I
Sáng sớm mùa hè năm 1543, mặt trời phía đông lên quá một con sào tỏa ánh sáng như tơ trắng xóa xuống một vùng rộng lớn chung quanh thành Tây Đô. Nắng rải xuống miền trung du, núi đồi cao thấp phủ đầy cây lá vàng xanh lấp lánh. Xa xa, sông Chu cuồn cuộn đưa nước về hòa với sông Mã ở ngã ba làng Giàng. Thành Tây Đô với khối đá đồ sộ sừng sững vuông vức nhô lên trời xanh nom càng uy nghi như bản sử thi bằng đá. Cổng thành, xe ngựa của quan lại nhà Mạc ra vào tấp nập.
Ngồi trong cung điện của thành Tây Đô là quan Tổng Trấn Thanh Hóa đại tướng quân Trung Hậu Hầu Dương Chấp Nhất. Dương Chấp Nhất xuất thân là thái giám nên đôi mắt gian ngoan, khuôn mặt dài nham hiểm, tiếng nói the thé không ra tiếng đàn bà, không ra tiếng đàn ông. Ngồi đối diện với Dương Chấp Nhất là thân vương nhà Mạc Mạc Chính Trung, con của Mạc Đăng Dung, coi sóc việc quân binh của trấn. Hai người vừa ăn sáng, đang ngồi uống nước trà đàm đạo. Chợt có thám mã vào báo:
-Dạ, bẩm tổng trấn, bẩm Hoằng Vương, theo tin tức thám mã từ Sầm Châu đưa về thì Nguyễn Kim, Lại Thế Vinh, Lại Thế Khanh, Vũ Sư Thước, Trịnh Kiểm và các tướng Nam Triều đang đưa Lê Trang Tông cùng 5 vạn quân từ Ai Lao về kinh đô Vạn Lại-An Trường ở Lôi Dương, có lẽ đang chuẩn bị đánh Tây Đô. Dương Chấp Nhất nói:
-Cho ngươi lui, có tin gì mới về bọn Lê Trang Tông và Nguyễn Kim phải báo ngay, rõ chưa?
-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.
Mạc Chính Trung hỏi:
-Nguyễn Kim là ai vậy?
Dương Chấp Nhất bê bát nước uống một ngụm, đặt bát xuống và nói:
-Hoằng Vương mới vào Thanh Hóa nên chưa rõ, Nguyễn Kim quê ở Bái Trung, Hà Trung, Tống Sơn, Thanh Hóa, là một dòng họ quan lại lớn thời Lê Sơ. Ông nội Nguyễn Kim là Nghĩa Quốc Công Nguyễn Văn Lang, cha là Trừng Quốc Công Nguyễn Hoằng Dụ. Nguyễn Kim là con trưởng, làm quan dưới triều Lê Sơ đến chức Hữu Vệ điện tiền tướng quân, tước An thành Hầu. Nguyễn Kim là một trung thần của nhà Hậu Lê nhưng cái giỏi của ông ta là khi Mạc Thái Tổ được ngôi nhà Lê, lập ra nhà Mạc, Kim không bộc lộ sự chống đối như các đại thần khác. Không rõ Nguyễn Kim trốn về quê từ lúc nào. Năm 1529 mới sang Ai Lao xin vua Sa Đẩu mượn vùng Sầm Nưa làm căn cứ chống nhà Mạc ta. Năm 1530 Nguyễn Kim đã có một lực lượng vài nghìn quân, 1.300 ngựa, 30 thớt voi và nhiều đại thần, nhiều tướng giỏi của nhà Lê theo về. Năm 1530 Nguyễn Kim đem quân về đánh Thanh Hóa nhưng bị quân của Mạc Trúc Hầu, tướng của Mạc Thái Tông đánh bại. Xuân Tân Mão năm 1531, Nguyễn Kim đem toàn lực tấn công về Lôi Dương, đánh bại quân của Nguyễn Kính là tướng của Mạc Thái Tông. Nguyễn Kính lùi quân về Đông Sơn. Tại đây, Nguyễn Kim lại đánh bại Nguyễn Kính, giết và bắt sống quân ta vài nghìn người. Từ Đông Sơn Nguyễn Kim tiến quân ra Gia Viễn, Ninh Bình. Đang mùa tháng 8 trời mưa nhiều, sông Hoàng Long dâng nước. Nguyễn Kính cho quân bộ đánh trước mặt, cho quân thủy đánh tập hậu, quân Nguyễn Kim đại bại phải rút về Ai Lao. Năm 1533, Nguyễn Kim đã tìm được Lê Duy Ninh, con vua Lê Chiêu Tông đưa sang Ai Lao và lên ngôi hoàng đế, đế hiệu là Lê Trang Tông, khôi phục lại nhà Lê gọi là Lê Trung Hưng. Lê Trang Tông đã xuống chiếu “Cần Vương” kêu gọi anh hùng hào kiệt về tụ nghĩa để lật đổ nhà Mạc ta.
Năm 1539 Nguyễn Kim sai Hà Quận Công Lại Thế Vinh, một trong những khai quốc cồng thần của Lê Trung Hưng cùng các con là Lại Thế Mỹ, Lại Thế Đạt và con rể là Trịnh Kiểm từ Ai Lao về men theo sông Chu, sông Cầu Chày đánh chiếm Lôi Dương, đất thang mộc của nhà Hậu Lê. Sau khi chiếm được Lôi Dương, Lại Thế Vinh đã cho xây dựng kinh đô Vạn Lại-An Trường để chuẩn bị đón vua Lê Trang Tông về nước. Từ Lôi Dương, năm 1540 Trịnh Kiểm đã giải phóng được Nghệ An. Từ khi Lê Trang Tông lên ngôi đến nay đã 10 năm, có lẽ nay lực lượng đã lớn mạnh nên Nguyễn Kim đưa Lê Trang Tông và quân đội về Lôi Dương, trước mắt sẽ đánh Tây Đô để giải phóng Thanh Hóa, nối Thanh Hóa với Nghệ An tạo nên lãnh thổ của Nam Triều để đối chọi với nhà Mạc là Bắc Triều.
Mạc Chính Trung nói:
-Đáng lý phải đè bẹp cuộc phiến loạn đó ngay từ đầu. Bây giờ đã phát triển và hình thành Nam Triều Lê Trung Hưng, lòng dân còn nhớ nhà Lê, hưởng ứng chiếu “Cần Vương” nên ngày càng mạnh. Trong khi đó triều Mạc ta mấy năm nay chịu nhiều tổn thất. Năm 1540 Mạc Thái Tông mới 40 tuổi đã mất rồi đến thái thượng hoàng Mạc Thái Tổ cũng mất ngay năm sau đó. Nay giặc sắp tiến đánh Tây Đô, tổng trấn có kế sách gì hay để phá giặc không?
Dương Chấp Nhất nói:
-Trong triều đình Nam Triều, Lê Trang Tông chỉ là ngọn cờ nhà Lê để tập hợp lực lượng trong thiên hạ, còn trụ cột chủ chốt của nhà Lê Trung Hưng là Nguyễn Kim. Cho nên chỉ cần giết được Lê Trang Tông hoặc Nguyễn Kim thì Nam Triều sụp đổ.
Mạc Chính Trung nói:
-Tổng trấn nói phải lắm nhưng theo ta thì giết được Lê Trang Tông, Nguyễn Kim lại tìm được vua khác trong con cháu nhà Lê, chỉ có giết được Nguyễn Kim là cây trụ cột thì không còn ai tài thao lược nữa, ta dễ dàng tiêu diệt Nam Triều. Tổng trấn có mưu kế gì để giết được Nguyễn Kim không?
Con mắt gian manh của Dương Chấp nhất lóe lên một cách tàn ác:
-Có thì có rồi nhưng không biết Hoằng Vương có theo không?
-Làm cho Nam triều, kẻ thù của nhà Mạc sụp đổ sao ta lại không nghe. Tổng trấn nói đi, nhảy vào núi đao biển lửa ta cũng nghe.
Dương Chấp Nhất nói:
-Mai giặc đến, Hoằng Vương đem quân ra phía Tây Tây Đô chống giặc. Hoằng Vương phải giả thua trận và rút quân ra Ninh Bình. Giặc bao vây Tây Đô, ta trá hàng lọt vào hàng ngũ Nam Triều. Chỉ có như vậy mới có cơ hội giết được Nguyễn Kim.
Im lặng một lát, Dương Chấp Nhất nói:
-Kế này trước mắt có hai điều bất lợi.
Mạc Chính Trung hỏi:
-Bất lợi thế nào?
-Không phải là đầu hàng là mạt tướng giết ngay được Nguyễn Kim đâu, phải có thời gian để lấy lòng tin mới tiếp cận ông ta, có thể nhanh thì vài tháng, lâu thì một đến hai năm. Thứ hai ta tạm thời mất Thanh Hóa, nhưng khi Nguyễn Kim chết, Nam Triều bị diệt thì ta lấy lại cũng chưa muộn.
Mạc Chính Trung vui mừng nói:
-Kế hay, việc lớn mà chỉ một hai năm thì có xá gì, tạm cho chúng ngủ nhờ vài đêm ở Thanh Hóa rồi đuổi chúng đi, không sao, thật là diệu kế. Tổng trấn và ta sẽ cùng thực hiện.
Chợt có thám mã vào báo:
-Dạ bẩm Hoằng Vương, bẩm Tổng trấn, Nam Triều đã đưa Lê Trang Tông về Vạn Lại-An Trường, Lôi Dương. Cha con Lại Thế Vinh, Thụy Quận Công Hà Thọ Trường ngự doanh hộ giá. Còn 5 vạn quân gồm bộ binh, kỵ bịnh và tượng binh do Nguyễn Kim chỉ huy đang tiến về Tây Đô.
Mạc Chính Trung nói:
-Rõ rồi, cho ngươi lui.
-Dạ. Đa tạ Hoằng Vương.
Mạc Chính Trung đứng dậy:
-Tạm thời cáo biệt tổng trấn, chúc tổng trấn thành công.
Dương Chấp Nhất đứng dậy:
-Đa tạ Hoằng Vương. Hoằng Vương về nói với hoàng thượng mạt tướng tạm ở lại quân doanh của Nam Triều một thời gian, bao giờ giết được Nguyễn Kim, mạt tướng sẽ về.
-Rồi, cáo biệt tổng trấn.
Mạc Chính Trung để lại cho Dương Chấp Nhất 1 vạn quân, rồi đem 5 vạn quân tiến lên phía Tây Tây Đô dàn trận chờ quân Lê Trung Hưng, canh giờ sau thì nghe đất rung lên bởi bước chân người ngựa và voi, cờ vàng bay phấp phới viết chữ màu đen “Lê Trung Hưng”. Đi dưới lá cờ có chữ “Soái” là một người nho nhã dáng văn thần nhưng nom oai dũng và đầy mưu lược.
Mạc Chính Trung đoán đó là Nguyễn Kim. Đi bên cạnh là một tướng khỏe mạnh, khôi ngô tuấn tú, cầm đại đao cưỡi con ngựa màu nâu cao lớn, Mạc Chính Trung đoán người đó là Trịnh Kiểm. Ngoài ra còn nhiều tướng trẻ oai phong lẫm liệt, dáng dấp anh hùng. Trông thấy Mạc Chính Trung mạc áo chiến bào vàng, áo giáp vàng, mũ đâu mâu vàng, Nguyễn Kim biết đó là thân vương nhà Mạc liền quát:
-Ai ra bắt bọn phản tặc cướp ngôi cho ta.
Trịnh Kiểm múa đại đao xông ra quát lớn:
-Có mạt tướng.
Mạc Chính Trung cũng múa kiếm xông ra, đánh được 20 hiệp, Mạc Chính Trung đuối sức bỏ chạy. Trịnh Kiểm và quân Nam Triều ào lên chém giết. Mạc Chính Trung không chạy về Tây Đô mà rút chạy về Ninh Bình. Quân Nam Triều thừa thắng truy kích một mạch và bao vây Tây Đô. Dương Chấp Nhất đóng cửa cố thủ. 10 ngày sau Dương Chấp Nhất lên mặt thành nói xuống:
-Ta là Dương Chấp Nhất, tổng trấn Thanh Hóa, cho ta gặp Hưng Quốc Công Nguyễn Kim.
Nguyễn Kim nói:
-Ta là Nguyễn Kim đây.
Dương Chấp Nhất chắp tay vái và nói:
-Kính chào Hưng Quốc Công, nghe đại danh đã lâu nay mới được gặp.
Nguyễn Kim nói:
-Không dám, không dám.
Dương Chấp Nhất nói:
-Trong thành đã hết lương thực, không thể cố thủ được lâu hơn, vả lại từ lâu mạt tướng cũng muốn bỏ chỗ tối về chỗ sáng, nếu mạt tướng đầu hàng thì mạt tướng và 1 vạn quân có được toàn tính mạng không?
Nguyễn Kim nói:
-Nam Triều vẫn chủ trương thu phục hiền tài để diệt trừ phản nghịch, thu phục ngai vàng và giang sơn nhà Hậu Lê. Nếu đầu hàng, tổng trấn và quân sĩ sẽ được thu nạp chiến đấu cho chính nghĩa.
-Đa tạ Hưng Quốc Công, mạt tướng sẽ kéo cờ trắng và mở của thành ngay.
Dương Chấp Nhất đi xuống. Nửa canh giờ sau trên thành Tây Đô kéo cờ trắng, cửa thành mở toang. Dương Chấp Nhất cùng một vạn quân tay không khí giới đi ra. Dương Chấp Nhất tiến về phía Nguyễn Kim chắp tay vái chào:
-Đa tạ Hưng Quốc Công tha mạng, mạt tướng tội đáng muôn chết. Từ nay sẽ hết lòng vì Nam Triều, vì sự Trung Hưng của triều Lê.
Nguyễn Kim nói:
-Miễn lễ, tổng trấn hiểu được như vậy là phúc cho Nam Triều.
-Dạ, không dám, không dám.
Nguyễn Kim liền thu nạp 1 vạn quân Mạc vào biên chế quân Nam Triều, còn Dương Chấp Nhất cho làm tướng trong quân doanh.
Sau khi Mạc Chính Trung rút ra Ninh Bình, Nam Triều lấy được Tây Đô và làm chủ toàn bộ Thanh Hóa, nối liền với Nghệ An giải phóng từ năm 1540. Vậy là đến năm 1543, Nam Triều đã có lãnh thổ là vùng đất hai trấn rộng lớn là Nghệ An, Thanh Hóa. Tiết chế Nguyễn Kim ra lệnh cho Lại Thế Khanh và Trào Quận Công Vũ Sư Thước đem quân thủy bộ trấn giữ các cửa biển trọng yếu là Thần Phù, Lạch Trường, Lạch Ghép. Trong khi đó, năm 1545, Nguyễn Kim đem toàn bộ quân thủy bộ tấn công ra Yên Mô, Ninh Bình để tiêu diệt quân Mạc, mở rộng vùng giải phóng ra đất Sơn Nam.
Trưa mùa hè năm 1545 thật là nóng nực, Nguyễn Kim sau bữa cơm trưa đang ngồi trong tổng hành dinh ở Yên Mô uống trà thì một tùy tướng bê một quả dưa hấu vào và nói:
-Dạ bẩm Thái tể Hưng quốc công Tiết chế, ngài tổng trấn Dương Chấp Nhất nhờ mạt tướng chuyển cho Tiết chế quả dưa để giải khát, trời nóng quá.
Kể từ ngày Dương Chấp Nhất quy hàng về Nam Triều đến nay đã được hai năm tỏ ra rất trung thành và cúc cung tận tụy, thường mách bảo những yếu điểm của nhà Mạc, thường dâng trà, rượu ngon,
hoa quả. Những lần như vậy bao giờ Nguyễn Kim cũng cảnh giác, cho bọn tùy tướng ăn uống trước đều không việc gì. Lâu dần việc dâng hoa quả, chè rượu ngon của Dương Chấp Nhất cho hành dinh đã thành quen và không còn sự cảnh giác. Nguyễn Kim nói:
-Vậy bổ dưa ta ăn thử.
-Dạ, tuân lệnh Tiết chế.
Quả dưa trồng trên vùng đất cát Yên mô Ninh Bình nên khi bổ ra trong vỏ xanh là ruột tươi hồng hạt đen nhánh. Tên lính dâng một lát cho Nguyễn Kim. Nguyễn Kim cầm và ăn hết. Thốt nhiên ruột gan ngài đau quặn. Người lính thấy quả dưa đang hồng hào đã chuyển dần sang màu đen. Nguyễn Kim đau quá ngã vật xuống chiếc ghế tràng kỷ đang ngồi:
- Gọi thái y mau!
Những người lính cuống cuồng gọi thái y trong quân doanh. Thái y đến dùng kim thử độc chọc vào ruột dưa, kim bạc từ màu trắng ngả sang màu đen sì. Thái y bắt mạch cho Nguyễn Kim. Khi đó độc tố đã phát tác, trên cơ thể Nguyễn Kim xuất hiện những vết đen, mạch yếu dần. Trịnh Kiểm vội chạy vào, Nguyễn Kim thì thào nói:
-Thằng Dương Chấp Nhất trá hàng để hại ta và để hại Nam Triều. Con hãy thay ta làm Tiết chế tiêu diệt...
Nói chưa xong Nguyễn Kim thổ ra huyết và tắt thở qua đời.
Trịnh Kiểm ra lệnh:
-Bay đâu, đến hành dinh của Dướng Chấp Nhất bắt hắn về đây.
-Dạ.
Lát sau lính quay về báo:
-Dạ, bẩm đại tướng Dực Quận Công, Dương Chấp Nhất đã bỏ chạy ra Đông Kinh với nhà Mạc rồi ạ.
Trịnh Kiểm ra lệnh khâm liệm thi hài Nguyễn Kim, đưa vào quan tài và phủ lá cờ vàng lên theo nghi thức quốc gia rồi báo tin cho gia đình Nguyễn Kim, báo tin cho triều đình, báo tin cho phu nhân của Trinh Kiểm là Nguyễn Thị Ngọc Bảo và cháu ngoại là Trịnh Tùng. Trịnh Kiểm viết tấu gửi cho vua Lê Trang Tông khi đó đang ở Vạn Lại-An Trường. Cái chết của Thái sư Tiết chế Hưng Quốc Công làm chấn động Nam Triều, quân đội, tướng lĩnh và các đại thần. Trong một ngày mùa hạ năm 1545, linh Cửu của Nguyễn Kim được đưa về Tống Sơn, phủ Hà Trung an táng. Các con Nguyễn Kim, trưởng nữ Nguyễn Thị Ngọc Bảo và cháu ngoại Trịnh Tùng, các con trai là Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng cùng các cháu trong gia đình nội ngoại họ hàng trắng khăn tang và nước mắt xót thương. Trong hương khói bập bùng, quân đội Nam triều, các tướng lĩnh, các đại thần đều đau buồn, thương tiếc một trung thần, người có công đầu trong việc khôi phục Lê Trung Hưng, khôi phục giang sơn xã tắc nhà Hậu Lê. Vua Lê Trang Tông vô cùng đau buồn thương tiếc, coi đó là một tổn thất lớn không gì bù đắp được của Nam Triều. Lê Trang Tông truy tặng Nguyễn Kim tước Chiêu Huân Tĩnh Công, đặt thụy hiệu là Trung Hiếu.
II
Tháng 8 năm 1545, kinh đô Vạn Lại -An Trường của triều Lê Trung Hưng chìm trong cây lá bởi những cánh rừng bát ngát của miền Lôi Dương. Nắng chan hòa rừng núi, mây bay lơ lững lang thang trên không, bầu trời xanh trong. Tiếng kêu của các loài chim rừng vang lên những bản nhạc lảnh lót, phá tan sự tĩnh mịch của không gian.
Tranh minh họa: Minh Khang Thái Vương (明康太王) Trịnh Kiểm. Nguồn: Internet.
Trong cung điện rộng lớn của thành Vạn Lại lợp bằng lá cọ, tường chình đất sét, cột bằng gỗ lim, vua Lê Trang Tông đang thiết triều bàn công việc khẩn cấp. Vua ngồi sau chiếc bàn đạt ngang, hướng về chiếc bàn kê dọc có các đại thần đang ngồi như Lại Thế Vinh, Trịnh Kiểm, Vũ Sư Thước, Lại Thế Khanh, Nguyễn Uông, Nguyễn Hoàng, Nguyễn Hữu Liêu, Hoàng Đình Ái, Hà Thọ Trường…Vua Lê Trang Tông nói:
-Triều Lê Trung Hưng ta vừa chịu một tổn thất to lớn, Thái tể Hưng Quốc Công Nguyễn Kim vừa tạ thế. Theo tin do thám thì Dương Chấp Nhất định đầu độc giết ta nhưng sau lại quay ra đầu độc Hưng Quốc Công để Nam Triều ta mất trụ cột và sẽ sụp đổ. Nay để phá tan âm mưu của Dương Chấp Nhất và của Bắc Triều, các ái khanh hãy tiến cử một tiết chế tài năng để tiếp tục đánh đổ nhà Mạc, lấy lại giang sơn xã tắc nhà Lê và thống nhất non sông Đại Việt.
Lại Thế Khanh nói:
-Thần xin bẩm tấu.
-Ái khanh tấu đi.
Thần xin tiến cử Đại tướng quân Dực quận Công Trịnh Kiểm. gần 10 năm nay, tài cầm quân thao lược của Dực Quận Công đã được thể hiện trên chiến trường. Như năm 1533, Dực Quận Công đã liều chết giải vây cho Nguyễn Kim ở Lỗi Dương. Nhờ chiến công này, Trịnh tướng quân đã được Hưng Quốc Công gã đại tiểu thư Nguyễn Thị Ngọc Bảo cho. Năm 1539 cùng với thần, Trịnh tướng quân đã đánh bại quân Mạc ở Lỗi Dương, lấy đất Vạn Lại-An Trường làm kinh đô lâm thời cho triều ta. Năm 1540, Trịnh tướng quân đã cùng Hưng Quốc Công Nguyễn Kim giải phóng Nghệ An. Năm 1543 đã cùng Hưng Quốc Công đánh bại Hoằng Vương nhà Mạc Mạc Chính Trung, chiếm Tây Đô và giải phóng toàn bộ Thanh Hóa, nối Thanh Hóa với Nghệ An, tạo nên lãnh thổ của Lê Trung Hưng ngày nay.
Lại Thế Khanh dứt lời, Hà Thọ Trường tâu tiếp:
-Thần cũng tiến cử Dực Quận Công Đại tướng Trịnh Kiểm. Ngoài những chiến công chứng tỏ tài thao lược như đại nhân Lại Thế Khanh vừa tâu, Trịnh tướng quân còn có tài xây dựng kỵ binh, lại có tài thao lược dụng binh. Năm 1537, mới 37 tuổi Trịnh tướng quân được phong Đại tướng, quả là tài năng hơn người. Ngay chính Hưng Quốc Công Thái tể Nguyễn Kim khi lâm chung cũng đã ký thác cho Trịnh tướng quân nắm quyền Tiết chế. Tâu hoàng thượng.
Lê Trang Tông nói:
-Các ái khanh tâu chính hợp ý trẫm. Đại tướng Dực Quận Công cũng được coi là tâm phúc của ta, nhiều lần có công hộ giá, có thể cáng đáng vai trò trụ cột trong cuộc chiến tranh với Bắc Triều. Đại tướng Dực Quận Công Trịnh Kiểm nghe chỉ.
Trịnh Kiểm vội quỳ nghe vua Lê Trang Tông khẩu dụ:
-Nay phong đại tướng quân Dực Quận Công Trịnh Kiểm làm Thái sư Lượng Quốc Công nắm quyền quân quốc trọng sự, nắm quyền Tiết chế quân thủy bộ và các dinh, toàn quyền tiến hành Bắc phạt, làm Đô tướng nắm quyền dân sự và quân sự, quyền tiền trảm hậu tấu.
Trịnh Kiểm rập đầu nói;
-Đa tạ hoàng thượng, thần tuân chỉ.
-Ái khanh bình thân.
-Tạ ơn hoàng thượng.
Lê Trang Tông nói tiếp:
-Nguyễn Uông, trưởng nam, Nguyễn Hoàng thứ nam của Hưng Quốc Công nghe chỉ:
Nguyễn Uông, Nguyễn Hoàng vội quỳ. Lê Trang Tông khẩu dụ:
-Nay phong Nguyễn Uông là Tả tướng quân Lãng Quận Công, phong Nguyễn Hoàng là Hạ Khê Hầu, cả hai ái khanh hãy phò giúp cho Tiết chế Trịnh tướng quân đi Bắc phạt.
-Đa tạ hoàng thượng, thần tuân chỉ.
Lê Trang Tông hỏi tiếp:
-Có ái khanh nào tấu gì nữa không?
-Dạ, không.
-Bãi triều!
*
* *
Đông Kinh vào một sáng mùa đông năm 1546, từng đợt gió thổi thốc tháo mang hơi lạnh bay khắp không gian. Những mái nhà của phố phường, những mái của lâu đài cung điện chìm dưới những rặng cây tán lá đang trút xuống từng đợt lá vàng. Bầu trời xám xịt. Từng đàn chim mải miết bay về phương Nam tránh rét. Sông Hồng, sông Đuống, sông Tô Lịch vẫn lạnh lùng đưa nước về xuôi.
Long phượng thành cũng chìm trong gió lạnh. Trong điện Càn Nguyên, các đại thần nhà Mạc đang dự họp, bàn một công việc quan trọng của vương triều là cử ai lên ngôi hoàng đế vì Hiến Tông Mạc Phúc Hải vừa băng hà. Mạc Phúc Hải là con Mặc Thái Tông, kế vị năm 1540, ở ngôi được 6 năm. Sau khi các đại thần dùng một lượt trà nóng, đại thần Khiêm Vương Mạc Kính Điển nói:
-Nay hoàng đế Mạc Hiến Tông vừa mới băng hà, nước một ngày không thể không có vua, cho nên theo ý ta nên đưa hoàng tử nhỏ của Mạc Hiến Tông là Mạc Phúc Nguyên lên thay, lấy đế hiệu là Mạc Tuyên Tông.
Đại thần thái úy Tứ Dương Hầu Phạm Tử Nghi nói:
-Trong mấy năm nay, vương triều ta luôn gặp những chuyện không may. Năm 1540 Mạc Thái Tông bỗng nhiên băng hà, tiếp đến năm 1541 Mạc Thái Tổ, Thái Thượng hoàng, người sáng lập vương triều, trụ cột của triều đình cũng đột nhiên qua đời đã để lại những tổn thất không thể bù đắp được. Sau khi Dương Chấp Nhất dùng kế trá hàng, đầu độc giết chết trụ cột Lê Trung Hưng là Nguyễn Kim, những tưởng có thể quét sạch được chúng, thu phục xứ Thanh -Nghệ. Không ngờ năm 1545, đại quân ta do Mạc Phúc Tư chỉ huy tiến đánh quân Lê ở sông Phù Chẩn Ninh Bình, Sơn Nam đã bị Trịnh Kiểm đánh cho đại bại, mất 5 vạn quân và nhiều tướng lĩnh. Ninh Quốc Công Mạc Phúc Tư phải bỏ quân đội chạy về Đông Kinh. Ngày nay, vương triều ta phía Bắc thì bị nhà Minh chèn ép, bắt nạt, phía Tây Bắc thì bị bọn chúa Bầu nhà họ Vũ: Vũ Văn Mật, Vũ Văn Uyên chống lại ở mạn Tuyên Quang. Nhưng nguy cơ lớn nhất là thế lực của Lê Trang Tông ngày càng lớn mạnh. Năm 1539 chúng đã chiếm huyện Lôi Dương, đất thang mộc của nhà Hậu Lê, lập kinh đô ở Vạn Lại-An Trường, năm 1540 chiếm được Nghệ An, năm 1543 chiếm được Tây Đô, Thanh Hóa. Ngày nay Lê Trung Hưng có vua, có triều đình văn võ bá quan, có những tướng lĩnh và đại thần tài giỏi thao lược như Trịnh Kiểm không kém gì Nguyễn Kim xưa, có lãnh thổ…Ai dám bảo rằng nay mai quân Nam Triều không tiến ra Bắc tiêu diệt chúng ta?
