III.

Thời gian thấm thoát đã bước vào mùa thu, nắng rải xuống vàng vọt, dịu dàng, những đợt gió heo may đầu mùa thổi lạnh khắp miền trung du Vĩnh Lộc, Thanh Hóa. Đồi núi cây xanh bao phủ đã ngả màu vàng, lá vàng bay tơi tả, những màn sương mong manh trắng xóa trên những cánh đồng lúa ven những quả đồi đang sắp trổ bông. Những đàn chim từ phương Bắc đang sải cánh trên bầu trời bay về phương Nam tránh rét.

  Làng Đồng Biên, thuộc Bồng Trung, Vĩnh Lộc cũng chìm trong rừng tre, tán lá, chìm trong gió lạnh của mùa thu. Giữa làng hiện lên một căn nhà ngói khang trang. Trước nhà là cái sân lát gạch rộng, tiếp theo sân là ao cá. Những cây cau, cây mít soi bóng xuống ao trong vắt. Trong sân, hai con chó vàng lớn nằm lim dim canh giữ.

Chân dùng Đinh Công Tráng do người Pháp vẽ.
Đinh Công Tráng (1842 - 1887) là lãnh tụ chính của khởi nghĩa Ba Đình (tên cứ điểm ở huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa) trong phong trào Cần Vương chống Pháp ở cuối thế kỷ XIX tại Việt Nam. Ảnh: Chân dùng Đinh Công Tráng do người Pháp vẽ.

 

  Trong gian giữa của căn nhà, vẫn thường thấy như nhà của cư dân Thanh Hóa, sát vách tường kê bàn thờ gia tiên. Bàn thờ sơn son thếp vàng, trên đặt bài vị bằng gỗ sơn son, đặt những bát hương lớn bằng sứ trắng, vẽ rồng phượng màu xanh. Còn có những lư đồng thắp nến mỗi khi cúng lễ. Phía trước bàn thờ đặt bộ bàn ghế thấp hơn dùng để tiếp khách hoặc chủ nhân ngồi uống trà. Bàn bằng gỗ gụ, hình chữ nhật khảm trai, hai bên bàn là hai ghế tràng kỷ hoa văn chạm khắc tinh xảo.                          

Hôm nay, hai người đang ngồi đối diện với nhau trên hai ghế, uống trà sau bữa ăn sáng. Chủ nhà là Nguyễn Đôn Tiết, bạn của thủ lĩnh Cần Vương Mã Cao Hà Văn Mao. Ngồi đối diện với Nguyễn Đôn Tiết là một người cao lớn, dáng vẻ uy nghi, đó chính là Đề đốc Trần Xuân Soạn, người được lệnh của Tôn Thất Thuyết ở lại để gây dựng, giúp đỡ phong trào Cần Vương tỉnh Thanh Hóa. Từ Mã Cao, qua Hà Văn Mao, Trần Xuân Soạn biết Nguyễn Đôn Tiết và ghé về thôn Đồng Biên, tổ chức một cuộc hội nghị quan trọng, họp tất cả thủ lĩnh phong trào Cần Vương Thanh Hóa để mở rộng, phát triển phong trào.

  Do được báo tin nên suốt cả ngày hôm đó, kẻ trước người sau lần lượt tìm tới. Cho đến tối thì đông đủ các thủ lĩnh. Hôm sau, sau bữa ăn sáng, Trần Xuân Soạn ngồi ghế chủ tọa hướng ra ngoài sân, các thủ lĩnh ngồi theo hai ghế tràng kỷ đối diện với nhau, giữa là bàn trà. Sau một lượt trà, Trần Xuân Soạn nói:

-Thưa các vị, các vị đều đã biết nước ta đang bị giặc Pháp xâm lược, chúng đã đặt được nền bảo hộ của chúng trên toàn cõi Đại Nam. Hoàng thượng Hàm Nghi và quan Phụ chính đại thần Tôn Thất Thuyết thuộc phái chủ chiến vẫn kiên quyết đánh Pháp. Sau khi kinh thành Huế thất thủ ngày 5 tháng 7 năm 1885, xa giá của hoàng thượng phải chạy ra sơn phòng Quảng Trị, sau đó lại phải bôn ba ra sơn phòng Hà Tĩnh,  sơn phòng Quảng Bình. Hoàng thượng đã hai lần xuống chiếu Cần Vương kêu gọi văn thân, sĩ phu, hào trưởng yêu nước đứng lên giúp vua cứu nước. Ta là Đề đốc kinh thành Trần Xuân Soạn, đồng hương với các vị, thừa lệnh của hoàng thượng và quan Phụ chính Tôn Thất Thuyết đứng ra phụ trách toàn bộ phong trào Cần Vương ở Thanh Hóa, Nghệ An, phải gây dựng, phát triển phong trào Cần Vương ở hai tỉnh này. Các vị là những người trung với vua, với nước về đậy tụ nghĩa là bàn về công việc cứu dân, cứu nước to lớn này. Thay mặt hoàng thượng và quan Phụ chính, ta xin cảm tạ các ngài. Bây giờ chúng ta làm quen với nhau. Bắt đầu từ hàng ghế bên phải ta, vị đầu tiên bên trong, xin kính mời.

  Người bên phải đầu tiên bên trong giáp với Trần Xuân Soạn đứng dậy. Đó có lẽ là người cao tuổi nhất trong số các thủ lĩnh có mặt. Người đó nói;

-Thưa quan Đề đốc, thưa các vị, tại hạ là Phạm Bành, năm nay 59 tuổi (1827-1886), quê quán ở làng Thượng Xá, Hậu Lộc Thanh Hóa. Năm giáp Thân 1864, tại hạ đậu cử nhân, được bổ nhiệm làm Án sát tỉnh Nghệ An. Năm 1885, hưởng ứng chiếu Cần Vương của hoàng thượng Hàm Nghi, tại hạ từ quan về quê cùng ngài Hoàng Bật Đạt mộ quân khởi nghĩa chống giặc. Nay tại hạ về đây tụ nghĩa dưới cờ của ngài Đề đốc, danh chính ngôn thuận nhận chiếu Cần Vương của hoàng thượng.

  Trần Xuân Soạn nói:

-Đa tạ ngài Phạm Bành đã hưởng ứng chiếu Cần Vương chính nghĩa. Ngài tiếp theo, xin kính mời.

  Người ngồi cạnh Phạm Bành dáng đậm khỏe, lực lưỡng, cương trực đứng dậy:

- Thưa quan Đề đốc, tại hạ là Đinh Công Tráng, năm nay 44 tuổi (1842-1886), quê quán ở làng Trinh Xá, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. Tại hạ là chánh tổng, sau đó tham gia quân ngũ của Hoàng Kế Viêm chống Pháp ở Bắc Kỳ. Tại hạ đã tham gia trận Cầu Giấy ngày 19 tháng 5 năm 1883, trận mà quân ta giết chết tướng giặc Hăng ri Vi e rơ. Sau khi hoàng thượng Hàm Nghi ban chiếu Cần Vương, tại hạ được tướng quân Hà Văn Mao báo về đây gặp Đề đốc để danh chính ngôn thuận đứng dưới cờ Cần Vương chống Pháp.

Trần Xuân Soạn nói:

-Đa tạ ngài Đinh Công Tráng đã đứng dườ cờ Cần Vương chính nghĩa của hoàng thượng.

  Rồi Trần Xuân Soạn chỉ vào người ngồi ghế đối diện ngay trước mặt mình:

-Xin kính mời ngài.

Người đó đứng dậy, dáng phương phi, dũng cảm:

-Thưa quan Đề đốc, tại hạ là Hoàng Bật Đạt, năm nay 59 tuổi (1827-1886), quê quán ở làng Bô Đầu, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Tại hạ thi đậu cử nhân năm Tự Đức thứ 21 (1868),  làm giáo thụ huyện Phong Doanh (Ý Yên), Nam Định, sau đó triều đình đổi đi làm tri huyện huyện Lang Tài, tỉnh Bắc Ninh. Năm 1882, khi Pháp đánh thành Hà Nội lần 2, tại hạ đề nghị Tổng đốc Bắc Ninh tổ chức kháng chiến nhưng bị khước từ. Tại hạ liền chiêu binh chống Pháp nhưng bị quan trên ra lệnh giải tán. Tại hạ bỏ quan về quê. Sau khi có chiếu Cần Vương của hoàng thượng Hàm Nghi, tại hạ đã liên hệ với các ngài Phạm Bành, Đinh Công Tráng, Nguyễn Đôn Tiết, Nguyễn Khế, Lê Toại chuẩn bị dấy binh hưởng ứng. Nay về đây dự cuộc hội ngộ để chính thức đứng dưới cờ Cần Vương chính nghĩa.

  Hoàng Bật Đạt nói xong ngồi xuống, cầm ly nước uống. Trần Xuân Soạn nói:

-Đa tạ ngài Hoàng Bật Đạt đã về dưới cờ Cần Vương.

  Rồi Trần Xuân Soạn chỉ người ngồi kế bên Hoàng Bật Đạt:

-Xin kính mời ngài Nguyễn Đôn Tiết.

Nguyễn Đôn Tiết đứng lên. Đó là một người dáng nho nhã. Nguyễn Đôn Tiết nói:

-Thưa quan Đề đốc, thưa các ngài, tại hạ năm nay 50 tuổi (1836-1886), là người làng Thọ Vực, Hoằng Hóa, Thanh Hóa. Năm 1879 tại hạ đỗ phó bảng, từng làm tri phủ. Sau khi hoàng thượng Hàm Nghi ban chiếu Cần Vương, tại hạ về quê chiêu mộ quân đánh Pháp. Nay tại hạ dưới cờ của quan Án sát Phạm Bành và của Đề đốc, dưới cờ của quân Cần Vương.

