I -|-Các triều đại trong lịch sử cũng tuân theo quy luật sinh trụ dị diệt. Như nhà Hán của Trung Quốc do Lưu Bang sáng lập năm 202 trước công nguyên sau khi lật đổ nhà Tần (206 trước công nguyên) và tiêu diệt một thế lực quân phiệt hùng mạnh là Hạng Vũ. Từ năm 202 trước công nguyên đến năm 8 sau công nguyên là thời kỳ Tây Hán với kinh đô Trường An, là thời kỳ hưng thịnh của nhà Hán, của dòng họ Lưu. Cuối thời Tây Hán, triều đại suy vong tạo điều kiện cho dòng họ ngoại thích chuyên quyền. Năm 8, Vương Mãng, một kẻ trong dòng ngoại thích lật đổ nhà Tây Hán, lập ra triều Tân. Năm 24, Hán Quang Vũ Đế Lưu Tú lật đổ nhà Tân, khôi phục lại nhà Hán, chuyển kinh đô về Lạc Dương, phía Đông của Trường An nên gọi là nhà Đông Hán. Chính quyền nhà Đông Hán và bọn quân phiệt phong kiến bóc lột nông dân vô hạn độ nên vào thế kỷ II, nông dân nổi lên chống lại, lớn nhất là cuộc khởi nghĩa Hoàng Cân (Khăn Vàng) do ba anh em Trương Giốc, Trương Giác và Trương Bảo lãnh đạo. Năm 184 nhà Hán phải kêu gọi các thế lực quý tộc quân phiệt đem quân đàn áp Hoàng Cân. Sau khi đàn áp xong khởi nghĩa Hoàng Cân, các thế lực quân phiệt lao vào cuộc hỗn chiến với nhau để tranh giành đất đai, quyền lực. Khi các thế lực quân phiệt to lớn như Đổng Trác, Lã Bố, Viên Thuật, Viên Thiệu bị tiêu diệt thì thiên hạ chỉ còn lại ba thế lực lớn là Lưu Bị, Tào Tháo và Tôn Quyền. Phía Bắc rộng lớn là nước Ngụy của Tào Tháo với kinh đô Hứa Xương, phía Tây là nước Thục của Lưu Bị với kinh đô Thành Đô, phía Đông Nam của Trường Giang được gọi là Đông Ngô của dòng họ Tôn, kinh đô là Kiến Nghiệp (Nam Kinh). Lịch sử gọi cục diện này là Tam Quốc, kéo dài từ năm 220 đến năm 280.
Đông Ngô, sau khi Tôn Sách (175-200) mất, em là Tôn Quyền lên kế vị. Năm 229 Tôn Quyền xưng đế tại Kiến Nghiệp. Từ năm 229 đến năm 252 thời Đại Đế Tôn Quyền là thời kỳ cực thịnh của Đông Ngô. Đất đai lãnh thổ bao gồm Dương Châu, phần lớn Kinh Châu và phía Nam là Giao Châu. Riêng Giao Châu gồm các quận Hợp Phố, Thương Ngô, Uất Lâm, Nam Hải, Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam (năm 271 tách Nhật Nam thành hai quận là Cửu Đức và Nhật Nam) bị Đông Ngô thống trị suốt thời kỳ Tam Quốc (220-280). Năm 280, sau khi Tư Mã Viêm xâm lược, Giao Châu lại thuộc sự thống trị của nhà Tấn.
Một buổi sáng mùa hè, kinh đô Kiến nghiệp soi bóng xuống dòng sông Trường Giang lung linh. Dòng Trường Giang mênh mông bát ngát, nước lưng trời cuồn cuộn chảy về Đông. Trong cung điện hoa lệ của Đại Đế Tôn Quyền sáng trưng vàng bạc, minh chứng đỉnh cao quyền lực của dòng họ Tôn ở xứ Giang Đông giàu đẹp, thời kỳ hưng thịnh bậc nhất của Đông Ngô. Ngô Vương Tôn Quyền đang ngồi trên ngai vàng thiết triều. Triều Ngô đang bàn đến tình hình chính sự của Giao Châu. Tôn Quyền nói về chính sách của nhà Đông Ngô đối với Giao Châu, một thuộc địa xa xôi ở phương Nam mà nhà Đông Ngô tiếp quản từ tay nhà Đông Hán. Giọng Tôn Quyền sang sảng:
-Với Giao Châu, các khanh nên chú ý các quận xưa là đất Âu Lạc, thời Đông Hán chỉ có bốn quận là Hợp Phố, Giao chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam. Vậy nay Giao Châu không còn gắn với Quảng Châu nữa. Vùng đất này xa xôi nhưng vô cùng quan trọng với Đông Ngô ta. Nhiều năm, chúng ta đã huy động sức người, sức của của Giao Châu phục vụ cho cuộc chiến tranh với Ngụy và Thục. Hiện nay, cuộc tranh hùng đang đến hồi quyết liệt, các châu nói chung và Giao Châu nói riêng phải đóng góp nhiều lần hơn nữa để bổ sung sức người, sức của vào chiến tranh.
Tôn Quyền ngừng lại hớp một ngụm trà sâm mà người thị nữ vừa đặt lên bàn rồi nói tiếp:
-Thứ nữa, trước kia, ta đã huy động hàng nghìn nhân công và thợ giỏi xứ đó để xây dựng kinh đô Kiến Nghiệp. Nay phải bắt nhiều thợ giỏi khéo tay của Châu Giao để trang trí cho kinh đô mới sao cho cực kỳ hoa lệ, thu nhiều hơn nữa ngà voi, sừng tê giác, đồi mồi, ngọc trai để tăng sự phong phú kho báu của triều đình, đồng thời dùng để trang trí những cung điện của Kiến Nghiệp, thu nhiều hơn nữa cống phẩm của ngon vật lạ, thu nhiều hơn nữa thuốc bổ và quý hiếm, những thứ mà Giang Đông ta không có. Tăng các thứ thuế trước kia lên nhiều lần, đặc biệt là thuế muối và thuế sắt để chúng không có sắt sản xuất, không có vũ khí chống lại ta, không có muối để chúng suy nhược nòi giống dẫn tới dân tộc đó diệt vong. Chúng ta sẽ hoàn toàn làm chủ đất đai, biển cả sông ngòi của chúng.
Ngừng lại để uống trà sâm, Tôn Quyền lại cất tiếng:
-Mặt khác, phải đẩy mạnh đàn áp, kiên quyết tiêu diệt những tên chống đối, những cuộc phản loạn của người Việt, đẩy mạnh việc đồng hóa văn hóa, tiếp tục ở mức độ cao nhất những chính sách có từ thời Tây Hán và Đông Hán. Phải tiêu diệt kiên quyết nền văn hóa Việt thì mới khuất phục được cái dân tộc ương ngạnh, bất khuất đó. Những chính sách đó, Thứ sử Châu Giao, Thái thú các quận, Huyện lệnh các huyện phải ghi nhớ lời của quả nhân mà thi hành.
Tôn Quyền hỏi:
Có ai có bẩm tấu thì bước lên?
Một viên quan mặc quân phục quan võ đứng dậy. Mọi người nhìn ra thì đó là Đại Đô đốc Lục Tốn. Sau Đại Đô đốc Chu Du thì Lục Tốn là Đại Đô Đốc tài năng bậc nhất của Đông Ngô. Lục Tốn nói:
-Chúng ta đã tận thu Châu Giao đến khánh kiệt. Nhưng phần lớn của cải, vàng bạc châu báu, ngọc trai, ngà voi, sừng tê giác, cống vật đều chui vào túi quan tham Thứ sử Châu Giao và Thái thú các quận Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam. Vậy xin Chúa công cho thay Thứ sử Châu, Thái thú các quận để đẩy mạnh việc dùng nhân nghĩa, thu phục lòng bá tính, đồng thời để cho của cải châu báu ngọc vàng có thể về được Giang Đông nhiều hơn.
Tôn Quyền nói:
-Quả đúng như lời Đại Đô Đốc nói, bọn tham quan ở Châu Giao, đặc biệt là Thái thú các quận xa trung ương nên không coi ai ra gì, vơ vét nộp về triều đình thì ít, bỏ vào túi cá nhân thì nhiều, chúng không kiêng sợ pháp luật và Châu Giao qua các triều đại Hán, kể cả Đông Ngô ta gần như không có pháp luật. Nay ta phong Lữ Đại làm Thứ sử Châu Giao, tăng việc kiểm soát các Thái thú các quận, đẩy mạnh thu gom của cải vàng, bạc châu báu, cống phẩm, đẩy mạnh huy động nhân lực vào lính để chiến tranh với Thục, Ngụy, đẩy mạnh huy động thợ giỏi để tiếp tục xây dựng kinh đô Kiến Nghiệp.
Như vậy là Lữ Đại được bổ nhiệm làm Thứ sử Châu Giao với chính sách tăng cường vơ vét bóc lột, tăng cường bắt nhân lực Việt đi chết trên các chiến trường Ngụy-Thục, tăng cường bắt nhân công, nhân tài vật lực cho việc tiếp tục xây dựng, trang trí cho kinh đô mới Kiến Nghiệp. Mặt khác, tăng cường đàn áp, chém giết, tăng cường cưỡng bức đồng hóa văn hóa. Từ đó trên con đường dài thiên lý dẫn về phía Bắc, suốt bốn mùa xuân hạ thu đông, hàng vạn phu phen và thợ thủ công, hàng vạn thanh niên Việt bị trói, xích đưa về phương Bắc làm lao dịch, làm lính. Họ ra đi mà không bao giờ trở lại quê nhà. Hàng vạn gia đình mất con, mất cha, mất chồng, đau khổ ly tán chia lìa. Để bắt được một số lượng người, bọn giặc Ngô tàn ác giết cũng bằng ấy số người tương đương. Năm 230, Thứ sử Lữ Đại đàn áp cuộc nổi dậy ở Cửu Chân, giết chết hàng vạn người. Tiếng kêu khóc não nùng ở Giao Châu là quanh năm suốt tháng. Cũng trên con đường thiên lý đó, suốt bốn mùa, các đoàn xe tải do các phu phen người Việt và ngựa kéo liên tục chở của cải, vàng bạc, châu báu, ngà voi, sừng tê giác, cống phẩm lầm lũi, nặng nề đi trong gió bụi về phương Bắc, về Đông Ngô. Vơ vét để đem về Đông Ngô, quan lại Giao Châu lớn nhỏ còn vơ vết để thỏa lòng tham cá nhân nên làm đủ điều gian tà, tha hồ bạo ngược vì không có pháp luật nào trừng phạt được chúng. Cùng khi đó, công cuộc đồng hóa văn hóa được đẩy mạnh để biến người Việt phải theo văn hóa Hán. Thuế má, tô tức cũng được tăng lên gấp bội càng làm cho đời sống người Việt lâm vào cảnh khốn cùng, trăm họ xơ xác, nông dân mất ruộng đất bị biến thành nô lệ. Từ khi mất nước vào tay nhà Triệu, rồi qua sự thống trị của Tây Hán và Đông Hán, chưa bao giờ người Việt bị áp bức, bóc lột, bị đối xử tàn bạo thống khổ như thời kỳ Đông Ngô.
