I
Trong khi nước Việt thời Hậu Ngô Vương và thời nhà Đinh đang đầy biến động thì bên kia biên giới đất Trung Nguyên, cục diện Ngũ đại thập quốc kéo dài 60 năm cũng đang đến hồi kết thúc. Tháng 7 năm 959, Chu Thế Tông của nhà Hậu Chu tạ thế, vua Cung Đế kế vị còn nhỏ. Tháng 7 Năm 960, Triệu Khuông Dẫn, Điện Tiền đô kiểm điểm, thống lĩnh cấm quân của nhà Hậu Chu đã cướp ngôi, lập ra nhà Tống, lấy đế hiệu là Tống Thái Tổ, lấy Biện Kinh làm kinh đô. Năm 976, Tống Thái Tổ băng hà, em trai là Triệu Quang Nghĩa kế vị, đế hiệu là Tống Thái Tông (976-997).
Mùa đông năm 980, kinh đô Biện Kinh của nhà Tống chìm trong màu tuyết trắng, những trận mưa tuyết rơi xuống liên miên. Những bông tuyết tinh khiết trắng xóa từ không trung rơi xuống phủ ngập đường, đậu trên những cành cây khẳng khiu trơ trụi lá. Tuyết đậu trên những mái cung điện lợp ngói lưu li vàng son sang trọng.
Trong cung điện vàng son sang trọng của mình, Tống Thái Tông Triệu Quang Nghĩa đang ngồi đọc sách, bốn góc phòng bốn lò sưởi bằng đồng đựng than gỗ đang cháy đỏ hồng rực. Tống Thái Tông đội mũ lông cừu mềm mại, khoác áo ấm cũng bằng lông cừu màu vàng. Hai nội quan đứng hầu hai bên. Thị nữ bê vào những ấm trà bốc khói. Tống Thái Tông vừa uống xong trà, đặt ly xuống thì có thị vệ vào báo:
- Dạ, bẩm Hoàng thượng, có người của Tri Ung Châu Hầu Nhân Bảo về có việc hệ trọng muốn xin gặp.
Tống Thái Tông nói:
- Cho vào.
- Dạ.
Tùy tướng của Tri Ung Châu Hầu Nhân Bảo bước vào và quỳ xuống:
- Dạ, Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.
- Miễn lễ.
- Dạ, đội ơn Hoàng thượng.
- Ngươi từ Ung Châu về đây có việc gì không?
- Dạ, bẩm Hoàng thượng, có thư của Tri Ung Châu Hầu Nhân Bảo ạ. Quan nội thị nhận thư từ tay viên tùy tướng và cung kính dâng lên Tống Thái Tông. Tông Thái Tông bóc thư ra đọc. Thư viết: “Kính bẩm Hoàng thượng, ở An Nam, cả Đinh Bộ Lĩnh là Giao Chỉ Quận Vương và An Nam Tĩnh hải quân Tiết độ sứ Đinh Liễn mà triều đình ta sắc phong đã bị giết, trong nước loạn to, gần mất, ta có thể đem quân chiếm lấy được. Nếu lúc này không mưu tính, sợ bỏ mất cơ hội. Thần xin được về cửa khuyết để bày tỏ trước Hoàng thượng về việc này. Nay kính thư. Thần Tri Ung Châu Hầu Nhân Bảo”.
Sớm hôm sau, Tống Thái Tông lập tức thiết triều. Khi bá quan văn võ đầy đủ, Tống Thái Tông nói:
- Quan nội thị, đọc thư của Tri Ung Châu Hầu Nhân Bảo cho bá quan nghe!
- Thần tuân chỉ.
Khi quan nội thị đã đọc xong thư, Tống Thái Tông nói:
- An Nam vốn là châu quận của Trung Nguyên ta từ thời Hán, nhưng dân xứ ấy ương ngạnh, không bao giờ chịu khuất phục. Nhân cơ hội Trung Nguyên ta rối loạn bởi cục diện Ngũ đại thập quốc, các họ Khúc- Dương - Ngô đã giành được quyền tự chủ. Đến thời Tiền Ngô Vương thì xưng Vương, thời Đinh Bộ Lĩnh thì xưng hoàng đế, không coi chúng ta ra gì. Nay hai cha con Đinh Tiên Hoàng và Nam Việt Vương Đinh Liễn bị giết, vua kế vị mới 6 tuổi, Lê Hoàn nhiếp chính, trong nước rối ren. Đây là lúc trời cho ta có thể lấy lại An Nam. Ta định cho triệu Hầu Nhân Bảo về kinh sư để làm rõ thêm tình hình và bàn chuyện chinh phạt. Các đại thần ai có tấu gì không?
Tể tướng Lư Đa Tốn bước ra:
- Thần xin có tấu.
- Ái khanh tấu đi.
- Dạ bẩm Hoàng thượng, thần cho rằng để chớp thời cơ thì cần phải nhanh chóng. Nay cứ để Hầu Nhân Bảo ở lại Ung Châu, chuẩn bị kỹ rồi tiến đánh bất ngờ như sét đánh, kẻ kia không kịp bưng tai. Nếu triệu Hầu Nhân Bảo về triều thì đi lại mất thời gian sẽ lỡ cơ hội. Mong Hoàng thượng xem xét.
Một võ quan bước ra:
- Dạ, bẩm Hoàng thượng, thần là Hữu Tráng, cai quản Quảng Nam Tây lộ, vừa được triệu về kinh sư, có biết chút ít về Đại Cồ Việt, nay xin bẩm báo:
- Ái Khanh tấu đi:
- Dạ bẩm Hoàng thượng, ở Giao Châu, vua kế vị nhà Đinh còn nhỏ, mới 6 tuổi, nước loạn mãi không yên, dân không biết dựa vào ai làm chủ. Ta nên sai quân sang nói là đến cứu Vệ Vương Đinh Toàn, dẹp gặc Lê Hoàn thì lòng dân sẽ quy thuận và ta tiến quân mới có nguyên cớ, mới có danh nghĩa rõ ràng.
Tống Thái Tông nói:
- Khanh nói phải lắm, mục đích của ta là sáp nhập An Nam vào Đại Tống của ta, còn cái cớ là giúp nhà Đinh. Ha! ha! ha!.
Tống Thái Tông lập tức ban chiếu chinh phạt Đại Cồ Việt. Chiếu viết: “Phụng thiên thừa vận, hoàng đế chiếu viết: Thanh giáo và oai linh của nước nhà vang khắp mọi nơi. Gần đây, đất Giao Chỉ chưa sáp nhập vào địa đồ Trung Quốc, chúng ở một phương gần nơi Ngũ Lĩnh. Từ cuối đời Đường rối loạn, chia sẻ đất đai, rồi chúng làm ra một nước tiếm ngụy, ở xa thanh giáo thành ra phong tục như đứa mù, đứa điếc. Kịp khi Phiên Ngung đã bình định mới ban cho chính sóc mà tuân hành. Tuy đã phục tùng chịu làm phiên thuộc nhưng cứ tu luyện binh lính, có ý quật cường. Lễ thờ phụng nước trên lẽ nào như thế? Vậy ta bất đắc dĩ phải trị tội gian ngụy để cứu dân. Phải cử binh qua đánh để khai hóa xứ mọi rợ. Nay cho Tôn Toàn Hưng xuất quân qua đánh”.