  Nguyễn Đôn Tiết chỉ vào một thanh niên khoảng gần 25 tuổi ngồi cạnh:

-Đây là Nguyễn Hiệu Tri, con trai của tại hạ, cũng đòi  đi theo Cần Vương giết giặc.

  Người thanh niên vội đứng dạy khoanh tay:

-Dạ, cháu xin chào quan Đề đốc, xin chào các bác, các chú.

  Trần Xuân Soạn và mọi người có mặt đều mĩm cười. Trần Xuân Soạn nói:

-Trẻ tuổi mà muốn tham gia đánh giặc cứu nước, ý chí thật đáng nể trọng.

  Nghe Trần Xuân Soạn nói vậy, Nguyễn Hiệu Tri vội đứng dậy khoanh tay:

-Dạ, cháu cảm ơn ngài Đề đốc quá khen.

  Trần Xuân Soạn nói:

-Vậy là các ngài đã làm quen với nhau, hoặc đã quen biết nhau từ trước do cùng chí hướng Cần Vươg cứu nước. Có hai thủ lĩnh Cần Vương vì bận việc quân nên hôm nay không về được. Đó là ngài Hà Văn Mao, thủ lĩnh nghĩa quân Mã Cao, Yên Định. Hà Văn Mao người dân tộc Thái, quê quán ở xã Điền Lư, châu Quan Hóa (Bá Thước). Gia đình ngài Hà Văn Mao nhiều đời làm thủ lĩnh người Thái, người Mường ở vùng thượng đạo Thanh Hóa, được triều đình gia phong chức tước. Bản thân Hà Văn Mao là thổ ty Mường ở châu Quan Hóa, thượng lưu sông Mã. Ngài Hà Văn Mao đã được gặp quan Phụ chính đại thần Tôn Thất Thuyết ngày 22 tháng 4 năm 1886 tại Quan Hóa, được Tôn Thất Thuyết phong làm Tán lý quân vụ, chỉ huy kháng Pháp ở miền Tây Thanh Hóa. Ngài Hà Văn Mao đã xây dựng căn cứ ở Mã  Cao, Yên Định và chỉ huy nghĩa quân đánh Pháp ở Bái Thượng, La Hán, Thọ Xuân.

  Trần Xuân Soạn nâng một ly nước uống, đặt chén xuống và nói tiếp:

-Người thứ hai hôm nay không đến được nhưng các ngài phải biết để liên hệ sau này, ngài Cầm Bá Thước, người dân tộc Thái, có tên Thái là Lò Cắm Pán, quê quán bản Sầm Nưa, tổng Trịnh Vạn, châu Thường Xuân, Thanh Hóa. Gia đình Cầm Bá Thước là lang đạo nhiều đời. Cha là Cầm Bá Tiêu được triều đình Tự Đức phong là quản cơ. Cầm Bá Thước sớm thay cha làm thổ ty và được triều đình phong là Bang tá. Cầm Bá Thước đã được hội kiến với quan Phụ chính Đại thần Tôn Thất Thuyết ở tổng Trịnh Vạn, châu Thường Xuân. Tại đây Tôn Thất Thuyết đã cử Tống Duy Tân làm Chánh sứ sơn phòng Thanh Hóa, Cầm Bá Thước làm Bang biện quân vụ hai châu Thường Xuân và Lang Chánh.

  Đinh Công Tráng hỏi:

-Xin ngài Đô đốc cho biết thêm về ngài Tống Duy Tân, Chánh sứ sơn phòng Thanh Hóa?

  Trần Xuân Soạn nói:

-Tống Duy Tân, người làng Bồng Trung, xã Vĩnh Tân, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Ngài Tống Duy Tân sinh năm 1837, năm Canh Ngọ 1870 đỗ cử nhân, năm Ất Hợi 1875 đỗ tiến sĩ, được bổ nhiệm làm tri huyện, sau làm Đốc học Thanh Hóa, rồi làm Thương biện tỉnh vụ. Tháng 8 năm 1885, được hoàng thượng Hàm Nghi phong làm Chánh sứ sơn phòng Thanh Hóa.

  Phạm Bành hỏi khi Trần Xuân Soạn đang uống nước:

-Xin Đề đốc nói qua vài điều về ngài để chúng tôi được biết?
  Trần Xuân Soạn đáp:

-Ta năm nay 37 tuổi, nghĩa là sinh năm 1849, quê quán Đông Thọ, trấn trị Thanh Hóa. Gia đình ta là nông dân nghèo khó. Ta phải đi lính thay cho con một phú hào để lấy tiền nuôi gia đình. Do ta có công tiễu phỉ ở miền Bắc nên được phong chức lãnh binh, sau được phong Đề đốc Bắc Ninh, rồi được phong Đề đốc kinh thành. Ta là người của phái chủ chiến. Sau khi Tự Đức chết, ta đã cùng Ông Ích Khiêm giết chết tên vua thân Pháp là Hiệp Hòa ngày 29 tháng 11 năm 1883. Ngày 2 tháng 8 năm 1884, vua Kiến Phúc mất đột ngột, hoàng thượng Hàm Nghi lên ngôi, ta được Tôn Thất Thuyết điều vào trong Tử cấm thành. Ngày 5 tháng 7 năm 1885, cuộc đánh Pháp của phái chủ chiến ở kinh thành thất bại, ta cùng quan Phụ chính hộ giá hoàng thượng Hàm Nghi và hoàng gia chạy lên sơn phòng Quảng Trị, sau lại hộ giá ra sơn phòng Hà Tĩnh ở Khe Tá, huyện Hương Khê, rồi xa giá hoàng thượng lại về Minh Hóa, Quảng Bình. Sau đó, theo quyết định của Tôn Thất Thuyết, ta đi cùng ngài ấy ra Thanh Hóa, được ngài chỉ định ở lại quê nhà gây dựng phong trào Cần Vương chống Pháp. Còn Quan Phụ chính tiếp tục đi Trung Quốc để mong tạo điều kiện chi viện cho phong trào trong nước.

Trần Xuân Soạn chỉ vào một thanh niên trẻ tuổi ngồi ở cuối ghế bên ngoài:

Đây là em trai ta Trần Xuân Huân, còn trẻ nhưng rất nhiệt tình với phong trào Cần Vương chống Pháp.

  Người thanh niên hơi giống quan Đề đốc vội đứng dạy khoanh tay:

-Tại hạ xin kính chào các bác, các chú.

  Mọi người đáp lễ:

-Xin chào, xin chào, quý hóa quá, còn trẻ đã có lòng vì dân, vì nước.

Trần Xuân Huân đáp lễ:

-Đa tạ, đa tạ.

Vị trí xây dựng chiến lũy của Khởi nghĩa Ba Đình vào những năm 1886 - 1887.
Vị trí xây dựng chiến lũy của Khởi nghĩa Ba Đình vào những năm 1886 - 1887. Ảnh: baothanhhoa.vn

Trần Xuân Soạn nói tiếp:

-Thưa các ngài, các ngài đã làm quen với nhau. Bây giờ chúng ta bàn về việc phát triển phong trào Cần Vương chống Pháp. Hiện nay chúng ta đã có một số căn cứ, căn cứ của ngài Cầm Bá Thước ở Thung Voi, Thung Khoai ở miền Tây Thanh Hóa, Căn cứ Mã Cao ở Thiệu Yên của ngài Hà Văn Mao, căn cứ Phô Hai ở Hà Trung của ngài Tống Duy Tân và ngài Cao Điển, căn cứ Vĩnh Lộc, thượng nguồn sông Mã của ngài Tống Duy Tân. Các ngài thấy đó, các căn cứ của chúng ta hầu hết ở trung du và miền núi. Chúng ta phải có căn cứ ở đồng bằng để chi viện, hỗ trợ cho các căn cứ miền núi, tránh bị giặc bao vây chia cắt giữa đồng bằng với miền núi. Chúng ta phải làm cho các căn cứ miền núi gắn với căn cứ đồng bằng thì phong trào Cần vương mới phát triển vững chắc.

  Ngừng một lát, Trần Xuân Soạn nói tiếp:

-Căn cứ ở miền đồng bằng nhưng vẫn phải bảo đảm địa thế hiểm trở, giặc pháp khó tấn công để ta đánh chúng. Các ngài quê ở đồng bằng như Hậu Lộc, Nga Sơn, Hoằng Hóa xem ở nơi nào có thể đạt được cả hai tiêu chuẩn không. Đồng bằng nhưng hiểm trở, gắn liền với các căn cứ ở trung du, miền núi không?

  Đinh Công Tráng nói:

-Quê tại hạ ở Hậu Lộc, giáp với Nga Sơn nên biết ở Bắc Nga Sơn có một vị trí rất hiểm yếu. Nằm giữa sông Hoạt và sông Chính Đại chảy qua Nga Sơn có một cánh đồng rất trũng, nước ngập tạo nên đầm mênh mông. Trên đầm, nổi lên giữa một vùng ngập nước là ba đảo tạo nên ba làng, làng Mậu Thịnh, Thượng Thọ và Mỹ Khê. Ba làng này cách biệt với nhau. Ta xây dựng căn cứ ở đây sẽ có một vị trí rất hiểm yếu. Đầm và các dòng sông chính là các hào lũy thiên nhiên bảo vệ. Vị trí này Tây-Bắc giáp huyện Hà Trung, án ngữ trên tuyến giao thông quan trọng Bắc-Nam, ta sẽ kiểm soát, chặn con đường từ miền Bắc vào miền Trung, kiểm soát các tuyến giao thông quan trọng trong vùng. Ở phía Tây, căn cứ ba làng này có thể liên hệ dễ dàng với căn cứ Mã Cao, với Hà Trung, với các căn cứ khác ở miền núi.