Phạm Tử Nghi dừng lại uống một ngụm nước rồi nói tiếp:
-Trước tình hình khó khăn hiện nay và sắp tới của vương triều, lão phu không đồng ý lập vua nhỏ mà phải lập vua lớn tuổi đủ sức gánh vác công việc nặng nề to lớn của xã tắc, sơn hà, lão phu đề nghị lập Hoằng Vương Mạc Chính Trung, hoàng tử thứ hai của Mạc Thái Tổ, em của Mạc Thái Tông lên ngôi hoàng đế.
Mặc dù Phạm Tử Nghi phân tích đúng thời cuộc hiện tại của nhà Mạc nhưng các đại thần đều tái mặt vì xưa nay chưa có ai dám nói như vậy, đặc biệt là với Khiêm Vương Mạc Kính Điển là hoàng tử thứ ba của Mạc Thái Tông, người có quyền lực lớn nhất triều đình, lại có tài thao lược kinh bang tế thế. Các đại thần đã quen lề thói mạnh chiều nào ngả theo chiều đó. Hơn nữa, dù lời của Phạm Tử Nghi là đúng nhưng các đại thần lại nghi ngờ sau lời nói có mưu đồ cá nhân vì thông thường khi đưa được vị vua mà người nào đề đạt lên ngôi thì sẽ có lợi rất nhiều cho người đó. Nguyễn Kính đã phá tan không khí căng thẳng của triều đình:
-Thôi, cứ làm theo ý của Khiêm Vương đi, vua nhỏ mà khó khăn thì đã có các đại thần phò giúp, đặc biệt có Khiêm Vương làm nhiếp chính thì còn lo gì nữa. Trong khi Nguyễn Kính nói thì Mạc Kính Điển nghĩ trong đầu: Đưa Mạc Chính Trung là vua lớn có thuận lợi nhưng bị chi phối bởi một thế lực như họ Phạm thì không thể nào lường trước được điều gì. Vả lại, trong tình hình khó khăn hiện nay của nhà Mạc, Mạc Kính Điển muốn vua nhỏ để nhiếp chính trực tiếp giải quyết để cứu vãn thời thế, đánh bại Nam Triều. Nghĩ vậy Mạc Kính Điển nói:
-Nếu đa số các đại thần đã thuận theo ý ta thì cứ vậy mà làm đi, lập Mạc Phúc Nguyên làm thiên tử, đế hiệu Mạc Tuyên Tông.
Các đại thần đều nói:
-Xin theo ý của Khiêm Vương.
Hôm sau vẫn trong điện Càn Nguyên, Mạc Phúc Nguyên đăng quang hoàng đế, đế hiệu Mạc Tuyên Tông. Bá quan văn võ quỳ xuống hô vang:
-Chúc mừng hoàng thượng, hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.

Tranh minh họa: Mạc Kính Điển (chữ Hán: 謙王 莫敬典; ? - 1580), tự Kinh Phủ, người hương Cao Đôi, huyện Bình Hà, Dương Kinh (nay là thôn Long Động, xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương). Ông là con thứ ba của Mạc Đăng Doanh (tức Vua Mạc Thái Tông), là đại công thần có công lớn trong việc gìn giữ cơ nghiệp nhà Mạc, được nhà Mạc phong tước Khiêm vương. Nguồn: Internet.
Mạc Tuyên Tông đáp lễ:
-Các ái khanh bình thân.
-Tạ ơn hoàng thượng.
Mạc Tuyên Tông khẩu dụ:
-Nay Phong Khiêm Vương Nguyễn Kính Điển làm nhiếp chính, Tiết chế binh mã thủy bộ.
Mạc Kính Điển đáp:
-Đa tạ hoàng thượng, thần tuân chỉ.
-Ái khanh bình thân.
-Đa tạ hoàng thượng.
Vừa khi đó một tùy tướng vào nói nhỏ vào tai Mạc Kính Điển. Tùy tướng đi ra thì Mạc Kính Điển nói:
-Bẩm hoàng thượng, thần có tấu:
Mạc Tuyên Tông nói:
-Ái khanh tấu đi.
-Bẩm hoàng thượng, thần vừa nhận được tin cấp báo, Thái úy Tứ Dương Hầu Phạm Tử Nghi cùng Hoằng Vương Mạc Chính Trung và hoàng tử Mạc Văn Minh làm phản đã dùng 5 vạn quân đang tấn công phía Nam Đông Kinh. Thế giặc rất mạnh. Mong hoàng thượng định đoạt.
Mạc Tuyên Tông hoảng hốt kinh ngạc:
-Hả, Phạm Tử Nghi là thái úy, Mạc Chính Trung là hoàng tử của Mạc Thái Tổ, Mạc Văn Minh là hoàng tử của Mạc Thái Tông sao lại làm phản? Xử lý thế nào? Ái khanh là chú của trẫm, là quan phụ chính đầu triều, khanh cứ quyết định đi.
-Thần tuân chỉ.
Mạc Kính Điển gọi:
-Tướng quân Trần Phỉ đâu?
-Dạ, có mạt tướng.
-Tướng quân đem quân ngự lâm và các tùy tướng hộ giá hoàng thượng về Dương Kinh. Nhớ bảo vệ và chăm sóc hoàng thượng chu đáo. Sơ suất thì cái đầu của tướng quân coi chừng.
-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.
-Đại tướng Nguyễn Kính đâu:
-Dạ, có mạt tướng.
-Tướng quân đem 5 vạn quân ra ngoài thành dàn trận chặn giặc.
-Mạt tướng tuân lệnh.
-Đại thần Lê Bá Ly đâu?
-Có lão thần.
Đại tướng đem quân bản bộ mở cửa thành phía Tây, chờ cho quân của Nguyễn Kính giao chiến thì đánh tập hậu phía sau Phạm Tử Nghi. Bằng mọi giá phải giết chết Phạm Tử Nghi.
-Dạ, còn Mạc Chính Trung và Mạc Văn Minh thì làm sao?
-Giết hết.
-Lão tướng tuân lệnh.
Việc điều binh khiển tướng của Mạc Kính Điển, của Nguyễn Kính, của Lê Bá Ly làm kinh thành náo động, bách tính hoảng loạn:
-Loạn to rồi, loạn to rồi.
-Quân Nam Triều đánh ra à?
-Không rõ, nghe nói quân Mạc đánh quân Mạc.
-Sao lại vậy?
-Mạc Hiến Tông vừa chết nên tranh nhau ngai vàng.
-Ôi chuyện muôn thuở, đã là ngai vàng thì anh em cũng là thù địch.
-Chỉ chết bách tính thảo dân thôi.
Nguyễn Kính mở cổng thành phía Nam tiến ra một dặm thì gặp quân của Phạm Tử Nghi đang tiến tới. Quân đi rầm rập, gươm giáo sáng lòa, cờ vàng đề chữ đen “Phạm Thái úy” tung bay phấp phới. Quân Nguyễn Kính cờ vàng đề chữ “Mạc”. Hai bên dàn trận. Nguyễn Kính thấy Phạm Tử Nghi mặc chiến bào xanh, áo giáp sắt, đội mũ đâu mâu bạc, cưỡi ngựa đen, cầm gươm đứng giữa. Một bên là Mạc Chính Trung, một bên là Mạc Văn Minh mặc chiến bào vàng, áo giáp vàng, tay cầm đại đao.Nguyễn Kính nói;
-Dòng họ Mạc ai lên ngôi mà chả được. Thái úy là quan đầu triều sao lại vì việc này mà động binh làm phản, làm kinh động muôn dân bá tánh. Ngài không sợ muôn dân chê cười sao?
Phạmh Tử Nghi cười đáp:
-Mạc Kính Điển nông cạn không biết thời cuộc đang rất nguy nan cho nhà Mạc, ngài là đại thần cũng a dua với Điển làm nhà Mạc suy yếu, định giúp cho Nam Triều chăng? Hãy xem đại đao của lão phu có sắc hay không?
Nói xong Phạm Tử Nghi thúc ngựa múa đao xông ra. Tây Quận Công Nguyễn Kính cũng thúc ngựa vung gươm xông tới. Gươm chạm đại đao tóe lửa. Hai bên đánh nhau 50 hiệp không phân thắng bại. Chợt phía quân của Phạm Tử Nghi rối loạn, thế trận tan vỡ. Thì ra Lê Bá Ly cùng con là Quảng Quận Công Lê Khắc Thận, các con của Nguyễn Kính là Quang Quận Công Nguyễn Khải Khang, Phú Quận Công Nguyễn Hữu Mệnh, Không Toàn Hầu và Khang Phú Hầu đánh tập hậu vào quân của Phạm Tử Nghi. Hai bên giao chiến kịch liệt, chiêng trống vang động phía Nam kinh thành, tiềng hò reo, tiếng gươm giáo kinh thiên động địa, thây chồng như núi, máu lầy mặt đất. 5 vạn quân của Phạm Tử Nghi bị giết. Phạm Tử Nghi kinh hãi, mở đường máu cùng Mạc Chính Trung, Mạc Văn Minh đem tàn quân chạy về An Bang. Sau đó vì quá sợ hãi, Mạc Chính Trung và Mạc Văn Minh từ An Bang chạy sang Trung Quốc. Mạc Kính Điển đem Mạc Tuyên Tông về lại Đông Kinh. Mạc Chính Trung và Mạc Văn Minh bị nhà Minh bắt. Phạm Tử Nghi đem quân đánh vào Khâm Châu để nhằm buộc nhà Minh trả lại Trung và Minh nhưng bị tướng nhà Minh là Đại Dự mai phục đánh Nghi đại bại. Nghi thua chạy về Vân Đồn, An Bang thì bị nhà Mạc bắt và giết năm 1551. Đại Dự bắt được con của Phạm Tử Nghi là Phạm Tử Lưu. Mạc Văn Minh (cháu của Mạc Thái Tổ) và Mạc Chính Trung (em của Mạc Thái Tông, con thứ hai Mạc Thái Tổ) cũng bị giết chết ở Trung Quốc.
* *
*
Đông Kinh vào một đêm mùa hè năm 1551, các lâu đài thành quách chìm trong tối, gió khua xào xạc những thân cây đầy lá phủ khắp kinh thành. Sông Hồng vẫn thao thức muôn thuở đưa nước về xuôi. Những chiếc thuyền ngư phủ giang hồ ngủ yên trên bến nước. Trong biệt phủ của sủng thần nhà Mạc vẫn còn sáng rực ánh đèn. Đó là biệt phủ của Phạm Quỳnh và con là Phạm Giao. Vợ Phạm Quỳnh, mẹ của Phạm Giao là nhũ mẫu của Mạc Kính Điển. Mạc Kính Điển là phụ chính của Mạc Tuyên Tông, quyền Tiết chế quân thủy bộ nhà Mạc. Nhà Phạm Quỳnh, Phạm Giao dựa vào thế Mạc Kính Điển, Mạc Tuyên Tông thường tìm cách bức hại những gia đình đại thần mà quyền thế hoặc giàu có hơn nhà Phạm Quỳnh để thỏa lòng ghen ghét, nhỏ nhen, ti tiện của mình.
Trong căn phong sang trọng, gian giữa là bàn thờ gia tiên sơn son thếp vàng, bài vị lư hương cũng son vàng lấp lánh. Giữa gian bày bàn ghế gỗ quý chạm khắc cây lá, hoa văn tinh xảo. Hai bố con Phạm Quỳnh và Phạm Giao đang ngồi đối diện uống trà với nhau. Sau khi cạn một hơi, Phạm Giao đặt bát xuống và nói với cha:
-Trong cái triều đình nhà Mạc này, vua Mạc Tuyên Tông thì còn bé nhỏ, quyền bính nằm trong tay Nhiếp chính Khiêm Vương Mạc Kính Điển. Thân mẫu của con là nhũ mẫu của Khiêm Vương. Khiêm Vương được như ngày nay là nhờ giọt sữa của thân mẫu con. Thế mà nay quyền thế giàu sang không bằng ai, nhất là so với nhà Lê Bá Ly. Cha thấy có bực mình và có mất mặt không?
Phạm Quỳnh nhấp ngụm chè rồi gật gù nói:
-Con nói phải, thế lực trong triều đình bây giờ nhà Lê Bá Ly là nhất. Kể ra nhà đó về võ công cũng đã lập nhiều chiến công với nhà Mạc. Lê Bá Ly đã cùng Nguyễn Kính đánh bại cuộc nổi loạn của Phạm Tử Nghi, của Mạc Chính Trung và Mạc Văn Minh trong cuộc tranh giành ngôi báu với hoàng thượng Mạc Tuyên Tông. Còn nữa, sau khi Mạc Chính Trung thất bại đã chạy sang nhà Minh tố cáo Mạc Kính Điển và Nguyễn Kính chuyên quyền đã đuổi người thừa kế ngai vàng hợp pháp là Mạc Chính Trung và đưa Mạc Tuyên Tông lên. Lê Bá Ly đã cùng Mạc Kính Điển hộ giá Mạc Tuyên Tông lên trấn Nam quan gặp sứ Minh. Lê Bá Ly đã viết tờ biện bạch khiến nhà Minh phải công nhận Mạc Tuyên Tông. Sau chuyến ngoại giao đó, Lê Bá Ly được phong chức thái tể, quyền hạn rất lớn.
Phạm Giao hỏi:
-Quyền lớn như thế nào cha?
Phạm Quỳnh đáp:
-Lê Bá Ly thông gia với Thượng thư bộ lại Quận Công Nguyễn Thiến. Con trai trưởng của Lê Bá Ly là Lê Khắc Thận là tổng trấn Sơn Nam, là phò mã nhà Mạc, con trai thứ ba là Thuần Hương Hầu chỉ huy cấm binh của triều đình. Một người cháu của Lê Bá Ly là Vạn An Hầu cũng là phò mã nhà Mạc, giữ chức Kim ngô Vệ sư, con rể Lê Bá Ly là Phái Văn Hầu Nguyễn Quyện, là con trai của Nguyễn Thiến giữ Vệ phù nam, con nuôi Lê Bá Ly là Tả Ngự Hầu giữ Vệ cẩm y. Một thông gia khác của Lê Bá Ly là Đổng Giáng Hầu là Bùi Trụ, giữ chức Tán lý quân vụ.
Phạm Giao cả sợ:
-Thế lực nhà Lê Bá Ly quá nhiều và lớn, tay chân giăng khắp triều đình, ai dám đụng đến?
Phạm Quỳnh nói:
-Quả như thế. Ta đã nói điều đó với Khiêm Vương Mạc Kính Điển. Điển tái mặt đáp:
-Thân phụ chớ đụng đến nhà ấy. Thế lực rất to lớn. Vả lại nhà Lê Bá Ly là trụ cột, chỗ dựa của triều đình. Trong cuộc tranh đoạt ngôi vị vừa qua, ta đã mất đi những tướng giỏi như Phạm Tử Nghi và con ông ta là Phạm Tử Lưu, mất đi những hoàng thân quan trọng như Mạc Chính Trung, Mạc Văn Minh và hàng vạn quân tinh nhuệ của nhà Mạc. Ta đang muốn chinh phạt Lê Trung Hưng nhưng lực lượng tướng lĩnh thiếu hụt chưa bù đắp được. Mong nghĩa phụ lấy xã tắc làm trọng, không nên ghen ghét gây ra một cuộc biến loạn nữa.
Phạm Giao nói:
-Vì giang sơn xã tắc nhà Mạc nhưng nhìn nhà Lê Bá Ly giàu sang quyền thế hơn nhà ta, con không thể nuốt trôi cục tức này.
Phạm Quỳnh nói;
-Con đừng để cục hận đó làm gầy hao sức khỏe, ta đã có cách.
-Cách gì thưa cha?
-Mai ta vào nói với Mạc Tuyên Tông rằng Lê Khắc Thận, con Lê Bá Ly ở Sơn Nam có ý làm phản. Hắn đã cho xây cung điện gọi là Long Phượng Thành, đóng kiệu vàng tán vàng để đi lại. Thận còn nói ngai vàng của nhà Mạc sắp chuyển sang nhà Lê Bá Ly. Sau đó cha sẽ xin Mạc Tuyên Tông đi bắt giữ nhà Lê Bá Ly.
Phạm Giao cả sợ:
-Vu cáo đại thần là tội chết. Vả lại vua Mạc Tuyên Tông có nghe cha không?
-Vua trẻ con bao giờ chả đa nghi và sợ bị cướp ngôi. Cứ trông vua Lê Chiêu Tông nhà Lê Sơ, toàn nghe bọn gian thần dèm pha tự giết Trần Chân và nhiều đại thần khác là tay chân của mình. Cuối cùng bị Mạc Thái Tổ giết chết.
-Cha này, cha tự cho mình là gian thần sao?
Phạm Quỳnh cười:
-Ha!ha!ha!...Trong chính trị không làm được trung thần thì phải làm gian thần. Ta không làm được trung thần thì cũng phải phải làm gian thần để tồn tại.Ha!ha!ha!...
Hôm sau, Phạm Quỳnh vào gặp Mạc Tuyên Tông và nói:
-Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.
-Bình thân, đây có phải thiết triều ở cung Càn Nguyên đâu mà khanh hành lễ. Khanh vào gặp trẫm có việc gì vậy?
-Hoàng thượng anh minh, thần có việc quan trọng liên quan đến ngai vàng của hoàng thượng, của nhà Mạc ta.
-Việc gì mà quan trọng vậy?
-Dạ, bẩm hoàng thượng, quan trấn thủ Sơn Nam Lê Khắc Thận, phò mã nhà Mạc, con của Thái tể Lê Bá Ly có ý làm phản, đã xây cung điện gọi là Tử Cấm Thành, dùng kiệu vàng tán vàng khi đi lại, còn nói ngai vàng nhà Mạc sắp sang nhà Lê Bá Ly.
Mạc Tuyên Tông cả sợ:
-Thế lực nhà Lê Bá Ly rất lớn, nếu làm phản thì nhà Mạc nguy to. Bay đâu.
-Dạ, bẩm hoàng thượng.
-Đi gọi khiêm Vương Mạc Kính Điển đến đây ngay.
Phạm Quỳnh nói:
-Dạ bẩm hoàng thượng, Khiêm Vương đang đi kinh lý miền An Bang rồi ạ.
Mạc Tuyên Tông lúng túng:
-Khiêm Vương đi vắng, ái khanh có kế gì hay không?
Phạm Quỳnh đáp:
-Thần vì hoàng thượng, vì nhà Mạc, đêm nay thần sẽ đem quân vây bắt cả nhà Lê Bá Ly.
-Quân bản bộ của Khanh làm sao chống nổi lực lượng Lê Bá Ly?
-Nửa đêm bất ngờ bao vây tư dinh, Lê Bá Ly không kịp điều động quân bản bộ, chắc bó tay chịu trói.
Mạc Tuyên Tông nói:
-Trẫm chờ tin vui của ái khanh.
-Dạ, đa tạ hoàng thượng.
Cũng trưa hôm đó sau bữa cơm Lê Bá Ly đang ngồi uống trà, có một gia nhân tên là Đồi Mồi vào báo:
-Dạ bẩm chủ nhân, con có chơi thân với một gia nhân nhà Phạm Quỳnh nên nó bảo con trao bức thư này cho Thái tể. Nó nói nếu chậm trễ thì chết cả nhà.
Lê Bá Ly vội mở thư và đọc. Thư viết: “Đêm nay, Phạm Quỳnh, Phạm Giao, Đặng Văn Trị, Nguyễn Văn Thái vâng lệnh Mạc Tuyên Tông sẽ đem quân bao vây bắt cả nhà ngài và nhà Thượng thư Nguyễn Thiến với tội danh phản nghịch nhà Mạc. Mong Thái tể sớm định liệu”. Lê Bá Ly đọc xong thư thất kinh, vội gọi:
-Người đâu.
-Dạ, bẩm Thái tể.
-Ngươi vào bảo tổng quản đem cho ta 20 lạng vàng ra đây nhanh lên.
-Dạ, tuân lệnh Thái tể.
Một lát sau, 20 lạng vàng được đưa ra. Lê Bá Ly nói với Đồi Mồi:
-Ta cảm ơn con đã cứu mạng gia đình ta. Rồi đây gia đình ta sẽ gặp nạn ly tán. Con cầm số 10 lạng vàng nay về quê lập nghiệp, còn 10 lạng con trao lại cho người bạn con bên phủ Phạm Quỳnh, nói rằng ta tạ ơn cứu mạng.
Đồi Mồi quỳ lạy và nói:
-Con và bạn con đa tạ tướng công Thái tể. Con xin cáo biệt…
Lê Bá Ly nói:
-Thôi đi đi con. Cáo biệt…
Bóng Đồi Mồi khuất ra cổng xa dần. Lê Bá Ly gọi:
-Bay đâu.
-Dạ.
-Cầm bức thư này đưa tận tay Thượng thư Nguyễn Thiến, trao xong, cầm thư của Thượng thư về đây lấy thưởng 10 lạng vàng, rõ chưa?
-Dạ, con rõ rồi.
Sau khi nhận được thư của Nguyễn Thiến, Lê Bá Ly lấy vàng trao cho tên gia nhân và cho nó về quê. Ngay chiều hôm đó, Lê Bá Ly cho gia đình vào trại quân ở Hồng Mai. Nguyễn Thiến cũng đem toàn bộ gia đình đến đây. Nguyễn Thiến nói:
-Trong khi Khiêm Vương còn dẹp loạn dư đảng Phạm Tử Nghi ở Quảng Ninh thì bọn Phạm Quỳnh vu cáo nhằm diệt đại thần. Vua Mạc Tuyên Tông còn trẻ đã nghe bọn gian thần. Nay ta định liệu thế nào thưa Thái tể?
Lê Bá Ly nói:
-Ngoài quân bản bộ, tại hạ còn điều động thêm quân của Nguyễn Quyện, của Vạn An Hầu, của nghĩa tử Tả Ngự Hầu, mỗi người 3000 quân, tổng cộng được 1,5 vạn quân. Ta chia quân làm hai cánh, một cánh do tại hạ chỉ huy mai phục ở tư dinh Thái tể, một cánh do Nguyễn Quyện chỉ huy mai phục ở phủ Thượng thư. Khi bọn Phạm Quỳnh, Phạm Giao đến, ta bao vây lại mà đánh chắc là diệt được chúng.
Nguyễn Thiến nói:
-Thải tể nên điều quân của Lê Khắc Thận ở Sơn Nam về, kể cả quân của Nguyễn Khải Khang đề phòng vua Mạc Tuyên Tông điều động quân ở Sơn Tây, Kinh Bắc về đánh chúng ta.
Lê Bá Ly nói:
-Thượng thư nói phải lắm.
Lê Bá Ly liền viết thư cho người mang đến Sơn Nam điều động binh mã.
Lại nói nửa đêm theo kế hoạch Phạm Quỳnh, Đặng Văn Trí chia quân bí mật bao vây phủ thượng thư của Nguyễn Thiến, còn một đạo do Phạm Giao và Nguyễn Văn Thái chỉ huy bí mật bao vây tư dinh của Thái tể Lê Bá Ly. Quân của Nguyễn Văn Thái và Phạm Giao vẫn thấy trong nhà sáng rực ánh đèn. Phạm Giao cho 1 vạn quân xông vào tư dinh của Lê Bá Ly nhưng trong nhà không một bóng người, còn đang ngạc nhiên thì bị hàng nghìn quân của Lê Bá Ly mai phục nã tên đạn xuống như mưa. Quân Phạm Giao chết như ngã rạ, sau đó quân Lê Bá Ly xông ra chém giết. Phạm Giao, Nguyễn Văn Thái đại bại, mở đường máu chạy thoát sang Bồ Đề. Bên phủ thượng thư, quân của Phạm Quỳnh và Đặng Văn Trí cũng thấy đèn sáng trưng liền xông vào biệt phủ không người, bị quân mai phục bắn gục hàng nghìn lính và sau đó quân mai phục xông ra chém giết. Phạm Quỳnh, Đặng Văn Trí liều chết chạy được sang Gia Lâm. Kinh thành náo loạn trong đêm. Quân của Lê Bá Ly tràn sang phủ của Phạm Quỳnh, Phạm Giao đốt phá, giết hết cả nhà Quỳnh, Giao không một ai sống sót. Mạc Tuyên Tông đang đêm cũng bỏ kinh thành chạy sang Bồ Đề vì sợ Lê Bá Ly đánh tràn vào Long Phượng Thành. Sớm hôm sau, Lê Bá Ly và Nguyễn Thiến đang ngồi trong tổng hành dinh thì có tùy tướng vào báo:
-Dạ, bẩm Thái tể, có sứ giả của hoàng thượng xin vào gặp.
-Cho vào.
-Dạ.
Sứ giả là nội quan vào nói:
-Thái tể Lê bá Ly và Thượng thư Nguyễn Thiến tiếp chỉ.
Lê Bá Ly và Nguyễn Thiến vội hành lễ, Nội quan đọc: “Phụng thiên thừa vận, hoàng đế chiếu viết: Nay lệnh cho Lê Bá Ly và Nguyễn Thiến bãi binh để tỏ lòng trung và để bách tính kinh thành yên ổn làm ăn, không để binh đao làm náo loạn. Khâm thử. Niên hiệu Cảnh Lịch năm thứ 6”.
Lê Bá Ly nhận chỉ nhưng nói:
-Thần tuân chỉ, nhưng nội quan về nói với hoàng thượng phải đem nộp hai cha con Phạm Quỳnh và Phạm Giao thần mới bãi binh.
Nội quan nói:
-Bản quan sẽ nói với hoàng thượng về đề đạt của Thái tể, nhưng hoàng thượng không nghe thì Thái tể tính sao?
-Ta sẽ không bãi binh.
Quả nhiên Mạc Tuyên Tông không nghe, lại còn triệu các tướng Sơn Tây là Anh Duệ Hầu và Giáp Văn Hầu kéo quân về Đông Kinh đánh Lê Bá Ly và Nguyễn Thiến. Hai tướng kéo quân về đến Từ Liêm đã thấy quân Lê Bá Ly dàn trận. Lê Bá Ly mặc chiến bào đỏ, áo giáp sắt, đội mũ đâu mâu sắt, cưỡi con ngựa màu nâu cao lớn, tay cầm đại đao. Bên tả là con rể Nguyễn Quyện, con trai của thượng thư Nguyễn Thiến, bên hữu là con trai Lê Khắc Thận đều là những danh tướng của nhà Mạc. Anh Duệ Hầu và Giáp Văn Hầu cũng dàn trận. Anh Duệ Hầu nói:
-Kính chào Thái tể, lão tướng đại thần của triều đình xá gì hai cha con gian thần Phạm Quỳnh, Phạm Giao mà động binh cho mang tiếng bất trung, lại làm tổn thất binh lực của triều đình, trong khi đó Nam Triều đang xâm phạm bờ cõi, đó là nguy cơ lớn nhất của đất nước. Mong Thái tể nghĩ cho triều đình, cho đất nước.