>Vùng Núi Nưa, quận Cửu Chân trong một ngày mùa đông nắng đẹp năm 247. Từ trong Hang Tiên (dân gian gọi là Am Tiên) Triệu Trinh Nương (Triệu Thị Trinh) bước ra. Am Tiên là một trong những địa danh thuộc Tổng hành dinh của cuộc khởi nghĩa do hào trưởng Triệu Quốc Đạt và em gái là Triệu Trinh Nương lãnh đạo. Triệu Trinh Nương sinh ngày 2 tháng 10 năm Bính Ngọ (225) tại Quân Yên, huyện Đô Lung, quận Cửu Chân. Cha mẹ mất sớm nên Triệu Trinh Nương ở với anh. Đó là người con gái mới 23 tuổi, da trắng như trứng gà bóc, mái tóc đen dầy phủ kín vai, ôm lấy khuôn mặt trái xoan, mắt phượng mày ngài, mũi dọc dừa, môi như hoa nở, ngực nở lưng thon, dáng người mềm mại nhưng mạnh mẽ. Triệu Trinh Nương mặc bộ võ phục màu nâu dài được thắt bởi chiếc dây màu vàng làm lưng ong thắt đáy uyển chuyển cao sang, quyền quý. Triệu Trinh Nương có vẻ đẹp kiều diễm nên dân gian ở Cửu Chân gọi nàng là Tiên nữ trên Núi Nưa và nơi Triệu Trinh Nương ở được gọi là Am Tiên.
Sớm nay, vâng lệnh anh là chủ tướng Triệu Quốc Đạt, Triệu Trinh Nương đi nắm lại tình hình quân lương để chuẩn bị tấn công vào thành Tư Phố, đầu não của chính quyền Đông Ngô ở quận Cửu Chân. Triệu Trinh Nương đi đôi hài bện cỏ êm ấm, lưng mang hai thanh gươm. Hai vệ nữ cũng mang võ phục màu nâu, gươm bên hông lủng liểng đi hầu cận. Người quản tượng dắt đến cho Triệu Trinh Nương một con voi trắng một ngà, trông rất dữ tợn do nàng thuần phục được ở núi Quân Yên và bây giờ nó thành bạn đồng hành thân thiết với nữ phó chủ tướng trên con đường giết giặc cứu nước. Triệu Trinh Nương không cần ghế làm bậc cao lên lưng voi, cũng không cần ai giúp, bằng một thế võ, nàng tự nâng mình ngồi lên lưng voi và tự điều khiển nó đi theo ý muốn. Hai vệ nữ cưỡi ngựa đi hai bên để hầu cận. Triệu Trinh Nương gõ nhẹ một búa vào đầu voi. Voi trắng bước đi có vẻ hiền lành, nó như vui mừng hớn hở khi được đưa chủ nhân đi. Voi bước đi nhưng hai con ngựa của hai vệ nữ phải phi chạy nhong nhong mới kịp. Trên mình voi, một lần nữa Triệu Trinh Nương lại được quan sát phong cảnh Núi Nưa. Quan sát cảnh đẹp của Núi Nưa là một việc mà Triệu Trinh Nương không bao giờ biết chán. Đây không phải là lần đầu tiên Triệu Trinh Nương nhìn ngắm Núi Nưa, cũng không phải lần đầu tiên xuống các quân doanh. Nhưng sáng hôm nay nắng vàng rải xuống những cánh rừng xanh ngát trên những dãy núi cao, xuống những cánh đồng vàng mơ của các thung lũng khi đang mùa lúa chín. Gió se lạnh mang lại cái rét ngọt của mùa đông ở một vùng rừng núi. Mây trắng nhởn nhơ trên những khoảng trời lộ ra trên những tán cây. Ánh nắng chan hòa rải khắp rừng núi như những ánh hào quang tạo nên những hoa nắng li ti mờ ảo. Trên lưng voi, trước mắt Triệu Trinh Nương là phong cảnh Núi Nưa hùng vĩ, tươi đẹp nhưng hiểm trở, là căn cứ lý tưởng cho huynh Triệu Quốc Đạt và Triệu Trinh Nương bỏ quê nhà ( Quân Yên, cách Núi Nưa 60 dặm) lên đây khởi nghĩa.
Núi Nưa, tên thật là Núi Nứa vì trên rừng núi ngoài những cây có lá còn bạt ngàn là rừng nứa tươi tốt. Núi Nưa kéo dài từ quận Nhật Nam (năm 270 nhà Đông Ngô tách quận Nhật Nam thành hai quận là Nhật Nam và Cửu Đức) đến quận Cửu Chân, tức là kéo dài từ Tây Hiếu Nghệ An qua miền núi Như Xuân, Cửu Chân, là bức thành phía đông Nam. Dưới bức thành này là một thung lũng rộng lớn kéo dài đến mấy làng của huyện Cư Phong. Phía Đông Bắc của thung lũng là những dãy đồi đất đỏ, thấp và tròn, dân gian gọi là núi Cửu Noãn (núi chín quả trứng). Từ núi Cửu Noãn, một dòng sông nhỏ bắt nguồn từ hương Thọ Tiến, len lỏi giữa những đồi “Quả Trứng” và chảy về Đông Nam, dòng sông hẹp nhưng sâu thẳm, bờ sông dốc đứng, nước lững lờ chậm chạp nên dân gian gọi là Lãn Giang (sông Lười). Thung lũng Núi Nưa nằm giữa các vành núi, tạo nên đồng bằng màu mỡ phía Bắc, phía Đông nên nhiều cư dân đến sinh sống quy tụ đông đúc. Ngược về Tây Nam, Núi Nưa là một vùng rừng núi rộng lớn, càng vào sâu càng hiểm trở. Và nơi đây Triệu Quốc Đạt đã chọn làm căn cứ khởi nghĩa chống giặc Ngô.
Vệ nữ cưỡi ngựa đi bên trái voi ngước khuôn mặt xinh đẹp lên hỏi:
-Thưa phó chủ tướng, chúng ta đến thăm nơi nào đầu tiên ạ?
Triệu Trinh Nương đáp:
-Đến thăm Bãi Bò đầu tiên.
Voi trắng đi nhanh, hai con ngựa nâu của hai vệ nữ phải chạy nhong nhong bên cạnh, phút chốc đã tới Bãi Bò. Bãi Bò là nơi Triệu Quốc Đạt cho nuôi bò, nuôi trâu để cung cấp thực phẩm cho nghĩa quân. Trong một góc thung lũng Núi Nưa, hàng nghìn con bò, con trâu màu vàng, màu nâu, màu đen, bò cái, bò đực, bò to, bò nhỏ chuyển động kiếm ăn gặm cỏ trong thung lũng. Có những con còn đang bú mẹ, những con bò vàng đi lang thang thong thả hiền lành nom thật đẹp. Khoảng hơn 100 nghĩa quân quân phục màu nâu, mang gươm bên hông, tay cầm roi song mây, cưỡi ngựa để quản những chú bò. Thấy Triệu Trinh Nương, mọi người xuống ngựa vái chào:
-Dạ, xin chào phó chủ tướng.
Một người lính khác cũng chắp tay và nói:
-Xin chào Nhụy Kiều Tướng quân.
Khi đó Triệu Trinh Nương đã xuống voi, hai nữ vệ cũng xuống ngựa tiến lại gần người lính. Triệu Trinh Nương cười và hỏi:
Các huynh phong ta là Nhụy Kiều Tướng quân từ lúc nào vậy?
Dạ, tôi cũng không rõ từ khi nào nhưng hiện nay trong đại quân đều lan truyền câu dặn nhau: Hễ gặp phó chủ tướng thì phải chào là Nhụy Kiều tướng quân.
Triệu Trinh Nương cười đáp:
-Đa tạ các huynh, không biết ta có xứng đáng với danh hiệu đó không. Nhưng ta biết các huynh làm công việc chăn nuôi lấy thực phẩm cho nghĩa quân rất tốt.
Người lính chỉ huy nhóm chăn nuôi khoe:
-Dạ bẩm Nhụy Kiều tướng quân, chúng tôi còn chăn nuôi cả lợn nữa để lấy thịt nuôi quân.
Triệu Trinh Nương đáp:
-Cảm ơn các huynh, các huynh vất vã vì nợ nước thù nhà. Ngày rửa hận không còn xa nữa. Ngày đó nghĩa quân khỏe mạnh giết được nhiều giặc Ngô là công lao thuộc về các huynh chăm sóc tốt.
Những người lính chắp tay:
Dạ, không dám. Cảm tạ phó chủ tướng.
Triệu Trinh Nương lên voi, hai vệ nữ lên ngựa đi tiếp. Một vệ nữ hỏi:
-Dạ thưa phó chủ tướng, chúng ta đi đâu tiếp ạ?
-Chúng ta đến Đồng Bể xem lúa năm nay có được mùa không!
Voi trắng một ngà lại đưa Triệu Trinh Nương đến nơi mà dân gian gọi là Đồng Bể, nơi nghĩa quân tự cày cấy trồng lúa để lấy lương thực nuôi quân.
Triệu Trinh Nương và hai vệ nữ lại đến Đồng Bể. Thung lũng đã trở thành một màu vàng óng của lúa đang chín rộ như một tấm thảm vàng dưới ánh nắng rực rỡ. Những làn sương mù của mùa đông trắng xóa bay vật vờ trên cánh đồng như những làn tơ. Những nghĩa quân đang thu hoạch vụ mùa. Những chiếc mũ nan, những bộ quân phục màu nâu di động đủ màu sắc. Có những tốp người gặt lúa, có những tốp người cầm những bó lúa đập vào lòng những con thuyền cho rơi hạt xuống, bộ phận khác chuyển lúa lên chỗ cao phơi cho khô. Hàng nghìn người làm việc trong thung lũng. Những đàn cò bay lơ lững trên những cánh đồng bát ngát bạt ngàn.
Voi của Triệu Trinh Nương dừng lại bên bên sườn bằng phẳng của một quả đồi. Người chỉ huy vội đi lại chắp tay vái chào:
-Xin chào phó chủ tướng.
Khi đó Triệu Trinh Nương và hai vệ nữ cũng đã xuống voi, xuống ngựa. Triệu Trinh Nương hỏi người chỉ huy:
-Năm nay có vẻ như được mùa phải không huynh?
Người chỉ huy đáp:
-Dạ, bẩm Nhụy Kiều tướng quân, năm nay đúng là được mùa, đủ lương thực cho 1 vạn quân ta ăn trong vài tháng, giảm nhẹ sự đóng góp của cư dân bách tính, thật là mừng.
Triệu Trinh Nương nói:
-Quân no bụng khỏe mạnh mới đánh thắng được giặc Ngô là nhờ công lao của các huynh. Cảm ơn các huynh. Chúng tôi còn phải đến Eo Én xem các huynh ở đó luyện tập ra sao. Tạm biệt các huynh.
Người chỉ huy chắp tay vái chào Triệu Trinh Nương.
Voi trắng lại đưa Triệu Trinh Nương đến Eo Én. Gọi là Eo Én là vì nghĩa quân nuôi chim én cho nó bay lên trời để tập bắn cung. Nhưng thực ra đó không chỉ là nơi luyện bắn cung mà là một thao trường để nghĩa quân luyện đủ môn võ nghệ như dao, kiếm, long đao, trường thương, ném đá. Triệu Trinh Nương trên mình voi đứng không xa lắm quan sát thao trường. Những con chim én được thả ra bay vút lên trời cao nhưng bị những mũi tên bắn trúng lại rơi nhào xuống đất. Những viên chỉ huy phi ngựa nhanh như gió và phóng tên ra, những con én bé nhỏ đang bay trên trời cao trúng tên và rơi như những cánh lá. Triệu Trinh Nương và hai vệ nữ đi vào trường bắn. Các cấp chỉ huy và quân sĩ đều vái chào:
-Kính chào phó tướng.
-Chào Nhụy Kiều tướng quân.