Rồi Tống Thái Tông cho lập Giao Chỉ hành doanh là bộ chỉ huy lực lượng quân viễn chinh. Hầu Nhân Bảo là Tổng tư lệnh, được phong là Giao Chỉ Lộ thủy lục kế đô chuyển vận sứ. Các chánh tướng và phó tướng của cuộc viễn chinh là Tôn Toàn Hưng, Lưu Trừng, Giả Thực,Vương Soạn và Trần Khâm Tộ. Tôn Toàn Hưng là phó Tổng tư lệnh, được phong là Uy Châu lục bộ binh mã đô hộ thư. Hứa Trọng Tuyên là Phó Tổng tư lệnh đóng tại hậu cứ bên đất Tống. Lưu Trừng chỉ huy lực lượng thủy quân, Hứa Sương Duệ chỉ huy lực lượng thông tin liên lạc. Nhà Tống huy động vào cuộc chiến tranh khoảng 6 vạn quân, chủ yếu là cấm quân, lực lượng tinh nhuệ bậc nhất của triều đại này. Quân Tống chia làm hai đạo tiến vào Đại Cồ Việt. Đạo quân bộ do Lan Châu Đoàn luyện sứ Tôn Toàn Hưng, Bát tác sứ Trương Tuyền và Tả giám môn vệ hướng quân Thôi Lượng chỉ huy từ Ung Châu tiến vào đạo Lạng Châu. Đạo thủy quân do Thứ sử Ninh Châu Lưu Trừng, Trần Khâm Tộ, Quan Khí phó sứ Giả Thực và Phụng quan các môn chi hậu Vương Soạn tiến theo đường biển vào sông Bạch Đằng của đạo Lục Châu- An Biên của Đại Cồ Việt.
Mùa đông năm 980, gió lạnh như cắt da thổi vào Đại Cồ Việt và kinh đô Hoa Lư, những núi đá cao mơ màng đứng trong sương huyền ảo, những đàn chim tránh rét đang bay vội về phương Nam xa xôi. Nắng chan hòa. Trên đỉnh cột cờ của kinh đô lá cờ vàng có chữ Đại Cồ Việt tung bay huy hoàng dưới nắng. Lê Hoàn đang ngồi uống trà trưa trong tư dinh thì có tùy tướng vào báo:
- Dạ bẩm phó vương nhiếp chính, có mật thư của quan Tổng trấn đạo Lạng Châu.
Lê Hoàn bóc thư đọc. Thư viết: “Bẩm Thập đạo tướng quân, khoảng 6 vạn quân thủy bộ nhà Tống đang tập kết gần biên giới nước ta ở Lạng Châu và Lục Châu, chuẩn bị xâm lược Đại Cồ Việt. Kính mong Thập đạo tướng quân cùng triều đình chuẩn bị và bàn kế sách kháng chiến. Nay kính thư”.
Ngoài thư của quan Tổng trấn đạo Lạng Châu, còn có Chiếu Thư của vua Tống phát đi để chinh phạt Đại Cồ Việt. Lê Hoàn đọc xong tức giận đập bàn quát:
- Thằng nhãi ranh Triệu Quang Nghĩa láo xược, ta sẽ cho ngươi biết thế nào là Đại Cồ Việt.
Rồi gọi:
- Người đâu.
- Dạ.
- Quân Tống sắp sang xâm lược. Đi bẩm báo với Dương thái hậu, Hoàng thượng và văn võ bá quan đến nghị triều bàn việc chống giặc.
- Dạ.
Ngay chiều hôm đó, trong đại điện của triều đình Hoa Lư đông đủ văn võ bá quan thiết triều nghe thông báo đất nước lâm nguy và bàn phương sách kháng chiến chống giặc. Sau khi Dương thái hậu, hoàng đế Đinh Toàn và bá quan văn võ nghe đọc thư của quan Tổng trấn đạo Lạng Châu báo về việc 6 vạn quân thủy bộ nhà Tống đã áp sát biên giới, sắp tiến vào Đại Cồ Việt và nghe chiếu thư của vua Tống, văn võ bá quan tức giận đập bàn la lớn:
- Thằng trẻ con Triệu Quang Nghĩa láo xược…
- Thật là thằng vua lưu manh, cậy nước lớn bắt nạt nước nhỏ.
- Táng cho nó vỡ mặt ra, cho nó biết thế nào là Đại Cồ Việt.
Lê Hoàn nói:
- Các vị văn võ bá quan trật tự. Có vị nào tấu thì bước ra.
Đại tướng Phạm Cự Lượng nói:
Thần có tấu:
- Đại tướng nói đi.
- Dạ bẩm hoàng thái hậu, Hoàng thượng và phó vương nhiếp chính, nay sở dĩ Triệu Quang Nghĩa và quân Tống sang xâm lược nước ta vì chúng tưởng nước Đại Cồ Việt ta không có chủ. Nhưng để đánh được chúng phải có vị vua tài giỏi về quân sự và chính trị, đủ sức lãnh đạo bách tính và quân đội kháng chiến để cứu nước. Cáo thị văn võ bá quan biết là hiện 3 vạn quân đã đứng ngoài sân rồng, nhờ mạt tướng gửi nguyện vọng tới hoàng thái hậu, tới Hoàng thượng, tới văn võ bá quan rằng vì sự tồn tại và chiến thắng của đất nước, quân đội có nguyện vọng muốn Thập đạo tướng quân Lê Hoàn lên ngôi hoàng đế để đủ sức lãnh đạo đánh quân Tống. Vì nước Đại Cồ Việt, vì bách tính, mong hoàng thái hậu, Hoàng thượng và văn võ bá quan chấp nhận.
Triều thần văn võ bá quan cùng quỳ xuống hô to:
- Vì nước Đại Cồ Việt, vì bách tính, kính mong hoàng thái hậu và Hoàng thượng chấp thuận để thập đạo tướng quân Lê Hoàn lên ngôi.
Thái hậu Dương Vân Nga đứng dậy nói:
- Nước mất thì nhà tan, Đại Cồ Việt mà mất vào tay nhà Tống thì nhà Đinh cũng không còn. Nay thể theo nguyện vọng của bá quan văn võ, của bách tính, của tướng lĩnh và quân đội cần có một vị vua tài năng để chiến thắng quân giặc, ta đồng ý trao ngai vàng cho Thập đạo tướng quân Lê Hoàn. Quan nội thị đâu
- Dạ, có thần.
- Mang áo long bào của Đinh Tiên Hoàng Đế ra đây.
- Dạ.
Quan nội thị vào nội điện bê ra một hòm gỗ sơn son thếp vàng. Thái hậu nói;
- Quan nội thị mở ra.
Quan nội thị mở ra và cầm áo đưa cho hoàng thái hậu. Chiếc áo long bào màu vàng, có thêu hình hai con rồng màu đỏ uốn lượn uy nghi và hai đầu rồng quy tụ chầu mặt trời ở trước ngực. Hoàng Thái hậu trao áo cho Lê Hoàn và nói:
- Thập đạo tướng quân hãy nhận.
Lê Hoàn quỳ xuống nói:
- Dạ bẩm hoàng thái hậu, thần không dám, đây là của Tiên Đế Đinh Tiên Hoàng, của triều đại nhà Đinh.
Dương thái hậu nói:
- Áo long bào và Quốc ấn là quyền lực của hoàng đế, mà quyền lực của hoàng đế là quyền lực của quốc gia, quyền lực quốc gia thì không phải là của riêng một dòng họ nào. Khi quốc gia cần người nào thì người đó phải cầm quyền để vì bách tính, vì quốc gia. Thập đạo tướng quân không muốn vì quốc gia nữa sao?
Lê Hoàn đáp:
- Thần không dám.
Hoàng thái hậu tiến lại gần Lê Hoàn, tự tay khoác áo long bào lên vai Lê Hoàn và nói:
- Có văn võ bá quan chứng dám, ta khoác long bào cho Thập đạo tướng quân là giao trọng trách quốc gia nặng nề cho ngài ấy. Ngài ấy không hoàn thành, triều đình hãy luận tội.
Các đại thần vội quỳ xuống đồng thanh hô:
- Hoàng thái hậu anh minh.
- Chúc Thập đạo tướng quân Hoàng thượng vạn vạn tuế.
Ngoài sân rồng, 3 vạn quân sĩ cũng hô vang:
- Thập đạo tướng quân Hoàng thượng vạn vạn tuế.
Các đại thần tấu tiếp:
- Xin Hoàng thượng định ra đế hiệu và định ra kế sách chống giặc để triều đình và bách tính yên lòng.
Lê Hoàn đứng dậy nói:
- Đa tạ hoàng thái hậu, đa tạ Vệ Vương Đinh Toàn, đa tạ các ái khanh. Các ái khanh bình thân.
- Tạ ơn Hoàng thượng.
