NHÀ TRẦN ĐÁNH GIẶC NGUYÊN-MÔNG LẦN THỨ NHẤT (1258).
Mùa Đông năm 1257, kinh thành Thăng Long chìm trong giá rét. Mái ngói của các cung điện lâu đài màu xám thấp thoáng dưới bóng những cây cổ thụ xà cừ, những cây bàng lá đỏ lá vàng bay lả tả còn trơ những cành khẳng khiu dưới bầu trời xám. Sông Hồng nước vẫn đỏ nhạt phù sa lững lờ trôi ra biển, vài con thuyền trôi xuôi ngược như những kiếp bèo. Làng xóm ven sông uốn quanh như những bức tranh thủy mạc cô liêu đợm buồn trong giá rét. Trong Long Phượng Thành, mái ngói tường vôi xám theo dòng thời gian sương nắng và trong các cung điện người xưa không còn, triều đại xưa nhà Lý đã không còn sau 216 năm tồn tại và cống hiến. Ngai vàng từ triều Lý đã chuyển sang họ Trần từ năm 1225, đến nay đã là năm 1257. Nhà Trần mà cụ thể là Trần Thái Tông đã lên ngai vàng thay Lý Chiêu Hoàng được 32 năm, kể từ khi vua cuối cùng của Triều Lý là Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh.
Như một quy luật, một triều đại, một chế độ trước khi diệt vong thì suy yếu và biến loạn. Nhà Lý cũng không ngoài quy lật đó. Lý Cao Tông đã giết trung thần Phạm Bỉnh Di. Từ đó gây ra một cuộc chiến cung đình tranh giành quyền lực giữa các phe phái dòng họ: họ Đàm, họ Đoàn, họ Quách và họ Trần. Năm 1209, họ Trần-Trần Lý, một hào trưởng có thế lực lớn ở Long Hưng đã hộ tống hoàng tử Sảm, con rể của Trần Lý về Thăng Long và lên ngôi, đế hiệu là Lý Huệ Tông. Lý Huệ Tông phong Trần Thị Dung, con gái của Trần Lý làm hoàng hậu. Từ đó quyền lực triều đình lọt vào tay họ Trần, đầu tiên là Trần Tự Khánh và sau này là Trần Thủ Độ. Năm 1224, Lý Huệ Tông nhường ngôi cho công chúa Chiêu Thánh, con gái thứ hai của ngài với Trần Thị Dung. Công chúa lên ngôi mới 8 tuổi, đế hiệu là Lý Chiêu Hoàng. Năm 1225, Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh. Ngai vàng của nhà Lý chuyển sang tay họ Trần một cách hòa bình bằng một cuộc tình duyên. Trần Cảnh lên ngôi, đế hiệu là Trần Thái Tông. Lý Huệ Tông đi tu ở chùa Bút Pháp, pháp danh Huệ Quang Đại sư, sau chuyển sang chùa Chân Giáo và tự tử năm 1226, thọ 33 tuổi, ở ngôi 14 năm, đi tu 2 năm. Nghi án cho rằng ông bị Trần Thủ Độ bức tử.
Một sáng mùa đông trong Phượng Lâu Thành, cung Thiên An, Trần Thái Tông đang thiết triều bàn việc nước. Bỗng có quan nội thị vào báo:
-Dạ, bẩm hoàng thượng, có sử giả của Mông Cổ ở Đại Lý xin vào gặp.
Trần Thái Tông nói:
-Cho vào.
-Dạ.
Sứ giả Mông Cổ bước vào, hai cấm quân giơ hai ngọn giáo hai bên tạo thành hình tam giác ngăn lại và nói:
-Tháo gươm để ở ngoài.
Không biết sứ giả có biêt tiếng Việt hay không nhưng hắn gạt hai ngọn giáo ra và cứ thế mang gươm đi vào điện, hai cấm quân cũng phải đi theo sau. Cả triều đình Đại Việt nhìn thấy một võ tướng cao lớn, mặc áo và đội mũ có nhiều lông như lông sói, ngang nhiên bước vào mà không quỳ lạy hành lễ khi trông thấy Trần Thái Tông. Hắn giơ lên một phong thư. Quan nội thị cầm lấy đưa cho Trần TháiTông. Trần Thái Tông mở thư đọc. Thư viết bằng chữ Hán : “Thế Tổ của chúng ta là Thành Cát Tư Hãn vốn ở phía Bắc Vạn Lý Trường Thành đã lập nước năm 1206, sau đó làm chủ Nam Âu, làm chủ phần lớn châu Á, đánh bại Nga La Tư, làm chủ Trung Á và Nam Á. Nay chúa của ta là Mông Kha tiếp tục làm chủ Trung Đông và Bắc Phi. Ta Ngột Lương Hợp Thai sau khi làm chủ Trung Đông và Bắc Phi đã đánh tan nước Đại Lý, giáp biên giới miền Tây Bắc với Đại Việt. Sau khi nhận được thư này nhà ngươi lập tức sang Đại Lý bái lạy ta và thần phục, nếu chậm trễ ta sẽ làm cỏ nước Đại Việt của ngươi.”
Trần Thái Tông giận tím mặt, đưa thư cho nội thị và nói:
-Đọc cho triều đình nghe để biết sự hỗn xược của bọn mọi rợ này.
Triều đình nghe xong thư, khí thế bừng bừng tức giận. Trần Thái Tông hỏi:
-Sử thần Lê Văn Hưu, ái khanh có biết gì về đế quốc Mông Cổ không? Người Mông Cổ cũng biết chữ Hán sao?
-Dạ, bẩm hoàng thượng, người Mông Cổ là tộc người sống ở phía Bắc Vạn Lý Trường Thành, gọi là sa mạc Gôbi, là dân du mục, chuyên sống bằng nghề chăn nuôi lang thang trên những thảo nguyên bát ngát. Cho nên người Mông Cổ có sức khỏe dẻo dai và giỏi cưỡi ngựa bắn cung. Năm 1206, chúa mạnh nhất của họ là Thành Cát Tư Hãn đánh bại các thủ lĩnh khác và thành lập nhà nước Mông Cổ. Dựa vào sức mạnh kỵ binh của họ, họ đã xâm lược Nam Âu, Nga La Tư, Trung Á, Trung Đông và Bắc Phi. Năm 1227, Thành Cát Tư Hãn chết, Oa Khát Đài lên thay. Năm 1234, Oa Khát Đài tiêu diệt nước Lưu và Kim, làm chủ Bắc Trung Quốc. Khi bị nước Lưu và Kim chiếm miền Bắc trước đó, họ Triệu nhà Tống phải chạy xuống miền Nam Trung Quốc lập ra nhà Nam Tống. Năm 1251, Oa Khát Đài chết, cháu nội Thành Cát Tư Hãn, con Oa Khát Đài là Mông Kha lên thay. Em trai Mông Kha là Hốt Tất Liệt đã đánh chiếm nước Đại Lý của người Thái năm 1253 và chính Hốt Tất Liệt hiện nay đang đánh chiếm Nam Trung Quốc, nhằm tiêu diệt nhà Nam Tống. Có lẽ Ngột Lương Hợp Thai đánh chiếm nước ta để mở rộng lãnh thổ, đồng thời tạo gọng kìm từ phía Nam để đánh nhà Nam Tống. Người Mông Cổ chưa có chữ viết. Thư có thể là mượn người biết chữ Hán viết.
Trần Thái Tông nói:
-Chúng cậy là đế quốc lớn hùng mạnh, không coi ai ra gì, thư viết quá hỗn xược. Bay đâu.
-Dạ.
-Trói tên này lại tống vào ngục thất.
-Dạ.
Lính ngự lâm xông vào, khống chế, tước gươm và trói tên sứ giả đem đi.
Lại một quan nội thị vào báo:
-Dạ, bẩm hoàng thượng, có tùy tướng của trại chủ Quy Hóa Hà Bổng xin vào gặp.
-Cho vào.
Tùy Tướng của Hà Bổng, thủ lĩnh của người Tày- Nùng vùng Quy Hóa đi vào hành lễ và nói:
-Dạ muôn tâu hoàng thượng, tình hình rất nguy cấp, tướng Mông Cổ là Ngột Lương Hợp Thai đã đánh chiếm được nước Đại Lý của người Thái, thống lĩnh 4 vạn quân chủ yếu là kỵ binh rất tinh nhuệ đã vượt biên giới vào Đại Việt, tiến dọc theo đê sông Hồng tiến xuống Thăng Long.
Trần Thái Tông nói:
-Tướng quân về bảo trại chủ Hà Bổng hãy ra sức đánh giặc, nếu không chống được thì rút vào rừng chờ thời cơ. Không được đầu hàng giặc, rõ chưa?
-Dạ, mạt tướng tuân chỉ.
-Người đâu.
-Dạ, bẩm hoàng thượng.
-Cho tướng quân trại Quy Hóa ăn uống, cho cả ngựa ăn cỏ và uống nước, ăn xong xuất phát ngay.
-Dạ, mạt tướng đội ơn hoàng thượng.
Trần Thái Tông lại gọi:
-Thái sư Trần Thủ Độ đâu?
-Dạ, bẩm hoàng thượng, có thần.
-Ta sẽ thân chinh đi đánh giặc, Thái sư ở lại Giám quốc nhiếp chính, bảo vệ kinh thành, chuẩn bị cho triều đình và toàn dân sơ tán khi có lệnh của ta. Nếu mà sơ tán phải để lại một tòa thành trống rỗng, không người không lương thực. Các vùng lân cận quanh Thăng Long nhớ cũng phải vườn không nhà trống. Rõ chưa?
-Dạ, thần tuân chỉ.
-Thái tử Hoảng đâu.
-Dạ bẩm phụ vương, có thần.
-Thái tử đem 1000 thuyền chiến đến sông Cà Lồ, đề phòng quân ta không chống cự nổi phải rút theo đường thủy về Thăng Long để nhanh chóng và hạn chế tốc độ của kỵ binh địch đuổi theo.
-Dạ, thần tuân chỉ.
-Hưng Đạo Vương đâu.
-Dạ, bẩm hoàng thượng, có thần.
-Hưng Đạo Vương đem 2 vạn quân lên Vũ Ninh vừa bảo vệ biên giới phía Bắc vừa sẵn sàng chi viện cho mặt trận Cà Lồ nếu quân của trẫm nguy khốn.
-Dạ, thần tuân chỉ.
-Đô Ngự sử Lê Tần đâu.
-Dạ, bẩm hoàng thượng, có thần.
-Khanh điểm 7 vạn quân bao gồm Cấm quân, Sương quân, Thiên thuộc thiên chương, Thánh dực, chương thánh, Thần sách, Cương thân cùng trẫm ngay chiều nay xuất phát đến sông Cà Lồ chặn giặc.
-Dạ, thần tuân chỉ.
Bãi triều.
Chiều hôm đó ở bến Đông Bộ Đầu, cửa Bắc kinh thành nhộn nhịp khác thường, 1000 chiến thuyền chở 3 vạn quân do thái tử Hoảng chỉ huy xuất phát đi về hướng Tây Bắc. Cờ quạt tung bay rợp trời, nước sông Hồng cuộn sóng bởi 1000 chiến thuyền rẽ nước đi lên. Tiếp đó 1000 con voi chiến đi cầu phao sang bờ Bắc. Theo sau voi chiến là 1vạn kỵ binh, theo sau kỵ binh là 3 vạn bộ binh mang trên người nặng trĩu cung tên, gươm giáo, lương thực, quân phục nâu, áo giáp oai hùng. Quân đi hàng dọc, vũ khí kín trời. Cờ vàng theo chữ đỏ “Đại Việt” tung bay bát ngát. Vua Trần Thái Tông đi trung quân. Vua mặc chiến bào màu vàng, áo giáp vàng, đi giầy vàng, đội mũ đâu mâu vàng. Lính cấm quân đi bên cạnh giơ cao lọng vàng che cho vua, một người lính khác cầm lá cờ vàng đề chữ “Soái” tung bay phần phật. Đi bên cạnh vua là Lê Tần và nhiều cấm quân bảo vệ. Tiếng trống, tiếng tù và vang lên inh ỏi báo hiệu quốc gia nguy biến. Triều đình và bách tính kinh thành ra tiễn vua và quân đội xuất chinh đông vô kể nhưng với vẻ mặt lo âu bởi một tai họa khủng khiếp đang tràn vào đất nước thanh bình gần 180 năm kể từ khi Lý Thường Kiệt đánh tan quân Tống.
Chiều tối ngày 16-1-1258, đại quân Việt dừng lại trên bờ Bắc sông Cà Lồ. Trần Thái Tông ra lệnh cho thái tử Hoảng giấu thuyền bờ Bắc sông, ở bến Lãng Mỹ và cử 1 vạn quân bảo vệ thuyền. Ngay đêm đó, trong tổng hành dinh của Trần Thái Tông đầy đủ tướng soái. Trần Thái Tông hỏi:
-Theo các khanh thì ta dàn trận ở đâu để có thể ngăn chặn được vó ngựa quân Mông Cổ, tiêu diệt được chúng để bảo vệ kinh thành Thăng Long?
Đô ngự sử Lê Tần nói:
-Tâu hoàng thượng, thần nghĩ ở Bình Lệ Nguyên này là con đường duy nhất dẫn về Thăng Long. Ngày mai ta có thể tiến lên một dặm nữa, nơi có bãi rộng gọi là Hương Canh dàn trận là bịt kín được. Giặc Thát không thể không đi qua đây. Yếu điểm của chúng là chỉ có kỵ binh mà không có thuyền.
Trần Thái Tông nói:
-Khanh nói phải lắm, cứ tiến lên một dặm dàn trận ở bãi Hương Canh đi.
Đêm đó Lê Tần về doanh trại mà không ngủ được. Thực ra ông còn nhiều điều mà chưa có thể nói hết với Trần Thái Tông về chiến lược trong cuộc chiến tranh này. Vua tôi mới chỉ thống nhất với nhau về chiến thuật mà thôi. Lê Tần vốn quê ở Ái Châu, dòng giống cháu chắt của vua Lê Đại Hành. Trong nhà vì thế mà nhiều sách binh pháp nên từ nhỏ Lê Tần đã ham đọc binh thư. Trước khi đi ra mặt trận ông đã hỏi sử gia Lê Văn Hưu, đồng hương của ông. Lê Tần hỏi:
-Xin đại nhân cho biết vì sao quân Mông Cổ bách chiến bách thắng, tung hoành khắp nơi trên thế giới, kể cả nước lớn như Nga La tư vậy?
Lê Văn Hưu đáp:
-Người Mông Cổ là dân du mục, chăn nuôi là nghề chính nên thanh niên Mông Cổ suốt ngày ngồi trên mình ngựa, có sức khỏe dẻo dai, tài bắn cung và cưỡi ngựa không một quốc gia nào sánh được. Cho nên kỵ binh Mông Cổ rất thiện chiến và sức cơ động rất nhanh. Chúng đã chạy thì đối phương không thể đuổi được, chúng đã đuổi thì đối phương không thể thoát được. Khi gặp lực lượng một quốc gia nào đó, chúng thường dùng ưu thế tốc độ của kỵ binh bao vây quân đối phương mà tiêu diệt. Vì thế mà chúng bách chiến bách thắng ở những quốc gia địa hình thuận lợi cho kỵ binh, thứ hai ở những nước mà vua chúa và tướng lĩnh quan niệm chiến tranh là chỉ đánh một trận dốc túi để phân được thua mà không biết chiến tranh là phải đánh nhiều trận, có thể thua nhiều trận nhưng đều căn bản là trận thắng cuối cùng.
Những kinh nghiệm lịch sử mà Lê Văn Hưu nói làm cho Lê Tần hiểu được vì sao những đạo quân to lớn của các nước nhanh chóng bị quân Mông Cổ tiêu diệt và nhanh chóng mất nước. Thế còn trận đánh sắp xẩy ra với kỵ binh Mông Cổ, Lê Tần cho rằng ông phải hết sức chú ý xem chúng có triển khai chiến thuật bao vây quân ta hay không, nếu như vậy ông phải nói ngay với Trần Thái Tông phải rút lui chiến lược bảo toàn lực lượng rồi sau đó lựa thời cơ mà phản công chiến lược. Còn bây giờ chưa giao tranh mà khuyên vua Trần Thái Tông rút lui chắc sẽ mất đầu vì tội hèn nhát, làm loạn lòng quân. Lê Tần thầm nghĩ, thôi mai phải hết sức bình tĩnh theo dõi diễn biến chiến trường, nếu quân ta lâm nguy thì dùng sự thật khốc liệt của chiến trường để khuyên Trần Thái Tông, dù muộn còn hơn không.
Hôm sau, Lê Tần dậy sớm, đang ăn sáng với Trần Thái Tông thì thám má về báo:
-Dạ, bẩm hoàng thượng, có tùy tướng của Hà Bổng, chủ trại Quy Hóa về gặp.
-Cho vào.
-Dạ.
Tùy tướng của trại chủ Quy Hóa Hà Bổng đi vào quỳ gối hành lễ:
-Dạ, bẩm hoàng thượng, giặc Thát đã đem 5 vạn kỵ bịnh gồm 2 vạn kỵ binh Thái, 3 vạn kỵ binh Mông Cổ đã tràn vào chiếm Quy Hóa. Trại chủ Hà Bổng chúng tôi chống không nổi đã lui vào rừng. Quân giặc đang tiến về đây nhanh chóng. Xin hoàng thượng quyết định.
-Người đâu.
-Dạ, bẩm hoàng thượng.
-Đem tùy tướng đi ăn cơm và chăm sóc ngựa.
-Đa tạ hoàng thượng.
Rồi Trần Thái Tông ra lệnh:
-Báo động toàn quân, tiến lên Bình Lệ Nguyên dàn trận chuẩn bị chiến đấu. Giặc Thát đang tiến xuống.
-Tuân chỉ.
Tiếng trống, tiếng tù và vang động. Toàn quân tiến lên bãi rộng Bình Lệ Nguyên dàn trận. 1000 tượng binh đứng trước, tiếp theo là kỵ binh, sau kỵ binh là bộ binh. Vua Trần Thái Tông, Lê Tần cùng cấm quân đứng sau bộ binh trên gò đất cao để chỉ huy trận đánh. Chờ khoảng canh giờ, quân Việt thấy phía trước bụi bay mù mịt, tiếng ào ào như cơn giông tố dữ dội đang ập đến, phút chốc 5 vạn kỵ binh Thái và Mông Cổ do Ngột Lương Hợp Thai dẫn đầu đã xuất hiện. Tất cả kỵ binh giặc mặc áo giáp sắt, áo lông, mũ lông, cung tên tua tủa trên lưng, tay cầm giáo, gươm, búa và nhiều hung khí khác vô cùng dữ tợn hung ác, những lá cờ đen thêu chữ trắng “Thát Đát” bay rợp trời. Thấy quân Việt, kỵ binh Mông Cổ dàn trận hình cánh cung triển khai thế bao vây, một thế trận cổ điển của quân Mông Cổ. Đi hàng đầu có lá cờ thêu chữ “Soái” chính là một trong những tên tướng lừng lẫy của đế quốc Mông Cổ: Ngột Lương Hợp Thai. Đi cạnh Ngột Lương Hợp Thai là A Truật, con trai của Ngột Lương Hợp Thai, cạnh nữa là Hoài Đô, phò mã Mông Cổ, tiếp đó là Abiska và Đoàn Hưng Trí, quý tộc của Đại Lý vừa bị mất nước làm hướng đạo cho Ngột Lương Hợp Thai. Đi hàng đầu là 2 vạn kỵ binh người Thái, là tấm bia che tên đạn cho 3 vạn kỵ binh Mông Cổ ở phía sau, đồng thời kỵ binh Thái còn làm cho quân Việt hao tổn binh lực, tạo điều kiện cho kỵ binh Mông Cổ bao vây tiêu diệt. Cờ bay phấp phới, tiếng trống trận vang lừng, Ngột Lương Hợp Thai quan sát thấy sau tượng binh, kỵ binh và bộ binh là một người cưỡi ngựa màu nâu có che lọng vàng, mặc giáp vàng và áo chiến bào vàng thì biết đó chính là vua Đại Việt Trần Thái Tông. Ngột Lương Hợp Thai ra lệnh cho A Truật tấn công cánh phải, Hoan Đô tấn công cánh trái, còn Hợp Lương Hợp Thai tấn công cánh giữa, bao vây tiêu diệt quân Việt và bắt sống hoặc là hạ sát Trần Thái Tông, giành chiến thắng nhanh chóng và quyết định như ở các quốc gia khác mà vó ngựa Ngột Lương Hợp Thai đã đi qua.
Trong khi A Truật và Hoan Đô tản ra hai cánh hình thành thế bao vây thì Ngột Lương Hợp Thai vẫy cờ, 2 vạn kỵ binh người Thái xông lên. Trần Thái Tông vẫy cờ, 1000 con voi xông lên, kỵ binh người Đại Lý chết hàng nghìn vì bị voi dầy, vì bị những mũi tên của lính từ lưng voi bắn xuống. Ngột Lương Hợp Thai phất cờ, kỵ binh Mông Cổ dùng những mũi tên cực mạnh và chính xác bắn vào vòi voi, chân voi và mắt voi. Voi bị đau quay đầu chạy trở lại dày xéo lên chính quân Việt. Thế trận quân Việt rối loạn. Kỵ binh Mông Cổ mặt trước xông lên, kỵ binh hai cánh phải và trái khép vòng vây. Quân Việt vẫn kiên cường chiến đấu nhưng nguy cơ bị bao vây đã rõ. Kỵ bịnh, bộ binh Việt hy sinh vô kể. Xác quân Nguyên Mông, xác quân Việt chất chồng như núi. Tiếng ngựa hí, tiếng voi gầm, tiếng gươm giáo chạm nhau tóe lửa, thây đổ máu phun. Hai cánh kỵ binh Mông Cổ cố mở đường máu quyết xông vào nơi Trần Thái Tông đang đứng. Hàng rào lính ngự lâm bảo vệ cho vua gục ngã xuống vơi dần. Lê Tần cũng tả xung hữu đột để bảo vệ vua. Nhưng tính mạng quân Việt và nhà vua đang trong phút nghìn cân treo sợi tóc. Lê Tần biết đã đến lúc nói với vua những điều cần nói:
-Quân chủ lực của ta có nguy cơ bị tiêu diệt hết, tính mệnh hoàng thượng cũng đang bị đe dọa nghiêm trọng, xin hoàng thượng hạ lệnh rút lui bảo toàn lực lượng đánh trận khác có hơn không.
Trần Thái Tông đáp:
-Nay ta chết tại chiến trường để đền nợ nước là thỏa chí rồi chứ sao lại rút.
Lê Tần nói:
-Nay toàn quân bị tiêu diệt, hoàng thượng hi sinh thì nước mất, không thể lấy lại được nữa. Hoàng thượng không thể như người đánh bạc say máu lên là đánh dốc túi. Mong Hoàng thượng nghĩ đến bách tính, triều đình và đất nước. Các nước hùng mạnh sở dĩ mất nước vào tay bọn Thát là vì không chịu rút lui, bảo toàn lực lượng và người lãnh đạo để đánh lâu dài, trúng vào cái bẫy đánh nhanh thắng nhanh của chúng, lại còn do thói ích ký cá nhân là đánh cho thỏa chí anh hùng. Thỏa chí anh hùng mà nước mất thì còn ý nghĩa gì. Hoàng thượng mau tỉnh ngộ đi.
Trần Thái Tông nghe như sực tỉnh cơn say mê chiến trận:
-Khanh nói phải lắm, rút lui bảo toàn lực lượng để đánh lâu dài.
Rồi Trần Thái Tông ra lệnh cho toàn bộ quân đội rút lui.
Trần Thái Tông và quân đội rút về bờ Nam sông Cà Lồ. Tượng binh đi sau cản đường kỵ binh Mông Cổ truy kích, tiếp theo là kỵ binh, đi trước kỵ binh là bộ binh. Quân Mông Cổ do bị tượng binh cản đường không thể đuổi kịp. Tuy nhiên khi tượng binh chưa qua hết, do quân Mông Cổ sắp đuổi kịp, Trần Thái Tông đành phải ra lệnh phá cầu Phủ Lỗ bắc qua sông Cà Lồ. Hàng trăm con voi Việt sa xuống sông, cả hàng trăm kỵ binh Mông Cổ đang phi quá đà nên cả người và ngựa đều phi xuống sông chìm nghĩm. Vua và quân Việt xuống 1000 chiến thuyền đậu bên bờ Nam, tượng binh, kỵ binh rút theo đượng bộ. Quân Mông Cổ không qua được sông điên cuồng lộng lộn bắn sang thuyền vua. Lê Tần ra lệnh lấy ván lát đáy thuyền che tên cho vua. Vua Theo sông Cà Lồ ra sồng Hồng và về bến Đông bộ Đầu. Kỵ Binh Mông Cổ lồng lộn bên bờ Bắc sông Cà Lồ, bắn tên xuống sông để dò mức nước. Chúng tìm thấy một đoạn sông tên bắn xuống không nổi lên tức là nước nông, tên bị ghim vào đất. Kỵ binh Mông Cổ ào ào qua sông phi như bay về Thăng Long truy kích quân Việt. Kỵ binh Ngột Lương Hợp Thai đến bờ Bắc sông Hồng thì phải dừng lại vì trời đã tối, cầu phao qua sông đã bị quân Việt phá. Mấy vạn người ngựa đang say máu chém giết đành phải dừng lại bên bờ sông để cho người ngựa ăn uống, sáng mai bắc cầu phao mới tấn công kinh thành được. Ngột Lương Hợp Thai nhìn ánh đèn bên kia sông mà căm giận. Lần đầu tiên trong cuộc đời chinh chiến nổi tiếng tàn bạo và chiến thắng của hắn, hắn đã để cho quân chủ lực và hoàng đế của một nước chạy thoát dù đã nằm trong thế hợp vây của hắn. Hắn cho lính sục sạo quanh vùng Gia Lâm nhưng toàn vườn không nhà trống, không một bóng người, không một cái gì có thể ăn được. Hắn thề ngày mai vào Thăng Long sẽ làm cỏ hoàng thành Đại Việt cho hả cơn giận.
Sớm hôm sau Ngột Lương Hợp Thai ra lệnh:
-Vào nhà dân Đại Việt chung quanh phá nhà cửa, bàn ghế để làm cầu phao vượt sông tiến vào Thăng Long.
-Dạ, tuân lệnh chủ soái.
Sau khi bắc xong cầu phao, Ngột Lương Hợp Thai ra lệnh:
-Tiến vào kinh thành Đại Việt, chỉ được giết chóc, cướp bóc, không được đốt phá, để dinh thự nhà cửa chúng ta ở.
-Dạ, tuân lệnh chủ soái.
Kỵ binh Mông Cổ rú lên sung sướng, cảnh tượng kinh hoàng như thủ đô Bát Đa I Rắc sắp được tái diễn. Ở Bát Đa chúng đã giết 8 vạn người trong một buổi sáng. Nhớ lại, lính tráng vô cùng phấn kích và lên cơn như điên dại. Giết người và máu chảy trở thành cơn nghiện của bọn xâm lăng khát máu. Chúng phi ngựa hàng dọc qua cầu phao trong tiếng reo hò man rợ, chiếc cầu phao mỏng manh rung lên bần bật. Sông Hồng sắp được chứng kiến kinh thành Thăng Long của mình lại trải qua thảm họa thứ 20 trong lịch sử do ngoại bang mang tới.
Đến Đông Bộ Đầu và dưới chân thành, Kỵ binh Mông Cố thấy Thăng Long im lặng đến rợn người. Không một tiếng động, trên thành những lá cờ vàng vẫn bay phần phật dưới gió đông, lá vàng rụng đầy trên lối đi chứng tỏ không có bước chân người. Ngột Lương Hợp Thai sợ bị mai phục, ra lệnh bao vây, bắn tên vào thành như mưa, vẫn không thấy trong thành phản ứng gì. Ngột Lương Hợp Thai ra lệnh phá cổng thành, quân Mông Cổ tràn vào, ánh gươm sáng loáng sẵn sàng giết chóc. Nhưng chúng hụt hẩng. Thăng Long chỉ là một tòa thành trống rỗng, không một bóng người. Thì ra nhà Trần đã cho cả triều đình và bách tính sơ tán khỏi kinh thành, không biết đi về đâu. Không bắt được triều đình, không giết được bách tính, Ngột Lương Hợp Thai điên cuồng ra lệnh:
-Lục soát, thu hết vàng bạc và lương thực.
-Tuân lệnh chủ soái.
Quân Mông Cổ lùng sục khắp nơi, từ kinh thành đến hoàng thành cho đến Tử Cấm Thành, từ nhà dân cho đến hoàng cung, cung điện mà không một chút lương thực và vàng bạc. Ngột Lương Hợp Thái đang ngồi trong điện Thiên An thì lính dẫn ba người bị trói đến. Ngột Lương Hợp Thai nhìn kỹ thì hóa ra ba tên sứ giả mà hắn đã cử đến Đại Việt đưa thư dụ hàng Trần Thái Tông. Ngột Lương Hợp Thai hỏi:
-Tìm thấy chúng ở đâu?
-Dạ, bẩm chủ soái, trong nhà ngục ạ.
-Mở trói cho chúng.
-Dạ.
Mở trói xong thì cả ba tên gục xuống. Một tên lính đưa tay vào mũi một tên sứ giả:
-Dạ, bẩm chủ soái, một sứ giả đã chết rồi ạ.
Ngột Lương Hợp Thai như phát điên:
-Ta mà bắt được thì xé xác Trần Thái Tông ra trăm mảnh. Cậy miệng hai tên còn lại đổ sữa ngựa cho chúng, chúng đói quá ngất đi thôi.
Trong thành trống rỗng. Ngột Lương Hợp Thai cho rằng Đại Việt là một đất nước kỳ lạ mà lần đầu tiên hắn gặp trong cuộc đời chinh chiến khắp châu Âu, châu Á của hắn. Đó là lần đầu tiên khi triển khai nhanh chóng thế bao vây mà hắn không tiêu diệt được quân chủ lực của đối phương, không bắt được quân chủ lực của một nước bại trận, lại để vua Trần Thái Tông và quân chủ lực Đại Việt chạy thoát. Câu châm ngôn và niềm tự hào của kỵ binh Mông Cổ: Khi kỵ binh Mông Cổ mà đuổi thì không con mồi nào chạy thoát bây giờ đã sai ở Đại Việt. Thứ hai là lần đầu tiên Ngột Lương Hợp Thai vào một kinh thành của một nước bại trận mà trống rỗng, không triều đình, không bách tính, không lương thực. Tình huống của quân đội hắn bây giờ thực sự đáng lo ngại bởi triều đình và bách tính Đại Việt không hề run sợ quân Mông Cổ như những quốc gia khác, nội bộ lại đoàn kết nhất trí. Về địa thế của chiến tranh, Đại Việt là nước nhiều sông ngòi, tại đây, thế mạnh kỵ binh của Mông Cổ không phát huy được như ở các vùng đồng ruộng khô bát ngát như ở Nam Âu, Nga La Tư, Trung Á, Nam Á, Trung Đông và Bắc Phi. Thế mạnh của Đại Việt là thủy binh. Chính sông ngòi đã ngăn chặn tốc độ của kỵ binh Mông Cổ, chính thủy binh đã giúp cho vua Trần và đại quân rút lui an toàn và nhanh chóng. Thuyền bè cũng đã giúp triều đình và bách tính kinh thành Thăng Long sơ tán nhanh chóng. Dù bắt đầu lo ngại nhưng Ngột Lương Hợp Thai tin rằng vài ngày nữa Trần Thái Tông sẽ về lại kinh thành ký hiệp ước đầu hàng.