Lê Bá Ly nói:
-Ta đã lập bao công lao cho nhà Mạc. Đối ngoại, ta đã làm cho Minh Thế Tông công nhận Mạc Tuyên Tông. Vậy mà hoàng thượng lại đi nghe bọn bần tiện nhỏ nhen ăn không ngồi rồi đặt điều vu cáo, lại cho phép Phạm Quỳnh đang đêm động binh bao vậy định giết cả nhà ta và nhà Thượng thư Nguyễn Thiến. Nếu như tướng quân thì tướng quân xử lý thế nào? Tướng quân chịu để cho cả nhà bị giết oan chăng?
Giáp Văn Hầu nói:
-Vậy thì Thái tể nói với hoàng thượng giao Phạm Quỳnh và Phạm Giao cho Đại lý tự xử theo tội vu cáo đại thần là được.
-Ta đã đề đạt hoàng thượng giao hai cha con họ cho ta, hoàng thượng không nghe, lại còn điều động hai tướng quân đem quân về đánh ta.
-Cha con Phạm Quỳnh, Phạm Giao phạm tội nhưng hai mạt tướng không thể không tuân chỉ hoàng thượng. Thái tể và quan Thượng thư thông cảm. Bay đâu.
-Có mạt tướng.
-Xông ra bắt Thái tể cho ta.
Một tướng trong hàng quân xông ra, cưỡi ngựa đen, tay múa giáo dài. Nhìn kỹ thì đó là Đỗ Bá, tùy tướng của Giáp Văn Hầu. Nguyễn Quyện bên hàng quân Lê Bá Ly xông ra tiếp chiến, chỉ 5 hiệp, đầu của Đỗ Bá đã rơi xuống đất. Lê Bá Ly trỏ đại đao thét:
-Xông lên giết.
Quân hai bên hò reo giáp chiến, đầu rơi như bổ dưa, máu chảy như suối, đỏ đất Từ Liêm. Thốt nhiên, hàng quân của Anh Duệ Hầu, Giáp Văn Hầu rối loạn. Thì ra quân của Nguyễn Khải Khang do tùy tướng Đông Khang Sơn chỉ huy đến giúp Lê Bá Ly đã đánh tập hậu quân của Giáp Văn Hầu, Anh Duệ Hầu. Quân hai tướng tan vỡ, phá vây tháo chạy. Thừa thắng, Lê Bá Ly truy kích đến Cấu Hà, sai người đến bảo Mạc Tuyên Tông nộp hai cha con Phạm Quỳnh, Phạm Giao sẽ bãi binh. Mạc Tuyên Tông không nghe, đem xa giá chạy về Dương Kinh. Lê Bá Ly tức giận nói:
-Vua Mạc Tuyên Tông chỉ vì hai tên gian thần chứ không vì triều đình và đất nước, càng không vì đại thần. Người xưa nói: “Chim khôn chọn cây mà đậu, người hiền chọn chủ mà thờ”. Đã vậy ta đem quân về theo Nam Triều. Không biết ý quan Thượng thư thế nào?
Trịnh Kiểm đến Đông Bộ Đầu quan sát chuẩn bị vượt sông tấn công sang Gia Lâm. Trịnh Kiểm thấy thủy binh Mạc đậu thành thế trận kín đặc dòng sông Hồng với tên đạn, hỏa pháo sẵn sàng đánh trả. Bên kia sông là chiến lũy bằng đất có đến 6 vạn quân canh giữ. Các cầu phao trên sông đã bị phá hủy. Cầu không có, quân Lê lại không có chiến thuyền. Nếu đánh sang Gia Lâm thì cực kỳ khó khăn và tổn thất lớn.
Nguyễn Ư Dĩ: Người nuôi dạy chúa Tiên Nguyễn Hoàng, góp công mở cõi.
Nguyễn Ư Dĩ hay còn gọi là Nguyễn Ư Kỷ, tự là Vô Sự. Tổ tiên ông vốn là người huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương, sau dời vào Thanh Hóa. Ư Kỷ là con Nguyễn Kính Diện - Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Thự vệ sự đời Lê. Vợ của Nguyễn Kim (cha chúa Tiên Nguyễn Hoàng) là em ruột của ông. Ư Kỷ làm quan nhà Lê tước đến Thái phó Uy quốc công. Nguồn: Internet
Trịnh Kiểm trở lại hành dinh trong hoàng thành, một tháng sau vẫn không nghĩ ra cách tấn công sang Bồ Đề vì không có thủy binh. Thủy binh là một thế mạnh của nhà Mạc. Thiếu thủy binh là một yếu điểm của quân Lê. Chợt có quan phụ trách lương thực vào báo:
-Dạ bẩm Tiết chế, không cho phép lấy của dân nuôi quân nên lương thực đã gần cạn rồi ạ.
Lại có thám mã vào cấp báo:
-Dạ, thủy binh Mạc do Mạc Kính Điển trực tiếp chỉ huy đang tiến vào Thanh Hóa ạ.
Trịnh Kiểm nói:
-Sắp hết lương thực, giặc thừa cơ quân chủ lực ta ra Đông Kinh tấn công Thanh Hóa. Ta ra lệnh nhanh chóng rút quân về cứu Thanh Hóa.
Trịnh Kiểm gọi:
-Bay đâu.
-Dạ.
-Ngươi chạy ngựa gấp đưa thư này cho tướng Lại Thế Khanh, càng nhanh càng tốt
-Dạ, tuân lệnh Tiết chế.
Lại Thế Khanh nhận được thư, giở thư đọc. Thư viết: “ Tướng quân đem 2 vạn quan chặn cửa biển Lạch Trường, đồng thời cử Nguyễn Quyện, Nguyễn Hữu Liêu đem quân mai phục ở sông Đáy và sông sông Hoàng Giang tiêu diệt quân Mạc Kính Điển.
Lại Thế Khanh lập tức triển khai quân như lời Trịnh Kiểm dặn.
Lại nói quân của Mạc Kính Điển vào cửa biển Thần Phù, chuẩn bị đổ bộ vào Lạch Trường tiến lên đánh Tây Đô theo đường sông Mã, chợt có thám mã về báo:
-Dạ bẩm Nhiếp chính vương, Trịnh Kiểm nghe quân ta tiến vào Thanh Hóa đã rút quân khỏi Đông Kinh về Thanh Hóa.
Mạc Kính Điển nói:
-Nay ta vào Tây Đô mà bị quân Lại Thế Khanh đánh mặt trước, Trịnh Kiểm đánh mặt sau thì quân ta lâm nguy. Cửa biển Lạch Trường đã có phòng thủ kiên cố. Chi bằng ta kéo quân mai phục ở Hoa Lư tiêu diệt quân Trịnh Kiểm đang trên đường rút về là thượng sách.
Nguyễn Kính nói:
-Khiêm Vương nói phải lắm.
Mạc Kính Điển liền ra lệnh cho chiến thuyền chở 5 vạn quân đi ra rẽ vào cửa Đại An, vào sông Đáy và tiến vào sông Hoàng Giang, quân Mạc ghé thuyền vào bến đổ bộ lên bờ. Thốt nhiên, có nhiều phát tên châm lửa bắn lên trời, tiếp theo là những trận mưa tên từ các rừng cây rậm rạp bắn ra xối xả vào quân Mạc. Hàng nghìn quân Mạc trúng tên chết chồng chất lên nhau. Sau những trận mưa tên là mưa gạch, đá, chất cháy ném xuống dòng sông và ném xuống chiến thuyền. Một số chiến thuyền ven bờ bốc cháy. Mạc Kính Điển biết là bị mai phục, sợ bị đánh hỏa công nên ra lệnh rút xuống thuyền chạy vội ra cửa Đại An, thoát về Bắc, bỏ lại 1 vạn xác chết quân Mạc trên bờ Hoàng Giang, Ninh Bình.
* *
*
Năm 1558, kinh đô lâm thời của Nam Triều Vạn Lại-An Trường, đêm mùa hè nóng nực, trong tư dinh, Thái sư Tiết chế Trịnh Kiểm không ngủ được. Ngài đang suy nghĩ một việc quan trọng, liên quan đến quốc gia và đến cả quan hệ gia đình. Đó là lời thỉnh cầu của Đoàn Quận Công Nguyễn Hoàng xin được vào trấn thủ Thuận Hóa.
Số là Thái sư Hưng Quốc Công Nguyễn Kim có ba người con, trưởng nữ là Nguyễn Thị Ngọc Bảo, trưởng nam là Nguyễn Uông, thứ là Nguyễn Hoàng. Nguyễn Kim là một trong những khai quốc công thần khai sinh ra triều Lê Trung Hưng. Trịnh Kiểm là người có tài thao lược, lại gặp được Nguyễn Kim là người biết trọng dụng nhân tài, đã cất nhắc Kiểm lên hàng Đại tướng, lại còn gả Nguyễn Thị Ngọc Bảo cho Kiểm dù Kiểm đã có chính thất là Lại Thị Ngọc Trân, con gái khai quốc công thần Lê Trung Hưng Lại Thế Vinh. Trong thời thế loạn lạc, có tài mà không được trọng dụng cũng coi như bỏ đi. Cho nên Trịnh Kiểm rất nhớ ơn nhạc phụ Nguyễn Kim, không nề hà xuất thân nghèo hèn của Kiểm, đưa Kiểm đứng vào hàng ngũ đại thần. Chẳng may, năm 1545 Nguyễn Kim bị hàng tướng nhà Mạc Dương Chấp Nhất đầu độc chết. Không lâu sau trong một trận giao chiến với quân Mạc, Tả tướng Lãng Quận Công Nguyễn Uông tử trận. Nhưng trong thiên hạ dị nghị rằng cái chết của Nguyễn Uông là do Trịnh Kiểm sắp đặt để chiếm quyền lực. Thực ra trước khi từ trần chính Nguyễn Kim đã di mệnh lại rằng người kế thừa Thái sư và Tiết chế là Trịnh Kiểm, điều đó đã nói lên Nguyễn Kim đã đặt quyền lợi của Lê Trung Hưng lên trên quyền lợi gia đình, mặt khác cũng nói lên Nguyễn Kim biết rõ tài năng của Trịnh Kiểm, người có khả năng đưa cuộc kháng chiến chống Mạc của Lê Trung Hưng đến thắng lợi. Di mệnh của Nguyễn Kim được nhiều đại thần chứng kiến. Cho nên buổi thiết triều đầu tiên sau đám tang Nguyễn Kim, các đại thần và vua Lê Trang Tông đã nhất trí cử Trịnh Kiểm là Thái sư Tiết chế quân thủy bộ, nắm quyền quân quốc trọng sự, quyền dân chính và quyền quân sự. Mọi quyền lực đã vào tay, vậy Trịnh Kiểm còn giết Nguyễn Uông để làm gì.
Sau cái chết của Nguyễn Uông, quan hệ giữa Nguyễn Hoàng và Trịnh Kiểm vẫn bình thường. Trịnh Kiểm vẫn quý mến Nguyễn Hoàng và giao cho nhiều trọng trách, chỉ huy nhiều trận đánh quan trọng và lập được nhiều công lao. Nhưng trong một lần trò chuyện với Nguyễn Ư Dĩ, cậu của Nguyễn Hoàng, Đại thần của Nhà Lê Trung Hưng, người có công nuôi dạy Nguyễn Hoàng sau khi Nguyễn Kim mất. Nguyễn Ư Dĩ nói:
-Muốn biết tương lai của cháu và của dòng họ Nguyễn như thế nào thì nên đến thỉnh giáo Trình Quốc Công Thái bảo Nguyễn Bỉnh Khiêm, trạng nguyên nhà Mạc thì rõ.
Nguyễn Hoàng cả mừng hỏi:
-Trình Quốc Công nay ở đâu cậu? Ngài ta có tài dự báo tương lai số phận con người thực sao?
-Trình Quốc Công nay về trí sĩ ở quê nhà là làng Trung Am, Phủ Hạ Hồng, trấn Hải Dương. Năm 1535, Nguyễn Bỉnh Khiêm đỗ Trạng Nguyên đời Mạc Thái Tông, niên hiệu Đại Chính thứ 6. Đã từng giữ các chức vụ Đông Các Hiệu Thư, Tả thị lang bộ hộ và sau này là bộ hình kiêm Đông các Đại học sĩ. Dưới thời Mạc Hiến Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm dâng sớ xin vua trừng trị 18 tên lộng thần, trong đó có cả Phạm Giao là rể ông. Vua Mạc không nghe, ông xin về làm trí sĩ năm 1542 sau 8 năm ở triều chính nhà Mạc. Ông nổi tiếng trong thiên hạ về thuật dự báo.
NguyễnHoàng nói:
-Cậu hãy vì họ Nguyễn mà bí mật đi gặp Trình Quốc Công một chuyến được không?
-Ta sẽ đi.
Rồi Nguyễn Ư Dĩ bí mật từ Vạn Lại-An Trường Thanh Hóa đi về quê Nguyễn Bỉnh Khiêm. Người nhà vào báo:
-Bẩm ông, có đại thần nhà Lê Trung Hưng Nguyễn Ư Dĩ muốn vào gặp.
-Cho vào.
Nguyễn Ư Dĩ bước vào, trông thấy một ông già râu tóc dài trắng như cước, khuôn mặt hồng hào quắc thước, mắt sáng như sao. Ông già đứng chắp tay sau lưng ung dung ngắm hòn non bộ giữa sân. Nguyễn Ư Dĩ chắp tay hành lễ:
-Xin kính chào Trình Quốc công, Thái bảo trạng nguyên tiên sinh.
Nguyễn Bỉnh Khiêm không đáp lễ, cũng không mời Nguyễn Ư Dĩ vào nhà tiếp trà như phong tục chủ khách mà chỉ nói:
-Không dám, đại nhân khó nhọc từ Thanh Hóa đến đây là vì Nguyễn Hoàng. Hãy nhớ kỹ câu này mà hành sự: “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”.
Ngâm xong câu thơ, Nguyễn Bĩnh Khiêm khoát tay và đi vào vườn sau, không nhìn Nguyễn Ư Dĩ nữa. Nguyễn Ư Dĩ chắp tay:
-Đa tạ tiên sinh.
Nguyễn Ư Dĩ về đem câu thơ đọc cho Nguyễn Hoàng nghe. Nguyễn Hoàng hỏi:
-Thế nghĩa là thế nào?
Nguyễn Ư Dĩ đáp:
-Thế có nghĩa là một dãy Hoành Sơn có thể dung thân muôn đời.
Nguyễn Hoàng suy nghĩ, đập tay vào trán chợt thốt lên:
-Cháu hiểu ra rồi.
-Cháu hiểu như thế nào?
Phía cực Nam Hà Tĩnh có dãy núi gọi là Hoành Sơn, Vượt qua nó là đến miền Thuận Hóa. Ý câu thơ này là nếu vào phía trong dãy Hoành Sơn, tức là miền Thuận Hóa lập nghiệp thì sẽ phát tích cơ nghiệp muôn đời. Cậu xem cháu giải mã câu thơ của Trạng Trình có đúng không và nếu đúng thì có nên vào Thuận Hóa không?
Nguyễn Ư Dĩ nói:
-Nếu cháu muốn độc lập với họ Lê- Trịnh và phát tích đế vương thì nên vào.
-Cậu nói đúng chí khí và ước mơ của cháu. Cháu cho rằng không nên nhờ dưới trướng của anh rể lâu, không phát huy được tài trí và chí khí của mình.
Nguyễn Ư Dĩ uống một ngụm chè và đắn đo:
-Vào miền đất đó tương lai chưa rõ nhưng trước mắt có nhiều gian khổ cam go, thậm chí hy sinh nữa.
-Cháu không sợ gian khổ hiểm nguy. Đã mưu việc lớn thì phải vượt qua gian khổ, thậm chí đổi cả tính mạng. Cháu chỉ sợ Thái sư Tiết chế không cho đi.
Nguyễn Ư Dĩ nói:
-Có một cách tác động đến Trịnh Kiểm khiến ngài ta đồng ý.
-Cách gì cậu?
-Nhờ chị cháu là Nguyễn Thị Ngọc Bảo nói thêm vào.
-Hay lắm, cháu sẽ nói với chị ấy trước khi nói với Thái sư Tiết chế Trịnh Kiểm.
* *
*
Một buổi sáng trong dinh Thái sư Tiết chế, Trịnh Kiểm vừa ăn sáng đang ngồi uống trà thì có tùy tướng vào báo:
-Dạ bẩm Thái sư Tiết chế, có Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng muốn vào gặp.
-Cho vào.
-Dạ.
Nguyễn Hoàng bước vào chắp tay hành lễ:
-Xin kính chào Thái sư Tiết chế.
Trịnh Kiểm khoát tay:
-Người nhà, miễn hành lễ. Cậu ngồi đi. Bay đâu rót nước mời cậu.
-Dạ.
Sau khi Nguyễn Hoàng cạn bát nước trà, Trịnh Kiểm hỏi:
-Cậu lại đây có việc gì không?
Nguyễn Hoàng nói:
-Dạ bẩm huynh, đệ đúng là có chuyện muốn đề đạt với huynh.
Trịnh Kiểm ngạc nhiên và lo lắng:
-Có việc gì cậu cứ nói:
Nguyễn Hoàng cố nói cho rành rọt:
-Dạ, Kể từ khi phụ thân chẳng may qua đời, đệ được sự quan tâm giúp đỡ của huynh nhiều. Cho nên đệ không lúc nào là không chia sẻ công việc quốc gia nặng nề mà huynh đang gánh vác, không lúc nào là không lo nghĩ an nguy của triều Lê Trung Hưng. Hiện nay, thế lực nhà Mạc rất mạnh. Chúng còn có mưu đồ nhòm ngó lấy đất Thuận Hóa để tạo thế gọng kìm Nam đánh ra, Bắc đánh vào để tiêu diệt Nam Triều ta. Nhỡ ra Thuận Hóa thuộc về nhà Mạc thì chúng ta sẽ hai đầu thọ địch, thế của Lê Trung Hưng sẽ rất nguy nan. Cho nên đệ muốn xin vào trấn thủ Thuận Hóa, quyết biến vùng đó thành vùng đất vững chắc, mở rộng lãnh thổ Nam Triều ta đến hết miền Trung, phá tan thế gọng kìm của địch thì lo gì không chiến thắng nhà Mạc.
Trịnh Kiểm nói:
-Cậu nói chính hợp ý ta nhưng lại không hợp ý ta. Hợp ý ta là ở chỗ mảnh đất Thuận Hóa đúng là rất quan trọng nhưng cho đến nay ta vẫn không có một tướng tài nào để ổn định vững chắc. Nếu nhà Mạc lấy được thì Nam Triều ta nguy khốn. Nhưng miền đất đó cũng rất hiểm địa và nhiều bất trắc, cần một tướng tài giỏi mới ổn định được. Còn không hợp ý ta là ta không thể cho cậu vào đó được. Cậu là đệ của ta, người một nhà, không thể để cậu vào nơi gian nan nguy hiểm. Chị Ngọc Bảo cũng không đồng ý cho cậu đi đâu.
Vừa khi đó có tùy tướng vào báo:
-Dạ bẩm Thái sư Tiết chế, có phu nhân Ngọc Bảo xin vào gặp.
Trịnh Kiểm ngạc nhiên nhưng cũng nói:
-Cho phu nhân vào.
Nguyễn Thị Ngọc Bảo đi vào, thướt tha và xinh đẹp rực rỡ như tiên giáng trần. Theo sau là hai thị nữ. Ngọc Bảo cúi đầu chào Trịnh Kiểm:
-Thiếp xin chào tướng công.
Nguyễn Hoàng vội hành lễ:
-Đệ xin kính chào chị.
Trịnh Kiểm nói:
-Nương tử tới thật đúng lúc, ta cũng đang cần gặp nàng. Đệ Nguyễn Hoàng đang xin ta vào trấn thủ Thuận Hóa. Cậu ấy lo lắng nếu không có tướng tài vào ổn định Thuận Hóa, nếu rơi vào tay nhà Mạc thì nguy cho Nam Triều. Nhưng đó là đất hiểm địa, nhiều tai biến khôn lường và nguy hiểm. Nguyễn Hoàng là người nhà, ta không cho vào nhưng cậu ấy nhất quyết xin vào. Ta đang định hỏi ý kiến nàng.
Nguyễn Thị Ngọc Bảo đáp:
-Thiếp là phận nữ nhi, không màng tới chiến tranh và thế sự. Đa tạ tướng công đã vì em thiếp mà hỏi tới. Thần thiếp nghĩ rằng cậu Hoàng là đấng nam nhi, có chí lo cho nước nhà như vậy cũng không nên ngăn cản. Vả lại đất Thuận Quảng là quan trọng cho Nam Triều, cho Lê-Trịnh thì không chỉ cần một tướng tài ba mà còn cần một tướng trung thành với hoàng thượng, với Thái sư Tiết chế thì mới bảo đảm an toàn cho Nam Triều, mới khỏi nhọc lòng cho tướng công lo cho miền đất xa xôi để tướng công tập trung sức lực đánh bại nhà Mạc ở miền Bắc. Đó là kế vẹn toàn mà chỉ cậu Hoàng mới làm được. Mong tướng công soi xét và cho cậu ấy đi.
Trịnh Kiểm vô cùng kinh ngạc trước những lời nói chí lý của Ngọc Bảo. Trịnh Kiểm nói:
-Ta chỉ sợ khó khăn và nguy nan cho cậu ấy. Vả lại ta rất sợ người đời bảo ta đẩy em vợ vào nơi hiểm địa với ý đồ này, ý đồ khác. Nay nếu cậu ấy quyết tâm và phu nhân đã đồng ý thì ta cũng tạo điều kiện cho cậu Hoàng vào đó tung hoành một phen cho thỏa chí. Nếu chán muốn ra Bắc với ta thì ta sẽ cho ra ngay. Đường công danh luôn đón chờ rộng mở cho cậu ấy.
Nguyễn Thị Ngọc Bảo nói:
-Thần thiếp đa tạ tướng công.
Nguyễn Hoàng cũng chắp tay nói:
-Đa tạ huynh.
Trịnh Kiểm nói:
-Thôi, Phu nhân về dinh đi. Ta sẽ cùng cậu Hoàng vào yết kiến hoàng thượng để hoàng thượng ra chiếu chỉ bổ nhiệm.
Trịnh Kiểm dẫn Nguyễn Hoàng vào gặp vua Lê Anh Tông. Vua thiết triều ở điện Trung Phủ ở kinh đô Vạn Lại-An Trường. Vua Lê Anh Tông ngự trên ngai vàng. Nội quan vào báo:
-Dạ, bẩm hoàng thượng, có Thái sư Tiết chế Trịnh Kiểm và Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng vào yết kiến.
-Cho vào ngay.
-Dạ, thần tuân chỉ.
Tranh minh hao: Chúa tiên Nguyễn Hoàng
Nguyễn Hoàng (1525 – 1613) hay Nguyễn Thái Tổ, Chúa Tiên, là vị chúa Nguyễn đầu tiên, người đặt nền móng cho vương triều Nguyễn. Chúa Nguyễn Hoàng quê ở thôn Gia Miêu, xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Ông nội (Nguyễn Hoằng Dụ) và cha ông (Nguyễn Kim) Nguyễn Hoàng đều là những trọng thần của triều đình nhà Hậu Lê. Nguồn: Internet.
Trịnh Kiểm và Nguyễn Hoàng quỳ hành lễ:
-Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.
Vua Lê Anh Tông:
-Miễn lễ, các ái khanh đứng dậy đi.
-Đa tạ hoàng thượng.
-Thái sư Tiết chế có gì tấu chăng?
Trịnh Kiểm nói:
-Dạ bẩm hoàng thượng, miền đất từ dãy Hoành Sơn trở vào Quảng Nam thuộc đất Đại Việt ta từ thời Trần, thời Lê Sơ đã đặt đơn vị hành chính và đặt tam ty cai quản. Cho đến nay cơ sở của nhà Lê Trung Hưng ta ở miền đất ấy còn chưa vững chắc, lòng dân chưa yên. Nhà Mạc cũng đang nhòm ngó. Nếu để nhà Mạc đứng chân vững chắc ở miền đất đó, phía Nam Nam Triều của ta sẽ bị nguy ngập, đe dọa. Thần khẩn xin hoàng thượng cử Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng là một đại tướng tài năng vào làm trấn thủ, củng cố xây dựng chính quyền vững chắc, mở rộng lãnh thổ của Nam Triều đến tận Quảng Nam thì chúng ta càng thêm hùng mạnh, lo gì không đánh bại được nhà Mạc.
Vua Lê Anh Tông hỏi:
-Ý khanh thế nào, Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng?
Nguyễn Hoàng đáp:
-Dạ tâu hoàng thượng, là thần tự nguyện xin vào Thuận Hóa để góp phần hùng cường cho Lê Trung Hưng, cho sự thắng lợi của Nam Triều chống Mạc ạ.
Vua Lê Anh Tông nói:
-Khanh đúng là người lo chu toàn cho Nam Triều, cho xã tắc.
Rồi vua nói:
-Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng nghe chỉ:
-Nay phong Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng làm trấn thủ Thuận Hóa, ban cho trấn tiết, cờ tiết, ấn tín của quan trấn thủ, mọi công việc dân chính, hành chính, quân chính đều được toàn quyền quyết định, chỉ cần mỗi năm nộp đủ số lương thực do triều đình Nam Triều quy định là được. Quan trấn thủ Thuận Hóa được mang theo gia đình, thân tín, gia tướng, quân bản bộ và các tướng lĩnh do Đoàn Quận Công toàn quyền lựa chọn, bổ nhiệm.
Nguyễn Hoàng khấu đầu lễ tạ:
-Thần tuân chỉ, tạ ơn hoàng thượng.
Sau những bữa tiệc tiễn đưa, chia tay của gia đình Trịnh Kiểm và Nguyễn Thị Ngọc Bảo, tiệc tiễn đưa của bạn bè thân hữu, của chiến hữu, của đồng liêu, vào một ngày mùa hạ năm 1558, trên dòng sông Cầu Chày quanh Vạn Lại-An Trường xuất hiện khoảng 100 chiến thuyền chật dòng sông chở đầy những người và hành lý, đồ gia dụng, cờ bay phấp phới trong nắng. Đó là đoàn thuyền của Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng nhận lệnh vua Nam tiến vào Thuận Hóa. Bách tính ra tiễn đưa chật hai bờ sông có đến hàng nghìn, trong số đó có gia đình Trịnh Kiểm. Nguyễn Hoàng quỳ lạy bái biệt Trịnh Kiểm và chị là Nguyễn Thị Ngọc Bảo, Nguyễn Thị Ngọc Bảo gạt nước mắt tiễn biệt đứa em trai duy nhất còn lại. Nguyễn Hoàng ôm đứa cháu Trịnh Tùng, con của Trịnh Kiểm và Nguyễn Thị Ngọc Bảo rồi nói với anh chị:
-Cáo biệt, cáo biệt anh chị. Anh chị bảo trọng, Cháu Tùng bảo trọng.
Nguyễn Thị Ngọc Bảo nói trong nước mắt nức nở:
-Đệ bảo trọng.
Trên đoàn thuyền, ngưới ta thấy có các tướng Nguyễn Ư Dĩ, cậu Nguyễn Hoàng, Mạc Cảnh Huống, Văn Nhâm, Thanh Xuyên, Tường Lộc, Trường Trung, Vũ Thì An... Còn có hàng nghìn quân bản bộ, hàng nghìn đồng hương Thanh Hóa theo Nguyễn Hoàng vào lập nghiệp ở quê hương mới. Đoàn thuyền rời sông Cầu Chày, ra sông Chu, đi vào sông Mã, qua cửa Lạch Trường đi ra biển và hành trình về hướng Nam. Do thuận buồm xuôi gió nên một ngày một đêm đoàn thuyền đã vào cửa Việt Yên (Cửa Việt). Nguyễn Hoàng cho đổ bộ lên bờ, đóng trại ở gò Phù Sa, xã Ái Tử, huyện Vũ Xương (Triệu Phong) Quảng Trị và lập thủ phủ đầu tiên ở đây gọi là Dinh Ái Tử.