Triệu Trinh Nương xuống voi tươi cười:
-Chào các huynh, các huynh bắn cung giỏi lắm, cho ta bắn thử cái coi!
-Dạ.
Sau tiếng dạ, người chỉ huy cung kính trao cung tên và ngựa cho Triệu Trinh Nương. Triệu Trinh Nương lên ngựa cho phi nước đại, đặt hai mũi tên cùng một lúc vào, dương cung và nói to:
-Các huynh ném ra hai con chim đi!
Hai con chim sẻ bay vút lên không trung. Triệu Trinh Nương dương cung và cùng một lúc hai mũi tên bay ra chia làm hai hướng và hai con chim sẻ trúng tên lộn nhào xuống trong tiếng hoan hô vang dội của mọi người. Quân sĩ và các cấp chỉ huy trên thao trường lắc đầu bái phục phó chủ tướng của họ:
-Bắn tài quá, đúng là thần cung tên.
Triệu Trinh Nương động viên:
-Tôi cũng đã quan sát, các huynh bắn cung cũng rất tài, thiện xạ, thiện xạ. Chào các huynh, tôi còn đi thăm nơi luyện võ. Tạm biệt các huynh.
-Xin chào Phó chủ Tướng.
-Chào Nhụy Kiều tướng quân.
Ba người rời nơi bắn cung, đến thao trường luyện võ. Nơi đây thật là sôi động. Hàng nghìn người trên một bãi đất rộng và bằng phẳng, mang quân phục màu nâu, đầu chít khăn nâu, người biết võ dạy người chưa biết. Trên võ trường trống và cồng thúc liên hồi, những lá cờ vàng tung bay phấp phới theo gió đông, vàng rực nắng. Những đôi đánh kiếm, những đôi đấu gậy, đôi thì đấu giữa thương với dao, đôi thì đấu trường thương với giáo mác. Gió mùa đông se lạnh. Mây bay trên bầu trời xam xám. Nắng trắng như tơ rải khắp thao thường.
Triệu Trinh Nương xuống voi cùng hai vệ nữ bước vào một góc của thao trường. Những nghĩa quân gần nhất nơi Triệu Trinh Nương đến ngừng tập vây lại vái chào:
-Kính chào Phó chủ tướng.
-Kính chào Nhụy Kiều tướng quân.
-Xin chào các huynh, các huynh luyện tập thành tài rồi, đã sẵn sàng ra trận giết giặc Ngô chưa?
Một người khoảng 30 tuổi, da mặt rám nắng, lau mồ hôi và đáp:
-Dạ thưa Phó tướng, từ đồng ruộng nông dân mà ra nhưng cũng đã biết những miếng võ cơ bản để phòng vệ và tấn công, đến nay có thể ra trận được rồi.
Một người lính khác đáp:
-Thưa Phó chủ tướng, cứ ra trận gặp giặc Ngô là ào vào chém bừa đi là được mà.
Cả tốp lính cười ha hả. Triệu Trinh Nương cũng cười và hỏi:
-Chỉ huy của các huynh đâu?
Một người tự chắp tay vái chào:
-Thưa Phó chủ tướng, là tôi đây.
-Vậy hả, gọi một chỉ huy giỏi võ nghệ nữa, hai huynh đấu với tôi vài hiệp cho các huynh khác xem nha.
-Dạ không dám.
-Tôi cho phép mà.
Hai nghĩa quân khỏe mạnh, lực lưỡng. Một người sử dụng giáo dài, một người sử dụng đại đao. Triệu Trinh Nương sử dụng đôi gươm. Hai tiểu tướng lăn xả vào đâm và chém Triệu Trinh Nương. Triệu Trinh Nương gạt ra và múa hai thanh gươm. Không còn thấy gươm nữa chỉ thấy quanh người Triệu Trinh Nương tỏa ra ánh hào quang sáng chói, lại như nước cuốn quanh người. Rồi ánh hào quang đó chạm vào giáo và đại đao tóe lửa. Trống và cồng trên thao trường thúc liên hồi. Nghĩa quân xung quanh bãi tập kéo về vòng trong vòng ngoài xem cuộc đấu ngoạn mục của Phó chủ tướng. Triệu Trinh Nương nhè vào sự sơ hở của hai tiểu tướng đưa gươm như chớp, một người gãy cán giáo, một người đại đao bị cắt làm đôi văng xuống đất. Triệu Trinh Nương lùi xa hai người và ngừng chiến trước tiếng reo hò vang động thán phục của nghĩa quân. Triệu Trinh Nương nói:
-Nếu ở chiến trường hai huynh đã tử trận rồi đó.
-Dạ, Nhụy Kiều tướng quân thật là cao thủ, bái phục, bái phục.
-Huynh quá khen, không dám, không dám. Nhưng các huynh đừng lo. Đối với tướng ngồi trên mình ngựa phải cao thủ để còn đấu với tướng Ngô, còn với quân phải biết những miếng che đỡ bảo vệ mình, còn thấy địch cứ lăn xả vào chém giết là được. Cũng không thể chờ đợi cho đến khi hàng vạn quân võ nghệ cao cường mới khởi sự thì không biết đến bao giờ. Khi nãy có một huynh nói rất đúng.
Nghĩa quân cười vang:
-Ha!Ha!Ha!...
Triệu Trinh Nương cũng cười:
-Ngoài võ nghệ đánh giặc Ngô còn cần tinh thần yêu nước, thương dân, thương nòi giống lầm than mà căm thù giặc. Đó là sức mạnh tinh thần. Xin đa tạ và tạm biệt các huynh.
Những người lính chắp tay:
-Xin chào Phó chủ tướng.
-Xin chào Nhụy Kiều tướng quân.
Triệu Trinh Nương bay người lên lưng voi trước con mắt kinh hoàng của các tướng sĩ. Ba người đi về Am Tiên. Bóng xa dần và khuất vào rừng mà quân lính còn nhìn theo. Một người lính lắc đầu:
-Phó chủ tướng quá xinh đẹp và quá giỏi giang, thật là cao thủ, phi phàm.
Một người lính nói:
-Tôi cùng quê Quân Yên với Chủ tướng Triệu Quốc Đạt và Nhụy Kiều tướng quân. Tôi biết rõ về bà. Cha mẹ mất sớm, Triệu Trinh Nương ở với anh. Không biết bao nhiêu là vương tôn công tử đến hỏi bà làm vợ. Triệu Quốc Đạt cũng giục em lấy chồng. Bà nói: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp bằng sóng dữ, chém cá tràng kình ở biển Đông, giành lại giang sơn, cỡi ách nô lệ chứ không chịu cúi đầu, khom lưng làm tì thiếp người ta”.
Một người lính gật gù:
-Câu nói này nổi tiếng khắp Giao Châu, ở Cửu Chân ai cũng thuộc lòng câu này. Tôi cũng có nghe. Quả nhiên là chí khí hơn người mà lại có lòng thương dân, yêu nước. Đáng phục, đáng phục.
Một người lính hỏi:
-Nhưng làm sao bà có được con voi trắng một ngà hung dữ như vậy?
-Ừ, con voi nom đáng sợ như vậy mà với Phó chủ tướng nó hiền khô, thân thiết như là bạn bè. Chuyện là thế nào?
Người lính đồng hương Quân Yên, Cửu Chân nói tiếp:
-Chuyện thu phục con voi trắng một ngà làm người ta bái phục sát đất về sự gan dạ và dũng cảm của Triệu Trinh Nương. Năm kia ở vùng núi Quân Yên xuất hiện một con voi trắng một ngà hết sức hung dữ, hay về phá phách mùa màng và đe dọa người dân. Nhụy Kiều tướng quân quyết định bắt sống và thuần phục con voi này nên không cho thợ săn đào hố đánh bẫy hoặc bắn chết. Bà cùng bạn bè lùa con voi xuống đầm lầy sông Cầu Chày và tự nâng mình bay lên ngồi lên đầu voi và khuất phục nó. Từ đó, voi trắng trở thành bạn bè thân thiết, trở thành phương tiện cho bà đi lại. Năm đó Triệu Trinh Nương mới 19 tuổi.
-Năm nay Phó chủ tướng bao nhiêu tuổi?
-Năm nay Nhụy Kiều tướng quân 23 tuổi.
-Quả là gan dạ phi thường.
-Nhưng nghe nói Triệu Trinh Nương đã giết chị dâu, phu nhân của Chủ tướng Triệu Quốc Đạt?
Người lính quê Quân Yên nói tiếp:
-Tính cách của Triệu Trinh Nương là ghét cay ghét đắng thói hư tật xấu, thói gian tà, đặc biệt là thói phản quốc. Chị dâu của Nhụy Kiều tướng quân là một kẻ mất nết, lăng loàn, đi lại với bọn chức sắc quan lại nhà Ngô, lại mật báo cho chúng về kế hoạch lên Núi Nưa khởi nghĩa của Triệu Quốc Đạt và Triệu Trinh Nương nên Triệu Trinh Nương buộc phải giết.
Những người lính:
-Như vậy giết đi là phải, nhất là tội phản quốc.
Một nghĩa quân hỏi người lính Quân Yên:
-Hiện nay khắp Giao châu đồn đại rằng núi Quân Yên quê anh cứ ban đêm thì vọng ra tiếng nói của thần thánh và trời đất giao trọng trách cho Triệu Trinh Nương giải phóng dân tộc, cứu dân, cứu nước. Anh ở đó có đêm nào nghe tiếng nói của các cụ chưa?
-Sau khi thuần phục voi trắng, tăm tiếng của Nhụy Kiều tướng quân đã lừng lẫy. Từ đó, cứ canh khuya chúng tôi đều nghe từ trong núi vọng ra sang sảng tiếng đọc bản đồng giao. Bản đồng giao này đã truyền ra khắp Cửu Chân, Giao Chỉ. Các huynh có thuộc không?
Một người lính:
-Để tôi đọc thử, đệ xem có đúng không nha:
“ Có bà Triệu tướng
Vâng lệnh trời ra
Trị voi một ngà
Dựng cờ mở nước
Lệnh truyền sau trước
Theo gót bà Vương”.
-Huynh đọc và nhớ hoàn toàn chính xác. Núi Quân Yên quê tôi đứng soi mình trên dòng sông Mã từ đó trở nên linh thiêng, huyền bí. Dân quê tôi và khắp Cửu Chân đều đồn đại: Núi Quân Yên biết nói, đá biết nói. Đá đã vâng mệnh trời báo cho dân biết bà Triệu Trinh Nương là thiên tướng giáng trần, đánh giặc Ngô, giúp dân cứu nước.
Một người lính đứng tuổi phân tích:
-Tiếng tăm của Triệu Trinh Nương đã lừng lẫy rồi nhưng phải nói bài đồng giao như một bài hịch kêu gọi bách tính tham gia khởi nghĩa chống giặc Ngô. Từ khi rời quê nhà lên Núi Nưa khởi nghĩa, nhân dân theo về rất đông, quân số đã lên 1 vạn người.
-Đúng rồi, có những bà mẹ dắt những cô con gái của mình lên xin tòng quân.
- Có được không?
-Được. Huynh không thấy có hai vệ nữ cùng Nhụy kiều tướng quân lên thăm chúng ta khi nãy à. Có thể đó là những con gái của bà cụ ấy. Trong quân chúng ta có một đội nữ binh xinh đẹp, nhưng các huynh nhớ đừng có xán vào mà tiêu mạng vì võ nghệ của các muội ấy rất cao cường.
-Có cả ông già mù cũng xin gia nhập để đem tiếng hát phục vụ khích lệ ba quân cứu nước.
