I

Huyện Vô Công thuộc cực Bắc của Ái châu vào một đêm mùa hè trăng sáng. Bầu trời mờ ảo nhấp nhánh những vì sao li ti như những viên ngọc xa xăm. Trăng sáng vằng vặc rải ánh sáng xuống muôn nơi, ngàn xanh cây lá được ánh trăng rải xuống lưa thưa lấp loáng. Những dãy núi đá cao ngất nối nhau như những bức tường thành làm cho vùng Hoa Lư- Vô Công vô cùng huyền ảo như thế giới của thần tiên.

Dưới một mái nhà đại sảnh của căn cứ Hoa Lư, Đinh Bộ Lĩnh đang ngồi uống rượu với các tùy tướng. Chủ soái ngồi ở sau chiếc bàn gỗ kê ngang nhìn ra ngoài, chiếc bàn kê dọc giáp với bàn kê ngang là các thuộc tướng ngồi. Đinh Bộ Lĩnh đưa mắt nhìn ra xa. Không xa lắm là những núi đá cao bao bọc quanh động Hoa Lư, tạo nên bức tường thành vững chắc để Đinh Bộ Lĩnh thoát được những cuộc tấn công từ bên ngoài vào thành. Những núi đá cao uốn quanh tạo nên những hình thù kỳ quái. Ngồi ở dãy bàn dọc là các thuộc tướng từ thời Đinh Bộ Lĩnh theo cha là Đinh Công Trứ phục vụ cho Tiền Ngô Vương, từng tham gia chặn quân Nam Hán ở Lục Châu năm 938, từ thời cha làm Thứ sử Hoan Châu. Đinh Bộ Lĩnh nhớ lại thời mới có vài năm gần đây, thời gian trôi như chớp mắt, quá nhiều biến cố xẩy ra với gia đình và với Nước Việt. Đầu tiên là trận hỏa hoạn trong dinh Thứ sử Hoan Châu của cha. Hỏa hoạn đã thiêu cháy hết kho tàng quân lương, doanh trại, công đường, công văn giấy tờ hành chính, của cải vàng bạc. May mà Ngô Vương nể cha là một cựu thần, không tra cứu, nhưng cha quá suy nghĩ về trách nhiệm mà ốm và qua đời. Tiếp đó mẹ cũng qua đời do đau buồn. Rồi Tiền Ngô Vương, người có thể cho Đinh Bộ Lĩnh thế tập chức sắc của cha nhưng chưa kịp làm gì cho chàng tướng trẻ thì cũng qua đời. Nam Sách Vương có biết Đinh Bộ Lĩnh nhưng chỉ ngồi ngai vàng được một năm thì bị Dương Tam Kha soán ngôi phải trốn tránh ở Đằng Châu. Dương Bình Vương chỉ biết cha chàng là Đinh Công Trứ mà không biết hoặc quên Đinh Bộ Lĩnh, ở ngôi 5 năm cũng không đoái hoài đến con của thứ sử công thần nhà Ngô còn đang bơ vơ chưa có danh phận. Thôi đành tự mình gây dựng cơ nghiệp và làm anh hùng trong thời loạn. Từ đó, Đinh Bộ Lĩnh cùng các tướng tâm phúc dấy binh ở Hoa Lư này đã được mấy năm, đã mang tiếng là tạo phản chống lại nhà Ngô.

Sau khi Ngô Xương Văn, Ngô Xương Ngập giành lại ngai vàng nhưng trên thực tế, quyền lực không vượt quá miền Giao Châu, có thể không vượt quá miền Cổ Loa. Khắp nơi các hào trưởng ngấm ngầm chuẩn bị lực lượng gây dựng giang sơn riêng, không phục tùng chính quyền trung ương. Đã thế, Ngô Xương Ngập, Ngô Xương Văn lại tấn công Hoa Lư, đe dọa tính mạng Đinh Liễn. Từ đó, mối quan hệ giữa Đinh Bộ Lĩnh với triều đình Cổ Loa chấm dứt. Những diễn biến ở triều đình Cổ Loa cho thấy việc Đinh Bộ Lĩnh không về với triều Hậu Ngô Vương là hoàn toàn chính xác. Ngô Xương Xí đã phải lui về Bình Kiều, Ái Châu, các anh hùng kỳ cựu như Kiều Công Hãn, Đỗ Cảnh Thạc, Ngô Nhật Khánh, Dương Huy, Phạm Bạch Hổ đã rời Cổ Loa để nhường chỗ cho loạn thần Lã Tử Bình tác oai, tác quái ngồi lên ngai vàng.

Qua cuộc tấn công của ngô Xương Văn, Ngô Xương Ngập, Đinh Bộ Lĩnh nhận thức được một điều là nếu cứ cố thủ ở Hoa Lư chắc chắn sẽ bị tiêu diệt vì thiếu lương thực, thiếu lực lượng, thiếu địa bàn trù phú để lấy nhân tài vật lực cho chiến tranh với các thế lực sứ quân. Cái huyện Vô Công này là huyện nghèo, toàn núi đá và cây cỏ mà nhiều nhất là cây lau. Hay là đem quân về với một sứ quân nào đó có địa bàn giàu nhân tài vật lực, đang hùng mạnh, chiến đấu dưới cờ của ông ta rồi gây dựng lực lượng, dựa theo sự biến chuyển của thời cuộc mà lựa tính sau. Thời cuộc như ván cờ, Đinh Bộ Lĩnh cảm thấy có năng lực chơi trong ván cờ này. Nhưng theo về ai bây giờ? Tướng Nguyễn Bặc thấy Đinh Bộ Lĩnh đăm chiêu liền nói:

- Chúa công đêm nay uống rượu nhiều, chắc có điều ưu phiền. Yên tâm đi. Công tử Đinh Liễn đã trở về Hoa Lư, Ngô Xương Ngập, Ngô Xương Văn đã chết, Ngô Xương Xí đã chạy về Bình Kiều, Ái Châu. Còn cái tên Lã Tử Bình này đâu phải là đối thủ của chúng ta.

Các tướng Nguyễn Bồ, Đinh Võ Trung, Đinh Điền, Trịnh Tú, Lưu Cơ, Lê Hoàn cùng nâng ly mời Đinh Bộ Lĩnh:

- Phải rồi chúa công, lo nghĩ làm gì, cho dù Lã Tử Bình hay ai nữa cũng có làm gì được thành Hoa Lư vững chắc của chúng ta đâu. Nào, mời chúa công cạn chén. Không say không về doanh trại…

- Đa tạ, mời các tướng quân.

Sau khi mọi người cạn, đặt bát cho Trịnh Tú rót bát khác thì Đinh Bộ Lĩnh hỏi:

- Có tướng quân nào biết kỹ về sứ quân Trần Lãm ở Bố Hải Khẩu không?

Mọi người ngạc nhiên. Lưu Cơ hỏi:

- Chúa công quan tâm đến Trần Lãm làm gì, định tấn công Bố Hải Khẩu chăng?

Đinh Bộ Lĩnh đáp:

- Đất Vô Công này vừa nghèo, vừa thiếu nhân tài vật lực, ta cứ loanh quanh cố thủ mãi ở đây không phát triển được lực lượng để bình thiên hạ, có khi lại bị người ta tiêu diệt. Cứ tưởng tượng xem Hoa Lư bị bao vây vài tháng, địch không vào được nhưng ta đã chết đói hết rồi. Ta muốn đem quân về sáp nhập với một sứ quân nào đó, ví dụ như Trần Lãm để mở ra một cục diện mới cho sự nghiệp thống nhất đất nước, lập triều đại mới.

Lưu Cơ nói:

- Từ lâu tôi cũng đã nghĩ như chúa công nên tôi đã tìm hiểu hầu hết các sứ quân, trong đó có Trần Lãm. Trần Lãm hiện nay là một sứ quân hùng mạnh nhất, chiếm cứ một vùng từ phía Nam sông Luộc, kéo dài xuống ven biển Nam Định mà trung tâm là vùng đất Thái Bình với Đại bản doanh là Bố Hải Khẩu. Cha Trần Lãm là Trần Đức, vốn là người Quảng Đông, Trung Nguyên đến định cư ở vùng biển Thái Bình. Đến đời Trần Lãm thì ông mở mang cơ nghiệp, nay thành một hào trưởng hùng mạnh, gia nhân hàng nghìn, quân bản bộ hàng vạn. Trong điền trang của ông, ông chiêu mộ hàng vạn gia đình sinh sống với cuộc sống ấm no. Tiếng tăm và thế lực của Trần Lãm vang dội khắp nơi. Ông lại có lòng nhân đức, biết nhìn nhận thời cuộc, biết thu nhận hiền tài. Tại hạ nghĩ là chúa công nên về với Trần Lãm là tốt nhất.

Đinh Bộ Lĩnh hỏi:

- Thế còn gia đình nhà Trần Lãm như thế nào?

Lưu Cơ đáp:

- Trần Lãm có hai người em trai là Trần Thăng và Trần Nguyên Thái. Trần Lãm không có công tử, chỉ có một tiểu thư.

Lê Hoàn nói:

- Tướng quân Lưu Cơ nói phải, xét về thiên thời, địa lợi nhân hòa để phát triển lực lượng thì chỉ có thể là ven biển Thái Bình Nam Định. Hai nơi đó nối với vùng Hoa Lư, Vô Công của ta thì tạo ra thế và lực liên hoàn rất lớn. Cho nên, mạt tướng đồng ý việc chúa công nên về với Trần Lãm.

Đinh Bộ Lĩnh nói:

- Các tướng quân nói phải lắm:

- Bay đâu.

- Dạ, bẩm chúa công.

- Đem giấy mực và bút ra đây

- Dạ.

Có giấy mực, Đinh Bộ Lĩnh lập tức viết thư cho Trần Lãm và giao cho Đinh Điền:

- Ngày mai tướng quân đem thư này, thay mặt ta đến Bố Hải Khẩu trao cho Trần Tướng Công.

- Da, mạt tướng tuân lệnh chúa công.

Trịnh Tú lại rót rượu, các tướng lại cùng Đinh Bộ Lĩnh nâng chén:

- Nào, chúc mừng cuộc hội ngộ của chúa công và Trần Minh Công thành công tốt đẹp.

- Đa tạ, đa tạ…

Tiếng chạm bát vang lên vui nhộn. Các tướng cùng Đinh Bộ Lĩnh lại cạn. Tiếng trống quân doanh đã điểm canh ba. Trăng đã ngã chếch về tây. Đêm khuya, vùng Hoa Lư càng thêm huyền ảo nhưng cũng chứa đựng những bất trắc thời loạn ly không lường trước được.

