba Giòng ( Định Tường), chạy về Lạt Giang và bạt về miền Hậu Giang, ra Phú Quốc. Trong khi đó đạo quân bộ của Nguyễn Phúc Ánh do Chu Văn Tiếp, Tôn Thất Dụ chỉ huy ở Bình Thuận bị Trần Quang Diệu đánh bại. Tiếp và Dụ phải chạy về Trấn Biên. Quân Tây Sơn do Nguyễn Văn Kim chỉ huy đã đánh bại đạo quân Nguyễn do Nguyễn Hữu Thận chỉ huy, Thận phải chạy về Giang Lắng.

IX

Một ngày tháng 2 năm Quý Mão (1783), Nguyễn Phúc Ánh ngồi trong Tổng hành dinh ở thành Gia Định với các tướng. Nguyễn Phúc Ánh nói:

-Sau trận thất bại năm 1782, nhờ sự giúp đỡ của các tướng, ta nay  đuổi được Nguyễn Lữ, lại thu hồi được Gia Định, nhưng thế nào Nguyễn Huệ cũng sẽ tấn công. Các tướng có kế sách gì đối phó không?

Tướng Hồ Văn Lân nói:

-Bẩm chúa công, mạt tướng nghĩ nên củng cố lại đồn Thị Nghè và đồn Bến Nghé trên sông Cần Giờ để bảo vệ từ xa cho thành Gia Định.

Nguyễn Phúc Ánh nói:

-Tướng Tôn Thất Mẫn.

-Dạ có mạt tướng.

-Tướng quân ra chốt giữ đồn Thị Nghè, khi quân Tây Sơn đến thì đánh vào sườn bên hữu của chúng.

-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.

-Tướng quân Hồ Văn Lân.

-Dạ, có mạt tướng.

-Tướng quân đem binh thuyền ra trấn giữ đồn Bến Nghé, khi chiến thuyền Tây Sơn đến thì đánh vào bên tả, tức là sườn phía Nam  chúng.

-Mạt tướng tuân lệnh.

-Tướng quân Chu Văn Tiếp:

-Dạ, có mạt tướng.

-Tướng quân toàn quyền chỉ huy 100 chiến thuyền bảo vệ thành Gia Định, chi viện cho hai đồn Thị Nghè, Bến Nghé, đồn Thảo Câu và Giác Ngư, bất ngờ dụ địch vào trận địa, đánh trận hỏa công này cho tốt, đốt hết chiến thuyền Tây Sơn.

-Mạt tướng tuân lệnh.

-Tướng quân Dương Công Trừng.

-Dạ, có mạt tướng.

-Tướng quân đem quân giữ đồn Giác Ngư, phối hợp với đồn Bến Nghé, đánh vào sườn bên tả quân Tây sơn.

-Mạt tướng tuân lệnh.

-Giám quan Tô.

-Dạ, có mạt tướng.

-Tướng quân chịu trách nhiệm phát hỏa, Khi chiến thuyền quân Tây Sơn lọt vào trận địa mai phục, tướng quân cho đốt tất cả các bè nứa hai bên bờ sông có chất cháy và thuốc nổ để thiêu đốt chiến thuyền Tây Sơn. Nhớ là phải khai hỏa đúng thời cơ. Rõ chưa?

-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.

-Tướng quân Nguyễn Huỳnh Đức.

-Dạ có mạt tướng.

-Tướng quân đem 20 chiến thuyền nhỏ ra cửa sông Cần Giờ dụ chiến thuyền Tây Sơn vào trận địa hỏa công.

-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.

Nguyễn Phúc Ánh nói:

-Các tướng quân hãy thực hiện cho tốt chức trách được giao phó để có một trận “Xích Bích” trên sông Cần Giờ thiêu sống Nguyễn Huệ. Ha!ha!ha!...

Các tướng đều đồng thanh đáp”

-Chúng mạt tướng tuân lệnh, chúc chúa công thành công.

Nguyễn Phúc Ánh nói:

-Nâng ly, chúc mừng chiến thắng.

-Đa tạ chúa công, chúc mừng chiến thắng.

Trong khi đó, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ thống lĩnh 300 chiến thuyền và 3 vạn quân đã tiến vào vùng biển Cần Giờ. Nguyễn Hụệ và Nguyễn Lữ đứng trên đài cao quan sát. Nước triều dâng cao, gió thổi rất mạnh. Ven bờ không xa, ấp thôn xanh ngát trải dài uốn lượn dưới nắng, mây bay lơ lững trên trời xanh tạo nên những hình thù quái dị lang thang.

chuyng3-1648907986.png
Nguồn: Internet.

 

Chợt Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ nhìn thấy 20 chiến thuyền quân Nguyễn dàn hàng ngang chặn đầu và nổ súng vào chiến thuyền Tây Sơn. Khi vừa tầm bắn Nguyễn Huệ ra lệnh nổ súng, những quả đạn như lửa bay về chiến thuyền quân Nguyễn. Thuyền quân Nguyễn chạy rẽ vào sông Cần Giờ. Nguyễn Huệ nói:

-Chúng vừa đánh đã chạy, chắc có mai phục. Có thể Ánh đã bố trí trận địa hỏa công và dụ ta vào.

Nguyễn Lữ hỏi:

-Vậy phải tiến như thế nào?

Nguyễn Hụê đáp:

-Gió rất mạnh, sóng rất to nhưng toàn thổi về phía thành Gia Định. Sóng gió này mà đánh hỏa công thì chúng tự thiêu đốt chúng.

Nguyễn Huệ ra lệnh:

-Tăng tốc đuổi theo.

300 chiến thuyền Tây Sơn tăng tốc rẽ vào sông Cần Giờ. Nguyễn Hụê trông thấy những bè nứa hai bên bờ sông cách thuyền Tây Sơn nửa dặm, Nguyễn Huệ ra lệnh:

-Bắn vào các bè nứa.

Pháo quân Tây Sơn nã vào các bè nứa. Các bè nứa phát hỏa, cháy dây buộc trôi ra sông và theo gió trôi về phía 100 chiến thuyền quân Nguyễn đang dàn trận bên trong. Trong khi đó pháo từ các đồn Bến Nghé, Thị Nghè, Thảo Câu, Giác Ngư từ phía Nam và Bắc bắn vào hai bên sườn chiến thuyền Tây Sơn. Nguyễn Hụê gọi:

-Tướng Nguyễn Văn Kim.

-Có mạt tướng.

-Tướng quân đem 10 chiến thuyền đánh đồn Thị Nghè bên phải phía Bắc.

-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.

-Tướng quân Lương Văn Kế.

-Dạ, có mạt tướng.

-Tướng quân chỉ huy 10 chiến thuyền đánh đồn Bến Nghé phía Nam.

-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.

Pháo trên các chiến thuyền Tây Sơn nã vào các đồn Thị Nghè phía Bắc và đồn Bến Nghé phía Nam, tiền đồn của thành Gia Định. Trong khi đó các bè nứa chứa chất cháy bắt đầu bén lửa vào 100 chiến thuyền của Chu Văn Tiếp bảo vệ thành Gia Định. Lúc đầu một vài chiếc, sau đó cả 100 chiếc bị dìm trong biển lửa khổng lồ. Trên các chiến thuyền có thuốc súng và đạn đại bác lửa bén càng nổ tung và cháy dữ dội. Xác lính cùng các mảnh thuyền tung lên trời rồi rơi xuống và chìm nghỉm xuống nước. 2 vạn thủy binh cùng chung số phận với các chiến thuyền. Nguyễn Huệ ra lệnh cho các chiến thuyền Tây Sơn đi sau những bè lửa nã đạn pháo vào những chiến thuyền đang cháy làm đám cháy nổ càng thêm hung hãn dữ dội.Toàn bộ vùng sông nước trời đất vùng Cần Giờ lửa khói cao vài trượng, tiếng nổ ầm ầm trời long đất lở, tiếng pháo gầm như sấm sét. Dưới hỏa pháo Tây Sơn, đồn Thị Nghè tan hoang. Tôn Thất Mân tử trận, đồn Bến Nghé cũng bị thiêu rụi, Nguyễn Công Trừng bị bắt. 100 chiến thuyền của Chu Văn Tiếp không còn một chiếc nào chạy thoát.