- Nay ta ban đế hiệu là Lê Đại Hành, mở đầu cho triều đại nhà Lê. Lê Đại Hành có nghĩa là bước đi lớn, hành động lớn vì Đại Cồ Việt, vì bách tính. Kinh đô vẫn là Hoa Lư, quốc hiệu vẫn là Đại Cồ Việt, lấy niên hiệu Thiên Phúc. Phong Phạm Cự Lượng giữ chức Thái úy, Hồng Hiến giữ chức Thái sư, Lưu Cơ, đại sư Ngô Chân Lưu và sư Pháp Luân làm quân sư. Còn về kế sách chống giặc, ta sẽ tự thân chinh làm chủ soái đem 10 vạn quân lên phía Bắc chống giặc, phong Đại tướng Thái úy Phạm Cự Lượng làm phó chủ soái. Về kế hoạch tác chiến, tối nay mời tất cả các tướng lĩnh, võ quan của triều đình đến Tổng hành dinh họp bàn cụ thể. Triều đình và bách tính Đại Cồ Việt hãy tin tưởng vào thắng lợi của cuộc chiến chống xâm lược này. Trẫm sẽ làm cho nhà Tống biết thế nào là quân dân Đại Cồ Việt. Các ái khanh còn ai tấu gì nữa không?
- Chúng thần tuân chỉ.
Mùa đông đêm xuống rất nhanh. Bóng đêm bao trùm khắp kinh đô Hoa Lư. Trong Tổng hành dinh của quân Hoa Lư đèn dầu sáng lung linh. Lê Đại Hành ngồi ghế chủ soái, các tướng lĩnh và võ quan ngồi ở bàn ghế kê dọc. Sau một lượt trà, Lê Đại Hành nói:
- Theo tin tức thám mã, quân Tống chia làm hai đạo, đạo bộ binh do Tôn Toàn Hưng chỉ huy tiến từ Ung Châu vào Lạng Châu. Mục tiêu của đạo bộ binh là tiến đánh Đại La và từ Đại La tiến vào Hoa Lư. Đạo thủy binh do Lưu Trừng chỉ huy, xâm nhập từ bờ biển Lục Châu vào sông Bạch Đằng. Từ Bạch Đằng, thủy binh Tống buộc phải chia làm hai đạo, một đạo từ Bạch Đằng vào sông Kinh Thầy và đi vào Lục Đầu Giang vào sông Cầu chở bộ binh vượt sông và cùng tấn công Đại La, cùng tấn công Hoa Lư, một đạo tấn công phòng tuyến Bình Lỗ để mở đường theo sông Luộc và tấn công kinh đô Hoa Lư cùng bộ binh. Toàn bộ cuộc viễn chinh này do Tri Ung Châu Hầu Nhân Bảo làm tổng chỉ huy, đợt đầu huy động khoảng 6 vạn quân, sẽ tăng quân khoảng 4 vạn nữa tiếp theo. Mục tiêu chính là tiêu diệt toàn bộ quân Đại Cồ Việt và chiếm kinh đô Hoa Lư để kết thúc chiến tranh. Do đó, mục đích của quân ta là tiêu diệt địch, ngăn không cho chúng vào Hoa Lư. Qua kế hoạch đại lược của quân Tống như vậy, các tướng quân cho các cao kiến để đánh thắng quân giặc.
Lão tướng Phạm Bạch Hổ nói:
- Thần có vài lời tấu:
- Lão thần nói đi:
- Muôn tâu Hoàng thượng, thành Bình Lỗ chắn từ Hà Nam kéo dài qua Đằng Châu đến Châu Trường Yên là phòng tuyến quan trọng che chở cho kinh đô Hoa Lư xây từ thời Tiên Đế Đinh Tiên Hoàng, nay xin Hoàng thượng cho gia cố lại để phòng thủ bảo vệ Hoa Lư, ngăn chặn thủy quân Tống tiến công.
Lê Đại Hành nói:
- Lão tướng nói rất phải. Nay cho phò mã đô úy Trần Thăng làm tư lệnh gia cố lại thành Bình Lỗ, huy động quân và dân địa phương gấp rút hoàn thành. Gia cố thành xong, tướng quân là người chỉ huy việc phòng thủ bảo vệ thành Bình Lỗ.
Trần Thăng nói:
- Thần xin tuân lệnh.
Phạm Cự Lượng tâu:
- Bẩm Hoàng thượng, xưa Tiền Ngô Vương đóng cọc ở cửa sông Bạch Đằng đã phá quân Nam Hán năm 938. Nay thủy binh Tống lại vào sông này. Xin Hoàng thượng cho gia cố và đóng thêm cọc ở trận địa này để ngăn chặn thủy binh giặc.
Lê Đại Hành nói:
- Nay giao cho đại tướng Trịnh Tú chỉ huy sự gia cố lại bãi cọc ở cửa sông Bạch Đằng và Đại tướng chỉ huy thủy quân chặn thủy binh giặc.
Trịnh Tú nói;
- Thần tuân chỉ.
- Lã Lang đại tướng.
- Bẩm hoàng thuộng, có thần.
- Đại tướng đem hai vạn quân uy dũng lên giữ bờ Bắc Lục Đầu Giang, ngăn không cho thủy binh giặc tiến ra sông Cầu chở bộ binh qua sông.
- Thần tuân lệnh.
- Tướng Phạm Công Hoài đâu.
- Dạ có thần.
- Đại tướng đem 2 vạn quân chắn giữ vùng Tây Kết không cho giặc chọc thủng chiến lũy Bình Lỗ tràn xuống Hoa Lư.
- Dạ, thần tuân chỉ.
- Tướng Trần Công Tích đâu.
- Bẩm Hoàng thượng, có thần.
- Đại tướng đem 1 vạn quân trấn giữ Nghĩa Đô để bảo vệ Đại La.
- Mạt tướng tuân lệnh.
- Đại tướng Lê Long Kính đâu.
- Dạ bẩm Hoàng thượng, có mạt tướng.
- Đại tướng đem 2 vạn quân trấn giữ bờ Bắc sông Hải Triều (sông Luộc) bảo vệ chiến lũy Bình Lỗ, ngăn không giặc tiến về Hoa Lư.
-Dạ, thần tuân chỉ.
Lão tướng Phạm Bạch Hổ nói:
- Bẩm Hoàng thượng, mọi đại tướng đều có việc, còn lão tướng?
- Lão tướng đã lập nhiều công lao, nay tuổi đã cao, lão tướng ngồi xem bọn trẻ đánh giặc được không?
- Bẩm Hoàng thượng, khi đất nước lâm nguy thì già trẻ đều phải đánh giặc, thần ngồi yên thì phát bệnh chắc chết. Xin Hoàng thượng cho thần ra mặt trận.
- Vậy thì vẫn còn thiếu một tướng chỉ huy mặt trận quan trọng, đó là tổ chức huy động lương thực cho quân đội. Xin lão tướng về Đằng Châu huy động và chuyển vận tốt lương thực là đã lập công lớn rồi.
- Thần tuân chỉ.
Sáng hôm sau, Lê Hoàn điểm 5 vạn quân tiến lên Lục Đầu Giang, lập Tổng hành dinh ở đó để chỉ huy toàn bộ mặt trận thủy bộ từ Bạch Đằng Giang đến Lạng Châu. Trong hổ trướng trung quân của Lê Đại Hành có các đại tướng Phùng Phường, Đào Trực, Hoàng Vĩnh Chu, Đào Công Mỹ, Phạm Quảng, Đào Thành, Phạm Minh, Nguyễn Triệt, Vũ Uy, Đào Hồng, Đặng Xuân và 4 anh em Vương Minh, Vương Xuân, Vương Hồng và Dũng Mãnh. Những tướng này làm nhiệm vụ bảo vệ Lê Đại Hành và làm các việc trong Tổng hành dinh. Các tướng cũng theo các hướng và nhiệm vụ được phân công điểm quân đi. Quân đi, bụi cuốn, cờ bay, ngựa hí. Chiến tranh đã vạch vẽ trên bầu trời Đại Cồ Việt. Bách tính đứng dọc đường đi đông nghịt để vẫy tay, úy lạo đoàn quân của vua ra mặt trận. Dưới bầu trời đông u ám năm 980, gió lạnh thổi căm căm, cờ của quân Hoa Lư bay khắp các ngã đường bộ miền đông Bắc theo bước chân gió bụi rầm rập của các binh sĩ tiến ra mặt trận. Cờ vàng cũng bay trên các chiến thuyền rẽ sóng nước đến sông Bạch Đằng, đến sông Luộc, sông Lục Đầu Giang, sông Cầu.