Trưa hôm sau, tại đại sảnh đường ở Bố Hải Khẩu, Trần Lãm vừa dùng cơm trưa xong đang ngồi ở phòng khách. Chợt có gia nhân vào báo:

- Bẩm chúa công, có tướng quân Đinh Điền mang thư của Sứ quân Đinh Bộ Lĩnh ở Hoa Lư muốn gặp và trao cho chúa công.

- Cho mời vào.

Đinh Điền đi cùng người gia nhân vào một ngôi nhà sang trọng, lợp ngói vẩy cá, tường quét vôi trắng, những cột nhà gỗ lim người ôm một vòng tay, bàn ghế toàn bằng gỗ tứ thiết chạm khắc hoa văn tinh xảo, khảm ngọc trai sáng bóng. Ngồi ở ghế chủ nhân là một người đàn ông cao lớn, khoảng 50 tuổi, người mập, mặt vuông, môi dầy, mắt sáng, mặc áo dài đen, búi tóc quấn khăn thếp màu đen. Đinh Điền biết đó là Trần Lãm, liền chắp tay thi lễ:

- Mạt tướng Đinh Điền kính chào Trần chúa công.

Trần Lãm đứng dậy đáp lễ:

- Không dám, chào Đinh tướng quân, mời tướng quân ngồi.

- Dạ, đa tạ Trần chúa công.

- Bay đâu

- Dạ.

- Đem nước mời Đinh tướng quân.

Khi Đinh Điền uống xong bát nước, đặt bát xuống bàn. Trong khi người gia nhân rót thêm một bát mới, Trần Lãm hỏi:

- Nghe nói Đinh tướng quân từ Hoa Lư không biết có việc gì hạ cố tới Bố Hải Khẩu của lão phu.

Đinh Điền thưa:

- Dạ, bẩm Trần chúa công, chúa công mạt tướng ở Hoa Lư là Đinh Bộ Lĩnh từ lâu đã nghe tiếng tăm của Trần chúa công nên ngày đêm mơ ước được hội kiến. Nay sai mạt tướng tới đây để đặt vấn đề hội ngộ. Xin trình chúa công bức thư của chúa công tôi.

Đinh Điền hai tay trao thư cho Trần Lãm. Trần Lãm giở thư ra đọc. Thư viết: “Kính thưa Trần Lãm chúa công, tại hạ là Đinh Bộ Lĩnh ở Hoa Lư, thuộc huyện Vô Công, Ái Châu. Nay đất nước gặp thời loạn lạc, nhà Ngô suy yếu, các hào trưởng chuẩn bị mỗi người hùng cứ một phương mưu lợi ích riêng, ít người nghĩ cho sự thống nhất quốc gia và sự thống khổ của muôn dân. Tại hạ ở Hoa Lư nghe đại danh của chúa công là người thương dân yêu nước, uy chấn bốn phương, đức lớn vang xa khiến tại hạ ngưỡng vọng. Tại hạ cũng có chút chí lớn có thể phù hợp với chí lớn của chúa công. Cho nên mạt tướng muốn phục vụ dưới cờ đại nghĩa của chúa công để thỏa mãn lòng vì dân vì nước của chúa công, cũng là mơ ước hoài bão của tại hạ. Nếu được về với chúa công, nguyện một lòng trung thành để báo đáp. Nay kính thư. Chủ động Hoa Lư Đinh Bộ Lĩnh.”

Đọc xong thư, Trần Lãm nói:

- Tướng quân đi đường xa, cần phải ăn uống nghĩ ngơi. Sớm mai lão phu sẽ có thư để tướng quân đem về cho chúa công Đinh Bộ Lĩnh.

- Bay đâu.

- Dạ, chúa công.

- Bố trí phòng nơi dịch quán cho Đinh tướng quân nghỉ ngơi. Nấu cơm nước ngon cho tướng quân ăn. Cho ngựa của tướng quân vào chuồng chăm lo chu đáo.

- Dạ, tuân lệnh chúa công.

Đinh Điền đứng dậy:

- Đa tạ chúa công.

Đinh Điền đi rồi, Trần Lãm cho gọi các tướng Bùi Quang Dũng, Ngô Văn Chấn, Ngô Tất An, Nguyễn Đức Long, Nguyễn Đức Học, Nguyễn Phúc, em trai Trần Lãm là Trần Thăng và Trần Nguyên Thái đến đại sảnh. Sau tuần nước đầu tiên, Trần Lãm nói:

- Đinh Bộ Lĩnh, sứ quân Hoa Lư đã cho tướng Đinh Điền đem thư đến ngỏ ý muốn về dưới trướng của chúng ta. Đây là thư của Đinh Bộ Lĩnh, các tướng quân có ai biết nhiều về Đinh Bộ Lĩnh không? Nói qua để ta và các tướng quân nghe.

Ngô Tất An nói:

- Mạt tướng ở gần đất của Đinh Bộ Lĩnh nên biết được ít nhiều sứ quân này. Cha của Đinh Bộ Lĩnh là Đinh Công Trứ đã nhiều năm phục vụ hai triều Dương Đình Nghệ và Tiền Ngô Vương, có công trạng nên được phong Thứ sử Hoan Châu. Đinh Bộ Lĩnh đã từng theo cha chống giặc Nam Hán năm 938 ở Lục Châu. Sau năm 938, Đinh Công Trứ vẫn là Thứ sử Hoan Châu. Sau một trận hỏa hoạn thiêu rụi phủ đường, ông lui về quê nhà Hoa Lư và ốm mất, mẹ sau đó cũng mất. Đinh Bộ Lĩnh còn trẻ nhưng tài đức nổi danh nên trở thành hào trưởng ở Vô Công, Hoa Lư, nổi tiếng về tài năng quân sự, hiện đang hùng cứ ở thành Hoa Lư. Hai vua Ngô là Nam Sách Vương và Nam Tấn Vương đã có lần tấn công không được phải quay về Cổ Loa. Nổi tiếng nhất là khi hai vua Ngô treo Đinh Liễn là trưởng nam của Đinh Bộ Lĩnh lên dọa giết để buộc Đinh Bộ Lĩnh đầu hàng nhưng Đinh sứ quân nhất thiết không vì con mà đầu hàng. Nếu được người này về dưới trướng thì sự nghiệp thống nhất đất nước sẽ thành công.

Tướng Bùi Quang Dũng nói:

- Thiên hạ ngày nay nói mãi về việc Đinh Liễn bị hai vua Ngô treo lên sẽ bị giết nếu Đinh Bộ Lĩnh không đầu hàng mà Đinh Bộ Lĩnh vẫn kiên quyết, quả là con người sắt đá và có chí lớn. Nếu Đinh Bộ Lĩnh về với chúa công, lực lượng sẽ lớn mạnh thêm, địa bàn từ Thái Bình, Nam Định sẽ kết hợp với Hoa Lư hiểm trở, quả là địa bàn chiến lược quan trọng không sứ quân nào có.

Trần Lãm nói:

- Như vậy là Đinh Bộ Lĩnh đã nhiều năm theo cha và Tiền Ngô Vương chinh chiến, từng có nhiều kinh nghiệm và bản lĩnh chiến đấu. Ta nghĩ nếu được Đinh Bộ Lĩnh thì có lợi cho sự nghiệp của chúng ta. Thứ nhất được thêm một đội quân thiện chiến và những tướng tài, thứ hai là mở rộng địa bàn của ta từ Bố Hải Khẩu, Nam Định đến Vô Công Ái Châu, tạo nên một thế và lực hùng mạnh để thống nhất đất nước.

Tướng Nguyễn Trung Học nói:

- Nhưng mạt tướng chỉ sợ sau này khách sẽ lấn át chủ nhà chăng? Tấm gương giữa Kiều Công Tiễn và Dương Đình Nghệ vẫn còn là bài học. Thưa chúa công.

Trần Lãm đáp:

- Lòng dạ con người sâu như biển nên khi sử dụng vẫn phải đề phòng và người sử dụng nhân tài phải có phương pháp để tự bảo vệ mình. Như Dương Tiết Độ sứ là người tướng giỏi nhưng không biết tự bảo vệ mình. Nay nếu như chúng ta sợ khách lấn chủ, không chấp nhận một tướng lĩnh nào, một sứ quân nào về với ta thì sao ta đủ lực lượng để đánh bại các thế lực khác nhằm mục tiêu cao nhất là thống nhất đất nước. Nay một sứ quân nào về với ta thì đất đai được mở rộng, lực lượng được tăng cường, đó là thượng sách để chấm dứt chiến tranh. Sứ quân nào không chịu về thì ta mới kiên quyết tiêu diệt. Đó là phương lược của ta. Ý ta đã quyết cho Đinh Bộ Lĩnh về dưới cờ. Các tướng quân hãy ủng hộ.

Các tướng đồng thanh đáp:

- Chúng mạt tướng ủng hộ chúa công.

Chiều hôm đó, Trần Minh Công mở tiệc chiêu đãi Đinh Điền, có đầy đủ các tướng Bố Hải Khẩu cùng dự. Hôm sau, Trần Minh Công gọi người nhà đem thức ăn sáng cùng ăn với Đinh Điền. Sau khi trà nước xong, Trần Lãm nói:

- Ta đã nghe tiếng tăm và mến tài đức của Đinh Sứ quân từ lâu, nay nếu như Đinh Sứ quân tình nguyện về hội ngộ thì là một vinh hạnh lớn cho lão phu. Tướng quân hãy đưa thư này cho Đinh Sứ quân, bảo ngài ấy thu xếp về Bố Hải Khẩu càng sớm càng tốt, chớ phụ lòng mong mỏi của lão phu.

Đinh Điền đứng dậy cáo biệt:

- Đa tạ chúa công, Chúa công mạt tướng sẽ sớm về hội ngộ để đáp lại tấm lòng của chúa công.

Trần Lãm thi lễ:

- Cáo từ, hẹn sớm gặp lại tướng quân.

Rồi Đinh Điền lên ngựa qua cầu phao sông Bo, qua đường thiên lý rồi người ngựa đi về hướng Nam về Hoa Lư.

Đinh Điền trao thư của Trần Lãm cho Đinh Bộ Lĩnh. Đinh Bộ Lĩnh mở thư đọc. Thư viết: “Danh tiếng của Đinh sứ quân đã lừng lẫy khắp nơi, ta đã nghe từ lâu và rất ái mộ, nay nếu tướng quân không chê cửa doanh trại của ta nhỏ hẹp thì xin mời tướng quân về cùng dưới cờ để lo việc lớn, thống nhất đất nước, cứu nước, cứu dân thì lão phu vô cùng vinh hạnh.

Hẹn chờ hội ngộ. Sứ quân Bố Hải Khẩu Trần Minh Công kính thư”.