Ngột Lương Hợp Thai và đại quân đã vào Thăng Long 10 ngày rồi mà vẫn không có tăm hơi vua Trần Thái Tông sẽ về đầu hàng, càng không có tăm hơi quân chủ lực Đại Việt và triều đình ở đâu. Các thám mã Ngột Lương Hợp Thai cử đi do thám chỉ có đi mà không có về. Cái nguy nhất của kỵ binh Mông Cổ là thiếu lương thực cho người và cho ngựa. Quân Mông Cổ do truyền thống là kỵ binh nên không có đội quân phu phen vác lương thực như những quốc gia phong kiến khác nhằm bảo đảm sức cơ động nhanh chóng. Mỗi người lính phải tự mang lương thực cho mình trên mình ngựa, đủ ăn trong khi hành quân. Còn lại là lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, tức là khi đánh chiếm một quốc gia nào thành công thì cướp bóc ở quốc gia đó để lấy lương thực nuôi quân, nuôi ngựa. Bản thân ngựa là phương tiện chiến đấu nhưng cũng là lương thực. Khi bước đường cùng thì quân Mông Cổ được phép giết ngựa để ăn, nhưng giết ngựa để ăn là cùng bất đắc dĩ, gậy ông đập lưng ông, giết ngựa ăn thì sẽ thiếu phương tiện hành quân chiến đấu hoặc để tháo chạy. Kế hoach lấy chiến tranh nuôi chiến tranh vốn là truyền thống của quân đội Mông Cổ từ thời Thành Cát Tư Hãn cho đến bây giờ.
Nhưng ở Đại Việt, quân Mông Cổ chiếm được kinh thành không có nghĩa là chiến tranh đã kết thúc thắng lợi như ở các quốc gia khác và trong kinh thành càng không có lương thực. Quân Mông Cổ đói khát ra ngoại thành cướp bóc dân cư nhưng phần lớn có đi mà không có về, hoặc có về cũng không cướp được lương thực. Nhân dân Đại Việt được vũ trang đã chống lại quân Mông Cổ nếu đi nhỏ lẻ từng tốp. Nghe nói có một vương hầu nhà Trần là Trần Khánh Dư có quân bản bộ riêng, hoạt động quanh Thăng Long, thường tiêu diệt những nhóm quân Mông Cổ đi kiếm ăn. Đội quân này thành nỗi khiếp sợ cho quân Mông Cổ mỗi khi ra ngoài thành. Lần đầu tiên, quân Mông Cổ biết sợ hãi. Trong thành Thăng Long lại còn lính bị thương không thuốc men chữa trị. Đạo quân hùng mạnh của Ngột Lương Hợp Thai bắt đầu đói khát, kiệt quệ về thể xác, tinh thần.
Việc mất kinh thành Thăng Long cũng là một đòn choáng váng đối với một bộ phận nhỏ quý tộc nhà Trần. Vua Trần Thái Tông, triều đình và quân chủ lực đã rút về vùng Khoái Châu, Long Hưng, Thiên Trường. Trong giờ phút khó khăn nhất, vua Trần Thái Tông hỏi vị quý tộc cao tuổi của nhà Trần là Trần Nhật Hiệu:
-Ái khanh cho biết tình hình hiện nay nên làm thế nào?
Trần Nhật Hiệu nhắm mắt không đáp, chỉ lấy ngón tay nhúng nước viết lên bàn hai chữ “nhập Tống”.
Trần Thái Tông hiểu ông già này muốn nói về với nhà Tống hay cầu cứu nhà Tống. Vua hiểu rằng ông già này quá hoảng sợ không còn tỉnh táo được nữa. Nhà Tống đang bị quân Mông Cổ tấn công, còn không bảo vệ được mình nữa, sức đâu mà lo cho Đại Việt. Trần Thái Tông hỏi Trần Thủ Độ, Trần Thủ Độ đáp:
-Đầu thần chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo.
-Đa tạ thái sư, vậy là trẫm yên tâm rồi.
Trần Thái Tông hiểu rằng vua chỉ là một cá nhân nhưng đôi khi vua có thể quyết định số phận của hàng chục triệu con người, số phận của một quốc gia, của đất nước, nhất là trong những giờ phút nghiêm trọng của dân tộc. Vua phải sáng suốt, quyết tâm, phải hiểu ra rằng còn dân tộc mới còn triều đình, còn quý tộc, mất dân tộc thì mất cả triều đình, mất cả quý tộc. Không thể bán dân tộc để bảo vệ quyền lợi cho một tầng lớp. Đó là tội đồ của lịch sử. Nhà vua bảo Lê Tần và thái tử Hoảng:
-Ra lệnh cho các thân hầu tập trung quân bản bộ về Thiên Mạc.
-Dạ, thần tuân chỉ.
-Ra lệnh củng cố lại kỵ binh, củng cố lại chiến thuyền và thủy binh.
-Dạ, thần tuân chỉ.
Có thám mã từ Thăng Long về báo:
-Dạ, bẩm hoàng thượng, quân Thát Đát ở Thăng Long đang lâm vào đói khát. Những tốp lính ra ngoài thành cướp bóc bị dân ta tiêu diệt.
Lại có quan nội thị vào báo:
-Dạ bẩm hoàng thượng, có tùy tướng của tướng Trần Khánh Dư xin vào gặp.
-Cho vào.
Một tùy tướng bước vào quỳ làm lễ và tâu:
-Da, bẩm hoàng thượng, thần là tùy tướng của Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư. Chủ của thần cho thần về báo cho hoàng thượng biết quân Mông Cổ ở Thăng Long hiện đang rất đói khát nguy khốn. Xin hoàng thượng phản công giải phóng kinh thành.
-Tốt, tướng quân về báo với Nhân Huệ Vương chuẩn bị chiến đấu phối hợp với quân triều đình.
-Dạ, mạt tướng tuân chỉ.
Vua cho gọi Trần Thủ Độ, Lê Tần, thái tử Trần Hoảng đến và nói:
-Nay quân Mông Cổ đang lâm vào tình trạng nguy khốn, thời cơ phản công giải phóng Thăng Long đã tới. Nhưng không thể một trận Thăng Long mà tiêu diệt hết được chúng. Chúng ta vây đánh nhưng để Đông Bộ Đầu và cầu phao cho chúng thoát. Có đường thoát chúng không liều chết chống cự, ta đỡ thiệt hại.
Trần Thủ Độ nói:
-Bẩm hoàng thượng, thần nghĩ là cứ tiêu diệt hết chúng đi, không để một tên nào sống sót để chúng khiếp sợ, lần sau không dám xâm phạm ta nữa.
Trần Thái Tông nói:
-Thái sư nói chí phải, ta chỉ đuổi chúng khỏi Thăng Long, trên đường chúng tháo chạy ta sẽ truy kích, tập kích để tiêu diệt hết chúng.
Lê Tần nói:
-Hoàng thượng nói chí phải nhưng trên đường tháo chạy của chúng lực lượng của ta mỏng, đến tận trại Quy Hóa mới có lực lượng dân binh của Hà Bổng đánh chúng.
-Ta đã trù liệu rồi, khi chúng tháo chạy khỏi Thăng Long, kỵ binh phải lập tức đuổi theo. Mặt khác ta sẽ điều Trần Hưng Đạo từ Vũ Ninh về Yên Bái mai phục tiêu diệt địch.
-Người đâu.
-Dạ, bẩm hoàng thượng.
-Quan nội thị đưa thư này cho Ngô Tùng tướng quân bảo phi ngựa đến Vũ Ninh đưa cho Trần Hưng Đạo hành quân đến Tam Giang mai phục, truy kích địch tháo chạy.
-Dạ, thần tuân chỉ.
-Thám mã đâu.
-Dạ, bẩm hoàng thượng, có mạt tướng.
-Ngươi chạy ngựa lên trại Quy Hóa, truyền khẩu dụ của trẫm cho Hà Bổng chuẩn bị mai phục đánh Ngột Lương Hợp Thai tháo chạy.
-Dạ, mạt tướng tuân chỉ.
-Thái tử Hoảng đâu.
-Da, bẩm hoàng thượng, có thần.
-Thái tử đem 2 vạn thủy binh tập kết Đông Bộ Đầu, đánh vào mặt Đông Thăng Long, nhớ chừa cửa Bắc và không được phá cầu phao để cho giặc rút qua sông Hồng và kỵ binh ta truy kích.
-Dạ, thần tuân chỉ.
-Lê Tần đâu.
-Dạ, bẩm hoành thượng, có thần.
-Khanh dẫn 2 vạn bộ binh và kỵ binh bao vây mặt Nam Thăng Long.
-Dạ, thần tuân chỉ.
-Thái sư Trần Thủ Độ.
-Dạ, có thần.
-Khanh cùng với Linh từ quốc mẫu Trần Thị Dung thu xếp cho triều đình và bách tính trở lại Thăng Long.
-Dạ, thần tuân chỉ.
Theo lệnh của Trần Thái Tông, các cánh quân thủy bộ của nhà Trần đang bí mật hành quân về Thăng Long. Trần Hưng Đạo cũng đã đem quân từ Vũ Ninh về Yên Bái.
* *
*
Ngày 28-1-1258 quân Mông Cổ ở Thăng Long đã hết lương thực, Ngột Lương Hợp Thai phải ra lệnh giết ngựa cho quân ăn. Dù vậy, chỉ ăn thịt không cũng không thể giải quyết được nạn đói. Cái đói có thể đánh tan hàng chục vạn quân đội hùng mạnh nhất. Trong đêm, Ngột Lương Hợp Thai không ngủ được. Trống trên hoàng thành đã điểm canh ba. Chợt tiếng chiêng trống, tù và nổi lên vang động khắp ba mặt thành. Khi quân Mông Cổ chạy ra thì những trận mưa tên và mưa đá do máy bắn đá dồn dập nã vào. Hàng nghìn lính Mông Cổ gục xuống, những kẻ còn sống thì không biết đối thủ ở đâu để mà đối phó. Lính Mông Cổ mặc giáp lên ngựa nhưng cứ chạy loanh quanh trong thành chen chúc nhau và trúng tên hoặc đá từ ngoài thành dội vào mà chết. Chỉ chưa đầy canh giờ, xác quân Mông Cổ và xác ngựa chồng chất. Những con ngựa chồm vó lên kêu thảm thiết. Tiếng hò reo của quân Đại Việt vang động chen lẫn tiếng trống trận dồn dập. Ngột Lương Hợp Thai biết rằng quân Mông Cổ đã bị bao vây bốn phía. Bổng A Truật nói:
-Bẩm phụ thân, cửa Bắc thành không có quân Việt bao vây.
-Cầu phao qua sông còn không?
-Dạ, bẩm phụ thân cầu phao còn.
Ngột Lương Hợp Thai ra lệnh:
-Cho đại quân rút ra cửa Bắc qua cầu phao, nhanh lên, quân Việt mà phá cầu phao thì chúng ta sẽ bị tiêu diệt.
-Dạ, rõ.
Ra lệnh xong, Ngột Lương Hợp Thai phi ngựa qua Đông Bộ Đầu, phi qua cầu phao, thấy chủ tướng tháo chạy, lính Mông Cổ cũng ùn ùn chạy theo, tranh nhau vượt qua cầu phao, tên nào cũng muốn chạy nhanh qua khỏi nơi tử thần đáng sợ. Khi quân Mông Cổ còn chưa qua cầu hết, còn dồn ứ ở Đông Bộ Đầu thì thủy binh Việt xông tới bắn tên và bắn đá. Tên và đá không chỉ bắn vào Đông Bộ Đầu mà bắn cả dọc cầu phao, nơi quân Mông Cổ đang chạy qua. 2 vạn tên đã chết ở Đông bộ Đầu và chết khi vượt cầu phao, nước sông Hồng ngẹn ứ như không chảy. Khi quân Mông Cổ không còn tên nào trên cầu phao, cung tên và máy bắn đá thủy quân Việt ngừng bắn cho kỵ binh Việt vượt cầu phao truy kích. Kỵ binh Mông Cổ mạnh tên nào tên đó chạy nên hỗn loạn, không chờ nhau mà đứt đoạn thành từng tốp, lại kiệt sức vì đói khát nên bị kỵ binh Việt đuổi theo giết vô kể, thây người và ngựa rải dọc đường suốt từ Thăng Long đến Nam sông Cà Lồ. Đến Bình Lệ Nguyên, cầu Phủ Lỗ qua sông Cà Lồ bị phá, phía sau bị kỵ binh Việt đuổi gấp nên kỵ binh Mông Cổ cứ lao bừa qua sông. Khoảng 2000 tên lao vào nơi nước sâu, cả người và ngựa lao xuống và không bao giờ lên nữa. Vì không có cầu nên kỵ binh Việt ngừng truy kích quay về. Họ biết Hưng Đạo Vương đang chờ chúng ở Tam Giang và Hà Bổng đang chờ chúng trại Quy Hóa.
Chạy đến Yên Bái thấy không còn bóng kỵ binh Việt đuổi phía sau, quân Mông Cổ tưởng đã yên thân ngờ đâu ngựa bị sa xuống hố được ngụy trang đất lên trên, hoặc ngựa bị vòng dây quấn vào chân và bị giật ngã và những trận mưa tên hai bên đường phóng ra. Quân Mông Cổ chết ngổn ngang. Thì ra đây là đạo quân của Trần Hưng Đạo đã mai phục sẵn chờ giặc. Hết những đợt mưa tên thì quân Việt xông ra chém giết. Khoảng 1 vạn kỵ binh Mông Cổ bị giết trong trận mai phục này. Trần Hưng Đạo thu quân về và nói:
-Còn lại để cho Hà Bổng lập công với triều đình.
Quân Mông Cổ chạy đến trại Quy Hóa. Ở đây hai bên đường là đồi núi cây cối rậm rạp, bị dân binh của Hà Bổng mai phục hai bên đường bắn tên như mưa, khoảng 3000 kỵ binh Mông Cổ lại rải xác dọc đường. Quân Hà Bổng truy kích chém giết cho đến khi Ngột Lương Hợp Thai chạy về bên kia nước Đại Lý mới thôi.
Ngột Lương Hợp Thai điểm lại quân mã, khi đi 4 vạn kỵ binh, khi về chỉ còn khoảng 5000. Đây là thất bại đầu tiên cũng là thất bại lớn nhất của đế quốc Mông Cổ từ thời Thành Cát Tư Hãn đến bây giờ. Ngột Lương Hợp Thai rất hổ thẹn. Tùy tướng là Triệt Triệt Đô đã uống thuốc độc tự sát. Toàn đế quốc Mông Cổ choáng váng rung động. Năm 1258, Đại Việt đã chứng minh cho toàn thế giới thấy rằng, đế quốc Mông Cổ vẫn có thể bị đánh bại, nó không phải là bách chiến bách thắng như người ta nhầm tưởng.
Cuộc chiến tranh Đại Việt-Mông Cổ chỉ diễn ra từ 17-1 đến 30- 1-1258, đó là năm Nguyên Phong Thứ 8. Phía quân Việt khoảng 1 vạn quân đã hy sinh và nhiều lướng lĩnh, chưa kể bách tính bị giặc giết hại. Kinh thành Thăng Long bị giặc đốt phá chỉ còn là đống gạch vụn tro tàn. Chiến thắng đã bảo vệ được độc lập dân tộc, thoát khỏi họa diệt chủng nếu bị một đế quốc tàn bạo nhất khi đó nô dịch và thống trị. Một ngày mùa xuân năm 1258, Trần Thái Tông thiết triều và ra chỉ dụ:
-Nếu trong lúc nguy nan không có lời nói phải của Lê Tần khuyên ta rút lui, cứ say mê chiến trận vì anh hùng cá nhân, trẫm và toàn bộ quân đội đã bị quân Mông Cổ tiêu diệt trong cuộc bao vây ở Bình Lệ Nguyên. Lê Tần đã có công lớn trong việc phò vua giúp nước trong cuộc kháng chiến, nay phong chức Nhập nội phán thủ, tước Bảo Văn Hầu, được mang danh lớn Lê Phụ Trần. Trần Khánh Dư được ban tước Thiên Tử nghĩa Nam. Hà Bổng chủ trại Quy Hóa được phong tước hầu. Lê Phụ Trần sau còn được vua Trần Thái Tông mai mối cho kết duyên cùng Chiêu Hoàng Công chúa, tức Lý chiêu hoàng, vợ xưa của Trần Thái Tông, năm đó Lý Chiêu Hoàng đã 41 tuổi.
Trần Thái Tông là nhà quân sự xuất sắc, anh hùng dân tộc, nhà chính trị tài năng. Trong thời kỳ cai trị ông đã tổ chức bộ máy nhà nước phong kiến Đại Việt hoạt động có hiệu quả vì dân vì nước, ông còn là nhà ngoại giao bất khuất, không run sợ trước áp lực đe dọa của đế quốc Nguyên Mông hùng mạnh. Ông còn là nhà thơ, nhà Phật học xuất chúng, đặt nền tảng cho sự ra đời của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử mà sau này cháu ông, Hoàng đế Trần Nhân Tông là người hoàn thiện.
Ngày 14-2-1258 năm Nguyên Phong thứ 8, Trần Thái Tông nhường ngôi cho thái tử Trần Hoảng, tức Trần Thánh Tông, lui về cung Thánh Tứ làm Thái thượng hoàng, giúp vua trẻ trị nước.
Ngày 1-4 âm lịch 1277, Trần Thái Tông băng hà tại điện Vạn Thọ, Thăng Long, thọ 60 tuổi (1017-1277), mai táng tại Chiêu Lăng, phủ Long Hưng Thái Bình, miếu hiệu là Trần Thái Tông, thụy hiệu là Thống Thiên Ngự Cực Long Công Mâu Đức Hiền Hòa Hựu Thuần Văn Thánh Vũ Nguyên Hiếu Hoàng Đế.
CHIẾN TRANH ĐẠI VIỆT-NGUYÊN MÔNG NĂM 1285
Mùa đông năm 1285, trên khắp Đại Việt chìm trong những làn gió lạnh cắt da. Ở miền Lạng Châu, Bắc Giang càng thêm rét đậm. Gió bấc thổi từng cơn, bầu trời u ám. Chim bay từng đàn về Nam tránh rét. Chỉ riêng từ Lạng Châu đến ải Nội Bàng, Bắc Giang là nóng lên bởi không khí chiến tranh hầm hập. Sau 30 năm hòa hoãn, đến nay Nguyên-Mông chính thức phát động cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ hai. Lần này Nguyên Mông huy động 60 vạn quân chia làm ba đạo tấn công theo ba hướng. Đạo chủ lực gồm 50 vạn tên tấn công vào Lạng Châu tràn xuống Thăng Long. Đạo quân này do Thoát Hoan, hoàng tử thứ 9 vua Nguyên-Mông Hốt Tất Liệt chỉ huy và là thống Soái, được phong Trấn Nam Vương, A Lý Hải Nha là phó soái, đóng vai trò quân sư cho Thoát Hoan, ngoài ra còn nhiều tướng lĩnh lỗi lạc trải qua chinh chiến khắp từ Âu sang Á như Ô Mã Nhi được phong danh hiệu Bạt Đô (dũng sĩ), danh hiệu cao quý của đế quốc Nguyên Mông, như Toa Đô (Bạt Đô), viên tướng tàn bạo khét tiếng thế giới do tàn sát không ghê tay thường dân các nước bị chúng chinh phục, như Lý Hằng, kẻ có kinh nghiệm sâu sắc trong chiến tranh xâm lược, còn có các dũng tướng như Khoan Triệt, Bốt La Hợp Đáp Nhĩ, Mang Cổ Thái, Nạp Hải, Lý Bang Hiến, Tôn Hựu, Tần Đức Lâm, Lưu Thế Anh, Lưu Khuê…Quân binh chủng lần này là kỵ binh và bộ binh. Kỵ binh vẫn là thế mạnh của Nguyên-Mông.
Đạo thứ hai gồm 10 vạn quân do Toa Đô (Bạt Đô) vượt biển từ năm 1283 vào đánh Chiêm Thành, sau đó khi chiến tranh với Đại Việt, Toa Đô sẽ đem quân đánh vào phía Nam, tạo thế gọng kìm để bắt sống triều đình và tiêu diệt quân chủ lực của Đại Việt.
Đạo quân thứ 3 khoảng vài vạn tên do Nasi rút Din chỉ huy từ nước Đại Lý tiến vào Quy Hóa và tiến xuống Thăng Long theo hướng Tây Bắc nhằm phân tán lực lượng của Đại Việt.
Thực ra, trong 30 năm sau thất bại lần 1 năm 1258, Nguyên-Mông không đánh đại Việt vì còn bận chiến tranh với nhà Nam Tống ở Trung Quốc. Sau khi tiêu diệt các nước Kim, Lưu ở phía Bắc Trung Quốc năm 1234, Mông Cổ bắt đầu đánh nhà Nam Tống. Năm 1271, Hốt Tất Liệt tuyên bố thành Lập Đế quốc Đại Nguyên (Nguyên-Mông), Kinh đô là Đại Đô (Bắc Kinh). Năm 1279, nhà Nam Tống với kinh đô Lâm An (Hàng Châu) bị tiêu diệt, Hốt Tất Liệt thành lập đế quốc Nguyên-Mông ở Trung Quốc, biên giới Nguyên- Mông giáp liền với biên giới Đại Việt. Lúc này đế quốc Mông Cổ bước vào thời kỳ huy hoàng thịnh trị nhất, lãnh thổ vắt từ Thái Bình Dương qua Hắc Hải với diện tích khổng lồ 23 triệu km2 mà đế quốc Nguyên-Mông của Hốt Tất Liệt là một bộ phận rộng lớn. Hốt Tất Liệt quyết tâm xâm lược Đại Việt để không chỉ báo thù cho lần thất bại thứ nhất mà còn mở đường chinh phục các nước Đông Nam Á và các nước Thái Bình Dương. Trong 30 năm chưa tấn công bằng quân sự nhưng nhà Nguyên-Mông liên tục cho sứ giả đến đe dọa, gây áp lực và nhục mạ láo xược với Đại Việt. Lúc thì đưa chiếu thư bắt vua Trần sang chầu, lúc thì đòi mượn đường để quân Nguyên-Mông đi qua đánh Chiêm Thành. Các vua Trần khi đó là những vị vua anh hùng không run sợ, không khuất phục, bác bỏ tất cả những yêu sách láo xược, vi phạm danh dự chủ quyền của đất nước, của triều đình.
Năm 1282, Trần Di Ái đi sứ nhà Nguyên-Mông. Hốt Tất Liệt phong Trần Di Ái là An Nam Quốc Vương, cho quân hộ tống về nước để lập triều đình bù nhìn. Trần Di Ái và quân hộ tống bị nhà Trần đánh cho tơi tả. Trần Di Ái phải chạy sang nhà Nguyên. Quan hệ ngoại giao hai nước bị cắt đứt, nhà Nguyên-Mông bắt đầu liên tục đe dọa vũ lực.
Sau năm 1258, Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông, vua Trần Nhân Tông vẫn duy trì chính sách phát triển kinh tế, khoan thư sức dân, xây dựng quân đội nhiều thứ quân, quân Triều đình, quân của các vương hầu và dân binh của các hào trưởng, tù trưởng. Lập Giảng Võ Đường để giáo dục quân sự cho các tướng lĩnh, thu hút cất nhắc những nhân tài quân sự, coi trọng lý luận quân sự như binh pháp Tôn Tử, Trần Hưng Đạo còn viết “Binh thư yếu lược”, “Vạn Kiếp tông bí truyền thư” cho các tướng lĩnh cao cấp học tập. Khi chiến tranh đã cận kề, nhà Trần triệu tập Hội nghị Bình Than bao gồm tất cả vương hầu, quý tộc nhà Trần để giao nhiệm vụ, thống nhất đoàn kết trong giới quý tộc để làm cơ sở đoàn kết bách tính. Trong hội nghị này, giới quý tộc nhà Trần đã nhất trí cử Trần Hưng Đạo làm Quốc Công Tiết chế, Tổng chỉ huy quân đội lãnh đạo kháng chiến. Một trong những nguyên nhân của các quốc gia trên thế giới thất bại trước sự xâm lược của đế quốc Mông Cổ là nội bộ quý tộc cầm quyền chia rẽ, mất đoàn kết bởi mâu thuẫn trong cuộc đấu tranh giành quyền lực. Giới cầm quyền đã chia rẽ thì không thể đoàn kết được nhân dân, đoàn kết được dân tộc chống ngoại xâm. Trong giới quý tộc nhà Trần đã tồn tại những mâu thuẫn nhất định. Lý Chiêu Hoàng kết duyên với Trần Thái Tông (Trần Cảnh) năm 1224 , khi đó hai người trai tài gái sắc mới 8 tuổi mà mãi tới năm hai người đã 20 tuổi vẫn không có thái tử để kế vị ngai vàng. Trong khi đó, chị của Lý Chiêu Hoàng là Thuận Thiên Công chúa lấy anh ruột của Trần Thái Tông là Trần Liễu đã có mang. Thái sư Trần Thủ Độ khi đó quyền lực nghiêng cả triều đình đã buộc Trần Thái Tông ly dị Lý Chiêu Hoàng để lấy chị dâu là Thuận Thiên Công chúa. Lý Chiêu Hoàng từ là hoàng đế, khi nhường ngôi cho Trần Cảnh trở thành hoàng hậu, khi bị ly dị thì bị dáng xuống làm công chúa. Số phận nữ hoàng đế duy nhất này của Đại Việt thật truân chiên. Sau năm 1258, bà lại kết duyên cùng Lê Tần do chính Trần Thái Tông mai mối. Âu cũng là một cái kết vẹn toàn do Trần Thái Tông vẫn còn nhớ đến bà. Trần Liễu mất vợ là Thuận Thiên công chúa đã nổi loạn chống lại Trần Thủ Độ nhưng thất bại, bị tội chết nhưng nhờ Trần Thái Tông can thiệp, Trần Thủ Độ mới tha. Trần Liễu vẫn ôm hận. Trước khi chết đã di nguyện cho con trai là Trần Quốc Tuấn (Trần Hưng Đạo) khi nắm binh quyền phải cướp ngôi dòng chú thì ông ở suối vàng mới nhắm mắt.
Trong cuộc kháng chiến lần 2 này, 4 người này đứng đầu triều đình mà không đoàn kết thì cuộc kháng chiến của Đại Việt coi như tiêu vong. Đó là Thái Thượng hoàng Trần Thánh Tông, con của Trần Thái Tông, em con ông chú của Trần Hưng Đạo, vua Trần Nhân Tông, con của Trần Thánh Tông, cháu của Trần Hưng Đạo, Thượng tướng thái sư Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải, con của Trần Thái Tông, em của Trần Thánh Tông và như vậy là em con ông chú của Trần Hưng Đạo. Trong 4 người này thì quan hệ giữa Trần Hưng Đạo và Trần Quang Khải là quan trọng nhất. Trần Hưng Đạo khi nghe lời di huấn của cha, ông không cho là phải. Bản chất của ông là đặt quyền lợi quốc gia, đất nước lên trên hết. Ông đã chủ động làm lành với Trần Quang Khải. Trần Quang Khải hiểu được lòng trung của Trần Hưng Đạo nên cũng chấp nhận làm lành. Hai người một là Thái sư, một là Tổng tư lệnh đã đoàn kết sát cánh với nhau lãnh đạo cuộc kháng chiến. Sự đoàn kết của Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải đã làm nền tảng đoàn kết thống nhất của triều đình, của toàn quân đội và của bách tính đại Việt, tạo nên một sức mạnh vô địch.
Sau hội nghị Bình Than, triều đình nhà Trần mở Hội nghị tại điện Diên Hồng trong kinh đô Thăng Long, thành phần bao gồm toàn bộ các bô lão từ 50 tuổi trở lên ở các làng mạc, thôn, bản, hương, trang trong toàn quốc. Vua Trần Nhân Tông và Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông chủ trì tiệc yến chiêu đãi các bô lão. Khi vào Hội nghị Diên Hồng, vua nói:
-Nay giặc Nguyên Mông đem 60 vạn quân xâm lược nước ta, thế giặc rất mạnh, các bô lão cho biết nên hòa hay nên đánh?
Tất cả các bô lão đều hô vang làm rung chuyển cả điện Diên Hồng:
-Đánh…
Vua Trần Nhân Tông nói:
-Nếu toàn dân đã quyết tâm đánh giặc thì triều đình sẽ đánh. Sau đây các bô lão về làng quê phổ biến và thực hiện chính sách kháng chiến của triều đình. Một, triệt để làm vườn không nhà trống, lương thực phải mang đi, mang không hết phải đem chôn, tuyệt đối không được để lương thực lọt vào tay giặc. Để cho giặc đói mà sức cùng lực kiệt chúng ta mới đánh thắng được.
Các bô lão lại hô vang:
-Các lão phu tuân chỉ.
-Thứ hai, nếu giặc đến đánh được thì đánh, không đánh được thì cho phép rút lui, tuyệt đối không được đầu hàng giặc.
-Các lão phu tuân chỉ.
Ý chí và quyết tâm của toàn dân ở điện Diên Hồng đã đem lại sức mạnh, niềm tin và quyết tâm kháng chiến của triều đình. Ngược lại, các bô lão cũng đem đường lối của triều đình về sâu tận các làng bản, đặc biệt là chỉ dụ về vườn không nhà trống được bách tính thực hiện triệt để, góp phần to lớn vào chiến thắng của cuộc kháng chiến.
Sau hội nghị Diên Hồng, Trần Hưng Đạo tổ chức một cuộc duyệt binh lớn ở Đông Bộ Đầu. Tại đây, Quốc Công Tiết chế đọc “Hịch Tướng Sĩ” khích lệ tinh thần yêu nước, căm thù giặc của quân sĩ. Các binh sĩ căm thù giặc cao độ, nhiều người đã thích vào cánh tay hai chữ “Sát Thát”. Sau lễ duyệt binh, các tướng lĩnh nhận nhiệm vụ, điểm quân lên trấn giữ những nơi trọng yếu đã được Tổng tư lệnh phân công. Trần Hưng Đạo kéo 30 vạn quân lên miền Bắc, đóng Tổng hành dinh ở ải Nội Bàng (Lục Ngạn), Bắc Giang.
Sáng 27-1-1285, trong Tổng hành dinh, Trần Hưng Đạo đang ngồi duyệt lại kế hoạch chiến tranh thì thám mã từ Lạng Châu về báo:
-Dạ bẩm Quốc công tiết chế, 50 vạn kỵ binh và bộ binh Mông Cổ do Thoát Hoan làm chủ soái, A Lý Hải Nha làm phó soái đã từ Tư Minh vượt biên giới đang tiến vào Lộc Châu Lạng Sơn của ta.
Lại có thám mã về cấp báo:
-Dạ bẩm Quốc công tiết chế, một cánh quân Mông Cổ do Sát Tháp Nhĩ Đài và Lý Bang Hiệu chỉ huy theo đường Cáp Lĩnh (Lộc Bình) đang tiến về Sơn Động.
Trần Hưng Đạo dùng mực đen vẽ hai mũi tên lên sơ đồ. Lại một thám mã khác về báo:
-Dạ bẩm Quốc công tiết chế, quân ta ở ải Khả Ly (sông Xa lý, Sơn Động) thất thủ, toàn quân đã hy sinh, hai tướng Đỗ Vĩ và Đỗ Hiệu đã bị bắt.
Trần Hưng Đạo đánh thêm một mũi tên vào ải Khả Ly.
Lại có thám mã về báo tiếp:
-Dạ, bẩm Quốc công tiết chế, từ ải Khả Ly, quân giặc tấn công ải Đông Bản, Sơn Động, toàn bộ quân ta và tướng Trần Sâm đã hy sinh.
Lại một thám mã về báo:
-Dạ, bẩm Quốc công tiết chế, quân Mông Cổ do chính Thoát Hoan chỉ huy đã vượt qua các ải Vĩnh Châu, Thiết Lược, Chi Lăng, Lạng Châu và đang ào ạt tiến tới Bắc Giang.