Nguyễn Phúc Ánh dẫn tàn quân chạy về Bến Lức rồi chạy về Ba Giòng. Bị quân Tây Sơn truy kích, Nguyễn Phúc Ánh chạy ra Phú Quốc, Côn Lôn rồi sang Xiêm La cầu viện. Rồi một năm sau, năm 1784, cũng tại Côn Đảo, Nguyễn Phúc Ánh bàng hoàng nhớ lại trận thủy chiến Rạch Gầm-Xoài Muốt trên sông Mỹ Tho (Tiền Giang) do Nguyễn Huệ chỉ huy. Chỉ một ngày Nguyễn Huệ đã dụ được 300 thuyền chiến, 3 vạn thủy binh Xiêm La do Nguyễn Phúc Ánh cầu viện về cùng 4000 quân Nguyễn lọt vào trận địa và bị tiêu diệt hết. Hai tướng Xiêm La, Chiêu Tăng, Chiêu Sương và Nguyễn Phúc Ánh may mắn thoát chết, chạy qua Chân Lạp, thoát sang Xiêm La. Nguyễn Phúc Ánh cơ cực, nằm gai nếm mật ở Xiêm La rồi lại về Côn Lôn tiếp xúc cầu viện người Pháp can thiệp vào cuộc nội chiến ở Đại Việt.

X

Trong cung Bát Giác ở Thành Hoàng Đế (Trà Bàn), Thái Đức hoàng đế Nguyễn Nhạc hôm may đang tiếp khách quý. Khách là một người khoảng 40 tuổi nhưng vẫn còn vẻ khôi ngô tuấn tú của thuở thanh niên. Sau một lượt trà, Nguyễn Nhạc gọi:

-Người đâu.

-Dạ, bẩm hoàng thượng.

-Đi mời Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ, Đông Định Vương Nguyễn Lữ, Tả tướng Vũ Văn Nhậm tới uống rượu với khách quý cho vui.

-Dạ, thần tuân chỉ.

Một lát sau, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ đều tới. Hai người thi lễ:

-Xin kính chào hoàng thượng.

-Xin kính chào đại nhân.

Nguyễn Nhạc nói:

-Người nhà miễn lễ. Hai đệ ngồi đi.

-Đa tạ hoàng huynh.

Nguyễn Nhạc chỉ vào người khách, hỏi Nguyễn Hụê và Nguyễn Lữ:

-Hai đệ có còn nhớ vị này không?

Nguyễn Huệ đáp:

-Đệ đã gặp đại nhân một lần rồi.

Nguyễn Nhạc nói:

-Đúng rồi. Đây là Bằng Quận Công Nguyễn Hữu Chỉnh, người ngày xưa là gia tướng của tướng nhà Trịnh Hoàng Ngũ Phúc khi Việp Quận Công đem quân vào Phú Xuân. Năm 1775, đại nhân đã đem sắc thư, ấn tín vào cho ta khi vua Lê Hiển Tông và Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm phong cho ta là “Tây Sơn Trại trưởng, Tráng Tiết tướng quân”.

Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ cười:

-Đúng rồi. Hai đệ đã có cơ may gặp được đại nhân rồi. Nay lại được gặp lại, vinh hạnh, vinh hạnh.

Nguyễn Hữu Chỉnh đáp:

-Không dám, không dám, tài cầm quân của hai tướng quân đánh quân Nguyễn quả là thiên tài, chấn động thiên hạ. Tập kích căn cứ bộ binh Xuân Đài và thủy binh Lãnh Úc để lấy thành trì Phú Yên, khiến lão tướng Tống Phước Hiệp ngựa không kịp đóng yên chạy dài về Gia Định, hỏa công thủy chiến Cần Giờ 1777 một lúc bắt cả hai chúa Nguyễn khiến cơ đồ nhà Nguyễn 200 năm sụp đổ, lại hỏa công thủy chiến Thất Kỳ Giang 1782 và thủy hỏa chiến Cần Giờ năm 1783 quả là hai trận “Xích Bích” của Đại Việt, đã làm cho những tàu chiến hiện đại nhất thời đại ngày nay của Bồ Đào Nha và Pháp cũng phải tan thành xác pháo, mới năm vừa rồi, 1785 chỉ một ngày mà hai vị đã nhấn chìm 300 thuyền chiến hiện đại, 3 vạn thủy binh Xiêm La cùng 4000 quân Nguyễn Phúc Ánh ở Rạch Gầm-Xoài Muốt trên sông Mỹ Tho (Tiền Giang) đã làm chấn động không chỉ Đại Việt mà cả vương quốc Xiêm La. Kỳ tài, kỳ tài, tại hạ bái phúc, bái phục. Xin cạn với hoàng thượng và hai tướng quân một ly.

Nguyễn Huệ nói:

-Đa tạ, đa tạ, Bằng Quận Công quá lời. Xin cạn ly.

Nguyễn Nhạc nói:

-Hai đệ chưa biết, bây giờ Bằng quân công là người của Tây Sơn chúng ta rồi đó.

Nguyễn Huệ nói:

-Thật vậy sao? Vậy còn gì bằng, hân hạnh, hân hạnh.

Nguyễn Lữ nâng ly lên và nói:

-Xin cạn ly chúc mừng cuộc hội ngộ.

Ba người lại cạn ly.

Nguyễn Hữu Chỉnh đặt ly và có vẻ ngậm ngùi nói:

-Hoàng thượng thì rõ rồi nhưng hai tướng quân chưa rõ vì sao tại hạ  bỏ nhà Trịnh, về với Tây Sơn. Số là khi Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm còn sống, do say mê tuyên phi Đặng Thị Huệ, đã phế truất ngôi thế tử của người con riêng là Trịnh Tông, còn gọi là Trịnh Khải, lập con còn rất bé của ngài với Đặng Thị Huệ là Trịnh Cán làm thế tử. Sau khi Trịnh Sâm chết, kiêu binh đa số là lính Thanh-Nghệ đã nổi dậy phế truất Trịnh Cán, đưa Trịnh Khải lên ngôi chúa. Kiêu binh còn giết chết Trịnh Cán, giết chết cả tuyên phi Đặng Thị Huệ, giết chết cả người phò tá Trịnh Cán là Hoàng Đình Bảo. Tại hạ  là người của Hoàng Đình Bảo nên phải đem cả thê tử vào đây nương nhờ, may được hoàng thượng và các anh hùng hào kiệt Tây Sơn cho chỗ dung thân.

chunguyen-huu-chinh21-1648996068.jpg
Tranh minh hoa: Nguyễn Hữu Chỉnh (1741-1787), tướng thời Tây Sơn; người làng Cổ Đan xã Đông Hải, huyện Chân Phúc (nay là xã Phúc Thọ, huyện Nghi Lộc tỉnh Nghệ An). Tuy có công lớn trong việc bày mưu cho Nguyễn Huệ lấy được Phú Xuân và tiến ra Thăng Long diệt nhà Trịnh, cũng như sắp đặt để Nguyễn Huệ lấy được công chúa Lê Ngọc Hân…, nhưng Nguyễn Hữu Chỉnh lại không được anh em nhà Tây Sơn tin cẩn. Còn với dân Bắc Hà, Nguyễn Hữu Chỉnh là kẻ cõng rắn cắn gà nhà. Nguồn: Internet.