Ngày hôm sau, Lưu thủ Thuận Hóa Tống Phước Tri cùng đồng hương Tống Sơn Thanh Hóa với Nguyễn Hoàng đã đến Dinh Ái Tử dâng sổ sách cho Hoàng và theo phò tá cho trấn thủ mới. Có lẽ chỉ một mình Nguyễn Bĩnh Khiêm biết được rằng cuộc Nam tiến của Nguyễn Hoàng năm 1558 mở đầu cho cuộc Nam tiến lâu dài 200 năm để mở rộng lãnh thổ Đại Việt đến mũi Cà Mau. Nhưng không ai biết được rằng cuộc Nam tiến của Nguyễn Hoàng năm 1558 mở đầu cho những cuộc nội chiến mới thảm khốc về sau kéo dài cho đến đầu thế kỷ XIX.
* *
*
Đông Kinh, một sớm mùa hè năm 1569, Mạc Tuyên Tông đang ngồi thiết triều trong điện Càn Nguyên. Mạc Tuyên Tông nói:
-Cách đây mấy ngày ta đã nhận được tin cấp báo, quân Nam Triều do Trịnh Kiểm chỉ huy cùng các tướng Lê Bá Ly, Lê Khắc thận, Nguyễn Quyện, Hoàng Đình Ái đã tấn công các tỉnh Kinh Bắc, Lạng Sơn và Hải Đông. Đông Kinh, Dương Kinh của ta đang bị chấn động. Các ái khanh có kế sách gì hay chống giặc, bảo về Đông Kinh và Dương Kinh không?
Cả triều đình bá quan văn võ còn im lặng thì trạng nguyên Giáp Trừng bước ra:
-Thần xin có tấu.
Mạc Tuyên Tông nói:
-Trạng nguyên có kế sách gì hay không?
Giáp Trừng tâu:
-Dạ bẩm hoàng thượng, trước đây Trịnh Kiểm cũng đem hết quân chủ lực ra tấn công Đông Kinh, Thanh Hóa bỏ trống, Khiêm Vương Mạc Kính Điển đã đem quân tấn công Thanh Hóa, Trịnh Kiểm phải rút quân về và Đông Kinh được giải nguy. Nay hoàng thượng cho quân tấn công vào Vạn Lại-An Trường thì Trịnh Kiểm cũng tức khắc rút quân về về để cứu Kinh Đô, không khó nhọc gì mà Đông Kinh và Dương Kinh lại được giải vây ạ.
Mạc Nhân Phú nói:
-Thần có tấu.
-Vương tấu gì?
-Thần tán thành kế sách của trạng nguyên Giáp Trừng. Hoàng thượng nên hạ chỉ cho Nhiếp chính Khiêm Vương đem 5 vạn quân vào đánh Thanh Hóa, tức khắc giải vây được Đông Kinh và Dương Kinh, cứu được các tỉnh Lạng Sơn, Kinh Bắc, Hải Dương, Sơn Tây.
Mạc Tuyên Tông lo lắng:
-Trong khi đưa hết quân vào Thanh Hóa, Trịnh Kiểm cứ tấn công Đông Kinh thì làm sao?
Mạc Ngọc Liễn nói:
-Dạ hoàng thượng yên tâm, Đông Kinh và Dương Kinh mỗi nơi vẫn được 2 vạn quân phòng thủ. Vả lại khi nghe nói Vạn Lại-An Trường nguy biến, Trịnh Kiểm không còn bụng dạ nào ở lại tấn công Đông Kinh vì nơi đó là đầu não của Nam Triều, có vua Lê Anh Tông, có gia đình của Kiểm và hầu hết đại thần. Trịnh Kiểm không cứu không được.
Mạc Tuyên Tông nói:
-Các khanh nghe chỉ:
-Mạc Ngọc Liễn, Mạc Đôn Nhượng mỗi ngươi 2 vạn quân phòng thủ Đông Kinh và Dương Kinh.
-Thần tuân chỉ.
Mạc Phúc Sơn nghe chỉ.
-Thân vương đem khẩu dụ của ta ra An Biên lệnh cho Mạc Kính Điển, Nguyễn Kính, Nguyễn Áng đem 5 vạn quân tấn công Vạn Lại-An Trường của Nam Triều.
-Thần tuân chỉ.
Màn đêm bao phủ dày đặc khắp miền An Biên và Hải Dương. Sông Cấm cũng chìm trong màn đêm nhưng nước vẫn cuồn cuộn tuôn ra biển. Nhưng sông Cấm đêm nay không yên tĩnh. Trong đêm, 300 chiến thuyền chở 5 vạn quân Mạc bí mật tiến ra cửa Nam Triệu và hướng về Nam đi như bay. Sóng biển vẫn muôn thuở rì rầm vỗ vào mạn những con thuyền. Trưa hôm sau, quân Mạc tập kết ở cửa biển Thần Phù. Trong đêm hôm sau Mạc Kính Điển ra lệnh tấn công cửa biển Lạch Trường nhằm tiêu diệt quân Nam Triều do Lại Thế Khanh và Vũ Sư Thước chỉ huy.
Bình minh một ngày mới thường đến sớm trên biển. Mặt trời đỏ hồng bầu trời phía Đông và tròn vành vạnh. Sóng vỗ dồn dập vào cửa Lạch Trường và hòa vào nước sông Mã vẫn tuôn ra ào ạt hòa vào biển mênh mông. Trong hành dinh của quân đồn trú chấn giữ Lạch Trường, Vũ Sư Thước và Lại Thế Khanh vừa ăn sáng xong đang ngồi uống trà, chợt có thám mã về báo:
-Dạ, bẩm tướng quân, quân Mạc do Mạc Kính Điển chỉ huy đang ào ạt tiến đánh vào cửa Lạch Trường. Xin tướng quân quyết định.
Vũ Sư Thước nói:
-Thái sư Tiết chế đang đem quân Bắc phạt, Mạc Kính Điển dùng kế đánh Ngụy cứu Hàn. Chúng sẽ vào sông Mã, sông Chu, sông Cầu Chày đánh vào Vạn Lại -An Trường, buộc Trịnh Thái sư Tiết chế phải đem quân về cứu, Đông Kinh, Dương Kinh sẽ được giải nguy. Ý tướng quân thế nào?
Lại Thế Khanh nói:
-Quân ta ít, không thể giao chiến ở đây được, nếu ta bị tiêu diệt ở đây thì kinh đô sẽ thất thủ, phải lui về trong thung lũng bảo vệ Vạn Lại-An Trường. Mặt khác báo cho Thái sư Tiết chế kéo quân về, khi đó trong đánh ra ngoài đánh vào chắc phá được quân giặc.
Vũ Sư Thước nói:
-Tướng quân nói phải lắm.
Rồi gọi:
-Người đâu.
-Dạ.
-Ngươi chọn con ngựa thật khỏe phi gấp ra Sơn Tây nói với Thái sư Tiết chế rằng quân Mạc đang bao vây Vạn Lại-An Trường, mong Thái sư đem quân về cứu gấp.
-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.
Một hồi trống trận vang lên. 2 vạn quân Nam triều nhanh chóng lên thuyền theo sông Mã chạy về hướng Tây. Cùng lúc 300 chiến thuyền chở 5 vạn quan Mạc ào ạt như nước vỡ bờ xông vào cửa Lạch Trường nhưng không gặp một sức kháng cự nào. Mạc Kính Điển biết Vũ Sư Thước và Lại Thế Khanh đã rút về bảo vệ Vạn Lại-An Trường. Tiết chế quân Mạc ra lênh:
-Theo sông Mã vào sông Chu, Sông Cầu Chày công phá Vạn Lại- An Trường.
Tiếng quân sĩ dạ ran vang khắp biển Lạch Trường:
-Dạ, tuân lệnh Khiêm vương Nhiếp chính.
300 chiến thuyền buồm căng theo gió biển phi như bay về phía Tây sông Mã, tiếng trống khua vang động, sóng nước sông Mã bị thuyền rạch xé, nước tung lên như mưa sa bão táp. Chiều hôm đó thuyền quân Mạc tới sông Chu, vào sông Cầu Chày. Mạc Kính Điển nói với Nguyễn Kính:
-Tập trung toàn bộ binh lực đánh vào An Trường, sau đó tấn công Vạn Lại.
-Tuân lệnh Khiêm Vương Tiết chế.
300 chiến thuyền làm căn cứ cho bộ binh, thủy binh Mạc công phá An Trường. Quân Nam Triều ở An Trường chống cự yếu ớt. Quân Mạc dùng những cây gỗ to húc đổ cổng thành và từ bốn phía tràn vào nhưng An Trường chỉ là thành trì trống rỗng. Không một người lính, không một người dân, không một chút của cải lương thực. Có lẽ quân dân An Trường đã rút về Vạn Lại để tập trung lực lượng chiến đấu. Mạc Kính Điển ra lệnh:
-Không được đốt phá. Nếu lấy được Thanh Hóa thì nhà cửa cung điện đó là của ta. Ai vi phạm quân luật chém.
Nguyễn Kính nói với Mạc Kính Điển.
-Nhân lúc chúng còn hỗn loạn nên tấn công Vạn Lại ngay.
Mạc Kính Điển nói:
-Tướng quân nói phải lắm. Để 1 vạn quân coi thuyền và giữ An Trường, còn tất cả lên bờ tấn công Vạn Lại.
Nguyễn Kính dẫn 4 vạn quân tiến về Vạn lại. Mặt trời đã hửng sáng. Quân Mạc tiến đến núi Kim Sơn và chợ Ông Công, địa thế nơi đây hiểm trở, cây cối rậm rạp. Nguyễn Kính vẫn cứ cho hành quân vì cho rằng quân Nam Triều ít, run sợ đã chạy hết, không còn bụng dạ để mai phục. Bỗng nhiên những phát tên châm lửa bắn lên trời rồi 4 phía đồi núi chiêng trống vang lừng, tiếp theo là những trận mưa tên dội xuống. Quân Mạc ngả chồng chất lên nhau, máu tuôn như suối. Sau những trận mưa tên là những trận đá dồn dập lăn xuống như núi lở. Tiếp đó là quân Nam Triều do Vũ Sư Thước và Lại Thế Khanh chỉ huy xông ra chém giết. Nguyễn Kính và Mạc Kính Điển phải mở đường máu mới chạy thoát về An Trường. 3 vạn quân Mạc đã tử trận trong trận Kim Sơn và chợ Ông Công. Mạc Kính Điển còn đang kinh hoàng uất hận thì có thám mã về báo:
-Dạ, cấp báo, Trịnh Kiểm đang dẫn quân về, đã tiến tới Tư Phố Làng Giàng.
Mạc Kính Điển kinh hoàng:
-Rút nhanh theo đường sông Mã ra biển, nếu không Trịnh Kiểm đánh lên, Lại Thế Khanh đánh xuống, ta chết không có đất mà chôn.
Rồi đoàn chiến thuyền nhà Mạc chạy như bay theo sông Mã ra biển và đi lên phía Bắc. Trịnh Kiểm về cho củng cố lại Vạn Lại-An Trường, ban thưởng cho Lại Thế Khanh, Vũ Sư Thước và các tướng lĩnh, quân sĩ đã có công bảo vệ kinh đô, đánh thắng quân Mạc.
III
Đêm tháng 2 năm 1570, kinh đô Vạn Lại-An Trường chìm trong bóng đêm. Gió lạnh thổi thốc tháo. Cây cối trên rừng đồi cao thấp đen sì khua xào xạc. Con sông Cầu Chày, sông Chu vẫn cuồn cuộn đưa nước về ngả ba Giàng để hợp lưu với dòng sông Mã. Trong biệt phủ của Thái sư Tiết chế Trịnh Kiểm đèn rực sáng trong ngoài. Trong căn phòng riêng của Trịnh Kiểm đèn sáng nhiều hơn. Đã một năm nay sau chiến thắng năm 1569, Thái sư Tiết chế bị bệnh và nằm liệt giường. Các thái y giỏi nhất của Nam Triều ngày đêm ra sức chữa chạy nhưng bệnh không thuyên giảm. Trịnh Kiểm bị căn bệnh mà đường ruột bị phá hủy và tế bào độc lan khắp cơ thể không thuốc thang nào chữa khỏi. Túc trực ngày đêm bên Trịnh Kiểm là chính phi Lại Thị Ngọc Trân, con trai trưởng là Trịnh Cối, thứ phi là Nguyễn Thị Ngọc Bảo và con trai là Trịnh Tùng, hiền phi Trương Thị Ngọc Lanh và con trai là Phụng Quốc Công Trịnh Đỗ, Dịch Nghĩa Công Trịnh Đồng, Cần Nghĩa Công Trịnh Ninh, con gái Trưởng thượng Quận Chúa Trịnh Thị Ngọc Xuân, Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Tôn. Ngày 18 tháng 2 năm Canh Ngọ 1570 Thượng tướng Thái Quốc Công Trịnh Kiểm qua đời, hưởng thọ 67 tuổi (1503-1570), đã phò 3 đời vua của Lê Trung Hưng: Lê Trang Tông, Lê Trung Tông và Lê Anh Tông. Trong đại tang, đông đủ bá quan văn võ, tướng sĩ và ba quân đã thương tiếc đưa Thái Quốc công Tiết chế về nơi an nghỉ cuối cùng. Vua Lê Anh Tông xuống chiếu truy tôn miếu hiệu là Thế Tổ Minh Khang Thái Vương, đặt thụy hiệu là Trung Huân. Phong cho con trưởng Trịnh Kiểm là Tuấn Đức Hầu Trịnh Cối làm Tiết chế, nắm giữ binh quyền của Nam Triều.
Sau bữa cơm tối, Phúc Lương Hầu Trịnh Tùng đang ngồi uống trà trong phủ đệ của mình thì có thám mã về báo:
-Dạ bẩm Phúc Lương Hầu, nhà đang có đại tang Thái Quốc Công mà bên phủ đệ của quan Tiết chế Trịnh Cối ngày đêm yến tiệc, say mê tửu sắc, nói là mừng việc được thay cha nắm toàn bộ quyền bính.
Trịnh Tùng nói:
-Kẻ bất tài mà nắm quyền bính thường kiêu ngạo ngông cuồng, đã bất tài lại bất hiếu. Nam Triều sẽ bị huynh ấy phá nát mất thôi. Thân mẫu Lại Thị Ngọc Trân không dạy bảo sao? Ông ngoại Lại Thế Vinh không dạy bảo sao?
-Dạ, mạt tướng không rõ ạ.
Lại một đêm khác, Trịnh Tùng đang ngồi uống trà thì một tùy tướng vào báo:
-Dạ bẩm Phúc Lương Hầu, có Đoan Vũ Hầu Lê Cập Đệ, Văn Phong Hầu Trịnh Vĩnh Thiệu dẫn đầu nhiều đại thần xin vào gặp.
Trịnh Tùng nói:
-Mời vào.
-Dạ.
Lê Cập Đệ, Trịnh Vĩnh Thiệu dẫn đầu 8 đại thần bước vào. Trịnh Tùng vội đứng dậy hành lễ:
-Kính chào, kính chào, xin mời các đại nhân vào.
-Đa tạ, thất lễ, thất lễ, chúng tôi vào mà không báo trước cho Phúc Lương Hầu.
Sau khi chia ngôi chủ khách an tọa và uống một lượt trà, Trịnh Tùng đưa mắt nhìn. Ngoài Lê Cập Đệ, Trịnh Vĩnh Thiệu còn có Vệ Dương Hầu Trịnh Bách, Lại Quận Công Phan Công Tích và mấy vị nữa mà Trịnh Tùng không biết. Sau một lượt trà Trịnh Tùng hỏi:
-Hôm nay sao các đại nhân rỗi rãi mà hạ cố tới lều tranh của tại hạ vậy?
Lê Cập Đệ nói:
-Dạ bẩm Phúc Lương Hầu, hôm nay chúng tôi tới đây là vì sự an nguy của nhà Lê Trung Hưng.
Trịnh Tùng hỏi:
-Có sự biến gì mà nghiêm trọng vậy? Quân Mạc tấn công à?
Trịnh Vĩnh Thiệu đáp:
-Dạ bẩm Phúc Lương Hầu, Tuấn Đức Hầu Trịnh Cối là con trưởng của Thái Quốc Công nên được trao quyền Tiết chế nhưng không lo việc quân, việc nước, lại còn ngày đêm ham mê tửu sắc. Trong khi đó bên quân Mạc, Mạc Kính Điển là tay thao lược, dùng binh như thần, xưa chỉ có Thái Quốc Công mới cân tài cân sức với ông ta. Nay nếu Mạc Kính Điển vào đánh thì Trịnh Cối làm sao địch nổi. Nam Triều ta nguy to rồi.
Trịnh Tùng hỏi:
-Vậy các đại nhân có kế sách gì để cứu Nam Triều không?
Phan Công Tích nói:
-Chúng tôi cho rằng đương đầu với Mạc Kính Điển hiện nay không ai khác ngoài Phúc Lương Hầu.
Trịnh Tùng đáp:
-Đa tạ, đa tạ, không dám, không dám. Ta không phải là Tiết chế nắm binh quyền.
Lê Cập Đệ nài nỉ:
-Phúc Lương Hầu hãy vì giang sơn xã tắc nhà Lê Trung Hưng mà hành động, nếu không chúng ta chết không có đất mà chôn, hối cũng không kịp.
Trịnh Tùng hỏi:
-Vậy phải làm thế nào?
Lê Cập Đệ đáp:
-Ngày mai chúng ta vào gặp hoàng thượng xin phong Phúc Lương Hầu làm Tiết chế. Sau đó đem vua về Vạn Lại phòng thủ, đề phòng Trịnh Cối tấn công.
Hôm sau Trịnh Tùng cùng bọn Lê Cập Đệ, Trịnh Vĩnh Thiệu, Trịnh Bách…bí mật vào hành cung gặp vua Lê Anh Tông. Vua Lê Anh Tông đang ngồi uống trà thì có nội giám vào báo:
-Dạ bẩm hoàng thượng, có Lương Phúc Hầu Trịnh Tùng và nhiều đại thần muốn vào gặp.
-Cho vào.
Bọn Trịnh Tùng bước vào quỳ hành lễ:
-Hoàng thượng vạn vạn tuế.
Vua Lê Anh Tông nói:
-Miễn lễ, các khanh bình thân.
-Đa tạ hoàng thượng.
-Các ái khanh vào có việc gì chăng?
Trịnh Tùng liếc mắt vào những người hầu cận. Vua Lê Anh Tông biết ý nói:
-Các ngươi lui hết ra ngoài.
-Dạ.
Khi trong cung chỉ còn lại vua và bọn Trịnh Tùng, Lê Cập Đệ nói:
-Dạ, bẩm hoàng thượng, chúng thần vào đây là vì việc còn mất của Nam Triều ta.
-Ái khanh cứ nói:
-Dạ bẩm hoàng thượng, Tuấn Đức Hầu Trịnh Cối là con trưởng của Thái Quốc Công nên được phong Tiết chế nắm binh quyền. Thực ra Trịnh Cối là người tri thức quân sự rất tầm thường, không có tài thao lược, không có tài cầm quân. Trong khi đó bên quân Mạc có lão tướng tài thao lược lừng danh là Mạc Kính Điển, ngày xưa, chỉ có Thái Quốc Công mới chống chọi lại được. Nay mai Mạc Kính Điển tiến đánh, Trịnh Cối thua là chắc chắn. Nam Triều ta sẽ nguy to. Mong hoàng thượng sớm định liệu kẻo sau này quá muộn.
Trịnh Vĩnh Thiệu nói tiếp:
-Từ khi được phong Tiết chế đến nay, Trịnh Cối ngày đêm say sưa trong tửu sắc, không lo gì đến việc quân.
Lê Anh Tông nói:
-Vậy thì nguy to rồi. Các khanh có kế sách gì không?
Phan Công Tích nói:
-Mong hoàng thượng ra chỉ dụ phong Phúc Lương Hầu Trịnh Tùng làm Tiết chế. Phúc Lương Hầu dù còn trẻ nhưng tài thao lược có thể chống lại được Mạc Kính Điển.
Lê Anh Tông nói:
-Thôi cũng đành như vậy để cứu Nam Triều. Phúc Lương Hầu Trịnh Tùng nghe chỉ:
-Nay phong Phúc Lương Hầu làm Tiết chế, nắm mọi quyền quân sự, dân sự của Nam Triều.
Trịnh Tùng khấu đầu đáp:
-Đa tạ hoàng thượng, thần tuân chỉ.
Lê Cập Đệ nói:
-Một quân đội không thể có hai Tiết chế. Mong hoàng thượng thu hồi chức Tiết chế của Trịnh Cối.
Lê Anh Tông đáp:
-Chuẩn tấu, nay thu hồi chức Tiết chế của Trịnh Cối.
Trịnh Tùng nói:
-Tâu hoàng thượng, hiện nay Trịnh Cối có trong tay 1,5 vạn quân bản bộ, mong hoàng thượng cùng chúng thần xa giá về Vạn Lại đề phòng Trịnh Cối tấn công.
-Chuẩn tấu.
Ngay đêm đó Trịnh Tùng đem quân bản bộ hộ giá vua Lê Anh Tông cùng bọn Lê Cập Đệ và triều đình bí mật về kinh đô Vạn Lại.
Trong tư dinh ở An Trường, Trịnh Cối đang ôm mỹ nhân say sưa uống rượu và đàn hát. Chợt thám mã về báo:
-Dạ bẩm Tiết chế, có bố cáo của hoàng thượng.
Trịnh Cối đọc. Bố cáo viết: “Phụng thiên thừa vận, hoàng đế chiếu viết: Nay Trịnh Cối nhận trọng trách Tiết chế mà không có tài thao lược, lại suốt ngày say sưa tửu sắc không đoái hoài đến quân đội. Nay mai quân Mạc tiến đánh thì Nam Triều lâm nguy. Nay theo nguyện vọng của Triều đình và các tướng lĩnh và để cứu Lê Trung Hưng khi còn chưa muộn, thu hồi ấn tín Tiết chế của Trịnh Cối, bổ nhiệm Phúc Lương Hầu Trịnh Tùng làm Tiết chế quân thủy bộ Nam Triều, nắm quyền về quân sự, dân sự và hành chính của Nam Triều. Khâm thử. Niên hiệu Chính Trị năm thứ 3”.
(Còn nữa)
Trịnh Cối đọc xong vùng dậy khỏi ghế, hất mỹ nhân ngã xuống nền nhà, miệng thét:
-Bay đâu.
-Dạ.
-Tập trung quân đội đến vây cung vua Lê Anh Tông.
-Dạ bẩm Tiết chế, hoàng thượng đã được Trịnh Tùng và các đại thần hộ giá về Vạn Lại rồi ạ.
-Cứ tập trung quân kéo về tấn công Vạn Lại.
-Dạ, tuân lệnh Tiết chế.
Từ khi Trịnh Tùng thực sự thay Trịnh Kiểm cầm quyền binh vào năm 1570, đến khi ông qua đời năm 1623, tổng cộng khoảng 54 năm. Trong năm 54 năm ấy, ông đã mất tới 23 năm (1570 – 1592) để hoàn thành công cuộc đánh bại vương triều Mạc, khôi phục cơ đồ của nhà Lê sơ. Nguồn: Internet
Rồi Trịnh Cối cùng bọn Phúc Quận Công Lại Thế Mỹ, An Quân Công Lại Thế Khanh, Lâm Quận công Nguyễn Sư Doãn, Thạch Quận Công Vương Trân, Hùng Tra Hầu Phạm Văn Khoái, Tráng Quận Công Vũ Sư Thước kéo 1,5 vạn quân bao vây Vạn Lại đánh Trịnh Tùng.
Tại Đông kinh, khi đó Mạc Kính Điển đang uống trà trong Tổng hành dinh, chợt có thám mã về báo:
-Dạ bẩm Khiêm Vương, Nam Triều đang loạn to .
-Loạn thế nào?
-Dạ, Trịnh Kiểm chết, hai con là Trịnh Cối và Trịnh Tùng đang đánh nhau, giành giật nhau chức Tiết chế nắm binh quyền Nam Triều ạ.
Mạc Kính Điển cười ha hả:
Ha!ha!ha! Trời cho ta thành công chuyến này rồi. Bay đâu.
-Dạ.
-Đem 700 chiến thuyền, 10 vạn quân, hành quân nhanh chóng theo đường biển vào sông Mã, sông Chu, sông Cầu Chày tấn công Vạn Lại-An Trường.
-Dạ, tuân lệnh.
Trong ngày, 700 chiến thuyền chở 10 vạn quân Mạc, tinh kỳ rợp trời phấp phới xé nước sông Cấm theo cửa Nam Triệu ra biển gần và tiến vào Nam, vào cửa Lạch Trường thẳng tới sông Mã, sông Chu, sông Cầu Chày, tới Vạn Lại-An Trường mà không gặp một sự kháng cự nào của quân Nam Triều.
Tại hành dinh ở Vạn Lại, Trịnh Cối đang đốc thúc Lại Thế Mỹ, Lại Thế Khanh, Vũ Sư Thước đánh thành, chợt có thám mã về báo:
-Dạ, bẩm Tiết chế, 700 chiến thuyền và 10 vạn quân Mạc do Mạc Kính Điển chỉ huy đang tiến về Vạn Lại tấn công quân ta.
Trịnh Cối cả sợ:
-Nguy to rồi, sau lưng là 10 vạn quân Mạc, trước mặt là 2 vạn quân của Trịnh Tùng, ta chỉ có 1,5 vạn quân làm sao mà chống lại được?
Vũ Sư Thước nói:
-Tuấn Đức Hầu hãy về với Trịnh Tùng, dù sao cũng là người của Nam Triều, là anh em cùng cha khác mẹ, có thể dung thân mà không mang tiếng phản nghịch Lê Trung Hưng.
Lại Thế Mỹ nói:
-Nhà Mạc đang chiến tranh với Nam Triều nên có chính sách thu hút nhân lực thiên hạ, kể cả của Nam Triều. Tuấn Đức Hầu cứ về với nhà Mạc rồi tìm cơ hội tính sau, còn về với Trịnh Tùng là không có chỗ dung thân vì cuộc đấu tranh giành quyền Tiết chế là một mất một còn.
Trịnh Cối thở dài:
-Ta với Trịnh Tùng cùng cha khác mẹ nhưng tính cách hoàn toàn khác nhau như nước với lửa. Thôi đành về với nhà Mạc vậy.
Bèn sai người sang hành dinh của Mạc Kính Điển xin hàng. Mạc Kính Điển nói:
-Tiết chế Nam Triều về hàng là tốt nhưng hãy đem quân cùng ta đánh Vạn Lại-An Trường lập công.