-Đặc biệt là có bốn anh em họ Lý là cao thủ võ lâm, lại có tài thiện xạ, đã khởi nghĩa chống Ngô ở Bồ Điền, huyện Dư Phát, Cửu Chân, nay cũng đem quân về với chúng ta.
-Nghe nói có một thanh niên ở Lạch Trường, bị địch bắt sang Ngô đã giết vài tên lính cướp ngựa và chạy thoát về Núi Nưa gia nhập khởi nghĩa.
Một nghĩa quân nói như kết luận:
-Trong cái chảo nóng của quân Ngô rán mỡ dân Việt ta thì có muôn nghìn câu chuyện, lý do riêng của mỗi người để tham gia khởi nghĩa. Nợ nước là nợ chung, còn thù nhà thì mỗi người có một gia cảnh bi thương riêng nhưng đều đẫm máu và nước mắt.
Mọi người im lặng, nén giận căm thù xen cả tiếng thở dài. Mặt trời đã đứng bóng, thời gian đã chuyển sang trưa. Trên thao trường, một hồi trống vang dài báo hết giờ luyện quân buổi sáng. Tốp lính đứng dậy cùng đông đảo nghĩa quân nghỉ tập luyện về doanh trại ở những khu rừng rậm, nơi có bếp ăn do các nữ binh nấu để ăn trưa.
IIKỳ 31.
Ngay chiều hôm đó, tại Đá Bàn, nơi là Tổng hành dinh của quân khởi nghĩa, Triệu Trinh Nương đã gặp Triệu Quốc Đạt, Chủ tướng của cuộc khởi nghĩa. Đó là một căn nhà mái lợp lá cọ, vách ghép bằng những tấm phên đan bằng nứa, giữa nhà kê một bộ bàn ghế gỗ đơn sơ. Trên bàn, một chiếc ấm đất màu nâu đang bốc khói thơm mùi lá trà xanh, cạnh ấm là những chiếc bát sành cũng màu nâu bóng dùng để uống nước trà trong ấm. Cạnh bàn, một người đàn ông khoảng 35 tuổi, da ngăm ngăm đen, mắt sáng, mặt vuông chữ điền, phong thái đàng hoàng đĩnh đạc. Người đó chính là Triệu Quốc Đạt, hào trưởng vùng Quân Yên, nay là Chủ tướng của cuộc khởi nghĩa Núi Nưa. Triệu Quốc Đạt đang vừa uống nước chè xanh, vừa suy nghĩ hướng phát triển của cuộc chiến chống giặc Ngô. Một lính cận vệ vào báo:
-Dạ bẩm chủ tướng, có Nhụy Kiều tướng quân muốn gặp.
-Cho muội ấy vào.
-Dạ.
Triệu Trinh Nương cùng hai vệ nữ đi vào. Cả ba cúi đầu chắp tay hành lễ:
-Dạ bẩm Chủ tướng.
Triệu Quốc Đạt gạt tay:
-Người nhà cả, miễn lễ.
Triệu Trinh Nương vẫn chắp tay nói:
-Dạ thưa huynh, muội vừa đi thanh tra vòng quanh căn cứ để xem xét cụ thể quân lương. Nghĩa quân đã lên 1 vạn và đã được huấn luyện kỹ thuật tác chiến cơ bản. Lương thực năm nay được mùa, đã tự túc được lương thực, giảm phần đóng góp của dân. Chúng ta có thể khởi binh tác chiến được rồi.
Triệu Quốc Đạt nói;
-Huynh cũng vừa nhận được tin của thám mã báo, bách tính quận Nhật Nam cũng đã nổi dậy hướng ứng cuộc khởi nghĩa của ta. Quan lại các cấp nhà Ngô đã chạy về Giao Chỉ và Quảng Châu.
Triệu Trinh Nương nói:
-Xét tình hình hiện nay và lực của ta và địch ở Cửu Chân và Nhật Nam, xét khí thế đang dâng cao và rầm rộ của bách tính, ngay ngày mai chúng ta có thể làm lễ tế cờ, tế thần linh thiên địa và xuất quân tấn công thành Tư Phố, trấn trị và là cơ quan đầu não của quân Ngô ở quận Cửu Chân. Nếu còn chần chừ sẽ bỏ lỡ thời cơ.
Triệu Quốc Đạt nói:
-Đúng như muội nói. Chiều có đầy đủ bốn anh em họ Lý và các tướng lĩnh sẽ bàn cụ thế. Bây giờ ta đi ăn cơm thôi. Quá trưa sang chiều rồi.
Hôm sau, một buổi sáng năm 247, tiếng cồng, trống vang lên khắp non ngàn Núi Nưa. 1 vạn quân và các tướng lĩnh gươm, giáo, trường thương, cung tên đứng nghiêm trang làm lễ tế cờ, một rừng cờ vàng tung bay theo gió trên đầu nghĩa quân. Một lá cờ lớn cũng màu vàng đề chữ “Soái” màu đỏ được kéo lên bay phần phật theo gió. Mọi người hướng về chiếc bàn lớn đặt trên bệ đất cao, trên bàn đặt linh vị các vua Hùng, linh vị hai Trưng Nữ Vương, các bát hương nghi ngút khói, những bát rượu được rót ra, trên bàn còn đặt những khay trầu cau, những bát đèn dầu lạc cháy lung linh. Triệu Quốc Đạt trong bộ võ phục màu nâu, áo giáp đồng, đội mũ nhọn đồng, đốt hương cắm lên bàn thờ và quỳ xuống. Một cụ già mặc áo dài đen, đầu buộc khăn đen quỳ bên cạnh Triệu Quốc Đạt và đọc bài văn tế theo tiếng đệm của tiếng trống và tiếng cồng. Cứ sau một hơi dài ê a của cụ già dứt thì tiếng trống, cồng lại nổi lên và Triệu Quốc Đạt lại vái lạy tổ tiên thánh thần, mong các cụ tổ tiên anh hùng và các bậc thánh thần thiên địa phù hộ cho con cháu thắng lợi, giành độc lập cho giang sơn xã tắc, cứu lê dân qua khỏi cơn nước sôi lửa bỏng của họa ngoại xâm.
Sau lễ tế cờ, ngay hôm đó, Triệu Quốc Đạt và Triệu Trinh Nương dẫn 1 vạn quân rời khỏi căn cứ đi về miền Giàng đánh thành Tư Phố. Triệu Trinh Nương đi tiên phong, mặc áo giáp đồng, chít khăn vàng, đầu đội nón ngà, lưng thắt dải lụa vàng, ngực che yếm vàng, chân đi guốc ngà, tóc cài trâm vàng, cưỡi voi trắng một ngà, hai bên hông mang hai thanh gươm, lưng mang cung tên, oai phong lẫm liệt và vô cùng xinh đẹp kiều diễm. 1 vạn quân đi rầm rập, bụi cuốn mù trời, cờ vàng bay phấp phới, giáo gươm tua tủa lên không trung. Triệu Quốc Đạt đi trung quân, tướng Lý Quốc và Lý Gia đi tả hữu, tướng Lý Sơn và Lý Hà đi hậu quân.Trên đường hành quân, thanh niên nô nức tòng quân. Bách tính dọc đường đem nước chè, nước sôi, xôi, bánh chưng ra đón nghĩa quân. Tiết trời đang mùa đông, gió lạnh thốc thổi. Khắp Cửu Chân và Châu Giao đang chấn động bởi cuộc khởi nghĩa ở Núi Nưa.
III
Quận Cửu Chân có con sông lớn nhất chảy qua là sông Mã và phụ lưu của nó là sông Chu. Sông Mã bắt nguồn từ nước Ai Lao, chảy qua Cửu Chân rồi đổ ra biển Đông bằng cửa chính là cửa Lạch Hới (giữa Hoằng Hóa và Sầm Sơn), thứ hai là nhánh đi qua Hoằng Hóa tạo nên cửa Lạch Trường, giữa Hậu Lộc và Nga Sơn, một nhánh tạo nên sông Lèn đi qua Yên Định, Hoằng Hóa, qua Hà Trung và Nga Sơn, còn nhiều phụ lưu khác tạo nên nhiều cửa phụ khác. Sông Mã dài khoảng 1024 dặm, qua Ai Lao khoảng 204 dặm, qua Cửu Chân khoảng 820 dặm. Phụ lưu của sông Mã là sông Chu bắt nguồn từ Sầm Nưa (Ai Lao, qua quận Quế Phong (Nghệ An) của Nhật Nam rồi chảy qua miền núi Cửu Chân như Thường Xuân, Thọ Xuân và hợp lưu với sông Mã ở Ngã Ba Giàng (Ngã Ba Đầu). Từ ngã Ba Giàng xuôi sông Mã xuống gặp một vùng đất rộng lớn bên hữu ngạn sông Mã, tre trúc cây cối xanh tươi. Đó là làng Giàng, nơi đứng sừng sững tòa trấn thành-thành Tư Phố, đó là nơi trấn trị đầu não của chính quyền Đồng Ngô ở quận Cửu Chân, nơi ở và cai trị của Thái Thú quận Cửu Chân Tiết Kính Hàn và quan Tư mã (phụ trách về quân sự) Mao Phong.
Tình hình Giao Châu nói chung và Cửu Chân nói riêng thời kỳ Đông Ngô cai trị rất loạn lạc. Dân tình không chịu nổi ách áp bức, bóc lột, đàn áp tăng lên gấp nhiều lần của nhà Đông Ngô so với các triều đại nhà Hán, cho nên đã nổi dậy chống lại khắp nơi. Đúng là “quan bức dân phản”. Từ Thứ sử Giao Châu Lã Đại cho đến bọn Tiết Kính Hàn, Mao Phong ăn không ngon, ngủ không yên, tìm cách đối phó nhưng hiện không có đối sách gì, nhất là đối với cuộc khởi nghĩa của hào trưởng Triệu Quốc Đạt và người em gái nổi tiếng của ông là Triệu Trinh Nương.
Sớm hôm này là sớm mùa đông nên thành Tư Phố vẫn chìm trong giá rét, gió bấc thổi như cắt da, cắt thịt. Cây cối quanh thành trút lá vàng tơi tả. Sông Mã vẫn đưa nước về Đông, nước chồm lên phi như vó ngựa chạy nước đại. Các dãy núi Ngũ Hoa, núi Voi, núi Ngựa, núi Rùa vươn đá xám lên trời, lãng đãng âm u chìm trong màn sương như khói. Xa xa ở phía Tây núi Trịnh và núi Vòm trắng xóa sương mù huyền ảo như xứ sở của thánh thần.
Phủ đường thành Tư Phố rộng lớn sang trọng mái lợp bằng ngói lưu ly màu xanh, cột bằng gỗ lim nâu bóng. Trong phủ đường bày biện bàn ghế sang trọng bằng gỗ lim, sến màu nâu bóng, chạm khắc hoa văn hình hoa, hình chim, thú tinh xảo, sống động. Tiết Kính Hàn, Mao Phong đang ngồi bàn công việc với các tùy tướng. Tiết Kính Hàn nói:
-Các ngài đã biết tình hình ở quận Nhật Nam và Cửu Chân rất nguy ngập. Ở quận Nhật Nam, quan lại người Ngô, thậm chí cả người Việt cộng tác với chúng ta đã bỏ chạy ra quận Giao Chỉ, thậm chí một số đã bỏ chạy về Quảng Châu. Ở quận Cửu Chân, nền cai trị của chúng ta cũng đang tan vỡ, quan lại và binh lính khiếp sợ trước uy danh của cuộc nổi loạn của Triệu Quốc Đạt và em là Triệu Thị Trinh. Núi Nưa chỉ cách Tư Phố 60 dặm đường, chỉ nay mai sớm muộn Triệu Quốc Đạt cũng tấn công Tư Phố. Tư mã Mao Phong phụ trách về quân sự của quận có kế sách gì tiêu diệt bọn loạn tặc họ Triệu không?