Tin tức dồn dập làm Trần Hưng Đạo suy nghĩ rất lao lung. Như vậy, thế giặc rất mạnh ban đầu cho nên tất cả các cửa ải của ta đã thất thủ. Bây giờ 50 vạn quân giặc đang tràn xuống và giao chiến với 30 vạn quân ta ở ải Nội Bàng. Vấn đề đặt ra là có nên đem 30 vạn quân đánh một trận quyết định với 50 vạn quân địch hay không. Vấn đề này đã được vua Trần Thái Tông trả lời trong cuộc chiến tranh Mông Cổ- Đại Việt năm 1258, trong trận Bình Lệ Nguyên. Đó là không thể đánh một trận dốc túi như vậy vì đó là một trận đánh mà khả năng thất bại thuộc phía Đại Việt và sẽ mất nước. Đó là cách đánh theo cách đánh của địch. Địch bao giờ cũng thực hiện chiến lược đánh nhanh thắng nhanh để tiêu diệt chủ lực, bắt sống triều đình của Đại Việt, kết thúc chiến tranh thắng lợi. Vậy thì ta phải buộc địch đánh theo cách đánh của ta là đánh lâu dài, tức là Đại Việt phải rút lui chiến lược, chờ chúng đói khát, mỏi mệt suy yếu, khi đó Đại Việt sẽ phản công chiến lược mà tiêu diệt chúng. Cho nên khi quân địch còn mạnh tiến như vũ bão thì những trận đánh với chúng chỉ là những trạnh đánh tiêu hao, kìm chân địch. Từ tư tưởng chiến lược đó, Quốc công tiết chế đã bố trí thế trận nhiều tầng nhiều lớp, phá thế trận bao vây tiêu diệt chớp nhoáng của quân Mông Cổ, thế trận này còn bảo vệ, mở đường rút lui của quân ta, phá thế bao vây của địch. Quốc công tiết chế đã ra lệnh cho các tướng dưới quyền đang ở mặt trận phía Bắc như Phạm Ngũ Lão, Yết Kiêu, Dã Tượng, Trần Quốc Uy, Trần Quốc Tảng, Trần Quốc Hiến, Trần Quốc Nghiễn:
-Chiến thuật của quân Mông Cổ là dùng số đông và sức cơ động của kỵ bị bao vây bốn phía để tiêu diệt chúng ta. Nay ta ra lệnh tất cả các tướng không được để địch bao vây. Thứ hai ta ra lệnh rút khỏi Nội Bàng sau khi đã đánh tiêu hao kìm chân địch. Khi có tên lửa bắn lên trời, tiền quân chặn giặc, còn các tướng phải tự động phân tán rút quân về Vạn Kiếp, không được để địch bao vây tiêu diệt.
-Chúng mạt tướng tuân lệnh.
Rồi Trần Hưng Đạo gọi:
-Yết Kiêu đâu.
-Dạ, có mạt tướng.
-Tướng quân đem một chiếc thuyền ra bãi Tân, sông Lục Nam chờ để đón ta ở đó.
-Mạt tướng tuân lệnh.
-Tướng quân Trần Quốc Uy.
-Dạ, có mạt tướng.
-Tướng quân đem 5 vạn quân chặn cánh hữu ải Nội Bàng, không cho giặc hình thành thế bao vây.
-Mạt tướng tuân lệnh.
-Tướng quân Trần Quốc Hiến.
-Dạ, có mạt tướng.
-Tướng quân đem 5 vạn quân chặn giặc ở phía tả ải Nội Bàng, không cho giặc hình thành thế bao vây.
-Mạt tướng tuân lệnh.
-Tướng quân Trần Quốc Tảng.
-Dạ, có mạt tướng.
-Tướng quân đem 10 vạn quân chặn mặt trước ải Nội Bàng, không cho giặc phá vỡ thế trận trước khi có lệnh rút lui.
-Mạt tướng tuân lệnh.
-Tướng quân Trần Quốc Nghiễn.
-Dạ, có mạt tướng.
-Tướng quân đem 5 vạn quân bảo vệ con đường huyết mạch từ Nội Bàng về Vạn Kiếp, nhất là bảo vệ các chiến thuyền ở bờ Bắc sông Lục Nam cho quân ta có phương tiện rút lui.
-Mạt tướng tuân lệnh.
-Phạm Ngũ Lão, Đại hành, Nguyễn Địa Lô, Dã Tượng đâu.
-Dạ, có chúng mạt tướng.
-Ta chỉ huy 5 vạn quân còn lại cùng các tướng đi trung quân phá giặc.
-Chúng mạt tướng tuân lệnh.
Nhận lệnh xong, quân Việt thu hết lán trại và theo các tướng chỉ huy dàn trận thành nhiều tầng nhiều lớp chặn những con đường, những ngọn đồi đến ải Nội Bàng, tạo thành vòng cung mà hai cánh cung vươn về phía Bắc, gây khó cho quân giặc nêu muốn triển khai thế bao vây. Quân Việt quân phục màu nâu đông như kiến cỏ trong một không gian rộng lớn của vùng Nội Bàng, chiêng trống vang lừng, cờ bay rợp trời giữa gió mùa đông giá lạnh.
Thế rồi từ phía Bắc, âm thanh của chiến tranh đang ập đến như một cơn bão táp tràn vào Đại Việt. Tiếng vó ngựa, tiếng chân người chạy, tiếng reo hò man rợ của 50 vạn quân làm rung chuyển những con đường, những đồi núi vùng Lạng Châu và vùng Bắc Giang, bụi cuốn mù mịt như bão táp sa mạc. Canh giờ sau, quân Việt đã trông thấy những khối người ngựa khổng lồ của 50 vạn quân đang lao tới. Với quân Mông Cổ sẽ không có lối đánh đàng hoàng là hai bên dàn trận hình chữ nhất rồi hai tướng hai bên ra thí võ với nhau, bên nào tướng bị chém thì tháo chạy và bên kia truy đuổi. Quân Mông Cổ hoàn toàn khác, cậy số đông và sức cơ động nên trông thấy đối phương là chúng triển khai ngay thế bao vây nhanh chóng, chia cắt đối phương và tiêu diệt bằng cung tên, bằng chém giết. Vừa trông thấy Quân Việt, Thoát Hoan trỏ gươm, 50 vạn quân ào ào xông lên triển khai thế bao vây. Bên quân Việt hàng vạn mũi tên bắn ra, hàng vạn quân Mông Cổ gục trên mình ngựa hoặc lăn xuống đất. Quân Mông Cổ xông lại gần và cuộc chém giết bắt đầu, dao kiếm chạm nhau tóe lửa phát ra những âm thanh ghê rợn, xác người đổ, máu phun. Quân Mông Cổ triển khai thế bao vây nhưng cánh tả và cánh hữu bị quân Việt chống cự kịch liệt. Nhưng tiền đạo quân Mông Cổ phá được thế trận và xông vào nhằm chia cắt đội hình quân Việt. Quân Việt chống cự kịch liệt, ngoan cường. Thốt nhiên, trong thế trận quân Việt, một phát tên châm lửa bắn lên trời. Hậu quân Việt bắt đầu rút quân, tiền quân cũng vừa đánh vừa rút. Hai vạn quân Việt đã hy sinh cho toàn quân rút lui an toàn, phía quân Mông Cổ 3 vạn tên cũng bỏ xác trên chiến trường Nội Bàng khốc liệt. Quân Mông Cổ sau khi đã đánh tan hết tiền quân cản đường bắt đầu chuyển sang truy kích quân Việt rút chạy. Quân Việt chia thành nhiều cánh rút theo nhiều ngã đường. Quân Mông Cổ không thông thạo đường đất, địa hình nhiều đồi núi, gây cản trở cho tốc độ và tầm nhìn, lại gặp phải sông Lục Nam cản đường, đành đứng ở bờ Bắc chồm ngựa điên cuồng nhìn quân Việt qua sông. Cuối cùng những cánh quân Việt đã rút an toàn về Vạn Kiếp.
Quốc Công tiết chế Trần Hưng Đạo rút sau cùng. Voi sải những bước dài về bờ sông Lục Nam. Quân Mông Cổ đuổi rất gấp. Khắp các vùng bờ Bắc của sông Lục Nam lớp lớp kỵ binh và bộ binh quân Mông Cổ đang lồng lộn truy kích quân Việt. Trần Hưng Đạo nhìn bờ sông không còn một bóng con thuyền nào. Trần Hưng Đạo nói với Phạm Ngũ Lão cùng những người bảo vệ bên cạnh.
-Ta nên đi một đường nào đó mà về, Yết Kiêu chắc gì còn cắm thuyền đợi ta ở Bãi Tân?
Phạm Ngũ Lão nói:
-Chủ soái yên tâm, chưa thấy chủ soái thì Yết Kiêu sẽ không bao giờ rời bến.
Phạm Ngũ Lão nói xong thì kỵ binh Mông Cổ đã ở rất gần phía sau. Con voi sải bước xuống bãi Tân, đã trông thấy Yết Kiêu vẫn cắm thuyền đứng đợi. Trong khi vội vàng xuống quá đà, con voi sa lầy không lên được nữa, con voi chìm dần, nó dơ vòi lên vẫy Quốc công tiết chế khi con thuyền đang rời bến, đôi mắt của nó tuôn ra hai dòng nước mắt. Hưng Đạo Vương đau xót dùng tay vẫy con voi trung thành trong giờ vĩnh biệt. Trên bờ, kỵ binh Mông Cổ đã xông tới nơi, vó ngựa quá đà gặp bờ sông nên dựng hai vó trước lên trời và rú lên. Quân Mông Cổ bắn tên theo thuyền của Trần Hưng Đạo nhưng thuyền đã đi xa, những mũi tên lao xuống nước. Sự dũng cảm và trung thành của Yết Kiêu đã cứu được chủ tướng, linh hồn, bộ não của cuộc kháng chiến, do đó mà đã cứu được đất nước. Đánh giá sự kiện này Hưng Đạo Vương nói:
-Than ôi, con chim hồng hộc muốn bay cao phải nhờ sáu trụ cánh của nó.
*
* *
Các cánh quân Đại Việt từ Nội Bàng trước sau đều về đến Vạn Kiếp. Đại bản doanh của Trần Hưng Đạo nằm ở Tây Bắc, giáp với sông Lục Đầu. Vạn Kiếp chắn con đường quan trọng từ Đông Bắc và hướng Bắc về kinh thành Thăng Long, cả đường bộ và đường thủy, Vạn Kiếp được ba mặt sông bao bọc, chỉ có hướng Bắc và Đông Bắc là tiếp giáp với đồi núi Bắc Giang. Dưới sông, 1.000 chiến thuyền Đại Việt neo đậu. Tại Vạn kiếp, Trần Hưng Đạo họp các tướng trong Tổng hành dinh và ra lệnh:
-Tướng quân Trần Quốc Uy.
-Da, có mạt tướng.
-Tướng quân đem 5 vạn quân mai phục phía Đông, con đường Nội Bàng vào Vạn kiếp. Khi nào có tên lửa bắn lên thì phải xuống thuyền rút về Thăng Long.
-Mạt tướng tuân lệnh.
-Tướng quân Trần Quốc Nghiễn.
-Dạ, có mạt tướng.
-Tướng quân đem 5 vạn quân mai phục con đường phía Tây, con đường từ Nội Bàng về Vạn Kiếp, khi thấy tên lửa phải xuống thuyền rút về Thăng Long. Nhớ không được để bị bao vây.
-Mạt tướng tuân lệnh.
-Tướng quân Trần Quốc Tảng.
-Dạ, có mạt tướng.
-Tướng quân đem 5 vạn quân bảo vệ các chiến thuyền, không được để quân địch cướp thuyền chặn mất đường rút của quân ta.
-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.
-Tướng quân Yết Kiêu.
-Dạ, có mạt tướng.
-Tướng quân về gặp Thái thượng hoàng và thiên tử tâu rằng cần cho triều đình và bách tính sơ tán gấp về Thiên Trường và Trường Yên, nếu chậm trễ sẽ không kịp. Nhớ thực hiện vườn không nhà trống như hội nghị Bình Than và Diên Hồng đã quyết.
-Dạ, mạt tướng tuân lệnh
-Tướng quân Nguyễn Địa Lô
-Dạ, có mạt tướng.
-Tướng quân thông thạo địa hình Lạng Châu và Bắc Giang, nay tướng quân trở lại Lạng Châu chỉ huy dân binh đánh địch sau lưng, chặn đánh con đường tiếp lương của chúng từ Tư Minh về Thăng Long và sau này mai phục truy kích địch trên đường chúng tháo chạy.
-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.
-Tướng quân Phạm Ngũ Lão,Trần Quốc Hiển, Đỗ Hành, Cao Mang
-Dạ, có mạt tướng.
-Các tướng quân đi trung quân cùng ta phá giặc.
-Dạ, chúng mạt tướng tuân lệnh.
Quân Việt triển khai đội hình xong thì từ xa đã vang lên tiếng ầm ầm như trời rung đất chuyển của chân người chân ngựa của gần 50 vạn kỵ binh bộ binh Mông cổ đang đến gần, như vũ bão tiến về Vạn Kiếp, giáp trụ đen ngòm, vũ khí sáng rực, ngựa đen và cờ đen phi như gió. Bộ binh ầm ầm theo sau như đám quỷ ma hung tợn. 5 vạn quân Tiên phong Mông Cổ đã lọt vào trận địa mai phục của Trần Quốc Uy và Trần Quốc Nghiễn. Quân Việt từ hai phía bắn tên như mưa vào quân Nguyên-Mông. Hàng nghìn kỵ binh và bộ binh Nguyên Mông gục xuống ngựa và xuống đất. Ngựa không chủ lồng lên hí vang mất phương hướng. Tiếng trống trận, tiếng tù và của của quân Việt vang lên, cùng tiếng reo hò xông ra chém giết. Quân Nguyên Mông bị đánh bất ngờ thiệt hại rất lớn, khoang 3 vạn quân tiên phong đã bỏ mạng. Nhưng Trung quân và hậu quân của địch phía sau đông như kiến cỏ. Thoát Hoan giơ gươm thúc các cánh quân xông lên triển khai thế bao vây quân Việt. Quân Việt bị ba bên đánh lại núng thế, 1 vạn chiến sĩ đã hy sinh. Chợt có tên lửa bắn lên không trung. Quân Nguyên-Mông chưa kịp khép vòng vây thì 10 vạn quân Việt vừa đánh vừa rút xuống thuyền ở Lục Đầu Giang, cùng 20 vạn quân của Quốc công Tiết chế bỏ Vạn Kiếp rút về Thăng Long. Thuyền đang rời bến thì Yết Kiêu từ Thăng Long về báo:
-Dạ, bẩm Quốc công tiết chế, Thái thượng hoàng và thiên tử đã cho triều đình và bách tính sơ tán hết rồi ạ. Cả Thái thượng hoàng và thiên tử cũng đã về Thiên Trường và Trường Yên rồi ạ.
Trần Hưng Đạo nói:
-Tốt lắm. Trần Quốc Uy và Trần Quốc Nghiễn đâu.
-Dạ, có mạt tướng.
-Hai tướng quân đem 20 vạn quân rút về Thiên Trường, Trường Yên phần đề bảo vệ quân chủ lực, phần để bảo vệ triều đình, Thái thượng hoàng, thiên tử và bách tính.
-Thế còn Thăng Long?
-Thăng Long chỉ còn là tòa thành không. Trận đánh ở Thăng Long cũng chỉ là tiêu hao địch. Ta cũng sẽ rút khỏi Thăng Long để mùa hè phản công chiến lược lấy lại kinh thành.
-Mạt tướng tuân lệnh. Phụ thân bảo trọng.
Hai phần ba chiến thuyền và quân Đại Việt đi về hướng Đông Nam, 1/3 chiến thuyền đi về hướng Bắc. Quân Nguyên Mông dồn ứ trên bờ sông Lục Đầu. Thoát Hoan quan sát thấy thuyền có lá cờ chữ “Soái” đi về hướng Thăng Long. Thoát Hoan biết là Trần Hưng Đạo đã về Thăng Long, liền cho Mảng Cổ Thái và Nạp Hải đem 5 vạn quân vào chiếm Vạn Kiếp, còn hắn dẫn quân truy kích theo đường bộ về Thăng Long. Thủy Quân Đại Việt từ sông Lục Đầu theo sông Cầu ra sông Đuống. Quân Nguyên-Mông cướp được 100 thuyền đánh cá nhỏ của dân chài Việt chặn quân Việt ở sông Đuống. Nhưng đó là những thuyền nhỏ, thuyền quân Việt lướt tới bắn cung và đâm thủng, khoảng 5.000 quân Nguyên Mông chết chìm xuống sông. Rõ ràng, thủy chiến và đánh trên sông nước là thế yếu của Nguyên-Mông, là thế mạnh của Đại Việt. Xác quân Nguyên-Mông chết ở Vạn Kiếp thối rữa ra, những cánh đồng đó hàng trăm năm sau dân Việt vẫn gọi tên là cánh đồng “Thối”. Quân Việt từ sông Đuống về sông Hồng, tổ chức bảo vệ Thăng Long. Dù Thăng Long chỉ là tòa thành trống không nhưng Trần Hưng Đạo vẫn tổ chức trận đánh này để tiêu hao quân địch, tạo điều kiện cho 20 vạn quân chủ lực và hai vua về Thiên Trường và Trường Yên an toàn, củng cố được chỗ đứng chân. Tại Thăng Long, thám mã Tây Bắc về báo cho Trần Hưng Đạo:
-Dạ, Bẩm Quốc công tiết chế, 5 vạn quân Nguyên Mông do tướng Na si rút Din chỉ huy từ Trại Quy Hóa đánh xuống. Tướng Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật đã phải rút lui.
Lại có thám mã về báo:
-Dạ bẩm Quốc công tiết chế, quân Nguyên Mông từ Vũ Ninh tràn xuống sông Đuống, quân ta giao chiến nhưng phòng tuyến sông Đuống thất thủ, quân ta đã về sông Hồng hội quân.
Thám mã lại về báo:
-Dạ bẩm Quốc công Tiết chế, hơn 30 vạn quân Nguyên-Mông đã ở bờ Bắc sông Hồng, bên Gia Lâm đang chuẩn bị bắc cầu phao vượt sông đánh Thăng Long.
Thám mã từ trấn lộ Thanh Hóa về báo:
-Dạ, bẩm Quốc công tiết chế, 10 vạn quân do Toa Đô chỉ huy từ lãnh thổ Chiêm Thành đã vượt qua được sông Gianh đang tiến đánh Hoan Châu và Diễn Châu.
Trần Hưng Đạo nói:
-Thám mã.
-Có mạt tướng
-Tướng quân chạy ngựa vào Trường Yên bảo với Thái thượng hoàng điều tướng Trần Nhật Duật cho mặt trận Hoan Châu, ra chỉ dụ cho Đại Vương Trần Quốc Khang và con là Trần Kiện kiên quyết giữ vững mặt trận phía Nam để phá thế gọng kìm của địch. Nói là mặt trận phía Nam mà vỡ thì Đại Việt nguy to. Rõ chưa.
-Dạ, mặt tướng tuân lệnh.
Sau khi thám mã đi rồi, Trần Hưng Đạo đi ra Đông Bộ Đầu. Từ đây, ngài quan sát toàn bộ quang cảnh kinh thành và sông Hồng. Phía bờ Bắc, đối diện với Đông Bộ Đầu thuộc vùng Gia Lâm, người ngựa quân Nguyên-Mông đông như kiến cỏ đang phá nhà dân để bắc cầu phao qua sông Hồng, quân Nguyên-Mông thu những thuyền của dân chài để giúp thêm cho việc vượt sông. Trần Hưng Đạo thấy rằng khó khăn lớn nhất của quân Nguyên-Mông trước mắt là thiếu thủy binh. Trần Hưng Đạo gọi:
-Trần Quốc Tảng đâu.
-Da, có mạt tướng.
-Tướng quân chỉ huy toàn bộ 300 binh thuyền còn lại, cùng tướng Nguyễn Khoái chờ khi quân giặc qua cầu phao thì tiến công bằng tên và máy bắn đá. Nhớ khi có tên lửa bắn lên trời phải ghé thuyền vào để ta và quân trên bờ xuống thuyền rút lui. Nhớ không được để quân giặc cướp mất thuyền là 10 vạn quân và ta sẽ chết. Rõ chưa.
-Mạt tướng tuân lệnh.
-Trần Quốc Hiến và Chiêu Thành Vương Trần Thông đâu.
-Dạ, có mạt tướng.
-Hai tướng quân chỉ huy 5 vạn quân đánh giặc khi giặc đến Đông Bộ Đầu và thành Bắc Thăng Long. Nhớ dựa vào hào lũy mà diệt địch. Khi có tên lửa bắn lên trời phải cho quân xuống thuyền của Trần Quốc Tảng mà rút lui, rõ chưa. Nhớ không được để giặc bao vây.
-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.
Sau khi bắc xong cầu phao được hai làn ngựa và 4 làn bộ binh, quân Nguyên Mông ào ạt qua cầu phao, dưới cầu phao là những thuyền nhỏ chở từng tốp lính chèo sang. Sông Hồng náo động. Trần Quốc Tảng, Nguyễn Khoái cho thủy binh Việt tiến lại gần cầu phao vừa tầm bắn nã tên và dùng máy bắn đá dội đá lên cầu, lên thuyền nhỏ của quân Nguyên Mông. Quân Nguyên Mông chết ngã xuống sông hàng vạn. Tất cả thuyền nhỏ chỉ là thuyền chài không chịu nổi sức đập của đá, hầu hết bị chìm. Sông Hồng đỏ ngầu máu và dày đặc xác chết tưởng như tắc nghẽn. Nhưng Quân Nguyên Mông quá đông. Quân Việt bắn hầu như hết tên và đá, do đó quân Nguyên Mông cũng sang được Đông Bộ Đầu và tấn công vào thành Thăng Long ở cửa Bắc. 5 vạn quân Việt do Trần Quốc Hiến và Trần Thông chỉ huy đánh nhau ác liệt với quân Nguyên Mông. Quân Việt dựa vào chiến lũy bắn tên ra, phóng lao và dùng giáo dài đâm những tên đang leo lên chiến lũy. Một vạn quân Nguyên Mông chết dưới chân thành, máu đẫm như nước suốt dọc bờ đê. Thốt nhiên, có một phát tên lửa bắn lên trời. Trần Quốc Hiến và Trần Thông ra lệnh cho quân Việt rút xuống thuyền. Quân Nguyên Mông như hổ đói rùng rùng đuổi theo, quân Việt vừa đánh vừa rút, tên và máy bắn đá lại đội vào đầu quân Nguyên Mông. Những tên lính Mông gục xuống, xác ngổn ngang cản đường kỵ binh Mông cổ. Quân Nguyên Mông lại một lần nữa đứng trên bờ nhìn quân Việt ra giữa dòng sông và rút lui, chỉ còn biết ghì cương ngựa lồng lộn và bắn những mũi tên vu vơ lên trời, ra sông tức giận.
Ngày 19-2-1285, Thoát Hoan cho quân tràn vào kinh Thành Đại Việt, một kinh thành nổi tiếng. Những lá cờ vàng bay trên mặt thành, phần phật trong gió đông. Thoát Hoan ngạc nhiên vì trong thành im lặng, không có lính canh trên mặt thành. Điều mà Thoát Hoan lo sợ lại đang là sự thật, đó là một kinh thành trống không, không một bóng người. Thoát Hoan tức giận nói với phó soái A Lý Hải Nha:
-Từ biên giới vào Thăng Long có 300 dặm, ta đã mất 8 vạn quân mà không bắt được triều đình, không tiêu diệt được toàn bộ quân Đại Việt, lại vào một tòa thành trống không, không người, không lương thực. Cuộc chiến mà kéo dài, chúng ta biết làm thế nào? Ta lại lặp lại vết xe đổ của Ngột Lương Hợp Thai năm 1258 chăng?
A Lý Hải Nha nói:
-Nguyên soái đừng thất vọng, việc cần kiếp là tịch thu thuyền dân chài phối hợp với kỵ binh truy tìm triều đình và quân chủ lực của Đại Việt ở đâu để đem đại quân đến đó tiêu diệt, nhanh chóng kết thúc chiến tranh.
-Quân sư nói phải lắm
Thoát Hoan liền gọi:
-Tướng quân Lý Hằng và Khoan Triệt đâu.
-Dạ, bẩm nguyên soái, có mạt tướng..
-Hai tướng quân dùng kỵ binh đi tìm tung tích của triều đình Trần và quân Đại Việt ở đâu để tiến đánh,
-Mạt tướng tuân lệnh.
-Hai tướng Sát Tháp Nhĩ Đài và Bốt La hợp Đáp Nhĩ đâu.
-Có mạt tướng.
-Quân ta lấy được 100 thuyền chài của dân. Hai tướng quân đem khoảng một vạn quân theo đường thủy xuôi về Đông Nam cùng kỵ binh tìm kiếm triều đình và quân đội nhà Trần.
-Mạt tướng tuân lệnh.
Thoát Hoan nói thêm:
-Quân tìm kiếm thủy và bộ do Lý Hằng chỉ huy, các tướng quân phải tuân lệnh tướng quân Lý Hằng.
-Mạt tướng tuân lệnh.
Thủy binh và kỵ binh quân Nguyên Mông đi về hướng Đông- Nam của Đại Việt. Trước mắt Lý Hằng và quân Nguyên Mông là những đồng bằng xanh tươi, làng xóm quanh co uốn lượn cũng xanh màu cây lá, đồng ruộng rồi lại sông ngòi, sông ngòi rồi lại đồng ruộng chằng chịt xen kẽ nhau. Lý Hằng cho rằng đây là một đất nước kỳ lạ, khác xa với đất nước Gô Bi của y, sa mạc và đồng cỏ mênh mông đến mức ngựa phi phải chùn gối. Gió mùa đông Bắc thổi lạnh buốt làm đung đưa những khóm tre và những cây xanh. Các làng mà hắn đi qua đầy im lìm và huyền bí. Con đường kết thúc cuộc chiến tranh muốn thắng lợi mà còn xa vạn lý không có hồi kết.
Kỵ binh và thủy binh Nguyên Mông đến một nơi gọi là Đà Mạc, thuộc Mạn Trù, Khoái Châu. Lý Hằng trông thấy một chiến lũy lẻ loi của Quân Việt, khoảng vài nghìn bộ binh chắn ngang đường sau những chiến lũy tre sơ sài. Dưới sông có khoảng vài chục chiến thuyền bé và vài trăm thủy thủ chặn hai dòng chảy của sông Hồng mà ở giữa là một đảo nhỏ rẽ đôi nước của dòng sông. Đây là cứ điểm ngăn chặn quân Nguyên Mông truy kích triều đình. Cứ điểm có khoảng 3000 quân Thánh dực do tướng Trần Bình Trọng chỉ huy. Cậy quân đông, Lý Hằng xua quân phá chiến lũy. Quân Việt trong chiến lũy bắn ra làm hàng nghìn quân Nguyên Mông tử trận. Quân Nguyên Mông phá được chiến lũy và xông vào chém giết. Quân Việt cũng xông ra kịch chiến, tiếng gươm giáo chạm nhau khô khốc, tóe lửa. Dưới sông, thủy binh Việt cũng hỗn chiến với quân Nguyên Mông. Quân Giặc quá đông nên cuối cùng 3000 quân Việt hy sinh. Tướng Trần Bình Trọng bị bắt. Lý Hằng tìm cách mua chuộc Trần Bình Trọng, hắn sai đem Trần Bình Trọng vào hành dinh, trông thấy liền quát:
-Bay đâu
-Dạ.
-Mau cởi trói cho tướng quân!
-Dạ.
-Lấy ghế cho tướng quân ngồi.
-Dạ.
Lý Hằng nói: - Người tài như tướng quân, Hãn Quốc chúng tôi rất mến mộ và trọng dụng. Tướng quân có thể về để hợp tác với chúng tôi được chăng?
Im lặng.
-Tướng quân có thể chỉ cho bản chức biết hiện nay quân Đại Việt và triều đình Trần đang ở đâu được không?
Im lặng.
-Tướng quân có muốn làm vương đất Bắc không?
Trần Bình Trọng đáp:
-Ta thà làm quỷ nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc.Ta không bao giờ hợp tác với kẻ ngoại bang xâm lược đâu. Ngươi đã bắt được ta muốn chém thì cứ chém, dụ dỗ mua chuộc vô ích.
Không mua chuộc được, Lý Hằng sai đem Trần Bình Trọng ra chém. Đó là ngày 26-2-1285. Hai vua Trần nghe tin Trần Bình Trọng hy sinh xót thương mãi không nguôi. Các tướng lĩnh và chiến sĩ Đại Việt vô cùng khâm phục và thương xót người tướng lĩnh trung thành với đất nước, càng quyết tâm tiêu diệt quân thù.
Lý Hằng và Khoan Triệt tiếp tục xua kỵ binh và thủy binh đi xuống Đông- Nam, đến ngã ba Hải Thị, nơi giao nhau giữa sông Luộc và sông Hồng thuộc Khoái Châu thì gặp một phòng tuyến nữa. Nơi đây, quân Việt đã đóng cọc tre ngăn sông và bố trí bộ binh chặn đường. Lý Hằng nhập quân thủy với kỵ binh và tấn công quân Việt. Quân Việt dùng tên bắn như mưa vào quân Nguyên Mông diệt hàng trăm tên, sau đó rút chạy về hướng Thiên Trường. Lý Hằng nói với Khoan Triệt:
-Ta biết rằng theo quân Việt ở Hải Thị vừa rút lui, có thể biết đại quân Việt và Triều đình Trần cách không xa chúng ta về phía Nam. Ở đó quân Việt ít nhất có 30 vạn, ta chỉ có 10 vạn, lại không thuộc địa bàn, đi đến đó dễ bị mai phục, cầm chắc cái chết. Theo tướng quân ta có nên đi tiếp không?
Khoan Triệt đáp:
-Quân ta đã mỏi mệt, chi bằng quay về Thăng Long báo cho chủ soái rằng ta đã tìm được địa điểm của quân Việt rồi và để chủ soái quyết định.
Lý Hằng nói:
-Tướng quân nói phải lắm.
Rồi hai tướng Nguyên Mông kéo quân trở lại Thăng Long.
Thoát Hoan đang ngồi trong đại bản doanh ở Thăng Long để bàn việc quân với A Lý Hải Nha thì Lý Hăng và Khoan Triệt vào. Lý Hằng và Khoan Triệt thi lễ và nói:
-Bẩm chủ soái, trên đường đi tìm, mạt tướng và tướng quân Khoan Triệt đã tiêu diệt hai phòng tuyến của quân Việt và biết được đại quân Việt và Triều đình Trần đang ở khoảng Thiên Trường và Trường Yên, cách Thăng Long khoảng 200 dặm về hướng Đông-Nam.
Thoát Hoan mừng rỡ:
-Sao hai tướng quan không tấn công vào đó?
-Dạ bảm chủ soái, quân Đại Việt ở đó khoảng 30 vạn, mạt tướng chỉ có 10 vạn, vào thì được nhưng ra thì khó, đành phải về bẩm báo để chủ soái quyết định. Phải điều 40 vạn quân tới đó may ra mới thắng lợi.
Thoát Hoan nói:
-Tướng quân nói phải lắm, phải điều 40 vạn quân vào đó.
A Lý Hải Nha nói:
-Chủ soái kéo quân vào đó, Trần Quốc Tuấn lại rút về Thanh Hóa, mặt trận của ta kéo dài quá, mỏng lực lượng mà chưa chắc đã tiêu diệt được chúng. Nay chúng ta có phải củng cố hậu phương.
Thoát Hoan hỏi:
-Củng cố hậu phương là thế nào?
-Bẩm chủ soái, phải chia quân bảo về đất đai đã chiếm đóng được, đồng thời phải lập những đồn trại bảo vệ phía Nam Thăng Long. Sau đó chờ quân Toa Đô tiến ra Châu Ái, đánh vào phía Nam Trường Yên, ta ở phía Bắc đánh vào. Quân Việt bị kẹp giữa hai gọng kìm có cánh cũng không thoát được.
Thoát Hoan nói:
-Quân sư nói phải lắm.
Liền ra lệnh:
-Tướng quân Nạp Hải.
-Dạ, bẩm chủ soái, có mạt tướng.
-Tướng quân đem 2 vạn quân đóng ở trại Chương Dương, có nhiệm vụ bảo vệ mặt Nam Thăng Long.
-Mạt tướng tuân lệnh.
-Tướng quân Lý Bang Hiến.