 

Nguyễn Nhạc nói:

-Được Bằng Quận công về, Tây Sơn như đang hạn được mưa.

Nguyễn Hữu Chỉnh đáp:

-Không dám, không dám.

Cạn một ly nữa, Nguyễn Hữu Chỉnh nói tiếp:

-Bây giờ đất Gia Định đã thu hồi được rồi, tại hạ nghĩ sắp tới hoàng thượng nên cho đánh lấy lại đất Thuận Hóa mà nhà Trịnh đang chiếm, thu hồi toàn bộ đất từ Thuận Hoá-Phú Xuân đến sông Linh Giang vốn là đất của Đàng Trong ta xưa.

Nguyễn Huệ nói:

-Bằng Quận Công nói chính hợp với ý của tại hạ. Tại hạ cũng đã trình điều này với hoàng thượng nhưng hoàng thượng còn phân vân.

Nguyễn Hữu Chỉnh nói tiếp:

-Theo thiển nghĩ của tại hạ thì Tây Sơn nên lấy lại, thứ nhất là mấy năm nay quân Trịnh ở Thuận Hóa và Bắc Bố Chính không tác chiến nên rất lơ là, ý chí và sức chiến đấu giảm suốt, Tạo Quận Công Phạm Ngô Cầu là thống lĩnh nhưng không chăm lo việc quân, chỉ mải mê buôn bán làm giàu với lái buôn Phương Tây, không mua sắm vũ khí, lương thực, không chăm lo quân đồn trú nên lòng quân vô cùng chán nản. Tại hạ nghĩ nếu đánh thì chưa đầy một tháng đã thắng lợi. Thứ hai lấy Thuận Hóa còn là do sự tồn tại lâu dài của nhà Tây Sơn. Được vùng đất đó thêm lãnh thổ, nguồn nhân tài vật lực tăng lên, còn là  yếu tố quốc phòng để bảo vệ Đàng Trong. Hệ thống lũy Thầy vẫn còn nguyên giá trị trong việc bảo vệ Đàng Trong. Nếu như nhà Lê-Trịnh mất, một triều đại khác lên thay mà tấn công Đàng Trong, chúng ta còn có lũy Thầy để chặn đứng chúng lại.

Nguyễn Nhạc nói:

-Đa tạ những lời lẽ nhìn xa trông rộng của Bằng Quận Công. Bằng Quận Công nói đúng lắm, triều đại Đàng Ngoài có thể thay đổi, phải có lũy Thầy để bảo vệ Đàng Trong nhỡ bị tấn công. Xin mời cạn ly.

Ba người cạn ly xong, Nguyễn Nhạc lại nói:

-Vậy chúng ta quyết đánh lấy Thuận Hóa đến Nam sông Linh Giang. Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ nghe chỉ:

-Có thần.

-Nay cử Bắc Bình Vương làm tổng chỉ huy quân thủy bộ tiến đánh Thuận Hóa.

-Thần tuân chỉ

Vũ Văn Nhậm nghe chỉ:

-Có thần.

-Nay phong Vũ Văn Nhậm làm tả quân đô đốc tiến đánh Thuận Hóa.

-Thần tuân chỉ.

-Nguyễn Hữu Chỉnh nghe chỉ:

-Có thần.

-Nay phong Nguyễn Hữu Chỉnh làm hữu quân đô đốc tiến đánh Thuận Hóa.

-Thần tuân chỉ.

-Đông Định Vương Nguyễn Lữ nghe chỉ;

-Có thần.

-Nay phong Đông Định Vương làm thủy sư đô đốc hậu quân tiếp ứng cho đại quân đánh Thuận Hóa.

-Thần tuân chỉ.

Hôm sau, trước khi xuất phát, trong tổng hành dinh, Nguyễn Hụệ nói:

-Chúng ta sẽ chia quân làm ba đạo tiến đánh Thuận Hóa. Đạo thứ nhất là đạo bộ binh do ta chỉ huy đánh chiếm đèo Hải Vân rồi tiến đến Phú Xuân phối họp với đạo thủy binh đánh chiếm thành này. Đạo thứ hai do Vũ Văn Nhậm, Nguyễn Hữu Chỉnh chỉ huy tiến vào sông Hương, phối hợp với bộ binh hạ thành. Đạo thứ ba là đạo thủy binh do Đông Định Vương Nguyễn Lữ chỉ huy đánh chiếm sông Nhật Lệ, Nam sông Linh Giang, chiếm lũy Thầy, các đồn Bố Chính, Leo Heo, Dinh Cát. Đạo quân này còn có nhiệm vụ ngăn chặn viện binh của nhà Trịnh từ ngoài Bắc vào chi viện.

-Chúng mạt tướng tuân lệnh.

Nguyễn Huệ nói thêm:

-Trận này vẫn phải lấy yếu tố bất ngờ để giành thắng lợi. Ai có kế sách gì làm cho tướng Phạm Ngô Cầu bất ngờ hơn nữa?

Nguyễn Hữu Chỉnh nói:

-Tại hạ biết rõ Phạm Ngô Cầu là người rất mê tín. Bắc Bình Vương cứ cho một tùy tướng giả làm thầy bói nói năm nay Phạm Ngô Cầu gặp hạn lớn, muốn thoát hạn phải lập đàn cầu cúng trong 7 ngày. Như vậy Phạm Ngô Cầu sẽ không kịp điều quân chống cự.

Nguyễn Huệ nói:

-Diệu kế, diệu kế.

Ngồi trong dinh ở Phú Xuân, Phạm Ngô Cầu vừa uống xong ly trà thì có tùy tướng vào báo:

-Dạ bẩm, vâng lời Tạo Quận Công, mạt tướng đã tìm thấy một đạo sĩ biết xem tướng số về cho chủ soái.

-Cho vào.

-Dạ.

Đạo sĩ bước vào, mặc áo vàng, tay cầm bùa vàng vẽ biểu tượng âm dương, Một tay rung chuông, miệng đọc gì không rõ. Phạm Ngô Cầu bước ra đón:

-Kính chào đạo nhân.

-Không dám, chào chúa công. Chúa công tìm ta có việc gì cần chăng?

-Dạ, xin đạo nhân đoán định xem năm nay ta gặp may mắn hay vận hạn gì không?

-Được, đó là nghề nghiệp của ta mà, chúa công tìm đúng người rồi.

Hai người ngồi vào ghế tràng kỷ, giữa là chiếc bàn gỗ gụ hoa văn chạm trổ cực kỳ tinh xảo. Sau một lượt trà, đạo sĩ hỏi:

-Xin chúa công cho biết năm sinh?

-Ta sinh năm 1720.

-Đạo sĩ tính rất nhanh và nói:

-Chúa công sinh 1720 là hành thổ, năm nay 1786 là hành thủy, thổ với với thủy tương khắc rất mạnh, có thể dẫn tới mất mạng hoặc là thay thầy đổi chủ.

Phạm Ngô Cầu nghĩ: Không lẽ Tây Sơn ổn định được Gia Định sẽ rảnh tay đánh ra Thuận Hóa. Nghĩ vậy Phạm Ngô Cầu cả sợ hỏi:

-Thầy cho biết cách hóa giải để tại hạ thoát khỏi hạn lớn này.