  Phạm Bành nói:

-Đại nhân Đinh Công Tráng nói đúng. Ba làng giữa đầm lầy đó còn gọi là Ba Đình vì mỗi làng có một cái đình, địa thế hiểm trở, lại ở đồng bằng nối liền trung du và miền núi thì không nơi nào có được như Ba Đình.

  Trần Xuân Soạn nói:

-Vậy ta thay mặt  hoàng thượng Hàm Nghi, quan Phụ chính Tôn Thất Thuyết giao cho các đại nhân, đứng đầu là Ngài Phạm Bành, ngài Đinh Công Tráng, ngài Hoàng Bật Đạt đứng ra tổ chức chỉ huy xây dựng căn cứ Ba Đình. Xây xong căn cứ, các ngài đứng ra chiêu mộ, xây dựng lực lượng nghĩa quân phất cờ khởi nghĩa. Các ngài Phạm Bành, Đinh Công Tráng, Hoàng Bật Đạt sẽ là thủ lĩnh của phong trào Cần Vương tại Ba Đình, Nga Sơn, Thanh Hóa.

  Phạm Bành, Đinh Công Tráng, Hoàng Bạt Đạt và mọi người đều nói:

-Chúng tôi tuân lệnh quan Đề đốc.

-Đa tạ, đa tạ.

  Dường như cuộc hội ngộ sắp kết thúc, Nguyễn Đôn Tiết chủ nhà đứng lên nói:

-Kính mời quan Đề đốc và các đại nhân chạm với nhau chén rượu, mừng cuộc hội ngộ của các anh hùng Cần Vương Thanh Hóa.

  Mọi người chắp tay nói:

-Đa tạ, xin đa tạ.

Vào bữa cơm, Trần Xuân Soạn nâng chén nói:

-Thay mặt hoàng thượng Hàm Nghi, quan phụ chính Tôn Thất Thuyết, ta cảm tạ các đại nhân đã về dưới ngọn cờ Cần Vương giúp vua cứu nước.

-Đa tạ, đa tạ ngài Đề đốc.

Mọi ngươi vui vẻ cạn chén đến quá chiều.

                                              *       *

                                                   *

Mùa hạ năm 1886, buổi sáng trời trong veo, một vài áng mây bay lượn trên thinh không, theo gió mây xiêu dạt đi lang thang và biến thành muôn hình thù kỳ quái. Nắng rải xuống khắp vùng Nga Sơn, Thanh Hóa, cây lá xóm làng xanh mượt, đung đưa theo gió. Những ruộng lúa nặng trĩu bông đang ngả màu vàng báo hiệu một vụ chiêm đang tới gần. Dòng sông Hoạt và sông Chính Đại lững lờ đưa nước về Đông.

  Suốt một tháng nay, vùng ba làng Thượng Thọ, Mỹ Khê, Mậu Thịnh, gọi chung là Ba Đình ngày nào cũng ồn ào, bận rộn, tấp nập. Sau mùa gặt tháng năm khô ráo, nước đầm vơi đi, các thủ lĩnh Cần Vương Phạm Bành, Đinh Công Tráng, Nguyễn Khế đã về vận động nhân dân ba làng xây dựng căn cứ chống Pháp, giúp hoàng thượng Hàm Nghi cứu nước. Các thủ lĩnh đã cấp tiền cho nhân dân và khuyên người già, phụ nữ, trẻ em tản cư sang các làng bên cạnh như Xã Liễn, Nghi Vinh, Tuân Đạo, Ngọc Lâu, Phúc Thọ, Nga Bàng… cư ngụ, còn trai tráng ở lại xây dựng căn cứ và gia nhập nghĩa quân chống giặc. Mỗi làng hai huyện Tống Sơn và Nga Sơn phải nộp 30 cái rọ lợn to, 100 cây tre, 10 gánh rơm, còn huy động nhân lực của hai huyện Nga Sơn và Tống Sơn xây dựng căn cứ. Trước tiên là đào hào chung quanh ba làng, hào rộng 4m, sâu 3m, đất hào đào lên, ở mỗi làng đắp lên ba cái thành, tường thành cao 3m, chân thành rộng 8m. Trên mặt thành đặt hàng nghìn cái rọ lợn bằng tre trong đựng bùn đất. Chân thành có nhiều lỗ châu mai chĩa nhiều súng từ bên trong ra để bắn vào kẻ tấn công. Phía ngoài sát tường thành trồng những lũy tre gai dày đặc. Ngoài lũy tre là hào bao quanh rộng 4m, cách mặt hào 5m cắm chông dày đặc trên một diện rộng tới 50m. Trong thành có hệ thống giao thống hào chữ chi chiến đấu để hạn chế thương vong. Toàn bộ thành lũy dài 1.200m, rộng 400m.

  Mùa mưa, căn cứ trở thành ba cái đảo nổi giữa cánh đồng nước mênh mông tách biệt với các làng. Ba Đình nằm giữa hai con sông Hoạt và sông Chính Đại. Hai sông trở thành hai hào nước thiên nhiên bao bọc ba làng, cách xa những thôn xóm khác.

  Các làng phía Bắc như làng Tuân Đạo, Nghi Vinh, Ngọc Lâu, Phúc Thọ cũng cách Ba Đình 3 km. Phía nam Ba Đình có con đường nhỏ chạy đến làng Nga Bàng. Mùa hè nếu không đóng cống Hói ngăn nước, cứ cho nước sông tràn vào thì khu đầm Ba Đình thành một biển nước mênh mông. Ba Đình thành một pháo đài muốn đi lại phải dùng thuyền.

  Trong mỗi làng còn cho xây dựng nhiều đồn binh, mỗi đồn khoảng 300 tay súng. Các đồn trong mỗi làng có chiến hào nối với nhau để vận động chiến đấu.

  Ngoài khu vực đầm nước, Ba Đình có đặt các trạm quan sát chung quanh như trạm Tuần Đạo phía bắc, trạm Xa Loan, Thổ Hoàng phía đông, trạm Trí Ca, Làng Gụ phía nam, trạm Nga Thôn, Nga Bàng phía tây-nam. Ba Đình còn đặt một số trạm có tín hiệu thông tin, nếu có giặc đến thì dùng mõ hoặc đốt lửa báo hiệu.

  Căn cứ ba Đình do Đinh Công Tráng chỉ huy xây dựng, nhưng thiết kế xây dựng là tướng Nguyễn Khế. Ông là tổng công trình sư của công trình.

  Sang tháng 7, Ba Đình lại thêm nhộn nhịp tuyển quân, chọn trai tráng vào hàng ngũ nghĩa quân. Số quân Ba Đình sau tuyển quân lên gần 3.000, gồm thanh niên các dân tộc Kinh, Mường Thái. Tuyển quân xong, các thủ lĩnh Cần Vương Thanh Hóa đứng đầu là Đề đốc Trần Xuân Soạn về thị sát Ba Đình. Đó là các thủ lĩnh Nguyễn Quý Yên, Nguyễn Phương, Lê Ngọc Toản, Cầm Bá Thước, Hà Văn Mao, Tống Duy Tân, Phạm Bành, Hoàng Bật Đạt, Tôn Thất Hàm, Nguyễn Đôn Tiết, Nguyễn Hiệu Tri, Trần Xuân Huân, Ôn Lam, Kỳ Thượng, Nguyễn Khế...Nắng mùa hè ban mai rực rỡ, cây cối xanh tươi. Trần Xuân Soạn và các thủ lĩnh Cần vương bắt đầu khảo sát từ thành Hạ ở làng Mậu Thịnh rồi theo con đường  độc đạo nối ba làng về thành Trung ở làng Mỹ Khê ở phía đông-nam, gần như đối diện đông-tây với thành Hạ, từ con đường đó dẫn lên phía bắc thì tới thành Thượng ở làng Thượng Thọ. Cả ba thành đều kiên cố, hỗ trợ cho nhau, có thể đánh Pháp từ mọi phía. Cả ba căn cứ tạo thành hệ thống cứ điểm. Cả ba chìm trong màu xanh  của tre gai, tre gai bao phủ một màu xanh kín mít và thanh bình nếu như  không có chiến tranh, không có sự xâm lăng của Pháp. Từ căn cứ Thượng Thọ, Trần Xuân Soạn và các thủ lĩnh lên mặt thành Thượng, phóng tầm mắt nhìn ra bốn hướng. Ba Đình như cô đảo giữa biển nước mênh mông, có nơi sâu tới 10m. Gió nồm nam thổi mạnh, những làn nước theo gió phập phồng nổi sóng bạc long lanh. Bao quanh “Biển Hồ” là đê của con sông đào: Sông Chính Đại, sông Hoạt, có cửa cống Hói để xả nước ra, dẫn nước vào. Đê và những con sông là những hào của thiên nhiên bảo vệ cho Ba Đình. Không xa ở phía nam và phía bắc là những làng thôn của Nga Sơn xanh mướt, quanh co uốn lượn dưới trời nắng gió. Xa hơn nữa là núi Thúc, núi Nga Chân có đặt trạm thông tin báo tín hiệu cho Ba Đình mỗi khi có giặc. Tín hiệu thông tin là gõ mõ và đốt lửa. Những ngọn cờ vàng bay phấp phới trên thành Thượng, trên những nóc đồn như vẫy chào. Trên trời, một vài đám mây trôi lang thang, biến ảo muôn hình thù quái dị. Vài đàn chim cò vạc bay trên trời cao. Vài đàn chim ri bé như quả cau bay sà xuống các lũy tre. Ba Đình thật thanh bình nhưng Trần Xuân Soạn nghĩ rằng không lâu sẽ thành chiến trường khốc liệt. Ông càng thêm căm thù giặc dữ mang tai họa cho đất nước, cho quê hương thanh bình, yêu dấu của ông. Sự giận dữ của ông sau đó biến thành sự đau xót cho tình cảnh đất nước, cho hoàn cảnh hiện tại của hoàng thượng Hàm Nghi đang ngày đêm gian khổ ở rừng núi hoang vu vì dân, vì nước. Suy nghĩ của Trần Xuân Soạn bị ngắt quảng bởi tiếng nói của Phạm Bành:

-Trưa rồi, xin kính mời Đề đốc cùng các vị xuống sảnh đường dùng rượu. Chiều Đề đốc còn chủ trì cuộc họp bố trí lực lượng phòng thủ Ba Đình, đánh giặc.