-Dạ bẩm chủ soái, có mạt tướng.
-Tướng quân đem hai vạn quân lập trại ở Tây Kết, Khống chế vùng Khoái Châu, Hồng Châu.
-Mạt tướng tuân lệnh.
-Tướng quân Tôn Hiệu.
-Dạ, bẩm chủ soái có mạt tướng.
-Tướng quân đem 2 vạn quân đóng trại ở Hàm Tử, khống chế vùng Khoái Châu, bảo vệ Nam Thăng Long.
-Mạt tướng tuân lệnh.
Đang khi đó Tôn Đức Lâm vào báo:
-Dạ bẩm chủ soái, chúng mạt tướng đem quân ra ngoại vi Thăng Long, vào nhà bách tích thu nhưng không tìm thấy một chút lương thực nào.
Đang khi đó Lưu Thế Anh về báo:
-Bẩm chủ soái, 1.000 quân ta đi sâu vào các làng tìm lương thực đã bị dân binh Việt tiêu diệt hết.
Lại có tướng Nghê Nhuận vào báo:
-Bẩm chủ soái, 2.000 quân ta đi tìm lương thực ở Nam Thăng Long đã bị quân Việt của tướng Trần Khánh Dư mai phục tiêu diệt hết rồi ạ.
Thoát Hoan nói:
-Ở cái nước này hoàn toàn khác các quốc gia khác, các nước khác cứ chiếm được kinh thành là có đầy lương thực, mất kinh thành là triều đình phải đầu hàng. Ở Đại Việt này chiếm được kinh thành chỉ là một tòa thành rỗng không, không một bóng người, triều đình không sợ hãi, cũng không đầu hàng. Bách tính Việt thật là gan dạ, tàn sát giết chóc cũng không nói nơi cất dấu lương thực. Lương thực hết, chiến tranh kéo dài là ta lâm nguy, Quân sư có kế gì hay không?
A Lý Hải Nha nói:
-Bẩm chủ soái, bây giờ chúng ta phải có kế hoạch chuyển lương thực từ Tư Minh về Thăng Long đi là vừa, cứ 30 dặm đặt một trạm, mỗi trạm đặt 3.000 quân và ngựa để vận chuyển lương thực.
-Quân sư nói phải lắm. Tướng Bột La Hợp Đáp Nhĩ đâu.
-Da, bẩm chủ soái, có mạt tướng.
-Tướng quân đem ba vạn quân lập các trại bảo vệ và vận chuyển lương thực từ Tư Minh theo con đường Lạng Châu, Bắc Giang, Vũ Ninh về Thăng Long, rõ chưa?
-Dạ mạt tướng tuân lệnh.
Thoát Hoan sốt ruột:
-Sao mà Toa Đô tiến quân chậm vậy, mãi mà chưa ra được Ái Châu.
Có thám mã về báo:
-Dạ ,bẩm chủ soái, có một thiếu niên quý tộc Trần, tên là Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản với 1.000 quân bản bộ, đi đâu cũng mang lá cờ sáu chữ vàng: “Phá Cường Địch, Báo Hoàng Ân” đã tung hoành và giết hại nhiều quân ta ở Nam Thăng Long.
Thoát Hoan hỏi:
-Một thiếu niên mà ghê gớm vậy sao?
A Lý Hải Nha nói:
-Nó kế thừa tước vị của cha nó nên gọi là Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản. Khi hội nghị quý tộc Trần ở Bình Than bàn kế chống ta, vì nhỏ tuổi không được vào dự, vua Trần ban cho nó quả cam, nó căm thù Nguyên Mông ta đã bóp nát quả cam, rồi tự ý may cờ, cùng quân bản bộ tung hoành trận mạc chống ta.
Thoát Hoan nói:
-Ghê gớm quá, các tướng phải bắt sống nó mổ bụng để ta xem gan nó to như thế nào.
-Chúng mạt tướng tuân lệnh.
Mười ngày sau lại có thám mã về báo:
-Dạ, bẩm chủ soái, dọc con đường chuyển lương của ta từ Tư Minh về Thăng Long liên tục bị tù trường Nguyễn Thế Lộc, Nguyễn Địa Lô dùng dân binh mai phục, tập kích diệt quân ta và cướp hết lương thực.
Thoát Hoan tức giận:
-Bay đâu.
-Dạ, bẩm chủ soái
-Bảo ta ra lệnh cho tướng Lý Bang Hiến tiêu diệt bằng được hai tên tù trưởng này và dân binh của chúng, nếu không 40 vạn quân chết đói, rõ chưa?
-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.
Lại có thám mã về báo:
-Dạ bẩm chủ soái, con đường từ Quy Hóa về Thăng Long đã bị các tù trưởng Hà Đặc, Hà Chương cùng dân binh khống chế, quân ta cứ đi qua con đường đó là bị tiêu diệt ạ.
-Tướng Na Si Rút Din.
-Dạ, có mạt tướng.
-Tướng quân đem 1 vạn quân bắt bọn Hà Đặc, Hà Chương xé xác chúng ra.
-Mạt tướng tuân lệnh.
Thoát Hoan ngồi trong tổng hành dinh ở Thăng Long, lo lắng lộ ra trên nét mặt. Hắn nghĩ chưa ở đâu mà cuộc chinh phạt lại khó khăn, tổn thất lớn như cuộc Nam chinh này. Nếu như không nhanh chóng tiêu diệt quân Đại Việt, bắt sống triều đình Trần, chiến tranh kéo dài thì những bất lợi cho quân Nguyên Mông ngày càng gia tăng mà gay go nhất là sẽ thiếu lương thực, thứ hai là phân tán binh lực để xây phòng tuyến, giữ đất khắp miền Bắc Đại Việt sẽ không còn lực lượng tập trung cơ động để tiêu diệt quân chủ lực Việt còn ít nhất là 30 vạn. Thứ ba, là càng phân tán càng dễ bị tiêu diệt bởi chiến tranh du kích của các tù trường, của các hào trưởng dân binh, quân bản bộ của các tướng lĩnh vương hầu nhà Trần được phân bố khắp các làng xã đồng bằng và miền núi, nó không chia trận tuyến mà xen kẽ ngay trong vùng chiếm đóng của quân Nguyên Mông. Thoát Hoan hiểu rằng Trần Hưng Đạo đang buộc Thoát Hoan phải đánh theo cách đánh của ông ta, đã và đang đưa quân Nguyên Mông vào mê hồn trận, lối đánh chưa từng có trong binh pháp Trung Hoa và Mông Cổ. Mấu chốt cơ bản của tất cả các vấn đề là phải kết thúc chiến tranh sớm. Nhưng làm thế nào? Bản thân Thoát Hoan cũng không dễ gì trả lời được câu hỏi đó. Bỗng có thám mã về báo:
-Dạ bẩm chủ soái, Toa đô và 10 vạn quân ta từ Chiêm Thành tiến ra đã đến Thanh Hóa, sắp đến phía Nam Trường Yên rồi ạ.
Thoát Hoan cả mừng:
-Tốt quá, ta phải đem 40 vạn quân tạo gọng kìm phía Bắc Trường Yên, Toa Đô tạo gọng kìm phía Nam Trường Yên, Quân Đại Việt và triều đình nhà Trần phen này chết không có đất mà chôn. Ha!ha!ha!...
Thoát Hoan gọi:
-A lý Hải Nha đâu.
-Dạ, có mạt tướng.
-Quân sư điểm 35 vạn quân từ Thăng Long tiến nhanh xuống Trường Yên phối hợp với quân Toa Đô ở Nam Trường Yên tiêu diệt quân Đại Việt và triều đình nhà Trần, hoàn thành thắng lợi cuộc Nam chinh.
-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.
Một ngày tháng 3 năm 1285, đất Thăng Long và toàn bộ vùng đồng bằng sông Hồng rung chuyển bởi vó ngựa và bước chân của gần 40 vạn quân Nguyên Mông đang ào ạt tiến về Thiên Trường và Trường Yên, nơi 30 vạn quân Việt và Triều đình nhà Trần đang ở. Đất nước Đại Việt bước vào thời kỳ “nghìn cân treo sợi tóc”
* *
*
Vùng núi Hoa Lư của cố đô Trường Yên, thời gian đã sang tháng 3 âm lịch ấm áp. Mới tháng 3 mà nắng đã chang chang. Những dãy đá vôi với những hình thù kỳ quái vươn lên dưới nắng, mang trên mình những màu xanh muôn cây càng thêm huyền bí. Kinh đô của hai triều đại Đinh-Tiền Lê vẫn thiêng liêng muôn thuở. Trong tổng hành dinh của Trần Hưng Đạo tụ họp đầy đủ những nhân vật chủ chốt của triều đình: Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông, vua Trần Nhân Tông, Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo và nhiều tướng lĩnh cao cấp của triều đình. Hai vua và các tướng lĩnh theo dõi sát sao tình hình chiến sự ở miền Trung và miền Bắc. Tại mặt trận phía Nam, 10 vạn quân Toa Đô vượt sông Gianh, từ châu Bố Chính nhanh chóng đánh ra Hoan Châu, Diễn Châu. Chỉ huy tối cao mặt trận phía Nam là Tĩnh Quốc Đại Vương Trần Quốc Khang và con trai ông ta là Hiến Chương Hầu Trần Kiện, quân Việt cũng đã lên đến 10 vạn quân tinh nhuệ. Thấy rõ sự bất tài của Trần Quốc Khang, Trần Hưng Đạo đã bổ sung tướng Trần Nhật Duật vào Hoan Châu. Nhưng khi Toa Đô tấn công Hoan Châu, Trần Quốc Khang và Trần Kiện không tiếp ứng, Trần Nhật Duật thế cô đã phải lùi về Diễn Châu. Như vậy, tình hình mặt trận quan trọng phía Nam rất nguy cấp, không phải vì quân số, chất lượng quân đội mà ở nhân sự chỉ huy cao cấp. Sau một lượt trà, Trần Hưng Đạo nói:
-Đại vương Trần Quốc Khang chức vụ và tước vị rất cao nhưng già rồi, tài trí quân sự bình thường. Sai lầm của chúng ta là vì nể để ông ta làm tổng chỉ huy tối cao mặt trận quan trọng này. Thần khẩn xin Thái thượng hoàng và hoàng thượng phái Thượng tướng thái sư Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải vào thay thế Trần Quốc Khang làm chủ soái mặt trận phía Nam may ra cứu vãn được tình hình.
Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông nói:
-Chuẩn tấu đề đạt của Quốc công tiết chế.
Trần Quang Khải đem quân vào Thanh Hóa được hai hôm thì thám mã về báo với Trần Hưng Đạo ở Hoa Lư:
-Dạ bẩm thái thượng hoàng, bẩm hoàng thượng, bẩm Quốc công tiết chế, nguy to rồi, khi Thái sư Trần Quang Khải vào đến Thanh Hóa thì Đại Vương Trần Quốc Khang và con là Trần Kiện đã đem một vạn quân bản bộ và toàn bộ gia quyến đầu hàng Toa Đô rồi.
Thái thượng hoàng và vua Trần Nhân Tông bàng hoàng thảng thốt:
-Hả, đầu hàng, triều đình có ngược đãi cha con chúng đâu, phong đến tước cực phẩm là Đại Vương cơ mà?
Trần Hưng Đạo nói:
-Sự việc không phải là bất ngờ, Trần Kiện vốn cũng am hiểu một chút binh thư nên rất kiêu ngạo, lại sống trong nhung lụa. Trong hội nghị quân sự Bình Than đã không đến nhận nhiệm vụ, không hiểu được nỗi khổ của bách tính và của triều đình, vinh hoa phú quý đã tiêu diệt mất lòng yêu nước của hai cha con Trần Quốc Khang. Chỉ hiềm là một kẻ có kiến thức, hiểu địa lý như Trần Kiện mà chỉ đường cho gặc tiến quân thì nguy to rồi, dù Thái sư Trần Quang Khải có vào thì mặt trận phía Nam cũng vỡ rồi. Đại Việt lâm nguy rồi.
Ngày 9 tháng 3 lại có thám mã về báo:
-Dạ bẩm Thái thượng hoàng, hoàng thượng và Quốc công tiết chế, do Trần Kiện dẫn và chỉ đường để Giảo Kỳ là tướng của Toa Đô đánh tập hậu nên phòng tuyến Lưu Vệ, Quảng Xương, Thanh Hóa bị vỡ, 5000 quân ta trong đó có tướng Đinh Xa và tướng Nguyễn Tất Thông hi sinh.
Ngày 13-3 thám mã lại về báo:
-Bẩm Thái thượng hoàng, bẩm hoàng thượng, bẩm Quốc công tiết chế, do Trần Kiện chỉ đường, tướng Trần Lê Mạnh ở Yên Duyên, Quảng Xương, Ái Châu phải rút lui. Quân Nguyên Mông đã đốt và thảm sát cả làng.
Ngày 14-3 thám mã về cấp báo:
-Dạ, bẩm Thái thượng hoàng, bẩm hoàng thượng, bẩm Quốc công tiết chế, ngay 13-3 do Trần Kiện chỉ đường, Toa Đô và Giảo Kỳ đã đánh bất ngờ vào nơi sơ hở của quân ta ở bến Phú Tân, quân ta thiệt hại lớn buộc Thái sư Trần Quang Khải, Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật, Văn Túc Vương Trần Đạo Tái, Thiên Vương Trần Đức Việt đã phải đem 10 vạn quân rút khỏi Thanh Hóa về Trường Yên. Trong trận này Đại Liêu Bang Hộ đã hy sinh.
Lại có thám mã về báo:
-Dạ, bẩm Thái thượng hoàng, hoàng thượng, Quốc công tiết chế, 40 vạn quân Nguyên Mông do Thoát Hoan chỉ huy từ Thăng Long đã tiến tới Khoái Châu, tốc độ tiến rất nhanh.
Trần Hưng Đạo nói:
-Bẩm Thái thượng hoàng, hoàng thượng, chúng ta phải làm một cuộc hành quân vào Thanh Hóa bao gồm toàn bộ hoàng gia, triều đình và 30 vạn quân để phá tan âm mưu hai gọng kìm của địch.
Trần Thánh Tông hỏi:
-Kế hoạch rút lui thế nào?
Trần Hưng Đạo đáp:
-Dạ bẩm Thái thượng hoàng, bẩm hoàng thượng, toàn bộ sẽ đến cửa biển Giao Hải ở Thiên Trường vào ban đêm, ở đó có 1000 chiến thuyền sẽ đưa triều đình hoàng gia, 30 vạn quân vào Thanh Hóa. Tuy nhiên thuyền rồng và thuyền sang trọng của quý tộc sẽ công khai chạy ra lộ Hải Đông để đánh lạc hướng quân giặc.
Trần Nhân Tông hỏi:
-Nhưng Thoát Hoan đã đến Khoái Châu rồi, làm sao giảm tốc độ truy kích của giặc?
Trần Hưng Đạo nói:
-Ta cho sứ giả đến giả vờ thương lượng để kéo dài thời gian cho quân ta rút, đồng thời sẵn sàng hy sinh 4 vạn quân để ngăn chặn, làm giảm tốc độ của giặc.
Trần Nhân Tông gọi:
-Trần Đương đâu.
-Dạ có thần.
-Khanh đi sứ đến doanh trại Thoát Hoan giả vờ thương thuyết để kéo dài thời gian cho quân ta rút lui.
-Thần tuân chỉ, sẵn sàng hy sinh vì nạn nước.
Thoát Hoan dừng lại trên vùng Khoái Châu cho quân ăn uống, đang ngồi trong tổng hành dinh thì có thám mã vào báo:
-Dạ, bẩm chủ soái có sứ giả vua Trần đến xin gặp.
-Cho vào.
Trần Đương bước vào hành dinh của Thoát Hoan. Các tướng Nguyên Mông trong trướng mặt mày dữ tợn nhìn Trần Đương chòng chọc. Trần Đương không khiếp sợ, không cúi đầu, chỉ chào Thoát Hoan:
-Mạt tướng xin chào tướng quân.
-Nhà ngươi sang đây để truyền đạt ý muốn đầu hàng của Trần Nhật Huyên phải không?
Trần Đương đáp:
-Có thể như thế, có thể không như thế.
-Nói vậy nghĩa là thế nào?
-Hàng hay không hàng còn phải chờ hai bên thương lượng. Triều Trần chỉ đầu hàng với điều kiện có thể chấp nhận được, còn nếu điều kiện quá khắt khe, bức người quá đáng thì không thể đầu hàng được. Ví như nay hai bên đang thương lượng mà nguyên soái từ Bắc ép xuống, Toa Đô từ Nam Trường Yên ép ra thì thương lượng cái gì?
Thoát Hoan bảo A Lý Hải Nha:
-Quân sư đưa bức tranh ra đây.
Thoát Hoan cầm tranh và đưa cho Trần Đương. Trần Đương cầm xem thì người trong tranh là công chúa An Tư, con gái của Tiên Hoàng Đế Trần Thái Tông, em của Thái Thượng hoàng Trần Thánh Tông, cô của vua Trần Nhân Tông, em con ông chú của Trần Hưng Đạo. Công chúa An Tư vốn đẹp nổi tiếng trong nước. Thoát Hoan hỏi:
-Ngươi có biết mỹ nhân trong bức tranh này không?
-Dạ, mạt tướng không biết.
Thoát Hoan nghiêm nét mặt hung dữ:
-Ngươi giả vờ, bên Trung Nguyên người ta còn biết công chúa An Tư không chỉ đẹp nổi tiếng Đại Việt mà còn nổi tiếng cả Trung Nguyên. Bức tranh này do vương thân nhà Trần là Trần Di Ái khi đầu hàng đã đưa tặng ta. Ngươi về nói với Trần Nhật Huyên muốn ta tha mạng cho triều đình, không tàn sát hoàng gia và bách tính thì đưa công chúa An Tư đến cho ta. Ngày mai ta sẽ chờ ở Long Hưng và đón người đẹp ở đó, rõ chưa?
Trần Đương rủa thầm: “ Thằng Trần Di Ái đúng là đồ chó chết, đã phản bội tổ quốc còn bán cả anh em họ hàng”, liền trả lời Thoát Hoan:
-Mạt tướng sẽ về nói lại, còn hoàng thượng của ta có đồng ý hay không thì ta không biết.
-Hết ngày mai mà không đem công chúa tới ta sẽ xua 40 vạn quân làm cỏ Trường Yên, rõ chưa?
-Cáo biệt tướng quân.
Trần Đương về đến Hoa Lư thì toàn quân, triều đình, hoàng gia đã xuống thuyền ra sông Hoàng Long để ra cửa biển Giao Hải, Giao Thủy. Trần Nhân Tông hỏi:
-Khanh đi sứ thế nào?
-Bẩm Thái thượng hoàng, bẩm thoàng thượng, nó muốn triều đình trao cho nó công chúa An Tư thì nó giảng hòa.
Trần Nhân Tông và Trần Hưng Đạo nghe Trần Đương nói vậy thì vô cùng tức giận, Nhưng Trần Thái Tông lại nói:
-Công chúa An Tư là em gái thứ 6 của ta, đẹp người đẹp nết. Trong các cuộc chiến tranh, việc dùng mỹ nhân kế để cứu đất nước, cứu triều đại thì cũng có nhiều. Nay nếu em ta cứu được quốc gia, cứu được cơ nghiệp nhà Trần, cứu được bách tính thì sự hy sinh đó cũng nên lắm, còn hơn là mất hết. Ai mà chẳng thương xót ruột thịt của mình nhưng phải hy sinh vì nghĩa lớn, vì sơn hà xã tắc thì sẽ lưu danh muôn thuở.
Trần Nhân Tông và Trần Hưng Đạo có ý ngăn Thái thượng hoàng nhưng Trần Thánh Tông đã gọi:
-Người đâu.
-Dạ bẩm Thái thượng hoàng.
-Thuyền công chúa An Tư đã rời bến chưa?
-Dạ, đang chuẩn bị ạ.
-Gọi công chúa đến gặp ta.
Công chúa An Tư bước vào như một nàng tiên giáng thế, nàng quỳ xuống hành lễ và nói:
-Hoàng huynh cho gọi muội?
-Muội này.
-Dạ.
-Nước nhà nay đang như nghìn cân treo sợi tóc. 40 vạn quân của Thoát Hoan đang ở phía Bắc và đã đến Long Hưng, 10 vạn quân Toa Đô đang đánh đến Bắc Trường Yên. Triều đình, hoàng gia và 30 vạn quân phải cần một ngày nữa mới rút về được Ái Châu. Phải làm sao giữ Thóat Hoan ở lại Bố Hải Khẩu hai ngày nữa. Huynh và hoàng thượng vừa cho sứ giả vào hành dinh của hắn, hắn nói nếu đưa muội đến hành dinh của hắn, hắn sẽ ở lại Bố Hải Khẩu chờ đợi và đàm phán. Ý của muội thế nào?
Công chúa An Tư dịu dàng đáp:
-Muội rất muốn được tham gia cứu dân, cứu nước. Nay vì non sông xã tắc mà vào trại giặc một mình và hy sinh muội cũng không từ.
Trần Hưng Đạo nói:
-Xin Thái thượng hoàng và muội nghĩ lại…
Trần Nhân Tông cũng nói:
-Xin phụ hoàng và cô nghĩ lại…
Trần Đương cũng nói:
-Xin công chúa nghĩ lại…
-Ý muội đã quyết. Hãy cho muội trả nợ non sông, đất nước. Hoàng thượng bảo trọng, các huynh bảo trọng.
Trần Thánh Tông gọi:
-Đào Kiên đâu.
Đào Kiên là quan nội thị bước vào:
-Dạ có thần.
Trần Thánh Tông nói:
Khanh chọn mấy cấm quân hộ tống công chúa An Tư đến trại Thoát Hoan ở Long Hưng.
-Hạ thần tuân chỉ.
Công chúa An Tư nói cứng vậy nhưng khi sắp dã biệt hai người anh là Trần Thánh Tông và Trần Hưng Đạo, người cháu là vua Trần Nhân Tông và những người thân yêu trong hoàng tộc, đôi mắt xinh đẹp của nàng rớm lệ. Nàng biết chuyến đi này là chuyến đi không trở lại. Nàng ôm Trần Thánh Tông:
-Huynh bảo trọng.
Nàng quỳ và lạy Trần Nhân Tông:
-Hoàng thượng bảo trọng.
Trần Nhân Tông nâng An Tư dậy và nghẹn ngào:
-Cô bảo trọng.
An Tư cầm tay Trần Hưng Đạo và nói trong ngẹn ngào:
-Huynh bảo trọng và phải đánh thắng quân thù trả thù cho muội…
Trần Hưng Đạo buồn bã xúc động:
-Huynh không cứu được muội, tội đáng muốn chết. Huynh nhất định đánh bại quân thù rửa thù cho muội.
Rồi công chúa An Tư lên kiệu ra đi. Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Hưng Đạo đi theo kiệu một dặm đường rồi đứng nhìn chiếc kiệu có công chúa An Tư thương yêu đi lên hướng Bắc trong một chiều hoàng hôn đầy gió bụi. Chiến tranh là tổn thất và đây là tổn thất thứ hai trong hoàng tộc, sau sự kiện Trần Bình Trọng hy sinh. Tấm gương hy sinh vì nước của công chúa An Tư được những người dân Đại Việt muôn đời ca tụng và sử sách lưu truyền.
Từ Long Hưng đến Hoa Lư khoảng 100 dặm nhưng hai ngày không thấy đạo quân 40 vạn của Thoát Hoan tràn xuống, đủ thời gian cho 30 vạn quân Việt, hoàng gia và triều đình bí mật di tản về Thanh Hóa. Quân Toa Đô đã ra đến Tam Điệp nhưng không thấy Thoát Hoan tấn công nên cũng dừng quân lại chờ để phối hợp hai gọng kìm cho tốt. Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Hưng Đạo là những người cuối cùng xuống thuyền ở Hoàng Long và đi ra cửa Giao Hải. Hơn 1000 thuyền chiến của quân Đại Việt bí mật âm thầm tiến về cửa biển Thần Phù, sau đó đi vào cửa biển Lạch Trường rồi tiến vào sông Mã. Cuối cùng 30 vạn quân, hoàng gia và triều đình lên làng Giàng, Tư phố. Tư Phố, trấn trị Thanh Hóa thành nơi làm việc của triều đình trong thời kỳ sơ tán. Còn 200 chiếc thuyền sang trọng, trong đó có cả thuyền rồng của Trần Nhân Tông đi về vùng biển Hải Đông cốt để cho do thám quân Nguyên Mông đánh hơi được, sau đó bí mật biến vào vùng Ba Chẽ và biến mất trong sự huyền bí của miền Đông Bắc.
Thoát Hoan dừng quân lại ở Long Hưng tới ba ngày. A Lý Hải Nha sốt ruột nói:
-Quân Toa Đô đã ở Tam Điệp đang chờ đợi, xin chủ soái xuất quân tiến về Hoa Lư để khép hai gọng kìm tiêu diệt quân Đại Việt.
Thoát Hoan nói:
-Kẻ kia như cá nằm trong lưới, bắt lúc nào mà chả được. Vả lại ta ở đây là còn chờ sứ giả nhà Trần tới xin hàng.
Bỗng có thám mã về báo:
-Dạ bẩm chủ soái, thuyền rồng của vua Trần và thuyến chiến của quân Việt từ Trường Yên đã chạy ra lộ Hải Đông miền Đông Bắc hết rồi ạ.
Thoát Hoan khi đó mới sực tỉnh gọi:
-Tướng quân Lý Hằng và Đường Ngột Đãi.
-Dạ, có mạt tướng.
-Tướng quân Lý Hằng dùng kỵ binh đi trên bờ biển, Tướng quân Đường Ngột Đãi chỉ huy thủy binh đi trên biển, lật tung cả Hải Đông lên mà tìm quân Việt và vua Trần, rõ chưa?
-Mạt tướng tuân lệnh.
Lại có thám mã về báo:
-Dạ bẩm nguyên soái, Bạt Đô Toa Đô đã vào Trường Yên, không thấy quân Đại Việt đã kéo quân ra Thiên Trường rồi ạ.
Thoát Hoan gọi:
-Quân sư A Lý Hải Nha.
-Dạ, có mạt tướng.
-Kéo đại quân về Thiên Trường.
-Mạt tướng tuân lệnh.
Tại hành dinh của Thoát Hoan ở Thiên Trường, Thoát Hoan đang cùng A Lý Hải Nha uống rượu thì có tùy tướng vào báo:
-Dạ, bẩm chủ soái có tướng quân Toa Đô xin vào gặp.
-Cho vào.
Toa Đô bước vào, người cao to, đen sạm gầy guộc do đói khát và chiến trận liên miên từ năm 1283 ở đất Chiêm Thành, đất Hoan Châu, Diễn Châu, Thanh Hóa của Đại Việt. Toa Đô nói:
-Xin chào chủ soái và phó chủ soái, mấy năm chinh chiến xa xôi nay mới được hội ngộ.
Thoát Hoan không đứng dậy vồn vã, chỉ xem như là cuộc gặp gỡ bình thường và nói:
-Vất vả cho tướng quân quá, tướng quân ngồi. Bay đâu, rót rượu cho tướng quân.
Khi đã có rượu, Thoát Hoan và A Lý Hải Nha nâng bát:
-Chúc cuộc hội ngộ.
-Chúc cuộc hội ngộ.
-Chúc chúng ta ca khúc khải hoàn trên đất Đại Việt.
Ba người cạn bát xong, Thoát Hoan nói:
-Cái bẫy hai gọng kìm do phụ hoàng vạch ra từ Đại Đô rất là huyền diệu nhưng chúng ta không thực hiện được. Trần Nhật Huyên và quân đội của ông ta lại chạy thoát, đến nay bản soái cũng chưa biết chúng chạy về đâu. Lý Hằng chỉ huy kỵ binh, Đường Ngột Đãi chỉ huy thủy binh truy lùng khắp miền Đông Bắc, thậm chí đến cả vùng biển Khâm Châu, Liêm Châu của chúng ta mà vẫn không thấy tăm hơi.
Toa Đô nói:
-Bây giờ có thêm 10 vạn quân của mạt tướng cùng với 40 vạn quân của chủ soái thế nào nay mai chả bắt được chúng, thế nào chả uống rượu mừng chiến thắng ở Thăng Long.
Thoát Hoan nói:
-Ta sẽ về lại Thăng Long, còn tướng quân cùng 10 vạn quân phải ở lại khống chế vùng Hồng Châu, Khoái Châu, Long Hưng, Thiên Trường, Trường Yên là những vùng căn cứ quan trọng của quân Việt kẻo chúng lại trở về.
Toa Đô nói:
-Thế thì chủ soái phải cho mạt tướng lương thực, 10 vạn quân của ta đã hết lương thực từ Chiêm Thành, đói khát từ hai năm nay rồi. Ra đến Đại Việt càng đói vì không kiếm được một chút gạo thóc nào.
Thoát Hoan nói thẳng:
-Chiến tranh kéo dài, lương thực của bản soái cũng đã sắp hết. 40 vạn quân của bản soái cũng đang đói khát do không thu được lương thực ở Đại Việt. Tướng quân ở lại đây phải tự tìm kiếm lương thực mà nuôi quân thôi.
Toa Đô thất vọng. Nguồn hy vọng duy nhất là hội quân với Thoát Hoan để giải quyết lương thực giờ tan thành mây khói. Toa Đô giận tím mặt nhưng cố nén. Hắn biết hắn đang nói chuyện với ai, gây sự với Thoát Hoan thì chỉ có một con đường chết. Vừa lúc đó có thám mã về báo:
-Dạ, bẩm chủ soái, có dấu vết rằng quân Trần và Trần Nhật Huyên đã chạy vào Thanh Hóa.
Thoát Hoan nhân tiện nói với Toa Đô:
-Ta sẽ về Thăng Long. Tướng quân ở lại đây và quay lại Thanh Hóa một lần nữa tìm nhà Trần và quân Việt xem sao.
Toa Đô đáp:
-Mạt tướng tuân lệnh.
Toa Đô đáp vậy như hắn thầm nguyền rủa Thoát Hoan: “Đồ chó, chờ đó ta vào Thanh Hóa cho mày. Bố mày khó nhọc vào sinh ra tử từ Chiêm Thành ra đây, không một lời khích lệ, không cho lương thực, lại còn bắt quay lại đất chết Thanh Hóa. Đợi đó thằng ranh con ạ”.
Sau đó Thoát Hoan đem quân về Thăng Long. Toa Đô ở lại vùng đồng bằng sông Hồng. Quân Nguyên hình thành hai khối quân lớn, mất phương hướng chiến lược, ngày càng sa vào những khó khăn, bị tiêu hao, bị đói khát, bị bệnh tật bởi mùa hè ở Đại Việt nóng bức, với những kẻ phương Bắc quen khí hậu giá lạnh thì thật là khốc liệt. Từ đây, quân Nguyên Mông lâm vào thế bị động chiến lược trên toàn chiến trường. Quân Đại Việt giành lại quyền chủ động và chuẩn bị phản công giải phóng đất nước.
* *
*
Cuối xuân sang hè, làng Giàng cây cối đang đâm chồi nẩy lộc, tươi rói một màu xanh của tre trúc, thông, phi lao, đa, mít... Các dãy núi Con Rùa, núi Con Voi vươn lên bầu trời xanh thắm. Sông Mã vẫn muôn đời tung nước về Đông như ngựa phi. Làng Giàng nay có cái khác xưa là quân đội, triều đình từ Thiên Trường, Trường Yên về đây đông ngút ngàn, các lều trại màu nâu của quân đội tưởng như mênh mông vô tận, hàng vạn con ngựa chiến đi lại đông đặc trên các bãi, hàng nghìn chiến thuyền đậu hàng chục dặm ven bờ sông Mã. Thành Tư Phố, trấn trị của Thanh Hóa trở thành nơi làm việc của triều đình, quan chức ra vào tấp nập, cấm quân cầm vũ khí đứng gác nhiều vòng. Vùng làng Giàng rộng lớn cũng xuất hiện vô kể những xe ngựa của tầng lớp quý tộc cùng những tiểu thư, thiếu phụ, thiếu niên sang trọng quen sống ở kinh thành Thăng Long nay tỏ ra thích thú với làng quê tươi đẹp. Họ đi bộ ở làng quê, đi chợ. Sự đài các diêm dúa của họ làm cho làng quê thêm nhiều màu sắc.