Mao Phong đáp:
-Mạt tướng đang định chiều nay đem quân vào Núi Nưa tiêu diệt loạn tặc Triệu Quốc Đạt.
Tiết Kính Hàn hỏi:
-Quân số của giặc Triệu là bao nhiêu?
Mao Phong:
-Khoảng 1 vạn.
Tiết Kính Hàn:
-Tư mã định đem đi bao nhiêu quân?
-Dạ bẩm thái thú, khoảng 2 vạn.
Tiết Kính Hàn băn khoăn:
-Vậy là Tư Phố không còn quân phòng vệ? Vả lại, Núi Nưa là miền núi rừng hiểm trở, thuận lợi cho địch mà khó khăn cho quân ta. Tư mã định tấn công thế nào?
Mao Phong còn im lặng chưa biết trả lời câu hỏi khó đó như thế nào. Bỗng một tên lính canh vào báo:
-Dạ bẩm Thái thú, có thám mã ở Núi Nưa về báo tình hình khẩn cấp.
Tiết Kính Hàn chồm lên:
-Cho vào ngay!
-Dạ.
Lát sau tên thám mã chạy vào, vừa thở vừa nói:
-Dạ bẩm Thái thú, Triệu Quốc Đạt và Triệu Trinh Nương dẫn 1 vạn quân đã tiến gần tới thành Tư Phố của chúng ta.
Tiết Kính Hàn kinh hãi sửng sốt:
-Hả?
Mao Phong nói:
-Xin Thái thú đừng lo, hạ quan đang định vào hang bắt cọp thì nay cọp tự mang xác đến, đỡ khó nhọc cho quân ta.
Mao Phong hỏi tên thám mã:
-Giặc Triệu đã đến đâu rồi?
-Còn cách thành Tư Phố của ta khoảng 10 dặm.
Tiết Kính Hàn hỏi:
Tư mã định phá giặc như thế nào?
Mao Phong suy nghĩ rồi đáp:
-Nếu giặc công thành ngay thì ta đem 2 vạn quân chọi 1 vạn, ta ưu thế về binh lực, các tướng đều võ nghệ cao cường, binh sĩ tinh nhuệ, chắc chắn là thắng bọn nông dân là giặc cỏ ô hợp.
Mao Phong dặn tên thám mã:-Ngươi phải theo dõi sát động tĩnh của giặc và báo cho bản Tư mã chính xác. Nếu chậm trễ hoặc sai sót cái đầu nhà ngươi khó giữ, rõ chưa?
-Dạ rõ.
Mao Phong nói với các tùy tướng:
-Các ngươi về chuẩn bị, lệnh cho toàn bộ quân đội sẵn sàng ra ngoài thành nghênh chiến giặc.
-Dạ bẩm Tư mã, tuân lệnh.
Mặt trời đã ngã về Tây, gần khuất sau dãy núi Trịnh, núi Vòm xa xa. Tiết Kính Hàn và Mao Phong nóng lòng chờ đợi tin tức của thám mã rồi mới hành động cho chính xác. Thám mã về báo:
-Dạ, bẩm Thái thú và Tư mã, giặc đã tới nơi nhưng chúng không tấn công thành, cũng không dàn trận nghênh chiến quân ta mà lại đóng trại và án binh bất động ngoài thành hai dặm.
-Thật vậy sao? Như vậy là giặc có ý gì?
Mao Phong nói:
-Mời Thái thú cùng mạt tướng lên mặt thành quan sát xem sao.
Tiết Kính Hàn, Mao Phong cùng vài tên lính hầu cận lên mặt thành quan sát. Trên bốn mặt thành quân Ngô đã đứng túc trực, cung tên, chất cháy, đá cục sẵn sàng trút xuống nếu quân Việt tấn công thành. Tiết kính Hàn và Mao Phong phóng tầm mắt nhìn xa. Từ không xa phía hữu ngạn sông Mã trại, trại của quân Việt san sát màu nâu, những làn khói nấu cơm chiều bay lên vật vờ trắng xóa, có thể thấy được cả ánh lửa hồng trong các bếp. Quân Việt nằm la liệt chung quanh trại hoặc có những tốp lính đi lại. Những con ngựa chiến tự do thoải mái đi lại nhởn nhơ gặm cỏ. Tiết Kính Hàn ngạc nhiên:
-Sao chúng không dàn trận đánh nhau hoặc tấn công thành mà lại nghỉ ngơi?
Mao Phong nói:
-Bẩm Thái thú, đây chỉ là một đạo quân ô hợp nông dân đói khổ, không có kỷ luật, vả lại hành quân từ Núi Nưa ra đây đi bộ 60 dặm chúng đã kiệt sức rồi.
-Vậy Tư mã định thế nào?
Mao Phong đáp:
-Đêm nay mạt tướng sẽ cho quân cướp trại quân Việt, yếu tố bất ngờ sẽ giúp tiêu diệt hết chúng.
Tiết Kính Hàn lo lắng:
-Hay là chúng bày kế cho quân ta cướp trại và mai phục tiêu diệt quân ta?
Mao Phong đáp:
-Cho dù có kế đó thì với ưu thế binh lực, quân ta vẫn áp đảo và đánh cho chúng đại bại, sẽ tiêu diệt không sót một tên.
- Tư Mã phải thận trọng. Bản Thái thú chờ tin thắng trận của Tư mã.
Đêm lùi dần về khuya. Màn đêm bao phủ khắp không gian đen thẫm. Trong doanh trại của quân Việt, những ánh lửa bập bùng. Nghĩa quân nằm la liệt khắp các trại mà ngủ. Mao Phong quan sát thì không thể nhầm lẫn được. Trong màn đêm 2 vạn quân Ngô đã dàn thành vòng vây dày đặc bao quanh doanh trại quân Việt. Quân Ngô như những bóng ma âm thầm tiến sát doanh trại quân Việt. Những mũi tên có lửa bay lên trời sáng rực. Nhận được tín hiệu, quân Ngô bốn phía ầm ầm lao vào chém giết. Tiếng chân người rung chuyển mặt đất, tiếng vũ khí khua ra sát khí. Quân Ngô đâm chém những con người đang ngủ. Nhưng khí thế của quân Ngô bỗng nhiên hụt hẫng. Những con người mà họ đâm chém là những người bằng rơm rạ. Trong doanh trại trống không không một bóng người. Mao Phong kêu to:
-Bị trúng kế mai phục rồi, rút nhanh!
Mao Phong chưa dứt lời thì những trận mưa tên của quân Việt phóng vào. Quân Ngô gục xuống chết chồng chất. Hết các trận mưa tên thì quân Việt từ bốn phía trong bóng tối nhất loạt xông ra chém giết. Trong bóng đêm, quân Việt buộc khăn trắng trên đầu để phân biệt với quân Ngô. Hai canh giờ đâm chém, 1 vạn quân Ngô bị giết chết, gục xuống như chuối bị chém. Quân Việt thẳng tay đâm, phạt, chém quân Ngô không thương tiếc. Tiếng reo hò làm đêm đông vang lên như sấm động. Trong đêm tối, Mao Phong thấy một nữ tướng cưỡi con voi trắng một ngà tả xung hữu đột. Voi dùng vòi cuốn lính Ngô vung lên cao rồi đập xuống, hoặc dùng chân dày cho đến chết. Còn chủ nhân trên lưng voi thì múa đôi song kiếm tỏa ra ánh hào quang sáng chói băm chết lính Ngô nào đến gần. Mao Phong dương cung bắn tên vào nữ tướng nhưng những mũi tên bị gió của làn gươm chém đứt văng ra. Quân Ngô khiếp sợ la lên:
-Nhụy Kiều tướng quân!
-Nhụy Kiều tướng quân!
Sau tiếng la hét, lính Ngô kinh hoàng xô nhau chạy. Mao Phong được các tùy tướng hết sức che chở, mở đường máu chạy vào thành Tư Phố. Xác Quân Ngô rải từ doanh trại quân Việt đến cổng thành Tư Phố chất ngổn ngang. Máu như suối tuôn xuống dòng sông Mã, trong ánh lửa ban đêm thấy đặc quánh đỏ ngầu. Quân Ngô chạy vào thành Tư Phố một cách hỗn loạn. Quân Việt truy sát ráo riết phía sau. Quân Ngô vội vã đóng cửa thành trong khi còn hai nghìn quân chưa vào kịp liền bị quân Việt giết không sót một tên. Quân Việt tạm dừng trước cổng thành Tư Phố nửa dặm. Thốt nhiên, trong thành một phát tên châm lửa sáng rực bay vút lên không trung. Cửa thành Tư Phố bỗng nhiên được mở toang. Quân Việt reo hò xông vào thành chém giết. Triệu Trinh Nương thúc voi xông vào thành. Theo sau là một vạn quân Việt ào ào đốt phá chém giết quân Ngô. Tiếng cồng chiêng vang lên rung không gian như sấm, tiếng reo hò vang động, những biệt thự, nhà cửa bùng cháy. Thành Tư Phố phút chốc chìm trong biển lửa, tiếng reo hò của quân Việt, tiếng la hét của quân Ngô trước khi bị giết thất thanh. Thành Tư Phố hoàn toàn thất thủ, quân Ngô đại bại. 1 vạn quân Ngô còn lại trong thành bị tiêu diệt, Tiết Kính Hàn và Mao Phong bị bắt.
Thì ra trước đó, Triệu Trinh Nương đã cho 100 quân Việt mặc quân phục quân Ngô. Khi quân Ngô đại bại trong việc cướp trại quân Việt, bị đánh tơi tả phải chạy về thành Tư Phố, 100 quân Việt trà trộn vào quân Ngô, chạy vào thành. Chờ khi quân Ngô đóng cổng thành, 100 quân Việt đã giết lính gác, mở cổng thành, bắn tín hiệu để quân Việt xông vào cướp thành mà không cần bao vây thành tốn sức. Thành Tư Phố bị hạ, chính quyền đầu não của Đông Ngô ở Cửu Chân hoàn toàn sụp đổ. Nghĩa quân đã hoàn toàn làm chủ quận Nhật Nam và quận Cửu Chân. Đó là một thắng lợi to lớn làm rung động toàn Giao Châu và chấn động Đông Ngô, chấn động kinh đô Kiến Nghiệp bên bờ Trường Giang.
Nhưng trong trận Tư Phố, nghĩa quân chịu một tổn thất lớn lao. Chủ tướng Triệu Quốc Đạt khi đốc quân tiến vào thành thì bị một mũi tên từ trong thành bắn trúng vào cánh tay, nhưng vì mũi tên có độc nên Triệu Quốc Đạt đã hy sinh trong vòng tay của các tùy tướng của mình. Trận đánh kết thúc, Triệu Trinh Nương mới biết huynh của mình tử trận. Bà thét lên một tiếng đau đớn và gục xuống thi hài của Triệu Quốc Đạt. Đội nữ binh dìu Triệu Trinh Nương đứng dậy, các tướng hết lời động viên khuyên nhủ chia buồn cùng Phó chủ tướng. Ngay đêm đó và ngày hôm sau, toàn quân để tang, cắt đầu Tiết Kính Hàn, Mao Phong đặt lên đàn tế vong linh Triệu Quốc Đạt và 2000 nghĩa quân đã hy sinh trong huyết chiến ở trận mai phục và trận hạ thành Tư Phố. Ngày hôm sau nữa, nghĩa quân đưa thi hài của Triệu Quốc Đạt và 2000 nghĩa binh về mai táng ở sườn núi Voi, hữu ngạn sông Mã. Triệu Quốc Đạt và các nghĩa sĩ đã trở về với đất mẹ, được bản nhạc của sóng gió sông Mã ru giấc ngủ thiên thu theo dòng thời gian bất tận.