  Trần Xuân Soạn đáp:

-Đa tạ Tán lý quân vụ.

  Rồi ông theo Phạm Bành đi xuống. Các thủ lĩnh Cần Vương cũng lục tục theo sau đi xuống rồi vào sảnh đường của thành Thượng.

                                 

*       *

                                                     *

            

  Sau bữa cơm trưa, các thủ lĩnh Cần Vương họp ngay do tình hình khẩn cấp, quân Pháp có thể tấn công Ba Đình bất cứ lúc nào. Trần Xuân Soạn ngồi ghế chủ tọa, hướng ra cửa sảnh đường. Kê vuông góc ở giữa với bàn của Trần Xuân Soạn là hai chiếc bàn lớn, hai bên 4 chiếc ghế tràng kỹ gỗ lim lớn khảm trai màu nâu bóng. Ngồi hai bên bàn là những gương mặt quen thuộc trong cuộc họp ở Đồng Biên Vĩnh Lộc tháng 8 năm 1886. Ngoài ra còn có thêm Tống Duy Tân, Hà Văn Mao, Cầm Bá Thước, Nguyễn Khế, một số thủ lĩnh ở Quảng Xương, Hoằng Hóa, Hà Trung, Nông Cống. Sau một tuần trà, Trần Xuân Soạn nói:

-Ta và các đại nhân đã thị sát căn cứ Ba Đình. Chỉ trong một tháng mà quân và dân hai huyện Tống Sơn, Nga Sơn đã hoàn thành một khối lượng công trình lớn lao: Đào hào, xây thành đắp lũy, xây ba thành chính kiên cố, ngoài ra còn hàng chục đồn lũy, cắm chông, trồng hàng nghìn mét lũy tre, đào hàng nghìn mét hầm chữ chi trong thành… Ba Đình là một chiến lũy kiên cố nhất của phong trào Cần Vương Thanh Hóa. Bách tính ba làng Mỹ Khê, Thượng Thọ, Mậu Thịnh đã tự nguyện dời đi, nhường làng cho xây dựng căn cứ, lại còn đóng góp nguyên vật liệu, lương thực, thực phẩm, cho con em đóng góp nhân lực lao động ngày đêm xây dựng, Xây xong căn cứ, lại cho con em gia nhập nghĩa quân cầm súng giết giặc. Nghĩa quân có trai tráng người Kinh, người Mường, người Thái. Điều này nói lên lòng yêu nước nồng nàn và tinh thần đoàn kết cứu nước của bách tính Thanh Hóa. Thay mặt hoàng thượng Hàm Nghi, quan Phụ chính Tôn Thất Thuyết, ta xin cảm tạ trước tấm lòng cao cả, hy sinh vì vua, vì nước của bách tính Thanh Hóa, bách tính hai huyện Nga Sơn, Tống Sơn, bách tính ba làng Mậu Thịnh, Mỹ Khê, Thượng Thọ. Cũng xin cảm tạ các ngài văn thân, sĩ phu, chí sĩ và các ngài thủ lĩnh Cần Vương Thanh Hóa đã về tụ nghĩa, đứng dưới lá cờ đại nghĩa, cứu nước.

  Trần Xuân Soạn ngừng lại uống ly trà và nói tiếp:

-Nay thay mặt hoàng thượng Hàm Nghi và quan Phụ chính đại thần Tôn Thất Thuyết, ta ra lệnh:

-Tán lý quân vụ Phạm Bành.

-Có hạ quan.

-Tán lý quân vụ là người lĩnh trách nhiệm nặng nề, là lãnh đạo tối cao tại căn cứ Ba Đình.

-Hạ quan tuân lệnh.

  Ngài Đinh Công Tráng nghe lệnh.

-Có thuộc tướng.

-Nay ta phong ngài là chỉ huy quân sự trực tiếp tại căn cứ Ba Đình, đồng thời trực tiếp chỉ huy tác chiến tại Đại Đồn, tức thành Thượng ở làng Thượng Thọ.

-Thuộc tướng tuân lệnh.

-Ngài Tán lý quân vụ Hoàng Bật Đạt nghe lệnh.

-Có thuộc tướng.

-Nay ta phong ngài là Phó Đề đốc, trực tiếp chỉ huy tác chiến tại thành Hạ (đồn Hạ) ở làng Mậu Thịnh.

-Thuộc tướng tuân lệnh.

-Ngài Nguyễn Khế nghe lệnh:

-Có thuộc tướng.

-Nay phong ngài là Phó Đề đốc, trực tiếp chỉ huy tác chiến ở thành Trung (đồn Trung) thuộc làng Mỹ Khê.

-Thuộc tướng tuân lệnh.

-Ngài Nguyễn Đôn Tiết nghe lệnh.

-Có thuộc tướng.

-Nay phong ngài làm phó Đề đốc, trực tiếp chỉ huy việc tiếp tế lương thực, lo súng đạn, vũ khí cho Ba Đình.

-Thuộc tướng tuân lệnh.

-Đề đốc Định Công Tráng nghe lệnh:

-Hiện nay, ba đình có tới hàng nghìn nghĩa quân, ta nghĩ ngài chọn lấy 1.000 nghĩa quân khỏe mạnh, tinh nhuệ trang bị cho họ súng hỏa mai, súng kíp, tạc đạn. 1.000 nghĩa quân chia thành 10 cơ, mỗi cơ 100 lính do một Hiệp quản chỉ huy. Chọn 10 Hiệp quản giỏi dang là thuộc quyền của Đề đốc. Ngay ngày mai, giặc chưa đến thì phải cho rèn luyện. Ngoài ra ngài phải chú ý tổ chức mạng lưới thám mã để nắm tình hình quân giặc, vọng gác từ xa phát tín hiệu khi giặc tấn công như trạm ở núi Thúc, núi Giá, tín hiệu có thể là gõ mõ, đốt lửa...

-Thuộc tướng tuân lệnh.

-Ngài Nguyễn Đôn Tiết nghe lệnh:

-Có thuộc tướng.

-Số nghĩa quân còn lại 2.000 do ngài chỉ huy, trong đó 1000 chuyển vận tiếp tế lương thực, 500 binh lính ngài sử dụng vào rèn, đúc vũ khí, 200 binh lính là nuôi quân và cứu thương. Mỗi một bộ phận ngài cử lãnh binh và Hiệp quản chỉ huy.

-Thuộc tướng tuân lệnh.

  Trần Xuân Soạn nói tiếp:

-Ba Đình là một cứ điểm mạnh, hơn nữa Ba Đình không chiến đấu đơn độc. Phong trào Cần Vương của Thanh Hóa rất phát triển. Hiện nay dương cờ Cần Vương chiến đấu với Pháp có nghĩa quân của Tổng đốc Thanh Hóa Lê Nhu Rạng, Bố chính Ngô Xuân, của ông tuần Bất Ngộ ở Tĩnh Gia, của tri huyện Quỳnh, Tôn Thất Hàm ở nông cống. Còn có nghĩa quân ở Cổ Định và Nông Cống của Tán tương Lê Ngọc Toàn, nghĩa quân của Tán tương Nguyễn Văn Thoa ở Đông Sơn, nghĩa quân của Hà Văn Mao ở Mã Cao, Thiệu Yên, của Cầm Bá Thước ở Quan Hóa. Còn có nghĩa quân của Trần Xuân Soạn ở Quảng Hòa, Hoằng Hóa, nghĩa quân Cao Điển ở Phi Lai, Hà Trung, nghĩa quân của ngài Tống Duy Tân ở Vĩnh Lộc. Rất nhiều thủ lĩnh đã đem quân về với Ba Đình, còn các thủ lĩnh trên còn tác chiến ở các địa phương nhưng phải phối hợp chiến đấu với Ba Đình và Ba Đình cũng phải phối hợp chiến đấu với các địa phương thì mới có sức mạnh mà chiến thắng.

  Ngừng một lát, Trần Xuân Soạn nói tiếp:

-Trước mắt tạm thời như vậy. Chúc các ngài thu được nhiều thắng lợi. Đất nước, hoàng thượng Hàm Nghi, quan Phụ chính Tôn Thất Thuyết đang mong đợi chiến thắng của chúng ta.

  Tất cả các thủ lĩnh đứng dậy chắp tay và đồng thanh nói:

-Chúng thuộc tướng xin tuân lệnh của Đề đốc.