Đọc xong, Đinh Bộ Lĩnh hỏi Đinh Điền:

- Tướng quân quan sát thấy Trần Minh Công là người thế nào?

Đinh Điền đáp:

- Tiếng tăm đồn đại không sai, đó là một người trọng nghĩa, trọng hiền tài, có chí lớn vì dân, vì nước.

Lại hỏi:

- Tướng quân quan sát thấy thực lực của Trần Minh Công thế nào?

- Bao nhiêu là ruộng đất thẳng cánh cò bay, mùa màng trù phú, trâu bò đầy đồng, ngựa hàng vạn, hàng nghìn gia nhân, quân đội vài vạn, dân cư no ấm.

Lại hỏi tiếp:

- Các tùy tướng của Trần Minh Công thế nào?

- Toàn các tay anh hùng trọng nghĩa và tài giỏi về quân sự.

Đinh Bộ Lĩnh nói:

- Vậy thì ta về tụ nghĩa dưới cờ của Trần Minh Công thôi.

Nói rồi sai tướng Nguyễn Đức Long cầm thư báo ngày về Bố Hải Khẩu cho Trần Lãm biết. Cắt cử hai tướng Trịnh Tú và Đinh Liễn lĩnh 1 vạn quân bảo về Vô Công và căn cứ Hoa Lư. Đinh Bộ Lĩnh dặn hai tướng:

- Trách nhiệm của hai tướng quân thật nặng nề, phải bảo vệ bằng được đất bản địa và là căn cứ của ta là Vô Công và Hoa Lư. Mất nó là chúng ta chết không có đất mà chôn. Vả lại đó là vốn liếng của ta để ta về với Trần Minh Công. Hai tướng rõ chưa?

Hai tướng hành lễ:

- Dạ, chúa công, hai mạt tướng dù xương tan thịt nát cũng không thể để mất Hoa Lư và Vô Công. Chúa công yên tâm. Chúc chuyến đi của chúa công vạn sự như ý.

Đinh Bộ Lĩnh nói:

- Ta tin tưởng ở tướng quân và con trai.

Rồi lên ngựa mang gươm, đem theo 2 vạn quân và các tùy tướng hành quân theo con đường thiên lý lên hướng Bắc, được 100 dặm thì rẽ về hướng Đông đi về Bố Hải Khẩu. Đinh Bộ Lĩnh cùng quân Hoa Lư vượt cầu phao qua sông Bo sang bờ bên kia vào đất Bố Hải Khẩu. Đinh Bộ Lĩnh từ xa đã trông thấy quân Bố Hải Khẩu dàn ra hai bên đường, cờ bay phấp phới, trống chiêng vang lừng nghênh đón Đinh Bộ Lĩnh, các tùy tướng và quân Hoa Lư. Đến gần, Đinh Bộ Lĩnh và các tướng xuống ngựa tiến về phía Trần Lãm. Trần Lãm cùng các tùy tướng tiến ra nghênh đón Đinh Bộ Lĩnh và các tướng Hoa Lư. Đinh Bộ Lĩnh thấy đi giữa các tùy tướng là một người cao lớn, khoảng 50 tuổi, mặt vuông tai lớn, uy nghi lẫm liệt, biết đó là Trần Minh Công. Đinh Bộ Lĩnh và các tùy tướng qùy xuống hành lễ, chắp tay và nói:

- Xin kính chào chúa công.

Trần Minh Công thấy Đinh Bộ Lĩnh khôi ngô tuấn tú lạ thường, oai phong lẫm liệt, còn các tùy tướng ai cũng tỏ ra phi thường và dũng mãnh. Trần Minh Công ân cần đỡ Đinh Bộ Lĩnh đứng dậy và nói:

- Không dám, Không dám, đứng dậy hết đi. Nghe đại danh của sứ quân lâu rồi nay mới được gặp.

Đinh Bộ Lĩnh đáp:

- Không dám, không dám, tại hạ cũng nghe đại danh của chúa công trọng nghĩa, trọng dụng nhân tài như sấm bên tai, nay được đứng dưới cờ quả là vinh hạnh.

Đinh Bộ Lĩnh và các tướng Hoa Lư cũng chào các tướng quân Bố Hải khẩu:

- Chào các tướng quân.

- Không dám, chào các tướng quân.

Mọi người cười nói vui vẻ và cùng đi vào đại bản doanh của Trần Minh Công. Khi vào đến sảnh đường, chia nhau ghế chủ khách. Trần Minh Công ngồi ghế chủ nhân quay về phía mọi người ngồi hai hàng ở hai dãy ghế đặt dọc, giữa là bàn, Bàn ghế toàn bằng gỗ lim, màu gụ đen, chạm khắc hoa lá và khảm ngọc trai sáng bóng. Sau một tuần nước trà, Trần Minh Công nói:

- Hôm nay, quân doanh Bố Hải Khẩu chúng ta được đón tiếp sứ quân Đinh Bộ Lĩnh và nhiều tướng quân khác cùng quân đội Hoa Lư về hội nhập với chúng ta. Ta cũng như toàn thể các tướng lĩnh, quân đội của Bố Hải Khẩu rất lấy làm vinh hạnh. Trong sự vui mừng này, lão phu xin giới thiệu để các tướng lĩnh làm quen với nhau:

- Đây là tướng quân Ngô Văn Chấn, tướng quân Ngô Tất An, Tướng quân Bùi Quang Dũng, tướng quân Nguyễn Đức Long, tướng quân Nguyễn Đức Học, tướng quân Nguyễn Phúc. Tất cả đều quê ở Bố Hải Khâu, chỉ có tướng quân Bùi Quang Dũng quê ở Phong Châu.

Sau lời của Trần Minh Công, tất cả các tướng quân Bố Hải Khẩu đều đứng dậy chắp tay hành lễ:

- Xin kính chào sứ quân Đinh Bộ Lĩnh, kính chào các tướng quân Hoa Lư.

Đinh Bộ Lĩnh và các tùy tướng đứng dậy chắp tay đáp lễ:

- Xin kính chào chúa công Trần Minh Công, kính chào các tướng quân Bố Hải Khẩu.                   Trần Minh Công chỉ ba người ngồi cuối bàn nói tiếp:

- Đây là tướng quân Trần Thăng, tướng quân Trần Nguyên Thái là em trai của lão phu, còn đây là con gái của ta, tiểu thư Trần Nương.

Trần Thăng, Trần Nguyên Thái, tiểu thư Trần Nương cùng đứng dậy chắp tay hành lễ:

- Xin kính chào sứ quân Đinh Bộ Lĩnh, chào các tướng quân.

Đại tiểu thư Trần Nương của Trần Minh Công quả là trang tuyệt sắc giai nhân.

Đinh Bộ Lĩnh cùng các tùy tướng đứng dậy cung kính:

- Kính chào hai tướng quân Trần Thăng, Trần Nguyên Thái. Chào đại tiểu thư Trần Nương.

Khi các tướng Hoa Lư ngồi xuống, Trần Minh Công nói:

- Xin mời sứ quân Đinh Bộ Lĩnh giới thiệu các tướng quân Hoa Lư để lão phu và các tướng quân đây làm quen với nhau.

Đinh Bộ Lĩnh đứng dậy:

- Xin giới thiệu với chúa công và với các tướng quân, tại hạ là Đinh Bộ Lĩnh, quê quán động Hoa Lư, huyện Vô Công thuộc Ái Châu. Tại hạ có một trưởng nam là Đinh Liễn, hiện đang ở lại giữ Hoa Lư. Ở Hoa Lư còn một tướng quân là Trịnh Tú. Còn đây là quân sư Lưu Cơ, tướng quân Đinh Võ Trung, tướng quân Nguyễn Bộ, tướng quân Nguyễn Bặc, tướng quân Lê Hoàn, tướng quân Lý Công Uẩn. Tướng quân Lê Hoàn quê ở Thọ Xuân, Ái Châu, tướng quân Lý Công Uẩn quê ở Từ Sơn, Vũ Ninh, còn tất cả đều quê ở Hoa Lư.

Sau lời Đinh Bộ Lĩnh, các tuỳ tướng Hoa Lư đều đứng dậy chắp tay thi lễ:

- Xin kính chào chúa công, chào các tướng quân, chào đại tiểu thư Trần Nương.

Trần Minh Công, các tướng Bố Hải Khẩu và đại tiểu thư Trần Nương đứng dạy đáp lễ. Trần Minh Công vui vẻ nói:

- Vậy là các tướng quân đã làm quen với nhau. Bây giờ chúng ta đã là ngưới một nhà. Mời Đinh sứ quân và các tướng quân xuống nhà  ăn, nâng chén rượu chúc mừng Đinh Sứ quân và các tướng quân.

Tất cả đều đứng dậy:

- Đa tạ chúa công.

Sau đêm yến tiệc vui vẻ, sáng hôm sau Trần Minh Công họp các tướng lĩnh ở Đại sảnh đường. Chung quanh đại sảnh có hai hàng võ sĩ canh phòng cẩn mật. Trần Minh Công ngồi ghế chủ soái. Hai bên, tướng lĩnh ngồi theo hai dãy ghế và bàn kê dọc. Các tướng lĩnh áo chiến bào màu nâu, áo giáp sắt, mũ đâu mâu nhọn, oai phong lẫm liệt. Trần Minh Công mặc chiến bào màu vàng, áo giáp đồng vàng, mũ đâu mâu vàng. Trần Minh Công nói:

- Sau khi Đinh Sứ quân, các tướng và quân đội Hoa Lư về tụ nghĩa, lực lượng Bố Hải Khẩu của chúng ta càng thêm hùng mạnh. Về địa bàn, chúng ta đã kiểm soát hầu hết vùng đồng bằng Bố Hải Khẩu, vùng Câu Lậu và vùng Vô Công của Ái Châu rộng lớn. Đã đến lúc chúng ta có đủ lực lượng đánh dẹp các sứ quân để thống nhất đất nước. Các tướng quân có cao kiến gì không?

Đinh Bộ Lĩnh đứng dậy chắp tay:

- Kính thưa chúa công, thưa các tướng quân, hiện nay Lã Tử Bình chiếm giữ Cổ Loa, khống chế một vùng rộng lớn của Giao Châu trù phú nhiều nhân lực, đó là vùng đồng bằng sông Hồng, sông Đuống, sông Cầu, sông Tô Lịch và thành Đại La. Mạt tướng nghĩ rằng việc đầu tiên là phải tiêu diệt Lã Tử Bình, làm chủ Đại La, Cổ Loa, nối Bố Hải Khẩu với một vùng đồng bằng rộng lớn, từ đó có thể đánh lấy Phong Châu, Tam Đái, Vũ Ninh, Hồng Châu, Đằng Châu và vươn ra toàn quốc.