Trong Tổng hành dinh của Lê Đại Hành ở phòng tuyến Lục Đầu Giang, ở cửa một trại cao lớn màu vàng, có 4 võ sĩ võ nghệ cao cường đứng canh, đó là Dũng Mãnh, Vương Minh, Vương Xuân và Vương Hồng. Tay mỗi võ sĩ cầm kiếm, mình mặc quân phục màu nâu, áo giáp sắt, đội mũ sắt nhọn. Trong trại, Lê Đại Hành mặc áo chiến bào màu đỏ, giáp vàng, đội mũ đâu mâu nhọn màu vàng đang ngồi duyệt lại kế họạch tác chiến ở các hướng. Chợt một tùy tướng vào tâu:
- Bẩm Hoàng thượng có thư của nhà Tống.
Lê Đại Hành bóc thư đọc, thì ra đó là một chiến thư, vẫn là lời lẽ đe dọa, ngạo mạn láo xược của Tống Thái Tông. Thư viết: “Hiện nay ta đã sửa sang binh xa và bộ tốt, hiệu lệnh chiêng trống rất nghiêm minh, nếu vâng theo giáo hóa thì được tha, nếu chống lại mệnh lệnh sẽ bị trị tội”.
Lê Đại Hành đọc thư xong cả giận đập bàn quát:
- Thằng oắt con Triệu Quang Nghĩa láo xược, tổ tiên hắn là Triệu Khuông Dẫn cướp ngôi nhà Hậu Chu, nay còn ra vẻ… Người đâu?
- Da, bẩm Hoàng thượng.
- Mài mực.
- Dạ.
Lê Hoàn viết thư, ngòi bút rung lên vì tức giận. Xong lại gọi:
- Trao thư này cho sứ nhà Tống.
Tống Thái Tông nhận thư, bóc ra đọc. Thư viết: “Ai làm hoàng đế là việc của Đại Cồ Việt, sao các ngài không hiểu mà cứ nhọc lòng lo cho nước khác vậy? lại còn áp binh ở biên giới. Vậy là có ý gì?”.
Mười ngày sau lại tùy tướng lại vào báo Lê Đại Hành:
- Dạ bẩm Hoàng thượng, lại có thư của nhà Tống.
Lê Đại Hành bóc thư, Thư viết: “Ta đã chuẩn bị xe ngựa binh lính, cờ lệnh chiêng trống, nếu ngươi quy hàng ta tha, nếu trái mệnh ta đánh. Theo hay không, lành hay dữ, ngươi tự nghĩ lấy”.
Lê Đại Hành viết thư đáp lại. Tống Thái Tông đọc. Thư viết : “Thằng nhãi con Triệu Quang Nghĩa và Lư Đa Tốn đừng có nói những lời láo xược. Tổ tiên các ngươi Triệu Khuông Dẫn chẳng đã cướp ngôi nhà Hậu Chu là gì. Huống hồ nay ta đã được bách tính, quân đội, triều đình và cả Hoàng thái hậu nhà Đinh phò ta lên ngôi thay vua nhỏ để đập nát cuộc xâm lược của các ngươi. Nếu các ngươi cứ quyết xông vào Đại Cồ Việt thì sẽ bị đánh tơi tả như quân Nam Hán khi xưa. Nhớ lấy”.
Tống Thái Tông đọc xong, tức giận hai mắt trợn ngược, miệng ngọng lại thét không ra tiếng:
- Đánh, đánh Hoa Lư, bắt Lê Hoàn về đây nhanh lên. Hầu Nhân Bảo đâu?
Nội quan quỳ xuống:
- Dạ, Hoàng thượng bớt giận, thần truyền khẩu dụ hạ lệnh cho Hầu Nhân Bảo tấn công Đại Cồ Việt ngay ạ.
Mùa đông năm 980, quân Tống chia làm 3 đạo tiến vào Đại Cồ Việt. Đạo bộ binh do Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hưng chỉ huy theo đường Ung Châu tiến vào Lạng Châu, mục tiêu của đạo quân này là đánh chiếm Đại La và từ đó tấn công vào Hoa Lư. Đạo thứ hai do Lưu Trừng chỉ huy là đạo thủy binh tiến vào sông Bạch Đằng, lên sông Cầu chở bộ binh vượt sông để tấn công Đại La và Hoa Lư. Đạo thứ ba là đạo thủy binh do Trần Khâm Tộ chỉ huy tấn công vào Tây Kết, phá vỡ phòng tuyến Bình Lỗ tại sông Luộc, mở đường tấn công đường thủy vào Hoa Lư từ phía Đông, phối hợp với đạo bộ binh, Như vậy ba đạo quân mục đích là đánh bại quân Đại Cồ Việt, chiếm kinh đô Hoa Lư, kết thúc chiến tranh xâm lược Đại Cồ Việt.
Thủy quân Tống với 400 chiến thuyền, 4 vạn quân dàn quân ở cửa biển sông Bạch Đằng, cờ vàng viết chữ đen “Đại Tống” bay rợp trời, rợp biển. Lính Tống quân phục màu đen, vũ khí đầy người đứng chật cứng trên các con thuyền chiến. Sóng vỗ theo gió thổi vi vu xạc xào. Lưu Trừng bảo một tùy tướng:
- Sang mời Đại Đô đốc Trần Khâm Tộ sang lâu thuyền của ta bàn việc tác chiến.
- Dạ, mạt tướng tuân lệnh.
Thuyền Trần Khâm Tộ áp mạn thuyền của Lưu Trừng. Trần Khâm Tộ bước sang lâu thuyền sang trọng của Lưu Trừng. Lưu Trừng rót ra hai bát rượu, hai tướng uống xong, Lưu Trừng nói:
- Nhiệm vụ của tướng quân là vào Tây Kết, chọc thủng phòng thuyến Bình Lỗ để đánh vỗ vào mặt Đông của thành Hoa Lư. Nhiệm vụ của hạ quan là phải tới sông Lục Đầu Giang rồi vào sông Cầu đưa bộ binh của Tôn Toàn Hưng và Chủ soái Hầu Nhân Bảo qua sông đánh Đại La để phối hợp cùng tướng quân đánh Hoa Lư từ mặt Bắc.
Trần Khâm Tộ nói:
- Mạt tướng rõ rồi.
Lưu Trừng nói:
- Nhưng không phải đơn giản dễ dàng như vậy đâu. Trước mắt ta phải đánh tan thủy quân Đại Cồ Việt trên sông Bạch Đằng để mở đường vào Tây Kết (Khoái Châu) và Lục Đầu Giang. Nhưng cửa sông Bạch Đằng đã bị đóng cọc. Lê Đại hành đang sử dụng lại kế của Tiền Ngô Vương phá quân Nam Hán năm xưa. Nay ta phải tương kế tựu kế…
- Là thế nào?
- Chờ cho sóng lên cao, phủ hết cọc, ta sẽ vượt qua cọc, đem thủy binh vào sông Bạch Đằng. Thủy Binh Đại Cồ Việt chờ ở phía trên khi thủy triều rút sẽ đánh ta để ta lui vào bãi cọc. Đại đô đốc đem 2 vạn thủy quân ta đi vào sông Giá đánh tập hậu thủy quân Việt thì chúng sẽ bị đánh tan và bị tiêu diệt.