-Đa tạ, đa tạ, hẹn ngày gặp lại.

-Đa tạ Đề đốc, đa tạ. Đề đốc thượng lộ bình an.

*     *

   *

Huế tháng 12 năm 1886, trời đang tiết mùa đông nên khi hậu lạnh lẽo, nắng rải nhạt nhẽo xuống khắp phố phường. Núi Ngự Bình xa mờ trong sương khói. Sông Hương vẫn vô tình lững lờ đưa nước ra cửa Thuận An. Những chiếc thuyền trên sông vẫn tháng ngày trôi vô định. Phía Nam sông Hương có con đường rợp mát bởi hàng chục cây cổ thụ lá xanh tươi, bóng lá bao trùm che lấp khung trời. Dân chúng Huế gọi đây là con đường Thủy Sư. Nổi bật dưới vòm tán lá là tòa nhà 5 tầng kiến trúc kiểu Pháp quét vôi trắng sang trọng, khác xa với kiến trúc kiểu Việt thời phong kiến. Đó là tòa Khâm sứ Pháp, cơ quan quyền lực nhất Trung Kỳ cai quản từ Thanh Hóa đến Bình Thuận theo sự phân chia của hiệp ước Pa tơ nốt năm 1884. Cơ quan này đặt trên cả triều đình Huế, quyền quyết định tất cả mọi công việc thay cho vương triều Nguyễn. Hoàng đế Đại Nam cũng chỉ là công chức ăn lương của tòa Khâm sứ. Một sáng tháng 12 năm 1886, Khâm sứ A Lếch xan đơ rơ đang ngồi trong căn phòng sang trọng, uống đã hết một cốc rượu săm pa nhơ, vừa đặt cốc xuống bàn thì có sĩ quan thùy thuộc vào báo;

-Dạ bẩm ngài Khâm sứ, theo tin ở phòng tình báo cho biết, phong trào Cần Vương không chỉ mạnh mẽ ở Hà Tĩnh, Nghệ An với khởi nghĩa Phan Đình Phùng mà đã lan ra bùng nổ khắp Thanh Hóa, mạnh nhất là cuộc nổi dậy ở Ba Đình, Nga Sơn do Phạm Bành và Đinh Công Tráng cầm đầu.

  Khâm sứ A Lếch xan đơ rơ hỏi:

-Bọn Phạm bành và Đinh Công Tráng lực lượng thế nào? Đánh phá những đâu rồi?

-Dạ, bẩm, Phạm Bành và Đinh Công Tráng đã xây dựng căn cứ Ba Đình cực kỳ kiên cố và hiểm trở ngay giữa đồng bằng nhưng liền với các địa bàn trung du, miền núi. Họ làm chủ con đường giao thông huyết mạch từ miền Bắc vào miền Trung. Tháng 10 năm 1886, nhiều đoàn xe của ta từ Thanh Hóa ra Bắc và ngược lại đã bị chặn đánh làm giao thông trên tuyến đường bộ Bắc -Nam bị tê liệt. Họ còn tập kích vào những toán lính của ta khi hành quân, giết nhiều binh lính và sĩ quan, gây cho ta nhiều thiệt hại.

  A Lếch xan đơ rơ than thở:

-Cả xứ Trung Kỳ nổi loạn chống lại chúng ta thật rồi. Cuộc nổi dậy lớn Phan Đình Phùng ở Hà Tĩnh chưa dập tắt thì lại bùng lên Ba Đình Thanh Hóa.

  Suy nghĩ một lát rồi A lếch xan  đơ rơ gọi:

-Lính đâu.

-Dạ.

-Đem giấy mực ra đây.

  Có giấy mực, A Lếch xan đơ rơ viết, xong bảo viên sĩ quan tùy tùng:

-Đưa cho phòng thông tin, bảo chuyển bức thư này cho đại tá Mét ni giơ, người cai quản quân sự ở Thanh Hóa.

-Dạ, tuân lệnh Khâm sứ.

-Còn nữa, hãy làm hai bản, bức thư này còn giao cho đại tá Đốt, người chỉ huy thủy binh và cai quản quân sự tỉnh Nam Định.

-Dạ, xin tuân lệnh.

  Trong hành dinh của mình ở trấn trị Thanh Hóa, đại tá Mét ni giơ nhận được thư của Khâm sứ Trung Kỳ A Lếch xan đơ rơ, Mét ni giơ mở thư đọc, thư viết: “Bản khâm sứ nhận được tin hiện nay Phạm Bành và Đinh Công Tráng ở Ba Đình Nga Sơn là một thế lực Cần Vương nguy hiểm nhất ở Thanh Hóa. Ngài hãy đem bộ binh của ngài kết hợp với thủy binh của đại tá Đốt ở Nam Định nhanh chóng xóa sổ căn cứ này để giữ yên nền bảo hộ ở Bắc Trung Kỳ”.(Huế 15-12-1886)

  Cùng thời gian trên, đại tá Đốt ở Nam Định cũng nhận được thư của Khâm sứ Trung Kỳ. Thư ra lệnh cho Đốt đem thủy binh phối hợp với bộ binh của Mét ni giơ ở Thanh Hóa tấn công tiêu diệt căn cứ Ba Đình.

Hai ngày sau, Mét ni giơ hành quân từ trấn trị Thanh Hóa ra, Đốt hành quân từ Nam Định vào. Hai bên hội quân ở bắc Nga Sơn, chuẩn bị tấn công Ba Đình. Trong hành dinh, có Đốt với Mét ni giơ cùng các sĩ quan thuộc cấp. Đốt ra lệnh:

-Thiếu tá Nuy giang.

-Có thuộc cấp.

-Thiếu tá chỉ huy đại đội Bắc Kỳ thứ 2 cùng với đại quân của ta tiến đánh phía bắc Ba Đình, tấn công vào Đại Đồn Thượng Thọ, nới có Phạm Bành, Đinh Công Tráng chỉ huy.

-Thuộc cấp tuân lệnh.

bai-di-tich-kn-ba-dinh-1656498452.jpg
Tranh Khởi nghĩa Ba Đình (Thanh Hóa) trong phong trào Cần Vương chống Pháp được tái hiện lại rất hào hùng. Nguồn: Internet.

 

-Đại tá Mét ni giơ.

-Có ta.

-Ngài hãy chỉ huy đạo quân Thanh Hóa của ngài tấn công mặt tây-nam Ba Đình, tức là tấn công vào thành Mỹ Khê.

-Ta tuân lệnh.

-Thiếu núy Đa nê và thiếu úy Tuy phi ê.

-Có thuộc cấp.

-Hai thiếu úy đem 100 lính tấn công phía đông Ba Đình, tức là tấn công vào thành Mậu Thịnh.

-Thuộc cấp tuân lệnh.

  Đốt nói thêm:

-Tất cả ba đạo quân chờ ta nã pháo cho vụn nát Ba Đình, khi nghe pháo dừng bắn thì đồng loạt cùng tấn công.

-Tuân lệnh đại tá.

  Sau khi các đạo quân triển khai xong vào các vị trí, Đốt ra lệnh:

-Bắn 1.000 phát đại bác vào Ba Đình, bắn.

  Lập tức 100 khẩu pháo đặt trên bờ sông Chính Đại đồng loạt nổ vang như sấm, hàng trăm quả đạn lửa từng đợt bay vào Ba Đình. Khi đạn chạm mục tiêu phát nổ làm toàn bộ căn cứ ngập chìm trong khói lửa, trong sấm chớp, căn cứ Ba Đình rung lên. Nhà cửa hầu hết bị sụp đỏ, bốc cháy. Sau khi bắn đủ 1.000 quả đạn, Đốt ra lệnh:

-Ngừng bắn, ba đạo quân tấn công.

-Tuân lệnh.

 Tiếng kèn xung trận vang lên. Ba cánh quân Pháp với hàng trăm súng trường, lựu đạn, đầu súng gắn lưỡi lê lội xuống đầm lầy và tiến vào Ba Đình từ hướng bắc, hướng tây và hướng nam. Ba Đình vẫn im lặng một cách đáng sợ. Lũy tre gai và thành quách đã che mắt quân Pháp. Chúng không trông thấy được đối phương đang làm gì. Đạo quân phía bắc của Đốt vượt qua một số đồn tiền tiêu, lội nước cố tiến vào phòng tuyến thứ hai. Đến đây thì súng của quân Ba Đình vừa tầm bắn bắt đầu nhả đạn. Đạn từ trên cao, đạn từ thấp, đạn từ bên phải, bên trái, trước mặt đan chéo nhau cực kỳ chính xác. Quân Pháp hàng chục tên trúng đạn gục xuống, màu nhuộm đỏ nước. Thiếu úy Ơ đi be bị một phát đạn vào mặt chết ngay. Đốt phải ra lệnh cho cánh quân phía bắc rút lui. Cánh quân  của Mét ni giơ tiến theo hướng tây bị chông xuyên và bị đạn cũng chết hàng chục tên. Mét ni giơ cũng phải ra lệnh rút lui. Cánh quân phía đông của thiếu úy Đa ni e gạt chông chà, tiến đến gần lũy tre nhưng nước ngập đến vai, còn đang bơi lội thì đạn từ lũy tre bắn ra như mưa, hàng chục tên gục xuống. Đa ni e cũng bị một phát đạn trúng đầu, kêu rống lên và gục xuống. Đến lượt Tup phi ê cũng trúng đạn. Thiếu tá Bơ le dơ ra lệnh:

-Gọi trọng pháo yểm trợ cho quân ta rút.