Đạo sĩ nói:

-Chúa công phải trai giới ăn chay trong 7 ngày, tức là làm cỗ chay bày ở  bảy tầng tháp ở chùa Thiên Mụ và ngồi đọc kinh “Kim Cang thọ mạng” sám hối. Nhớ là cỗ chay, nước và hương khói, vậy thôi. Nhớ là cái tâm phải hướng về tâm linh thì phải tin tưởng.

-Đa tạ đạo sĩ.

Phạm Ngô Cầu gọi:

-Người đâu.

-Dạ.

-Đem 10 nén bạc kính biếu thầy.

-Dạ.

Đạo sĩ đi rồi, Phạm Ngô Cầu sai làm cỗ chay hương khói sắp đặt trên bảy tòa tháp ở chùa Thiên Mụ rồi tự ngồi đọc kinh sám hối. Quân lính phục dịch rất mệt mỏi, việc phòng bị bảo vệ Thuận Hóa hoàn toàn bỏ bê, trễ nải.

Trong một ngày tháng tư năm 1786, khi Phạm Ngô Cầu đang say sưa lễ bái thì có tùy tướng Nguyễn Mậu Tĩnh vào báo:

-Dạ bẩm Tạo Quận Công.

-Có việc gì mà quấy rầy ta khi đang hành lễ?

-Dạ bẩm, Nguyễn Huệ chỉ huy quân Tây Sơn đã đánh chiếm tất cả đèo Hải Vân. Tướng Hoàng Nghĩa Hồ đã tử trận. Bộ binh Tây Sơn đang tiến ra đánh Phú Xuân.

chnguyhue-1649082206.jpg
Bắc Bình vương Nguyễn Huệ. Nguồn: Internet.

 

Lại có Nguyễn Lệnh Tân vào báo:

-Dạ bẩm Tạo Quận Công, thủy quân Tây Sơn do Nguyễn Lữ chỉ huy đã đánh chiếm đồn Bố Chính, chiếm lũy Thầy ở Nhật Lệ. Các tướng ở Bố Chính và lũy Thầy là Phái Vị Hầu và Ninh Tốn đã theo đường núi bỏ chạy về Bắc rồi ạ.

Lại có tùy tướng vào báo:

-Dạ bẩm Tạo Quận Công, bộ binh và thủy binh Tây Sơn đã tiến đánh Phú Xuân rồi ạ.

Phạm Ngô Cầu đập tay xuống chiếu đang ngồi:

-Chết rồi, cả đời chinh chiến nay ta bị quân Tây Sơn lừa rồi. Người đâu.

-Dạ.

-Nổi trống, điều động quân đội chiến đấu bảo vệ Phú Xuân.

-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.

Trống ngũ liên trong thành thúc dồn dập. Sắp sửa lên mặt thành chỉ huy thì thám mã đưa thư của quân Tây Sơn cho Phạm Ngô Cầu. Cầu cầm thư thì ra thư của Nguyễn Hữu Chỉnh gửi phó tướng của Phạm Ngô Cầu là Hoàng Đình Thể. Phạm Ngô Cầu bóc thư đọc. Thư viết: “Theo hẹn ước khi Tây Sơn công thành thì cố nhân hãy mở cổng thành. Về với Tây Sơn, tài như cố nhân không thiếu gì quyền cao chức trọng, vinh hoa phú quý. Kính Thư, cố nhân Nguyễn Hữu Chỉnh”.

Đọc xong thư, Phạm Ngô Cầu kinh hãi, nghi ngờ Hoàng Đình Thể đi riêng đầu hàng quân Tây Sơn. Cho nên khi bàn về phòng thủ Phú Xuân, Phạm Ngô Cầu nói:

-Nay Tây Sơn quá mạnh, đã chiếm lũy Thầy và Bố Chính, cắt mất đường chi viện của Thăng Long cho ta. Cho nên ta đầu hàng thì hơn.

Phạm Ngô Cầu đặt vấn đề như vậy để thử lòng Hoàng Đình Thể, không ngờ Hoàng Đình Thể lại nói:

-Trọn đời hưởng lộc của vua Lê-chúa Trịnh, không thể phản bội được, làm như vậy sẽ hủy hoại thanh danh của một lão tướng trung thần Đại Việt. Xin Tạo Quận công cho lão phu lên mặt thành chiến đấu.

Nói xong, Hoàng Đình Thể ra lệnh cho hai con trai và tùy tướng Vũ Tá Kiên, Vũ Trọng Đang lên mặt thành. Bấy giờ, thủy binh Tây Sơn do Vũ Văn Nhậm chỉ huy đã vào sông Hương nã pháo lên mặt thành. Nhưng thành Phú Xuân cao 2 trượng, mực nước sông Hương ban ngày xuống thấp, đạn pháo Tây Sơn chỉ rót xuống gần thành, nước bắn như bão lũ. Hoàng Đình Thể ra lệnh phản pháo. Pháo trên cao rót xuống làm một chiến thuyền Tây Sơn bốc cháy và chìm dần. Tây Sơn phải dãn vòng vây ra và rút lui.

Vũ Văn Nhậm nói với Nguyễn Huệ:

 -Làm sao đại bác ta bắn được vào thành khi thành quá cao như vậy?

Nguyễn Huệ đáp:

-Ta nghĩ ra rồi. Mực nước sông Hương ban ngày xuống thấp, ban đêm mới dâng lên cao. Ta đánh thành vào ban đêm thì đại bác sẽ bắn tới mặt thành.

Canh ba đêm đó, chiến thuyền Tây Sơn kéo vào sông Hương và quả nhiên nước dâng cao thêm một trượng nữa, chiến thuyền Tây Sơn đua nhau nã đạn, đạn rơi xuống phá hủy tất cả đại bác trên mặt thành, phá hủy tất cả các tường nữ che chắn. Hàng nghìn binh sĩ trúng đạn gục chết. Khói lửa mịt mù xen lẫn tiếng nổ khiến thành Phú Xuân như sụp đổ, trời đất mù mịt. Pháo đã bị tiêu diệt, Hoàng Đình Thể ra lệnh:

-Mở cổng thành ra nghênh chiến.

Hoàng Đình Thể đi đầu cùng 2 vạn quân xông ra gặp bộ binh Tây Sơn, quân hai bên nằm xuống dùng súng hỏa mai và tạc đạn bắn và ném vào nhau. Pháo trên chiến thuyền Tây Sơn vẫn dội vào thành, khói lửa cùng tiếng nổ như sấm sét. Vũ Tá Kiên kêu lên:

-Trình phó tướng, quân ta hết đạn và tạc đạn rồi.

Hoàng Đình Thể ra lệnh:

-Mở cửa thành vào xin tiếp viện

-Dạ

Vũ Tá Kiên lại kêu lên:

-Dạ bẩm, Phạm Ngô Cầu đã đóng cửa thành không cho tiếp viện.

-Dạ bẩm, phó tướng, trên thành đã dương cờ trắng đầu hàng quân Tây Sơn rồi ạ.

Hoàng Đình Thể mắng:

-Đồ hèn nhát phản bội Phạm Ngô Cầu, ta không hàng, xông lên.

Binh sĩ Trịnh nghe nói trên thành kéo cờ trắng liền tán loạn hoặc buông vũ khí. Ba cha con Hoàng Đình Thể, tùy tướng Vũ Tá Kiên, Vũ Trọng Đang xông lên bị đạn Tây Sơn bắn ngã gục. Nguyễn Huệ thét vang như sấm:

-Xông lên chiếm thành.