Trần Minh Công nói:

- Đinh sứ quân quả là có con mắt chiến lược nhìn xa trông rộng. Vậy tướng quân nào có thể đảm đang trách nhiệm đánh Lã Tử Bình?

Các tướng im lặng, Đinh Bộ Lĩnh nói:

- Mạt tướng bất tài nhưng nếu chúa công tin cậy, mạt tướng xin đi lấy Cổ Loa, Đại La và toàn bộ vùng đồng bằng về dâng chúa công.

Trần Minh Công vui mừng:

- Ta chờ tin thắng trận của Đinh Sứ quân.

- Xin đa tạ chúa công.

Ngày hôm sau, Đinh Bộ Lĩnh đem hai vạn quân bản bộ, thêm 2 vạn quân Bố Hải Khẩu và tất cả các tùy tướng hành quân tiến đánh Cổ Loa, mở đầu cho cuộc trường chinh tiêu diệt các sứ quân, thống nhất đất nước. Quân Hoa Lư còn cách thành Cổ Loa một dặm đã thấy Lã Tử Bình đem quân dàn hàng chữ nhất nghênh chiến. Đinh Bộ Lĩnh và các tướng thấy một người ngồi trên ngựa trắng đầu đội mũ đâu mâu vàng, chiến bào vàng, áo giáp đồng vàng, trên đầu phấp phới lá cờ màu vàng có chữ đen “Lã Bình Vương”. Hai bên là các tướng cưỡi ngựa, gươm giáo uy nghiêm hộ vệ.

Đinh Bộ Lĩnh lớn tiếng gọi:

- Người mặc áo vàng kia có phải là Lã Tử Bình đó không?

Lã Tử Bình đáp:

- Chính ta đây. Nhà ngươi có phải là Đinh Bộ Lĩnh không? Thấy bản vương sao không xuống ngựa hành lễ. Đúng là quân rừng rú Hoa Lư không biết lễ nghĩa là gì.

Đinh Bộ Lĩnh đáp:

- Quân với vương cái thá gì nhà ngươi, nhận di mệnh của Nam Tấn Vương không làm theo, lại phản nghịch cướp ngai vàng của Ngô Xương Vương. Nếu đầu hàng ta tha tội phản nghịch cho.

Lã Tử Bình nổi giận đáp:

- Kẻ nào đã nổi dậy chống lại nhà Ngô đầu tiên. Hôm nay ta bắt nhà ngươi phải đền tội.

Lã Tử Bình chưa nói hết câu đã bị một mũi tên cực mạnh của Đinh Ngọc Trung bắn trúng giữa mặt ngã lăn xuống đất. Quân Cổ Loa rối loạn. Quân Hoa Lư xông lên chém giết. Quân Cổ Loa tháo chạy vào thành cố thủ. Đinh Bộ Lĩnh cho cắt đầu Lã Tử Bình, dùng sào tre giơ lên cao và cho quân kêu gọi:

- Loa loa loa… ta biết các ngươi hầu hết là quân Khúc - Dương của nhà Ngô, các ngươi bất đắc dĩ phải theo Lã Tử Bình. Nay nếu đầu hàng thì được bảo toàn mạng sống về với gia đình hoặc nếu theo quân Hoa Lư thì sẽ dung nạp và có thưởng.

Quân Cổ Loa thấy Lã Tử Bình đã chết, lại bị vây hãm, không nhằm mục đích gì mà cố thủ, đa số đồng ý đầu hàng để giữ mạng sống, liền cử một tùy tướng lên mặt thành hỏi:

- Đinh Sứ quân có giữ lời hứa không?

Đinh Bộ Lĩnh cầm mũi tên bẻ gãy và nói:

- Ta nuốt lời hứa thì thân xác sẽ như mũi tên này.

Viên tướng đáp:

- Đa tạ chúa công.

Rồi trên cao thành Cổ Loa xuất hiện những lá cờ trắng, Cổng thành mở toang. Quân Khúc- Dương tay không vũ khí lần lượt ra hàng. Quân Hoa Lư thu nạp những người muốn gia nhập, còn ai không muốn thì cho về. Đinh Bộ Lĩnh cùng các tướng tiến vào Cổ Loa trong sự chào đón của bách tính.

Tin Đinh Bộ Lĩnh đánh lấy được Cổ Loa làm chấn động các châu của đất Việt. Các sứ quân đều lo sợ, càng ra sức chiêu mộ thêm quân và củng cố căn cứ phòng thủ. Lê Hoàn nói với Đinh Bộ Lĩnh:

- Chúa công không cần rút quân về Bố Hải Khẩu, chỉ cần viết thư về báo tin thắng trận cho Trần Minh Công và xin tiến quân đánh Kiều Công Hãn.

Đinh Bộ Lĩnh còn phân vân:

- Tướng quân nói đúng, chớp thời cơ là một trong những điều binh pháp đã dạy, nhưng vừa mới về với Trần Minh Công, không thể hành động mà không được phép của soái, sẽ gây bất lợi, gây nghi ngờ.

Đang lúc đó có tùy tướng vào báo:

- Bẩm sứ quân, có sứ bộ của Trần Minh Công xin vào gặp:

- Cho vào.

Gia nhân của Trần Minh Công bước vào vái chào:

*- Dạ, xin chào Đinh sứ quân, tôi vâng lệnh của Trần Minh Công trao cho Đinh sứ quân một bức thư.

Đinh Bộ Lĩnh nhận thư và nói:

- Đa tạ, đa tạ. Chúa Công Trần Minh Công và đại tiểu thư có khỏe không?

- Dạ, đa tạ Đinh sứ quân, chúa công, gia đình và đại tiểu thư khỏe mạnh.

Đinh Bộ Lĩnh gọi:

- Người đâu!

- Dạ, bẩm chủ soái

- Chuẩn bị cơm rượu cho đệ đây tử tế, bố trí phòng nghỉ và cho ngựa ăn thóc uống nước, rõ chưa.

- Dạ, mạt tướng tuân lệnh.

Người gia nhân đi ra với người tùy tướng. Đinh Bộ Lĩnh bóc thư của Trần Minh Công. Thư viết: “Ta ở Bố Hải Khẩu đã nhận được tin thắng trận của Đinh sứ quân ở Cổ Loa, ta rất vui mừng. Trước khi mở những trận đánh mới, tướng quân tạm để cho một tướng trông coi Cổ Loa và quân đội, về Bố Hải Khẩu, ta có vài việc quan trọng cần bàn. Nay kính thư. Trần Minh Công”.

Đinh Bộ Lĩnh lập tức giao cho Lê Hoàn quyền Chủ soái, Nguyễn Bặc làm phó chủ soái trong coi Cổ Loa với 4 vạn quân rồi đem 2 vạn quân đi gấp về Bố Hải Khẩu. Trần Minh Công ra đón Đinh Bộ Lĩnh, sau đó cho mở tiệc mừng chiến thắng ở Cổ Loa trong đại bản doanh và trong toàn quân doanh. Ngày hôm sau, Trần Minh Công cho mời Đinh Bộ Lĩnh vào Đại sảnh. Sau khi hai người dùng một lượt trà, Trần Minh Công nói:

- Ta có điều này muốn nói, không biết Đinh sứ quân có chịu nghe không?

Đinh Bộ Lĩnh nói:

- Mạt tướng từ lâu đã coi chúa công là nghĩa phụ, đã là nghĩa tử đâu dám không nghe lời của nghĩa phụ.

Trần Minh Công nói:

- Con đã biết rồi, ta chỉ có một đứa con gái là duy nhất là Trần Nương, con đã gặp và thấy nó rồi. Nay ta muốn tán thành cho con và nó nên nghĩa phu thê. Người đến cầu mong nhận ta là nhạc phụ không phải là ít nhưng ta chọn con vì con là người có tài, có đức, có chí, có nghị lực để có thể gánh vác cơ nghiệp và trách nhiệm nặng nề thống nhất đất nước mà ta phó thác.

Đinh Bộ Lĩnh hơi bất ngờ nhưng là người biết nắm bắt cơ hội rất nhanh nên vội quỳ xuống chắp tay:

- Con xin đa tạ ơn tình và sự yêu quý của nhạc phụ. Con thề sẽ làm tròn bổn phận trung hiếu với nhạc phụ.

Trần Minh Công cũng xúc động nói:

- Đứng dậy đi, ngày mai sẽ tiến hành các thủ tục và các nghi lễ hôn nhân để hai con thành phu thê.

Rồi Đinh Bộ Lĩnh thông báo cho các tướng lĩnh và quân đội ở Hoa Lư, ở Cổ Loa biết việc thành hôn của mình với Đại tiểu thư Trần Nương, con gái Trần Minh Công. Đinh Điền về Hoa Lư đón Đinh Liễn, chú Đinh Thúc Dự và họ hàng ở Hoa Lư ra Bố Hải Khẩu, đại diện cho gia đình nhà trai. Tướng Phạm Phổ đi Cổ Loa thông báo và mời các tướng ở đó về dự, chỉ để lại Lê Hoàn là quyền chủ soái ở lại.

Lễ ăn hỏi do Đinh Thúc Dự, chú của Đinh Bộ Lĩnh dẫn đầu. Sau lễ ăn hỏi là lễ vu quy diễn ra vui vẻ ở Đại sảnh của Trần Minh Công, từ đó đã bắt đầu tiệc rượu linh đình, ngày thứ ba là lễ cưới diễn ra ở Tổng hành dinh của quân đội Bố Hải Khẩu tưng bừng. Bách tính trong điền trang, tướng lĩnh, hào trưởng, quan viên, bạn bè của Trần Minh Công, của Đinh Bộ Lĩnh đến đông như ngày hội. Rượu hàng trăm chum, trâu bò hàng nghìn con, lợn gà hàng vạn con, xôi chất cao như núi, ăn uống náo nhiệt tưng bừng say sưa ba ngày ba đêm. Từ xưa đến lúc nay, ở Bố Hải Khẩu chưa bao giờ có một đám cưới nào mà tưng bừng náo nhiệt như vậy. Ai đi dự cưới cũng đều vui mừng cho cuộc hôn nhân của đôi trai tài gái sắc.