Đại tá Đốt la hét:

-Nã trọng pháo yểm trợ cho quân ta rút.

Đại pháo 80 ly của giặc lại nổ như sấm sét, trút lửa xuống bên ngoài lũy tre để ngăn không cho quân Ba Đình xông ra truy kích. Nhờ vậy quân Pháp rút lui khỏi đầm lầy an toàn.

  Sau thất bại đau đớn, đại tá Đốt bị cách chức tư lệnh mặt trận. Đại tá Bơ rít sô thay thế. Bơ rít sô ra lệnh;

-Bao vây chặt Ba Đình, cắt đứt việc tiếp tế lương thực và liên hệ với bên ngoài.

-Tuân lệnh đại tá.

-Thiếu tá Bờ le dơ.

-Có thuộc cấp.

-Ngài báo tin cho Khâm sứ Trung Kỳ điều động thêm bộ binh, pháo binh, ba đại đội công binh và ba tàu chiến thì mới có thể tiêu diệt được Ba Đình.

-Thuộc cấp tuân lệnh.

  Tháng 1 năm 1887, Bơ rít sô trong tổng hành dinh vừa uống rượu vừa trù tính kế hoạch đánh Ba Đình. Chợt có sĩ quan trợ lý tác chiến vào báo:

-Dạ bẩm đại tá, ba chiến hạm tăng viện cho ta đã từ biển nam Trung Hoa sang.

  Lại có báo cáo tiếp:

-Báo cáo đại tá, ba đại đội bộ binh khoảng 260 lính do thiếu tá Căm bô, thiếu tá Đê xơn và Coóc te chỉ huy đã tới.

-Tốt.

-Báo cáo đại tá, đại đội thủy binh và bộ binh 180 lính do thiếu tá Va lăng sơ chỉ huy đã tới.

-Quá tốt.

-Bẩm đại tá, một đại đội của sư đoàn ngoại quốc thứ hai khoảng  200 lính  do thiếu tá Prê tê chỉ huy đã tới.

-Tốt.

-Dạ bẩm đại tá, một đại đội của tiểu đoàn châu Phi 180 lính do thiếu ta Béc na chỉ huy đã tới.

-Tốt.

-Bẩm đại tá, một đại đội quân đổ bộ của chiến hạm Tu ren ne gồm 150 lính do thiếu úy quản tàu Gran đi ê đã đến.

-Tốt lắm.

  Đại tá Bô rít sô nói với sĩ quan tham mưu tác chiến:

-Ngài thống kê xem hiện nay lực lượng của ta có bao nhiêu?

-Dạ, báo cáo đại tá, cho đến bay giờ bộ binh và thủy binh có 3.388 tay súng, trong đó có 1.500 lính Pháp, có 10 đại bác cỡ 81 ly, 120 đại bác pháo thủ, 4 đại bác cỡ 65 ly thủy quân với 30 lính, 2 đại bác Hốt kít với 15 lính và 4 khẩu thần công kiểu cũ.

  Bô rít sô hỏi:

-Lính công binh có bao nhiêu?

-Dạ, bẩm đại tá, có 46 lính, 3 hạ sĩ quan do thiếu ta Dốp phơ tơ và trung úy Nét tê chỉ huy với trang bị đầy đủ, kể cả súng phun lửa cực mạnh có thể thiêu đốt cây cối và mọi thành lũy.

-Tốt. Ha!Ha! Ha!...quá tốt, đây có lẽ là đội tiên phong tấn công Ba Đình bằng trọng pháo và hỏa công để mở  đường cho 1.950 lính khố xanh đặt dưới sự chỉ huy của các ngài thiếu tá Nuy gian, Bu sa giơ, Ô đơ ri, Bô le dơ và của trung úy Cam bơ lanh tấn công.

  Bô rít sô hỏi tiếp:

-Về lực lượng thủy quân lục chiến?

-Dạ bẩm đại tá, ta có các pháo hạm Ét tốc do trung úy Tu min chỉ huy, pháo hạm Bốt săng, pháo hạm A va lăng do trung úy Đăng tanh chỉ huy. Ta còn huy động 5.000 nhân công người Việt ở  để giúp việc tiếp tế lương thực và phong tỏa.

-Quá tốt.

Sau khi nghiên cứu địa hình mặt trận Ba Đình, Bô rít sô ra lệnh:

-Thiếu tá Mô ri ê.

-Có thuộc cấp.

-Thiếu tá đem 1.000 quân xây dựng lô cốt, chiến lũy vòng ngoài để đề phòng quân Cần Vương các địa phương ngoài Ba Đình tấn công chúng ta.

-Thuộc cấp tuân lệnh.

-Thiếu tá Dốp phơ rơ.

-Có thuộc cấp.

-Thiếu tá chỉ huy đội công binh đào cắt ngang bờ đê sông Chính Đại cho nước ở đầm Ba Đình chảy xuống sông, tạo ra cánh đồng cạn nước cho quân ta tấn công vào Ba Đình.

-Thuộc cấp tuân lệnh.

-Còn nữa, ngài hãy lấy thêm 1.000 lính đào hào xẻ đôi bờ sông bên trong để quân ta tiếp cận Ba Đình mà ít bị thương vong. Từ hào bờ đê mà vào phòng tuyến có lũy tre chỉ cách khoảng 100m.

-Thuộc cấp tuân lệnh.

  Vài ngày sau, thiếu tá Dốp phơ rơ vào hành dinh gặp Bô rít sô:

-Dạ, bẩm đại tá, nước trong đầm Ba Đình được tháo chảy xuống sông đã cạn đi rất nhiều. Bờ sông bên trong đã được xẻ đôi làm hào sâu 2m, lính đã có thể chạy lom khom dưới hào mà tác chiến.

-Tốt, để ta ra thị sát xem.

  Bô rít sô cùng đám sĩ quan tùy tùng đứng ở phía bắc, cách phòng tuyến Ba Đình 500m dùng ống nhòm quan sát, Bô rít sô thấy nước đầm Ba Đình quả nhiên đã rất cạn, đặc biệt ở phía bắc có chỗ còn cạn thấy những gò cát nổi lên. Còn bờ đê bên trong sông Chính Đại đã có một chiến hào chạy giữa, xuyên suốt bao quanh Ba Đình, cả đất đắp cao lên nữa thì hào có thể sâu hơn 2m. Quan sát xong Bô rít sô nói:

-Tốt lắm, ngày mai có thể bắt đầu cuộc tấn công lần hai vào Ba Đình.

  Sáng hôm sau ngày 6 tháng 1 năm 1887, Bô rít sô ra lệnh:

-Trung úy Đơ ruy dông.

-Có thuộc cấp.

-Ngài cùng trung úy Phô rô chỉ huy 500 tay súng tiếp cận đoạn chiến hào phía đông-bắc chờ lệnh sẽ tấn công vào Ba Đình.

-Thuộc cấp tuân lệnh.

-Thiếu tá Bu sa giơ.

-Có thuộc cấp.

-Ngài cùng trung úy Lăm bơ lanh, thiếu úy Gơ rinh đem 500 tay súng tiếp quản đoạn hào ở giữa, tức là chính hướng Tây, chuẩn bị chờ lệnh tấn công Ba Đình.

-Thuộc cấp tuân lệnh.

-Trung úy Côn lô.

-Có thuộc cấp.

-Trung úy đem 500 quân chiếm đoạn hào phía tây-nam, có lệnh thì tấn công vào Ba Đình.

-Thuộc cấp tuân lệnh.

-Thiếu tá Dốp phơ rơ.

-Có thuộc cấp.

-Ngài chia đại đội công binh ra thánh 3 đội, đi đầu ba cánh quân  để khi bộ binh tấn công thì công binh đi đầu mở đường. Nhớ đem theo cả súng phun lửa.

-Thuộc cấp tuân lệnh.

10 giờ ngày 6 tháng 1 năm 1886, sĩ quan tham mưu tác chiến vào báo:

-Dạ, bẩm đại tá tư lệnh, ba cánh quân, mỗi cánh có công binh đi đầu đã tập kết ở chiến hào chờ lệnh.

  Bô rít sô ra lệnh:

-Cho bắn 1.000 quả đại bác vào Ba Đình.

-Dạ, tuân lệnh.

  Từ phía tây sông Chính Đại, những tiếng nổ vang rền. Từ đó những quả đạn đỏ rực bay vào Ba Đình. Ba Đình chìm trong chảo lửa, trong tiếng nổ trời long đất lở và lửa khói bốc lên, đất trời không gian bắc Nga Sơn rung chuyển. Những đàn chim hoảng sợ dáo dác báy lên trời. Sau 30 phút, đại bác ngừng bắn, Bô rít sô ra lệnh:

-Tấn công.

-Tuân lệnh, tấn công.

-A lát xô.