Sau lễ tế vong linh, mai táng Triệu Quốc Đạt và các nghĩa sĩ hy sinh, Triệu Trinh Nương nói với tướng sĩ:
-Nay chủ tướng Triệu Quốc Đạt đã hy sinh, sự nghiệp chống giặc Ngô còn dang dở, rất cần một Chủ tướng để điều hành ba quân. Đề nghị các huynh bầu ra một chủ soái để đưa chúng ta đánh ra quận Giao Chỉ, lật đổ quân Ngô, giải phóng đất nước và báo thù cho Chủ tướng Triệu Quốc Đạt và những nghĩa sĩ đã hy sinh, những người dân Việt đã bị quân Ngô sát hại.
Tướng Lý Quốc nói:
-Nhụy Kiều tướng quân là Phó tướng, đủ tài đủ đức. Nay xin mời Phó chủ tướng ngồi vào ghế Chủ tướng để dẫn dắt huynh đệ chúng tôi tới thắng lợi.
Lý Quốc dứt lời, 1 vạn nghĩa binh hô vang:
-Xin Nhụy Kiều tướng quân ngồi vào ghế Chủ tướng đưa chúng tôi tiếp tục tiến ra Giao Chỉ giết giặc Ngô cứu nước.
Toàn quân lại hô vang:
-Chúc mừng Chủ tướng!
-Chúc mừng Chủ tướng!
Triệu Trinh Nương chắp tay và nói:
-Đa tạ các huynh đệ và tướng sĩ đã tín nhiệm. Ta sẽ cố hết sức cùng các huynh đệ và tướng sĩ ra sức giết giặc Ngô, thỏa lòng mơ ước và hoài bão của chúng ta, đáp ứng lòng mong mỏi của bách tính Lạc-Hồng.
Đó là năm 247, Triệu Trinh Nương trở thành trụ cột của phong trào khởi nghĩa lớn nhất ở Giao Châu chống nhà Đông Ngô thế kỷ III. Từ Tư Phố, Triệu Trinh Nương đã sai các thám mã về các địa phương truyền mệnh lệnh, cắt cử các hào trưởng người Việt và thủ lĩnh nghĩa quân nắm lấy chính quyền các cấp thay cho chính quyền Đông Ngô đã sụp đổ, bảo vệ nhân dân để nhân dân an cư lạc nghiệp. Triệu Trinh Nương dự tính sẽ đem quân ra đánh Luy Lâu, giải phóng Giao Chỉ, đưa cuộc khởi nghĩa chống Đông Ngô lan tràn cả nước.
IV
Cuộc nổi dậy của nhân dân quận Cửu Chân do Triệu Trinh Nương lãnh đạo đã làm rung động Châu Giao và chấn động cả triều đình Đông Ngô ở Kiến Nghiệp trên bờ Trường Giang. Vào một buối sáng năm 247, Tôn Quyền phải thiết triều để bàn đối sách đối với Châu Giao, cử quân tướng sang đàn áp. Khi bá quan văn võ đã đông đủ, Tôn Quyền nói:
-Đất Giao Châu trong đó có các quận Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam tuy xa xôi nhưng đông người nhiều của, nhiều vàng bạc châu báu, rất quan trọng đối với Đông Ngô ta. Mấy năm chiến tranh liên miên với Ngụy, Thục, Giao Châu đã cung cấp biết bao nhiêu lính tráng, phu phen và của cải, tiền bạc, góp phần làm cho Đông Ngô tồn tại và phát triển phồn vinh như ngày nay. Các khanh không biết điều đó sao?
Ngừng một lát, Tôn Quyền nói tiếp:
-Tuy nhiên trưng thu nhiều, sưu cao thuế nặng, đồng hóa giết chóc nhiều thì gây hờn oán nhiều cho dân Việt xứ ấy. Vì thế, ta đã sai Lữ Đại là một người hiểu biết đạo Nho, giỏi vỗ về cai trị làm Thứ sử Châu Giao, Tiết Kính Hàn cũng là đồ đệ của Nho Gia làm Thái thú quận Cửu Chân để vỗ về dân Việt, để vừa trưng thu được nhiều của cải nhưng dân Việt vẫn không phản đối. Nhưng Lữ Đại và Tiết Kính Hàn cũng là đồ vô dụng. Kết quả, quận Nhật Nam và Cửu Chân phản loạn, chính quyền hai quận đó sụp đổ. Thái thú, Huyện lệnh các huyện là người Ngô chạy trốn hết về Quảng Châu. Thái thú Tiết Kính Hàn, Tư mã và hàng vạn quân ở thành Tư Phố bị tiêu diệt, Thứ sử Lữ Đại mất tích đi đâu không rõ tung tích. Quận Giao Chỉ đang bị đe dọa hàng ngày. Nếu mất Giao Châu sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến Đông Ngô, ảnh hưởng đến sức mạnh của ta trong cuộc chiến tranh với Ngụy, Thục, mất Giao Châu chúng ta sẽ mất một hậu phương cực kỳ quan trọng. Các khanh có kế sách gì để bình định Giao Châu chăng?
Một viên quan đứng dậy. Mọi người nhìn ra thì là quan Thái sử Gia Cát Khác, con Gia Cát Cẩn. Gia Cát Khác nói:
-Bẩm chúa công, Giao châu là đất của người Lạc Việt và Âu Việt. Dân xứ này nóng nực nên rất ương ngạnh và bất khuất. Dù trải qua 200 năm bị các triều Tây Hán, Đông Hán cai trị nhưng chưa bao giờ dân xứ đó chịu khuất phục. Năm 40, hai chị em Trưng Nữ Vương đã lật đổ chính quyền nhà Đông Hán và xây dựng độc lập được 3 năm. Năm 43, Hán Quang Vũ Đế phải dùng Phục Ba tướng quân Mã Viện. Mã Viện vừa dùng sức mạnh, vừa dùng mưu kế mới thu lại được miền đất Giao Châu. Nay Giao châu phản loạn lại do một nữ tướng tài ba lãnh đạo. Thần nghĩ phải cử một tướng tài ba như Mã Viện, vừa dùng quân sự và mưu trí thì mới thắng lợi được.
Tôn Quyền gật đầu:
-Khanh nói phải. Nhưng Đông Ngô ta tìm đâu cho được một tướng tài như Mã Viện ngày xưa?
Gia Cát Khác tiến cử:
-Bẩm chúa công, người đó không ai khác ngoài quan Ngự sử Lục Dận, cháu gọi Đại Đô đốc danh tiếng Đông Ngô ta là Lục Tốn bằng bác.
Tôn Quyền hỏi, đưa mắt tìm trong số các quan văn võ ngồi dưới:
-Quan Ngự sử Lục Dận đâu?
Một người đàn ông khoảng 50 tuổi, lực lưỡng, mặt vuông, mắt gian xảo đứng dậy:
-Dạ bẩm chúa công, hạ thần là Lục Dận.
Tôn Quyền hỏi:
-Theo lời của quan Thái sử Gia Cát Khác, quan Ngự sử có tài năng như ông bác của khanh là Lục Tốn chăng?
-Dạ bẩm chúa công, thần là cháu của Đại Đô đốc Lục Tốn, tài không dám so sánh với bậc chú bác, nhưng nếu chúa công tin tưởng cho thần đi Giao Châu thần sẽ không làm hổ danh nhà họ Lục.
Tôn Quyền cười ha hả:
-Khá lắm, nay phong cho khanh chức Thứ sử Giao Châu kiêm Hiệu úy, toàn quyền về dân sự, hành chính và quân sự, đem 5 vạn quân thủy bộ dẹp loạn Triệu Thị Trinh để Giao Châu vẫn nằm trong Đông Ngô của ta.
Đoạn Tôn Quyền quay sang bảo quan Thượng thư bộ lại:
-Trao ấnThứ sử và ấn Hiệu úy cho Lục Dận để sớm ngày mai xuất phát Nam chinh!
-Dạ, thần tuân lệnh chúa công.
Vào một buổi sáng, trên bờ Trường Giang, gần kinh đô Kiến Nghiệp, đạo quân thủy của Lục Dận theo sông Trường Giang ra biển, theo đường sông Bạch Đằng, vào Lục Đầu Giang Giao Chỉ, đạo bộ binh đi đường Quảng Châu, theo đường huyện Ngô Hưng mà vào Thủ phủ Luy Lâu.
Sau khi vào Luy Lâu, việc làm đầu tiên của Lục Dận là bình định, giữ vững quận Giao Chỉ, không cho thế lực của Triệu Trinh Nương lan rộng ra. Thực hiện kế hoạch đó, Lục Dận phái 2 vạn quân chặn con đường thiên lý từ Cửu Chân đi ra Giao Chỉ ở Yên Mô, huyện Vô Thiết, Cửu Chân. Mặt khác, Lục Dận dùng nhiều vàng bạc và chức vụ mua chuộc hào trưởng và các thủ lĩnh người Việt ở quận Giao Chỉ. Bên cạnh đó, Lục Dận dùng quân sự đàn áp chém giết những ai bị nghi ngờ chống đối quân Ngô. Vì thế, hàng vạn dân và thủ lĩnh, hào trưởng ở Quận Giao Chỉ đã bị giặc Ngô khống chế, khuất phục, hoặc không dám công khai ủng hộ nghĩa quân.
V
Thấy chưa thể tiến ra Giao Chỉ tấn công thành Luy Lâu, từ thành Tư phố, Triệu Trinh Nương cho quân tiến ra xây dựng căn cứ Bồ Điền, huyện Dư Phát, quận Cửu Chân. Bồ Điền là căn cứ có thể tấn công ra Giao Chỉ qua ngã Thần Phù, có thể dựa vào địa thế hiểm trở để cố thủ. Thung lũng Bồ Điền nằm giữa hai núi đá vôi, dãy Châu Lộc phía Bắc là đoạn cuối của núi chạy từ Hòa Bình vào, ngăn địa giới huyện Câu Lậu, Giao Chỉ và Cửu Chân. Dãy thứ hai là dãy núi Tam Đa ở phía Nam thung lũng, là đoạn chót của dãy núi chạy từ Tây Bắc về Nam sông Mã. Bồ Điền còn là căn cứ khi cần nghĩa quân có thể ngược dòng sông Lèn, sông Âu ra sông Mã về Quân Yên và về Núi Nưa. Trên núi Chung Chinh của Bồ Điền, nghĩa quân đã xây dựng bảy đồn lũy và một đồn quân doanh của Triệu Trinh Nương.
Vào một buổi sáng, trong Tổng hành dinh của Triệu Trinh Nương, thám mã vào báo:
-Bẩm Nhụy Kiều tướng quân, tướng Ngô Lục Dận đang tiến vào Cửu Chân theo hai đường, đạo quân bộ tiến theo đường Tạc Khẩu, qua hành lang Hoằng Lương-Chính Đại-Bạch Ác, ngược sông Lèn đánh vào Bắc Bồ Điền, đạo Thủy quân theo đường biển, qua của sông Sung, cửa Lạch Trường đánh vào phía Nam Bồ Điền của chúng ta.