Trịnh Cối đem 1,5 vạn quân phối hợp với quân Mạc Kính Điển ra sức tấn công Vạn Lại-An Trường. Vạn Lại-An Trường đúng là nơi hiểm địa, núi cao, sông sâu rất khó tấn công. Hàng nghìn quân Trịnh Cối và quân Mạc leo lên đều bị tên đạn, máy bắn đá dội xuống chết vô kể chồng chất trên đồi hay trôi dạt xuống dòng sông Càu Chày, sông Chu. Trong tiếng reo hò và chiêng trống vang lừng của những đợt tấn công, quân Mạc và quân Trịnh Cối chết như lá rụng. Mạc Kính Điển bảo Trịnh Cối:
-Tướng quân cứ bao vây thành, quân Trịnh Tùng hết lương thực phải ra hàng. Ta sẽ đem quân đánh phá các nơi trong trấn Thanh Hóa để lấy lương thực, đồng thời triệt nguồn lương thực của Trịnh Tùng.
Trịnh Cối đáp:
-Mạt tướng tuân lệnh Khiêm Vương.
Trịnh Cối cùng 1,5 vạn quân bao vây Vạn Lại. Mạc Kính Điển cho quân tràn xuống cướp bóc ven hai bờ tả hữu ngạn sông Chu, sông Mã. Quân Mạc còn tiến xuống Nông Cống, Thụy Nguyên (Thiệu Hóa), Đường Nang (Quảng Xương), Bút Sơn (Hoằng Hóa). Chiến tranh lan tràn khắp Thanh Hóa. Dân cư hỗn loạn chết chóc đau thương trong cơn binh lửa. Trong thành Vạn Lại, Trịnh Tùng nói với Lê Anh Tông:
-Mạc Kính Điển mở rộng chiến tranh ra khắp trấn Thanh Hóa. Sự oán giận của bách tính ngút trời đất, lòng người đang nổi giận. Hoàng thượng ra chỉ dụ kêu gọi anh hùng hào kiệt, hào trưởng, bách tính nổi dậy đánh giặc khắp nơi, binh lực giặc bị phân tán để đối phó, chắc ta phá được giặc.
Lê Anh Tông nói:
-Tiết chế nói phải lắm.
Liền ra chỉ dụ rồi sai lính vượt vòng vây đem phân phát các nơi đang bị quân Mạc đánh phá. Chỉ dụ viết: “Phụng thiên thừa vận, hoàng đế chiếu viết: Nay quân Mạc đang bao vây Vạn Lại-An Trường, kinh đô Nam Triều ta nguy ngập, quân giặc còn ngang nhiên cướp phá các nơi, đem đau thương chết chóc cho dân chúng vô tội. Trẫm chỉ dụ cho hào kiệt, quan lại, hào trưởng, bách tính các nơi có giặc hãy đứng dậy đánh giặc cứu lê dân bách tính và cứu kinh đô của nước nhà qua cơn nguy biến. Khâm thử. Niên hiệu Chính Trị năm thứ 3”.
Sau chỉ dụ của Lê Anh Tông, quân Mạc bị đánh khắp nơi. Tại Đường Nang (Quảng Xương) 5000 quân Mạc bị tiêu diệt, tại Bút Sơn 1 vạn quân Mạc bỏ mạng. Trong lúc chiến trận rối bời như vậy, một sáng cuối năm 1570, trong tổng hành dinh, Mạc Kính Điển đang ngồi uống trà bỗng nhiên gục xuống. Tả hữu hoảng sợ đỡ vào giường. Mạc Đôn Nhượng gọi:
-Bay đâu.
-Dạ.
-Gọi đại phu nhanh lên.
Đại phu vào bắt mạch, mạch của Mạc Kính Điển đập rất yếu. Đại phu nói:
-Khiêm Vương Nhiếp chính rất yếu, phải về Đông Kinh mới chạy chữa được.
Mạc Đôn Nhượng cả sợ:
-Hả, ở đây đại phu không chữa được sao?
-Dạ, tại hạ bất tài, ở đây không đủ thuốc, không thể cứu chữa được nữa.
Mạc Đôn Nhượng nói:
-Ai lộ tin Khiêm Vương bị ốm sẽ chém, ra lệnh bí mật rút quân về Đông Kinh.
-Dạ, tuân lệnh.
Quân Mạc đột nhiên rút khỏi Vạn Lại-An Trường và Thanh Hóa rất nhanh. 700 chiến thuyền vội vả chạy như bay mang theo 8 vạn quân Mạc và quân Trịnh Cối ra biển và về phương Bắc. Quân Lê, Trịnh Tùng và cả vua Lê Anh Tông cũng ngạc nhiên không hiểu vì sao quân Mạc đột ngột rút nhanh như vậy. Trịnh Tùng nói với vua Lê Anh Tông:
-Chắc là Đông Kinh có biến động lớn gì chăng?
Rồi gọi:
-Bay đâu
-Dạ, bẩm Tiết chế.
-Sai do thám ra Bắc dò xem Đông Kinh có biến động gì không? Có thì phải báo gấp rõ chưa?
-Dạ. tuân lệnh Tiết chế.
Sau trận đó, vua Lê Anh Tông phong Trịnh Tùng làm Thái úy, Trường Quốc Công, quản lĩnh việc quân quốc của Nam Triều. Vua Lê Anh Tông còn ban thưởng cho các đại thần tướng lĩnh, quân sĩ có công trong trận chiến 1570. Lê Cập Đệ được phong làm Thái phó.
Một buổi tối năm 1573, vua Lê Anh Tông đang ngồi uống trà trong cung riêng thì có quan nội thị vào báo:
-Dạ bẩm hoàng thượng, có quan Thái phó Lê Cập Đệ muốn vào gặp.
-Cho vào.
-Dạ.

Tượng thờ Trịnh Tùng. Nguồn: Internet
Lê Cập Đệ vào quỳ hành lễ:
-Hoàng thượng vạn tuế, vạn tuế.
-Miễn lễ, khanh đứng dậy đi.
-Tạ hoàng thượng.
Sau một lượt trà vua Lê Anh Tông hỏi:
-Khanh đến có việc gì không?
-Dạ, thần đến là cảm tạ hoàng thượng đã ưu ái phong thần làm Thái phó.
Lê Trang Tông nói:
-Ái khanh là tay chân thân tín của trẫm, ta phong khanh làm Thái phó là xứng đáng thôi.
-Đa tạ hoàng thượng, hôm nay thần tới đây ngoài việc đa tạ hoàng thượng, thần còn có việc bẩm tấu, việc này có liên quan đến hoàng thượng và Nam Triều.
-Việc gì mà quan trọng vậy?
-Dạ, thần thấy rằng hiện nay Trịnh Tùng nắm hết quyền quân sự và dân chính, đang trở nên lộng quyền, nhiều lần trên triều đình có ý xem thường hoàng thượng.
Lê Anh Tông nói:
-Biết làm sao được, đó là do thời cuộc tạo nên. Sau khi nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê, nhà Lê tưởng như đã diệt vong, may nhờ có Hưng Quốc Công Nguyễn Kim và một số đại thần không quản gian nan hy sinh khởi sự, nhà Lê Trung Hưng mới được khôi phục. Chẳng may Nguyễn Kim chết sớm, may nhờ có Thái Tổ Minh Khang Trịnh Kiểm phò tá. Rồi Thái Tổ Minh Khang cũng ra đi. Nay chỉ còn trông chờ vào tài thao lược của Trịnh Tùng, may ra mới thắng được nhà Mạc. Trận thắng năm 1570 vừa qua há chẳng phải nhờ một phần vào tài cầm quân của Trịnh Tùng đó sao?
Lê Cập Đệ nói:
-Thần thấy tài của Trịnh Tùng cũng tầm thường, lại sớm lộng quyền, nên trừ khử đi để trừ hậu họa tiếm quyền, thậm chí đoạt ngôi. Thần sẽ tiến cử một người tài thao lược hơn Trịnh Tùng mà lại trung thành với hoàng thượng.
-Ai Vây?
-Thần chưa thể nào nói được, nhưng hoàng thượng cứ tin tưởng, giao cho thần trừ khử Trịnh Tùng. Thần sẽ tiến cử Tiết chế sau.
Lê Anh Tông buồn rầu nói:
-Tùy ái khanh nhưng cẩn thận kẻo gây ra tai họa lớn.
-Dạ, đa tạ hoàng thượng, xin hoàng thượng tin tưởng vào thần.
Cuộc nói chuyện tuyệt mật của Lê Cập Đệ với vua Lê Anh Tông chỉ có hai người, tả hữu bị đuổi hết ra nhưng lại lọt vào tai một bóng đen nghe trộm bên ngoài. Khi Lê Cập Đệ cáo từ vua ra về thì bóng đen cũng biến mất. Toàn bộ cuộc nói chuyện đó đã đến tai Trịnh Tùng. Trịnh Tùng và Lê Cập Đệ vốn đã không ưa gì nhau, nay đã đến bước như vậy thì cũng không thể dung thứ được nữa. Trịnh Tung suy nghĩ cách giết Lê Cập Đệ và giết cả Lê Anh Tông. Một hôm Trịnh Tùng cho gọi gia nhân vào bảo:
-Hai ngươi đem cái thùng này đến nhà Lê Cập Đệ nói rằng quà của Tả tướng Tiết chế Trịnh Tùng tặng mừng sinh nhật Thái phó.
-Dạ, tuân lệnh Tiết chế.
Trong tư dinh, Lê Cập Đệ đang ngồi uống trà thì có gia nhân vào báo:
-Dạ, bẩm Thái phó, có gia nhân của Tiết chế Trịnh Tùng biếu quà mừng sinh nhật đại nhân xin vào gặp.
-Cho vào.
-Dạ.
Hai gia nhân phủ Tiết chế khệ nệ khênh vào một chiếc hòm vuông sơn son có vẽ rồng phượng, vào đến nơi nín thở quỳ xuống hành lễ:
-Dạ, kính chào Thái phó đại nhân, quan Tiết chế sai hai tiểu nhân đem quà mừng sinh nhật của Thái phó.
Lê Cập Đệ ngạc nhiên tự hỏi không biết vì sao Trịnh Tùng lại biết được lễ mừng thọ sắp tới của ta nhỉ? Liền gọi:
-Bay đâu.
-Dạ.
-Mở hòm ra.
-Dạ.
Hai gia nhân của Lê Cập Đệ mở hòm. Một luồng ánh sáng phát ra rực rỡ. Thì ra trong hòm đựng toàn châu ngọc vàng bạc nên tỏa ra ánh sáng. Lê Cập Đệ vốn là kẻ tham lam, thấy món quà lớn lấy làm mừng rỡ, bảo hai gia nhân của Trịnh Tùng:
-Chà, Tiết chế quá ưu ái ta. Hai ngươi về nói ngày mai ta sẽ đến phủ đệ của Tiết chế để cảm tạ.
-Dạ xin cáo biệt Thái phó đại nhân.
Hôm sau trong biệt phủ, Trịnh Tùng đang uống trà thì có gia nhân vào báo:
-Dạ bẩm Tiết chế, có quan Thái phó Lê Cập Đệ muốn vào gặp.
-Cho gọi tướng quân Đinh Văn Tả vào đây.
-Dạ.
Đinh Văn Tả vào, Trịnh Tùng hỏi:
-Xong chưa?
-Dạ bẩm Tiết chế xong rồi ạ.
-Bao nhiêu võ sĩ?
-Dạ, 6 võ sĩ ạ.
-Rồi, làm cho gọn vào, không được để Lê Cập Đệ chạy thoát.
-Dạ, mạt tưởng hiểu ạ.
-Bay đâu.
-Dạ.
-Mời Thái phó vào.
-Dạ.
Tên gia nhân đi trước dẫn đường, Lê Cập Đệ đi sau, vòng vèo qua mấy hành lang, qua mấy hòn non bộ thì đến một góc sân cây cối um tùm. Tên gia nhân dẫn đường biến mất. Lê Cập Đệ còn đang ngơ ngác thì bị một võ sĩ lia một dao đầu lìa khỏi cổ, cả thân hình đẫm máu ngã vật xuống. Vừa khi đó Trịnh Tùng xuất hiện và nói:
-Làm đến Thái phó mà còn ngu, nhận tiền của kẻ mình đang mưu giết, lại một mình vào phủ đệ của kẻ thù. Quá tham và ngu. Bay đâu.
-Dạ.
-Đem xác và đầu của Lê Cập Đệ ném trước cung của vua Lê Anh Tông và cắm tấm biển này cạnh xác.
-Dạ.
Sau đó 1 ngày người ta tìm thấy xác của Lê Cập Đệ cạnh cung điện vua Lê Anh Tông. Tấm biển gỗ bên cạnh viết: “Lê Cập Đệ làm phản nên bị vua Lê Anh Tông giết”.
Cả triều đình, bách tính Vạn Lại-An Trường chấn động. Người ta đồn đại chê bai vua Lê Anh Tông chưa biết rõ ràng chính xác đã giết chết đại thần thân tín của mình, vậy thì còn ai dám gần và bàn quốc sự với nhà vua nữa.
Trong cung, vua Lê Anh Tông rất hoang mang lúng túng trước cái chết của Lê Cập Đệ. Vua nói với bề tôi thân tín là Cảnh Hạp và Đình Ngạn:
-Ta không ra lệnh giết Lê Cập Đệ, các khanh đều biết đó là bề tôi thân tín của ta mà.
Cảnh Hạp nói:
-Hoàng thượng không giết Lê Cập Đệ, có thể đó là do Trịnh Tùng giết và vu cáo cho hoàng thượng.
Đình Ngạn nói:
-Thế thì nguy to rồi, Trịnh Tùng sẽ lấy cớ này để bức bách và có thể giết chết hoàng thượng trong nay mai.
Lê Anh Tông cả sợ:
-Thế thì làm thế nào?
Cảnh Hạp nói:
-Hoàng thượng chỉ có thể chạy vào Nghệ An tạm thời lánh nạn.
Lê Anh Tông buồn rầu nói:
-Thôi cũng đành vậy thôi.
Canh ba đêm hôm đó, một xe hai ngựa kéo bí mật đưa vua Lê Anh Tông và 4 hoàng tử: Lê Duy Tùng, Lê Duy Kính, Lê Duy Khang, Lê Duy Vũ cùng Tuấn hoàng hậu Nguyễn Thị chạy vào đất Nghệ An. Tin vua bỏ chạy vào Nghệ An làm cho kinh thành Vạn Lại-An Trường chấn động. Trịnh Tùng ra lệnh:
-Gọi các đại thần thiết triều.
-Dạ.
Trống ngũ liên vang dồn dập khắp kinh thành Vạn Lai-An Trường. Các quan văn võ lần lượt vội vã đi vào điện Trung Phủ dự thiết triều. Ngai vàng bỏ không không có vua. Trịnh Tùng nói:
-Vua Lê Anh Tông được chúng ta phò tá trung thành, bỗng nhiên nghe lời dèm pha giết chết Thái phó Lê Cập Đệ rồi quá hoảng loạn bỏ ngai vàng mà đi. Nay nước một ngày không thể không có vua. Đại tướng Nguyễn Hữu Liêu đâu.
-Dạ, có mạt tướng.
-Đại tướng đem quân ngự lâm về Quảng Thi, Lôi Dương đón hoàng tử thứ 5 của vua Lê Anh Tông, tên là Lê Duy Đàm về để đăng quang hoàng đế.
-Mạt tướng tuân lệnh.
Cả triều đình sợ Trịnh Tùng xanh mặt vì họ nghe phong phanh có lẽ Trịnh Tùng đã giết Lê Cập Đệ và đang có mưu giết vua Lê Anh Tông nên nhà vua hoảng sợ chạy trốn. Bá quan văn võ chờ ba canh giờ thì Nguyễn Hữu Liêu đưa hoàng tử Lê Duy Đàm về. Cậu bé mới 6 tuổi nhìn triều đình toàn người lạ, mếu máo khóc hỏi Nguyễn Hữu Liêu:
-Phụ vương ta đâu? Ngài nói đưa ta về gặp phụ vương, nay phụ vương ta đâu? Hu!hu!hu!
Nguyễn Hữu Liêu dỗ:
-Hoàng thượng mặc áo đội mũ ngồi lên ngai vàng thì phụ vương của hoàng thượng sẽ về.
Cậu bé Lê Duy Đàm nghe nói vậy thì đứng yên cho Nguyễn Hữu Liêu mặc áo vàng có rồng cuộn, đội mũ vàng đầy châu báu ngọc ngà long lanh. Nguyễn Hữu Liêu bế vua nhỏ lên ngai vàng. Văn võ bá quan vội quỳ xuống hô to:
-Chúc hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.
Quan nội giám ghé vào tai Lê Duy Đàm nói nhỏ:
-Nhà vua nói :Miễn lễ, các khanh bình thân.
Lê Duy Đàm nhắc lại:
-Miễn lễ, các khanh bình thân.
-Tạ ơn hoàng thượng.
Quan nội giám nói:
-Nay hoàng thượng mới đế hiệu là Lê Thế Tông, niên hiệu Quang Hưng.Năm nay là năm Quang Hưng thứ nhất.
-Hoàng thượng vạn vạn tuế.
Đầu tháng 2 năm 1573, Trịnh Tùng sai Nguyễn Hữu Liêu vào Nghệ An đón vua Lê Anh Tông. Lê Anh Tông trốn ra ruộng mía nhưng vẫn bị bắt. 22-2 -1573, Trịnh Tùng ngầm sai Tống Đức Vi bí mật giết vua ở Lỗi Dương và phao tin vua tự thắt cổ chết. Vua Lê Anh Tông hưởng thọ 41 tuổi, ở ngôi 17 năm, táng ở Lăng Bố Vệ.
Vua Lê Thế Tông còn nhỏ nên toàn bộ quyền bính Nam Triều vào tay Trịnh Tùng. Tùng đã diệt được Lê Anh Tông và các thế lực chống đối. Tùng tự phong mình làm Đô tướng Tiết chế, cầm quân thủy bộ của Lê Trung Hưng và các xứ, kiêm giữ các việc nước quan trọng. Tùng dùng Vũ Công Kỷ làm hữu tướng, bọn Hoàng Đình Ái, Nguyễn Hữu Liêu, Vũ Sư Thước làm Thái phó. Vũ Sư Thước theo Trịnh Cối về với nhà Mạc nhưng sau lại quay về Nam Triều. Tùng phong tước Quận Công cho Trịnh Đỗ, Phạm Văn Khoái, Hà Thọ Lộc. Sự độc đoán chuyên quyền của Trịnh Tùng còn hơn cả Thái Tổ Minh Khang Trịnh Kiểm xưa.
* *
*
Trong biệt thự của mình ở Đông Kinh, đêm đã khuya mà Khiêm Vương Mạc Kính Điển vẫn còn thao thức. Trong cuộc chiến năm 1570 ở Thanh Hóa, Khiêm Vương thốt nhiên bị bệnh nhưng về Đông Kinh, nay sức khỏe đã trở lại bình thường, Khiêm Vương lại có thể cầm quân ra trận. Điều quan tâm hiện nay của Mạc Kính Điển không phải là sức khỏe mà vấn đề là tại sao Bắc Triều đã đem hết thao lược, dốc toàn lực rồi mà vẫn không tiêu diệt được Nam triều, còn thiếu một nhân tố gì trong binh pháp đây? Chợt Mạc Kính Điển đập tay xuống bàn:
-Phải rồi, phải lấy lại Nghệ An-Thuận Hóa để tạo gọng kìm, phía Bắc đánh vào, phía Nam đánh ra kẹp Nam Triều vào giữa mà tiêu diệt thì chắc chắn sẽ thành công.
-Bay đâu.
-Dạ.
-Cho gọi tướng Nguyễn Quyện vào đây.
-Dạ.
Nguyễn Quyện là con Thượng thư Nguyễn Thiến, trong vụ Phạm Quỳnh, Phạm Giao năm 1551 đã cùng cha, bố vợ Lê Bá Ly và nhiều anh em của hai nhà chạy về với Nam Triều, nhưng sau khi Nguyễn Thiến và Lê Bá Ly đã mất, Nguyễn Quyện nghe lời Nguyễn Bỉnh Khiêm là thầy học, tháng 8 năm 1557 lại cùng em là Nguyễn Miễn quay về với nhà Mạc. Nguyễn Quyện bước vào chào Mạc Kính Điển và hỏi:
-Khiêm Vương có kế hoạch gì mới chinh phạt Nam Triều chăng?
Mạc Kính Điển nói:
-Tướng quân chuẩn bị thuyền và 5 vạn quân cùng ta đánh Nghệ An.
-Mạt tướng tuân lệnh.
Tháng 7 mùa hạ năm 1573, quân Mạc dùng 300 chiến thuyền cùng 5 vạn quân do Nguyễn Quyện đi tiên phong, Mạc Kính Điển làm chủ soái theo đường biển tiến vào sông Cả (sông Lam), cờ quạt rợp trời, khí thế hùng mạnh. Trấn thủ Nghệ An của Nam Triều là Nguyễn Bá Quỳnh đang ngồi uống trà ở tư dinh thì có thám mã về báo:
-Dạ bẩm quan tổng trấn.
-Có việc gì?
-Dạ, bẩm 5 vạn quân và 300 chiến thuyền nhà Mạc do Mạc Kính Điển trực tiếp chỉ huy đã tiến vào sông Cả.
-Hả, sao bây giờ mới báo. Bay đâu, tất cả lên mặt thành chuẩn bị chiến đấu.
-Dạ, tuân lệnh tổng trấn.
Trong khi quân lính ào ào lên mặt thành thì Nguyễn Bá Quỳnh thu vén vàng bạc tư trang rồi bỏ trốn. Nguyễn Quyện bao vây tấn công thành Nghê An. Quân Lê không ai chỉ huy chiến đấu. Mọi người nháo nhác hỏi:
-Quan Trấn thủ đâu?
-Nghe nói quan trấn thủ chạy trốn rồi.
Một lính trên mặt thành hỏi xuống:
-Chúng tôi đầu hàng có được tha mạng không?
Mạc Kính Điển đáp:
-Đầu hàng sẽ được tha chết. Ai chống cự giết không tha.
-Dạ.
Một lát sau mặt thành kéo cờ trắng, cổng thành mở toang. Quân Lê tay không khí giới cầm cờ trắng lũ lượt ra hàng. Mạc Kính Điển tha cho tất cả và biên chế vào quân Mạc. Một tướng Lê là Hoàng Quận Công Thái Bá Chiến chạy đến Bố Chính thì bị Nguyễn Quyện bắt và đem về Đông Kinh hành hình. Quân Mạc từ trấn trị đánh nống ra và chiếm được Nghệ An.
Trong tổng hành Dinh ở Vạn Lại-An Trường, Trịnh Tùng nhận được cấp báo:
-Dạ, cấp báo, Mạc Kính Điển đem quân đánh Nghệ An, tổng trấn Nghệ An Nguyễn Bá Quỳnh không đánh đã bỏ chạy. Nghệ An đã mất vào tay nhà Mạc rồi ạ.
Trịnh Tùng nổi giận:
-Thằng Nguyễn Bá Quỳnh đồ ăn hại. Bay đâu.
-Dạ.
-Cho gọi các tướng Nguyễn Cảnh Hoan, Phan Công Tích vào đây.
-Dạ.
Nguyễn Cảnh Hoan và Phan Công Tích tiến vào.
Trịnh Tùng nói:
-Mạc Kính Điển đã lấy được Nghệ An, sẽ hình thành thế gọng kìm Nam đánh ra, Bắc đánh vào để tấn công ta. Nam Triều ta nguy to rồi. Ba tướng đem 5 vạn quân vào lấy lại Nghệ An bằng mọi giá.
-Dạ, chúng mạt tướng tuân lệnh Tiết chế.
Quân Nam Triều vừa tới đất Nghệ An thì quân Mạc đã rút khỏi thành. Khi quân Lê vào thành, Nguyễn Cảnh Hoan hỏi một tên lính Lê hàng mạc nhưng trốn lại:
-Tại sao Mạc Kính Điển rút lui? Mạc Kính Điển có mưu kế gì chăng?
-Dạ bẩm chủ tướng, nghe nói quân Mạc hết lương thực, đi vơ vét bách tính Nghệ An nhưng ở đây chiến tranh liên miên, đồng ruộng bỏ hoang, dân vô cùng đói khổ nên quân Mạc không vơ vét được gì ạ.
Quân Nam Triều lại làm chủ Nghệ An. Trịnh Tùng cho Thái Phó Vi Quận Công Lê Khắc Thận, con lão tướng Lê Bá Ly vào trấn thủ Nghệ An, gọi hai tướng Nguyễn Cảnh Hoàn, Phan Công Tích về trấn thủ Thanh Hóa. Năm sau, quân Mạc lại tiến đánh Nghệ An, tổng trấn Lê Khắc Thận đầu hàng. Trịnh Tùng nổi giận:
-Đao phủ đâu.
-Dạ.
-Đem con của Thận là Lê Tuần, Lê Khoái, Lê Thám ra chém.
-Dạ, tuân lệnh Tiết chế.
-Bay đâu.
-Dạ.
-Mời các tướng Lại Thế Khanh, Nguyễn Cảnh Hoan, Phan Công Tích vào dinh.
-Dạ.
Ba tướng bước vào hành lễ:
-Kính chào Tiết chế. Tiết chế cho gọi?
-Ba tướng quân đem 5 vạn quân giải phóng Nghệ An.
-Dạ, chúng mạt tướng tuân lệnh.
Ba tướng đem 5 vạn quân vào đến Nghệ An. Cũng giống như năm 1573, quân Mạc chưa đánh đã rút ra ngoài Bắc. Từ đó, nhà Mạc hoàn toàn mất Nghệ An.
Cùng với đạo quân Mạc đánh Nghệ An, còn có 60 chiến thuyền của quân Mạc chở 1 vạn quân do Lập Bạo chỉ huy vượt biển đánh vào Thuận Hóa, cờ vàng rợp trời, buồm trắng rợp biển miền Trung. Lập Bạo hỏi tên tùy tướng dẫn đường:
-Đây là đâu?
-Dạ bẩm tướng quân, đây là Minh Linh, cách thủ phủ Ái Tử của Nguyễn Hoàng 10 dặm.
Lập Bạo ra lệnh:
-Đổ bộ lên bờ, chuẩn bị chiến đấu.
-Dạ, tuân lệnh.
Quân Mạc rời thuyền đổ bộ lên bờ thuộc làng Hồ Xá và làng Lạng Uyên thuộc Minh Linh. Chiều sang, Lập Bạo đang ngồi trong hành dinh uống rượu, chợt có tùy tướng vào báo:
-Dạ, có sứ giả của Nguyễn Hoàng muốn vào gặp tướng quân.
-Cho vào.
-Dạ.
Hai người lính khênh một chiếc hòm màu son, đi theo sau là một thiếu nữ xinh đẹp. Cả ba cúi đầu hành lễ:
-Chào tướng quân, chúa công chúng tôi muốn giảng hòa với tướng quân để dâng đất Thuận Hóa này về cho nhà Mạc. Đây là chút lễ mọn chúa công tôi gửi tặng tướng quân.
Lập Bạo sai mở hòm, nắp hòm vừa bật ra thì một luồng ánh sáng từ trong hòm hắt ra chói lòa, một hòm đầy vàng bạc châu báu ngọc ngà. Lập Bạo sướng quá cười ha hả:
-Ha!ha!ha!...Ta đã nghe danh Nguyễn Hoàng từ lâu, nay quả là người biết điều. Thế còn người đẹp này cũng là quà tặng ta chăng? Tên nàng là gì?
Thiếu nữ e lệ trả lời, hai má như hoa đào:
-Thiếp tên là Ngô Thị. Chiều nay nếu tướng quân đến ngôi Đình Tranh cách đây hai dặm uống rượu hội thề với chúa công Nguyễn Hoàng thì đêm nay thiếp là quà tặng của tướng quân.