Tiếng reo hò, tiếng Pháp xen lẫn tiếng Việt xen lẫn tiếng súng tạo nên những âm thanh hỗn loạn. Quân Pháp và quân khố xanh  ào lên khỏi chiến hào xông lên lội ào ào qua đầm cạn tiến gần vào Ba Đình. Nước và bùn ngập quá gối đã làm chậm bước tiến của chúng và làm mồi cho những viên đạn của quân Ba Đình. Quân Pháp ở tầm quá gần mà không có gì che chắn nên súng hỏa mai, súng kíp của quân ba Đình làm hàng trăm lính Pháp và lính khố xanh gục xuống chất đống giữa đầm lầy. Cánh quân phía tây-bắc do trung úy Đơ ruy dông chỉ huy đã đến được một cổng làng nhưng Đơ ruy dông và Pơ rô rê trúng đạn bị thương đành phải rút lui. Cánh quân đi giữa do thiếu tá Bu sa giơ chỉ huy tiến chỉ còn cách Ba Đình 20m thì bị nghĩa quân bắn ra như mưa. Hàng chục tay súng Pháp và khố xanh gục xuống đầm lầy. Lăm bơ lanh và thiếu tá A bu sa bị thương. Cánh quân thứ ba do trung úy Côn lô chỉ huy bị hai làn đạn từ căn cứ bắn ra dữ dội chéo cánh sẻ. Các tay súng Pháp kêu thét lên dãy dụa và gục chết. Gơ rinh bị bắn trúng vai. Bu sa giơ bị đạn xuyên qua đùi.

dinhcongtrang-phambanh-1656597677.jpg

Đinh Công Tráng (1842 - 1887) là lãnh tụ chính của khởi nghĩa Ba Đình (tên cứ điểm ở huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá) trong phong trào Cần vương chốngPháp ở cuối thế kỷ 19 tại Việt Nam. Phạm Bành (1827-1887) là quan nhà Nguyễn, đã tham gia phong trào Cần Vương chống Pháp cuối thế kỷ 19. Nguồn: Viettoon.net.

 

  Trước tình hình thiệt hại quá nặng, Bơ rít sô đành phải ra lệnh rút lui. Quân Pháp phải bắn đại bác hỗ trợ cho cuộc thoái binh vì sợ quân Ba Đình thừa thắng xông ra phản kích.

  Một sáng, trong hành dinh, Bô rít sô đang ngồi suy nghĩ và tức giận vì thất bại vừa qua. Cốc săm pa nhơ cạn dần. Chợt sĩ quan tham mưu vào báo:

-Dạ, bẩm đại tá, có thư của ngài Khâm sứ Trung Kỳ.

  Bô rít sô bóc thư đọc. Thư viết: “Thất bại trong hai cuộc tấn công Ba Đình và số binh sĩ tử trận đã làm chấn động nước Pháp. Trong cuộc chinh phục Đại Nam gần 24 năm nay chưa có khi nào thiệt hại lớn như vậy. Ta ra lệnh cho ngài bằng mọi cách phải tiêu diệt ngay Ba Đình, nếu không hậu quả cho ngài chắc ngài đã biết”.

  Bô rít sô ra lệnh cho tên sĩ quan tham mưu:

-Chuẩn bị để ta ra thị sát Ba Đình một lần nữa.

-Dạ, tuân lệnh.

  Bô rít sô và các sĩ quan tùy thuộc dừng lại bên kia bờ sông Chính Đại ở phía Tây, cách Ba Đình khoảng 1.000m, dùng ống nhòm quan sát. Trước mắt Bô rít xô là căn cứ Ba Đình làm hai lần quân Pháp khiếp đàm, làm chấn động nước Pháp tận phía bên kia Tây bán cầu. Căn cứ Ba Đình mạnh và hiểm trở nhưng theo Bô rít sô nghĩ chắc chắn phải có điểm yếu. Bô rít sô phải phát hiện được điểm yếu đó thì mới có thể tấn công thắng lợi. Thắng hay bại ở Ba Đình lần này quyết định đến sự sống còn của con đường sự nghiệp quân sự của Bô rít sô. Cho nên phải phát hiện bằng được điểm yếu của Ba Đình. Bô rít sô soi ống nhòm về phía bắc. Sau khi công binh tháo nước từ đầm ra sông thì phía đó cạn lộ ra nhiều bãi đất dẫn tới lũy tre xanh. Quanh Ba Đình lũy tre xanh bao phủ kín mít dày đặc. Đêm đó, Bô rit sô suy nghĩ, bỗng nhiên hắn sung sướng reo lên:

-Có rồi, có rồi, dùng hỏa công, hỏa công. Trong binh pháp Trung Hoa và Đại Nam chẳng đã mô tả những trận hỏa công nổi tiếng tiêu diệt quân thù đó sao? Nhưng đó là những trận hỏa công dưới nước, đốt chiến thuyền. Còn ở Ba Đình là hỏa công trên không trung, đốt toàn bộ lũy tre, từ đó đốt sạch Ba Đình. Ha!Ha!Ha!...

  Sáng hôm sau, Bô rít sô ra lệnh:

-Thiếu tá Dôp phơ rơ.

-Có thuộc cấp.

-Thiếu tá đem toàn bộ đại đội công binh đến phía bắc Ba Đình, nơi đó cạn lộ những bãi cát ra. Ngài cho đào hào từ phía đó tiếp cận lũy tre Ba Đình, phun dầu lên lũy tre và phóng hỏa đốt. Lưu ý sau khi lũy tre bốc cháy thì đại đội công binh lùi ra xa để ta bắn đại bác vào chiến lũy. Vừa lửa cháy, vừa đại bác nã vào xem lính của Đinh Công Tráng có trụ được không. Đó là trận hỏa công trên không mà ta nghĩ suốt đêm qua. Ha!Ha! Ha!...

-Thuộc cấp tuân lệnh.

-Thiếu tá pháo binh.

-Có thuộc cấp.

-Chuẩn bị pháo tất cả các cỡ, kể cả pháo trên ba chiến hạm trên sông chính Đại và sông Hoạt. Sau khi thấy lũy tre bùng cháy thì nã khoảng 16.000 quả đạn vào Ba Đình.

-Dạ, thuộc tướng tuân lệnh.

-Đại tá Đốt.

-Có thuộc cấp.

-Đại tá chỉ huy 1.900 lính Pháp, 1.000 lính khố xanh và tất cả các sĩ quan Pháp, tiến sau đạo công binh ở phía bắc, khi lửa đã tắt và pháo ta đã ngừng bắn thì cho quân vào càn quét Ba Đình, phải giết hết bọn lính của Đinh Công Tráng và Phạm Bành, không bỏ sót tên nào, kể cả những tên bị thương.

-Thuộc cấp tuân lệnh.

  Đã gần một tháng sau trận tấn công thứ hai của Pháp vào Ba Đình, hàng trăm xác chết của lính Pháp, lính khố xanh không được chôn cất, dập dềnh trên đầm, bắt đầu phân hủy và bốc mùi hôi thối, Mùi hôi thối bốc lên lan tỏa khắp khu vực Ba Đình. Nghĩa quân Ba Đình phải lấy khăn bị mũi miệng suốt ngày đêm, kể cả khi chiến đấu, lúc làm việc, khi tuần phòng, canh gác.

  Ngày 19 tháng 1 năm 1887, Phạm Bành và Đinh Công Tráng ngồi trong Đại Đồn Thượng Thọ, phía bắc Ba Đình thì đại bác quân Pháp bất ngờ bắn vào dữ dội. Đinh Công Tráng ra lệnh cho nghĩa quân xuống hầm chữ chi trú ẩn, chờ cho pháo kích dừng thì lên chiến lũy chiến đấu. Thốt nhiên khi pháo dừng thì tướng Nguyễn Tri Huân vào báo:

-Dạ, báo cáo Tán tương quân vụ, báo cáo Đề đốc, khoảng 100 tên Pháp và Việt nằm thành hai hàng ở phía bắc Đại Đồn, chúng vừa bò vừa đào hào để tiến vào gần vì phía này nước tương đối cạn.

  Đinh Công Tráng nói với Phạm Bành:

-Giặc kiên quyết tấn công mặt phía bắc, thảo nào chúng tập trung hết pháo bắn vào Đại Đồn để yểm trợ.

  Phạm Bành hỏi:

-Vậy bây giờ phải đối phó thế nào?

-Tập trung các tay súng nhiều hơn nữa cho Đại Đồn, kiên quyết tiêu diệt bọn công binh, không cho chúng đào hào tiến vào gần.

  Bắt đầu từ đó nghĩa quân Đại Đồn trút đạn như mưa vào đại đội công binh của Pháp. Khi hào chưa sâu, cự ly lại gần khoảng 100m nên hàng chục lính công binh bị bắn chết gục, tay còn cầm xẻng. Quân Pháp chết đợt này, Bô rít sô lại bổ sung đợt khác, kiến quyết đào hào tiến vào. Thiếu tá công binh đề nghị Bô rít sô:

-Đại tá cho bắn pháo mạnh để hỗ trợ cho công binh thì mới đào vào gần được.

-Được, ta sẽ chi viện.

  Hàng nghìn viên đại bạc bay vào Đại Đồn không ngớt, mang theo khói lửa và tiếng nổ, phá hủy và sát thương dữ dội. Tuy vậy nghĩa quân Đại Đồn vẫn bám trụ và bắn vào đội công binh. Lính công binh của Pháp chết như rạ nhưng nghĩa quân cũng hy sinh quá nhiều và đạn từ chiến lũy bắn ra yếu dần, chiến hào của quân Pháp đã sát gần lũy tre. Ngày 19 tháng 1 năm 1887, chiến hào đến phòng tuyến thứ nhất của Ba Đình, tức là lũy tre. Tên thiếu tá Dốp phơ rơ ra lệnh:

-Phun dầu và chất cháy lên lũy tre.

-Tuân lệnh.

  Quân Pháp ngồi dưới chiến hào, dương vòi cao su và dùng máy bơm áp lực lớn phun dầu và chất cháy gần hết lũy tre phía bắc. Tên chỉ huy công binh ra lệnh:

-Phóng hỏa.