Trần Khâm Tộ vỗ đùi cười ha hả:
- Thật là diệu kế. Hay…
Chiều muộn, nước triều dâng lên. Cửa sông Bạch Đằng sóng mênh mông che hết bãi cọc mà quân Đại Cồ Việt đã cắm xuống hoặc gia cố thêm bãi cọc xưa của Tiền Ngô Vương. Nhân triều dâng lên, 200 chiến thuyền và 2 vạn quân của Lưu Trừng lướt qua vào sông Bạch Đằng. Thanh la, chiêng trống và tiếng reo hò của quân xâm lược man rợ vang động cả một vùng. Lưu Trừng đứng trên lâu thuyền cao nhất chỉ huy, hò hét thúc quân tiến tới. Thủy quân Việt do Trịnh Tú chỉ huy đánh cầm chừng chờ nước thủy triều rút xuống sẽ phản công và phóng hỏa. Thốt nhiên, phía sau chiến thuyền của thủy quân Việt xuất hiện 200 chiến thuyền và 2 vạn quân Tống đánh tập hậu, phía trước, thủy quân Việt bị thủy quân Lưu Trừng đánh vào. Tên bay như mưa từ hai phía, quân Việt gục xuống quá nhiều nhưng vẫn nằm xuống kiên cường bắn trả. Quân Tống cũng không thể xáp lại gần và cũng chết vô kể. Canh giờ sau, thế trận quân Việt hoàn toàn tan rã, binh sĩ hy sinh nhiều, tên đạn đã gần hết. Đang lúc nguy nan, bỗng nhiên đạo thủy binh của Trần Khâm Tộ phía sau rối loạn đội hình. Thì ra thủy quân Việt do Đại tướng Lã Lang chỉ huy khi được thám mã báo đã nhanh chóng từ sông Kinh Thầy gần đó tiếp ứng cho Trịnh Tú. Trịnh Tú vui mừng mở hết sức lực tấn công vào chiến thuyền Trần Khâm Tộ. Bị đánh từ hai phía, Trần Khâm Tộ chỉ huy binh thuyền chạy ra sông Giá thoát vòng vây. Đạo thủy binh của Trịnh Tú thiệt hại lớn, 5000 thủy binh hy sinh, hỏng nặng 50 thuyền chiến. Lã Lang và Trịnh Tú phải rút về phòng thủ Lục Đầu Giang. Lưu Trừng cho thủy binh tiến lên Lục Đầu Giang, vừa là truy kích thủy quân Việt, vừa là tiến vào sông Cầu để đón bộ binh qua sông. Thủy quân Trần Khâm Tộ tiến vào Tây Kết, phá phòng tuyến Bình Lỗ để tiến về Hoa Lư theo kế hoạch.
Lê Đại Hành đang trong Tổng hành dinh thì có thám mã về báo:
- Dạ, bẩm Hoàng thượng, quân địch không trúng cái bẫy của ta ở sông Bạch Đằng, chúng lại bày mưu, đạo của Lưu Trừng lúc triều dâng vào cửa sông Bạch Đằng, đạo từ sông Giá của Trần Khâm Tộ cũng ra sông Bạch đằng hợp vây, thuỷ quân ta thiệt hại nặng nề.
- Thiệt hại bao nhiêu.
- Dạ bẩm Hoàng thượng, Lã Lang đã từ thượng nguồn xuống cứu Trịnh Tú, đánh tập hậu Trần Khâm Tộ. Quân ta mất 50 chiến thuyền, 5000 binh sĩ hy sinh.
Lại thám mã về báo:
- Dạ bẩm Hoàng thượng, thủy quân Lưu Trừng đang truy kích Trịnh Tú, Lã Lang và sắp đến Lục Đầu Giang.
Lại thám mã về cấp báo:
- Dạ, bẩm Hoàng thượng, thủy binh Trần Khâm Tộ đang tiến gần vào Tây Kết.
Lê Đại Hành ra lệnh:
- Ngươi hãy về Đằng Châu nói với lão tướng Phạm Phòng Át đem quân ra tiếp ứng cho Tây Kết. Việc quân lương giao cho nữ tướng Hoàng Thị Đậu. Nói với lão tướng bảo với đại tướng Trần Thăng, bảo vệ Tây Kết bằng mọi giá, Mất Tây Kết là mất Hoa Lư. Rõ chưa?
- Dạ, mạt tướng đi ngay.
Lê Đại Hành lại ra lệnh:
- Ngươi đi nói với Lã Lang, Trịnh Tú đem toàn bộ thuyền chứa chất cháy dàn ở cửa sông Lục Đầu Giang, nơi giao lưu giữa sông Lục Đầu với sông Cầu, sông Đuống. Thủy quân ta cho đậu phía Bắc, tức là phía sau các bè phóng hỏa, đối diện với thủy binh địch phía Đông và bên kia thuyền có chất cháy của ta. Kiên quyết không để địch lọt vào sông Cầu chở bộ binh Tống. Rõ chưa?
- Dạ, bẩm Hoàng thượng, rõ, mạt tướng đi ngay.
Lê Đại Hành cho gọi các tướng Phùng Thường, Đào Trực:
- Hai tướng quân đem 2 vạn quân mai phục bờ Bắc Lục Đầu Giang. Nếu thủy binh Tống đổ bộ lên bờ thì kiên quyết tiêu diệt. Rõ chưa?
- Dạ, bẩm Hoàng thượng, chúng mạt tướng tuân lệnh.
Trong khi đó Lưu Trừng thuận buồm xuôi gió, tinh thần phấn chấn do chiến thắng trong trận chiến Bạch Đằng, liền từ Bạch Đằng vượt sông Kinh Thầy tiến về Lục Đầu Giang. Lưu Trừng nhớ lại rất nhiều lần quân Hán đã thắng lợi ở Lục Đầu Giang do kết hợp bộ binh và thủy binh đánh tập hậu. Lưu Trừng ra lệnh cho thuyền ghé vào bờ, cho một vạn quân do Vương Soạn chỉ huy đổ bộ lên và đi bộ đến Lục Đầu Giang đánh bộ binh Việt ở phía Đông, còn một vạn quân đi thuyền tiếp đổ bộ đánh ở phía Tây, kẹp quân Việt vào giữa mà tiêu diệt. Thuyền quân Tống tiến vào Sông Lục Đầu, đã thấy đầu sông giáp với sông Cầu, những bè chất cháy của quân Việt đã dàn hàng ngang chắn lối vào, phía sau không xa là Thủy quân Việt dàn thế trận chờ sẵn. Thủy quân Tống tiến thoái lưỡng nan, tiến lên thì bị hỏa công tiêu diệt, khi đó đang là mùa đông, gió mùa đông bắc rất mạnh. Đúng như dự đoán của Lưu Trừng, các bè hỏa công đã phát hỏa như những núi lửa cháy dữ dội, khói bốc mù mịt lưng trời theo gió đang trôi về chiến thuyền quân Tống. Đi sau các bè lửa là thủy quân Đại Cồ Việt. Hai bên gần bờ Lục Đầu Giang, chiêng trống, tù và vang động, các thuyền nhỏ của dân binh và của dân chài đang di động dày đặc ven bờ chuẩn bị tấn công quân Tống hỗ trợ cho thủy quân. Lưu Trừng hốt hoảng ra lệnh chèo cật lực, dương cả buồm lên chạy thật nhanh một mạch ra sông Kinh Thầy và về sông Bạch Đằng. Đạo thủy binh đi bộ của quân Tống đi đến bãi Kiếp Bạc bị quân của Phùng Thường, Đào Trực mai phục đổ ra chặn đánh. Phía sau quân Tống lại bị dân binh các làng đổ ra chém giết. Quân Tống chết theo đủ kiểu: Trúng tên, bị chặt cụt đầu, bị đâm, máu chảy như suối tràn xuống đỏ ngầu Lục Đầu Giang, 1 vạn tên thịt nát máu phun không một tên nào sống sót. Tướng giặc Vương Soạn cũng tử trận.
Lưu Trừng đang rút chạy, chợt nghe âm thanh cuộc chiến trên bờ vọng xuống, tiếng la hết kinh hoàng của quân Tống, tiếng thanh la chiêng trống rung trời của quân Việt. Lưu Trừng ngửa mặt lên trời kêu lên:
- Ta đã đẩy 1 vạn con người vào đất chết rồi!