Lập Bạo nghe tiếng nói của Ngô Thị hay như tiếng nhạc, hai mắt đẹp đưa tình lung linh, hai má như hoa đào đỏ rực thốt nhiên như bị thôi miên liền nhận lời:
-Ta sẽ đến. Nàng nói phải giữ lấy lời nha.
-Đa tạ tướng quân, hẹn gặp lại đêm nay.
Bóng đêm xuống dần bao phủ miền Ái Tử. Lập Bạo chỉ đem theo vài tùy tùng đến nơi Nguyễn Hoàng hẹn lễ dự thề. Đến một con đường hẹp gần Đình Tranh, cây cối rậm rạp thì phục binh quân Nguyễn đổ ra đánh giết. Lập Bạo bị giết ngay tại trận. Trong khi đó, một đạo quân Nguyễn khác đã bao vây quân Mạc ở Minh Linh và xông vào chém giết. Hầu hết quân Mạc gục chết ở miền đất xa lạ, số còn lại đầu hàng, được Nguyễn Hoàng cho sống trên đất Cồn Tiên, đặt ra 36 phường. Từ đó nhà Mạc mất hẳn miền Thuận Hóa, không nhòm ngó đến nữa.
Năm 1573 do giang sơn Nam Triều trở nên vững chắc nên Trịnh Tùng nói với vua Lê Thế Tông phong Lại Thế Khanh, Hoàng Đình Ái làm Thái phó, Vũ Sư thước là Trào Quận Công, Nguyễn Hữu Liêu là Dương Quận Công.
Năm 1572, đại thần nhà Mạc là Nguyễn Kính mất, mai táng tại quê nhà Cần Kiệm, Thạch Thất, Sơn Tây, được nhà Mạc truy tặng Tây Kỳ Vương. Nguyễn Kính phục vụ cả 5 đời vua Mạc, các con đều là đại thần nhà Mạc, cho đổi họ Nguyễn sang họ Mạc và phong chức tước, như Mạc Nguyên là Thái Bảo Phú Quốc Công, Mạc Ngọc Liễn là phò mã nhà Mạc, tước Thái Bảo Đà Quốc Công Chưởng Phủ Sự, Mạc Hữu Mệnh là võ tướng cao cấp.
Một sáng trong tư dinh ở Đông Kinh, Mạc Kính Điển đang ngồi uống trà thì có tùy tướng vào báo:
-Dạ bẩm Khiêm Vương, có tướng Nguyễn Quyện xin vào gặp.
-Cho vào.
-Dạ.
Nguyễn Quyện vào hành lễ:
-Xin kính chào Khiêm Vương.
-Chào tướng quân, xin mời ngồi. Bay đâu, rót nước.
-Đa tạ Khiêm Vương.
Sau một lượt trà, Mạc Kính Điển hỏi:
-Tướng quân có việc gì chăng?
Nguyễn Quyện nói:
-Chỉ là mạt tướng thấy nay chúng ta đã mất đất Thuận Hóa thì nên quyết tâm đánh chiếm Nghệ An để thực hiện chiến lược gọng kìm, trong đánh ra ngoài đánh vào Thanh Hóa thì mới tiêu diệt được Nam Triều. Mạt tướng xin dẫn quân vào Nghệ An một chuyến nữa.
Mạc Kính Điển nói:
-Tướng quân nói chính hợp ý ta. Ta cũng đang định mời tướng quân đến để bàn việc này. Mai tướng quân đem 3 vạn quân đánh Nghệ An, ta đem 5 vạn quân đánh Thanh Hóa để phân tán lực lượng Trịnh Tùng, ta hỗ trợ cho nhau, may ra chiến thắng.
-Mạt tướng tuân lệnh.
Quân Mạc lại lần nữa tấn công Nghệ An, Thanh Hóa. Tại hành dinh ở Vạn Lại-An Trường, Trịnh Tùng đang họp các tướng lĩnh. Trịnh Tùng nói:
-Ta vừa được thám mã về báo, Nguyễn Quyện đã đem 3 vạn quân tấn công Nghệ An, Diễn Châu, Mạc Kính Điển đang tấn công Yên Định, Thụy Nguyên, Mạc Ngọc Liễn đang đánh Đông Sơn. Nay ta ra lệnh:
-Các tướng Lại Thế Khanh, Phan Công Tích, Nguyễn Cảnh Hoan đem 4 vạn quân vào cứu Nghệ An. Đạo quân này do Lại Thế Khanh chỉ huy. Ta sẽ thống soái các tướng và quân đội chặn đánh Mạc Kính Điển ở Thanh Hóa.
-Chúng mạt tướng tuân lệnh.
Tranh minh họa: Khiêm vương Mạc Kính Điển nổi lên như một trong những trụ cột quan trọng nhất của Bắc triều Nhà Mạc. Tuy không lên ngôi hoàng đế nhưng nắm mọi quyền hành, khi ông mật đi nhà Mạc cũng suy vong. Nguồn: Internet.
Hôm sau, đạo quân Nam Triều ở Thanh Hóa do Trịnh Tùng đi trung quân, Vũ Sư Thước, Nguyễn Hữu Liêu đi tiên phong, Trịnh Bách, Trịnh Đồng, Trịnh Ninh, Trịnh Đỗ, Trịnh Đức và Hà Thọ Lộc đi hậu quân. Trịnh Tùng đóng đại quân ở Chiêu Sơn. Trịnh Tùng sai Thái phó Hoàng Đình Ái, Đô Diễn, Thạch Quận Công và Phan Văn Khải đem quân cứu Thụy Nguyên (Thiệu Hóa), Nông Cống, Đông Sơn. Hoàng Đình Ái đóng quân ở núi Tiên Mộc. Đối diện với quân của Hoàng Đình Ái là quân của Mạc Ngọc Liễn, đối diện với quân của Trịnh Tùng là quân của Mạc Kính Điển. Quân Mạc Kính Điển đang tiến đến các sông Yên Định, Thụy Nguyên, hữu ngạn sông Chu.
Từ Diễn Châu, quân của Lại Thế Khanh tiến tới vùng đồng bằng có núi Lèn Hai Vai đã thấy quân của Nguyễn Quyện dàn trận. Bên cạnh Nguyễn Quyện có các tướng Mạc Hữu Mệnh. Lại Thế Khanh cũng cho quân dàn trận. Lại Thế Khanh mắng Nguyễn Quyện:
-Thằng phản nghịch, ngươi đã từ Bắc Triều chạy về Nam Triều. Nam Triều đối xử hậu với cha con ngươi sao ngươi lại bỏ Nam Triều về lại nhà Mạc. Bay đâu ra bắt thằng giặc này cho ta.
Lại Thế Khanh nói xong có tiếng quát:
-Thằng giặc tráo trở chớ chạy.
Mọi người nhìn thì ra là Phan Công Tích đang thúc ngựa xông ra, bên quân Mạc, Mạc Hữu Mệnh cưỡi con ngựa đen phi ra tiếp chiến. Hai tướng xáp nhau đánh được 10 hiệp thì Mạc Hữu Mệnh quay ngựa chạy, quân Mạc núng thế rút lui. Lại Thế Khanh xua quân truy kích, đến một nơi địa thế hiểm trở gần Lèn Hai Vai, quân Nam Triều nghe chiêng trống nổi lên bốn mặt và những trận tên như mưa dội xuống. Hàng nghìn quân của đạo tiên phong quân Nam Triều ngã gục. Lại Thế khanh biết là trúng kế mai phục, hạ lệnh cho hậu quân rút lui. 1 vạn quân Nam Triều bị giết, tướng Phan Công Tích tử trận trên lưng ngựa.
Tại mặt trận Thanh Hóa, 5 vạn quân Mạc Kính Điển đối diện với 5 vạn quân của Trịnh Tùng ở cánh đồng Đông Lý, Yên Định. Hai bên dàn quân, cờ vàng bay phấp phới, chiêng trống vang lừng. Bên quân Mạc, tướng Lại Thế Mỹ cưỡi ngựa đen múa đại đao xông ra, bên quân Nam Triều Nguyễn Cảnh Hoan liền múa giáo xông ra mắng:
-Tên phản vua kia còn dám vác mặt ra đây sao?
Hai tướng xáp vào quần nhau, giáo chạm đại đao tóe lửa, đánh nhau 20 hiệp không phân thắng bại. Thốt nhiên, hàng ngũ quân Mạc rối loạn. Từ 4 hướng các cánh quân của Vũ Sư Thước, Nguyễn Hữu Liêu xông vào đánh tập hậu sau lưng và hai bên sườn quân Mạc. Trịnh Tùng phất cờ hiệu, quân Nam Triều xông lên vây quân Mạc vào giữa mà chém giết, thây chồng như núi, máu chảy như sông. Quân Mạc đại bại. Quân Mạc cố mở đường máu che tên đạn cho Mạc Kính Điển chạy thoát khỏi vòng vây. Sau trận đại bại này, Mạc Kính Điển thu nhặt tàn quân rút ra Bắc. Nguyễn Quyện thấy quân Mạc Kính Điển thất bại rút khỏi Thanh Hóa cũng vội vã rút khỏi Nghệ An vì sợ bị cô lập sẽ bị tiêu diệt.
Tháng 9 năm Mậu Dần 1578, An Quốc Công Lại Thế Khanh từ trần, vua Lê Thế Tông truy tặng tước hiệu Khiêm Quốc Công, đời sau truy tặng thêm Thái Tể Cẩn Quốc Công.
Tháng 9 năm 1578, Mạc Kính Điển nói với Nguyễn Quyện:
-Tướng quân hãy đem 5 vạn quân đánh vào Hà Đô, ta sẽ đem quân tiếp ứng. Nếu tiêu diệt được chủ lực quân Nam Triều ở Hà Đô ta sẽ tiến thẳng vào Vạn Lại-An Trường để tiêu diệt Nam Triều, kết thúc chiến tranh thắng lợi.
Nguyễn Quyện đáp:
-Mạt tướng tuân lệnh.
Nguyễn Quyện đưa quân tới Hà Đô, chọn địa thế hiểm yếu, bố trí quân mai phục và nói với Lại Thế Mỹ và Hoàng Quận Công Mạc Đăng Lương:
-Hai tướng đem quân ra khiêu chiến giả thua và dụ quân Nam Triều vào trận địa để ta tiêu diệt. Hai tướng sẽ lập công đầu.
-Chúng mạt tướng tuân lệnh.
Mạc Đăng Lương cùng Lại Thế Mỹ cưỡi ngựa dẫn quân ra ngoài chiến lũy Khoai Lạc. Bên quân Trịnh dàn trận và bắn tên vào quân Mạc như mưa. Một mũi tên có thuốc độc xuyên ngay vào mắt Lại Thế Mỹ. Lại Thế Mỹ quay đầu chạy về làm quân Mạc cũng chạy theo. Quân Mạc đang mai phục cũng hoảng hốt bỏ chạy. Lại Thế Mỹ về đến cửa doanh trại ngã xuống ngựa mà chết. Mạc Kính Điển kinh hoàng ra lệnh cho Nguyễn Quyện rút quân về Đông Kinh.
Khai quốc công thần Lại Thế Vinh là một trong bốn người gây dựng nhà Lê Trung Hưng. Từ năm 1570, khi con rể là Trịnh Kiểm chết, gia đình ông chịu nhiều tổn thất đau thương. Cháu ngoại ông là Trịnh Cối, con của Trịnh Kiểm và chính phi Lại Thị Ngọc Trân mất quyền Tiết chế Nam Triều, bỏ sang hàng nhà Mạc. Con trai ông là Lại Thế Mỹ vì phò tá Trịnh Cối mà phải đi theo và năm 1578 tử trận ở Hà Đô. Từ đó Lại Thế Vinh đau buồn sinh đau ốm. Ngày 10-10 năm Mậu Dần 1578, niên hiệu Quang Hưng thứ nhất, đời vua Lê Thế Tông, Thái sư Dương Quốc Công Lại Thế Vinh nhà Lê Trung Hưng qua đời tại nhà riêng ở thái ấp Thượng Hữu, Huyện Thượng Nguyên, phủ Thiên Trường, trấn Sơn Nam. Nhà Lê trung Hưng truy tặng ông là Thái Tể Trung Quốc Công, ban tên thụy là Văn Hiến. Triều đình Lê Trung Hưng cử đại thần về tổ chức tang lễ, xuống chiếu cho Lại Thế Vinh làm phúc thần là Lại Đại Vương Thượng Thượng Đẳng Tôn Thần, cho con cháu và dân xã Thượng Hữu lập đền thờ phụng.
Tháng 10 năm 1578, Trịnh Tùng lại được thám mã về cấp báo:
-Dạ, bẩm Tiết chế, quân Mạc do Mạc Kính Điển chỉ huy đang tiến tới Giang Biểu.
Trịnh Tùng nói:
-Cho gọi tướng Trịnh Bách vào đây.
-Dạ.
Trịnh Bách vào, Trịnh Tùng ra lệnh:
Tướng quân đem 5 vạn quân đến Phụng Công phá giặc lập công.
-Mạt tướng tuân lệnh.
Mạc Kính Điển từ Giang Biểu tiến tới Phụng Công. Quân Mạc sa vào trận địa của quân Nam Triều. Quân Nam Triều dùng cung nỏ và súng hỏa mai từ bốn phía bắn vào, quân Mạc chết xác chồng như núi, máu chảy thành sông, quân Mạc đại bại. Mạc Kính Điển kinh hoàng mở đường máu, thu tàn quân về Bắc.
Tháng 11 năm năm 1579, Mạc Kính Điển đang ngồi uống trà trong tư dinh ở Đông Kinh thì có tùy tướng vào báo:
-Dạ bẩm Khiêm Vương, tướng quân Mạc Ngọc Liễn đi đánh chúa Bầu Vũ Công Kỷ ở Tuyên Quang bị bại trận rút về, xin vào chịu tội.
-Cho vào.
Mạc Ngọc Liễn bước vào quỳ và nói:
-Mạt tướng bị bại trận, xin chịu quân pháp, mong Khiêm Vương trừng trị.
Mạc Kính Điển hỏi:
-Vì sao tướng quân bại trận?
-Dạ, rừng núi Tuyên Quang vô cùng hiểm trở, mạt tướng chủ quan, bị quân của Vũ Công Kỷ mai phục.
-Được thua là chuyện bình thường của binh gia. Tướng quân đứng dậy đi.
-Đa tạ Khiêm Vương tha tội.
Sau một lượt trà, Mạc Kính Điển nói:
-Lần này chúng ta sẽ tấn công Thanh Hóa, trước hết tấn công vào Tống Sơn, nếu phá tan quân Nam Triều ta sẽ chiếm Tây Đô làm căn cứ vững chắc. Từ Tây Đô ta sẽ uy hiếp Vạn Lại-An Trường.
Tranh minh họa: Mạc Mậu Hợp mang tiếng làm vua một nước nhưng không quyết đoán được điều gì. Mọi việc trong triều đều do Mạc Kính Điển quyết định. Sau khi Mạc Kính Điển mất, quyền hành được trao cho một người chú khác là Mạc Đôn Nhượng là người nhu nhược, không quyết đoán. Trong khi đó, Mạc Mậu Hợp sống xa hoa, ham mê tửu sắc, ít lắng nghe lời khuyên can của các bậc lương thần. Tháng 12 năm 1592, quân Nam triều do Trịnh Tùng chỉ huy tổng tiến công cả đường thủy và đường bộ, quân Mạc nhanh chóng bị Nam triều đánh bại. Nhà Mạc chính thức mất Bắc Triều từ đó. Mậu Hợp dù trị vì tới 30 năm (1562 - 1592), là vị vua cuối cùng của nhà Mạc trong giai đoạn phân chia Bắc triều (Mạc) với Nam triều (Lê – Trịnh). Sau bại trận, con cháu nhà Mạc còn sống sót phải lui về Cao Bằng. Nguồn: Internet.
Mạc Ngọc Liễn nói:
-Mạt tướng xin đi tiên phong lập công chuộc tội.
-Tốt lắm, tướng quân về chuẩn bị đi.
-Mạt tướng tuân lệnh
Đó là một ngày tháng 11 năm 1579, Trịnh Tùng sau bữa cơm trưa đang ngồi uống trà thì có thám mã về báo:
-Dạ bẩm Tiết chế, quân Mạc do Mạc Ngọc Liễn làm tiên phong, Mạc Kính Điển thống lĩnh đã đánh vào phủ Hà Trung, đang tiến vào xã Chương Các rồi ạ.
-Bay đâu.
-Dạ.
-Gọi các tướng Đặng Huấn, Trịnh Văn Hải và Vũ Sư Thước vào đây.
-Dạ.
Tướng Đặng Huấn, Vũ Sư Thước và Trịnh Văn Hải bước vào:
-Kính chào Đô tướng Tiết chế.
Ngồi xuống đi.
Sau một lượt trà, Trịnh Tùng nói:
-Mạc Kính Điển đã đem 7 vạn quân tấn công vào Tống Sơn, phủ Hà Trung, hiện đã đến xã Chương Các. Tướng quân Vũ Sư Thước và Đặng Huấn.
-Dạ, có mạt tướng.
-Hai tướng quân đem 3 vạn quân bí mật đi qua Thái Đường, tiến ra Mục Sơn, gần sông Bình Hòa, chờ có pháo hiệu bắn lên trời thì đánh tập hậu vào sau lưng quân Mạc.
-Mạt tướng tuân lệnh.
-Tướng quân Trịnh Văn Hải.
-Dạ, có mạt tướng.
-Tướng quân đem 3 vạn quân đi tiên phong đến núi Kim Âu đánh vào trước mặt quân Mạc, phối hợp với Đặng Huấn, Vũ Sư Thước phá giặc.
-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.
Trịnh Văn Hải đến núi Kim Âu, canh ba đêm đó bắn pháo lên trời và tấn công vào mặt Nam doanh trại quân Mạc. Đặng Huấn và Vũ Sư Thước nhận được tín hiệu, từ cầu Bình Hòa tấn công phía sau quân Mạc. 7 vạn quân Mạc bị đánh bất ngờ và lọt vào vòng vây. Một trận chém giết khủng khiếp của 13 vạn người diễn ra trong đêm, tiếng gươm giáo chạm nhau tóe lửa chát chúa, tiếng reo hò vang dậy trời đất vùng phủ Hà Trung Thanh Hóa. Quân Nam Triều chiếm thế thượng phong. Hàng vạn quân Mạc bị giết, xác chồng chất chật cánh đồng Kim Âu. Sông Bình Hòa quánh đặc đỏ màu máu. Quân Mạc đại bại. Mạc Ngọc Liễn cố mở đường máu, đưa Mạc Kính Điển thoát vòng vây chạy về Đông Kinh. Tổng cộng 5 vạn quân Mạc bị tử trận, Quân Nam Triều cũng thiệt hại 2 vạn.
Tháng 8 năm 1580, Mạc Kính Điển do bệnh cũ tái phát, không ra trận được, ốm đang nằm trên giường trong tư dinh ở Đông Kinh. Có thám mã về báo:
-Dạ bẩm Khiêm Vương, tướng Mạc Ngọc Liễn và Nguyễn Quyện đem quân đánh Thanh Hóa nhưng bị tướng Nam Triều Vũ Sư Thước đánh bại ở Yên Định, đang trên đường rút về.
Mạc Kính Điển nói:
-Cho gọi Mạc Đôn Nhượng vào đây.
Mạc Đôn Nhượng vào. Mạc Kính Điển cầm tay em trai và nói:
-Huynh đã cố hết sức vì nhà Mạc ta, đã nhiều lần đem quân vào Thanh Hóa, có trận được, có trận thua nhưng việc cơ bản là tiêu diệt Nam Triều thì không hoàn thành. Đã thế, nay vận nước và nhà Mạc ta càng khó khăn chồng chất. Nhà Mạc đã mất Nghệ An, Thuận Hóa, không còn địa bàn để uy hiếp phía Nam Lê Trung Hưng. Nay vua ta là Mạc Mậu Hợp bất tài, không lo chính sự, quân sự, ngày đêm say sưa tửu sắc, tai quen nghe lời phỉnh nịnh. Ta nay không sống được nữa, tướng tài của triều đình ta rất ít, trong khi đó Nam Triều nổi lên tay Trịnh Tùng, tài thao lược hơn cả cha là Trịnh Kiểm ngày xưa. Nhà Mạc ta hơn 50 năm chinh chiến, nay vào lúc nhân tài vật lực hao mòn, sa sút. Nay may còn đệ, ta mất đi đệ phải gánh lấy trọng trách của triều đình, là trụ cột của nhà Mạc. Đệ đừng phụ sự ủy thác của ta…
Mạc Đôn Nhượng hoảng hốt:
-Huynh sẽ khỏi bệnh, huynh sẽ lại ra chiến trường, huynh đừng bỏ đệ, đừng bỏ triều đình. Đệ không thể và không có tài gánh vác được công việc chinh chiến nặng nhọc này. Huynh không được chết. Huynh chết thì quốc gia và triều đình nhà Mạc lâm nguy.
Mạc Kính Điển thở dài buồn bã:
-Số trời đã định, không thể cưỡng lại được. Đệ cho gọi hoàng thượng và triều thần vào đây.
-Dạ.
-Bay đâu.
-Dạ.
-Cho mời hoàng thượng và các đại thần vào đây.
-Dạ.
Một lát sau vua Mạc Mậu Hợp, các hoàng thân và các đại thần bước vào. Đó là những gương mặt quen thuộc của triều đình như Mạc Phúc Tư, Mạc Kính Chí, Mạc Kĩnh Vũ, Mạc Nhân Phú, Mạc Quang Khải, Mạc Nhân Quảng, Mạc Đại Đô, Mạc Lý Tường, Mạc Lý Hòa, Mạc Hiệp Cung, Mạc Đăng Lương…Bùi Văn Khuê, Nguyễn Quyện, Mạc Ngọc Liễn, Nguyễn Áng…Mạc Kính Điển nói với Mạc Mậu Hợp và với các đại thần:
-Thần do số trời đã định, tuổi thọ đã hết, không còn sống để phò tá hoàng thượng được nữa. Thần đã ký thác cho em thần là Mạc Đôn Nhượng chức Tiết chế quân thủy bộ để tiếp tục giữ gìn cơ nghiệp nhà Mạc do Mạc Thái Tổ khổ công xây dựng nên, để phò tá triều đình và hoàng thượng. Mong hoàng thượng giữ mình, lấy quốc gia, xã tắc, triều đình làm trọng. Các đồng lưu, các đại thần hãy vì xã tắc, vì nhà Mạc mà ra sức tận trung. Được như vậy dưới suối vàng ta cũng yên lòng.
Những lời cuối cùng Mạc Kính Điển nói nhỏ dần. Trái tim vị Tiết chế thao lược Bắc Triều đã ngừng đập. Đó là tháng 11 năm 1580. Mạc Kính Điển là con trưởng Mạc Thái Tông, không rõ sinh năm nào, nhiếp chính từ 1546 đến năm 1580, phò tá 3 đời vua nhà Mạc.
Cái chết của Mạc Kính Điển, vị tướng tài thao lược nhất Bắc triều là một tổn thất to lớn cho nhà Mạc mà không ai có thể thay thế được. Trong khi đó vua Mạc Mậu Hợp bất tài, đam mê tửu sắc, việc dân chính, quân sự thường dựa hết vào Nhiếp chính vương. Nhiếp chính vương Tiết chế mới là Ứng Vương Mạc Đôn Nhượng, con út Mạc Thái Tông, tài năng thao lược tầm thường. Cho nên Mạc Kính Điển ra đi là bước ngoặt đi xuống của nhà Mạc. Bắc Triều thiếu một Tiết chế tài thao lược tầm cỡ để khả dĩ có thể đối chọi được với Trịnh Tùng.
Sáng mùa đông, Đông Kinh chìm trong giá rét của tháng 11 năm 1581, bầu trời mây đen sì bay thấp là là như có thể chạm vòm mái cong đà đao của lâu đài biệt thự. Gió lạnh từng cơn thổi thốc tháo, lá vàng bay lả tả rơi rụng đầy phố. Vài đàn chim mải miết bay về phương Nam vô định. Phủ của quan Nhiếp chính mới Mạc Đôn Nhượng đông đủ các võ quan trụ cột của nhà Mạc. Gia nhân rót trà nóng bốc hơi vào từng bát đặt trên bàn. Mạc Đôn Nhượng ngồi ghế chủ nhân mời:
-Mời các tướng quân dùng trà cho nóng.
Mọi người bê bát trà và nói:
-Xin kính mời Ứng Vương Nhiếp chính, xin mời các quý vị tướng quân.
Khi mọi người xong một lượt trà, Mạc Đôn Nhượng nói:
-Cố Khiêm Vương đại thần nhiếp chính Mạc Kính Điển ra đi là một tổn thất to lớn của nhà Mạc ta, nay ta được ủy thác gánh trọng trách phò vua nhiếp chính. Chúng ta còn có trách nhiệm nặng nề là tiêu diệt Nam Triều. Ta muốn mở cuộc hành binh tấn công vào Thanh Hóa. Các quý vị có cao kiến gì không?
Nguyễn Quyện nói:
-Mạt tướng nghe nói Trịnh Tùng đã bố trí binh lực chốt giữ những nơi hiểm yếu, ra lệnh cho dân cất giấu của cải, lương thực, làm vườn không nhà trống gây cho ta khó khăn về lương thực. Như vậy ta khó trụ lâu dài ở Thanh Hóa để tấn công Vạn Lại-An Trường…
Tượng Mạc Đôn Nhượng.
Danh tướng Mạc Đôn Nhượng (?-1593) là hoàng tử và là tướng nhà Mạc trong lịch sử Việt. Ông là con thứ bảy của Mạc Đăng Doanh, em Mạc Phúc Hải và Khiêm vương Mạc Kính Điển. Năm Quí tị 1593, trung tuần tháng giêng âm lịch ông bại binh kết thúc thời Nam Bắc triều. Ông chạy về ẩn náu ở An Bắc (nay thuộc huyện Sơn Đông, tỉnh Lạng Sơn), rồi bệnh mất, thọ 60 tuổi.
Nguyễn Quyện bê bát nước uống một ngụm, đặt bát rồi nói tiếp:
-Chi bằng lần này ta vẫn dùng thế mạnh của ta là thủy binh đổ bộ vào Lạch Trường. Sau đó Nhiếp chính Vương cùng 2 vạn quân đổ bộ đánh vào Quảng Xương để phân tán binh lực của Nam Triều, 200 chiến thuyền do tướng Bùi Văn Khuê chỉ huy đỗ ở Lạch Trường đề phòng phải rút lui thì chở đại quân. Mạt tướng sẽ chỉ huy 500 chiến thuyền và 4 vạn quân còn lại theo sông Mã đánh lên, nếu thắng lợi sẽ đánh lên Vạn Lại-An Trường.
Tướng thủy binh Bùi Văn Khuê nói:
-Mạt tướng tán thành ý kiến của nhạc phụ, khi một bộ phận binh lực quan trọng của Trịnh Tùng bị phân tán về Quảng Xương thì thủy quân ta dễ dàng tấn công Vạn Lại-An Trường.
Mạc Đôn Nhượng nói:
Vậy cứ theo kế hoạch tác chiến của lão tướng Quốc Cửu Nguyễn Quyện mà tiến quân. Các tướng quân về chuẩn bị chu đáo, sớm ngày mai xuất quân.