Trong thành Tư Phố, ở đại sảnh đường, Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông, vua Trần Nhân Tông và đầy đủ các tướng lĩnh như Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật…Sau một lượt trà xong, thái thượng hoàng Trần Thánh Tông nói:
-Qua cuộc rút lui chiến lược thành công từ Thiên Trường, Trường Yên về đây, hiện nay quân số quân đội đã tăng lên 35 vạn do thanh niên các Thanh Hóa, Châu Diễn, Châu Hoan tòng quân, lương thực cũng dồi dào do các châu Ái, Diễn, Hoan đóng góp. Nay có thể bước sang giai đoạn phản công tiêu diệt giặc, giải phóng kinh thành và giải phóng đất nước. Quốc công tiết chế có cao kiến gì không?
Trần Hưng Đạo nói:
-Bẩm Thái thượng hoàng, bẩm hoàng thượng, thần cho rằng thời cơ phản công tiêu diệt quân thù, giải phóng kinh thành, giải phóng đất nước đã tới. Thứ nhất, chúng ta không nên để lâu hơn nữa vì quân Mông Cổ có thể tự sản xuất lương thực để đứng chân lâu dài. Thứ hai, để lâu quân Mông cổ có thể lập bộ máy cai trị ở vùng chúng chiếm đóng sẽ rất khó khăn cho bách tính. Thứ ba, khó khăn của Quân Mông Cổ hiện nay đã lên đến cực điểm, nhất là vấn đề đói khát và kiệt quệ. Cho nên, các lực lượng ra Bắc chuẩn bị phản công như sau:
-Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải đem 10 vạn quân ra gần Thăng Long chuẩn bị giải phóng kinh thành.
-Thần sẽ đem 10 vạn quân trở lại Vạn Kiếp hỗ trợ cho thái sư Trần Quang Khải giải phóng Thăng Long, hỗ trợ cho các lực lượng dân binh từ Vạn Kiếp đến Lạng Châu cùng với việc đưa quân đội chính quy mai phục trên con đường này tiêu diệt giặc tháo chạy về nước, đồng thời hỗ trợ hoặc tham gia những trận đánh diệt các cứ điểm của địch ở Nam Thăng Long, Chương Dương và Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương lộ Khoái Châu.
-Thái thượng hoàng và hoàng thượng chỉ huy 10 vạn quân về lại Thiên Trường, Trường Yên, Long Hưng, Khoai Châu cùng các tướng Nguyễn Khoái, Trần Nhật Duật, Trần Quốc Tảng, Trần Quốc Uy dưới sự sai khiến của Thái thượng hoàng, hoàng thượng để tấn công quân Toa Đô ở các vùng trên và tấn công tiêu diệt các phòng tuyến Nam Thăng Long như Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương. Trong số 10 vạn trên, Thái thượng hoàng phải để 2 vạn quân chốt ở phòng tuyến Tam Điệp.
-5 vạn quân do tướng Trần Quốc Hiến ở lại làng Giàng bảo vệ hoàng gia và triều đình. Trong số 5 vạn quân trên phải để 200 chiến thuyền và 1vạn quân chốt ở cửa Lạch Trường.
Thái thượng hoàng nói:
-Ta đồng ý với cách bài binh bố trận của Quốc công tiết chế.
Vua Trần Nhân Tông nói:
-Chuẩn tấu kế hoạch phản công chiến lược của Quốc công tiết chế.
Các tướng đều quỳ xuống và nói:
-Chúng thần tuân chỉ.
-Cáo biệt Thái thượng hoàng.
-Cáo biệt hoàng thượng.
-Chúc Quốc công tiết chế, Thái sư và các tướng quân ca khúc khải hoàn.
-Đa tạ hoàng thượng và Thái thượng hoàng.
Từ Làng Giàng - Thanh Hóa, các đạo quân Đại Việt bí mật hành quân ra Bắc theo đường thủy và theo đường bộ.
* *
*
Tháng 4 năm 1285, quân Đại Việt trên chiến trường miền Bắc đã hình thành 3 khối quân tác chiến trên ba vùng chiến lược. Khối thứ nhất của Thượng tướng thái sư Trần Quang Khải, mục tiêu là giải phóng Thăng Long. Khối quân thứ hai do Quốc công tiết chế Trần Hưng Đạo chỉ huy chiếm lại Vạn Kiếp để hỗ trợ cho ba hướng, hỗ trợ cho Trần Quang Khải tấn công Thăng Long, hỗ trợ cho quân của Thái thượng hoàng và vua Trần Nhân Tông tấn công Toa Đô, tấn công phòng tuyến Nam Thăng Long, kiểm soát con đường Vạn Kiếp- Lạng Châu, cắt đứt con đường lương thực của Thoát Hoan, chuẩn bị chặn đánh tiêu diệt quân Nguyên Mông tháo chạy về nước. Khối quân thứ ba do Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông chỉ huy sẽ tiêu diệt khối quân Toa Đô, làm chủ Trường Yên, Thiên Trường, Long Hưng, Khoái Châu, tiêu diệt các trại lớn của giặc như Hàm Tử, Tây Kết, Chương Dương. Hai vua lại quay về cố đô Hoa Lư và lấy đó làm tổng hành dinh.
Vào một buổi sáng, Trần Hưng Đạo vừa ăn sáng xong, đang ngồi uống trà ở tổng hành dinh tại Vạn Kiếp thì có thám mã vào báo:
-Dạ, bẩm Quốc công tiết chế, có tin hôm nay quân Nguyên Mông sẽ đưa những kẻ đầu hàng phản quốc về Đại Đô Trung Quốc.
-Yết Kiêu đâu.
-Dạ, có mạt tướng.
-Đem danh sách những quý tộc đầu hàng quân xâm lược ra đây.
-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.
Yết Kiêu đem danh sách ra, Trần Hưng Đạo lướt qua thấy:
-Hiến Chương Hầu Trần Kiện, ra hàng giặc ở Thanh Hóa và dẫn đường cho giặc do đó làm sụp đổ mặt trận phía Nam, đưa vận nước đến “nghìn cân treo sợi tóc”, phạm tội ác tầy trời. Ra hàng giặc ở Thiên Trường gồm có Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc, Văn Chiêu Hầu Trần Lọng, Văn Nghĩa Hầu Trần Tú Hoãn, Phạm Cự Địa, Lê Diễn,Trịnh Long.
Trần Hưng Đạo đọc xong liền gọi:
-Tướng quân Cao Mang đâu.
-Dạ, có mạt tướng.
-Tướng quân phi ngựa gấp lên Lạng Châu, lệnh cho Nguyễn Địa Lô hôm nay mai phục đón đánh bọn phản quốc được quân Nguyên Mông hộ tống đưa về Đại Đô.
-Dạ bẩm Quốc công tiết chế, bắt sống hay là tiêu diệt ạ?
-Tiêu diệt hết, bọn phản quốc đó có bắt được cũng chém cho bẩn gươm.
-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.
Cao Mang phi ngựa gấp lên Lạng Châu, gặp và nói với Nguyễn Địa Lô:
-Quốc công tiết chế ra lệnh cho tướng quân hôm nay phải mai phục tiêu diệt bọn Việt gian đầu hàng phản quốc được quân Nguyên Mông hộ tống đưa về kinh thành của chúng là Đại Đô. Tướng quân định mai phục ở đâu?
Nguyễn Địa Lô nói:
-Có lẽ mai phục ở ải Chi Lăng.
-Không được, nhỡ chúng không đi qua Chi Lăng mà đi cửa ải khác thì sao. Cứ mai phục ở con đường hiểm yếu mà từ đó phải đi qua trước khi đi các ải.
Nguyễn Địa Lô nói:
-Cứ làm như tướng quân nói đi.
Nguyễn Địa Lô cho quân mai phục trên con đường gọi là Kép phải đi qua để đi tất cả các cửa ải ở biên giới. Chờ mãi đến chiều mới thấy một đám người ngựa. Những tên Việt gian phản quốc đi hàng giữa. Hai bên, mỗi bên có khoảng 100 tên lính Mông Cổ che chắn. Đoàn người ngựa tiến vào địa phận mai phục. Trong số những kẻ phản quốc, Nguyễn Địa Lô căm thù nhất là Trần Kiện vì sự phản bội của hắn làm sụp đổ mặt trận phía Nam, đẩy đất nước vào tình thế cực kỳ nguy khốn. Hơn nữa, đó là tên Việt gian cực kỳ nguy hiểm cho đất nước sau này vì sự thông thái và hiểu biết địa lý, tình hình quốc phòng Đại Việt. Nguyễn Địa Lô không biết mặt Trần Kiện nhưng nghe nói hắn còn trẻ tuổi. Nguyễn Địa Lô ngắm thật chính xác vào một tên trẻ tuổi đi đầu và buông một mũi tên cực mạnh. Tên trẻ tuổi đi đầu chính là Trần Kiện trúng tên ngã lăn xuống đất. Những trận mưa tên hai bên đường dội xuống nhưng đều bị lính Mông Cổ dùng gươm gặt xuống hoặc lấy thân mình che chắn cho bọn Việt gian. Gần 100 lính Mông Cổ trúng tên thương vong nhưng bọn Việt gian như Trần Ích Tăc, Trần Lộng, Trần Tú Hoãn, Phạm Cự Địa, Lê Diễn, Trịnh Long đều chạy thoát. Gia tướng của Trần Kiện là Lê Tắc còn ôm được xác chủ chạy đến biên giới. Cả bọn dừng lại chôn cất Trần Kiện và vượt biên về Đại Đô, kinh đô của đế quốc Mông Cổ ở Trung Quốc. Trần Ích Tắc sau này được bổ nhiệm làm quan nhà Nguyên nhưng cứ gặp sứ giả Đại Việt là hổ thẹn, lảng tránh. Sau này Trần Ích Tắc do hổ thẹn sinh bệnh mà chết. Còn những tên phản quốc khác không khác gì nô lệ xứ người. Số kiếp những tên bán nước đều bạc phận như nhau, sống không bằng chết. Chết nhưng vết bẩn bán nước vẫn lưu lại sử xanh muôn thuở không bao giờ rửa sạch.
* *
*
Mùa hè nóng nực đã sang, ánh nắng chói chang tỏa xuống sông nước ruộng đồng đồng bằng miền Bắc. Quân Việt ở đây do Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông chỉ huy đang tung hoành ở Trường Yên, Thiên Trường, Long Hưng và Khoái Châu. Trận đánh đầu tiên vào đồn trại quân Nguyên Mông là đánh vào A Lỗ, cứ điểm chắn ngã ba sông Luộc và sông Hồng. A Lỗ do tướng Nguyên Mông Vạn hộ Lưu Thế Anh chỉ huy gồm 1 vạn quân. Đang đêm, quân Việt do tướng Nguyễn Khoái chỉ huy bao vây và tấn công. Quân Nguyên Mông bị giết hết. Lưu Thế Anh mở đường máu chạy về Thăng Long.
Cũng trong mùa hè, quân Việt do tướng Trần Nhật Duật chỉ huy tấn công căn cứ Hàm Tử. Quân Việt đi thuyền bao vây và đổ bộ lên bờ huyết chiến với quân Nguyên Mông. Nghe tiếng reo hò, chiêng trống vang trời chuyển đất, Toa Đô ở Tây Kết đưa quân sang cứu Hàm Tử. Trong quân của Trần Nhật Duật có 1 vạn quân Tống do tướng Triệu Trung chỉ huy chạy sang đất Việt khi nhà Nam Tống sụp đổ. Trần Nhạt Duật cho Triệu Trung và 1 vạn quân Tống ra đánh quân Nguyên Mông. Quân Tống do căm thù quân Nguyên Mông đã lấy mất nước của họ cho nên họ đánh rất hăng hái quyết liệt. Quân Nguyên Mông hoảng sợ, tưởng nhà Tống đã lấy lại được nước, sang giúp Đại Việt đánh Nguyên Mông. Người Hán trong quân đội Nguyên Mông thấy đồng bào của mình liền nhụt chí không chiến đấu nữa. Quân Nguyên Mông rối loạn, bị giết hàng vạn, thây chồng chất như núi, máu đỏ sông Hồng. Quân Việt làm chủ căn cứ Hàm Tử. Tướng giữ Hàm Tử là Tôn Hiệu tháo chạy về Thăng Long
Cùng lúc đó thì Nguyễn Khoái, Trần Quốc Toản, Trần Thông tấn công Tây Kết. Toa Đô đang tác chiến bên Hàm Tử không kịp về cứu. Quân Nguyên Mông ở Tây Kết đại bại, phần lớn bỏ xác tại trận, phần còn lại chạy ra biển mong thoát thân. Tướng Nguyên Mông Lý Bang Hiến bỏ mạng.
Hàm Tử và Tây Kết thất thủ làm rung chuyển toàn bộ hệ thống phòng thủ Nam Thăng Long. Toa Đô lui về giữ Khoái Châu rồi lại về Tây Kết. Tháng 6 năm 1285, quân Việt đuổi đánh Toa Đô và Ô Mã nhi. Toa Đô và Ô Nhi bị bao vây ở Hàm Tử, Toa Đô bị tướng Vũ Hải chém đầu tại trận. Ô Mã Nhi dùng thuyền con vượt ra biển thoát thân. Quân Việt hoàn toàn làm chủ từ Trường Yên, Thiên Trường, Long Hưng đến Khoái Châu.
Thừa thắng, quân Việt do tướng Phạm Ngũ Lão và Trần Quốc Toản chỉ huy tấn công đồn Chương Dương (Thường Tín), đây là cứ điểm cuối cùng bảo vệ Nam Thăng Long. Trần Quang Khải cho một đạo quân mai phục đoạn đường giữa Chương Dương và Thăng Long. Thoát Hoan cho quân đi cứu Chương Dương bị phục binh Việt đổ ra đánh giết. Quân Nguyên Mông bị chết gần hết, số còn lại chạy trở lại Thăng Long. Quân Nguyên Mông ở Chương Dương bị đánh bất ngờ, không có quân cứu viện, sức cùng lực kiệt, phần lớn bị giết, số còn lại cùng tướng Nạp Hải chạy về Thăng Long. Cửa ngõ bảo vệ Nam Thăng Long đã hoàn toàn sụp đổ. Các đạo quân Việt do Trần Quang Khải chỉ huy tiến về giải phóng Thăng Long. Quốc công tiết chế Trần Hưng Đạo cũng ra lệnh cho các đạo quân tiến về bao vây kinh thành. Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông ra cáo thị kêu gọi tất cả các vương hầu đem quân bản bộ về cùng triều đình giết giặc.
Khoảng tháng 6 năm 1285, ngoại vi thành Thăng Long quân Việt đông như kiến cỏ, quân triều đình, quân của các vương hầu, dân binh của Trần Thông, Nguyễn Khả Lạp, Nguyễn Truyền. Hơn 1.000 chiến thuyền của thủy quân Việt dày đặc bến Đông Bộ Đầu và sông Hồng vài dặm về phía Đông Nam. Tinh kỳ vàng bay rợp trời, rợp đất. Chiêng trống vang lừng, quân đi nườm nợp. Quân Việt bao vây vòng trong vòng ngoài lớp lớp quanh thành Thăng Long.
Tại tổng hành dinh quân Việt ở Vạn Kiếp, Trần Hưng Đạo làm việc hầu như không nghỉ. Trần Hưng Đạo lệnh cho gia tướng Đỗ Hành:
-Tướng quân đem lệnh của ta nói vơi Thái Sư Trần Quang Khải, Tổng chỉ huy mặt trận Thăng Long, khi bao vây thì chừa hướng Đông Bộ Đầu để cho quân giặc tháo chạy, khi có đường tháo chạy sẽ giảm bớt tinh thần liều chết của giặc, ta đỡ tổn thất. Ta sẽ tiêu diệt chúng bằng truy kích, tập kích trên đường chúng tháo chạy.
-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.
-Người đâu.
-Da, bẩm Quốc công tiết chế.
-Tướng quân chạy ngựa truyền lệnh của ta cho tướng quân Trần Quốc Toản mai phục quân ở đoạn sông Như Nguyệt để tiêu diệt quân Nguyên Mông tháo chạy.
-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.
-Người đâu.
Dạ, bẩm Quốc công tiết chế.
-Tướng quân đem lệnh của ta đến cho Hưng Ninh Vương Trần Tung đem quân phối hợp với Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản truy kích diệt giặc tháo chạy.
-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.
-Người đâu.
-Da, Bẩm Quốc công tiết chế.
-Tướng quân gọi Trần Quốc Nghiễn và con trai là Trần Quốc Hiện vào bản doanh.
-Dạ.
Hai cha con Trần Quốc Nghiễn bước vào hổ trướng:
-Dạ, bẩm Quốc công tiết chế, hai cha con mạt tướng có mặt.
-Hai tướng quân đem quân đến Vĩnh Bình chặn đánh quân Thoát Hoan khi chúng tháo chạy đến Lạng Châu.
-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.
-Tướng quân Cao Mang đâu.
-Dạ, có mạt tướng.
-Tướng quân chạy ngựa lên Quy Hóa truyền lệnh của ta cho Hà Chương, Hà Đặc thủ lĩnh dân binh ở đó chặn đánh quân Nguyên Mông khi chúng tháo chạy về Đại Lý.
-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.
-Tướng quân Trần Bách đâu.
-Dạ, có mạt tướng.
-Tướng quân đem lệnh của ta truyền cho các tướng chỉ huy dân binh Nguyễn Địa Lô, Nguyễn Khả Lạp, Nguyễn Truyền đem quân tập kích, truy kích địch khi chúng tháo chạy qua Bắc Giang, Lạng Châu.
-Mạt tướng tuân lệnh.
-Tướng quân Nguyễn An đâu.
-Dạ, có mạt tướng.
-Tướng quân đem lệnh của ta cho Thái sư Trần Quang Khải bắt đầu tấn công Thăng Long.
-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.
-Trung Thành Vương đâu.
-Dạ, có mạt tướng.
-Vương cùng với tướng quân Trần Sầm đem 1 vạn quân đánh vào tiền tiêu của Thăng Long là đồn Giang Khẩu phối hợp với Thái sư Trần Quang Khải.
-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.
Tại Thăng Long, quân Việt bao vây nhiều tầng nhiều lớp, nhận được lệnh từ tổng hành dinh, Trần Quang Khải ra lệnh bắt đầu tấn công thành. Từ bên ngoài quân Việt dội tên và đá vào thành như mưa. Quân Nguyên Mông chết chồng chất lên nhau. Quân Nguyên Mông giữ vòng thành ngoài chết gần hết, Tướng Nạp Hải phải lui vào trong. Quân Nguyên Mông do hết lương thực nhiều ngày nên đói khát, sức cùng lực kiệt, không còn sức để chiến đấu, chỉ dựa người vào tường thành mà bắn ra không có hiệu quả. Kỵ binh dồn ứ lại không có không gian để tung hoành, chỉ chạy đi chạy lại làm mồi cho tên và đá của quân Việt. Ngựa trúng tên, bị đá đập đau hí vang thảm thiết. Quân Nguyên Mông lâm vào tình trạng nhốn nháo, hỗn loạn trong thành, xác quân Nguyên Mông ngày càng chồng chất cao lên, người ngựa còn sống dày đạp trèo lên xác chết để di động. Máu tràn ngập thành ngoài, Hoàng thành và Tử Cấm thành. Cuối cùng, quân Nguyên Mông đã cạn kiệt tên đạn. Thoát Hoan biết rằng không tháo chạy thì toàn bộ 30 vạn quân còn lại và bản thân hắn cũng bị tiêu diệt ở cái kinh thành khủng khiếp này. Thoát Hoan nói với các tướng:
-Nay chúng ta thiếu lương thực, thiếu tên đạn, quân ta chết quá nhiều, đã mất ½ quân số. Nếu cố thủ ta và các ngươi sẽ bỏ xác tại đây. Ta muốn rút lui, giữ gìn lực lượng để đánh Đại Việt lần sau. Các ngươi nghĩ thế nào.
Các tướng và binh sĩ hô to:
-Hoàng thái tử anh minh.
-Nguyên soái anh minh.
-Sẽ có một cuộc chiến tranh nữa với Đại Việt, với Trần Nhật Huyên.
-Chúng mạt tướng sẽ hộ giá Hoàng thái tử vượt qua kiếp nạn này.
Thoát Hoan nói:
-Nay cho Sát Tháp Nhĩ Đài, Bốt La Hợp Đáp Nhĩ, Mảng Cổ Thái đi tiên phong phá vây mở đường, A Lý Hải Nha, Khoan Triệt đi trung quân, Lý Hằng, Bồ Tý Thành , Ái Lỗ, Tôn Đức Lâm, Lưu Thế Anh, Nghê Nhuận đi hậu quân chặn quân Việt truy kích. Ta ra lệnh toàn quân rút khỏi Thăng Long.
-Chúng mạt tướng tuân lệnh nguyên soái.
-Phải rút nhanh nếu không quân Việt phá cầu phao thì rất khó khăn.
Rồi quân tiên phong gồm các tướng Sát tháp Nhĩ Đài, Bốt La Hợp Đáp Nhĩ và hàng vạn quân đi trước phá vây mở đường, Thoát Hoan và các tướng đi trung quân theo sau cứ thế 30 vạn quân Nguyên Mông ào ào vội vã phi ra hướng Đông Bộ Đầu. Các tướng lấy thân mình che tên đạn cho Thoát Hoan. Cứ mỗi bước đi của quân Nguyên Mông là hàng nghìn xác chết người và ngựa đổ vật xuống đường do tên đạn của quân Việt. Quân Việt đông trùng trùng điệp điệp, trống, chiêng thanh la vang trời dậy đất, tiếng reo hò vang động cả bầu trời Thăng Long. Sông Hồng như dậy sóng. Sát Tháp Nhĩ Đài nhìn thấy chỉ có góc Đông Bộ Đầu là ít quân Việt liền múa giáo gạt tên và đá liều chết xông ra. Theo sau là kỵ binh Nguyên Mông bất chấp tên đạn cũng xông lên cố mở con đường sống. Hàng nghìn kỵ binh và bộ binh Nguyên Mông lại gục xuống. Các tướng Mông Cổ lấy thân mình che kín cho Thoát Hoan. Quân Tiên phong và Thoát Hoan đã vượt được ra ngoài thành, vội dẫn Thoát Hoan vượt qua cầu phao sông Hồng. Quân Nguyên Mông lớp lớp gục đổ nhưng vì quá đông nên vẫn tràn lên cầu phao hàng chục vạn. Vì quá đông nên cầu phao không chịu nổi, bỗng nhiên gãy gục. Hàng vạn người và ngựa quân giặc lao xuống sông Hồng chết đuối, nước sông Hồng như ngừng chảy vì xác người chắn lại, nước đỏ như máu dồi lên thành sóng khủng khiếp. Các tướng lĩnh đi hậu quân chỉ còn có Lý Hằng chạy trước khi cầu phao gãy nên sống sót. Toàn bộ đạo đi hậu quân làm mồi cho cá.
Thuyền chiến chở quân Việt sang bờ Bắc tiếp tục truy kích quân giặc. Tiếng bước chân người ngựa của kẻ chạy người đuổi, tiếng ngựa hí rền vang. Quân Việt như cơn dông tố quét sách hàng vạn quân giặc trên đất Gia Lâm. Tại bờ Nam sông Cầu, Hưng Ninh Vương Trần Tung và hai vạn quân xông ra quát lớn:
-Thoát Hoan xuống ngựa chịu trói ngay.
Tướng Nguyên Mông Lưu Thế Anh xông ngựa ra cản Trần Tung nhưng được vài hiệp phải tháo chạy để còn hộ giá Thoát Hoan, không thể ham đánh được. Quân Nguyên Mông chạy đến bờ Nam sông Như Nguyệt nhưng không có cầu phao qua sông, còn đang ngơ ngác thì một tướng trẻ tuổi có lá cờ thêu sáu chữ vàng: “Phá Cường Địch Báo Hoàng Ân” dẫn quân xông vào đánh. Quân Nguyên Mông hoảng sợ kêu lên:
-Trần Quốc Toản.
-Trần Quốc Toản.
Quân Nguyên Mông vội dẫn Thoát Hoan chạy về hướng Vạn Kiếp. Trần Quốc Toản mãi truy kích, bị một mũi tên của quân Mông Cổ bắn lén trúng vào giáp che ngực và tên đâm vào ngực trái. Trần Quốc Toản ngã nhào xuống ngựa. Các gia tướng vội xuống ngựa đỡ dậy và xem vết thương. Vết thương không sâu nhưng là mũi tên thuốc cực độc. Lát sau thì trái tim của Trần Quốc Toản ngừng đập. Vị anh hùng trẻ tuổi nổi tiếng làm cho quân thù nhiều phen khiếp đảm đã hy sinh oanh liệt trên mặt trận sông Cầu lúc gần 20 tuổi. Cái chết của Trần Quốc Toản đã làm cho triều đình, các tướng lĩnh, toàn quân và bách tính Đại Việt vô cùng thương xót xen lẫn niềm tự hào cảm phục. Thái thượng hoàng TrầnThánh Tông và vua Trần Nhân Tông khi đó ở Long Hưng được báo tin đã lặng người đi thương cảm vô cùng. Trần Nhân Tông nhớ lại hình ảnh đứa cháu 16 tuổi khôi ngô tuấn tú, chưa đủ tuổi nên không được dự hội nghị quân sự Bình Than bàn kế đánh giặc, tay đã bóp nát quả cam vì căm thù quân giặc.
Quân Nguyên Mông chạy đến sông Nam Sách là đoạn sông Thương chảy qua Vạn Kiếp, khi qua cầu phao bị quân của Trần Hưng Đạo đánh tạt sườn chết hàng vạn. Suốt từ sông Nam Sách về đến Vĩnh Bình chỗ nào quân Nguyên Mông cũng bị tập kích, tên bắn như mưa, xác chết người ngựa rải đầy đường. Quân Nguyên Mông và các tướng lấy thân mình hết sức liều chết che chắn cho Thoát Hoan. A Lý Hải Nha nói:
-Những chỗ hiểm địa từ đây về Tư Minh còn rất nhiều, xin Thái tử bỏ vàng bạc châu báu cho các tướng mang hộ, Thái tử nằm vào đây chúng tướng khiêng và chạy may ra thoát được những trận mưa tên thuốc độc của quân Việt vì tính mạng của Hoàng tử là của quốc gia, xin Hoàng thái tử suy xét.
Thoát Hoan nói:
-Tướng quân nói phải lắm, đổ vàng bạc ra chia cho các tướng, ta sẽ vào đó tránh tên.
Thế rồi các tướng đổ vàng bạc châu báu mà quân Nguyên Mông vơ vét được ở Thăng Long nhưng Thoát Hoan lại đổi ý không muốn vào:
-Nếu ta vào nằm đây thì danh dự liêm sĩ chủ soái của đế quốc Nguyên Mông sẽ làm sao đây?
A Lý Hải Nha nói:
-Tính mạng còn thì còn có cơ hội báo được thù, quân tử 10 năm báo thù chưa muộn. Mong Hoàng thái tử lấy tính mạng làm trọng.
Các tướng cũng nói:
-Mong Hoàng thái tử lấy tính mạng làm trọng.
Khi đó Thoát Hoan mới vào thùng đồng đậy nắp lại và tên 4 lính thay nhau khênh chạy. Vừa khi đó dân binh trong rừng do Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn Địa Lô chỉ huy xông ra:
-Bọn giặc cướp tàn ác, không được chạy.
Rồi tên đạn bắn như mưa. Quân Nguyên Mông lại hàng nghìn xác gục xuống bên đường. Đến Vĩnh Bình, quân Nguyên Mông chưa kịp thở thì lại nghe tiếng chiêng trống và quân reo hò như sấm, trên lá cờ hiệu có ghi “Hưng Vũ Vương Trần Quốc Nghiễn”. Quân Nguyên Mông không ham đánh nữa mà cố vượt qua những trận mưa tên mà chạy. Hàng nghìn xác người ngựa lại đổ gục xuống. Tả thừa Lý Hằng trúng tên độc cố chạy theo tàn quân vượt qua biên giới đến Tư Minh. Trần Quốc Uy, Trần Quốc Hiện, con trai Trần Quốc Nghiễn thừa thắng đánh tràn qua biên giới, đến tận Tư Minh Trung Quốc. Lý Quán là tùy tướng của Lý Hằng bỏ mạng. Tại Tư Minh, thuốc độc từ tên cũng ngấm toàn thân và Lý Hằng gục xuống tắt thở khi mới 50 tuổi, kết thúc cuộc đời chinh chiến đầy tội ác của hắn khắp châu Âu, châu Á.
Về đến Tư Minh, các tướng mới mở hòm đồng cho Thoát Hoan ra. Người Thoát Hoan ướt đầm đìa như tắm. Thoát Hoan kêu lên:
-Trời ơi, nóng như nằm trong nồi đang luộc. Chưa có cuộc chinh phạt nào mà nhục nhã như thế này. Ta phải báo thù…
Thoát Hoan đem đi 50 vạn quân, kể cả đạo quân Toa Đô là 60 vạn mà bây giờ sống sót về chỉ còn gần 5 vạn. Thoát Hoan lo lắng nói:
-Chết rồi, ta sẽ ăn nói với phụ hoàng thế nào đây?
A Lý Hải Nha an ủi:
-Thắng bại là việc thường trong chiến tranh, chắc hoàng thượng không trách phạt chủ soái đâu.
Thoát Hoan nói:
-Ta cứ đổ tại khí hậu Đại Việt quá nóng, tại phụ hoàng không chuẩn bị chiến thuyền ở một nước nhiều sông ngòi, nào là thiếu lương thực…
Vừa khi đó thám mã về báo:
-Dạ bẩm chủ soái, đạo quân của tướng Nạp Tốc Lạt Đinh trên đường rút về Đại Lý đã bị tướng dân binh là Hà Đặc, Hà Chương chặn đánh. Bên quân Việt Hà Đặc hy sinh nhưng 5 vạn quân Nguyên Mông đã bị Hà Chương tiêu diệt hết, chỉ còn một mình Nạp Tốc Lạt Đinh chạy thoát về Đại Lý.
Lại có thám mã về báo:
-Dạ, bẩm chủ soái, Đại tướng Toa Đô bị quân Việt chém chết ở Hàm Tử. Quân Việt đã đốt đầu Toa đô thành than để báo thù cho bách tính Việt bị tướng quân sát hại.
-Thế còn Ô Mã Nhi và Lý Khuê?
-Dạ, Ô Mã Nhi, Lưu Khuê đã dùng thuyền nhỏ vượt biển và đã về đến Đại Đô.
Thoát Hoan không vui, lòng đầy lo lắng hận thù, kéo bại quân lôi thôi lếch thếch, tả tơi đi về Đại Đô. Cờ đen ủ rủ, bụi cuốn mù đường, nắng hè chói chang đang tỏa xuống lục địa như những làn khăn tang tóc phủ xuống đầu hàng triệu bà mẹ mất con bởi cuộc chiến tranh phi nghĩa của những thế lực bành trướng điên rồ.
III
CHIẾN TRANH NGUYÊN MÔNG -ĐẠI VIỆT LẦN 3 (1287-1288)
Vạn Kiếp vào một đêm tháng 1 năm 1288, gió mùa đông bắc thổi ào ạt từng cơn rét mướt. Bầu trời đen kịt không một vì sao. Dòng sông Lục Đầu nước trôi âm thầm như màn nhung đen. Núi Chí Linh, núi Phả Lại vươn lên trong bóng đêm kỳ ảo. Cây lá thở xào xạc theo gió. Vài tiếng chó hoang sủa trong các làng xa xăm hoang vắng.