Một tùy tướng đứng cạnh nói:
- Không phải tướng quân đẩy họ vào chỗ chết mà chính Tri Ung Châu Hầu Nhân Bảo xúi hoàng thượng. Ai bảo Hầu Nhân Bảo dâng sớ xin Hoàng thượng đánh Đại Cồ Việt. Mạt tướng và tướng quân, kể cả Hầu Nhân Bảo chắc gì được sống sót trở về mà có về cũng bị tù ngục mà chết do chiến bại.
Lưu Trừng như mở mắt ra:
- Nhà ngươi nói đúng. Tri Ung Châu Hầu Nhân Bảo thật đáng ghét. Chúng ta chết thật rồi.
Từ đó Lưu Trừng và các tùy tướng lâm vào một tâm trạng lo lắng buồn rầu cho một tương lai đen tối của cuộc đời những tên tướng viễn chinh.
Lại nói Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hưng đem 2 vạn quân tiến vào Lạng Châu. Quân Tống tiến xuống đầu đạo Vũ Ninh thì dừng lại, chờ thủy quân tiến vào sông Cầu chở bộ binh vượt sông như đã định. Chờ mãi mà không thấy thám mã báo tin gì, Hầu Nhân Bảo sợ nếu chiến tranh kéo dài thì sẽ thất bại vì lương thực có hạn, quân số bị dân binh của Đại Cồ Việt tiêu hao. Hầu Nhân Bảo bàn với phó tướng là Tôn Toàn Hưng:
- Ta cứ đem quân xuống bờ Bắc sông Cầu rồi tính sau.
Tôn Toàn Hưng nói:
- Thưa chủ soái, xuống bờ Bắc sông Cầu mà không có thuyền thì tính sao?
- Phép hành quân gặp núi thì mở núi, gặp sông phải bắc cầu. Ta cứ xuống xem địa thế sông thế nào, có thể có chỗ nông lội qua được. Chờ ở đây lương thực sắp hết. Tướng quân có gánh nổi trách nhiệm không?
- Mạt tướng không dám.
Liền đốc thúc ba vạn quân tiến xuống. Chu Vị Công đi tiên phong, Hầu Nhân Bảo đi trung quân, Tôn Toàn Hưng đi hậu quân. Đến Hoa Bộ là một thung lũng hẹp, phía Đông là vách núi, phía Tây là rừng rậm, quân Tống hầu hết đã lọt vào thung lũng. Thốt nhiên, những hồi chiêng trống vang lên kèm theo những trận mưa tên từ rừng phía Tây và sườn núi phía Đông. Hàng nghìn quân Tống gục xuống ngay loạt tên đầu. Có tiếng kêu:
- Quân ta bị mai phục.
- Quân ta bị mai phục.
Tướng Chu Vị Công đi tiên phong trúng tên ngã ngựa chết. Hầu Nhân Bảo cuống cuồng quay ngựa định tháo chạy về phương Bắc nhưng ba vạn quân hỗn loạn, xác chồng chất lấp kín đường không thể chạy được. Trong khi đó quân Việt từ Đông Tây hai bên kéo xuống chém giết. Phạm Cự Lượng xông ngay vào người đang cuống cuồng trên lưng ngựa, trên đầu có lá cờ đề chữ “Soái” đưa một đại đao qua cổ. Đó chính là Hầu Nhân Bảo. Hầu Nhân Bảo thây phun máu đổ vật xuống đường. Quân Việt reo hò băm 2 vạn quân Tống thành những đống thịt đầy máu. Tôn Toàn Hưng nhờ đi hậu quân không sâu vào trận địa nên quay ngựa kịp chạy thoát, dẫn tàn quân chạy một mạch về biên giới. Khi vượt khỏi biến giới mới đi chậm lại để thở. Một tùy tướng nói:
- Chủ soái Hầu Nhân Bảo đã tử trận.
TônToàn Hưng nói:
- Ai bắt ngài ta đang yên đang lành lại xin Hoàng thượng đánh Đại Cồ Việt, không biết Lê Hoàn là tay đại anh hùng, đã cùng Đinh Bộ Lĩnh đánh Đông dẹp Bắc, chỉ hai năm là Đại Cồ Việt thống nhất. Cho ông ta chết cũng đáng đời.
Rồi tên tướng bại trận dẫn tàn binh mệt mỏi đi về Ung Châu trong một chiều mùa đông ảm đạm. Hoàng hôn đỏ tím trời Tây một màu máu.
Nghe tin đạo bộ binh bị quân Đại Cồ Việt tiêu diệt, Chủ soái Hầu Nhân Bảo bị giết, Tôn Toàn Hưng thoát chết đã tháo chạy về nước, Lưu Trừng cả sợ giương buồm cho thủy binh rút nhanh về Quảng Đông. Trần Khâm Tộ nghe tin cũng vội vã bỏ Tây Kết tháo chạy đường bộ, vì chiến thuyền đã bị dân binh đốt cháy trong khi quân Tống rời thuyền lên bộ tác chiến. Lê Đại Hành ra lệnh cho tất cả quân các đạo truy kích cùng quân triều đình. Quân Tống chạy không kịp bị chết quá nửa, thây nằm đầy đường. Các tướng Triệu Phụng Huân, Quách Quân Biện bị bắt, tướng Chu Vi Công tử trận, các tướng Lưu Trừng, Gia Thực chạy thoát về nước nhưng bị Tống Thái Tông chặt đầu bêu ở chợ Ung Châu, Thôi Lượng bị giáng chức. Sau chiến thắng, Lê Đại Hành cùng các tướng ca khúc ca khải hoàn trở về kinh đô Hoa Lư. Lê Đại Hành cho cả nước ăn mừng chiến thắng, ban lệnh đại xá thiên hạ. Đó là niên hiệu Thiên Phúc năm thứ hai, 981. Cùng năm đó Lê Đại Hành thấy phải cho Dương Vân Nga, một người phụ nữ hy sinh quyền lợi riêng tư vì đất nước một danh phận. Từ là hoàng hậu, rồi lên hoàng thái hậu. Sau khi vệ Vương Đinh Toàn nhường ngôi cho Lê Đại Hành thì bà không còn danh phận gì cả. Vì thế, sau khi được sự đồng ý của Dương Vân Nga, Lê Đại Hành kết hôn với bà và phong bà làm hoàng hậu. Tiệc cưới của Lê Đại Hành và Dương Vân Nga diễn sau lễ ăn mừng đại thắng ngoại xâm đã mang lại một niềm vui lớn cho Triều đình, cho đất nước. Sau chiến thắng quân Tống, uy danh của Lê Đại Hành chấn động Đại Cồ Việt, chấn động cả Biện Kinh của nhà Tống. Năm 986, Tống Thái Tông buộc phải công nhận Lê Đại Hành là người cai trị Đại Cồ Việt. Bản sắc phong cho Lê Đại Hành một năm hai lần, nhiều lần cử sứ giả sang Hoa Lư giao thiệp và gần 100 năm sau nhà Tống không dám xâm phạm Đại Cồ Việt và sau này, năm 1054 là Đại Việt.
II
Sau chiến thắng không lâu, Lê Đại Hành thiết triều bàn việc nước. Lê Đại Hành nói:
- Các ái khanh có việc gì thì tấu:
Thái sư Hồng Hiệu bước ra:
- Bẩm Hoàng thượng, thần có tấu.
- Ái khanh nói:
- Bẩm Hoàng thượng, năm 980 Đại Cồ Việt ta muốn giao hảo với nước Chiêm Thành ở phương Nam, đã sai sứ giả là Ngô Tử Cảnh và Từ Mục đi sứ nhưng vua nước đó láo xược bắt giữ sứ thần không cho về nước. Như vậy là khinh mạn, không coi nước ta ra gì. Đó là danh dự quốc gia và của triều đình Hoa Lư, của Hoàng thượng. Mong Hoàng thượng xem xét.
Đại tướng Lã Lang bước ra:
- Thần xin bẩm tấu.