Triệu Trinh Nương nói:
-Cảm tạ huynh. Ta đã có cách phá giặc.
-Dạ.
Triệu Trinh Nương cho 1 vạn quân chấn giữ phía Nam Bồ Điền, còn tự cầm 1 vạn quân tiến ra phía Bắc chống Lục Dận. Triệu Trinh Nương cưỡi voi trắng một ngà đi đầu, dẫn 1 vạn quân hành quân theo đường sông Lèn, sông Đào lên Yên Mô, huyện Vô Thiết, quận Cửu Chân dàn trận ở một khu đất bằng phẳng nhưng hai bên có núi non hiểm trở. Đó là Núi Tam Điệp và phía Nam là đồi bãi của vùng Đồng Giao rậm rạp. Trong một buổi chiều mùa đông, 5000 quân Việt dưới những lá cờ vàng óng tung bay phần phật chặn ngang đường tiến quân của 3 vạn quân Lục Dận. Khi lại gần quân Việt, Lục Dận cho dàn quân theo hình chữ nhất. Lục Dân biết đang đối mặt với người nữ Chủ tướng nổi tiếng là Triệu Trinh Nương, của một đội quân nổi tiếng. Quả nhiên, Lục Dận thấy lời đồn đại không sai, đó là một nữ tướng cực kỳ kiều diễm xinh đẹp. Trang phục của Triệu Trinh Nương toàn một màu vàng, áo chiến bào vàng, áo giáp đồng vàng, mũ đồng vàng có thắt khăn tang màu trắng để tang Triệu Quốc Đạt hy sinh trong trận Tư Phố. Con voi trắng một ngà mà Triệu Trinh Nương cưỡi nom rất hung dữ. Trên con voi và Triệu Trinh Nương, lá cờ màu vàng thêu chữ soái màu đỏ chói tung bay phần phật. Tuy nhiên, điều làm cho Lục Dận yên tâm là quân Việt chỉ khoảng 5000 người so với 3 vạn quân của y thì quân Ngô có ưu thế binh lực rất lớn. Lục Dận thét lớn:
-Có ai ra bắt Triệu nữ tặc cho ta?
Một tướng Đông Ngô võ phục màu đen, cưỡi ngựa đen, múa ngọn giáo xông ra. Bên quân Việt, tướng Lý Gia võ phục màu nâu, cưỡi ngựa màu nâu, tay vung trường thương xông ra như gió, miệng quát:
-Bọn chó Ngô hãy đền tội.
Hai ngựa và người xáp nhau, giáo chạm vào trường thương tóe lửa kêu lên tiếng sắt thép. Quân hai bên reo hò vang động hòa cùng âm thanh vang rung không khí của tiếng cồng. Chỉ 10 hiệp, tướng Đông Ngô Mã Giang Long bị Lý Gia đâm một thương ngã ngựa. Trong hàng ngũ quân Việt, một mũi tên châm lửa bắn lên trời. Quân Ngô còn đang ngơ ngác thì Triệu Trinh Nương trỏ kiếm về phía trước thét to, giọng nữ vang lên lảnh lót:
-Toàn quân xông lên giết giặc Ngô trả thù nhà nợ nước!
Chủ tướng chưa dứt lời, con voi một ngà đã xông lên dùng vòi cuốn lấy quân Ngô tung lên trời, chân thì xéo xác quân thù. 5000 quân Việt dũng mãnh xông lên nhất tề chém giết. Trong khi đó, bên đồi Tam Điệp cánh hữu và đồi Đồng Giao cánh tả mỗi bên 2000 quân tràn xuống đánh vào hai sườn quân Ngô. Quân Ngô dù đông nhưng bị lọt vào vòng vây, bị đánh ba bên tối tăm mặt mày, tan vỡ đội hình tháo chạy về phía Bắc. Quân Việt thỏa sức tung hoành chém giết. Thân người gục như chuối bị chém, máu chảy thành sông. Đất Yên Mô trời đất mịt mờ, không gian rung động trong tiếng reo hò, hòa với những âm thanh như sấm rền của cồng, chiêng. Đó là trận giáp lá cà khủng khiếp nhất trong lịch sử chiến tranh Ngô-Việt. Chỉ đến chiều tối, khi quân Ngô chạy hết về phía Bắc, quân Việt mới ngừng chiến. Quân Ngô bỏ lại trên chiến trường Yên Mô 1 vạn xác chết. Quân Việt 2000 nghĩa binh đã hy sinh để trả thù nhà nợ nước.
Sau trận huyết chiến ở Yên Mô, Vô Thiết, quân Đông Ngô bị tổn thất nặng nề, 1 vạn quân bị giết chết, nhưng thất bại nặng nề nhất là về tinh thần. Quân Đông Ngô hoàn toàn khiếp đảm trước lối đánh táo bạo dũng mãnh của quân Việt, đặc biệt là nữ Chủ tướng của họ. Khi con voi trắng một ngà xung trận thì ngựa chiến của Đông Ngô hoảng sợ quay đầu chạy làm cho các tướng Đông Ngô không thể giao chiến được. Con voi trắng đã dùng vòi dài cứ một lần cuốn vài ba lính Ngô tung lên trời quật xuống hoặc dùng chân dày xéo cho chết. Lại thêm chủ nhân của nó là một nữ tướng kiều diễm nhưng phi thường, múa đôi kiếm dài tỏa ánh hào quang như cái máy chém quân Ngô tơi tả. Một vài tướng Ngô đã bắn tên trộm vào Triệu Trinh Nương, nhưng đường gươm nhanh như gió đã chém các mũi tên văng xuống đất. Trong xung trận, cứ gặp voi trắng và chủ nhân của nó thì quân Ngô chưa đánh đã hỗn loạn, chạy tan tác. Quân Ngô đặt cho Triệu Trinh Nương một biệt danh kính trọng là “ Lệ Hải Bà Vương” và truyền tụng một câu trong toàn quân:
“Hoành qua đương hổ dị
Đối diện bà Vương nan”.
Lục Dận sai tiểu tướng của mình về Đông Ngô xin Tôn Quyền tăng viện. Tôn Quyền tăng cho Lục Dận thêm 2 vạn tinh binh và các tướng cao thủ của Đông Ngô và chỉ dụ cho Lục Dân phải tiêu diệt được Triệu Trinh Nương bằng mọi giá.
Sau trận Yên Mô, dù tiêu diệt được nhiều sinh lực địch nhưng quân Việt cũng tổn thất nặng nề. Triệu Trinh Nương biết chưa đủ lực lượng tấn công ra Giao Chỉ liền lui quân về căn cứ Bồ Điền để bổ sung lực lượng. Lục Dận được tăng viện, tiến đánh Bồ Điền bằng hai mặt, mặt Bắc từ Yên Mô đánh thẳng vào, mặt Nam từ cửa Lạch Trường đánh vào nhằm ngăn chặn không cho Triệu Trinh Nương rút về căn cứ Núi Nưa theo đường sông Mã. Lục Dận xây dựng những cứ điểm, canh phòng nghiêm ngặt, không cho nhân dân quanh vùng Bồ Điền bổ sung lực lượng hoặc tiếp tế lương thực cho nghĩa quân. Trong 6 tháng ròng bao vây, Lục Dận mở 30 trận công phá vào Bồ Điền. Cả 30 trận, quân Việt từ sau các tường thành chiến lũy dùng tên và đá hộc bắn và ném ra như mưa, quân Ngô tổn thất nặng nề. Trong khi đó đạo quân phía Nam cũng không làm được gì trước chiến lũy kiên cố.
Tấn công quân sự khó khăn, Lục Dận liền nghĩ tới kế ly gián và mua chuộc. Hắn cho rằng đã là con người thì ai cũng ham sống sợ chết, ai cũng ham công danh và phú quý, quyền cao chức trọng. Triệu Trinh Nương cũng là con người và có thể là một con người như thế. Nghĩ vậy, Lục Dận cho rằng trước hết hãy mua chuộc Nhụy Kiều Tướng quân. Hắn ra lệnh cho tùy tướng đem giấy, bút, mực đến và chong đèn trong Tổng hành dinh rất khuya để viết thư. Sáng hôm sau, Triệu Trinh Nương đang ngồi trong Tổng hành dinh để bàn cách phòng thủ chống địch thì một thám mã vào báo:
-Bẩm Chủ tướng, có một bức thư của quân Đông Ngô gửi cho Chủ tướng.
-Ai đưa đến?
-Dạ, thư được buộc vào tên và bắn ghim vào gốc cây gần căn cứ của ta.
Người lính trình thư lên. Triệu Trinh Nương mở thư đọc. Trong thư Lục Dận viết: “Kính gửi Nhụy Kiều tướng quân, tại hạ là Lục Dân, Thứ sử kiêm Hiệu úy tổng binh Giao Châu. Tại hạ nghe danh của Ngụy Kiều tướng quân từ lâu, rất lấy làm khâm phục chí lớn và tài năng của Nhụy Kiều tướng quân. Với tài năng đó, con đường vinh hoa, phú quý của Nhụy Kiều tướng quân thật rộng mở. Nay nếu như Nhụy Kiều tướng quân đem tài năng đó phục vụ cho nhà Đông Ngô ta thì tại hạ bảo đảm tâu Ngô Hầu phong Nhụy kiều tướng quân làm Phó Thứ sử Giao Châu, kiêm phó Hiệu úy, phó Tổng binh, kiêm Thái thú quận Cửu Chân, vinh hoa phú quý cực phẩm một thời, đồng thời vinh thăng tước hiệu “Lệ Hải Bà Vương” để ghi dấu ấn muôn thuở, cũng là chấm dứt được nạn binh đao, mang lại hòa bình cho bách tính Châu Giao thì thật là vạn phúc. Mong Nhụy Kiều tướng quân suy tính thiệt hơn. Tại hạ chờ thư phúc đáp.
Nay kính thư.
Thứ sử kiêm Hiệu úy Tổng Binh Giao Châu: Lục Dận”.
Triệu Trinh Nương đọc thư xong, giận tím mặt, đập tay xuống bàn:
-Bọn chó Ngô dám xem thường người Việt ta vậy sao? Mau đem giấy mực ra đây!
Vệ nữ vội đem giấy bút mực ra. Triệu Trinh Nương ngồi xuống bàn viết trong cơn giận dữ. Vệ nữ ngắm trộm chủ tướng. Trong khi tức giận nom Nhụy kiều tướng quân càng thêm xinh đẹp.
Hôm sau, ngoài căn cứ Bồ Điền, một tên lính Ngô nhặt được một bức thư cũng do mũi tên ghim vào gốc cây. Tên thám mã đem thư về trình Lục Dận. Lục Dận mở thư đọc: “ Trong cõi thiên địa bao la, trời đã vạch sẵn giang sơn ranh giới đất đai cho mọi giống người để lập nên những quốc gia xã tắc riêng biệt. Trong quốc gia độc lập đó, cùng nòi giống nên mới thương yêu chăm lo được bách tính của mình sao cho đủ ăn, đủ mặc, sống giản dị thanh bình, sinh con sinh cháu để duy trì nòi giống. Nay các vua chúa nhà Hán rồi lại đến nhà Đông Ngô các ngươi không hiểu đạo trời, bất chấp đạo lý đơn giản đó, cậy sức mạnh người đông đi chiếm giang sơn xã tắc của người Việt, đẩy dân Việt vào muôn trùng khổ ải và đứng trước họa diệt vong nòi giống. Ta đây sinh ra là người Viêt, sống trên đất Việt, nguyện đem hết sức quyết sống mái với giặc Ngô tàn bạo các ngươi để mong đem lại giang sơn cho người Việt. Nếu ngươi biết lẽ phải của con người và đạo trời, hãy rút quân về, trả non sông cho người Việt. Đó không chỉ là phúc phận của dòng họ Lục nổi tiếng nhà ngươi, phúc cho dân Đông Ngô và hiển nhiên đó cũng là phúc cho người Việt. Sử sách Ngô và Việt sẽ ghi mãi công lao của ngươi. Ngươi hãy suy xét, bỏ gian tà phi nghĩa mà hành hiệp trượng nghĩa. Vinh hoa phú quý có nghĩa lý gì khi mà dân tộc bị nô lệ và lầm than. Nếu ngươi vẫn đi theo sự tam tàn bạo ngược, đi cướp nước người khác như cha ông ngươi thì ta quyết với ngươi một trận tử chiến.