Ngồi trong tổng hành dinh ở thành Vạn Kiếp, Thoát Hoan đã dùng xong bữa tối đang ngồi uống trà. Hắn bỏ mũ đâu mâu vàng khỏi đầu, lộ ra khuôn mặt bầu bầu trẻ tuổi nhưng béo nung núc. Hắn không dám cởi áo giáp nên người vốn cao to càng thêm to béo lực lưỡng. Ngoài cửa hai tên võ sĩ mặc giáp sắt, đội mũ nhọn sắt, tay cầm gươm đứng bảo vệ.
Thoát Hoan không ngờ thời gian trôi nhanh như tên bay, như gió thổi, mới đó đã hai năm trời kể từ tháng 5 năm 1285 đến nay, hắn lại đã ngồi ở Vạn Kiếp, ngồi trên đất một đất nước đã làm hắn kinh hoàng bạt vía, phải nằm trong cái hòm đồng chứa vàng bạc cho lính khiêng chạy mới thoát chết. Lần này phụ hoàng Hốt Tất Liệt quyết tâm đánh bại nước Đại Việt, bắt sống vua Trần để trả thù cho hai lần thất bại nhục nhã, mối nhục nhã mà một đế quốc mạnh nhất thế giới, lãnh thổ vắt từ Thái Bình Dương qua Hắc Hải chưa gặp bao giờ, cả hai lần, đế quốc Nguyên Mông mất 60 vạn quân và nhiều tướng lĩnh tài ba đã từng chinh phục khắp Âu -Á như Toa Đô, Lý Hằng, Lý Quán. Điều cơ bản là không xâm lược được Đại Việt thì không mở được con đường xuống Đông Nam Châu Á, không thực hiện được giấc mộng bá chủ toàn cầu của Hãn Hốt Tất Liệt.
Thực ra sau chiến tranh lần 2 (1285), Đại Việt đã cử sứ giả đến Đại Đô trả lại 5 vạn tù binh mà Đại Việt bắt được trong chiến tranh. Nhưng cả hai điều mà Hốt Tất Liệt mong muốn nhất là yêu cầu nhà Trần cho đặt chức vụ Đạt Lỗ Hoa Xích, tức là đặt đại diện toàn quyền của nhà Nguyên Mông bên cạnh triều đình Đại Việt để sai khiến không chế, biến nhà Trần thành triều đình bù nhìn, mất độc lập và để do thám Đại Việt. Điều kiện thứ hai là yêu cầu vua Trần Nhân Tông sang chầu ở kinh đô Đại Đô của nhà Nguyên Mông. Cả hai điều đó nhà Trần dứt khoát từ chối, sẵn sàng đón nhận cuộc chinh phạt lần 3 vô cùng khốc liệt. Trong cuộc Nam chinh này, Thoát Hoan vẫn được cử làm chủ soái với chức vụ Trấn Nam Vương, thống lĩnh 50 vạn quân bao gồm kỵ binh, bộ binh, thủy binh. Rút kinh nghiệm của cuộc chiến tranh lần 1 và lần 2, khắc phục yếu kém của quân đội Mông Cổ trên chiến trường Đại Việt là không có thuyền bè và thủy binh không thiện chiến, lần này phụ hoàng Hốt Tất Liệt cho đóng 600 chiến thuyền to lớn với 5 vạn thủy binh toàn lính miền Nam thông thạo sông nước, lại tận dụng bọn cướp biển ở đảo Quỳnh Nhai (Hải Nam) như Trương Văn Hổ hộ tống 70 vạn thạch lương để khắc phục nạn thiếu lương thực, đi kèm với đạo thủy binh hùng mạnh do Ô Mã Nhi chỉ huy. Ngoài ra, còn hai đoàn thuyền lớn chở lương thực sẽ đi sau tiếp tế. Như vậy, trong cuộc chiến lần 3 này, quân Nguyên Mông không thiếu thuyền bè để truy kích quân Đại Việt khi họ tháo chạy, truy kích Triều đình Trần để nhanh chóng kết thúc chiến tranh, thứ nữa là lương thực như vậy đủ cho 50 vạn quân ăn đến tháng 6 khi mà chiến tranh đã kết thúc thắng lợi. Hơn nữa, trong quá trình hành quân vẫn thực hiện chính sách cổ truyền của quân Nguyên Mông “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” dù ở Đại Việt là không hiệu quả nhưng thêm được chút nào hay chút đó.
Tuy quân đội đông và dũng mãnh nhưng Thoát Hoan và quân Nguyên Mông cũng phải trải qua 8 ngày chiến đấu ác liệt với dân binh Đại Việt mới vào được đến Vạn Kiếp, dù từ biên giới vào đây không quá 300 dặm, 8 ngày qua cũng là những ngày khủng khiếp. Thoát Hoan nhớ lại, ngày 19-12-1287, đại quân Thoát Hoan bắt đầu xuất phát từ Tư Minh đến sông Kỳ Cùng, đồng loạt tấn công vào biên giới Đại Việt. Quân Nguyên Mông đã bị Quân Đại Việt ở Kỳ Cùng chặn đánh dữ dội. Ngày 25-12, quân Nguyên Mông đến Lạng Châu, Tại đây Thoát Hoan chia quân làm hai khối. Khối thứ nhất do Bốt La Hợp Đáp Nhĩ chỉ huy gồm 1 vạn quân cùng Trịnh Bằng Phi, từ Vĩnh Bình tiến xuống phía Tây đến ải Chi Lăng. Đạo thứ hai do A Bát Xích ở phía Đông gồm 1 vạn quân từ Lộc Bình Lạng Châu tiến về Sơn Động Bắc Giang. Thoát Hoan dẫn đại quân đi sau đạo quân này. Dọc đường thám mã liên tục chạy về phi báo:
-Dạ, bẩm chủ soái, quân của tướng quân Bốt La hợp Đáp Nhĩ đang giao chiến liên tục với quân Đại Việt ở Chi Lăng, Hãm Sa, Tư Trúc khoảng 17 trận. Quân Đại Việt đã phải rút lui ở tất cả các cửa ải. Quân ta đang tiến sát đến ải Nội Bàng và đang giao chiến kịch liệt với quân Đại Việt ở Bắc Giang.
Lại có thám mã về báo:
-Dạ, bẩm chủ soái, quân Việt do tướng Hưng Đức Hầu chỉ huy đang chặn đánh quân ta ở Lãng Kính. Quân Việt dùng tên độc bắn chết quân ta rất nhiều.
Thoát Hoan không một cảm xúc nào khi nghe tin quân Nguyên chết nhiều, xác rải chồng chất trên mỗi bước tiến từ biên giới về Vạn Kiếp. Điều đó không làm cho hắn quan tâm, mối quan tâm cuả Thoát Hoan là chiến thắng trong cuộc chiến tranh này.
Nhưng điều làm Thoát Hoan bất ngờ là khi vào Vạn Kiếp. Theo như chiến trận năm 1285, Vạn Kiếp sẽ là một trận giao tranh khốc liệt giữa quân Nguyên Mông và quân Đại Việt để nhanh chóng tiêu diệt chủ lực quân Đại Việt. Nhưng điều làm cho Thoát Hoan thất vọng là trận Vạn Kiếp lần này diễn ra quá sơ sài và quân Đại Việt nhanh chóng rút lui về Thăng Long. Tổng chỉ huy quân đội Đại Việt vẫn là Trần Hưng Đạo là một người khó hiểu nhưng Thoát Hoan lo lắng nghĩ rằng ông ta đang dùng chiến lược đánh lâu dài để phá tan chiến lược đánh nhanh thắng nhanh của Thoát Hoan như cuộc chiến tranh năm 1285, nhưng đang được Trần Hưng Đạo vận dụng một cách nhuần nhuyễn và bài bản. Thoát Hoan nghĩ ngợi không biết làm thế nào để buộc Trần Hưng Đạo đem hết quân chủ lực đánh với Thoát Hoan một trận quyết định đây? Rút kinh nghiệm lần trước, lần này Thoát Hoan phải xây dựng Vạn Kiếp thành một cứ điểm vững chắc để khống chế miền Bắc, Đông Bắc Thăng Long và miền đồng bằng sông Hồng là Thiên Mạc, Thiên Trường, bảo đảm con đường huyết mạch về lương thực từ Tư Minh đến Vạn Kiếp. Thoát Hoan nghĩ Trần Hưng Đạo không đánh một trận quyết định cũng không sao, lần này Thoát Hoan đầy đủ lương thực để tiến hành chiến tranh lâu dài đến tháng 7-1288, lại có thủy binh là lực lượng cơ động để truy kích quân Đại Việt và triều đình Trần nhanh chóng, có thể phá tan chiến lược chiến tranh lâu dài của Trần Hưng Đạo. Thoát Hoan mơ màng thiếp đi trong cơn chiêm bao đầy máu lửa. Vạn Kiếp ban đêm sáng rực đèn, doanh trại của quân Nguyên Mông san sát bao la một vùng rộng lớn, dưới sông Lục Đầu Giang dày đặc thuyền chiến của giặc. Chúng như loài quỷ dữ vô cớ sang đây gieo chết chóc cho Đại Việt một lần nữa.
Sáng hôm sau một tùy tướng của Thoát Hoan vào báo:
-Dạ bẩm chủ soái, Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp chỉ huy thủy binh đã từ Khâm Châu, qua Bạch Đằng Giang của Đại Việt, về đến Vạn Kiếp đêm qua muốn vào gặp chủ soái.
-Cho vào ngay.
-Dạ.
Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp bước vào hành dinh:
-Dạ, mạt tướng xin chào chủ soái.
Thoát Hoan hỏi ngay:
-Các tướng quân có gặp thủy quân Đại Việt không mà tiến quân nhanh vậy?
Ô Mã Nhi tự hào:
-Dạ bẩm chủ soái, mạt tướng xuất phát từ Khâm Châu tiến thẳng xuống Vân Đồn, gặp thủy quân Việt do Trần Khánh Dư chỉ huy chặn đánh, mạt tướng đã tiêu diệt thủy quân của Trần Khánh Dư nên tiến về đây nhanh chóng.
-Tướng quân khá lắm, không hổ danh là “Bạt Đô” của đế quốc Nguyên Mông vĩ đại của chúng ta. Thế còn Trương Văn Hổ đâu? Đoàn thuyền lương 70 vạn thạch đã đến rồi sao không thấy tướng quân Trương Văn Hổ?
Ô Mã Nhi lúng túng:
-Dạ, bẩm chủ soai, thủy quân của Đại Việt đã bị mạt tướng tiêu diệt hết, không còn cái gì đe dọa, đoàn thuyền lương đi chậm chạp nên mạt tướng để đi sau, còn thủy binh mạt tướng cho đi nhanh để cùng hội sư ở Vạn Kiếp đúng kế hoạch của chủ soái.
Thoát Hoàn không hài lòng nghiêm sắc mặt:
-Lương thực là một trong nhân tố quan trọng để ta tiến hành chiến tranh lâu dài. 70 vạn thạch lương liên quan đến sức mạnh 50 vạn quân. Tướng quân cử 50 chiến thuyền, 1 vạn quân đi hộ tống cho Trương Văn Hổ ngay.
-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.
Vừa khi đó Áo Lỗ Xích, người thay A Lý Hải Nha chức phó soái quân sư bước vào:
-Dạ, mạt tướng xin chào chủ soái.
Thoát Hoan đáp:
-Xin chào quân sư.
Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp:
-Xin chào phó soái quân sư.
-Xin chào hai tướng quân, Hay quá, thủy quân cũng đã đến rồi.
Rồi Áo Lỗ Xích nói tiếp:
-Xin chủ soái cho thủy binh, kỵ binh và bộ binh tiến đánh kinh thành Thăng Long ngay, nếu không triều đình Trần và quân chủ lực Đại Việt tháo chạy ta sẽ khó khăn.
Thoát Hoan nói:
-Rút kinh nghiệm lần trước, bỏ Vạn Kiếp là một sai lầm. Lần này ta quyết định xây dựng Vạn Kiếp thành một căn cứ vững chắc để khống chế miền Bắc, miền Đông Bắc, miền đồng bằng sông Hồng, không chế con đường huyết mạch của chúng ta từ Thăng Long đến Tư Minh. Vạn Kiếp là căn cứ bộ binh và căn cứ thủy binh thuận lợi.
Áo Lỗ Xích nói:
-Chủ soái nói cũng phải.
Thoát Hoan bảo Áo Lỗ Xích:
-Quân sư nhanh chóng cho chiếm các núi Phả Lại, Chí Linh và cho xây dựng thành bằng gỗ, xây kho lương thực và doanh trại.
Thoát Hoan gọi:
-Tướng quân Diệc Hác Mê Thất đâu.
-Dạ, có mạt tướng.
-Tướng quân cùng tướng quân A Lý, Ái Lỗ dùng 2 vạn quân bảo vệ Vạn Kiếp trong khi ta đến Thăng Long.
-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.
-Tướng quân Tích Đô Nhi đâu.
-Dạ, có mạt tướng.
-Tướng quân đem 2 vạn quân thủy bộ đánh ra các vùng phụ cận Vạn Kiếp để mở rộng địa bàn chiếm đóng, phần là để thu lương thực từ dân Việt. Không đưa lương thực hoặc chống lại thì giết không thương tiếc, khi rút đi phải đốt phá tan hoang, triệt hạ cả làng, rõ chưa?
-Mạt tướng tuân lệnh.
-Tướng quân A Lý Quy Thuận đâu.
-Dạ, có mạt tướng.
-Tướng quân đem 2 vạn quân đánh chiếm thành Linh Sơn, Chí Linh.
-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.
-Tướng quân Trương Ngọc đâu.
-Dạ, có mạt tướng.
-Tướng quân đem hai vạn quân chiếm thành Chữ Nhất, bảo vệ phía Đông Vạn Kiếp.
-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.
-Tướng quân Bạt Đô Ô Mã Nhi đâu.
-Dạ, có mạt tướng.
-Là Tổng chỉ huy thủy binh, tướng quân chuẩn bị thủy binh để ta tiến đánh Thăng Long, phải cử thủy binh kết hợp bộ binh, kỵ binh bảo vệ Vạn Kiếp, phải dùng thủy binh cơ động thật nhanh để truy kích quân chủ lực Đại Việt và triều đình nhà Trần, không để chúng chạy thoát.
-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.
Sau khi đã củng cố, xây dựng Vạn Kiếp thành căn cứ thủy bộ vững chắc, không lâu sau Thoát Hoan nói với Áo Lỗ Xích:
-Quân sư có kế gì hay để đánh chiếm Thăng Long không?
Áo Lỗ Xích đáp:
-Thăng Long thì phải chiếm nhưng căn cứ vào các dấu hiệu như trận Vạn Kiếp không ác liệt thì mạt tướng cho rằng trận Thăng Long cũng không ác liệt như lần trước.
-Vì sao vậy?
-Trần Hưng Đạo rất thành thạo trong việc chơi nước cờ rút lui chiến lược, cho nên mạt tướng cho rằng cho đến bây giờ, triều đình Thăng Long, hai vua Trần, bách tính và cả quân chủ lực Đại Việt không còn ở Thăng Long nữa.
Thoát Hoan thất vọng hỏi:
-Thế thì làm sao tìm được hai vua Trần, triều đình và quân chủ lực Đại Việt. Có nên đánh chiếm Thăng Long nữa không?
Áo Lỗ Xích đáp:
-Vẫn phải chiếm Thăng Long để bảo vệ phía Tây Bắc của Vạn Kiếp, khống chế Tây Bắc của đồng bằng sông Hồng, thứ nữa có ý nghĩa về mặt tinh thần cho chiến thắng. Mặt khác cho thủy binh và kỵ binh do thám, sục sạo khắp các vùng Thiên Mạc, Thiên Trường, Trường Yên xem quân chủ lực, triều đình và hai vua Trần ở đâu để điều binh tổng hợp lực tiêu diệt.
Rồi Thoát Hoan đem hầu hết các Lực lượng bộ binh, kỵ binh, thủy binh tiến đánh Thăng Long. Ô Mã Nhi đem thủy binh đi tiên phong, A Bát Xích đi tiên phong cánh kỵ binh và bộ binh, Phàn Tiếp cùng thủy binh đi hộ tống cho đại quân và Thoát Hoan. Sông nước Lục Đầu Giang, sông Cầu, sông Đuống, sông Hồng mặt nước bị xé sóng bởi chiến thuyền quân Nguyên Mông dày xéo, mặt đường rung lên bởi bước chân của kỵ binh và bộ binh giặc. Ngày 21-1-1288, một trận kịch chiến giữa thủy quân Việt và thủy quân Nguyên Mông trên sông Đuống. Hai bên dùng cung tên bắn vào thuyền nhau dữ dội. Quân Việt lợi thế là trên thuyền có máy bắn đá, dội đá sang thuyền Nguyên Mông như núi lở. Xác quân Nguyên Mông trúng tên hoặc trúng đá gục xuống thuyền hoặc nhào lộn xuống sông chìm nghĩm. Quân Việt chủ động rút lui. 30-1-1288, thủy quân Nguyên Mông lại giao chiến với thủy quânViệt do Minh Tự Nguyễn Thức chỉ huy ở Đại Than. Hai bên chịu tổn thất nặng nề, thủy quân Việt phải rút lui. Trong khi đó kỵ binh và bộ binh địch giao chiến với quân Việt ở Phú Sơn. 2-2-1288, đại quân Thoát Hoan đến Gia Lâm và vượt sông Hồng đánh chiếm Thăng Long. Quân Nguyên Mông chỉ gặp vòng ngoài kinh thành vài nghìn quân Việt dùng cung tên đánh tiêu hao quân địch. Hàng nghìn quân Nguyên Mông xông lên lại ngã xuống do trúng tên lại đến đợt khác xông lên và lại gục xuống, lại xông lên. Quân Nguyên Mông dùng chiến thuật biển người không tiếc sinh mạng. Nhưng quân Việt không giáp chiến bằng gươm, giáo, dao, búa với quân Nguyên Mông để không lọt vào vòng vây trùng điệp của giặc và sau đó rút lui theo đường bộ trong làng xóm mênh mông mà kỵ bịnh địch không tài nào truy kích được.
Thoát Hoan và đại quân phá cổng thành tràn vào Hoàng thành và Tử cấm thành (Long Phượng thành). Thăng Long vẫn còn tan hoang đổ nát do cuộc tàn phá khi quân Nguyên Mông tháo chạy năm 1285. Triều đình nhà Trần chưa kịp xây dựng lại hoặc không muốn xây dựng vội vì biết chiến tranh lần 3 là không tránh khỏi. Những cung điện cho vua quan ở, những cơ quan hành chính bắt buộc phải có thì nhà Trần cho làm bằng gỗ vừa nhanh vừa đỡ tốn kém. Toàn bộ Hoàng thành và Hoàng cung trống rỗng không một bóng người, không một thạch gạo, không một cây vàng bạc, đúng với nghĩa thành không nhà trống theo chủ trương của nhà Trần. Thoát Hoan nhìn Thăng Long bỗng hắn rùng mình vì bị ám ảnh bởi hồi ức kinh hoàng mùa hè năm 1285. Thoát Hoan nói với Áo Lỗ Xích:
-Quân sư nói đúng lắm. Ta đã chậm hơn một bước. Trần Hưng Đạo chơi con bài rút lui chiến lược thành thạo hơn lần trước.
Áo lỗ Xích nói:
-Việc trước tiên là phái Ô Mã Nhi chỉ huy thủy quân, Trịnh Bằng Phi chỉ huy kỵ binh đi khắp nơi ở đồng bằng sông Hồng tìm ra nơi ở của triều đình Trần và quân chủ lực Việt để nhanh chóng tiêu diệt.
-Việc thứ hai là phải nhanh chóng lập triều đình bù nhìn, dùng người Việt làm tay sai để bắt lính, tịch thu lương thực. Đó là biện pháp duy nhất để phá chiến lược chiến tranh lâu dài của Trần Hưng Đạo.
Có thám mã về báo:
-Dạ, bẩm chủ soái, tướng Ái Lỗ chỉ huy 5 vạn quân theo đường Đại Lý tiến xuống đã đánh bại tướng Trần Nhật Duật, muốn xin vào gặp.
Thoát Hoan nói:
-Cho vào.
Vương tử A Thái, Hữu Thừa Ái Lỗ bước vào:
-Mạt tướng xin chào chủ soái và phó soái.
Thoát Hoan nói:
-Vất vả cho tướng quân rồi.Tướng quân đã đánh bại Trần Nhật Duật như thế nào?
Ái Lỗ đáp:
-Dạ, bẩm chủ soái, mạt tướng cùng Vương tử A Thái, đại tướng Mang Cổ Thái rời Đại Lý tháng 12-1287 với 5 vạn quân, đã tác chiến dữ dội với dân binh của tù trưởng trại Quy Hóa. Ngày 11-12-1287, quân ta đánh nhau dữ dội với 4 vạn quân Đại Việt do Trần Nhật Duật chỉ huy ở Mốc Ngọt. Quân Việt rút về Phú Lương. Ngày 19, quân ta lại giao chiến với quân Việt ở Phú Lương, bắt được hai tướng Việt là Lê Thanh và Hà Anh. Chúng mạt tướng phải đánh 18 trận, hy sinh 1 vạn dũng sĩ Nguyên Mông mới về được Thăng Long.
Thoát Hoan an ủi:
-Không sao, quân ta gan dạ nhưng gặp phải quân Việt đánh cũng rất liều mạng xả thân. Ta từ Vĩnh Bình về đến Vạn Kiếp có 300 dặm mà cũng mất 5 vạn quân. Miễn là các tướng quân phải cố sức để cuối cùng chiến thắng.
-Dạ, đa tạ chủ soái, chúng mạt tướng sẽ cố gắng hết sức.
Thoát Hoan gọi:
-Tướng Ô Mã Nhi đâu.
-Dạ, có mạt tướng.
-Tướng quân đem 100 chiến thuyền và 2 vạn thủy binh truy tìm tung tích của triều đình Trần và quân chủ lực Đại Việt để bản soái điều động toàn bộ quân đội tiêu diệt chúng.
-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.
-Tướng quân Trịnh Bằng Phi.
-Dạ, có mạt tướng.
-Tướng quân đem 1 vạn kỵ binh phối hợp với thủy binh của tướng Ô Mã Nhi đi tìm tung tích triều đình Trần và quân chủ lực Đại Việt.
-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.
Thoát Hoan ra lệnh:
-Còn tất cả các tướng quân mỗi người đem 5000 quân ra các làng quanh Thăng Long thu lương thực, nếu chống cự hoặc không đưa lương thực thì tàn sát và đốt cháy cả làng.
-Chúng mạt tướng tuân lệnh.
Vậy là từ một lệnh của tên chủ soái khát máu của giặc, vó ngựa quân Nguyên Mông tỏa ra các vùng nông thôn cướp bóc, gieo rắc cái chết và thảm họa khủng khiếp cho những người dân lành nông thôn Đại Việt. Nhưng số lương thực chúng không cướp được bao nhiều vì bách tính đã tuân lệnh triều đình làm “vườn không nhà trống”, nhiều làng đã rút đi, nhiều làng đã tổ chức lực lượng vũ trang dân binh tự vệ. Nhiều tốp quân Nguyên Mông có đi mà không có về. Lòng yêu nước căm thù giặc đã làm cho bách tính Đại Việt không hề biết sợ, không khuất phục. Thoát Hoan ở Thăng Long gần như phát điên bất lực, đập bàn gào thét:
-Trần Nhật Huyên, ngươi chạy lên trời thì ta theo lên trời, người chui xuống đất thì ta đuổi xuống đất. Ha!ha!ha!
Thoát Hoan cứ như vậy lúc gào thét, lúc điên loạn, lúc im lặng. Các tướng phụ tá đều nơm nớp lo sợ. Một hôm Thoát Hoan sực nhớ ra:
-Bay đâu.
-Dạ.
-Gọi tướng A Bát Xích vào đây.
-Da.
A Bát Xích bước vào hành dinh:
-Da, có mạt tướng.
Tướng quân đem 5.000 kỵ binh đi về Lạng Châu xem triều đình bù nhìn Đại Việt đã sang chưa. Nếu đã sang nhớ bảo vệ chu đáo đưa về đây để bắt chúng hiệu triệu bách tính thu lương thực và bắt lính phục vụ cho chiến tranh.
-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.
Lại nói để phục vụ cho cuộc xâm lược, để lừa bịp bách tính Đại Việt, Hốt Tất Liệt cho lập triều đình giả hiệu do Trần Ích Tắc đứng đầu. Hốt Tất Liệt phong Trần Ích Tắc làm An Nam quốc vương, Trần Tú Hoãn là Phụ nghĩa công, phong Trần Bá Ý, con trai Trần Ích Tắc làm An phủ sứ lộ Đà Giang, em bà con Trần Tú Hoãn Lại Ích Khang làm An phủ sứ lộ Nam Sách, Trần Văn Lộng làm Tuyên phủ sứ lộ Quy Hóa. Vua Nguyên còn soạn một tờ chiếu kể tội nhà Trần, dụ dỗ lừa phỉnh dân Đại Việt. Cuối tháng 1-1288, Hốt Tất Liệt cho Tĩnh đô sự Hầu Sứ Vạn Hộ Đạt, Thiên Hộ Tiêu đem 5.000 quân hộ tống triều đình bù nhìn về Đại Việt. Đi theo đoàn còn có Lê Tắc vốn là gia tướng của Trần Kiện, Nguyễn Lĩnh, Lê Án, Trần Dục (con Trần Ích Tắc mới 9 tuổi). Đoàn tiến vào Lạng Châu. Trần Ích Tắc nói:
-Cẩn thận có phục binh của quân Trần.
Thiên Hộ Tiêu nói:
-Đại quân của chủ soái Thoát Hoan đã đi qua, quân Đại Việt hoảng sợ đã chạy hết vào rừng, có gì mà còn sợ.
Ngày 1-2-1288, triều đình bù nhìn đến Nội Bàng. Trời mùa đông u ám, gió lạnh thổi cắt da, mưa phùn bay lất phất càng tăng thêm giá rét. Bọn Trần Ích Tắc vốn là lớp người quý tộc, quen sống trong nhung lụa, không chịu được gian khổ vất vã, nay đi lại đường dài mệt nhoài ra. Bỗng từ trong rừng rậm hai bên đường những trận mưa tên phóng ra. 1.000 lính Nguyên Mông trúng tên ngã gục. Bọn tướng và lính Nguyên Mông còn lại lấy thân mình che tên cho bọn Việt gian vì Hốt Tất Liệt dặn là không được để chúng chết, chúng là lá bài chính trị quan trọng của Nguyên Mông đối phó với dân Đại Việt. Thiên Hộ Tiêu bị trúng tên gục xuống ngựa chết. Vạn Hộ Đạt hộ tống cả bọn chạy về Bình Giang, đoạn sông Lục Nam chảy qua Nội Bàng. Tại đây, quân Nguyên Mông dựa vào nhà dân cố thủ. Sớm hôm sau, Lê Tắc do thuộc đường đã dẫn đường cho cả bọn tháo chạy về phương Bắc. 3-2-1288, cả bọn về đến Tư Minh đúng ngày 1 tết Nguyên Đán. Cả bọn lôi thôi lếch thếch thất thểu lưu vong xứ người, mang nổi nhục nhã suốt đời cho những tên bán nước. Đến đây lá bài chính trị của Hốt Tất Liệt biến thành mây khói.
A Bát Xích từ Thăng Long đến Vạn Kiếp, từ Vạn Kiếp lên Nội Bàng thì được tin đoàn của Trần Ích Tắc bị đánh đã chạy về Tư Minh, Thiên Hộ Tiêu và gần 5.000 quân hộ tống tử trận. A bát Xích quay lại Thăng Long báo tin với Thoát Hoan. Thoát Hoan ngao ngán nói:
-Vậy là lá bài chính trị của phụ hoàng đã thất bại.
Lại có tùy tướng vào báo:
-Dạ, bẩm chủ soái, có Bạt Đô Ô Mã Nhi vào gặp.
-Cho vào.
Ô Mã Nhi bước vào, Thoát Hoan hỏi ngay:
-Vua Trần và Trần Hưng Đạo ở đâu?
-Dạ bẩm chủ soái, mạt tướng đã cho thủy binh tìm khắp Khoái Châu, Thiên Trường, Long Hưng, Trường Yên mà không thấy tăm hơi của triều đình nhà Trần và quân chủ lực Đại Việt. Mạt tướng tức giận đã cho đào mộ và phá tan hoang lăng tẩm của nhà Trần ở Long Hưng nhưng không thấy thi hài của Trần Thái Tông.
Thế có thu được lương thực không?
-Dạ, lương thực có lẽ dân Việt đốt và dấu hết, mạt tướng không tìm được thạch nào.
Thoát Hoan đập bàn:
-Đồ ăn hại, cả hai việc không được việc gì, lại còn đi phá mộ, lăng tẩm thì được tích sự gì, chỉ càng cho dân Đại Việt và nhà Trần căm thù chúng ta.
-Dạ, mạt tướng có tội.
Thoát Hoan như sự nhớ ra:
-À, đón được đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ chưa?
-Dạ mạt tướng đã cho tùy tướng đem 20 binh thuyền, 3.000 quân đi đón mà chưa thấy trở về ạ.
Thoát Hoan giận dữ:
-Nếu tướng quân không tìm được thuyền lương của Trương Văn Hổ thì về đây chịu tội chết, rõ chưa.
-Mạt tướng tuân lệnh.
Áo Lỗ Bát Xích nói:
-Đã hai tháng rồi mà đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ không tới, có khi đã bị thủy quân Đại Việt đánh chìm rồi chăng?
Thoát Hoan nói:
-Ta cũng đang lo lắng cho số phận của đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ đây. Ô Mã Nhi là dũng sĩ của đế quốc Mông Cổ nhưng cũng chỉ là vũ dũng vô mưu, dám bỏ mạng sống của 50 vạn quân mà đi trước, không hộ tống chúng. Đã hai tháng quân lương sắp cạn rồi. Quân ta chắc sẽ chết vì sự ngu ngốc của Ô Mã Nhi. Nguy cơ như chiến tranh năm 1285 đã bắt đầu xuất hiện. Quân sư có kế gì hay không?
-Theo mạt tướng, chủ soái nên trở lại Vạn Kiếp là căn cứ vững chắc tập trung được quân thủy bộ, là tổng hành dinh có thể điều hành các mặt trận nhanh chóng. Vả lại, về đó chủ soái có thể kiểm soát được con đường huyết mạch Tư Minh đến Thăng Long. Giả sử khả năng xấu nhất có thể rút lui về Tư Minh cũng nhanh chóng, thuận lợi hơn ở Thăng Long rất nhiều.
Thoát Hoan nói:
-Ta cũng nghĩ như vậy.
Thoát Hoan liền gọi:
-Bay đâu.
-Dạ.
-Gọi đại tướng Đương Cổ Đái lại đây.
-Dạ.
Đương Cổ Đái bước vào:
-Dạ, bẩm chủ soái, mạt tướng có mặt.
Thoát Hoan ra lệnh:
-Tướng quân điểm 5 vạn quân, 50 chiến thuyền ở lại bảo vệ Thăng Long. Ta sẽ dời đại bản doanh về Vạn Kiếp cho tiện điều hành toàn mặt trận, rõ chưa?
-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.
* *
*
Lại nói Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư được Trần Hưng Đạo giao cho Tổng chỉ huy thủy quân miền Đông Bắc, có nhiệm vụ chặn đạo thủy binh của Ô Mã Nhi tiến từ Khâm Châu qua Vân Đồn vào Vạn Kiếp. Tháng 1 năm 1288, khi thủy binh Nguyên Mông tràn xuống, thế giặc quá mạnh, Trần Khánh Dư bị đánh thua. Ô Mã Nhi thắng trận chủ quan khinh thủy binh Việt, bỏ mặc đoàn thuyền lương Trương Văn Hổ, tiến rất nhanh đến sông Bạch Đằng lúc nước triều dâng, vào sông Kinh Thầy và về Vạn Kiếp, hội quân với Thoát Hoan.
Thấy Trần Khánh Dư bại trận, Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông sai sứ đến Vân Đồn dẫn về Ái Châu trị tội. Khi đó triều đình và hai vua đã rút về Ái Châu. Trần Khánh Dư nói với sứ giả:
-Xin hoãn cho vài hôm nữa để lấy công chuộc tội.