- Ái khanh nói đi:
- Dạ bẩm Hoàng thượng, vua Bê Mi Thuế của Chiêm Thành đã nhiều lần quấy rối nước ta,nay lại bắt sứ giả, tuyệt giao. Thần nghĩ Hoàng thượng phải phát binh tiến vào Chiêm Thành trị tội để giữ yên biên giới phía Nam.
Triều đình đồng thanh:
- Xin Hoàng thượng phát binh trừng phạt Chiêm Thành.
Lê Đại Hành nói:
- Chuẩn tấu, ta sẽ thân chinh cầm quân trừng phạt Chiêm Thành. Ta là chủ soái, Đại tướng Phạm Cự Lượng làm phó soái cuộc Nam tiến.
- Chúng thần tuân chỉ.
Mùa xuân năm 982, Lê Đại Hành làm Tổng tư lệnh, Thái úy đại tướng Phạm Cự Lượng làm phó soái cùng các tướng đã dày dạn kinh nghiệm trong khói lửa chiến tranh như Lã Lang, Trần Nguyên Thái…tiến hành cuộc Nam chinh. Lê Đại Hành dẫn 300 chiến thuyền, 5 vạn quân rời kinh đô Hoa Lư ra cửa Đại An và vượt sóng tiến về phương Nam, mở cuộc chinh phạt xứ Chiêm Thành xa xôi. Trời mùa xuân nhưng vẫn còn gió lạnh. Bầu trời và biển xám xịt. Những cơn sóng lừng theo gió mùa đông bắc vỗ vào những con thuyền tung bọt trắng xóa. Những chiến thuyền chạy bằng buồm và cả bằng mái chèo. Những cánh buồm căng gió đưa đoàn thuyền lướt nhanh như bay. Cờ vàng tung bay phấp phới. Những làng mạc xanh thắm quanh co dọc bờ biển tưởng như dài vô tận trong không gian như cùng đi theo những chiến thuyền lướt trên sóng nước.
Đường từ Hoa Lư đến biển gần kinh đô Đồng Dương xa khoảng 1.500 dặm. Sau ba ngày ba đêm hành quân, thủy quân Đại Cồ Việt đã đến vùng biển ngang với kinh đô Chiêm Thành. Lê Đại Hành cho thủy quân tập kết tại cù lao Chàm và nói với Phạm Cự Lượng và Lã Lang:
- Thủy quân và tượng binh là hai lực lượng mạnh của Chiêm Thành. Đại tướng Phạm Cự Lượng đem 100 chiến thuyền và 1 vạn quân bí mật tiếp cận dùng hỏa công đốt quân cảng và chiến thuyền của Chiêm từ phía Đông và phía Bắc vì thuận hướng gió. Nhớ càng bí mật càng tốt. Tốt nhất là đêm nay tướng quân có thể hành sự.
Phạm Cự Lượng đáp:
- Dạ, thần xin tuân lệnh.
Lê Đại Hành nói tiếp:
- Trại tượng binh ở phía Tây, đại tướng Lã Lang đem 1 vạn quân, bí mật chốt chặt cửa doanh trại tượng binh và phóng hỏa đốt. Nhớ cũng phải hành sự bí mật. Còn ta sẽ đánh bộ binh của Bê Mỹ Thuế và chiếm kinh thành Đồng Dương.
Lã Lang đáp:
- Thần xin tuân lệnh.
Đêm xuống dần, biển và không gian chìm trong màn đêm. Biển phập phồng đen ngòm cuộn sóng rung lên những bản nhạc. Gió thổi vi vu. Đoàn chiến thuyền của Đại Cồ Việt không đèn đóm, lừ lừ nối đuôi nhau như đàn cá voi khổng lồ, bí mật tiến lại gần căn cứ thủy quân của chiêm thành ở cảng Hội An. Căn cứ rộng mênh mông neo đậu hàng trăm chiến thuyền trong đêm sóng yên biển lặng. Cách quân cảng khoảng 2 dặm, 100 dũng sĩ Đại Cồ Việt bơi lặn vào những con thuyền có ánh đèn, có những tên lính canh đang thức. Những dũng sĩ bí mật bất ngờ nhảy lên thuyền, bịt miệng và giết những tên lính canh đang ngủ gà ngủ gật. Vậy là không còn ai báo động cho 2 vạn thủy binh Chăm đang ngon giấc trên hàng trăm chiến thuyền. Phạm Cự Lượng cho hạm thuyền tiến lại gần quân cảng chừng nửa dặm thì thả những con thuyền con có chứa chất cháy, được châm lửa và cho trôi vào. Những con thuyền đó gặp gió đưa vào gần quân cảng, dạt trôi vào chiến thuyền quân Chiêm. Canh giờ sau, vài chục chiến thuyền bốc cháy và sau đó 200 chiến thuyền quân Chiêm thành 200 bó đuốc. Quân Chiêm đang ngủ say thức dậy thì bén lửa và bị dìm xuống nước do thuyền chìm. Có những tên không kịp thức dậy và ngủ giấc ngủ vĩnh viễn dưới đáy biển. Tiếng chuông báo động vang lên, lính Chiêm kinh hoàng, bất lực nhìn toàn bộ binh thuyền và hàng nghìn đồng đội chết cháy chìm xuống cùng những mảnh than đỏ rực của những chiến thuyền. Lửa cháy dữ dội khủng khiếp vàng rực cả vùng trời hải cảng Hội An, khói bốc cao mù mịt quằn quại như những con quái vật bay trong đêm.
Cùng thời gian đó, 1 vạn quân Đại Cồ Việt do Lã Lang chỉ huy hành quân nhanh chóng về phía Tây của kinh đô Đồng Dương, nơi có lực lượng tượng binh, một trong những binh chủng ghê gớm nhất của quân Chiêm Thành khi xung trận. Còn cách căn cứ nửa dặm, lính của Đại Cồ Việt, một loại lính đặc biệt thiện chiến bò lại gần thành, bắn chết những tên lính gác trên chòi canh, chốt khóa trái các cửa trại bên ngoài để bên trong không ra được. Gần 1.000 võ sĩ bắn những mũi tên có chất cháy vào bên trong. Doanh trại tượng binh của quân Chiêm bốc cháy dữ dội. Tiếng hò thét kinh thiên động địa. Lính Chiêm Thành mở cửa thành cho voi và người xông ra ngoài nhưng không mở được. Lính bên trong hoặc bị chết cháy, hoặc bị voi sổng chuồng bị bỏng điên cuồng dày chết chính chủ nhân của chúng. Tiếng người kêu thảm thiết, tiếng voi gầm the thé rung trời. Trong biển lửa và khói, hai canh giờ sau, căn cứ tượng binh khoảng 1 vạn lính và 1000 con voi bị thiêu chết.
Cùng thời gian đó, Lê Đại Hành cho thuyền áp sát vào bờ biển, 3 vạn tinh binh Đại Cồ Việt đổ bộ lên bờ tiến đánh kinh đô Đồng Dương thuộc đất Quảng Nam. Còn 1 dặm, đã thấy 3 vạn lính Chiêm Thành do vua Bê Mi Thuế cưỡi voi dẫn đầu xông ra tiếp chiến. Quân Đại Cồ Việt và quân Chiêm Thành xông lên chém giết nhau, quân Đại Cồ Việt dàn vòng cung và cuối cùng bao vây quân Chiêm Thành vào giữa mà đánh. Thây chồng ngổn ngang, máu đỏ lừ bờ biển. Lính bảo vệ Bê My Thuế chết hết, voi cũng bị trúng tên vào vòi, vào mắt. Quân Việt dùng câu liêm lôi Bê My Thuế xuống và chém chết tại trận. Tàn quân Chiêm Thành kinh hoàng tháo chạy về kinh đô. Quân Việt áp sát phía sau nên quân Chiêm không đóng được cổng thành. Quân Việt tràn vào chém giết. Thành quách, nhà cửa, lâu đài vàng son phút chốc chìm trong biển lửa. Kinh đô Đồng Dương sụp đổ tan hoang. Nước Chiêm Thành bại trận. Cácđại thần phò tá hoàng tộc, dựng lên vua mới và hộ giá chạy về miền Bình Thuận.