Kính thư-Triệu Thị Trinh.”
Lục Dân đọc thư xong, giận đến mức chân tay run lẩy bẩy, đập bàn quát:
-Nữ tặc thật là ngang ngạnh. Ta mua chuộc ngươi không được thì ta sẽ mua chuộc tùy tướng của ngươi. Ở nước ta, thời nào cũng có Ngô gian, Hán gian tham vàng bán nước thì ở nước ngươi ta tin rằng thời nào cũng có Việt gian tham vàng, tham vinh hoa phú quý mà bán nước, Ha!Ha!Ha!...
Từ đó, đột nhiên hàng ngày trong căn cứ của nghĩa quân ở Bồ Điền liên tục có nhiều bức thư của quân Ngô theo những mũi tên bắn vào. Các tướng sĩ của nghĩa quân theo lệnh của Triệu Trinh Nương nhặt được thư không được đọc mà đem đốt đi. Mọi người biết đó là những bức thư mua chuộc, dụ dỗ để các tướng sĩ phản bội nghĩa quân, phản bội dân tộc Việt. Nhưng có một tiểu tướng của quân Việt là Lâm Tiểu Khẩu. Hắn không đốt thư như quy định mà lấm lét nhìn quanh, khi biết không có ai trông thấy, hắn lén lút cho thư vào tay áo, tìm chỗ vắng người bóc thư ra đọc. Thư viết: “ Gửi các tướng sĩ người Việt. Ta biết bọn quan Hán và Đông Ngô trước đây gây ra nhiều tội ác với dân Việt. Các ngươi vì căm phẫn nhất thời mới theo Triệu Thị Trinh. Nay bản Thứ sử tới chinh phạt, đã đang và sẽ chiến thắng trong nay mai. Nếu các người chịu làm nội ứng, hợp tác với bản Thứ sử, ta sẽ bảo đảm cho 1000 cây vàng cùng với chức quan Thái thú quận Cửu Chân, ngươi và gia tộc sẽ vinh hoa phú quý cực đỉnh. Vả lại, sau khi bình định được giặc Triệu Thị Trinh, ta sẽ là Thứ sử cai trị Giao Châu, ta bảo đảm sẽ mang lại no ấm và hạnh phúc cho bách tính người Việt. Ngô, Việt là anh em một nhà. Chờ thư hồi âm.
Thứ sử kiêm Hiệu úy Tổng binh Giao Châu: Lục Dận”
Lâm Tiểu Khấu bị số vàng bạc và chức tước trong thư mê hoặc, chân tay hắn run lẩy bẩy như đang có 1000 cây vàng trong tay, mắt hắn hoa lên mơ tưởng đang ngồi trên ghế Thái thú Cửu Chân oai vệ ở thành Tư Phố. Hắn tìm chỗ kín đáo viết một bức thư cho Lục Dận và bí mật bắn ra ngoài cho quân Ngô. Quân Ngô nhặt được thư đem về trình Lục Dận. Lục Dận mở thư ra đọc. Thư viết: “Kính bẩm quan Thứ sử Giao Châu kiêm Hiệu úy Tổng binh Lục Dận. Tôi là tiểu tướng trong quân của Triệu Thị Trinh. Nay nếu như Thứ sử giữ lời hứa thưởng vàng bạc và chức tước như thư ngài đã viết, tôi xin làm nội ứng. Giờ tý đêm mai, tôi và anh em chúng tôi sẽ mở toang cửa ở phía Bắc và ở phía Nam căn cứ Bồ Điền để quân Ngô xông vào chém giết. Sau khi thắng lợi xin ngài Thứ sử không được quên anh em chúng tôi. Tín hiệu khi mở cửa xong sẽ là những phát tên có lửa bắn lên trời.
Nay kính thư: Lâm Tiểu khấu”.
Một ngày ở vùng Bồ Điền trôi đi nhanh chóng và đêm xuống dần. Đầu mùa xuân gió về đêm se lạnh. Gió khua cây cối rung lá xào xạc. Núi rừng và không gian nhuộm một màu đen đặc. Những vì sao nhấp nhánh trên bầu trời. Những tốp nghĩa quân vẫn đi tuần nghiêm ngặt quanh căn cứ Bồ Điền. Kể cả cửa phía Bắc và phía Nam của căn cứ cũng đã thay lính gác nhiều ca. Đến canh ba giờ tý, một tốp lính gác do Lâm Tiểu Khấu thay ca ở cửa phía Bắc và một tốp là tay chân của hắn thay ca ở cửa phía Nam. Hai cửa này là tử huyệt của căn cứ Bồ Điền, đi thẳng vào trung tâm căn cứ và Tổng hành dinh của Triệu Trinh Nương. Sau khi mở cửa, bọn Lâm Tiểu Khấu bắn lên trời những phát tên châm lửa. Một người lính trông thấy quát lên:
-Ngươi, ngươi làm phản…
Nhưng tiếng của người lính tắc nghẽn vì bị một nhát gươm của Lâm Tiểu Khấu đâm xuyên bụng, người lính ngã vật xuống, một vài người lính đã chạy thoát. Cùng lúc đó, quân Ngô đã bí mật bò sát vào gần cửa Bắc và cửa Nam, trông thấy tín hiệu tên lửa làm ám hiệu đã nhất tề đứng lên ào ạt xông vào căn cứ Bồ Điền chém giết. Quân Việt bị đánh bất ngờ và bị ép cả hai hướng nhưng không hề run sợ, quơ gươm đã đặt sẵn gần nơi ngủ vung dậy chiến đấu mãnh liệt. Các lán trại của quân Việt phút chốc bị đốt cháy soi sáng cuộc hỗn chiến chém giết hỗn loạn trong thung lũng, gươm dao chạm nhau tóe lửa, sáng loáng, thây người đổ gục, máu phun đỏ ối. Tiếng reo hò kinh thiên động địa như thung lũng đang sụt lở. Khắp nơi, xác người ngổn ngang, máu chảy thành suối.
Đang trong Tổng hành dinh thì nghe náo động bên ngoài, Triệu Trinh Nương biết là có biến. Đội cận vệ đã dắt voi trắng đến. Triệu Trinh Nương bao giờ cũng mặc chiến bào và áo giáp sẵn, chỉ cần đội mũ và mang gươm là phi người lên voi. Đội cận vệ và Triệu Trinh Nương mở đường máu đánh ra. Đội vệ binh vung gươm bổ vào giặc Ngô như chém chuối. Voi trắng một ngà giơ vòi cuốn nhiều tên giặc và quật chết một lúc. Đôi gươm của Triệu Trinh Nương cuốn như gió giết không biết bao nhiêu tên địch. Đội cận vệ và Triệu Trinh Nương khắp mình đều đỏ vì máu giặc, nhìn kỹ thì mọi người đã lên đến núi Tùng. Trên cao, Triệu Trinh Nương nhìn xuống, căn cứ Bồ Điền đang cháy tan hoang. Xác người chồng chất quân Việt lẫn quân Ngô. Triệu Trinh Nương biết trong số đó 1 vạn nghĩa quân thân yêu của mình đã nằm xuống. Triệu Trinh Nương biết rằng sự nghiệp đại nghĩa cứu nước đã hoàn toàn thất bại, không thể cứu vãn được nữa. Triệu Trinh Nương đưa mắt nhìn toàn cảnh Bồ Điền lần cuối: Núi non sơn hà gấm vóc trùng điệp. Xa xa là miền Tư Phố, miền Quân Yên-quê hương yêu dấu đã ghi dấu ấn một thời niên thiếu, thời thiếu nữ tươi đẹp nhưng đầy giông bão, xa hơn nữa là Núi Nưa, nơi khởi đầu sự nghiệp cứu nước, cứu dân. Trời xanh thăm thẳm mênh mông đen tối. Biết bao giờ mối quốc thù mới được rửa sạch, bao giờ dân Việt mới khỏi ách nô lệ, non sông xã tắc mới được độc lập tự do. Thôi đành trông chờ vào hậu thế.
Triệu Trinh Nương đột nhiên rút gươm ra và quyên sinh. Đội nữ binh cận vệ kêu lên đau đớn:
-Đừng, Nhụy Kiều Tướng quân!
-Đừng, Nhụy Kiều tướng quân!
Thốt nhiên trời tối xầm lại, gió thổi ù ù. Trên không trung như có tiếng nhã nhạc và tiếng nói vang vọng:
-Ta là Trưng Nữ Vương. Ta đến đón Triệu Thị Trinh, đứa cháu anh hùng của ta đây.
Kèm theo đó là tiếng sấm rền vang, chớp giật từng cơn sáng lóa khắp vùng. Rồi trời đất trở lại yên tĩnh. Đội nữ vệ binh mở mắt ra thì không thấy Triệu Trinh Nương và con voi trắng một ngà đâu nữa. Đội cận vệ nói:
-Hai Bà Trưng đã đón Chủ tướng Nhụy Kiều Tướng quân và chú voi trắng về cõi thánh thần rồi.
Hôm đó là ngày 21 tháng 2 Mậu Thìn (năm 248). Triệu Trinh Nương khi đó tròn 23 tuổi.
Bằng mọi thủ đoạn hèn hạ, cuối cùng Lục Dận đã chiến thắng. Tuy vậy, Lục Dận cũng vô cùng kinh hãi trong trận Bồ Điền, 2 vạn quân Ngô đã chết trong trận giáp lá cà với 1 vạn quân Việt trong thung lũng không rộng lớn này. Còn đang suy nghĩ mông lung thì một tên lính Ngô vào báo:
-Dạ bẩm Thứ sử, tên tiểu tướng Việt làm nội ứng cho chúng ta đã bị hành hình rồi.
-Ai giết hắn?
-Không rõ, xin Thứ sử ra xem.
Lục Dận đi ra theo tên lính.Cách căn cứ Bồ Điền một dặm, tên Lâm Tử Khấu đã bị mổ bụng phanh thây, moi hết gan ruột, cổ bị buộc thừng, xác bị treo lên khóm tre, dưới có dòng chữ viết bằng chính máu của tên phản bội vào tấm gỗ: “ Kẻ nào bán nước, làm nội gián cho giặc mong vinh thân phì gia thì hãy nhìn gương thằng Việt gian phản bội này.”
Lục Dận ớn lạnh toàn thân. Hắn biết rằng chiến thắng của hắn năm 248 này chỉ là tạm thời, còn nền thống trị của Đông Ngô dù được tái lập lại trên đất nước Việt này cũng chỉ là tạm thời mà thôi. Một đất nước mà có những phụ nữ anh hùng bất khuất như hai Trưng Nữ Vương, như Triệu Trinh Nương thì thật là kỳ lạ và sẽ không bao giờ khuất phục ngoại bang.