Vừa lúc đó cổng thành mở toang, Phạm Ngô Cầu cùng các tùy tướng xe quan tài, tay cầm cờ trắng đi ra đầu hàng. Như vậy một dải từ đèo Hải Vân đến sông Nhật Lệ, đến Nam sông Linh Giang thuộc về Tây Sơn. Chiến dịch Phú Xuân diễn ra  28 ngày, từ ngày 25 tháng 5 đến 22 tháng 6 năm 1786. Tây Sơn làm chủ toàn bộ Đàng Trong.

XI

Sau bữa tiệc rượu linh đình cho tướng sĩ ba quân ăn mừng chiến thắng, ngày hôm sau trong thành Phú Xuân, Nguyễn Huệ ngồi uống trà với Nguyễn Hữu Chỉnh. Nguyễn Hữu Chỉnh nói:

-Hiện nay, Đàng Ngoài bách tính đang đói khổ, đang mong đợi có ai đó đến giải thoát cho họ. Vả lại Đại Việt là một nước thống nhất đã bị chia cắt vô lý hơn 200 năm, ai là người sẽ thống nhất đất nước đây? Bắc Bình Vương là người có chí lớn, sao không nhân cơ hội này kéo đại binh ra Đàng Ngoài lật đổ nhà Trịnh, thống nhất Đại Việt, để tên tuổi lưu danh trong sử sách, thỏa chí anh hùng có phải hơn không?

Nguyễn Huệ nói:

-Bằng Quận Công nói chính hợp ý ta nhưng hoàng thượng Thái Đức không đồng ý.

Nguyễn Hữu Chỉnh nói:

-Hoàng thượng Thái Đức không đồng ý là chuyện nhỏ, thống nhất thiên hạ, cứu lê dân  Đàng Ngoài mới là việc lớn. Nhà Trịnh đang đến hồi suy yếu cực độ. Trời cho cơ hội mà không làm là có tội, sau này hối lại thì đã muộn rồi.

Trong khi Nguyễn Huệ còn suy nghĩ thì Nguyễn Hữu Chỉnh nói thêm:

-Vả lại Bắc Bình Vương là tướng ở ngoài chiến trường, có quyền tiền trảm hậu tấu, là đạo lý xử thế của thống soái cầm quân.

Nguyễn Huệ nói;

-Bằng Quận Công nói chí phải. Người đâu.

-Dạ.

-Đem giấy và nghiên bút ra đây.

-Dạ.

Có gấy mực, Nguyễn Huệ viết một tờ tấu trình gửi Nguyễn Nhạc. Nguyễn Hữu Chỉnh nói:

-Bao giờ xuất quân Bắc Bình Vương hãy gửi tấu trình về, sứ giả của Thái Đức có mang chỉ ra ngăn lại cũng đã muộn rồi.

Nguyễn Huệ nói:

-Phải lắm. Người đâu.

-Dạ.

-Cho gọi Đông Định Vương Nguyễn Lữ, Nguyễn Văn Lộc, Vũ Văn Nhậm vào đây.

-Dạ, tuân lệnh Bắc Bình Vương.

Các tướng lục tục kéo đến:

-Kính chào Bắc Bình Vương, chào Bằng Quận Công.

-Miễn lễ, mời các tướng quân ngồi.

-Đa tạ.

Sau một lượt trà, Nguyễn Huệ nói:

-Nay nhà Trịnh Đàng Ngoài suy yếu cực độ, bách tính vô cùng đói khổ. Ta nhân cơ hội này kéo đại quân ra lật đổ nhà Trịnh, cứu vớt lê dân, lập lại nền thống nhất thiên hạ. Các tướng quân thấy thế nào?

Các tướng đồng thanh đáp:

-Chúng mạt tướng nguyện theo ngọn cờ đại nghĩa của Bắc Bình Vương để thống nhất thiên hạ, cứu lê dân bách tính khỏi lầm than.

chuyunghue-1649168813.jpg
Tranh minh họa: Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ. Nguồn: Internet.

 

Nguyễn Huệ nói:

-Đông Định Vương Nguyễn Lữ.

-Có mạt tướng

-Đông Định Vương lĩnh 1 vạn quân ở lại giữ thành Phú Xuân và đất Thuận Hóa.

-Mạt tướng tuân lệnh.

-Bằng Quận Công Nguyễn Hữu Chỉnh nghe lệnh:

-Có mạt tướng.

-Bằng Quận Công giữ chức phó thống lĩnh cuộc Bắc tiến, đem 300 chiến thuyền, 1 vạn thủy binh đi tiên phong ra chiếm Vị Hoàng, uy hiếp trấn Sơn Nam, làm đầu cầu chiến lược để đại binh ta tập kết, từ đó đánh chiếm Thăng Long.

-Mạt tướng tuân lệnh.

-Đô đốc Nguyễn Văn Lộc nghe lệnh:

-Dạ, có mạt tướng.

-Đô đốc đem 1 vạn quân đi tiên phong cùng ta đánh từ Bắc sông Linh Giang ra Thanh Hóa, Sơn Nam để tới Vị Hoàng phối hợp với thủy binh của Nguyễn Hữu Chỉnh.

-Mạt tướng tuân lệnh.

-Đô đốc Vũ Văn Nhậm nghe lệnh:

-Có mạt tướng.

-Đô đốc lĩnh 1 vạn quân đi hậu quân cùng ta đánh từ Bắc sông Linh Giang ra trấn Sơn Nam.

-Mạt tướng tuân lệnh.

-Ta sẽ thống lính 3 vạn quân đi trung quân, tổng chỉ huy toàn bộ chiến dịch Bắc tiến. Các tướng nhất nhất phải nghe lệnh, ai trái lệnh chém.

Các tướng đều đồng thanh đáp:

-Chúng mạt tướng tuân lệnh chủ soái Bắc Bình Vương.

Nguyễn Huệ trao tấu trình cho Nguyễn Lữ và nói:

-Sau khi ta xuất quân, Đông Định Vương hãy cho người cầm tờ trình này cho Thái Đức hoàng đế, còn phải cử người đưa Phạm Ngô Cầu và gia quyến về Quy Nhơn cho triều đình định đoạt.

-Mạt tướng tuân lệnh.

Liền đó, sau khi ăn cơm trưa xong, đại quân Tây Sơn xuất phát. 300 chiến thuyền cờ đỏ rợp biển theo gió nồm mùa hè đi như bay ra biển Bắc. Dân cư ở miền Trung gần bờ biển trông thấy đều nói đó là một hiện tượng chưa từng có bao giờ. Ngày 6 tháng 6 năm 1786, thủy quân Tây Sơn đánh Vị Hoàng, trấn Sơn Nam. Quân Trịnh chưa đánh đã chạy. Nguyễn Hữu Chỉnh lên bờ lấy được trăm vạn hộc lương, ra lệnh canh phòng cẩn mật, cố thủ chờ đại quân của Nguyễn Huệ đến.

Cánh quân bộ quân phục nâu, đầu buộc khăn đỏ, cờ đỏ rợp trời, trống cái vang như sấm. Nguyễn Hụê trên mình voi, chiến bào đỏ, mặc giáp đồng, mũ đâu mâu đồng, đi hài nâu, lưng đeo thanh đại đao đi trung quân. Trên đầu voi có lá cờ đỏ lớn đề chữ vàng “Bắc Bình Vương” bay phấp phới. Còn có lá cờ dài hơn ghi dòng chữ “Phù Lê diệt Trịnh”. Đại quân hùng dũng tiến ra Bắc.