Sau lễ cưới giữa Đinh Bộ Lĩnh và đại tiểu thư Trần Nương hai hôm, Trần Minh Công họp tướng lĩnh ở Đại sảnh đường. Ông nói với các tướng lĩnh:

- Ta nay đã già, tài cầm quân không bằng hậu thế. Vừa rồi Đinh sứ quân vừa ra quân chỉ một trận đã lấy được Cổ Loa vốn nổi tiếng kiên cố không mấy ai đánh được, đem toàn bộ vùng đồng bằng rộng lớn quan trọng về chiến lược nối với Bố Hải Khẩu, Câu Lậu, Hoa Lư, tạo thế và lực áp đảo có thể không một sứ quân nào đương cự nổi. Để tạo điều kiện cho Đinh sứ quân trong các chiến dịch tiếp theo, sau khi đã bàn bạc với Hội đồng gia tộc, trong đó có tướng quân thúc thúc Trần Thăng, Trần Nguyên Thái, nay ta quyết định trao lại quyền Chủ soái quân đội Bố Hải Khâu và Hoa Lư cho Đinh sứ quân, cho Vạn Thắng Vương Đinh Bộ Lĩnh như quân đội đang tôn sùng. Vạn Thắng Vương có ấn tín này sẽ được toàn quyền điều động quân đội tướng lĩnh, toàn quyền thưởng phạt các tướng lĩnh và binh sĩ. Làm như vậy để ta được nghĩ ngơi, lo việc phát triển kinh tế điền trang, cứu giúp bách tính; thứ hai, Vạn Thắng Vương có toàn quyền để phát huy hết tài năng của mình mà chiến thắng, để sớm thống nhất đất nước. Nay thống nhất gọi chung là quân đội Hoa Lư vốn nổi tiếng. Ta mong rằng các tướng quân ủng hộ và chấp hành kỷ luật cho tốt.

Các tướng đứng dậy đồng thanh đáp:

- Chúng mạt tướng xin tuân theo mệnh lệnh của chúa công.

Đinh Bộ Lĩnh vội quỳ xuống:

- Con xin tuân lệnh và sẽ không phụ lòng mong mỏi và ủy thác của nhạc phụ.

Việc Đinh Bộ Lĩnh trở thành con rể của Trần Minh Công và trở thành Chủ soái của toàn bộ quân đội Hoa Lư- Bố Hải Khẩu làm toàn quân nức lòng phấn khởi. Họ tin rằng bằng tài quân sự của mình, Vạn Thắng Vương sẽ đưa toàn quân tới thắng lợi cuối cùng và thống nhất đất nước nhanh chóng.

Trần Minh Công nói tiếp:

- Sau Cổ Loa, ta nghĩ rằng Đinh sứ quân nên tiêu diệt hoặc là thu phục Phạm Bạch Hổ ở Đằng Châu. Đằng Châu giáp ranh Bố Hải Khẩu của ta, là một lực lượng to lớn, luôn đe dọa phía Đông Bắc của ta. Địa bàn quản lý của Phạm Bạch Hổ giáp Bố Hải Khẩu lên đến Hồng Châu, An Biên và lên đến tận Lục Châu miền Đông Bắc của đất Việt. Tiêu diệt hoặc thu phục được Phạm Bạch Hổ thì sự nghiệp thống nhất đất nước của Đinh sứ quân là không ai có thể đảo ngược được nữa. Có tướng quân nào hiểu rõ Phạm Bạch Hổ nói thêm cho các tướng quân đây rõ.

Lưu Cơ nói:

- Thưa chúa công, Phạm Bạch Hổ sinh năm 910, quê quán ở Đằng Châu. Cha là Phạm Chiêm, còn gọi là Phạm Lệnh Công, thân mẫu là Đào Thị Hồng, còn gọi là Doanh Nương. Phạm Bạch Hổ sinh ra trong một gia đình và dòng họ có truyền thống võ nghệ, đời đời là hào trưởng đất Trà Hương, Đằng Châu, nổi tiếng cương trực, có chí vì dân, vì nước. Ông nội là Phạm Chí Dũng, là Hồng Châu tướng quân. Anh trai là Phạm Man, tham chính đô đốc, hiện đang phò tá Ngô Xương Xí ở Bình Kiều Ái Châu. Các cháu là Phạm Hạp, Phạm Cự Lượng là những danh tướng. Phạm Bạch Hổ vốn là khai quốc công thần thời Tiết Độ sứ Dương Đình Nghệ và thời Tiền Ngô Vương. Năm 18 tuổi đã theo và phò tá Dương Đình Nghệ, đã tham gia trận đánh quân Nam Hán ở Đại La năm 931, cùng Tiền Ngô Vương đánh bại và tiêu diệt Thừa Chỉ Trần Bảo, tướng Nam Hán sang cứu viện năm 931, đã tham gia đánh Đại La, tiêu diệt Kiều Công Tiễn năm 938, tham gia trận thủy chiến Bạch Đằng đánh bại quân Nam Hán năm 938. Được Tiên Ngô Vương phong là Châu Mục Đằng Châu, lại phong là Phòng Át tướng quân trấn giữ toàn cõi Đông Hải từ Đằng Châu, An Biên tới Lục Châu. Khi Dương Tam Kha làm chính biến soán ngôi năm 945, Phạm Phòng Át là người che dấu cho Nam Sách Vương và trở thành nhạc phụ của Nam Sách Vương, tức là ông ngoại của Ngô Xương Vương, hiện nay và là ông ngoại của nhà sư nổi tiếng đương thời là Ngô Chân Lưu, tức là Ngô Xương Tý, em Ngô Xương Vương. Đúng như chúa công nói, trong các sứ quân hiện nay thì thế lực của Phạm Bạch Hổ rất lớn, lại có bề dầy thanh thế chính trị, liên quan đến hai họ thế lực là Dương và Ngô.

Trần Minh Công nói:

- Đa tạ tướng quân Lưu Cơ, không hổ danh là quân sư của Đinh sứ quân. Quân sư có nắm chắc thân thế sự nghiệp của tất cả các sứ quân như nắm chắc Phạm Bạch Hổ không?

- Dạ mạt tướng không dám, nhưng nếu khi nào chúa công cần thiết thì cho phép mạt tướng mạo muội trình bày.

Trần Minh Công nói:

- Quân sư khá lắm, biết người biết địch thì trăm trận trăm thắng. Trước khi đánh sứ quân nào, các tướng quân phải hiểu rõ thân thế, sự nghiệp, tính cách và đặc biệt là cái tâm và đạo. Người có tâm, có đạo vì dân vì nước thì nên chiêu hàng, thu phục để đỡ tốn xương máu của con em. Đối với Phạm Bạch Hổ ta nên như thế nào đây?

Đinh Bộ Lĩnh nói:

- Dạ, thưa nhạc phụ, vậy là lực lượng của Phạm Bạch Hổ không kém lực lượng ta. Cuộc chiến giữa ta và Phạm Bạch Hổ nếu ta thắng lợi thì tổn thất của ta cũng không phải là nhỏ. Ta có thể không đủ lực mà đánh dẹp các sứ quân khác. Con cho rằng tốt nhất làm sao cho Phạm Bạch Hổ quy hàng. Khi đó không thiệt hại mà lại được thêm lực lượng của Đằng Châu, ta đủ sức đánh dẹp các sứ quân khác.

Trần Minh Công hỏi:

- Đinh Sứ quân có kế sách gì cho Phạm Bạch Hổ quy thuận không?

Đinh Bộ Lĩnh đáp:

- Dạ, thưa nhạc phụ, căn cứ vào tính cách của Phạm Bạch Hổ là cương trực, có lòng vì dân vì nước, ít tham vọng bá vương thì ta lấy chính nghĩa của ta là thống nhất đất nước, chấm dứt nội chiến để bách tính sớm thoát khổ nạn binh đao thì Phạm Bạch Hổ chắc đồng ý quy thuận.

Trần Minh Công nói:

- Được, ta giao việc này cho con, là thống soái thì tự quyết định đi.

- Dạ, đa tạ nhạc phụ.

Đằng Châu, trong tư dinh của Phạm Bạch Hổ ở Trà Hương, sau bữa ăn sáng, Phạm Bạch Hổ đang ngồi uống trà thì có gia nhân vào báo:

- Dạ, bẩm chúa công có sứ quân của Trần Minh Công ở Bố Hải Khẩu tới xin gặp.

- Cho vào.

- Dạ.

Sứ giả vào. Phạm Bạch Hổ nhìn ra thì là một võ tướng. Võ tướng cúi đầu chắp tay thi lễ:

- Mạt tướng là Phạm Thành, bộ tướng của Đinh sứ quân, muốn trao cho chúa công bức thư của Đinh sứ quân.

- Miễn lễ, tướng quân ngồi đi. Bay đâu rót nước!

- Dạ, đa tạ chúa công.

Trong khi Phạm Thành uống nước thì Phạm Bạch Hổ bóc thư ra đọc. Thư viết: “Kính gửi Phạm Phòng Át tướng quân, mạt tướng là Đinh Bộ Lĩnh ở Hoa Lư nghe đại danh của Phạm Phòng Át tướng quân từ lâu, đại công thần của Tiết Độ sứ Dương Đình Nghệ, Đại công thần của ba triều Ngô Vương, góp vào các chiến công hai lần đánh bại quân Nam Hán, giành lại độc lập cho nước nhà. Nay vận nước đang lúc khó khăn, nước nhà chia năm sẻ bảy, vì quyền lợi cá nhân, các sứ quân gây ra cảnh nồi da nấu thịt, bách tính điêu linh cực khổ vì nạn binh đao. Trong khi đó, cục diện 5 đời 10 nước bên Trung Nguyên đang hồi kết thúc. Bất kỳ một triều đại nào thống nhất Trung Hoa mà Nước Việt ta còn chia cắt thì làm sao đủ sức chống nổi sự xâm lăng của giặc. Nguy cơ mười mươi đã rõ rành rành. Cho nên phải thống nhất đất nước là yêu cầu bức thiết, quyết định tồn vong của dân tộc. Mạt tướng là sứ quân ở Hoa Lư nhưng đã về với Trần Minh Công ở Bố Hải Khẩu để nhằm thực hiện mục đích trên nhằm cứu nguy dân tộc. Trần Minh Công không màng vinh thân phì gia mà canh cánh một một nổi niềm lo cho an nguy của dân tộc. Phạm chúa công là một lão thần, đã suốt đời chiến đấu vì đất nước, hẳn cũng đã mang cái lo của dân, của nước. Nếu Phạm chúa công mà cùng hợp tác với Trần Minh Công thì sẽ tạo nên một sức mạnh khả dĩ thu phục được các sứ quân khác, nhanh chóng thống nhất đất nước, tạo phúc cho đất nước và cho muôn dân, lưu danh sử sách, rạng danh tiên tổ. Kính mong chúa công suy xét vì lợi ích của quốc gia.

Nay kính thư. Đinh Bộ Lĩnh”.