Lê Đại Hành hạ lệnhkhông được giết chóc dân lành và những binh sĩ đã đầu hàng. Vua cho đưa số vàng bạc châu báu trong kho của vua Chiêm lên xe và chở về Đại Cồ Việt. Hàng trăm vũ nữ và nhạc công của Chiêm Thành cũng được vua đưa về Hoa Lư để làm phong phú thêm văn hóa nghệ thuật cung đình và văn hóa Đại Cồ Việt. Lê Đại Hành cho tổ chức lại bộ máy hành chính nhà nước ChiêmThành để dân được an cư lạc nghiệp, để công đức của triều đình Hoa Lư thấm xuốngtận những làng xã phương Nam xa xôi, cho dân được hưởng phúc lớn của Hoàng Đế Đại Cồ Việt. Lê Đại Hành cho một viên quan địa phương người Chăm gốc Việt là Lưu Kế Tông đứng đầu chính quyền mới.
III
Sau khi ổn đình tình hình ở Chiêm Thành, Lê Đại Hành kéo quân về Hoa Lư theo đường biển. Trong những năm trị vì tiếp theo Lê Đại Hành đã tự thân chinh đánh dẹp các cuộc phản loạn của các hào trưởng ở các địa phương Đại Cồ Việt. Năm 989, Dương Tiến Lộc làm phản ở Ái Châu, Hoan Châu đã bị Lê Đại Hành đánh dẹp. Năm 996, Lê Đại hành đánh được 4 động Đại, Phát, Đan, Bà ở Ma Hoàng. Tháng 7 năm 996, vua thân chinh đi đánh Phan Quang ở Đỗ Động Giang, bắt bọn phản loạn đem về kinh sư. Năm Kỷ Hợi 999, niên hiệu Ứng Thiên năm thứ 6, vua đánh dẹp ở Hà Đông, phá được động Nhật Tắc, châu Định Biên, khiến 49 động còn lại phải quy phục triều đình. Năm 1000, niên hiệu Ứng Thiên năm thứ 7, vua đi dẹp loạn ở Phong Châu, đánh dẹp bọn Trịnh Hàng, Trường Lê, Đan Trường Ôn khiến bọn này chạy vào núi Tản Viên. Năm 1001, niên hiệu Ứng Thiên năm thứ 8, Lê Đại Hành dẹp loạn ở Cẩm Thủy, Ái Châu. Vua đi thuyền vào Cùng Giang để đuổi giặc, bị giặc mai phục bắn tên. Vệ Vương Đinh Toàn đi cùng vua trúng tên hy sinh tại trận, khi đó Vệ Vương mới 17 tuổi. Vua đau đớn kêu trời ba tiếng rồi thúc quân đánh dữ dội khiến giặc phải tan vỡ.
Năm 995, để chọc giận Tống Thái Tông, Lê Đại Hành cho quân đánh vào trấn Như Hồng, thuộc Khâm Châu. Mùa hạ cùng năm đó, Lê Đại Hành dẫn 5000 quân đánh vào Lộc Châu thuộc Ung Châu, Quảng Nam Tây Lộ, giao chiến với quân Tống do Tuần kiểm Dương Văn Kiệt chỉ huy.
Lê Đại Hành còn ra sức phát triển kinh tế nông nghiệp và thủ công nghiệp là hai trụ cột của kinh tế nước nhà. Mùa xuân 987, ngày 1 Tết Nguyên Đán vua tự cày ruộngở Núi Đọ, Ái Châu, mở đầu cho lễ tịch điền về sau cho các triều đại để khuyến khích nông nghiẹp phát triển. Vua còn chú ý tôn tạo và mở mang các công trình thủy lợi là một trong những nhân tố bảo đảm cho nông nghiệp phát triển. Năm 1003, Lê Đại Hành đi Hoan Châu, chỉ huy vét kênh Đa Cái, thông đến Tư Củng Trường, Ái Châu. Vua tổ chứcđào sông nối Hoan Châu với Ái Châu, mở ra đường giao thông thủy nội địa đầu tiên.
Sau chiến tranh 980-981, nhà Tống bị đánh bại nên phải giảng hòa. Vua Tống Thái Tông sau đó phong Lê Đại Hành các chức như Đặc Tiến, Giao Chỉ Quận Vương, Nam Bình Vương Kiêm Thị Trung. Tháng 10-986, Lê Đại Hành trao trả các tướng Tống bị bắt trong chiến tranh 980-981 như Quách Quân Biện, Triệu Phụng Huân cho nhà Tống. Năm 987, sứ giả nhà Tống là Lý Giác sang Đại Cồ Việt. Lê Đại Hành sai Đỗ Pháp Thuận giả là người chèo đò ra đón. Hai bên làm thơ cho nhau. Năm 990 nhà Tống sai sứ sang sắc phong, Lê Đại Hành nhận tờ chế nhưng không quỳ lạy, còn nói với sứ giả bảo Tống Thái Tông có chiếu, thư từ thì giao cho quan Đại Cồ Việt ở biên giới và họ chuyển về để khỏi nhọc sứ giả đến Hoa Lư vất vả. Vua Tống nghe theo. Từ đó Đại cồ Việt đỡ được gánh nặng lễ nghi đón tiếp sứ giả.
Năm 982, Lê Đại Hành lập Dương Vân Nga làm Đại Thắng Minh hoàng hậu. Cuộc hôn nhân này hai người sinh được công chúa Lê Thị Ngân, sau công chúa là hoàng hậu của Lý Thái Tổ, thân mẫu của vua Lý Thái Tông sau này. Ngoài ra, Lê Đại Hành còn có các hoàng hậu khác như Phụng Càn Chí Lý hoàng hậu, Thuần Thánh Minh Đạo hoàng hậu, Trinh Quốc hoàng hậu, Phạm hoàng hậu. Ngoài công chúa Lê Thị Ngân, Lê Đại Hành còn có các hoàng tử: Lê Long Thâu, trưởng nam, tức Kinh Thiên Đại Vương (mất năm 1004), Lê Long Tích, tức Đông Thành Vương, Lê Long Việt, tức Nam Phong Vương, được phong hoàng thái tử, Lê Long Đĩnh, tức Khai Minh Đại Vương, Lê Long Đinh, tức Ngự Man Vương, Lê Long Kính, tức Trung Quốc Vương, Lê Long Cân, tứcNgự Bắc Vương, Lê Long Tung, tức Định Phiên Vương, Lê Long Tương, tức phó Vương, Lê Long Mang, tức Nam Quốc Vương, Lê Long Đề, tức Hành Quân Vương và con nuôi Dương Hy Liễn, tức Phù Đài Vương.
Năm 1005, Lê Đại Hành băng hà ở Trường Xuân Điện, thọ 64 tuổi (941- 1005), ở ngôi 26 năm với ba niên hiệu: Thiên Phúc (980-988), Hưng Thống (989-993) và Ứng Thiên (994-1005). Lê Long Việt lên ngôi, đế hiệu Lê Trung Tông, được 3 ngày, Lê Long Đĩnh sai người giết chết Lê Trung Tông và lên ngôi. Đến năm 1009, Lê Long Đĩnh băng hà, tháng 10 Kỷ Dậu, thọ 24 tuổi, ở ngôi 5 năm. Con trai Lê Long Đĩnh là hoàng tử Sa còn bé. Đại thần là Đào Cam Mộc đưa Điện Tiền chỉ huy sứ Lý Công Uẩn, người lấy con gái của Lê Đại Hành và Dương Vân Nga là công chúa Lê Thị Ngân lên ngôi, đế hiệu là Lý Thái Tổ. Năm 1010, Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long. Đến năm 1054, Đại Cồ Việt đổi thành Đại Việt. Lịch sử ba triều Ngô- Đinh- Tiền Lê khép lại với công lao to lớn là thống nhất đất nước, đặt nền tảng cho việc xây dựng xã hội phong kiến, nhà nước phong kiến chuyên chế Việt Nam để đến trang sử tiếp theo dưới các vương triều Lý -Trần là thời kỳ phát triển, viết nên những khúc ca khải hoàn tiếp theo trong lịch sử dựng nước và giữ nước của Đại Việt.
Hết tập II