Trong khi đó tại kinh đô kháng chiến Vạn Lại-An Trường của Nam Triều cũng chìm trong giá rét, đồi núi và muôn cây, trong đó có những cây lim cao to vươn lên lắc lư trong gió lạnh. Nước sông Cầu Chày, sông Chu lạnh lẽo xanh rờn chảy âm ỉ suốt ngày đêm. Trong biệt phủ, Trịnh Tùng đang ngồi buồn rầu sau cái chết của lão tướng Vũ Sư Thước vì đã quá già. Trước khi chết còn lập chiến công đánh cho quân Mạc khiếp đảm kinh hồn. Không biết lão tướng sinh năm nào nhưng tạ thế năm 1580, có lẽ hưởng thọ hơn 70 tuổi. Cuộc nội chiến Nam-Bắc Triều đã hơn 50 năm rồi. Một thế hệ khai quốc công thần, các lão tướng đã ra đi gần hết. Đầu tiên là ông ngoại Nguyễn Kim, cậu là Nguyễn Uông, cha là Trịnh Kiểm, rồi đến khai quốc công thần Lại Thế Vinh, Lại Thế Khanh và nay là Vũ Sư Thước. Một tùy tướng bước vào làm đứt dòng suy tư của Trịnh Tùng:
-Dạ bẩm Đô tướng Tiết chế, có thám mã về báo tin khẩn cấp:
-Cho vào.
-Dạ.
Thám mã vào:
-Dạ bẩm Đô tướng Tiết chế, Khiêm vương nhiếp chính nhà Mạc là Mạc Kính Điển đã qua đời. Nay em trai là Mạc Đôn Nhượng nắm quyền nhiếp chính.
Trịnh Tùng đập bàn nói:
-Trụ cột nhà Mạc đã đi rồi, lấy ai là đối thủ của ta đây?
Lại có thám mã về báo:
-Dạ bẩm Đô tướng Tiết chế, Mạc Đôn Nhượng đã cho 2 vạn quân đánh phá Quảng Xương, Nguyễn Quyện chỉ huy 500 chiến thuyền và 4 vạn quân đang tiến lên đánh phá dọc sông Mã, uy hiếp Vạn Lại-An Trường.
Trịnh Tùng cười nói:
-Tay Mạc Đôn Nhượng này cũng lắm mưu nhiều kế, đánh Quảng Xương để nhằm chia sẻ binh lực của ta, tạo điều kiện cho Nguyễn Quyện tấn công Vạn Lại-An Trường đây. Bay đâu.
-Dạ.
-Cho gọi các tướng Hoàng Đình Ái, Nguyễn Hữu Liêu, Trịnh Thái, Trịnh Đồng, Trịnh Bình, Hà Thọ Lộc, Trịnh Văn Hải vào đây.
-Dạ.
Các tướng bước vào nói:
-Kính chào Đô tương Tiết chế.
Trịnh Tùng nói với Hoàng Đình Ái:
-Ta giao cho lão tướng chỉ huy cùng các tướng Nguyễn Hữu Liêu, Trịnh Thái, Trịnh Đồng đem 3 vạn quân đến núi Đường Nang Quảng Xương đánh Mạc Ngọc Liễn và Mạc Đôn Nhượng, tại đó tướng quân có thể đánh bao vây hoặc đánh mai phục mà phá giặc.
Bốn tướng đều nói:
-Chúng mạt tướng tuân lệnh.
Trịnh Tùng nói tiếp:
-Các tướng Trịnh Bình, Hà Thọ Lộc, Trịnh Văn Hải theo ta phá thủy quân của Nguyễn Quyện trên sông Mã.
Các tướng đều đáp:
-Chúng mạt tướng tuân lệnh.
Lại nói Mạc Đôn Nhượng đổ bộ lên Quảng Xương, trời đã tối nên cho đóng quân ở chân núi Đường Nang hiểm trở. Đêm đó, quân của Hoàng Đình Ái lẻn vào bí mật bắn chết những tên lính tuần tra, canh gác rồi từ phía đồng ruộng xông vào chém giết. Quân Mạc bị bất ngờ vùng dậy chống trả kiên cường. Không ngờ từ phía Đường Nang, quân Nam Triều như từ trong núi chui ra đánh tập hậu quân Mạc. Gươm giáo chạm nhau tóe lửa, tiếng reo hò kinh thiên động địa vang động vùng Quảng Xương. Quân Mạc đại bại, bỏ lại chiến trường 1 vạn xác chết. Mạc Ngọc Liễn mở đường máu hộ vệ Mạc Đôn Nhượng chạy ra được cửa Lạch Trường, lên 200 chiến thuyền cùng tàn quân chạy ra Bắc.
Cánh thủy binh của Nguyễn Quyện đổ bộ lên bờ thì bị quân Nam Triều do Trịnh Tùng chỉ huy đánh bật xuống sông. Từ phía Tây sông Mã, những chiếc thuyền nhỏ chứa chất cháy đỏ rực theo gió lao xuống hạ lưu. Chiến thuyền Nguyễn Quyện có nguy cơ bị đốt cháy. Nguyễn Quyện vội hạ lệnh quay mũi thuyền cho nhanh chạy ra cửa Lạch Trường. Có thám mã về báo:
-Dạ, quân của Nhiếp chính Vương Mạc Đôn Nhượng đã đại bại ở núi Đường Nang Quảng Xương.
Nguyễn Quyện cả sợ:
-Nay Nhiếp chính vương ở đâu?
-Dạ, đem 1 vạn quân rút về Bắc rồi ạ.
Nguyễn Quyện ra lệnh:
-Theo đường biển rút về Bắc nhanh lên.
-Tuân lệnh.
Đoàn thủy binh chiến bại dong buồm chạy dưới trời mùa đông ảm đạm. Sóng biển gầm gào vỗ dưới những mạn thuyền trắng xóa.
* *
*
Tại Đông Kinh, Mạc Mậu Hợp hỏi Mạc Phúc Tư:
-Làm sao để nâng cao chí khí quân đội và tướng lĩnh?
Mạc Phúc Tư đáp:
-Tâu hoàng thượng, nên gia phong chức tước cao cho các lão tướng.
-Khanh nói chính hợp ý trẫm.
Tháng 10 năm 1584, nhà Mạc phong Giáp Trưng làm Sách Quốc Công, phong Nguyễn Quyện làm Trường Quốc Công, sau đó tháng 6 năm 1586 lại phong Nguyễn Quyện làm Nam quân tả đô đốc, Mạc Ngọc Liễn được phong làm Thái bảo Hoàng Quận Công. Mạc Đăng Lượng được phong làm Phủ Tả Đô Đốc, tháng 6 năm 1586 được phong làm Phó quốc vương.
Để lấy lại thanh thế, năm 1583, Mạc Đôn Nhượng đem đại quân đánh phá Thanh Hóa nhưng bị Trịnh Tùng đánh thua phải rút lui. Đây là lần cuối cùng nhà Mạc Nam tiến. Từ đây chiến cuộc bắt đầu bất lợi cho nhà Mạc. Nhà Mạc chỉ lo phòng thủ. Quân Nam Triều bước sang giai đoạn phản công ra Bắc. Tại Đông Kinh, một ngày năm 1583, Mạc Mậu Hợp và Mạc Đôn Nhượng nhận được tin cấp báo:
-Dạ, bẩm hoàng thượng và quan nhiếp chính, Trịnh Tùng đem quân đánh đến Yên Mô, Yên Khang Sơn Nam gặt hết lúa và rút về ạ.
Một ngày năm 1584 tin báo:
-Dạ bẩm hoàng thượng và quan Nhiếp chính, Trịnh Tùng đem quân đánh đến Trường Yên, Sơn Nam ạ.
Một ngày mùa xuân năm 1585 tin báo:
-Dạ bẩm hoàng thượng và quan Nhiếp chính, Trịnh Tùng cho quân đánh đến Thiên Quan, đánh đến huyện Mỹ Lương, Thạch Thất và An Sơn, Quốc Oai - Sơn Tây và tiến đến núi Sài Sơn thì rút về, chỉ để lại Chiêu Quận Công ở chợ Quảng Xá, Quốc Oai nhưng bị quân ta đánh, Chiêu Quận Công tử trận ạ.
Trước tình hình đó Mạc Mậu Hợp hỏi Mạc Đôn Nhượng:
-Quân Nam Triều ngày càng lấn tới, Nhiếp chính vương có kế sách gì hay không?
Mạc Đôn Nhượng đáp:
-Dạ tâu hoàng thượng, để đề phòng quân Nam Triều đánh Đông Kinh, xin cho đào thêm ba vòng hào, đắp thêm ba vòng chiến lũy quanh thành, cắm chông và trồng tre gai dày đặc quanh thành để tiện cho việc phòng thủ.
Mạc Mậu Hợp nói:
-Chuẩn tấu, khanh huy động lực lượng nhanh chóng hoàn thành những công trình ấy đi.
-Thần tuân chỉ.
Đông Kinh từ đó dày đặc chiến hào, chiến lũy, tre gai như pháo đài trong rừng rậm.
Tháng 9 năm 1584, Trịnh Cối chết ở Đông Kinh, nhà Mạc sai quan viên đến lo tang lễ, phúng điếu, lại sai người đưa linh cửu, vợ con về quê nhà Thanh Hóa. Trịnh Tùng sai quan viên ra đón rước linh cửu về quàn ở núi Quân Yên, huyện Yên Định để lễ lạt cúng tế rồi mai táng, sai con là Trịnh Xuân mặc đồ tang đứng cạnh quan tài cùng con cái, gia đình Trịnh Cối. Trịnh Tùng dâng biểu xin vua Lê Thế Tông tha tội cho Trịnh Cối, truy phong Thái phó Trung Quốc Công.
Ngày 29 tháng 6 năm 1586 phủ chúa của Trịnh Tùng ở An Trường phát hỏa, gặp nắng khô và gió to nên cháy từ giờ Ngọ đến giờ Thân, cháy tất cả trại quân, công sở, cung điện, phố xá đến vài nghìn nóc nhà. Thân mẫu Trịnh Tùng, bà Nguyễn Thị Ngọc Bảo bị chết trong hỏa hoạn. Bà là trưởng nữ của khai quốc công thần Chiêu Huân Tĩnh Quận Công Nguyễn Kim (1468-1545), mẹ là một người họ Đỗ. Bà là thứ phi của Minh Khang Thái Vương Trịnh Kiểm (1503-1570), thân mẫu của Lãng Quốc Công Nguyễn Uông (?-1545), của Đoan Quốc Công Nguyễn Hoàng (1525-1613). Bà được triều Lê Trung Hưng truy tặng Từ Nghi Vương Thái Phi.
Lại nói Nam Triều có một đại thần là Thái phó Vệ Dương Hầu Trịnh Bách nuôi âm mưu hãm hại Trịnh Tùng. Trước kia Trịnh Bách cùng đồng bọn với Lê Cập Đệ, đã bị Tùng bắt giam vào ngục, may nhờ có bà Nguyễn Thị Ngọc Bảo xin giúp nên được tha. Mùa hạ năm 1587, Trịnh Bách nuôi đồng cốt làm yêu thuật ma quái hại Tùng, lại táng hài cốt của cha vào cấm địa để mong phát tích. Việc bại lộ, bị Trịnh Tùng bắt và cho đặc ân chết toàn thây bằng cách thắt cổ (xử giảo).
Mùa đông năm 1587 tại Đông Kinh, Mạc Mậu Hợp đang say sưa tiểu sắc trong cung, chợt có nội giám vào báo:
-Dạ bẩm hoàng tượng, Trịnh Tùng đem 5 vạn quân đang tiến đánh Trường Yên và Thiên Quan.
-Dạ bẩm hoàng thượng, Trịnh Tùng đã tiến ra Mỹ Lương, Chương Mỹ và huyện Lương Sơn, uy hiếp mặt Tây Đông Kinh ạ.
Mạc Mậu Hợp ra lệnh:
-Sai Mạc Ngọc Liễn và Quốc cửu Nguyễn Quyện đem 6 vạn quân chống giặc, bảo vệ phía Tây Đông Kinh.
-Dạ, tuân lệnh hoàng thượng.
Mạc Ngọc Liễn đem 3 vạn quân đến Ninh Sơn đánh vào phía tả quân Nam Triều, Nguyễn Quyện đem 3 vạn quân tiến vào huyện Chương Đức, Vượt sông Do Lễ, Mỹ Đức đánh vào bên hữu quân Trịnh Tùng. Nguyễn Quyện lợi dụng địa thế hiểm trở hữu ngạn sông Do Lễ bố trí trận địa mai phục. Trịnh Tùng cho Nguyễn Hữu Liêu và Trịnh Đỗ đi về phía tả chống lại quân Mạc Ngọc Liễn, còn tự Trịnh Tùng dàn trận đánh nhau với Nguyễn Quyện. Sắp giao chiến thì có thám mã về báo:
-Dạ bẩm Đô Tướng Tiết chế, phía sau 2 dặm là quân Mạc đang mai phục.
Trịnh Tùng bảo nhỏ Hà Thọ Lộc:
-Khi quân Mạc giả thua dụ quân ta vào trận địa mai phục, tướng quân cứ đuổi theo, khi lọt vào trận địa thì cho quân nằm xuống tránh tên. Ta sẽ từ bên ngoài đánh vào, tướng quân từ bên trong đánh ra sẽ phá được Nguyễn Quyện.
Hai bên dàn trận bên tả ngạn sông Do Lễ, chiêng trống vang lừng, cờ vàng bay phấp phới. Trịnh Tùng và Hà Thọ Lộc đối diện với Nguyễn Quyện và Mạc Đại Đô. Mạc Đại Đô cưỡi ngựa đen, múa giáo xông ra. Bên này Hà Thọ Lộc múa đại đao phi tới. Hai tướng xáp nhau giao chiến, giáo chạm đại đao tóe lửa. Quân hai bên hò reo vang dội, chiêng trống vang lừng. Đánh khoảng 10 hiệp, Mạc Đại Đô giả vờ thua quay ngựa chạy, quân Mạc cũng ào ào chạy theo. Hà Thọ Lộc dẫn vài nghìn quân đuổi theo. Khi trông thấy tên lửa bắn lên trời, Hà Thọ Lộc ra lệnh cho quân nằm xuống tránh những trận mưa tên. Thốt nhiên nghe bên ngoài tiếng trống vang lừng, quân Mạc rối loạn. Hà Thọ Lộc cho quân vùng dậy đánh ra, quân Trịnh Tùng bên ngoài đánh vào. Quân Mạc đại bại, thây đổ như chuối, máu nhuộm đỏ dặc sông Do Lễ. Nguyễn Quyện dẫn 1 vạn tàn quân mở đường máu chạy về Đông Kinh.
Bên phía hữu sông Do Lễ, thám mã về báo cho Mạc Ngọc Liễn:
-Dạ, bẩm tướng quân, lão tướng Nguyễn Quyện bại trận, 2 vạn quân bị giết, 1 vạn quân đã cùng lão tướng chạy về Đông Kinh rồi ạ.
-Hả? Rút nhanh.
Mạc Ngọc Liễn cùng Mạc Phúc Sơn chưa đánh đã chạy. Bọn Nguyễn Hữu Liêu, Trịnh Đỗ, Trịnh Đồng, Trịnh Ninh dẫn quân truy kích. Quân Mạc chỉ có tháo chạy, hàng vạn xác chết rải đầy đường đi do dầy xéo lên nhau. Dù chiến thắng nhưng Trịnh Tùng biết chưa đủ lực vào Đông Kinh nên dừng lại và rút về.
Mùa đông năm 1589 Trịnh Tùng đem 4 vạn quân đánh Yên Mô. Mạc Đôn Nhượng đem 7 vạn quân ra Sơn Nam quyết một trận sống mái với Trịnh Tùng. Trời mùa đông gió rét căm căm, gió lạnh như dao cắt, cây cối vùng Yên Mô, Tam Điệp một màu vàng úa, những cây lau trên những đồi núi nở bông màu trắng xám phất phơ trước gió như cờ quân Hoa Lư của Đinh Tiên Hoàng xưa.
Trên một bãi rộng mênh mông của Yên Mô, 7 vạn quân Mạc dàn trận đối diện với 4 vạn quân Nam Triều, cờ vàng rợp trời, gươm giáo tua tủa như rừng, trống chiêng dậy đất. Quân sĩ hai bên đều quân phục màu nâu, áo giáp sắt. Mạc Đôn Nhượng cưỡi ngựa đen, cao to. Bên cạnh là Mạc Ngọc Liễn, Nguyễn Quyện, các vương thân Mạc Phúc Sơn, Mạc Nhân Phú. Đối diện bên kia là Trịnh Tùng, hai bên là Trịnh Đỗ, Trịnh Đồng. Mạc Đôn Nhượng nói to:
-Ai ra bắt Trịnh Tùng cho ta.
Mạc Ngọc Liễn thúc ngựa đen cầm đại đao xông ra, bên này Trịnh Đồng cầm dao lớn lao tới. Hai bên quần nhau, dao lớn chạm đại đao tóe lửa, tiếng quân lính hai bên reo hò vang trời chuyển đất vùng Yên Mô Tam Điệp. Đánh được 50 hiệp, Trịnh Đồng thua quay ngựa chạy về. Quân Mạc ào lên chém giết. Quân Nam Triều tan vỡ tháo chạy. Bọn Trịnh Đồng, Ngô Cảnh Hựu, Trịnh Ninh ra sức đánh chặn cho đại quân và Trịnh Tùng rút lui. Bước chân 4 vạn quân Nam Triều tháo chạy cùng bước chân 7 vạn quân truy đuổi làm trời đất như rung chuyển. Quân Mạc đuổi đến dốc Tam Điệp, hai bên đồi núi cây cối um tùm. Thốt nhiên ba phát pháo hiệu vang lên, quân Mạc còn đang ngơ ngác thì hàng vạn mũi tên từ hai bên rừng cây phóng ra như mưa. Hàng vạn quân Mạc gục xuống. Có tiếng la thất thanh:
-Có mai phục, có mai phục.
Quân Nam Triều của Trịnh Ninh, Nguyễn Cảnh Hựu phía trước quay lại đánh, quân Nguyễn Hữu Liêu khóa đuôi chặn đánh phía sau, 7 vạn quân Mạc lọt vào vòng vây khủng khiếp như thiên la địa võng ở Tam Điệp. Từ 4 hướng đá và tên như thác dội xuống quân Mạc. Thây chất như núi, máu tuôn như suối. Tiếng la hét, tiếng ngựa kêu, tiếng reo hò kinh thiên động địa. Đây là trận đánh tiêu diệt lớn nhất trong lịch sử nội chiến Nam-Bắc triều. Mạc Đôn Nhượng nhờ các tướng mở đường máu chạy theo đường mòn mới thoát cùng 2 vạn quân. Quân Nam Triều giết chết 4 vạn, bắt sống 1vạn. Trận thất bại Tam Điệp làm chấn động toàn bộ lãnh thổ và triều đình nhà Mạc. Từ đó cứ nghe nói đến quân Nam Triều là quân Mạc vô cùng khiếp sợ.
Mùa đông năm 1591, rừng núi Tùng Thiện, Ba Vì Sơn Tây chìm trong giá rét. Từng cơn gió thổi xào xạc, lá vàng bay lả tả, lá xanh trên những đồi cao thấp phủ một màu sương trắng xóa. Những tiếng chim-thanh âm của núi rừng mang tác. Trịnh Tùng đang ngồi trong hành dinh ở Ngọc Tảo, đang tính toán phương lược từ Sơn Tây đánh xuống Đông Kinh. Chợt có thám mã về báo:
-Dạ bẩm Đô tướng Tiết chế, Mạc Mậu Hợp đã đem hết quân bốn vệ, năm phủ được khoảng 10 vạn đã hành quân tới Phấn Thượng, cách hành dinh quân ta 5 dặm.
Tranh minh họa về danh tướng Nguyễn Quyện.
Nguyễn Quyện (阮勌; 1511-1593) là danh tướng trụ cột của nhà Mạc thời Nam Bắc triều trong lịch sử Việt Nam, tước Văn Phái hầu sau được phong làm Thạch quận công, Chưởng phù Nam vệ, Quốc công, Tả đô đốc Nam đạo, Thái bảo. Nguyễn Quyện là con của Thư Quận công, Thượng thư, Trạng nguyên Nguyễn Thiến, quê nội làng Tảo Dương, quê ngoại làng Canh Hoạch, phủ Thanh Oai nay thuộc tỉnh Hà Nội. Nguồn: Internet
Trịnh Tùng bảo Nguyễn Hữu Liêu:
-Nổi trống báo động toàn quân ra dàn trận nghênh chiến.
-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.
Những hồi trống ngũ liên thúc dục vang lên. 7 vạn quân Nam Triều dàn trận chờ 10 vạn quân Bắc Triều. Trịnh Tùng cưỡi voi, mặc áo chiến bào tía, đội mũ đâu mâu màu tía, áo giáp tía, lưng mang thanh gươm, trên đầu che lọng tía. Người quản tượng mang quân phục màu nâu, đầu quấn khăn nâu, tay mang búa gỗ để điều khiển voi. 7 vạn quân Nam Triều quân phục màu nâu, gươm giáo tua tủa, tinh kỳ vàng trời đất. Bên cạnh dưới voi là các tướng Hoàng Đình Ái, Nguyễn Hữu Liêu, Hà Thọ Lộc, Nguyễn Cảnh Hựu…Canh giờ sau nghe bước chân rầm rập, mặt đất rung chuyển, cờ xí rợp trời, 10 vạn quân của Mạc Mậu Hợp đang tiến đến. Mạc Mậu Hợp mặc chiến bào vàng, áo giáp vàng, đi hài vàng, đội mũ đâu mâu vàng, đeo gươm nhỏ. Đi bên cạnh là các tướng Nguyễn Quyện, Mạc Ngọc Liễn, Bùi Văn Khuê, Trần Bách Niên… Trịnh Tùng không chờ cho quân Mạc Mậu Hợp dàn trận, trên mình voi trỏ gươm thét lớn:
-Xông lên giết giặc.
Trống lớn hàng trăm chiếc thúc ngũ liên. Quân Nam Triều hò reo xông lên chém giết. Sau trận đại bại ở Tam Điệp, quân Mạc cứ trông thấy quân Nam Triều là hoảng loạn, dù quân số đông hơn nhưng đã sụp đổ về tinh thần, náo loạn nên tan vỡ tháo chạy trước sức tấn công dũng mãnh của quân Nam Triều. Trong phút chốc, 3 vạn quân Mạc bị giết, thây chồng chất bên đồng, máu phun đỏ đất suốt từ Tùng Thiện đến bờ sông Đáy. Hai đại tướng nhà Mạc là Quận Khuông và Quận Tân tử trận tại Tùng Thiện. Trước Mặt quân Mạc là sông Đáy, sau lưng là 7 vạn quân Nam Triều truy sát như bão táp. Tính mạng Mạc Mậu Hợp vô cùng nguy cấp. Trước tình thế đó, Nguyễn Quyện, Bùi Văn Khuê, Mạc Ngọc Liễn, Trần Bách Niên thét quân bản bộ họp lại được khoảng 4 vạn dàn trận ngăn quân Trịnh Tùng cho Mạc Mậu Hợp xuống thuyền qua sông, nếu không vua Mạc sẽ bị giết hoặc bị bắt. Quân Trịnh Tùng tràn tới. 4 vạn quân bản bộ của các tướng Mạc giao chiến kịch liệt với 7 vạn quân Nam Triều. Quân Mạc Mậu Hợp tranh nhau qua sông chết đuối hàng nghìn. Khi Mạc Mậu Hợp đã qua được sông, các tướng Mạc cũng vừa đánh vừa rút xuống thuyền về Đông Kinh tổ chức phòng thủ. Trong trận Tùng Thiện và sông Đáy, 5 vạn quân Mạc và các tiểu tướng đã tử trận.
Nhược điểm lớn nhất của quân Nam Triều là không có thủy binh, cho nên hiệu quả tác chiến bị hạn chế nếu gặp sông nước, như trận Tùng Thiện- sông Đáy đã để cho Mạc Mậu Hợp và các tướng lĩnh qua sông chạy thoát về Đông Kinh tổ chức phòng thủ. Tuy vậy lần này Trịnh Tùng quyết tấn công Đông Kinh. Trịnh Tùng nói với các tướng:
-Quân giặc đang trên đà thất bại nên chúng ta nên chớp thời cơ tiến đánh Đông Kinh. Các tướng nghe lệnh:
-Tướng quân Nguyễn Hữu Liêu.
-Có mạt tướng.
-Tướng quân đem quân vượt qua cầu Gia Kiều, đánh vào Tây Nam Đông Kinh.
-Mạt tướng tuân lệnh.
-Tướng quân Trịnh Ninh.
-Có mạt tướng.
-Tướng quân đem quân đánh vào Đống Đa, cửa Tây thành Đông Kinh.
-Mạt tướng tuân lệnh.
-Tướng quân Hoàng Đình Ái.
-Có mạt tướng.
-Tướng quân đem 1,5 vạn quân đánh vào cửa Trần Kiều, cửa Nam Giao, Bạch Mai thuộc phía Đông Nam Đông Kinh.
-Mạt tướng tuân lệnh.
-Tướng quân Thùy Trang Hầu.
-Có mạt tướng.
-Tướng quân đem 1,2 vạn quân đánh vào cầu Mộng Kiều, phía Đông Đông Kinh.
-Mạt tướng tuân lệnh.
-Tướng quân Trịnh Đỗ
-Có mạt tướng.
-Tướng quân đốc xuất tiền quân và Trung quân.
-Mạt tướng tuân lệnh.
-Ta sẽ là tổng chỉ huy 5 đạo quân, ngoài ra ta sẽ có 2,5 vạn quân chi viện cho các hướng. Ta đóng Tổng hành dinh ở phường Hồng Mai.
Trịnh Tùng cho quân ăn Tết Nguyên Đán, sau Tết cho lập đàn tế trời đất, tế các tiên đế nhà Lê, nhà Trịnh, đặt ra ba điều cấm tướng sĩ, ai vi phạm chiểu theo quân luật trừng trị:
1. Không được vào nhà dân lấy lương thực củi đuốc.
2, Không được cướp của cải và chặt cây cối.
3.Không được hiếp dâm đàn bà con gái.
Sau khi đọc quân lệnh trên đàn tế, ngày 5 Tết, Trịnh Tùng ra lệnh các đạo quân tiến đánh Đông Kinh. Ba điều cấm binh sĩ không được làm lan truyền khắp kinh thành, cho nên quân Nam Triều đi đến đâu, bách tính vui mừng đem gạo nước, bánh quà ra úy lạo, đón tiếp đầy đường.
Quân Nam Triều tấn công thành ngoài từ giờ Tỵ đến giờ Mùi. Ở các hướng cửa Tây Nam, cửa Tây, các tướng Mạc giữ thành là Nguyễn Quảng, Bùi Văn Khuê, Trần Bách Niên bỏ chạy. Tại cửa Đông Nam, tướng Nam Triều Hoàng Đình Ái có voi hỗ trợ đanh tan phục binh của Nguyễn Quyện. Tại đây, 1 vạn quân Mạc bị giết. Lão tướng Quốc cửu Nguyễn Quyện bị bắt, được giải đến gặp Trịnh Tùng. Trịnh Tùng vội bước xuống quát:
-Cởi trói cho lão tướng, không được vô lễ.
-Dạ.
Sau khi được cởi trói, Nguyễn Quyện quỳ và nói:
-Trời không phù hộ nhà Mạc nữa, lão phu đã thua trận nói gì cũng hổ thẹn mà thôi.
Trịnh Tùng đỡ Nguyễn Quyện dậy và an ủi:
-Lão tướng biết số nhà Mạc đã hết, nên theo về Nam Triều mà hưởng phú quý khi tuổi già.