Đọc xong thư, Phạm Bạch Hổ ngồi suy nghĩ và thấy Đinh Bộ Lĩnh viết đúng tình thế và nguy cơ hiện nay và mai sau của đất nước, nỗi thống khổ của bách tính bởi chiến tranh, nguy cơ mất nước do bị chia rẽ. Thống nhất đất nước, cứu lê dân, cứu nước cũng là nguyện vọng nung nấu bấy lâu của ông. Cần phải hợp tác giữa các sứ quân có lòng vì nước để tiêu diệt những sứ quân chỉ vì lợi ích riêng. Nhưng lòng người không dễ đo lường được. Không biết Trần Lãm và Đinh Bộ Lĩnh có thực lòng không hay chỉ là mưu kế. Ông nói với Phạm Thành:

- Tướng quân về nói với Đinh sứ quân rằng nếu một mình Đinh Sứ quân sang Đằng Châu làm khách của ta thì lão phu sẽ hợp tác.

Phạm Thành nói:

- Mạt tướng sẽ trình bày lại nguyện vọng này của chúa công cho Đinh sứ quân.

Sau khi nghe Phạm Thành nói lại yêu cầu của Phạm Bạch Hổ, Trần Minh công hỏi Đinh Bộ Lĩnh:

- Con có định một mình sang làm khách ở bản doanh của Phạm Bạch Hổ Không?

Tướng Phạm Công Đình nói:

- Đinh sứ quân không nên đi.

Sau Phạm Công Đình thì tất cả các tướng đều can ngăn. Đinh Bộ Lĩnh nói:

- Bẩm nhạc phụ, con sẽ đi, không vào hang cọp sao ta có thể bắt cọp. Vả lại đây là Phạm Phòng Át thử thách xem ta có tin tưởng ông ta không. Ta không đến là tỏ ra không tin ông ta. Nếu đã không tin thì ta dụ hàng làm gì? Vả lại, Phạm Bạch Hổ là người cương trực, không thể giết người một cách hèn hạ, sẽ mang nỗi nhục suốt đời với anh hùng hào kiệt. Con người đã có tên tuổi như Phạm Bạch Hổ sẽ rất coi trọng danh dự.

Lưu Cơ nói:

- Trần chúa công đừng lo, chuyến đi của Vạn Thắng Vương sẽ thành công.

Trần Minh Công hỏi:

- Vậy con có cần đem quân hỗ trợ hoặc phòng bị gì không?

- Bẩm nhạc phụ, suốt từ sáng cho đến xế chiều mà con không về thì nhạc phụ cho Nguyễn Bặc làm chủ soái tấn công Đằng Châu và điều Lê Hoàn ở Cổ Loa tấn công mặt Bắc từ hướng Lục Đầu Giang.

Đêm đó Trần phu nhân lo lắng hỏi:

- Chàng một mình vào hang cọp định đối phó thế nào?

- Nàng yên tâm, trong người ta sẽ mặc hai lần áo giáp sắt, còn nếu đầu độc thì không thể vì ta sẽ ngồi ăn cùng Phạm Bạch Hổ. Vả lại nàng yên tâm, Phạm Bạch Hổ là con người nhân nghĩa, coi trọng danh dự, không thể hành động hèn hạ được. Xưa nay ta nhìn người chưa bao giờ sai.

Hai đôi mắt đẹp của Trần Nương dường như có ngấn lệ:

- Thiếp vẫn thấy lo lắng.

- Đã bảo nàng yên tâm mà.

Ngày hôm sau, Trần Minh Công, Trần Nương và các tướng đưa tiễn Đinh Bộ Lĩnh lên đường đi Đằng Châu chỉ một người một ngựa trong tâm trạng bất an. Nguyễn Bặc nói:

- Chúa công nên bảo trọng.

Đinh Bộ Lĩnh tạm biệt Trần Minh Công, Trần Nương và các tướng lĩnh rồi phi ngựa về hướng Đông- Bắc. Mọi người nhìn theo cho đến khi người và ngựa xa dần và biến vào nơi gió bụi xa xăm.

Trời đã già sớm non trưa, nắng như tơ rải lấp lánh xuống cây lá, sông nước trang Trà Hương tươi đẹp. Phạm Bạch Hổ đang ngồi nhâm nhi chén trà thì gia nhân vào báo:

- Dạ, bẩm chúa công, có Đinh Bộ Lĩnh ở ngoài xin vào gặp.

- Đi bao nhiêu người, có quân đội đi theo không?

- Dạ, chỉ một mình Đinh Bộ Lĩnh.

- Khá lắm, cũng to gan.

Rồi Phạm Bạch Hổ đứng dậy tự đi ra ngoài dinh đón khách. Các gia nhân ngạc nhiên vì đây là lần đầu tiên chủ nhân của họ làm như vậy. Đinh Bộ Lĩnh trông thấy một võ tướng gần 60 tuổi, mặt to tai lớn, người lực lưỡng, biết đó là Phạm Bạch Hổ liền chắp tay thi lễ:

- Xin kính chào chúa công Phạm Phòng Át.

- Rất hân hạnh được gặp Đinh tướng quân. Xin mời tướng quân vào tệ xá của lão phu.

Hai người đi qua mấy người lính cầm gươm canh ngoài cửa, bước vào gian đại sảnh của Phạm Bạch Hổ. Đinh Bộ Lĩnh chói mắt trước bàn ghế bằng gỗ quý chạm khắc hoa văn cầu kỳ và khảm trai trắng bóng. Gian giữa đặt những bàn thờ đầy bài vị lư hương sơn son thếp vàng óng ánh. Phạm Bạch Hổ cùng Đinh Bộ Lĩnh vừa uống trà vừa đàm đạo. Phạm Bạch Hổ nói:

- Tướng quân đã đến đây một mình theo lời đề nghị của lão phu tức là đã tin tưởng lão phu, vậy có thể hợp tác với nhau được vì sự nghiệp thống nhất đất nước, cứu lê dân.

Đinh Bộ Lĩnh nói:

- Đa tạ chúa công. Đã hợp tác với nhau thì phải tin tưởng nhau. Tất cả vì sự nghiệp nhanh chóng thống nhất đất nước trước khi cục diện 5 đời 10 nước ở Trung Hoa kết thúc, nếu không nước nhà sẽ lâm nguy. Nếu ở Trung Nguyên đã ra đời một triều đại thống nhất mà Nước Việt còn chia cắt thì làm sao đủ sức chống ngoại bang xâm lược. Đa tạ Phạm chúa công đã nghĩ cho nước, cho lê dân.

Phạm Bạch Hổ nói:

- Ta cả đời chinh chiến qua đời Dương Tiết độ sứ, qua mấy đời nhà Ngô cũng chỉ vì một mục đích vì quốc gia, dân tộc. Lão phu và Đinh tướng quân là hai chí lớn gặp nhau rồi. Ha!ha!ha!...

Đinh Bộ Lĩnh cũng cười.

Phạm Bạch Hổ gọi:

- Bay đâu.

- Dạ.

- Bày tiệc rượu để ta khoản đãi Đinh tướng quân

- Dạ.

Trong khi chờ đợi người nhà sắp mâm thì xuất hiện hai võ tướng bước vào sảnh đường. Phạm Bạch Hổ giới thiệu:

- Đây là tướng quân Đinh Bộ Lĩnh, Chủ soái quân đội Hoa Lư và quân Bố Hải Khẩu. Hôm nay tướng quân đến đây để đón chúng ta về quân doanh của tướng quân, bắt đầu một sự hợp tác của chúng ta với chúa công Trần Minh Công và Đinh tướng quân.

Đinh Bộ Lĩnh đứng dậy thi lễ:

- Xin chào các tướng quân, rất hân hạnh được gặp mặt.

Các tướng vừa vào cũng chắp tay thi lễ. Phạm Bạch Hổ nói tiếp:

- Đây là hai cháu của lão phu, tướng quân Phạm Hạp, tướng quân Phạm Cự Lượng. Nay mai sẽ chiến đấu dưới trướng của Đinh tướng quân.

Hai tướng đứng dậy đáp lễ:

- Nghe đại danh của Đinh tướng quân đã lâu, nay mới được gặp, hân hạnh, hân hạnh.

Đinh Bộ Lĩnh cũng thi lễ nói:

- Không dám, không dám, thật là hân hạnh được gặp hai tướng quân.

Khi gia nhân đã rót rượu và bày thức ăn, Phạm Bạch Hổ nói:

- Xin mời Đinh Tướng quân cạn chén.

- Đa tạ, kính mời Phạm chúa công, kính mời hai tướng quân.

Tiệc xong, Phạm Bạch Hổ, Phạm Cự Lượng, Phạm Hạp cùng các tùy tướng mặc áo giáp, lên ngựa, nổi trống tập trung quân đội Đằng Châu, cùng Đinh Bộ Lĩnh sẽ dẫn 3 vạn quân tiến về Bố Hải Khẩu. Quân Đằng Châu quân phục màu nâu, vũ khí sáng lòa, cờ vàng bay phấp phới tung theo gió rợp trời. Phạm Bạch Hổ ghì cương ngựa trước hàng quân nói:

- Đây là tướng quân Đinh Bộ Lĩnh, chủ soái quân đội Hoa Lư nổi tiếng bách chiến bách thắng nên được gọi là Vạn Thắng Vương. Tướng quân đã về hợp tác với quân Bố Hải Khẩu của chúa công Trần Minh Công để đấu tranh cho sự thống nhất đất nước, sớm chấm dứt chiến tranh. Theo sự thỏa thuận của ta với Trần Minh Công và Đinh tướng quân, quân Đằng Châu của chúng ta cũng sẽ về với quân Hoa Lư và quân Bố Hải Khẩu để góp phần dẹp loạn các sứ quân vì sự nghiệp thống nhất đất nước, sớm chấm dứt chiến tranh, chấm dứt sự đau khổ của lê dân, bách tính. Các tướng lĩnh và binh sĩ Đằng Châu có muốn đóng góp cho sự nghiệp chính nghĩa vì đất nươc, vì bách tính không?

Tiếng của ba vạn binh sĩ vang lên như sấm:

- Chúng tôi thề đi theo sự nghiệp chính nghĩa thống nhất đất nước của chúa công Phạm Phòng Át, của chủ soái Hoa Lư Đinh tướng quân.

Phạm Bạch Hổ nói:

- Ta hạ lệnh hành quân về Bố Hải Khẩu để hợp tác với quân Hoa Lư.

- Chúng tôi tuân lệnh chúa công.