Sử giả hỏi:
-Tướng quân định lập công gì để chuộc tội?
Trần Khánh Dư nói:
-Ngài xem, 600 chiến thuyền của Ô Mã Nhi đã đi về Vạn Kiếp, bỏ mặc đoàn thuyền lương 70 vạn thạch của Trương Văn Hổ. Ngài hãy xem tôi cắt cái dạ dày của 50 vạn quân Nguyên Mông khiến chúng đói rã mà bại trận. Vậy tôi có đủ công để chuộc tội không?
Sứ giả nói:
-Hay lắm, công của tướng quân to lắm nếu ngài làm được điều này.
-Ngài không tin thì ở lại mà xem.
Trần Khánh Dư cho quân mai phục quanh vùng Bái Tử Long, nơi được gọi là sông Đông Kênh, bên Tây là bờ biển hiểm trở, bên ngoài là các hòn đảo, giữa bờ biển và các đảo là con đường thủy nhỏ hẹp vừa cho thuyền đi. Đầu tháng 2 năm1288, đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ chậm chạp nặng nề tiến vào trận địa mai phục. Trên bờ biển quân Việt bắn tên xuống, phía Đông thuyền chiến từ các đảo xông ra đánh phá. Quân Nguyên Mông trên thuyền lương chết gục xuống thuyền hoặc rơi xuống biển. Trương Văn Hổ không biết chống đỡ thế nào chỉ biết thúc thuyền tiến lên. Đến Cửa Lục Hòn Gai, đoàn thuyền lương bị thuyền quân Việt chặn đầu, phía sau cũng bị chặn hậu. Trương Văn Hổ ném một thuyền lương xuống biển cho nhẹ và chạy thoát ra biển, về lại đảo Quỳnh Nhai (Hải Nam), nơi quê hương và cũng là xuất thân hành nghề cướp biển của hắn. Toàn bộ đoàn thuyền 70 vạn thạch lương thực bị quân Việt bắt. Quân Việt thu được không kể xiết lương thực, vũ khí, thuyền bè.
Trần Khánh Dư bảo sứ giả của Trần Thánh Tông về Ái Châu báo tin thắng trận. Mất 70 vạn thạch lương mà Hốt Tất Liệt dày công chuẩn bị là một đòn khủng khiếp đối với quân Nguyên Mông, 50 vạn quân đối mặt với đói khát và dẫn đến thất bại không lâu sau.
Thời tiết đã bắt đầu sang xuân. Những dòng sông xanh mướt. Xóm làng quanh co cũng một màu xanh trải rộng mênh mông. Chiến Thuyền quân Nguyên Mông do Ô Mã Nhi chỉ huy dằng dặc đi trên những con sông lạ mà chính hắn cũng không biết tên. Hắn đã đi đi về về tung hoành ngang dọc không biết bao nhiêu lần trên những con sông ở Khoái Châu, Thiên Trường, Long Hưng để tìm triều đình Trần và quân chủ lực Việt. Đất nước Đại Việt quá nhiều sông ngòi, đầm lầy, đồng ruộng ngập nước gây không biết bao nhiêu khó khăn cho quân đội Nguyên Mông, vó ngựa kỵ binh của Nguyên Mông vốn chỉ quen tác chiến ở sa mạc, đồng cỏ, đồng khô. Hôm nay, Ô Mã Nhi tuân lệnh của Thoát Hoan đi tìm lại đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ mà hắn đã bỏ lại phía sau hai tháng trước ở biển Vân Đồn. Hắn lo lắng khồng biết đoàn thuyền lương đó nay ở đâu. Nếu đã bị thủy binh Đại Việt đánh chìm hoặc cướp mất thì tội của hắn không thể thoát được. Còn đang suy nghĩ miên man thì đoàn chiến thuyền của hắn đã đến cửa biển Đại Bàng. Ô Mã nhi cho đoàn thuyền rẽ về phía Bắc. Chợt có một phát tên lửa bắn lên không trung. Ô Mã Nhi còn chưa biết việc gì thì những chiến thuyền nhỏ của quân Việt đã xông ra bắn vào sườn của thuyền Ô Mã Nhi. Quân Việt mai phục trên núi cũng bắn xuống cả bằng cung tên, máy bắn đá và cả những mũi tên mang lửa. Hàng nghìn quân Nguyên Mông trúng tên, trúng đá chết gục xuống thuyền hoặc rơi xuống biển, máu nhuộm đỏ ngầu cửa biển Đại Bàng, một số chiến thuyền quân Nguyên Mông đã bốc cháy, lửa bén và thiêu đốt cả binh lính và chìm dần xuống biển. Quân Nguyên Mông bắn trả nhưng không có hiệu quả vì chiến thuyền Nguyên Mông to nặng, khó vận động, trong khi đó chiến thuyền quân Việt nhỏ lao vào lao ra nhanh như những con cá kình. Vả lại Ô Mã Nhi không còn bụng dạ nào ham đánh mà phải thoát khỏi vòng chiến còn đi tìm đoàn thuyền lương. Ô Mã Nhi lệnh cho quân chèo thuyền nhanh thoát khỏi trận địa mai phục bất chấp tên đạn. Cuối cùng thì quân Nguyên Mông cũng thoát ra được sau khi mất 100 chiến thuyền và khoảng 7.000 binh lính.
Ô Mã Nhi đến được Vân Đồn nhưng không thấy tăm hơi đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ, đành phải quay lại qua Bạch Đằng và theo sông Kinh Thầy mà về Vạn Kiếp. Dọc đường đi, Ô Mã Nhi cho quân đổ bộ cướp phá trại Yên Hưng, lộ Hải Đông và một số thôn trang khác, cướp được 4 vạn thạch lương thực, tàn sát dân thường, đốt phá nhà cửa không thương tiếc. A Bát xích cũng cướp được 1 vạn 3.000 thạch lương ở ngoại vi Thăng Long.
Trong tổng hành dinh của Thoát Hoan ở Thăng Long, một tùy tướng vào báo:
-Dạ, bẩm chủ soái, có mấy tên lính của ta bị quân Việt bắt được, nhà Trần thả về muốn vào gặp.
-Cho vào.
5 tên lính Nguyên Mông bước vào. Thoát Hoan quát:
-Bị bắt làm tù binh sao quân Việt không giết lại cho về?
-Dạ bẩm chủ soái quân Việt không giết tù binh, họ đối xử rất tốt với chúng tôi, cho ăn uống no đủ, không đánh đập, tra tấn. Hôm nay họ cho chúng tôi về là để báo cho chủ soái một tin quan trọng.
-Dạ, tin là đoàn thuyền lương của tướng Trương Văn Hổ đã bị thủy quân Việt do tướng Trần Khánh Dư đánh và lấy hết rồi ạ.
-Thế còn tướng Trương Văn Hổ tử trận à?
-Dạ, tướng Trương Văn Hổ đã thoát về đảo Quỳnh Nhai rồi ạ.
Thoát Hoan bỗng thấy hơi choáng, im lặng một hồi lâu rồi hỏi tiếp:
-Còn tin gì nữa không?
-Dạ, bẩm chủ soái, tin quan trọng ạ, triều đình và hai vua Trần đang ở Thanh Hóa ạ. Họ nói nguyên soái cứ vào Thanh Hóa, họ sẽ đón tiếp long trọng ạ.
Thoát Hoan tức giận:
-Khốn kiếp, vậy mà Ô Mã Nhi, A Bát Xích hai tháng ròng tìm không ra.
Rồi Thoát Hoan gọi:
-Bay đâu.
-Dạ.
-Cho gọi quân sư Áo Lỗ Xích.
-Dạ
Áo Lỗ Xích bước vào:
-Dạ, mạt tướng có mặt
-Ta vừa biết tin, hai vua và triều đình Trần đang ở Thanh Hóa, chuẩn bị 30 vạn quân tiến đánh Ái Châu, bắt Trần Nhật Huyên và triều đình.
Áo Lỗ Xích chưa nói gì thì Ô Mã Nhi bước vào. Thoát Hoan hỏi ngay:
-Có tìm thấy thuyền lương và Trương Văn Hổ không?
-Dạ , bẩm chủ soái, mạt tướng có tội, không tìm thấy ạ.
Thoát Hoan quay bảo mấy tên tù binh được trả:
-Các ngươi nói đi cho tướng quân Ô Mã Nhi rõ.
-Dạ bẩm tướng quân, chúng tiểu nhân được hai vua Trần thả về để báo tin là đoàn thuyền lương đã bị tướng Việt Trần Khánh Dư đánh và thu hết rồi ạ, Tướng Trương Văn Hổ đã chạy thoát về đảo Quỳnh Nhai rồi ạ.
Ô Mã Nhi tái mặt lẩm bẩm:
-Không thể nào, không thể nào?
Thoát Hoan quát:
-Võ sĩ đâu.
-Dạ.
-Lôi Ô Mã Nhi ra ngoài chém!
Ô Mã Nhi quỳ xuống kêu xin:
-Dạ, xin chủ soái tha mạng, mạt tướng có tội nhưng đã lập nhiều công lao với Hãn Hốt Tất Liệt, với đế quốc Nguyên Mông. Vả lại, mạt tướng cũng không về không, đã thu được 4 vạn thạch lương ạ.
Áo Lỗ Xích nói:
-Chủ soái, trong lúc này không nên giết đại tướng, nay đã khó khăn lại càng thêm tổn thất, đặc biệt là dũng sĩ Ô Mã Nhi, một tướng được hoàng thượng Hốt Tất Liệt yêu quý, lập được nhiều công lao.
Đang khi Thoát Hoan suy nghĩ thì có tùy tướng vào báo:
-Dạ, bẩm chủ soái, có thám mã miền Đông Bắc về báo:
-Cho vào.
-Dạ, bẩm chủ soái, đoàn thuyền lương của ta do tướng Phí Củng Thìn chỉ huy gặp bão, bị dạt vào châu Quỳnh Nhai rồi ạ. Đoàn thuyền chở lương thứ hai do tướng Tú Khánh chỉ huy bị bão đánh dạt vào Chiêm Thành rồi ạ.
Thoát Hoan kêu lên:
-Trời hại quân ta rồi!
Lại có thám mã về báo:
-Dạ, bẩm chủ soái, theo tin tức chính xác thì hai vua Trần đã về Trúc Động, còn quân chủ lực Đại Việt và đại bản doanh của Trần Hưng Đạo đã ở Tháp Sơn lộ Hồng Châu từ lâu rồi ạ.
Thoát Hoan nói với ÔMã Nhi:
-Ta tha mạng cho ngươi, ra ngoài chuẩn bị hộ tống ta về Vạn Kiếp.
-Dạ, đội ơn chủ soái tha mạng, mạt tướng tuân lệnh.
Thoát Hoan bỏ Thăng Long về Vạn Kiếp đề phòng khi tháo chạy thì dễ dàng hơn. Từ Thăng Long về Vạn Kiếp , Ô Mã Nhi, Áo Lỗ Xích giao tranh với quân Việt lớn nhỏ hơn 30 trận, trong đó lớn nhất là trận Tam Giang Khẩu (ngã ba sông Lục Đầu, sông Cầu và sông Thương). Vạn Hộ Đường Long tử trận, gần 1vạn quân Nguyên Mông bỏ mạng mà đoạn đường từ Thăng Long đến Vạn Kiếp không đầy 100 dặm đường chim bay. Hai tháng trước, Thoát Hoan sai Ô Mã Nhi và A Bát Xích xé nát các dòng sông, vó ngựa cày nát các con đường ở Khoái Châu, Long Hưng, Thiên Trường,Trường Yên để tìm triều đình Trần và quân chủ lực Đại Việt. Nay đã biết vua Trần ở Trúc Động, Trần Hưng Đạo và quân chủ lực Việt ở Tháp Sơn (Đồ Sơn) mà Thoát Hoan không thể huy động tổng lực toàn quân tiến đánh. Vì tháng 3-1288, quân Nguyên Mông đã lâm vào tình trạng hết lương thực, đói khát, sức lực kiệt tàn. Quân Đại Việt đã làm chủ Khoái Châu, Long Hưng, Thiên Trường, Trường Yên…Thoát Hoan nói với Áo Lỗ Xích:
-Làm sao để quân ta rút lui trong danh dự, thậm chí Trần Nhật Huyên chỉ cần giả vờ đầu hàng để ta rút quân cũng được, nếu được như vậy cái lợi thứ hai là khi ta rút quân không bị phục binh chặn đánh dọc đường.
Áo Lỗ xích nói:
-Để mạt tướng nghĩ cách xem.
Đang khi đó có tùy tướng vào báo:
-Dạ, bẩm chủ soái, có sử giả của vua Trần tới.
Thoát Hoan vui mừng:
-Cho vào ngay.
Một người mặc quan phục của nhà Trần bước vào thi lễ:
-Chào tướng quân, ta là Hưng Ninh Vương Trần Tung sang để mong hai nước giảng hòa.
Thoát Hoan nói:
-Ta đồng ý giảng hòa, sứ giả về nói với vua Trần khi ta rút quân không được chặn đánh, thứ hai sau khi chiến tranh kết thúc, vua Trần Nhân Tông phải sang Đại Đô gặp hoàng đế Nguyên Mông Hốt Tất Liệt.
Trần Tung nói:
-Xin tướng quân yên tâm, lão phu sẽ truyền đạt ý của tướng quân để hai vua Trần định đoạt.
Đêm đó, Thoát Hoan phấn khởi được rút quân trong danh dự nên không phòng bị. Thốt nhiên, mấy trại quân quanh Vạn Kiếp bổng có tiếng chiêng trống quân reo kinh thiên động địa. Tướng A Lý Quy Thuận chạy về báo:
-Dạ bẩm chủ soái, quân Việt đã đánh chiếm hết các trại quanh Vạn Kiếp rồi. Quân ta đói và không phòng bị chết khoảng 1 vạn và 3.000 ngựa.
Thoát Hoan tức giận:
-Cả đời chinh chiến lại mắc mưu vua Trần. Còn lại những đồn nào quanh Vạn Kiếp?
-Dạ chỉ còn lại Tam Yên, Phả Lại, Chí Linh thôi ạ.
-Tướng quân ra truyền lệnh của ta phải phòng ngự các thành lũy đó vững chắc, không được để quân Việt đánh vào đại bản doanh, rõ chưa?
-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.
Cuối tháng 3 năm 1288, Thoát Hoan đi kiểm tra toàn bộ các doanh trại còn lại ở Vạn Kiếp. Mùa hè ở Đại Việt nắng chói chang, cây cối của Đại Việt xanh tươi không một cây nào đung đưa theo gió, trời ngừng gió, không gian bị thiêu đốt như chảo lửa. Quân Nguyên Mông trong các doanh trại mồ hôi đầm đìa như tắm. Dù có thiết quân luật cũng không làm cho họ mặc áo giáp để sẵn sàng chiến đấu. Những người lính Nguyên Mông cao to lực lưỡng, bình thường ăn từ bốn đến năm bát cơm, vài cân thịt, vài bầu rượu, vậy mà bây giờ chỉ được một bát cháo loãng. Hàng vạn binh lính đau ốm, bị thương không thuốc. Ngày nào trong các doanh trại cũng có hàng chục binh lính chết. Họ nhìn Thoát Hoan như cầu cứu đừng để họ chết oan uổng, thảm thương như vậy nơi đất khách quê người. Trong mắt của những người lính, họ muốn nói với Thoát Hoan họ chán cuộc chiến tranh phi nghĩa này đến tận cổ. Họ chả có thù oán gì với dân Đại Việt. Họ chết vô nghĩa vì một tham vọng của một con người, đó là Hãn Hốt Tất Liệt, rộng hơn là chết cho quyền lợi giàu sang của một tập đoàn, tập đoàn thống trị quý tộc Mông Cổ. Thoát Hoan không ngờ một đạo quân lừng tiếng bách chiến bách thắng khắp nơi trên thế giới mà đến Đại Việt lại thảm thương như vây? Từ trên ngọn Chí Linh nhìn ra xa, Thoát Hoan thấy thấp thoáng doanh trại và bóng cờ quân Đại Việt. Thoát Hoan hiểu rằng Trần Hưng Đạo đang khép chặt vòng vây. Cái dây thòng lọng của Trần Hưng Đạo đang thiết chặt vào cổ hắn.
Sau buổi xuống doanh trại, thực tiễn khắc nghiệt bi thảm của quân đội buộc Thoát Hoan phải thừa nhận và kết luận rằng đành phải rút lui nếu không muốn bị tiêu diệt hoàn toàn, nếu không muốn bị bắt làm tù binh. Thoát Hoan nghĩ phải đưa ra bàn với các tướng lĩnh để sau này nói với phụ hoàng rằng các tướng lĩnh không muốn đánh nữa. Thực ra có bàn hay không thì cuối cùng cũng do Thoát Hoan quyết định, nhưng tội gì gánh lấy trách nhiệm một mình.
Sáng hôm sau, trong tổng hành dinh, Thoát Hoan triệu tập đông đủ các tướng lĩnh và nói:
-Sớm hôm qua, bản soái đi thị sát doanh trại quân đội ở Vạn Kiếp, Chí Linh, Phả Lại, họ chỉ ăn cháo cầm hơi, không rượu, không thịt, binh sĩ đói khát, bệnh tật, bị thương chết quá nhiều hàng ngày, 1 ngày khoảng hàng trăm người chết. Bên ngoài thì quân Đại Việt đang thít chặt vòng vây. Nóng nực quá họ không mặc được quân phục và áo giáp để sẵn sàng chiến đấu dù đã ban bố quân lệnh. Quân Việt đang rục rịch tổng phản công. Trước tình thế bi đát này, các tướng quân có kế sách gì hay không?
- Tướng Diệc Hác Mê Thất.
-Dạ, có mạt tướng.
-Lương thực toàn quân còn ăn được bao nhiêu ngày nữa?
-Da, cho binh sĩ ăn no hay ăn cháo ạ?
-Ăn no.
-Dạ còn được 5 ngày nữa.
-Thế còn ăn cháo?
-Dạ, 10 ngày nữa ạ.
-Con đường vận chuyển lương thực từ Tư Minh về đây thế nào?
-Dạ, bị dân binh Đại Việt cắt đứt hoàn toàn rồi ạ.
-Thân vương Tích Lệ Cơ.
-Có bản vương.
-Thân vương có kế gì không?
-Bản vương cho rằng nếu không đánh được nữa thì chủ soái hãy rút quân về để tránh thiệt hại nặng nề.
-Quân sư Áo Lỗ xích, có cách gì xoay chuyển được tình thế không?
-Dạ, bẩm chủ soái, nay thế quân sa suốt, không thể tiếp tục chiến đấu được nữa thì chủ soái nên rút quân về. Được thua là việc thường tình của việc dùng binh ạ.
-Ý các tướng quân khác thế nào?
Gần như đồng thanh, các tướng Nguyên Mông trả lời mạnh mẽ:
-Dạ, bẩm chủ soái, chúng ta nên rút lui ạ.
Thoát Hoan hỏi tiếp:
-Rút nhưng bây giờ rút theo mấy đường? Phương án một vẫn rút theo hai đường thủy và bộ. Đường bộ theo đường Vạn Kiếp Tư Minh, khoảng 5 vạn quân theo đường Thăng Long-Đại Lý, đạo thủy binh vẫn theo đường Lục Đầu Giang-Bạch Đằng-Khâm Châu. Phương án 2, bỏ thuyền lại và tất cả rút theo đường bộ.
Ô Mã Nhi nói:
-Nên phá hết thuyền và dồn vào rút theo hai đường bộ để có sức mạnh đập tan các cuộc tập kích và truy kích của quân Đại Việt.
-Quân Sư Áo Lỗ Xích, ý quân sư thế nào?
-Dạ,bẩm chủ soái, mạt tướng cho rằng thuyền chiến là phương tiẹn của nhà nước không thể bỏ lại hoặc phá hoại được, nên theo phương án1 mà chủ soái đã nêu. Bộ binh, kỵ binh hầu hết rút theo đường Vạn Kiếp Tư Minh, khoảng 5 vạn kỵ binh rút theo đường Thăng Long-Đại Lý, 500 chiến thuyền và 5 vạn thủy binh vẫn đi theo đường Lục Đầu Giang-Bạch Đằng-Khâm Châu. Phân tán như vậy khi bị quân Đại Việt tập kích, truy kích không bị dồn ứ, giảm thiểu thiệt hại.
Thoát Hoan hỏi Tích Lệ Cơ:
-Thân vương có ý kiến gì không?
-Bản vương không hiểu binh pháp lắm, chủ soái cứ quyết định đi.
Cuối cùng Thoát Hoan quyết định:
-Nay do những khó khăn của cuộc Nam chinh, ta ra lệnh rút toàn quân khỏi chiến trường Đại Việt.
Các tướng Nguyên Mông không dấu nổi vui mừng, đồng thanh đáp:
-Chúng mạt tướng tuân lệnh chủ soái.
-Để phân tán lực lượng, giảm thiểu thiệt hại khi bị quân Việt truy kích, nay ta ra lệnh:
-Ta sẽ chỉ huy 25 vạn quân kỵ binh và bộ binh rút theo đường Vạn Kiếp-Tư Minh, tướng quân Đương Cổ Đái đi tả tiên phong, Tướng quân Diệc Hác Mê Thất đi hữu tiên phong, A Lý Quỹ Thuận đi tả trung Quân, Áo Lỗ Xích đi hữu trung quân, A Bát xích, Ái Lỗ, Trương Ngọc, Tích Đô Nhi, A Lý, Bồ Tý Thành đi hậu quân.
-Đạo thứ hai do Nạp Tốc Lạt Đinh chỉ huy gồm 5 vạn bộ binh và kỵ binh rút theo đường Thăng Long-Đại Lý.
-Đạo thứ ba gồm 500 chiến thuyền và 5 vạn thủy binh do Ô Mã Nhi chỉ huy, Phàn Tiếp phó chỉ huy cùng Thân vương Tích Lệ Cơ, Lư Khuê rút theo đường Lục Đầu Giang-Sông Kinh Thầy-Bạch Đằng về Khâm Châu. Đạo này phải đem theo tất cả những thương binh, bệnh binh về nước.
-Chiều nay cho toàn quân ăn một bữa no để có sức mà đi, còn lại chia cho binh sĩ họ tự mang đi mà dùng trên đường đi. Đêm nay xuất phát. Đạo nào xong sớm thì rút sớm. Khi rút phải bí mật, không được lửa khói, không được khua chiêng đáng trống. Các tướng rõ chưa?
-Dạ, chúng mạt tướng tuân lệnh chủ soái.
Ô Mã Nhi lo sợ nói:
-Dạ, bẩm chủ soái, đạo thủy binh rất dễ bị tấn công, mạt tướng e rằng không thể đánh lại thủy quân Đại Việt thiện chiến.
Thoát Hoan nói:
-Vậy thì cho Trịnh Bằng Phi, Đạt Truật dẫn kỵ binh hộ tống thủy binh ra đến cửa sông Bạch Đằng. An tâm chưa?
-Dạ, mạt tướng rõ.
Đáp vậy nhưng Ô Mã Nhi nghĩ thầm: “Cái thằng hoàng tử oắt con này sao ngu vậy, kỵ binh lội nược được hay sao mà hộ tống thủy binh, định qua mặt ông nội mày sao?”.Chỉ một suýt nữa Ô Mã Nhi bật cười trước mặt Thoát Hoan.
Tối hôm đó, sau khi thu xếp xong, 30 vạn quân Nguyên Mông ở Vạn Kiếp không đèn đóm rùng rùng chuyển động lên phương Bắc. Đã lâu lắm rồi chiều hôm đó, quân Nguyên Mông mới được bữa ăn no cơm với thịt ngựa. Ngựa là người bạn chiến đấu, là phương tiện chiến tranh nhưng khi hết lương thực và nguy cấp, nếu được lệnh của chủ soái có thể giết ngựa ăn thịt. Được ăn no, lại được lệnh về nước nên quân Nguyên Mông như hồi sức phấn khởi nhổ trại đi vội vã trong đêm. 25 vạn người ngựa chen chúc lẫn nhau. Cuộc tháo chạy vĩ đại nhất trong lịch sử chiến tranh Đại Việt-Nguyên Mông bắt đầu.
* *
*
Tháp Sơn là một vùng đồi núi ven biển của lộ Hồng Châu, phía Bắc nối với lộ Hải Đông, phía Nam là Khoái Châu và Long Hưng. Năm nay mùa hè như đến sớm, mới đầu tháng tư mà nắng đã rải chan hòa. Núi đồi miền Hồng Châu và lộ Hải Đông nhấp nhô dưới nắng. Biển Tháp Sơn sóng triều sáng lóa, hát khúc hát của sóng triều lên xuống quanh năm.
Vào một buổi sáng giữa tháng 3 năm 1288, tại tổng hành dinh, Trần Hưng Đạo đang họp với các tướng lĩnh. Trên phông vải màu đỏ treo trên tường có hình một con hổ oai phong dữ tợn, trên con hổ là chữ “Soái” lớn màu vàng uy nghiêm. Hưng Đạo Vương mắt phượng mày ngài, oai phong lẫm liệt, áo chiến bào màu nâu, mũ đâu mâu màu vàng. Đứng hai bên tả hữu là các gia tướng như Phạm Ngũ Lão, Yết Kiêu, Đỗ Hành, Cao Mang, Dã Tượng. Ngồi bàn dưới có các tướng lĩnh cũng là những con trai của Trần Hưng Đạo: Hưng Trí Vương Trần Quốc Hiến, Hưng Vũ Vương Trần Quốc Nghiễn, Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng, Hưng Hiến Vương Trần Quốc Uy. Còn có Trần Quốc Hiện là con trai của Trần Quốc Nghiễn. Hưng Đạo Vương nói:
-Theo tin tức thám mã về báo, tình hình quân Nguyên Mông ở Vạn Kiếp, ở Thăng Long rất nguy cấp, hết lương thực, đói khát, bệnh tật, kiệt sức, bị các lực lượng dân binh của bách tính tiêu hao, ngoài Thanh Hóa, Diễn Châu, Hoan Châu là hậu phương vững chắc, quân ta đã làm chủ hoàn toàn Trường Yên, Thiên Trường, Long Hưng, Khoái Châu, Hồng Châu, Hải Đông và đã bao vây Vạn Kiếp. Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông và hoàng thượng Trần Nhân Tông đã về Trúc Động để phối hợp chỉ huy tác chiến. Thoát Hoan chỉ còn một con đường duy nhất là rút lui về nước trong nay mai. Chúng ta cần phải phục kích, truy kích tiêu diệt tận cùng quân giặc để chúng khiếp sợ không còn dám sang xâm lược lần nữa. Nay ta ra lệnh:
-Tướng Hưng Trí Vương Trần Quốc Hiến.
-Dạ, có mạt tướng.
-Tướng quân đem 10 vạn quân lên con đường từ Nội Bàng đến Lạng Châu, kết hợp với Nguyễn Thế Lộc và các tù trưởng dân binh vùng đó tập kích, truy kích, mai phục tiêu diệt khoảng 25 vạn quân và Thoát Hoan chạy theo đường này về Tư Minh, phải đuổi cùng diệt tận để chúng khiếp sợ không dám sang xâm phạm lần thứ tư nữa.
-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.
-Tướng Nguyễn Khoái.
-Dạ, có mạt tướng.
-Tướng quân cùng tướng Yết Kiêu đem 5 vạn quân về Bạch Đằng gia cố lại trận địa, đóng thêm cọc vững chắc kiên cố để ta sử dụng kế của Tiền Ngô Vương, tiều diệt 5 vạn thủy binh và 500 chiến thuyền Nguyên Mông sẽ rút theo sông Bạch Đằng về Khâm Châu.
-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.
-Tướng quân Trần Quốc Tảng.
-Dạ, có mạt tướng.
-Trên đường rút từ sông Lục Đầu theo sông Kinh Thầy, thủy binh giặc có thể đi theo ba đường ra biển, một là sông Giá, hai là sông Bạch Đằng, ba là cửa Nam Triệu. Tướng quân đem 2 vạn quân đến cửa sông Giá, dong cờ mở trống thị uy buộc giặc phải rút theo cửa sông Bạch Đằng vào trận địa của ta,
-Da, mạt tướng tuân lệnh.
-Còn nữa, trên đường đến sông Giá, tướng quân phá tất cả cầu cống để ngăn kỵ binh địch đi hộ tống thủy binh.
-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.
-Tướng quân Trần Quốc Hiến.
-Dạ có mạt tướng.
-Tướng quân đem 2 vạn quân đến cửa Nam Triệu trống dong cờ mở thị uy ngăn không cho thủy binh gặc rút ra cửa đó mà buộc thủy binh giặc phải đi vào sông Bạch Đằng vào trận địa của ta, rõ chưa?
-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.
-Tướng quân Trần Nhật Duật.
-Dạ, có mạt tướng.
-Tướng quân đem 2 vạn quân lên con đường Thăng Long -Quy Hóa kết hợp với thủ lĩnh dân binh ở đó truy kích tiêu diệt đạo quân của Nạp Tốc Lạt Đinh tháo chạy từ kinh thành đến Đại Lý.
-Mạt tướng tuân lệnh.
-Tướng quân Trần Quốc Nghiễn:
-Dạ, có mạt tướng:
-Tướng quân cùng với tướng Trần Quốc Hiện đem 2 vạn quân đến tăng viện cho thái thượng hoàng và hoàng thượng, khi thấy thủy binh giặc lọt vào Bạch Đằng thì đem binh thuyền ra trợ chiến.
-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.
Cuối cùng Trần Hưng Đạo ra lệnh:
-Tất cả các tướng lĩnh còn lại cùng ta ra Bạch Đằng Giang đánh một trận đánh lớn tiêu diệt toàn bộ đạo thủy quân của giặc cho chúng mất mặt muôn đời.
-Dạ, chúng mạt tướng tuân lệnh.
* *
*
Sau một đêm hành quân, Hưng Trí Vương Trần Quốc Hiến cùng các tùy tướng và 10 vạn quân đã đến Nội Bàng. Trời mùa hè mới sáng mà nắng đã chan hòa rừng núi. Những ngọn đồi núi, những rừng hoang vốn đã cheo leo vòng vèo suốt 300 dặm theo con đường hiểm trở Nội Bàng-Lạng Châu càng nhuộm màu huyền bí. Hưng Trí Vương Trần Quốc Hiến biết rằng đây là một trận đánh 25 vạn quân Nguyên Mông tháo chạy, một khối quân rất lớn cho nên phải đánh nhiều trận, kết hợp nhiều chiến thuật như phục kích, truy kích, tập kích rồi lại lắp lại những chiến thuật đó trên một chặng đường dài 300 dặm. Kẻ địch tháo chạy có nhược điểm là hoảng loạn, kỷ luật chiến đấu không còn, không còn gắn kết thành một khối thống nhất, mạnh kẻ nào kẻ đó chạy, nhưng chúng lại rất quyết tâm chiến đấu để tìm ra con đường sống trong con đường chết. Cho nên người truy đuổi, tập kích là tiêu diệt chúng nhưng lại luôn mở ra con đường cho chúng tháo chạy và hy vọng, có vậy chúng mới không liều chết mà chống cự quyết liệt, gây tổn thất lớn cho quân ta. Suy nghĩ như vậy nên Trần Quốc Hiến gọi:
-Tướng quân Trần Gia, Nguyễn Chế Nghĩa đâu.
-Dạ, có mạt tướng.
-Hai tướng quân đem 2 vạn quân mai phục ở ải Nội Bàng, chờ cho tiền quân, trung quân của Thoát Hoan đi qua mới đánh tiêu diệt hậu quân, rõ chưa?
-Mạt tướng tuân lệnh.
-Tướng quân Nguyễn Thế Lộc đâu.
-Dạ, có mạt tướng.
-Tướng quân chỉ huy các đội dân binh mai phục cách Nội Bàng 10 dặm về phía Bắc tiêu diệt bộ phận đi sau cùng của Thoát Hoan. Nhớ phải đặt bẫy, đào hố, căng dây cho ngựa ngã xuống mà đánh.
-Mạt tướng tuân lệnh.