Sáng hôm sau, ba quân vượt cầu phao lên bờ Bắc sông Linh Giang. Từ đó ra đến Thanh Hóa, quân Tây Sơn không gặp một sự kháng cự nào của quân Trịnh. Tướng lĩnh, các quan văn võ trong các đồn, trong các thành trì và trấn trị cứ thấy bóng cờ quân Tây Sơn là bỏ chạy. Quân Tây Sơn như vào chỗ không người. Qua Thanh Hóa, quân Tây Sơn tiến vào Sơn Nam. Trấn thủ Sơn Nam là Đỗ Thế Dận đem quân chạy về bờ sông Phù Sa. Nguyễn Hụê hội quân bộ và quân thủy ở Vị Hoàng, chuẩn bị đánh các đạo quân Trịnh và đánh Thăng Long. Đó là ngày 17 tháng 7 năm 1786. Trong tổng hành dinh của Nguyễn Huệ, Nguyễn Hữu Chỉnh trình sơ đồ cho Bắc Bình Vương và nói:

-Bẩm Bắc Bình Vương, tướng Trịnh là Trịnh Tự Quyền chỉ huy 2 vạn quân đóng ở Kim Động - Hải Dương. Đạo thứ hai của quân Trịnh do Trấn thủ Sơn Nam Đỗ Thế Dận đóng ở bờ sông  Phù Sa. Đạo thứ ba là đạo thủy binh do Đinh Tích Nhưỡng chỉ huy đóng ở cửa sông Luộc. Cửa sông này giao nhau với sông Hồng tại Hưng Yên, chắn con đường thủy về Thăng Long. Ba đạo quân này tạo thành một phòng tuyến ngăn chặn đường bộ và đường thủy về Thăng Long.                          

 Nguyễn Huệ quyết định:

-Đô đốc Nguyễn Văn Lộc.

-Có mạt tướng.

-Đô đốc đem 2 vạn quân đánh tan đạo quân của Trịnh Tự Quyền ở Kim Động, Hải Dương và tiến vào Thăng Long.

-Mạt tướng tuân lệnh.

-Đô đốc Vũ Văn Nhậm.

-Có mạt tướng.

-Đô đốc đem 2 vạn quân đánh tan 2 vạn quân của Đỗ Thế Dận trên bờ sông Phù Sa.

-Mạt tướng tuân lệnh.

-Bằng Quận Công.

-Có mạt tướng.

-Bằng Quận Công cho lấy rơm rạ ngoài đồng, cho quân bện thành hình nộm người, đặt lên thuyền nhỏ cho thủy quân Đinh Tích Nhưỡng bắn vào. Khi chúng hết đạn cho thủy quân ta xông lên, địch sẽ tan vỡ, ta ít bị thiệt hại.

Nguyễn Hữu Chỉnh nói:

-Diệu kế, diệu kế.

Sáng sớm thủy binh của Đinh Tích Nhưỡng đã dàn 100 chiến thuyền trên sông Luộc. Cờ vàng bay phấp phới, đại bác trên thuyền chĩa về hướng Đông, nơi thủy binh Tây Sơn xuất hiện để vào Thăng Long. Theo gió nồm gần 50 chiến thuyền loại nhỏ của Tây Sơn dương cánh buồm lướt tới. Những thủy binh đứng hai bên mạn thuyền đông đúc đã dương cung và súng hỏa mai, cờ đỏ trên thuyền bay phấp phới. Khi thấy thuyền Tây Sơn đã vừa tầm, Đinh Tích Nhưỡng hạ lệnh:

-Bắn.

Các hạng pháo trên thuyền quân Trịnh bắn xối xả. Đạn nổ, lửa khói mù mịt cả dòng sông che lấp cả tầm nhìn của quân Trịnh. Phần do sợ hãi, quân Trịnh cứ bắn, các chiến thuyền Tây Sơn bốc cháy, thủy binh đứng trên mạn thuyền cũng bốc chay. Cả dòng sông ngập chìm trong khói lửa. Bỗng nhiên, tiếng pháo của quân Trịnh im bặt. Đinh Tích Nhưỡng trên đài chỉ huy gào thét:

-Bắn.

-Dạ, bẩm chủ soái hết thuốc súng và đạn rồi ạ.

-Hả, sao vậy?

-Dạ bẩm chủ soái, trên chiến thuyền Tây Sơn quân lính toàn bằng rơm rạ thôi ạ.

-Đinh Tích Nhưỡng kêu lên:

-Chết rồi, trúng kế rồi, ta bị lừa rồi.

Đang khi đó thì hàng trăm chiến thuyền lớn của Tây Sơn ào ạt rẽ nước tiến lên, nã đại bác như mưa vào chiến thuyền quân Trịnh. Thủy binh Trịnh hết đạn nên không thể bắn trả được, các chiến thuyền nổ tung, bốc cháy và chìm dần, 2 vạn thủy binh trúng đạn tan xác hoặc chết cháy hoặc chết đuối. Đạo thủy binh Trịnh bị tiêu diệt hoàn toàn.

Thủy Binh Tây Sơn hướng pháo lên bờ bắn vào bộ binh của Đỗ Thế Dận, lại thêm Vũ Văn Nhậm tiến đánh, bộ binh Trịnh tan vỡ tháo chạy. Tại tổng hành dinh của Bắc Bình Vương, thám mã về báo:

-Dạ bẩm chủ soái, đạo quân của Trịnh Tự Quyền đã bị đô đốc Nguyễn Văn Lộc tiêu diệt.

Nguyễn Huệ nói:

-Vậy là cửa vào Thăng Long đã mở, đánh vào Thăng Long.

-Dạ, tuân lệnh chủ soái.

Tại phủ chúa ở Thăng Long, trong Nghị Sự Đường, chúa  Đoan Nam Vương Trịnh Khải đang họp với bá quan văn võ, chợt có thám mã về báo:

-Dạ bẩm Đoan Nam Vương, các đạo bộ binh, thủy binh của ta ở sông Luộc, bờ sông Phù Sa, Kim Động đã bị quân Tây Sơn tiêu diệt. Quân Tây Sơn đang tiến đánh Thăng Long ạ.

 

Trịnh Khải hoảng hốt:

-Hả, sao chúng tiến quân nhanh vậy?

Bá quan văn võ bàng hoàng, hoảng loạn. Trịnh Khải hỏi:

-Ai có kế sách gì cứu được nước nhà lâm nguy không?

Bá quan văn võ im lặng. Trịnh Khải nổi giận:

-Ngày thường các ngươi lắm lời nịnh trên, nạt dưới, tham lam vơ vét, đè nén dân lành, mua quan bán tước, lắm mưu nhiều kế hại nước hại dân, khoe khoang giàu có giỏi giang ăn chơi trác táng, không chịu đọc binh thư để mở mang đầu óc. Nay nước nhà lâm nguy thì mặt mày tái xám, sợ run như cày sấy, không hiến nổi được một kế sách hay để cứu nước nhà. Tại sao vậy?

Trịnh Khải đập bàn tức giận, thất vọng thở dài ngồi xuống.

Đại thần Trần Công Xán tâu:

-Dạ bẩm vương, thần có kế sách này may ra  bảo vệ được Thăng Long.

-Nói đi.

-Dạ bẩm, xin cho một đội thủy binh dàn ở sông sông Thúy Ái chặn thủy binh địch, cho tướng Hoàng Phùng Cơ dàn bộ binh ở hồ Vạn Xuân chặn bộ binh địch, cho một đạo quân cùng 100 con voi dàn ở bến Tây Long.

Trịnh Khải hỏi:

-Ai có thể chỉ huy được đạo quân ở bến Tây Long?

Cả triều đình im lặng. Trịnh Khải nói:

-Các ngươi đúng là phường giá áo, túi cơm. Thôi được, ta sẽ thân chinh chỉ huy đạo quân này.