Rồi chiêng trống thanh la vang động, 3 vạn quân xuất phát đi về hướng Nam. Phạm Cự Lượng đi tiền quân, Phạm Hạp đi hậu quân, Đinh Bộ Lĩnh và Phạm Bạch Hổ đi trung quân, Bụi cuốn, gió thổi, cờ bay rợp trời, quân đi trong nắng. Bách tính hai bên đường biết là quân của Phạm Phòng Át liền đem nước, rượu, bánh đứng hai bên đường úy lạo.

Được thám mã về báo, Trần Minh Công ra lệnh cho đại bản doanh Bố Hải Khẩu chuẩn bị đón tiếp. Do đó, khi quân Đằng Châu đến thì Phạm Bạch Hổ, Phạm Hạp, Phạm Cự Lượng và toàn thể quân đội được Trần Minh Công và các tướng đón tiếp trọng thị. Tướng lĩnh và quân đội hai bên tiệc thâu đêm suốt sáng mừng cuộc hội ngộ có một không hai. Từ đó, quân Đằng Châu và các tướng lĩnh kết hợp với quân Hoa Lư- Bố Hải Khẩu, đặt dưới sự chỉ huy của Đinh Bộ Lĩnh, tạo nên một sức mạnh vô địch, một đối sánh lực lượng vượt xa các sứ quân khác để Đinh Bộ Lĩnh chiến thắng họ, thống nhất đất nước, thiết lập một triều đại mới.

Sau khi ở Bố Hải Khẩu về lại Cổ Loa, Đinh Bộ Lĩnh Cho Đinh Liễn, Trịnh Tú cùng ra tham chiến mặt trận phía Bắc, cử Đinh Đức Đạt, Đinh Đức Thông, có Phạm Bạch Hổ giúp sức bảo vệ Hoa Lư và Vô Công. Ra đến nơi, Đinh Bộ Lĩnh chủ trương tiến đánh các sứ quân gần Cổ Loa và Đại La để bình định hết Giao Châu. Trong cuộc họp tướng lĩnh ở Cổ Loa, Đinh Bộ Lĩnh hỏi quân sư Lưu Cơ:

- Trận chiến tới ta muốn trước tiên đánh dẹp Nguyễn Siêu ở Tây Phù Liệt. Quân sư có biết tường tận về Nguyễn Siêu nói cho các tướng lĩnh cùng nghe.

Lưu Cơ nói:

- Dạ bẩm Vạn Thắng Vương, Nguyễn Siêu là người Việt gốc Hán. Ông Nguyễn Siêu là Nguyễn Hãng, người Đà Dương, Phúc Kiến, Danh tướng Bắc Triều. Cha Nguyễn Siêu là Nguyễn Nê, đem quân qua đất Việt đòi Tiết độ sứ Khúc Thừa Dụ phải triều cống. Nhưng Nguyễn Nê đã ở lại đất Việt và lấy vợ người Việt sinh ra ba người con trai trong các năm 906, 908 và 924. Đó là Nguyễn Siêu, Nguyễn Khoan và Nguyễn Thủ Tiệp. Lớn lên, ba người này nhiều của cải tiền bạc, nhiều quân. Từ năm 945 đến nay, họ trở thành ba sứ quân chiếm cứ ba vùng. Lãnh thổ của Nguyễn Siêu ở Tây Phù Liệt, Thanh Trì, Giao Châu, cách Cổ Loa khoảng 20 dặm về phía Nam, địa bàn rộng khoảng 40 dặm vuông. Thành lũy bên ngoài là những lũy tre gai dày đặc, bên trong lũy tre là tường bằng đất nện dài khoảng 5 dặm kéo từ làng Việt Yên đến Ngọc Hồi. Bên trong chiến Lũy là tổng hành dinh của Nguyễn Siêu và doanh trại của binh lính. Binh lính của Nguyễn Siêu khoảng 1 vạn và 8000 võ sĩ. Đây được gọi là căn cứ Tây Phù Liệt.

Đinh Bộ Lĩnh nói;

- Chúng ta phải tiêu diệt Nguyễn Siêu và căn cứ Tây Phù Liệt. Nay ta cử Nguyễn Bộ làm chủ tướng, Nguyễn Phục làm phó tướng cùng hai tướng Đinh Thiết và Cao Sơn tiến về Tây Phù Liệt, tiêu diệt Nguyễn Siêu, mở ra hành lang Tây Nam thông Cổ Loa với Hoa Lư và Bố Hải Khẩu.

Bốn tướng nói:

- Xin tuân lệnh chúa công.

Nguyễn Bộ và ba tướng dẫn 2 vạn quân về Tây Phù Liệt. Quân Hoa Lư đến gần địa phận làng Việt Yên, nơi con đường nhỏ, có bãi rộng nhưng cây cối um tùm rậm rạp. Tướng Nguyễn Phục nói với Nguyễn Bộ:

- Qua con đường hẹp có bãi rộng cây cối um tùm, tướng quân đề phòng có mai phục.

Nguyễn Bộ nói:

- Nguyễn Siêu chỉ là con chuột trong lũy tre làng ở Tây Phù Liệt, nghe đến danh tiếng quân Hoa Lư đã rụng rời khiếp vía, còn đâu ý chí nữa mà mai phục.

Tướng Cao Sơn nói:

- Tướng Nguyễn Phục nói phải đấy thưa chủ tướng. Chủ tướng nên cử vài trăm lính đi do thám tình hình rồi tiến quân cũng chưa muộn.

Nguyễn Bộ nói miễn cưỡng:

- Cứ làm vậy đi.

Rồi cử 100 lính kỵ binh và bộ binh và ra lệnh:

- Các ngươi đi đến vùng có bãi rậm xem có mai phục không rồi về báo cho ta!

- Dạ, tuân lệnh tướng quân.

Một trăm lính kỵ binh và bộ binh đi qua bãi rộng an toàn rồi quay lại bẩm báo:

- Dạ, bẩm tướng quân chỉ toàn cây cỏ ếch nhái, không có quân mai phục.

Các tướng Hoa Lư yên tâm thúc quân hành quân tiếp. Khi đại quân Hoa Lư đã lọt hết vào bãi rậm, thốt nhiên có vài phát tên châm lửa bắn lên không trung. Quân Hoa Lư chưa kịp nhận ra điều gì xẩy ra thì từ bốn phía liên tục những trận mưa tên dội vào. Quân Hoa Lư liên tục gục xuống trong hoảng loạn rồi lại gục xuống. Thây đổ ngổn ngang, máu chan hòa mặt đất và cây lá. Bốn tướng Hoa Lư bị trúng tên mà chết. Khi đó quân Nguyễn Siêu mới xông ra chém giết. 2 vạn quân Hoa Lư chỉ 5000 người sống sót chạy về. Đó là lần thất bại tổn thất lớn đầu tiên của quân Hoa Lư. Đinh Bộ Lĩnh được tin tức giận kêu lên:

- Ta đã giao nhầm trọng trách cho Nguyễn Bộ, đã làm mất 2 vạn quân và bốn đại tướng đã cùng ta chung gian khổ từ thời niên thiếu.

Ngay lập tức, Đinh Bộ Lĩnh cho Đại tướng Nguyễn Bặc dẫn 1 vạn quân đi tiên phong, Lê Hoàn chỉ huy 8000 quân tiếp ứng, Phạm Hạp chỉ huy 7000 quân hỗ trợ cho các cánh quân. Tất cả do Đinh Bộ Lĩnh làm thống soái tiến đánh Tây Phù Liệt để trả thù cho 1,5 vạn quân và bốn Đại tướng bị Nguyễn Siêu giết hại. Quân đi như nước tràn gió cuốn, chân người ngựa rung chuyển mặt đất. Cờ vàng thêu hình bông lau bay phấp phới, vũ khí sáng lóa ngút trời.

Thám mã về báo cho Nguyễn Siêu:

- Cấp báo, cấp báo, bẩm chúa công, quân Hoa Lư do Đinh Bộ Lĩnh làm chủ soái đang tiến như vũ bão về phía ta.

Tướng Nguyễn Tri Khả nói với Nguyễn Siêu:

- Thế giặc rất mạnh, theo mạt tướng, chúa công cần cho người sang cầu cứu sứ quân Lý Khuê và Lã Đường bên kia sông Hồng thì mới có thể chống được với Đinh Bộ Lĩnh. Khi đó, ta bên trong đánh ra, bên ngoài quân cứu viện đánh vào thì sẽ bắt được Đinh Bộ Lĩnh.

Lý Khuê hỏi:

- Ai dám đem 100 võ sĩ vượt sông Hồng sang bờ Bắc cầu viện Lã Đường và Lý Khuê?

Trần Côn nói:

- Mạt tướng xin đi

Rồi Trần Côn nhanh chóng xuống thuyền. Khi đó quân Hoa Lư chưa bao vây mặt sông, nhưng khi thuyền ra giữa sông thì bị một cơn lốc to làm thuyền và 100 lính Nguyễn Siêu dạt trôi vào bờ và bị quân Hoa Lư bắt. Đinh Bộ Lĩnh hỏi Trần Côn:

- Các ngươi sang bờ Bắc làm gì, nói thật ta tha mạng.

- Dạ, bẩm chúa công, Nguyễn Siêu sợ chúa công, cho chúng tôi sang bờ bắc cầu cứu Lý Khuê và Lã Đường tiếp viện.

Đinh Bộ Lĩnh bảo Lê Hoàn:

- Tướng quân đem chúng vào trong bảo chúng cởi hết quân phục, cả binh phù và vũ khí.

Trần Côn hoảng sợ:

- Xin chúa công tha mạng, mạt tướng chỉ là tiểu tướng, chỉ vâng lệnh thôi ạ.

Đinh Bộ Lĩnh cười:

- Ta không giết các ngươi, chỉ là mượn quân phục của các ngươi thôi. Tướng quân lấy quân phục của ta cho chúng mặc rồi cho chúng ăn tử tế.

Trần Côn và 100 lính chắp tay rập đầu vái lạy:

- Đa tạ chúa công, đa tạ…

Lê Hoàn đem 100 bộ quân phục sắc lính của Nguyễn Siêu ra và hỏi:

- Chúa công có mưu kế gì chăng?

Đinh Bộ Lĩnh nói:

- Cơn dông giữa sông là trời cho đêm nay ta giết được Nguyễn Siêu. Tướng quân cho 100 võ sĩ của ta mặc quân phục này vào, đem theo đủ binh phù của Nguyễn Siêu lọt vào trong chiến lũy, canh ba đốt doanh trại, mở cổng chiến lũy cho đại quân tràn vào chém giết.

Lê Hoàn nói:

- Diệu kế, diệu kế.

Liền chọn 100 võ sĩ mặc quân phục, mang phù hiệu quân Nguyễn Siêu và đi vào chiến lũy. Lính canh cửa quát:

- Dừng lại, quân nào?