-Tướng Trần Ngọc đâu.
-Dạ, có mạt tướng.
-Tướng quân đem hai vạn quân mai phục ở Chi Lăng, tiêu diệt giặc khi chúng tháo chạy.
-Mạt tướng tuân lệnh.
-Tướng quân Vũ Hải đâu.
-Có mạt tướng.
-Tướng quân đem 2 vạn quân mai phục ở ải Nữ Nhi và ải Khâu Cấp thuộc Lộc Bình Lạng Châu để đánh giặc khi chúng tháo chạy.
-Mạt tướng tuân lệnh.
-Số tướng lĩnh và binh sĩ còn lại theo ta lên sát biên cương chi viện cho các điểm mai phục và tiêu diệt gặc khi chúng vượt qua biên giới.
-Chúng mạt tướng tuân lệnh.
Quân Đại Việt đã mai phục xong cuối tháng 3 mà mãi đến 6 tháng 4 năm 1288, đại quân Nguyên Mông mới rời khỏi Vạn Kiếp. Đương Cổ Đái, Diệc Hác Mê Thất đi tiên phong và đại quân Thoát Hoan đi theo sau gồm trung quân và hậu quân. Cánh quân thứ hai do Tích Đô Nhi chỉ huy đi theo hướng Tây qua ải Hãm Sa và Chi Lăng đến trại Vĩnh Bình. Sáng mùa hè ở miền Nam Bắc Giang nắng chan hòa lấp lánh rải xuống đồi núi lúc cao lúc thấp uốn lượn vòng vèo theo con đường thiên lý chạy ngoằn ngoèo hiểm trở. Hơn 25 vạn quân Nguyên Mông đi như chạy làm rung chuyển đất đai đồi núi. Tiếng hàng vạn vó ngựa chạy trên đường nghe như cuộc chạy đua. Gió cuốn bụi mù mịt không gian. Đạo quân tiên phong rồi đến đạo trung quân của Thoát Hoan đi qua Nội Bàng, tiếp đến đạo hậu quân của A Bát Xích, Ái Lỗ, Trương Ngọc…lọt vào trận địa mai phục của quân Việt. Tiếng chiêng, trống, thanh la, tiếng reo hò vang trời chuyển đất, rồi những trận mưa tên trút xuống đầu quân Nguyên Mông, 2 vạn quân Nguyên Mông phun máu đổ gục. Ngựa trúng tên đau đớn hí vang thảm thiết phi cuồng lên mất phương hướng. Tiền quân và trung quân biết hậu quân bị đánh nhưng không thể quay lại cứu ứng được mà càng ra sức chạy nhanh để thoát thân, bỏ mặc hậu quân kêu cứu. Hai vạn quân Việt xông ra chém giết, tiếng la hét vang trời, thây giặc đổ ngổn ngang, máu chảy thành suối trên đường. Chưa bao giờ mà Nội Bàng lại có một trận huyết chiến khủng khiếp đến vậy. Thấy đường phía Bắc không bị vây, tàn quân của hậu quân Nguyên Mông tháo chạy. Trần Gia, Nguyễn Chế Nghĩa thúc quân Việt truy kích.
Trong khi đó đạo quân của Tích Đô Nhi đến ải Hãm Sa, dồn vào con đường hẹp núi non trùng điệp. Bổng nhiên, những trận mưa tên bất ngờ phóng ra. Quân Nguyên Mông tháo chạy giữa những làn mưa tên. 3 vạn quân Nguyên Mông bỏ xác dọc đường. Trong trận này, Vạn Hộ Trương Quân bỏ mạng. Còn một ít tàn quân Tích Đô Nhi nhập vào với đại quân Thoát Hoan tiếp tục tháo chạy về hướng Bắc. Quân Việt tiếp tục tập kích và truy kích tiêu diệt giặc. Xác quân Nguyên Mông rải dài suốt gần 300 dặm chồng chất. Bổng có sứ giả triều đình mang khẩu dụ cho Trần Quốc Hiến.
-Dạ, bẩm tướng quân, hoàng thượng có khẩu dụ.
-Khẩu dụ gì vậy?
-Dạ bẩm tướng quân, hoàng thượng khẩu dụ rằng không truy kích nữa, để cho Thoát Hoan và toàn quân về nước, giảm bớt sự giết hại sinh linh, thứ hai là giữ hòa hiếu sau này giữa hai nước.
Trần Quốc Hiến hỏi:
-Thế còn tội ác như núi của chúng gây cho bách tính nước ta thì sao?
-Dạ, bẩm tướng quân, tại hạ không biết, tại hạ chỉ biết truyền khẩu dụ.
Trần Quốc Hiến nói:
-Không sao,tướng ở ngoài chiến trường có thể tự mình quyết định.
Rồi Trần Quốc Hiến ra lệnh cho các tướng và quân Việt tiếp tục tập kích, truy kích tiêu diệt quân Nguyên Mông.
Quân Nguyên Mông đã quá kiệt sức, đến đoạn qua ải Khâu Cấp để đến ải Nữ Nhi không thể đi cùng nhau mà rải ra đi từng tốp. Đến đây lọt vào chính trận địa mai phục của Trần Quốc Hiến. Tên từ hai bên như mưa cứ thế xuyên vào người và ngựa quân Nguyên Mông. Máu phun thây đổ, hàng vạn chiến mã cũng chết gục hoặc dãy dụa bên đường, hàng nghìn tùy tướng đã bỏ mạng vì lấy thân mình che tên cho Thoát Hoan. A Bát xích, tên tướng khét tiếng của đế quốc Nguyên Mông trúng ba phát tên độc chết dọc đường. Ngày 19-4-1288, nhờ bao nhiêu tướng lấy cái chết che tên cho chủ soái, Thoát Hoan thoát chết, chạy được về châu Tư Minh. Ra đi 50 vạn quân hùng mạnh, nay về chỉ còn 5 vạn quân đói rách, thương tích đầy mình. Quá khiếp sợ, không chờ lệnh của Hốt Tất Liệt, Thoát Hoan ra lệnh bãi binh, Ái Lỗ dẫn quân bản bộ về Đại Lý, Áo Lỗ Xích đem quân về miền Bắc. Thoát Hoan cùng các tùy tướng của mình thất thểu về Đại Đô chịu sự trừng phạt của phụ hoàng Hốt Tất Liệt.
* *
*
Quốc công Tiết Chế Trần Hưng Đạo đã sớm biết được đạo thủy quân Nguyên-Mông không có con đường nào khác để tháo chạy ngoài con đường qua sông Bạch Đằng để ra biển. Trần Hưng Đạo huy động quân đội chuẩn bị trận địa tại dòng sông nổi tiếng này. Do địa thế quan trọng của mình, Bạch Đằng Giang luôn là tử địa, mồ chôn quân xâm lược phương Bắc. Năm 938 tại đây Ngô Vương đã tiêu diệt toàn bộ thủy binh của nhà Nam Hán, giết chết Thái tử Hoằng Thao, tổng chỉ huy quân xâm lược, kết thúc 1000 thống trị của phong kiến Trung Quốc đối với Đại Việt, giành độc lập dân tộc. Năm 981 thủy quân của vua Lê Đại Hành trên dòng sông này đã anh dũng chiến đấu, ngăn chặn thủy binh nhà Tống sang xâm lược, tạo điều kiện cho vua Lê Đại Hành tiêu diệt bộ binh địch, đập tan cuộc xâm lăng của nhà Tống vào Đại Cồ Việt.
Yết Kiêu ở Tổng hành dinh của Trần Hưng Đạo nên công việc càng dồn dập đến chóng mặt.Chàng và Dã Tượng đã hộ tống Quốc Công Tiết Chế đi thị sát sông Bạch Đằng, các cù lao hai bên bờ sông như bãi núi đá vôi Tràng Kênh, Gềnh Cốc, Đông Cóc, Phong Cốc, các con sông Khoái, sông Thai... để bố trí trận địa mai phục. Do tài bơi lặn, Yết Kiêu được đặc trách nghiên cứu địa hình, trực tiếp cùng tướng quân Nguyễn Khoái chỉ huy 3000 thủy quân đóng 3000 cọc nhọn ở cửa sông Bạch Đằng. Đây là một nhiệm vụ gian khổ nhất và gấp rút nhất mà chàng được tin cậy đảm nhận. Việc chế tác hàng nghìn cộc gỗ lim đầu bịt sắt nhọn đã được công trường quân đội đảm nhiệm hoàn thành và chuyển xuống cửa sông, mỗi cọc dài khoảng 2,5 trượng. Trong suốt hai tuần cuối tháng 3, Yết Kiêu và đội thủy binh do chàng chỉ huy đã lao động không quản ngày đêm, ngâm mình dưới nước, người lặn giữ thân cọc, người bơi trên sóng biển dùng vồ đóng cọc. Công sức của hàng nghìn thủy binh đã tạo nên một bãi cọc đóng nghiêng vào phía trong cửa sông, khi thủy triều lên thì ngập, khi nước triều rút thì cọc nhô lên vừa đủ xuyên thủng chiến thuyền địch.Chính bà hàng nước bến đò Rừng đã chỉ cho Quốc Công Tiết Chế rành rọt quy luật thời gian lên xuống của thủy triều để Người ra lệnh bố trí bãi cọc ngầm hoàn thiện. Đây sẽ là cạm bẫy và mồ chôn khổng lồ đối với đạo thủy binh hùng mạnh của kẻ thù xâm lược.
Cuối tháng 3,Trần Hưng Đạo đã dời Tổng hành dinh từ Tháp Sơn về bờ Nam bến phà Rừng của sông Bạch Đằng. Tại Tổng hành dinh của Trần Hưng Đạo, vào một buổi sáng, quân do thám phi ngựa về cấp báo:
-Dạ bẩm Quốc Công tiết chế, đạo quân thủy của Ô mã Nhi đã từ Lục Đầu Giang tiến theo sồng Kinh Thầy theo hướng đông, trên bộ có quân kỵ binh của Trịnh Bằng Phi hộ tống.
Trần Hưng Đạo hỏi:
-Bộ binh của Thoát Hoan rút chưa?
Dạ, Bẩm Quốc Công, 25 vạn kỵ binh, bộ binh của Thoát Hoan cũng đã bỏ chạy khỏi Vạn Kiếp theo đường Lạng Giang tới Tư Minh, Còn 5 vạn quân ở Thăng Long do Náp Tốc Lạt Đinh chỉ huy đã chạy theo đường Thăng Long-Đại Lý.
Trần Hưng Đạo nói với các tướng:
-Tất cả đã nằm trong tầm tính toán và bố trí của ta rồi. Quân Thát lần này thua to hơn hai lần trước. Lệnh cho các tướng kiên quyết tiêu diệt địch nhưng khi chúng đã đầu hàng thành tù binh thì không được giết hại chúng.
-Dạ.
Tại Tổng hành dinh, Trần Hưng Đạo theo dõi chặt chẽ tình hình chiến sự khắp Bắc kinh thành cho đến miền Đông Bắc để chỉ đạo. Ba hôm sau quân thám mã lại về báo:
-Dạ Bẩm Quốc Công, Thủy binh địch đến ngã ba Đụn đã bị thủy binh của Thái thượng hoàng và Thiên tử đánh cho một đòn chí mạng đang tháo chạy về Trúc Động. Kỵ binh giặc bị quân ta phá cầu không ra được Đông Triều đã phải quay lại Vạn Kiếp rút chạy theo cùng đường với Thoát Hoan.
Trần Hưng Đạo có vẻ trầm ngâm:
-Lệnh cho thủy binh ta kiên quyết nghi binh và đánh chặn, không cho thủy binh địch rút theo đường sông Giá ra biển, bằng mọi giá phải lừa cho địch rút theo sông Bạch Đằng để vào trận địa cọc của ta.
-Dạ, rõ.
Ngày hôm sau thám mã lại về báo:
-Bẩm Quốc Công Tiết Chế, đạo tiên phong thuỷ quân Thát Đát khoảng 30 thuyền chiến do tướng Lư Khuê chỉ huy đang tiến về sông Giá thăm dò.
Trần Hưng Đạo ra lệnh:
-Truyền lệnh ta, phải đánh tan đạo quân tiên phong để chúng khiếp sợ, mặt khác phải hư trương thanh thế để đánh lừa chúng rằng toàn bộ binh lực của ta đang tập trung ở sông Giá.
Thám mã đi rồi, Trần Hưng Đạo có vẻ lo lắng. Yết Kiêu hiểu sự lo lắng của Quốc Công tiết chế. Nếu như không bịt được sông Giá, thủy binh địch kiên quyết tiến theo hướng đó ra biển thì có lẽ chúng chạy thoát dù có tổn thất. Trận địa cọc Bạch Đằng mà ta dày công xây dựng thành ra vô dụng. Không bị giáng một đòn chí mạng, quân Nguyên- Mông có lẽ chưa táng đảm kinh hồn thì chúng còn có khả năng sang xâm lược lần thứ tư. Đại Việt lại khó tránh một trận chiến tranh đau thương nữa.
Yết Kiêu, Dã Tượng, Cao Mang, Đỗ Hành cùng chia sẻ lo âu với chủ tướng. Yết Kiêu bước lên thưa:
-Dạ bẩm Quốc Công, đã biết rằng có quân mai phục và hư binh, nhưng để góp phần làm cho địch khiếp sợ không rút theo đường sông Giá, tùy tướng có một cách.
Hưng Đạo Vương hỏi:
-Tướng quân có cách gì?
-Tùy tướng lặn xuống sông Giá đục thuyền địch. Vừa thấy lực lượng mai phục của ta hùng mạnh, thuyền lại bị chìm hàng loạt chúng tất khiếp sợ mà bàn với Ô Mã Nhi đi theo đường sông Bạch Đằng.
Trần Hưng Đạo nói:
-Ngày ở Lục đầu Giang, tướng quân đục được chiến thuyền là vì nó đậu tại chỗ, nay chúng đang vận động thì đục thế nào được?
-Dạ bẩm Quốc Công, chắc là tùy tướng đục thủng được cả thuyền đang chạy.
Trần Hưng Đạo nói:
-Lệnh cho tướng quân Yết Kiêu tham gia mặt trận sông Giá nhưng đừng để chúng bắt được. Trận Bạch Đằng sắp tới rất cần người giỏi thủy chiến như tướng quân.
-Đa tạ Quốc công Tiết chế.
Từ tổng hành dinh ở bến Phà Rừng, bờ Nam sông Bạch Đằng không xa sông Giá, Yết Kiêu chèo thuyền nhỏ trong đêm ra bờ sông. Chàng trông thấy 30 chiến thuyền tiên phong của quân Nguyên Mông căng cờ xí, đông đặc quân lính cung tên giáo mác sáng loáng trên mỗi chiến thuyền. Chiến thuyền quân Nguyên Mông đi chậm rải thăm dò. Yết Kiêu buộc dây thừng có đục, dùi đục và con dao ngắn vào lưng, mình trần bận khố màu nâu. Đêm hè, nước sông mát rợi. Toàn bộ miền quê vùng Đông Bắc chìm trong bóng đêm đen thẳm mênh mông mịt mờ. Những vì sao nhấp nhánh trên màn trời nhung đen, gió từ biển thổi vào nghe vi vu xào xạc. Xa xa phía Tây sông Kinh Thầy hơn 400 chiến thuyền địch đang dừng lại trên sông như một dãy núi khổng lồ dài dằng dặc vàng vọt ánh đèn. Yết Kiêu đoán đoàn chiến thuyền địch đang chờ kết quả của đội chiến thuyền tiên Phong rồi mới quyết định tháo chạy theo hướng nào. Yết Kiêu hiểu số phận của đoàn chiến thuyền xâm lược đã ở vào thế rất nguy nan. Sau lưng chúng là hàng trăm thuyền chiến của hai vua Trần uy hiếp, trước mặt là một nghìn chiến thuyền của Trần Hưng Đạo đang chờ đón chúng. Việc chúng bị tiêu diệt chỉ còn tính từng ngày. Nghĩ tới đó, Yết Kiêu phấn chấn nhào xuống đáy sông phi như mũi tên bắn về chiếc thuyền đi đầu của đội tiên phong địch.Lưỡi đục bằng thép bí gia truyền của chàng xuyên vào lớp vỏ gỗ của thuyền như xuyên vào đất mềm. Bây giờ thì không cần nút giẻ để sau đó rút ra cho cùng chìm đồng loạt như ở Lục Đầu Giang mà ở đây chàng cho chìm từng chiếc một. Mỗi chiến thuyền chàng đục lỗ to như miệng chiếc rổ con. Gần sáng, chàng đã đục khoảng 10 chiếc trong số 30 thuyền tiên phong của địch.
Lại nói 30 chiến thuyền tiên phong thăm dò đường do Lư Khuê chỉ huy tiến sâu vào sông Giá. Bỗng nhiên Lư Khuê trông thấy khắp ba bề bốn bên trong các dãy núi đá từng cột khói bốc cao mù mịt, chiêng trống vang lừng, tinh kỳ phấp phới, tiếng người, ngựa chạy như núi lở đất rung. Trên mặt nước, Lư Khuê trông thấy dày đặc những mo cau gói cơm, những lá bánh chưng sau khi quân đội ăn ném xuống sông kết thành từng bè trôi lừng lững. Rồi những chiến thuyền xuất hiện dày đặc, nhanh như chớp bắn tên gây chết chóc cho quân Nguyên Mông rồi lẩn trốn. Quân Nguyên Mông kinh hoàng hoa mắt bởi tiếng trống đinh tai nhức óc, bởi khói lửa ngút trời hai bên bờ sông. Nhìn số mo cau gói cơm và lá bánh chưng như bè mảng trôi trên sông, Lư Khuê ước tính quân Đại Việt mai phục ở đây không dưới 10 vạn người. Lư Khuê đang mải quan sát và suy nghĩ thì bỗng lính kêu thất thanh. Lư Khuê nhìn ra phía trước thì lần lượt khoảng 10 chiến thuyền quân Nguyên chìm dần xuống sông mà không rõ nguyên nhân. Đội hình tiên phong đã hoàn toàn rối loạn và khiếp sợ. Bản thân Lư Khuê chinh chiến nhiều năm trên nhiều chiến trường mà cũng choáng váng. Y vội vã ra lệnh cho đội tiên phong quay trở lại sông Kinh Thầy, nơi đại đội binh thuyền Ô Mã Nhi đang nóng lòng chờ đợi tin tức.

Tranh minh họa. Nguồn: Internet
Lư Khuê nói với Ô mã Nhi:
-Sông Giá đã bị quân Đại Việt mai phục, ước tính hàng nghìn chiến thuyền và khoảng 10 vạn bộ binh, thủy binh. Chiền thuyền của ta đang đi bổng nhiên cứ lần lượt chìm xuống. Lối đánh này thật đáng sợ.
Ô Mã Nhi ngạc Nhiên:
-Sao chiến thuyền bỗng dưng bị chìm?
Phàn Tiếp nói:
-Lại chính là Yết Kiêu từng đục chiến thuyền ta ở Lục Đầu Giang.
Ô Mã Nhi gầm lên:
-Chỉ tiếc hôm bắt được chưa xé xác nó ra thì nó đã chạy thoát.
Tích Lệ Cơ, một thân vương dòng dõi nhà Hốt Tất Liệt run run nói:
-Vậy bây giờ rút theo đường nào? Hãy quyết định nhanh lên!.
Ô Mã Nhi nói:
-Rút theo đường sông Bạch Đằng!
Phàn Tiếp nói:
-Một người dùng binh tài giỏi như Trần Hưng Đạo không thể không bố trí bãi cọc trên cửa sông Bạch Đằng để chặn chiến thuyền ta như Ngô Vương và Lê Đại Hành, tổ tiên của ông ta đã làm.
Tích Lệ Cơ lo lắng hỏi:
-Như vậy phải làm thế nào? Hôm trước ở Vạn Kiếp tôi đã bảo các ông bỏ chiến thuyền rút tất cả theo đường bộ các ông không nghe. Tôi là đại quý tộc của đế quốc Nguyên Mông, bị giết hay bị bắt thì nhục nhã quá.
Phàn Tiếp nói:
-Xin Vương gia chớ quá lo. Nước triều thường dâng lên vào buổi chiều. Khi nước triều dâng thường phủ hết cọc, thuyền có thể vượt qua được. Chúng ta phải hành quân thần tốc, chiều mai ra được cửa sông Bạch Đằng có thể thoát ra biển được. Tướng quân Ô Mã Nhi lưu ý nếu quá giờ tí đêm mai khi thủy triều rút mà chúng ta không ra được là chết hết.
Ô Mã Nhi kiên quyết hùng hổ:
-Hảo, hảo, Chiều mai sẽ tới được cửa sông Bạch Đằng.
Rồi ngay đêm đó Ô Mã Nhi ra lệnh hành quân. Hơn 400 chiến thuyền chở 5 vạn thủy binh khua mái chèo như điên loạn, rẽ sóng nước Kinh Thầy và tiến vào sông Đá Bạc, một đoạn sông chính của sông Bạch Đằng. Thời gian bây giờ trở thành sống chết đối với thủy quân Nguyên Mông. Ô Mã Nhi ra lệnh cho chỉ huy các thuyền sẵn sàng dùng roi vọt đốc thúc quân chèo thuyền chèo cho nhanh chóng.
Được thám mã báo về việc thuyền chiến quân Nguyên Mông sau khi bị nghi binh ta đánh lừa và bị đắm nhiều chiến thuyền do Yết Kiêu đục đang nhanh chóng tiến ra cửa sông Bạch Đằng,Trần Hưng Đạo từ Tổng hành dinh gần bến Phà Rừng đã chỉ đạo sát sao trận đánh cuối cùng có tính chất quyết định. Vấn đề sống còn của chiến dịch là phải ngăn chặn tốc độ hành quân của thủy binh địch làm sao cho sang giờ tuất đêm 8-4, khi thủy triều rút xuống thuyền quân Nguyên Mông mới tới được cửa sông. Trần Hưng Đạo ra lệnh cho các cánh quân liên tục tập kích vào hai bên sườn chiến thuyền quân địch. Vương còn ra lệnh dàn thủy binh ngay mũi hành quân của địch cách bãi cọc 10 dặm về phía trong sông đề phòng tập kích không hiệu quả thì trận tuyến hàng ngang này kiên quyết ngăn thuyền địch bằng mọi gía cho đến giờ tuất. Trong những ngày này Trần Hưng Đạo hầu như không ngủ, ăn uống rất qua loa. Người chỉ tập trung trí tuệ điều hành một chiến trường rộng lớn. Ngày 7-4 thám mã về Tổng hành dinh báo:
-Dạ bẩm Quốc công Tiết chế, đạo quân bộ của Thoát Hoan rút theo đường Lạng Châu đã bị đại bại, khoảng 25 vạn quân đã bị tiêu diệt.
-Có bắt được Thoát Hoan không?
-Dạ, Thoát Hoan nhờ các tướng lính che chở mở đường máu mới thoát cùng vài vạn quân nhưng các tướng sừng sỏ của giặc Thát Đát đều tử trận.
Trần Hưng Đạo ra lệnh:
-Chôn xác chết của giặc nhanh kẻo dân ta bị bệnh dịch do xác thối rữa, đồng thời đối xử tốt với tù binh, cho ăn uống tử tế và không được giết hại. Ai vi phạm xử theo quân pháp!
-Dạ.
Tin thắng trận ở chiến trường phía Bắc bay nhanh toàn quốc, quân dân vô cùng phấn khởi. Các đạo quân thủy bộ đang đánh địch ở mạn Đông Bắc vô cùng hứng khởi, gươm giáo tuốt khỏi vỏ, khí thế hừng hực, ai ai cũng muốn lập công. Nhưng tại Tổng hành dinh, Trần Hưng Đạo vẫn không an tâm về tốc độ tiến nhanh của Thủy quân Nguyên Mông dù dọc đường bị ta chặn đánh, thiệt hại khá nặng nề. Sáng 8-4, đoàn chiến thuyền địch đã tiến vào sông Đạch Đằng. Binh thuyền dàn hàng ngang của ta đã trông thấy địch, địch cũng đã trông thấy chiến thuyền ta. Cờ xí hai bên trên chiến thuyền che rợp cả dòng sông. Tiến ra cửa Bạch Đằng bây giờ là con đường sống duy nhất của thủy binh Nguyên Mông nên chúng rất hung hãn và liều lĩnh. Trần Hưng Đạo ra lệnh cho thủy binh ta tấn công mạnh hai bên sườn địch để hỗ trợ cho trận tuyến hàng ngang chặn trước mũi địch. Bây giờ mặt sông rộng nên Ô Mã Nhi cho dàn trận hình đầu bò tam giác mà mũi nhọn đi trước, ba cạnh là hai bên sườn đi dọc sông và cạnh khóa đuôi để chống quân ta tập kích và hỗ trợ cho nhau. Thế trận này tạo cho binh thuyền Nguyên Mông tiến nhanh, chống đỡ có hiệu quả. Yết Kiêu bước lên nói:
-Tùy tướng xin ra trận, lặn xuống đục thuyền bắt sống Tích Lệ Cơ, thân vương của Nhà Nguyên Mông, buộc chúng phải dừng lại tìm kiếm may ra giảm được tốc độ của chúng.
Quốc công Tiết chế đăm chiêu suy nghĩ và gật gù:
-Tướng quân đã thành công ở Lục Đầu Giang và ở mặt trận sông Giá, lần này mong tướng quân cũng thành công.
Yết Kiêu lại xuất trận. Chàng đầu chít khăn nâu, đóng khố nâu, sợi thừng quanh lưng vẫn cái đục, dùi đục to tướng và một con dao ngắn. Thời gian đã gần sang giờ ngọ, nước thủy triều đang lên nhanh, sông Bạch Đằng rộng mênh mông. Đoàn chiến thuyền quân Nguyên Mông như con quái vật hung hãn dàn hình tam giác lao nhanh ra cửa sông. Nắng chói chang, sóng cuộn lên dữ dội. Yết Kiêu xác định vị trí chiến thuyền có lá cờ hiệu Thân vương Mông Cổ, lao mình xuống sông lặn một hơi xuống đáy thuyền và đục. Thuyền của Tích Lệ Cơ bất ngờ chìm xuống rất nhanh. Nhìn thấy người ăn mặc sang trọng, cổ và tay đeo đầy vàng và ngọc, Yết Kiêu đoán là Tích Lệ Cơ, liền bắt lôi xuống đáy sông và lặn ra xa khỏi đoàn thuyền quân Nguyên Mông trong khi lính bảo vệ trên thuyền còn bàng hoàng lo ngoi lên để thở. Tin giữ bay lại thuyền của Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp:
-Dạ, Thân vương Tích Lệ Cơ bị chìm thuyền và mất tích rồi ạ.
Ô Mã Nhi gầm lên:
-Kệ ông ấy, cứ tiếp tục hành quân!
Phàn Tiếp nói:
-Không được, ông ta là Thân vương dòng dõi của Nguyên Thế Tổ, mất ông ta hoặc không thấy xác chúng ta về liệu có giữ được cái đầu không, thậm chí ba họ còn liên lụy máu chảy đầu rơi.
Ô Mã Nhi bất lực gầm lên:
-Dừng lại tìm kiếm Vương gia nhanh lên. Ai tìm thấy được thăng vượt cấp.
Đoàn binh thuyền quân Nguyên Mông phải dừng lại, đội hình hành quân chiến đấu tan ra thành những chiến thuyền đi tìm kiếm khắp mặt sông. Ô Mã Nhi sai những tên lính lặn giỏi nhất lặn xuống sông tìm Thân vương Tích Lệ Cơ mất tích. Quá lo lắng trách nhiệm để mất Thân Vương, vì thế mải mê tìm kiếm, Ô Mã Nhi quên đứt đi mấu chốt sự sống của đoàn binh thuyền là thời gian và con nước triều cường. Không biết đã qua bao nhiêu canh giờ. Sông nước đã chìm trong bóng tối. Đến lúc Phàn Tiếp và Ô Mã Nhi nhận thấy chiến thuyền không cần chèo nhưng tự động trôi về phía Đông ngày một nhanh và không còn đội hình chiến đấu nữa. Thì ra nước thủy triều đã bắt đầu rút xuống. Bóng tối đã tràn ngập khắp không gian. Chiến thuyền quân Nguyên-Mông bây giờ đã trong tầm của các mũi tên của đoàn binh thuyền Đại Việt dàn hàng ngang đón đầu. Tên dội như mưa, tên trúng vào ngực, vào lưng, vào mông, vào mặt, hàng nghìn thủy binh lăn xuống nước hoặc gục chết trên các chiến thuyền. Hàng trăm chiến thuyền quân Nguyên Mông to lớn đồ sộ lao vào các chiến thuyền Đại Việt. Các chiến thuyền Đại Việt tản ra hai bên mở đường cho quân Nguyên Mông tháo chạy. Khi mở được đường máu ra đến cửa sông thì cũng là lúc thủy triều rút ào ạt. Những mái chèo của thuyền không làm chủ được tốc độ nữa. Hàng chục thuyền chiến bị cọc xuyên qua như bị đóng đinh xoay vòng quanh tại chỗ, ngăn cản hàng trăm chiếc thuyền dồn nén lại dày đặc, vướng nhau hỗn lọan.
Đang khi đó, quân Nguyên Mông vô cùng kinh hãi, từ phía sau chúng ở phía Tây dòng sông cách quân Nguyên Mông khoảng nửa dặm, hàng trăm bè chứa chất cháy của Đại Việt đang cháy rừng rực, mặc dù không có gió tây nhưng theo thủy triều đang rút lao về khu vực chiến thuyền Quân Nguyên Mông. Chiến thuyền Quân Nguyên Mông bốc cháy lan từ thuyền này sang thuyền khác. Suốt 4 dặm vuông của cửa sông Bạch Đằng biến thành một bãi lửa vàng rực, bốc cao soi sáng khắp một vùng Đông Bắc, lửa thèm khát liếm tất cả các vật mà nó gặp. Lính nguyên Mông cũng biến thành những bó đuốc cháy đen thui và lềnh bềnh kín đặc mặt sông. Những tên sống sót nhảy xuống nước chạy vào bờ bị quân Đại Việt bắt. Lửa bốc cao đen mù trời đất. Phàn Tiếp nhìn đoàn binh thuyền mà Nguyên Thế Tổ dày công chuẩn bị đang biến thành gio, chìm dân xuống nước, 5 vạn mạng con người bị nướng trong lửa. Phàn Tiếp than:
-Trời ôi, trận hóa công thủy chiến kinh khủng thế này ta chỉ thấy ở Xích Bích trong sách Tam quốc, không ngờ ngày nay ta gặp cảnh ngộ này.
Khi những đám cháy đã dịu đi thì từ trong các cù lao binh thuyền nhỏ của Đại Việt lao ra. Quân Nguyên Mông bị những trận mưa tên và sau đó là những trận giáp lá cà giết nốt những tên còn lại chưa chịu đầu hàng. Phàn Tiếp nhảy xuống sông tự vẫn nhưng bị một lưỡi câu liêm của quân Đại Việt móc lên bắt sống. Đỗ Hành nhảy lên chiếc lâu thuyền sang trọng Tổng chỉ huy vì ở giữa nên lửa chưa bén tới. Ô Mã Nhi cầm kiếm lao vào Đỗ Hành. Đỗ Hành né tránh và ôm lấy hắn cùng nhảy xuống nước. Dù khỏe mạnh nhưng xuống nước Ô Mã Nhi không chịu nổi đã ngạt thở và chết giấc. Đỗ Hành trói hắn lại và lôi vào bờ.
Trời đã về khuya. Bạch Đằng Giang suốt một ngày quyết chiến, lửa cháy tên bay, trống chiếng vang lừng bây giờ gần như yên tĩnh. Trần Hưng Đạo nhìn dòng sông, sóng vẫn cuộn lên nhưng màu nước đỏ hồng trong ánh lửa từ những con thuyền đang cháy. Người biết đó là màu máu của 5 vạn quân Nguyên Mông trong ngày đền tội. Gió và sóng đang hát bài ca chiến thắng oanh liệt của dân tộc trong lịch sử chống ngoại xâm thế kỷ XIII.