Sáng 21 tháng 7 năm 1786, thuận theo chiều gió, thủy binh Tây Sơn ào ạt tiến đánh quân Trịnh ở bến Nam Dư-Thúy Ái. Đại bác nổ rung trời đất. Thủy quân Trịnh nhanh chóng tan tác, quân lính số chết, số còn lại nhảy xuống sông bơi vào bờ. Tướng Trịnh Nguyễn Trọng Yên và Ngô Cảnh đứng ở mũi thuyền chỉ huy bị đạn Tây Sơn bắn chết. Nguyễn Huệ ra lệnh:

-Đổ bộ lên bờ đánh bộ binh Trịnh ở hồ Vạn Xuân.

-Dạ tuân lệnh chủ soái.

Thủy quân Tây Sơn tràn lên bờ. Hoàng Phùng Cơ chưa kịp dàn trận đã bị quân Tây Sơn lao vào chém giết. Quân Trịnh tan vỡ tháo chạy. Các tùy tướng và 6 con trai của Hoàng Phùng Cơ tử trận. Hoàng Phùng Cơ cùng hai con còn lại mở đường máu thoát thân. Nguyễn Huệ trên mình voi ra lệnh:

-Tiến đánh bến Tây Long.

-Dạ, tuân lệnh Bắc Bình Vương.

Quân Tây Sơn đông như kiến có xông đến. Trịnh Khải trên mình voi cầm cờ hiệu ra lệnh:

-Xông lên giết.

Sau mệnh lệnh của chúa, quân Trịnh hoảng sợ chỉ đứng im tại chỗ, khi quân Tây Sơn ào lên chém giết thì bỏ chạy hết. Trịnh Khải quay voi vào thành thì đã thấy cờ đỏ Tây Sơn cắm đầy hoàng thành và phủ chúa tung bay phấp phới. Trịnh Khải quay voi chạy về hướng Sơn Tây. Chạy đến Hạ Lôi, Yên Lãng thì quân sĩ tan tác hầu như không còn ai. Thầy đồ Nho Tiến sĩ Lý Trần Quán ra đón Trịnh Khải, quỳ hành lễ khóc nói:

-Để chúa long đong vất vả, tội ở hạ thần.

Trịnh Khải đáp:

-Thầy làm gì có tội. Tội là ở bọn tham quan ô lại làm dân tình khổ cực, lòng bách tính vì thế không còn hướng về nhà Trịnh nữa làm phủ chúa diệt vong.

Lý Trần Quán gọi:

-Người đâu.

-Dạ.

-Cho gọi học trò của ta là Nguyễn Trang đến đây.

-Dạ.

Nguyễn Trang bước vào:

-Dạ kính chào thầy, kính chào chúa thượng.

Lý Trần Quán nói:

-Nay nước nhà gặp nạn làm cho chúa long đong. Thầy già yếu rồi, nhờ cậy con đem chúa lên miền Sơn Tây xa kinh thành trốn tránh. Con nhớ lấy câu trung hiếu trong sách thánh hiền đã dạy mà hành động.

-Dạ, con xin vâng lời thầy.

Cơm nước xong thì chúa tôi rời khỏi nhà Lý Trần Quán. Nguyễn Trang dắt ngựa cho chúa đi nhưng không lên Sơn Tây mà lại quay về Thăng Long. Trịnh Khải hỏi:

-Sao ngươi lại quay lại Thăng Long.

-Phải, ta quay về Thăng Long vì muốn bắt chúa nộp cho Tây Sơn lấy thưởng. Thời buổi hỗn loạn nhiễu nhương, chữ trung hiếu đã bị vua chúa và quan lại các ngươi phá tan từ lâu rồi, làm gì còn tồn tại mà tôn thờ.

Trịnh Khải ngao ngán thở dài. Không ngờ cơ nghiệp 200 năm của nhà Trịnh mà tổ tiên là Trịnh Thế Tổ để lại, Trịnh Tùng, Trịnh Tráng, Trịnh Tạc dầy công xây dựng bây giờ sụp đổ trong tay con cháu như ta. Ta không thể làm nhục tổ tiên oanh liệt được.

Nghĩ vậy, nhân lúc Nguyễn Trang dắt ngựa không chú ý, Trịnh Khải lén rút con dao ngắn đeo bên mình tự đâm vào cổ mà chết. Năm đó Trịnh Khải mới 23 tuổi, ở ngôi chúa được 4 năm.

Nghe tiếng động, Nguyễn Trang giật minh quay lại thấy Trịnh Khải gục trên ngựa, máu chảy đầm đìa. Nguyễn Trang xé áo buộc vào cổ chúa cho không chảy máu rồi cứ thế dắt chúa về cho Tây Sơn. Nguyễn Hụê đang ngồi trong phủ chúa Trịnh thì có tùy tướng vào báo:

-Dạ, bẩm Bắc Bình Vương, có kẻ bắt được Trịnh Khải đem nộp nhưng dọc đường chúa đã tự đâm cổ chết rồi.

Nguyễn Huệ bước ra và gọi:

-Người đâu.

-Dạ.

-Lấy chiếu trải ra, cho đỡ Trịnh Khải xuống.

Quân lính đỡ Trịnh khải nằm xuống chiếu. Nguyễn Huệ nhìn và nói:

-Sao không sống cùng ta hưởng phú quý, trẻ tuổi thế này chết đi thật uổng.

Nguyễn Hụê hỏi Nguyễn Trang:

-Ngươi làm nghề gì?

-Dạ bẩm chúa công, tại hạ là học trò.

-Học trò đọc sách thánh hiền dạy trung hiếu. Sao lại phản chúa?

-Dạ bẩm, thời buổi loạn lạc, vua chúa coi dân như cỏ rác, làm gì có chữ nhân, không còn chữ nhân thì làm gì còn chữ trung, hiếu.

Nguyễn Huệ nói:

-Đáng lý ta bắt giam người vào ngục vì tội bất trung nhưng ngươi nói có lý. Đạo đức giáo lý sụp đổ là do vua quan, nhà ngươi chỉ là nạn nhân thôi. Nhưng ta không thưởng cho ngươi đâu. Ngươi đi nhanh kẻo ta đổi ý.

-Dạ, đa tạ chúa công.

Nguyễn Huệ gọi:

-Người đâu.

-Dạ.

-Cho mai táng Trịnh Khải theo lễ tước vương.

-Dạ, tuân lệnh.

Còn nhà Nho Lý Trần Quán được tin Nguyễn Trang bắt chúa nộp cho Tây Sơn, chúa Trịnh Khải đã tự sát chết thì kêu lên:

-Trời ơi, cả đời dạy đạo trung hiếu cho học trò, nay học trò lại bất trung phản chúa, ta còn mặt mũi nào đứng trong làng Nho nữa.

Rồi Lý Trần Quán đào hố, sai người nhà chôn sống mình.

Nguyễn Hụê trong phủ chúa thì có tùy tướng vào báo:

-Dạ bẩm Bắc Bình Vương, có sứ giả của vua Lê Hiển Tông mời Bắc Bình Vương vào  Long Phượng Thành.

Nguyễn Huệ đi vào điện Vạn Thọ, trông thấy vua Lê Hiển Tông là một cụ già hiền lành, râu tóc bạc phơ. Vua ngồi ở ghế tràng kỷ, chung quanh có nội thị và thị nữ đứng hầu. Nguyễn Huệ hành lễ:

-Kính chào hoàng thượng, hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.

Vua Lê Hiển Tông nói, giọng nhỏ nhẹ:

-Miễn lễ, Bắc Bình Vương đứng dậy đi.

-Tạ ơn hoàng thượng.