  Những loạt súng có lửa bắn lên lũy tre. Lũy tre đẫm dầu và chất cháy bén lửa cháy ngút trời và từ lũy tre cháy lan khắp nơi, thiêu đốt doanh trại, nhà cửa, cây cối, kho lương thực, kho vũ khí. Từ lũy tre Đại Đồn, lửa lan ra các lũy tre khác ở Đồn Hạ, Đồn Trung. Khắp ba Đình biến thành biển lửa. Bô rít Sô hạ lệnh:

-Nã 1.000 quả đại bác nữa vào Ba Đình tăng thêm sự cháy.

 Ba Đình thực sự chìm trong biển lửa và tàn phá của đại bác gieo chết chóc khủng khiếp. Tiếng lửa reo, tiếng gió rít, tiếng nổ hỗn loạn. Bấy giờ đêm đã xuống, bầu không khí hầm hập như lò thiêu đốt, quân Ba Đình hy sinh trong lửa đạn quá nhiều, dù vậy họ vẫn không rời vị trí chiến đấu. Trước tình hình toàn bộ nghĩa quân và các tướng lĩnh có thể hy sinh hết trong lửa, Phạm Bành nói với Đinh Công Tráng:

-Đề đốc hãy ra lệnh cho toàn quân rút theo phía tây lên Mã Cao, nếu ở lại sẽ bị lửa thiêu chết hết. Đinh Công Tráng nói:

-Tuân lệnh tán tương quân vụ.

  Trong âm thanh hỗn loạn, tiếng loa vang lên:

-Toàn quân Ba Đình theo hướng tây rút lên căn cứ Mã Cao. Đây là lệnh của Tán tương quân vụ Phạm Bành và Đề đốc Đinh Công Tráng. Nhớ cáng theo những đồng đội đã bị thương, không được bỏ lại một ai. Rút nhưng giữ quân kỷ, không được như tháo chạy.

  Đêm 20 tháng 1 năm 1887, nghĩa quân đã rút hết khỏi Ba Đình. Trong trận này nghĩa quân hy sinh 150 người, trong đó có Đề đốc Nguyễn Khế, lãnh binh Nguyễn Tri Huân. 8 giờ sáng ngày 21 tháng 1 năm 1887, khi lửa tắt, Bô rít sô mới vào được Ba Đình. Một cảnh tượng kinh hoàng trước mắt hắn, Ba Đình chỉ còn tro tàn và xác chết. Những nghĩa quân nằm trong tư thế chiến đấu, tay còn cầm súng nhưng thân thể đã hầu như biến thành than, Những lũy tre bị cháy vàng khô giơ những cành khẳng khiu lên trời như những ngọn bút viết lên mây xanh những tội ác của quân xâm lược. Trong Ba Đình là thi thể của nghĩa quân nhưng ngoài đầm lầy rộng lớn xung quanh Ba Đình là xác của lính Pháp chồng chất, đang phân hủy, mùi hôi thối bay lên, lan tỏa khắp vùng đến mức Bô rít sô cũng không chịu nổi. Trong ba lần tấn công Ba Đình, khoảng 1.500 lính Pháp và lính khố xanh thiệt mạng, thiệt hại lớn mà không một trận đánh nào suốt 24 năm chinh phục Đại Nam có được, đến mức các trận Ba Đình đã làm rung chuyển Đông Dương và nước Pháp. Nhìn cảnh tượng kinh hoàng ở Ba Đình, Bô rít sô cảm thấy rùng mình ớn lạnh. Hắn đã từng chiến đấu ở Mê hi cô châu Mỹ, đã từng chiến đấu khắp Đại Nam nhưng Ba Đình là một cuộc chiến đấu dữ dội nhất. Hắn cúi đầu cảm phục tinh thần chiến đấu dũng cảm, ngoan cường hy sinh vì nước của nghĩa quân Ba Đình dù trong tay họ chỉ có vũ khí thô sơ như súng hỏa mai, súng kíp, gươm, giáo đương đầu với một đội quân thiện chiến, trang bị vũ khí công nghiệp hiện đại, súng bộ binh bắn nhanh, đại bác, tàu chiến, súng phun dầu, phun lửa. Nếu như nghĩa quân được trang bị như quân Pháp thì sẽ đánh bại bất cứ một quân đội nước ngoài nào, sẽ là một đội quân vô địch. Bô rít sô nghĩ rằng công cuộc bảo hộ của Pháp ở Đại Nam dù đã thắng lợi cũng chỉ là tạm thời, bởi vì Pháp đang thống trị một dân tộc bất khuất, kiên cường.

Bô rít sô trở lại với hiện tại, liền ra lệnh:

-Thiếu tá công binh.

-Có thuộc cấp.

-Thiếu tá cho triệt hạ ba làng Thượng Thọ, Mỹ Khê và Mậu Thịnh.

-Thuộc cấp tuân lệnh.

-Đại tá Đốt.

-Có thuộc cấp.

-Đại tá dẫn 2.000 quân và các sĩ quan truy kích quân Ba Đình và triệt hạ căn cứ Mã Cao.

-Thuộc cấp tuân lệnh.

ch1b2-jpg-1656678339.gif
Nguyễn Thiện Thuật (1844-1926), tên tự là Mạnh Hiếu, còn gọi là Tán Thuật, nhà yêu nước, danh tướng Cần vương chống Pháp, thủ lĩnh của khởi nghĩa Bãi Sậy, một trong các cuộc khởi nghĩa của phong trào Cần Vương chống Pháp cuối thế kỷ 19. Nguồn: baotanglichsu.vn

 

Căn cứ Mã Cao thuộc huyện Yên Định, thượng lưu sông Mã do thủ lĩnh Cần Vương Hà Văn Mao cho xây dựng và lãnh đạo. Pháo đài chính nằm bên sông sâu và núi rừng hiểm trở. Ngoài ra còn có 6 pháo đài nhỏ cách pháo đài chính khoảng 3km với chằng chịt chiến hào. Khi truy kích gần đến nơi, đại tá Đốt ra lệnh:

-Đại tá Mét ni giơ.

-Có thuộc cấp.

-Đại tá dẫn 500 quân tiến theo hữu ngạn sông Mã, từ Phủ Thọ tấn công phía tây Mã Cao.

-Thuộc cấp tuân lệnh.

-Thiếu tá công binh Dốp phơ rơ.                                   -Có thuộc cấp.

Thiếu tá thu tất cả thuyền bè của dân dọc sông để chở vũ khí lương thực và ngài chỉ huy đội quân đánh vào nam Phủ Quảng,  phía đông Mã Cao.

-Thuộc cấp tuân lệnh.

  Cuộc chiến đấu của nghĩa quân và Pháp ở Mã Cao diễn ra kịch liệt. Pháp bắn moóc chi ê và súng trường dữ dội. Nghĩa quân cũng bắn ra xối xả. Tiếng trống, tiếng chiêng hòa với tiếng súng rung chuyển rừng núi. Hàng chục tên lính pháp bỏ mạng trong đó có trung úy Phô dê và một trung úy chỉ huy lính khố đỏ. Đinh Công Tráng nói với Phạm Bành và Hà Văn Mao:

-Nếu cố giữ căn cứ, ta có nguy cơ bị bao vây và bị tiêu diệt, ta nên rút lui để tiếp tục chống Pháp ở nơi khác.

Hà Văn Mao và Phạm Bành nói:

-Cứ làm theo ý của Đề đốc đi.

Nghĩa quân rút khỏi Mã Cao.

  Thoát khỏi vòng vây Mã Cao thì Phạm Bành được tin báo:

-Bẩm Tán tương quân vụ, Pháp đã bắt mẹ và con của ngài để buộc ngài phải ra đầu hàng.

  Phạm Bành suy nghĩ lao lung, cuối cùng nói:

-Thôi phải ra để cứu mẹ già và con nhỏ.

  Phạm Bành ra đầu thú. Khi giặc thả mẹ và con nhỏ ra thì ngài tự sát ngay đêm đó giữ tròn khí tiết. Phạm Bành thọ 60 tuổi. Mẹ già than khóc:

-Con ơi con, đánh giặc cứu nước không chỉ tròn chữ trung mà cũng là tròn chữ hiếu rồi. Sao con không hiểu lẽ đơn giản như vậy mà ra đầu thú chết uổng phí cả một đời? Sao vậy con ơi?

  Mùa hè năm 1887, Đinh Công Tráng vào Nghệ An để nhằm khởi nghĩa chống Pháp ở vùng đất này, ngài đến làng Tang Yên, Đô Lương. Do lý trưởng vùng đó báo nên 3 giờ sáng tên Cô tơ, đồn trưởng đồn Đô Lương bao vây ngôi nhà, Đinh Công Tráng bắn nhau với lính của Cô tơ một hồi thì bị trúng đạn hy sinh cùng người em. Đinh Công Tráng thọ 45 tuổi (1842-1887).

  Hà Văn Mao, Tống Duy Tân về với Cầm Bá Thước ở Thung Voi, Thung Khoai. Cuối năm 1887 bị truy quét ở châu Quan Hóa, Hà Văn Mao tự sát. Cuối năm 1892, Tống Duy Tân và Hà Văn Nho bị Pháp bắt, năm 1895 Cầm Bá Thước bị bắt ở Thường Xuân.

Sau khi Ba Đình và Mã Cao thất thủ, em trai của Trần Xuân Soạn    là Trần Xuân Huấn và con của ngài là Trần Xuân Kháng hy sinh. Trần Xuân Soạn lên Bá Thước, sau đó ngài sang Long Châu Trung Quốc, Năm 1923, Trần Xuân Soạn tạ thế tại Long Châu, thọ 74 tuổi.