Nguyễn Quyện lòng vẫn theo nhà Mạc nên cố giúp nhà Mạc khi còn chút hơi tàn, liền nói:
-Đô tướng Tiết chế nên phá hết hào lũy ở Đông Kinh để nhà Mạc có quay lại cũng không thể cố thủ được nữa.
Mục đích của Nguyễn Quyện là làm cho quân Nam Triều mất thời gian phá hào lũy, tạo thời gian cho nhà Mạc tổ chức phòng thủ. Không ngờ Trịnh Tùng nghe theo và nói:
-Lời của Lão tướng thật là cao kiến. Tướng quân Nguyễn Hữu Liêu đâu.
-Có mạt tướng.
-Tướng quân cho quân sĩ lấp hào, san bằng chiến lũy, phá hết tre gai quanh thành Đông Kinh đi.
-Mạt tướng tuân lệnh.
Hoàng Đình Ái nói:
-Đô tướng Tiết chế hãy dẫn quân vào Đông Kinh, mạt tướng dẫn thủy binh đánh Mạc Mậu Hợp đang cố thủ trên sông Nhị Hà.
Ta không đủ lực lượng thủy binh, nếu tác chiến trên sông Hồng thì ta thua hoặc là tổn thất lớn.
Đền Vực Vông ở cố đô Hoa Lư (Ninh Bình) còn lưu giữ 17 sắc phong về Bùi Văn Khuê
Bùi Văn Khuê (chữ Hán: 裴文奎, 1546 - 1600) là tướng nhà Mạc và nhà Lê trung hưng trong lịch sử Việt Nam. Ông tham gia cuộc chiến tranh Lê-Mạc và phục vụ cho cả hai bên trong cuộc chiến này. Nguồn: vi.wikipedia.org
Trịnh Đồng nói:
-Vậy thì Đô tướng Tiết chế vào Đông Kinh rồi đón hoàng thượng ra, như vậy là hoàn thành công cuộc trung hưng thống nhất đất nước.
Trịnh Tùng đáp:
-Việc chiến tranh không nên lỡ thời cơ nhưng cũng không nên vội vã. Nay lực lượng nhà Mạc dù mới thua trận nhưng còn rất mạnh ở phía Bắc và đặc biệt là Dương Kinh, đem hoàng thượng ra lúc nay thì rất mạo hiểm. Chi bằng lui binh về Thanh hóa 1 năm nữa, chờ thời cơ chín muồi sẽ tiêu diệt chúng, khi đó đưa hoàng thượng ra Đông Kinh cũng chưa muộn.
Trịnh Tùng lại nói với Nguyễn Quyện:
-Ta phong hàm tước cho lão tướng, lão tướng chịu không?
Nguyễn Quyện đáp:
-Đa tạ Đô tướng Tiết chế, lão phu vẫn nặng duyên với nhà Mạc. Xưa vì thân phụ lão phu là Nguyễn Thiến theo nhạc phụ Lê Bá Ly nên lão phu theo Nam Triều, sau khi thân phụ qua đời lại theo Mạc. Nay con gái lão phu là đương kim hoàng hậu nhà Mạc, con gái thứ Nguyễn Thị Niên là phu nhân của tướng thủy quân Mạc Bùi Văn Khuê. Hai con trai của Lão phu là Nguyễn Bảo Trung và Nguyễn Nhã Trạch vừa rồi tử trận khi bảo vệ Đông Kinh. Lão phu không muốn phản bội con cái, phần thì đã già rồi, không muốn sống nữa. Xin Tiết chế ban cho cái chết.
Trịnh Tùng nói:
-Lão phu nói cũng phải.
Liền sai đưa Nguyễn Quyện lên xe, cùng đi với đại quân Trịnh Tùng về Thanh Hóa
* *
*
Đông Kinh năm 1592 dù thời tiết đã sang xuân nhưng khí lạnh vẫn ngập tràn khắp nơi, mưa phùn bay lất phất như sương. Trong cung Thúy Hoa ở Long Phượng Thành, một buổi sáng hoàng hậu nhà Mạc Nguyễn Thị vừa ăn sáng xong đang ngồi uống trà thì có thị nữ vào báo:
-Dạ bẩm hoàng hậu nương nương, có muội của hoàng hậu là Nguyễn Thị Niên, phu nhân của tướng quân Bùi Văn Khuê tới thăm.
Hoàng hậu vui mừng:
-Em gái ta đã tới, cho vào nhanh.
-Dạ.
Thị nữ dẫn Nguyễn Thị Niên vào. Hoàng hậu đứng dậy bước ra ôm lấy em. Hậu tự nghĩ: Sao em gái mình ngày càng đẹp như tiên giáng trần vậy. Rồi hai chị em cứ ôm nhau mãi. Đã nhiều tháng do chiến tranh binh lửa hai chị em không gặp nhau. Nay gặp nhau thật là vui mừng sung sướng. Tiếng nói của hai mỹ nhân như chim hót:
-Muội khỏe không?
-Dạ muội khỏe, còn tỉ.
-Tỉ khỏe nhưng tỉ buồn và ốm vì hai anh tử trận, bố bị quân Nam Triều bắt đưa về Thanh Hóa không biết sống chết ra sao?
Nhắc đến việc đau thương tổn thất của gia đình vừa qua, cả hai chị em đều khóc.
Đại thần nhà Mạc Nguyễn Quyện sinh ra hai trai hai gái. Hai gái thì đúng là hương trời sắc nước. Cô chị thì đã gả cho vua Mạc Mậu Hợp và trở thành hoàng hậu, em là Nguyễn Thị Niên còn đẹp hơn chị nhiều lần và là vợ của tướng thủy quân nhà Mạc Bùi Văn Khuê. Thấy em gái khóc mãi, hoàng hậu an ủi:
-Cha bị bắt nhưng tỉ nghe nói Trịnh Tùng đối xử với cha không tệ lắm. Chị em ta vui lên đi, chứ gặp nhau khóc mãi buồn thêm.
Bùi phu nhân nói:
-Ngày xưa cha đã về với nhà Lê Trung Hưng nhưng do chị em ta đã gắn duyên phận với nhà Mạc nên cha lại quay lại với triều đình. Thế rồi binh lửa liên miên khiến gia đình ta nay chịu tổn thất đau thương. Bây giờ tính mạng cha trong tay kẻ thù không biết sống chết ra sao. Em lo lắm.
Sau khi uống một ngụm trà, Bùi phu nhân nói tiếp:
-Tỉ này.
-Gì muội?
-Hôm nay muội tới đây là thăm tỉ, thứ hai là tỉ xem hoàng thượng có cách gì cứu được cha về không?
Hoàng hậu thở dài:
-Từ khi ở Bồ Đề về hoàng thượng suốt ngày say sưa chè rượu với bọn cung nữ, không chăm lo quân đội tướng sĩ, không lo phòng thủ Đông Kinh, không biết có kế gì chuộc cha về hay không. Để tỉ hỏi xem.
Hoàng hậu vừa dứt lời thì một thị nữ vào báo:
-Dạ bẩm hoàng hậu, có hoàng thượng giá đáo.
- Mời vào, ta cũng đang muốn gặp hoàng thượng.
-Dạ.
Mạc Mậu Hợp đi vào, thấy trong phòng không chỉ có hoàng hậu mà còn có một mỹ nhân tuyệt sắc hơn cả hoàng hậu, nước da trắng như trứng gà bóc, mái tóc dầy mượt óng ôm lấy khuôn mặt trái xoan như ngọc ngà, đôi mắt phượng lung linh, sống mũi dọc dừa thanh tú, môi chúm chím như bông hoa nở, bộ ngực căng tròn, lưng ong thắt đáy, dáng người cực kỳ kiều diễm đoan trang. Hoàng Hậu và Bùi phu nhân quỳ hành lễ:
-Thần thiếp xin chào hoàng thương, hoàng thượng vạn tuế, vạn tuế.
Mạc Mậu Hợp như mơ tiến lại đỡ hoàng hậu và Bùi phu nhân lên, miệng lấp bắp:
-Đây là…là?
-Hoàng thượng quên rồi à? Đây là Bùi phu nhân, em gái thần thiếp Nguyễn Thị Niên.
Mạc Mậu Hợp lúng túng:
-Trẫm xin lỗi, lâu không gặp, mà vì muội lớn và đẹp như tiên giáng trần làm sao trẫm nhớ ra được.
-Dạ, đa tạ hoàng thượng.
Trong khi ngồi uống nước, Bùi phu nhân nói:
-Bẩm hoàng thượng, trong trận chiến bảo vệ kinh thành vừa qua, hai anh trai của hoàng hậu và thần thiếp tử trận, cha của thần thiếp và hoàng hậu bị Trinh Tùng bắt đem về Thanh Hóa. Hoàng thượng và triều đình có cách gì giải cứu cho Người chưa?
Mạc Mậu Hợp đáp:
-Muội cứ ở lại trong cung vài ngày, ta sẽ cùng các đại thần nghĩ cách cứu nhạc phụ rồi sẽ báo cho muội.
-Thần thiếp đa tạ hoàng thượng.
Sau khi về cung, Mạc Mậu hợp cho gọi quan nội giám và truyền chỉ:
-Nhạc phụ ta cũng là nhạc phụ của Bùi Văn Khuê là lão tướng Nguyễn Quyện bị Trịnh Tùng bắt đem về Thanh Hóa. Cho gọi tướng thủy quân Bùi Văn Khuê vào kinh để bàn việc cùng cứu nhạc phụ ta Nguyễn Quyện.
-Thần tuân chỉ.
Sau khi về cung, Mạc Mậu hợp cho gọi tên nội giám chuyên bày trò ma mãnh, ăn chơi trác táng cho Mạc Mậu Hợp. Sau khi đóng kín cửaa, Mạc Mậu Hợp nói:
-Hôm nay, ta gặp em gái của hoàng hâu, đẹp như tiên giáng thế, đẹp nhiều lần so với hoàng hậu. Ta muốn chiếm đoạt muội ấy nhưng…
-Nhưng sao hoàng thượng?
-Muội ấy là phu nhân của Bùi Văn Khuê, tướng thủy quân nên rất quan trọng của triều đình ta. Ngươi có kế gì giúp ta không?

Tranh minh họa: Nguyễn Thị Niên vợ quận công Bùi Văn Khuê. Bà là em gái Hoàng hậu vợ vua Mạc Mậu Hợp, con gái danh tướng Nguyễn Quyện. Nguồn: Internet.
Tên gian thần hỏi:
-Hoàng thượng muốn chiếm đoạt Bùi phu nhân một đêm hay suốt đời.
-Ta muốn suốt đời. Nếu một đêm khi nàng ấy đi rồi ta làm sao chịu đựng được.
-Vậy quá đơn giản.
Mạc Mậu Hợp mừng rỡ:
-Làm thế nào?
-Tướng thì thiếu gì, không có tướng này thì có tướng khác nhưng người đẹp mà hoàng thượng yêu mến chỉ có một, Hoàng thượng cứ hạ chỉ cho Bùi Văn Khuê vào cung bàn việc quân sự và giết đi thì hoàng thượng được ở với mỹ nhân suốt đời.
Mạc Mậu Hợp vui mừng:
-Có vậy mà ta rối trí quá không nghĩ ra.
Khi hai người nói chuyện thì có một bóng đen ngoài cửa nghe hết.Đó là một nội quan thân thiết với Bùi Văn Khuê. Lát sau nội quan đó tìm cách báo cho Nguyễn Thị Niên. Nguyễn Thị Niên cả sợ, vội viết một bức mật thư giao cho một trong số gia tướng tin cậy của Bùi Văn Khuê đang hộ vệ đưa nàng vào cung chạy ngựa về Sơn Nam đưa cho Bùi Văn Khuê.
Lại nói Bùi Văn Khuê nhận được chiếu dụ của Mạc Mậu Hợp triệu vào cung để bàn việc quân, đang chuẩn bị lên đường thì người gia tướng về. Bùi Văn Khuê hỏi:
-Ngươi hộ vệ phu nhân vào kinh sao lại về đây một mình. Phu nhân và 3 người cùng hai thị nữ đâu?
-Dạ bẩm chúa công, có mật thư của phu nhân.
Bùi Văn Khuê vội mở thư đọc. Thư viết: “Nếu có chiếu chỉ triệu vào cung, tướng công không được đi. Hoàng thượng có âm mưu sát hại tướng công để chiếm đoạt thiếp”. Bùi Văn Khuê tức giận đập bàn:
-Thật là hôn quân vô đạo. Ta vào sinh ra tử sống chết vì ngai vàng của nó mà nay nó lại quay lại hại gia đình ta. Vả lại, ngai vàng của họ Mạc cũng sắp đến ngày sụp đổ, thôi thì ta đành về với Nam Triều vậy.
Rồi bảo người gia tướng:
-Tướng quân quay lại Đông Kinh nói với hoàng hậu đưa phu nhân bí mật rời khỏi hoàng thành và về đây ngay. Hẹn ngày mai phải có mặt ở đây, nếu chậm thì sẽ nguy hiểm đến tính mạng phu nhân. Đưa được phu nhân về đây ta sẽ trọng thưởng và cất nhắc, tướng quân sẽ sung sướng cả đời.
-Đa tạ chúa công, mạt tướng tuân lệnh.
Nhờ có hoàng hậu đưa ra khỏi hoàng thành, trưa hôm sau Bùi phu nhân đã về đến tư dinh. Sau khi thưởng cho viên gia tướng 100 lạng vàng, Bùi Văn Khuê đem quân bản bộ 1 vạn, các tùy tướng, gia tướng và hầu hết lực lượng thủy binh của nhà Mạc gồm 200 chiến thuyền tiến ra cửa Đại, về cửa Lạch Trường. Đi theo Bùi Văn Khuê còn có hai tướng nhà Mạc là Phan Ngạn và Ngô Đình Nga. Tướng giữ Lạch Trường của Nam Triều là Thái Quận Công Nguyễn Thất Lý trông thấy chiến thuyền nhà Mạc dương cờ trắng, nghi ngờ, cho một gia tướng đi thuyền ra hỏi:
-Chiến thuyền của tướng quân nào?
Một võ tướng khôi ngô tuấn tú đứng trên thuyền lớn nhất nói xuống:
-Ta là đại thần nhà Mạc Bùi Văn Khuê, ta bị hoàng đế nhà Mạc bức hại, nay ta đem quân bản bộ và 200 chiến thuyền về hàng Nam triều. Tướng quân dẫn Bùi Văn Nguyên, con trai của ta làm tin về báo trước cho Đô tướng Tiết chế Trịnh Tùng. Nếu đón nhận ta sẽ tiến lên Vạn Lại-An Trường yết kiến.
Rồi một chiếc xuồng con đưa Bùi Văn Nguyên xuống đi cùng thuyền tùy tướng của Nguyễn Thất Lý. Nguyễn Thất Lý đã nghe nói đến Bùi Văn Khuê từ lâu, cả mừng, hạ lệnh cho phép đoàn thuyền vào bến chờ đợi. Đoạn sai đem ra hai ngựa, một tùy tướng dẫn đường cùng Bùi Văn Nguyên phi nhanh về Vạn Lại-An Trường. Trịnh Tùng đang ngồi trong hành dinh ở An Trường, có tùy tướng vào báo:
-Dạ bẩm Đô tướng Tiết chế, có tùy tướng của Nguyễn Thất Lý, đi theo là Bùi Văn Nguyên, con của Bùi Văn Khuê xin vào gặp.
- Cho vào.
Tùy tướng và Bùi Văn Nguyên khoảng 10 tuổi bước vào quỳ hành lễ:
-Dạ bẩm Đô tướng Tiết chế, mạt tướng là tùy tướng của tướng quân Nguyễn Thất Lý. Còn đây là Bùi Văn Nguyên, con trai của tướng Mạc Bùi Văn Khuê, xin dâng thư ạ.
Trịnh Tùng nhìn Bùi Văn Nguyên, đó là một thiếu niên khôi ngô tuấn tú và nói:
-Mời tướng quân và đại công tử ngồi. Bay đâu.
-Dạ.
-Rót nước mời tướng quân và đại công tử.
-Dạ.
Rồi Trịnh Tùng bóc thư đọc. Thư viết: “Kính gửi Đô tướng Tiết chế triều Lê Trung Hưng, mạt tướng là Bùi Văn Khuê, tướng thủy binh nhà Mạc, Cả đời mạt tướng chiến đấu vì ngai vàng của Mạc Mậu Hợp, nay vô cớ Mạc Mậu Hợp định giết hại mạt tướng. Mạt tướng đã đem 1 vạn quân bản bộ và các tùy tướng, gia tướng, 200 chiến thuyền cùng toàn bộ gia đình về Nam Triều, đang ở cửa Lạch Trường chờ lệnh. Không biết Đô tướng Tiết chế có mở rộng cửa thu nhận hay không?”.
Trịnh Tùng mừng rỡ nói:
-Đây là một tin mừng đối với Nam Triều, ta chưa thắng được nhà Mạc vì thiếu thủy quân nên cứ Mạc Mậu Hợp chạy sang Bồ Đề là thoát. Nay trời giúp ta thành công trong cuộc trung hưng này rồi.
-Bay đâu, cầm thư này phi nhanh đến Lạch Trường đưa cho tướng quân Bùi Văn Khuê, còn bảo tướng Nguyễn Thất Lý mở cửa Lạch Trường cho tướng Bùi Văn Khuê đi về Vạn Lại-An Trường.
Tại Lạch Trường, Bùi Văn Khuê nhận được thư của Trịnh Tùng, mở đọc. Thư viết: “Nam Triều vinh hạnh được đón tướng quân, các tướng lĩnh, binh sĩ và gia đình,. Tướng quân về đến Vạn Lại-An Trường, tại hạ sẽ đón tiếp trọng thể. Kính Thư. Tiết chế Trịnh Tùng”.
Sáng hôm sau, Nguyễn Thất Lý ra đưa tiễn, 200 chiến thuyền của Sơn Quận Công Bùi Văn Khuê theo sông Mã vào sông Chu, sông Cầu Chày và cập bến Vạn Lại-An Trường. Trên bờ đã thấy quân đội Nam Triều dàn ra, cờ vàng bay phấp phới, trống phách nhã nhạc vang lên. Bùi Văn Khuê bước lên, theo sau là gia đình và các gia tướng, tùy tướng và 1 vạn chiến binh. Trịnh Tùng và các tướng lĩnh Nam Triều trực tiếp ra tận cầu cảng sông Cầu Chày- An Trường đón tiếp. Bùi Văn Khuê cúi mình hành lễ:
-Mạt tướng Bùi văn Khuê, nghe đại danh của Đô tướng Tiết chế đã lâu, nay mới được về dưới cờ cùng Tiết chế phấn đấu cho sự nghiệp trung hưng.
Trịnh Tùng đỡ Bùi Văn Khuê đứng dậy và nói:
-Nghe đại danh của tướng quân đã lâu nay mới được gặp, quả là thỏa lòng mong ước. Tướng quân về dưới cờ là trời giúp nhà Lê Trung Hưng thành công, thống nhất bờ cõi trong nay mai.
Gia đình và các tướng lĩnh của Bùi Văn Khuê lần lượt tới chào Trịnh Tùng và các tướng lĩnh của Nam Triều. Quân sĩ của Bùi Văn Khuê cũng lên bờ dự tiệc do Trịnh Tùng chiêu đãi Bùi Văn Khuê và các tướng lĩnh quân sĩ nhà Mạc về với Nam Triều. Tiệc rượu vui vẻ kéo dài mãi tới đêm khuya.
Ngay ngày hôm sau Trịnh Tùng nói với vua Lê Thế Tông phong Bùi Văn Khuê làm Mỹ Quận Công chỉ huy quân bản bộ và thủy quân, cấp dinh thự cho gia đình ở An Trường. Phan Ngạn được phong là Kế Quận Công, Ngô Đình Nga được phong Tráng Quận Công. Các tướng lĩnh nếu đem theo gia đình cũng được cấp dinh thự ở Vạn Lại-An Trường. Hôm sau có thám mã ở Đông Kinh về báo:
-Dạ bẩm Đô tướng Tiết chế, tướng sĩ quân đội nhà Mạc đang rối loạn vì tướng Bùi Văn Khuê, các tùy tướng, 1vạn quân bản bộ và hầu như toàn bộ lực lượng thuỷ binh nhà Mạc đã về với Nam Triều.
Liền ngay sau đó lại có thám mã về báo:
-Dạ bẩm Đô tướng Tiết chế, Mạc Mậu Hợp chỉ huy 5 vạn quân đánh vào Sơn Nam, đang chuẩn bị đánh vào Thanh Hóa đòi Nam Triều trả lại Bùi Văn Khuê.
-Bay đâu.
-Dạ. Nổi trống tập trung toàn bộ tướng lĩnh và 7 vạn quân tiến ra giải phóng Đông Kinh, tiêu diệt nhà Mạc.
-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.
Hậu cung bên trong di tích có tượng thờ lão tướng Hoàng Đình Ái tại thuộc xã Vĩnh Hùng (Vĩnh Lộc - Thanh Hóa) là quê hương của Chúa Trịnh, cũng là quê hương của danh tướng Hoàng Đình Ái. Nguồn: Internet
Cuộc nội chiến Lê - Mạc xảy ra và kéo dài qua hai thế kỷ (1533 - 1677) khiến đất nước chia cắt, bất ổn, lòng người không yên. Trong bối cảnh ấy, danh tướng - Thái Tể Vinh Quốc Công Hoàng Đình Ái (1527 - 1607, có tài liệu viết ông sinh năm 1526) với tài năng xuất chúng đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp trung hưng nhà Lê, được xếp vào hàng “Trung hưng đệ nhất công thần”.
Trịnh Tùng thống lĩnh 7 vạn quân, hầu hết các tướng lĩnh, do Hoàng Đình Ái đi tiên phong, Bùi Văn Khuê chỉ huy 200 chiến thuyền cùng tiến ra Thanh Liêm - Sơn Nam, nơi 5 vạn quân của Mạc Mậu Hợp đang tập kết. Trịnh Tùng đóng tổng hành dinh ở núi Kẽm Trống, xã Nham Kênh, Thanh Liêm. Sau khi quan sát trận địa, Trịnh Tùng ra lệnh.
-Tướng Bùi Văn Khuê và tướng Hoàng Đình Ái.
-Có mạt tướng.
-Hai tướng ban đêm dùng thuyền bí mật chở 2 vạn quân đánh tập hậu quân Mạc, ta sẽ đánh mặt trước, quân Mạc chắc đại bại.
-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.
Đêm đó Trịnh Tùng dẫn 5 vạn quân đánh quân Mạc. Mạc Mậu Hợp đem 5 vạn quân ra chống cự. Quân Nam Triều và quân Mạc lao vào nhau hỗn chiến. Thốt nhiên trận địa quân Mạc rối loạn vì bị Bùi Văn Khuê và Hoàng Đình Ái từ cửa sông đổ bộ đánh tập hậu. Quân Mạc tan vỡ, thây đổ máu phun. Tiếng chiêng trống, tiếng la hét, tiếng ngựa kêu trong trận giáp lá cà đẫm máu. 3 vạn quân Mạc bị giết. Các tướng liều chết mở đường máu cho Mạc Mậu Hợp chạy thoát. Tướng Trần Bách Niên nhà Mạc đầu hàng. Quân Nam Triều giải phóng một vùng rộng lớn từ Ninh Bình, Sơn Nam, Thái Bình. Đến đâu Trịnh Tùng cũng phủ dụ bách tính an cư lạc nghiệp, thi hành 3 điều quân luật gắt gao nên quân sĩ không dám đụng đến lê dân. Thiên hạ vui mừng cảm ơn đức và theo về vô kể.
Tháng 12 năm 1592 trịnh Tùng kéo đại quân lên Sơn Tây. Mạc Ngọc Liễn đem 3 vạn quân dàn trận ngăn chặn quân Trịnh Tùng ở cửa sông Hát. Trịnh Tùng trên voi trỏ gươm thét:
-Xông lên giết.
Quân Nam Triều như bão táp xông lên. 1 vạn quân Mạc bị giết, còn lại tháo chạy. Mạc Ngọc Liễn chạy trốn lên Tam Đảo. Quân Nam Triều thừa thắng tiến vào đánh Đông Kinh. Đông Kinh hầu như không còn lực lượng phòng thủ, cổng thành phía Nam phút chốc mở toang. Quân Nam triều tràn vào làm chủ Đông Kinh. Mạc Mậu Hợp bỏ chạy về Kim Thành rồi về Dương Kinh. Quân Nam Triều tấn công truy kích đến Kim Thành, bắt được hoàng thái hậu, mẹ cả của Mạc Mậu Hợp. Khi quân Nam Triều áp tải về Đông Kinh, thái hậu đã nhảy xuống sông Hồng tự vẫn. Trong khi đó, quân Nam Triều tiếp tục truy kích tiêu diệt tàn quân Mạc. Tại Hải Dương, Trịnh Tùng đánh bại Mạc Kính Chi ở Thạch Hà, thu phục các huyện và Dương Kinh. Phạm Văn Khoái thu phục các huyện Kinh Bắc. Mạc Mậu Hợp đưa con là Mạc Toàn lên ngôi, xưng là Vũ An Đế, tự mình làm tướng, đốc thúc quân ra trận nhưng quân sĩ hầu hết lũ lượt ra hàng. Mạc Mậu Hợp chạy trốn. Khi đó tổng hành dinh của Trịnh Tùng ở Ninh Giang, Hải Dương. Có thám mã về báo:
-Dạ bẩm Đô tướng Tiết chế, có một người dân muốn vào gặp.
-Cho vào.
-Dạ.
Người dân bận quần áo nâu, quấn khăn nâu, vào quỳ hành lễ:
-Dạ, bẩm Đô tướng Tiết chế, thảo dân biết chỗ trốn của Mạc Mậu Hợp ạ.
-Ở đâu?
-Dạ, Mạc Mậu Hợp giả làm nhà sư đang trốn ở chùa Mô Khuê, Phượng Nhãn, Bắc Giang ạ.
-Ngươi có thể dẫn đường không?
-Dạ được ạ.
-Bay đâu.
-Dạ.
-Gọi Trà Quận Công Nguyễn Đình Luân và Liêm Quận Công Lưu Chản đến đây.
-Dạ.
Hai tướng bước vào:
-Dạ, Đô tướng Tiết chế cho gọi.
-Hai tướng quân đi theo người này dẫn đường bắt Mạc Mậu Hợp. Cầm 20 lạng bạc này bắt được thì thưởng cho anh ta, không bắt được thì chém.
-Dạ mạt tướng tuân lệnh.
Ngày 6 Tết âm lịch 1592, Mạc Mậu Hợp bị bắt, bị trói đưa về hành dinh. Trịnh Tùng ra lệnh:
-Quỳ xuống hành lễ.
Bọn mưu sĩ của Trịnh Tùng bàn vào:
-Dạ, bẩm Đô tướng Tiết chế, nên đem Mạc Mậu Hợp tùng xẻo, sau đó cắt đầu đem về Vạn Lại-An Trường cho vua Lê Thế Tông tế Lê Chiêu Tông, Lê Cung Hoàng, thái hậu Trịnh Thị Loan bị tổ tiên ông ta giết.
Trịnh Tùng nói:
-Ta còn bận chinh chiến đánh tàn quân nhà Mạc, các ngươi cứ như vậy mà làm đi.
-Dạ, tuân lệnh Đô tướng Tiết chế.
Mạc Mậu Hợp bị đem treo sống, ba ngày sau mới đem chém ở Bồ Đề, thủ cấp đem về dâng vua Lê Thế Tông ở Vạn Lại-An Trường dâng tế linh hồn vua Lê Chiêu Tông, Lê Cung Hoàng, thái hậu Trịnh Thị Loan.