Sau một lượt trà, vua Lê Hiển Tông nói:

-Tướng quân đã biết, Bắc Hà tồn tại vua Lê-chúa Trịnh từ 200 năm nay, trong đó phủ chúa nắm hết quyền, bên Long Phượng thành của nhà Lê chỉ là hư vị. Nay tướng quân ra chỉ một trận là lật đổ nhà Trịnh, đem lại thực quyền cho nhà Lê, trẫm thật là biết ơn và cảm kích.

chhue1-1649341019.jpg
Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ. Nguồn: Internet.

 

Nguyễn Huệ khiêm tốn đáp:

-Thần là dân áo vải vốn không ham mộng đế vương, nhưng vì thời thế loạn lạc, bách tính lầm than, thần phải cầm gươm lên ngựa để mong cứu vớt lê dân, thống nhất thiên hạ. Nay ra Bắc Hà lật đổ nhà Trịnh nhanh chóng là nhờ hồng phúc của Nhà Lê, hồng phúc của hoàng thượng, hạ thần thật chẳng có công lao gì.

Lê Hiển Tông nói:

-Quả nhiên Bắc Bình Vương thật tài đức vẹn toàn. Nay ta gia phong tướng quân là Nguyên Soái Uy Quốc công.

Nguyễn Huệ vội hành lễ:

-Đa tạ hoàng thượng, thần tuân chỉ.

Hôm sau vẫn trong điện Càn Nguyên vua Lê Hiển Tông nói:

-Để cho tình nghĩa của Uy Quốc Công với triều đình nhà Lê thêm bền chặt, ta có một công chúa thứ chín tên là Ngọc Hân, năm nay tròn 16 tuổi, tài sắc vẹn toàn, chẳng hay tướng quân có rộng lượng cho nó về làm thê thiếp hay không?

Nguyễn Hụê đáp:

-Đa tạ hoàng thượng quan tâm, cho dân áo vải như hạ thần sánh duyên cùng lá ngọc cành vàng.

Thế rồi kinh đô Thăng Long diễn ra đám cưới của Nguyên Soái Uy Quốc Công với công chúa Ngọc Hân vô cùng tưng bừng vui vẻ. Đúng là trai anh hùng gái thuyền quyên, duyên trời đã định. Nhưng hết ngày vui thì đã tiếp ngay đến ngày buồn, ngày 17 tháng 7 năm 1787, vua Lê Hiển Tông băng hà ở điện Vạn Thọ do tuổi cao sức yếu. Nhà vua ở ngôi được 47 năm, thọ 70 tuổi, mai táng ở Bàn Thạch Lăng. Nguyễn Huệ được triều đình cử làm chủ Quốc tang cho nhạc phụ. Triều đình cũng ủy thác cho Nguyên Huệ chọn người kế vị ngai vàng. Nguyễn Huệ nói với công chúa Ngọc Hân:

-Theo nàng thì giữa Lê Duy Cận, huynh của nàng và Lê Duy Kỳ, ai xứng đáng tài đức lên ngôi?

Công chúa đáp:

-Công bằng mà nói thì huynh Lê Duy Cận đủ tài đức, có thể bách tính và đất nước trông cậy được.

Nhưng hôm sau công chúa về lại nói với Bắc Bình Vương:

-Triều đình lại muốn chọn Lê Duy Kỳ, một kẻ nhút nhát, kém tài kém đức. Nhưng thôi, tướng công cứ đưa Lê Duy Kỳ lên ngôi kẻo thiếp mang tiếng thiên vị huynh mình.

Và Bắc bình Vương đưa Lê Duy Kỳ lên ngôi, đế hiệu là Lê Chiêu Thống.

Có tùy tướng vào báo cho Nguyễn Huệ:

-Dạ bẩm Uy Quốc Công, chế độ Trịnh vừa sụp đổ, nhân cơ hội bọn cướp hoành hành ở Thăng Long và nhiều vùng của Bắc Hà. Mong chúa công định đoạt.

Nguyễn Hụê nói:

-Truyền lệnh cho Vũ Văn Nhậm và Nguyễn Hữu Chỉnh diệt trừ bọn cướp ở Thăng Long và các nơi cho nghiêm khắc. Một tuần nữa không xong hai tướng đó chịu quân luật.

-Dạ.

Một tuần sau thám mã về báo:

-Dạ bẩm Uy Quốc Công, Thăng Long và các nơi đã được bình yên, nạn trộm cướp đã không còn nữa.

Một hôm thám mã lại vào báo:

-Dạ bẩm Bắc Bình Vương, không biêt đám quan quân nào khoảng 1000 người rất là nhếch nhác đói khát đang tràn vào kinh thành, dân Thăng Long đang hoang mang nhốn nháo.

Nguyễn Hụê vội điểm 5000 quân ra cửa Nam  xem, đám người hỗn độn mệt mỏi bụi bặm đói khát, khi lại gần nhìn kỹ thì ra đó là Thái Đức Hoàng đế Nguyễn Nhạc. Nguyễn Hụệ vội đón Nguyễn Nhạc vào cung Tây Long, phủ chúa Trịnh nghỉ ngơi, ăn uống hai ngày sau lại sức, Nguyễn Huệ mới hỏi chuyện:

-Sao hoàng huynh lại vất vả xa giá ra đây có việc gì khẩn cấp chăng? Đường từ Quy Nhơn ra đây phải khoảng 1800 dặm.

-Ta đã nói với đệ là không nên tiến quân ra Bắc Hà, đó là công việc của người Đàng Ngoài, Tây Sơn chúng ta chỉ làm chủ đến Nam sông Linh Giang là được. Đệ không tuân chỉ nên ta phải xa giá ra đây. Đúng là quá vất vả khó nhọc.

-Hoàng huynh nói vậy là không đúng rồi. Nhà Trịnh suy yếu, xã hội loạn lạc, bách tính Đàng Ngoài cũng vô cùng cực khổ nghèo đói. Mục đích của chúng ta lúc khởi sự ở Tây Sơn chả là muốn cứu bách tính sao. Vả lại Đại Việt vốn là một nước thống nhất hàng nghìn năm nay. 200 năm nay vì quyền lợi của các dòng họ quý tộc, đất nước bị chia cắt một cách phi lý. Thống nhất thiên hạ không lẽ không phải là mục đích của Tây Sơn sao? Nay huynh đã ra đây, đệ sẽ trao lại binh quyền cho huynh để huynh quyết định.

-Ta sẽ quyết định rút quân Tây Sơn khỏi Bắc Hà và Thăng Long, đệ chuẩn bị đi.

-Tùy hoàng huynh, nhưng như vậy Bắc Hà sẽ rối loạn vì không có quân đội bảo vệ.

-Đó không phải là việc của ta. Binh quyền đã trong tay ta, ta quyết như vậy.

Khi về tư dinh Nguyễn Huệ cho gọi Nguyễn Hữu Chỉnh tới thông báo:

 -Thái Đức hoàng đế quyết định rút quân khỏi Thăng Long.

Nguyễn Hữu Chính nói:

-Như vậy e Thăng Long và Bắc Hà sẽ rối loạn. Bè đảng nhà Trịnh còn rất mạnh, chúng sẽ quay lại uy hiếp vua  Lê như trước 1786 .

Nguyễn Hụê nói:

-Vì thế nên Bằng Quận Công phải giữ Nghệ An, khi cần ra Thăng Long đánh dẹp và cứu nhà Lê.

-Tại hạ tuân lệnh Bắc Bình Vương.

Sáng hôm sau, bách tính kinh thành Thăng Long ngạc nhiên vì không một bóng người lính Tây Sơn nào trong kinh thành. Họ đã rút từ lúc nào trong đêm về phương Nam mà không ai biết.