Nguyễn Đoàn người chỉ huy 100 lính giả của Nguyễn Siêu mắng:

- Ngươi mù không thấy quân phục quân ta à? Chúng ta vâng lệnh chúa công đi cầu cứu quân của sứ quân Lã Đường, Lý Khuê về, rõ chưa.

Tên lính gác cả sợ:

- Dạ, tối quá không thấy gì, xin tướng quân đại xá.

100 võ sĩ Hoa Lư lọt vào chiến lũy. Bên ngoài, quân Hoa Lư đã bao vây chiến luỹ chờ tín hiệu là xông vào. Canh ba, quân Hoa Lư bên ngoài trông thấy doanh trại của quân Nguyễn Siêu bốc cháy, tất cả các cánh cổng bốn hướng đều mở toang. Quân Hoa Lư xông vào chém giết. Quân Nguyễn Siêu náo loạn chống cự yếu ớt. Tiếng reo hò, tiếng trống thúc ngũ liên, tiếng tù và, tiếng binh đao chạm nhau khô khốc, tiếng kêu rống lên và thây đổ vật xuống. Những ngọn lửa khói bốc cao lưng trời sáng rừng rực khắp Tây Phù Liệt, thây đổ máu tuôn thảm khốc. Nguyễn Siêu bị Lê Hoàn giết chết ngay tại trận, còn khoảng 2000 quân hạ vũ khí đầu hàng quân Hoa Lư. Các tướng Tây Phù Liệt Nguyễn Tri Khả, Đỗ Cư, Hữu Dực, Nguyễn Hiền đều tử trận. Đó là ngày 15 tháng 7 năm 967.

Tháng 8 năm 967 mùa thu đang đến với đất Việt và thành Cổ Loa, gió lạnh đã về, những lá vàng trút xuống đầy lối đi. Xa xa Tam Đảo, Ba Vì mờ mờ sương trắng. Thành Cổ Loa vươn mình lên bầu trời xám, vài đàn chim đang mải miết bay về phương Nam tránh rét. Trong đại điện của Cổ Loa, Đinh Bộ Lĩnh đang họp các tướng lĩnh. Đinh Bộ Lĩnh nói:

- Trận chiến sắp tới chúng ta phải tiêu diệt sứ quân Đỗ Cảnh Thạc, chúa tể ở Đỗ Động Giang, Thanh Oai, Giao Châu. Nếu chúng ta làm chủ vùng này thì thêm một địa bàn nối thông với Hoa Lư và Bố Hải Khẩu. Đây là một sứ quân có lực lượng hùng mạnh. Quân sư Lưu Cơ có biết nhiều về Đỗ Cảnh Thạc không?

Lưu Cơ đáp:

- Bẩm Vạn Thắng Vương, Đỗ Cảnh Thạc vốn người Việt gốc Hoa, cha là Đỗ Thục người Quảng Lăng, Giang Tô, mẹ là Trần Thị Thọ, người Việt, quê ở Đỗ Động Giang. Thời Ngũ đại thập quốc, tương đương thời tự chủ của An Nam, Đỗ Thục sang đất Việt lấy vợ người Việt và sinh ra Đỗ Cảnh Thạc năm 912. Năm 937 Đỗ Cảnh Thạc vào Ái Châu theo Tiền Ngô Vương, tham gia trận Bạch Đằng năm 938 góp phần đánh bại quân Nam Hán, Năm 939 được Tiền Ngô Vương phong là Chỉ huy sứ. Năm 950 Đỗ Cảnh Thạc cùng Dương Cát Lợi lật đổ Dương Tam Kha, đưa Nam Tấn Vương Ngô Xương Văn lên ngôi. Năm 965 khi Ngô Xương Văn tử trận, Lã Tử Bình chuyên quyền, Ngô Xương Xí về Bình Kiều, Ái Châu, Đỗ Cảnh Thạc rời Cổ Loa về quê nhà là Đỗ Động Giang, Quốc Oai và Thanh Oai, Giao Châu, cách Cổ Loa khoảng 80 dặm về phía Tây. Tại đây, Đỗ Cảnh Thạc đã xây dựng thành Quèn, còn gọi là thành Đỗ Động và đồn Bảo Đà, cách thành Quèn 10 dặm, trở thành một sứ quân có lực lượng mạnh, tự xưng là Đỗ Cảnh Công, lập hành cung tới 72 trị sở, đóng chiến thuyền, tích tụ lương thực, chiếm cứ một vùng rộng lớn bao gồm trung du và đồng bằng, địa bàn nhiều sông ngòi phức tạp.

Đinh Bộ Lĩnh nói:

- Như vậy Đỗ Cảnh Thạc là công thần ba triều nhà Ngô, thế lực và uy tín rất lớn. Chủ trương của ta và của Trần Minh Công là chiêu hàng. Ai hàng thì thu nạp để đỡ tốn xương máu. Ta đã gửi thư cho Đỗ Cảnh Thạc với lời lẽ khiêm tốn là cùng hợp tác để lo sự nghiệp thống nhất đất nước nhưng ngài ấy từ chối và hẹn quyết chiến. Các tướng quân có kế gì đánh bại được Đỗ Cảnh Thạc không?

Nguyễn Bặc nói:

- Đỗ Cảnh Thạc thế lực mạnh cho nên mộng bá vương rất lớn chứ không nhìn toàn cục vì lợi ích quốc gia nên không dễ gì mà thuyết hàng phục. Vì vậy, ta phải vào hang cọp mới bắt được cọp. Cái yếu trong bố phòng của Đỗ Cảnh Thạc là thành Quèn cách Bảo Đà 10 dặm. Chúng ta dùng cách phân tán lực lượng của Đỗ Cảnh Thạc ra mà đánh. Ta chia quân tấn công cả thành Quèn và đồn Bảo Đà làm cho Đỗ Cảnh Thạc Bắc Nam không cứu được nhau thì sẽ bị tiêu diệt.

Lê Hoàn nói:

- Nếu như Đỗ Cảnh Thạc ở Thành Quèn hay ở Bảo Đà thì nên tập trung toàn bộ binh lực tấn công nơi đó, bắt được Đỗ Cảnh Thạc và tiêu diệt được lực lượng trung tâm thì 72 trại quân của ông ta cũng phải đầu hàng.

Đinh Bộ Lĩnh nói;

- Tướng quân nói phải lắm, nhưng vấn đề là Đỗ Cảnh Thạc hiện đang ở thành Quèn hay là Bảo Đà. Quân ta hiện có 5 vạn, Đỗ Cảnh Thạc chí ít cũng 4 vạn nhưng phân tán nhiều nơi. Ta tập trung đánh vào nơi có Đỗ Cảnh Thạc. Đỗ Cảnh Thạc thất bại thì toàn bộ hệ thống 72 quân doanh sẽ sụp đổ. Thám mã đâu.

- Dạ, bẩm chủ soái

- Ngươi dẫn 5 võ sĩ đi về Đỗ Động Giang dò xem Đỗ Cảnh Thạc hiện đang ở thành Quèn hay Bảo Đà. Ta sẽ gặp ngươi ở dọc đường hành quân. Rõ chưa?

- Dạ, mạt tướng tuân lệnh.

Thám mã đi rồi, Đinh Bộ Lĩnh thống lĩnh 5 vạn quân, cử Lê Hoàn và Phạm Hạp đi tiên phong, Đinh Bộ Lĩnh cùng các tướng Đinh Võ Trung, Lưu Cơ đi trung quân tả hữu, Đinh Điền, Phạm Cự Lượng đi hậu quân tiến về hướng Tây Nam Cổ Loa, tiến về Đỗ Động Giang. Người ngựa đi rung chuyển đường đất, cờ bay rợp trời theo gió thu. Quân Hoa Lư vừa chiến thắng Lã Tử Bình, Nguyễn Siêu, thu phục được Phạm Bạch Hổ nên bước đi ngạo nghễ của một đội quân bách chiến bách thắng với chủ soái của họ được binh sĩ gọi là Vạn Thắng Vương. Dọc đường thám mã về báo cho Đinh Bộ Lĩnh:

- Dạ, bẩm chủ soái, Đỗ Cảnh Thạc hiện ở thành Quèn ạ.

Đinh Bộ Lĩnh hạ lệnh:

- Toàn quân tiến về thành Quèn!

- Dạ, tuân lệnh chủ soái.

Xế chiều, quân Hoa Lư đã trông thấy thành Quèn sừng sững dưới trời Đỗ Động Giang, hai mặt của thành tựa lưng vào sông Tích, hai mặt còn lại núi đồi không cao lắm bao quanh. Nơi giáp giữa chân thành và đồi là đầm lầy. Trên thành những lá cờ vàng mang chữ Đỗ Cảnh Công bay trong nắng gió. Kỳ lạ là không thấy Đỗ Cảnh Thạc đem quân ra ngoài thành giao chiến. Cửa thành đóng im ỉm và trong thành thì im lặng một cách đáng ngờ vực. Đinh Bộ Lĩnh cho rằng Đỗ Cảnh Thạc đang dùng chiến thuật cố thủ giữ thành. Đinh Bộ Lĩnh hạ lệnh cho quân tràn xuống bao vây thành. Quân tiên phong của Lê Hoàn chặt cây làm thành chiếc cầu nhỏ trên mặt đầm lầy cho đại quân xông vào bao vây thành. Trên thành vẫn không một mũi tên, một hòn đá bắn xuống, không một sự kháng cự nào. Quân Hoa Lư dùng những cây gỗ đâm mạnh vào cổng, cổng thành mở toang, quân Hoa Lư xông vào nhưng toàn thành trống không, không một bóng người, không một sự sống. Quân Hoa Lư đang ngạc nhiên thì thốt nhiên trên những ngọn đồi tiếng chiêng trống thanh la vang trời và xuất hiện 4 vạn quân của Đỗ Cảnh Thạc đã hình thành thế bao vây quân Hoa Lư và họ có lợi thế hơn vì ở trên cao. Thì ra Đỗ Cảnh Thạc biết thế nào quân Hoa Lư cũng tấn công thành Quèn nên đã biến thành Quèn thành cái bẫy. Đỗ Cảnh Thạc cho quân và dân rút ra ngoài hết. Trong thành không để lại lương thực, nước uống, vũ khí. Quân Hoa Lư hai bên đã bị sông Tích vây chặn, còn hai bên đồi núi thì đã bị quân Đỗ Cảnh Thạc bủa vây. Đỗ Cảnh Thạc trù tính vài ngày nữa quân Hoa Lư sẽ chết đói, chết khát mà tan vỡ.

Nguyễn Bặc nói:

- Chúng ta nên liều chết mở đường máu mà phá vây.

Lưu Cơ nói:

- Nếu bây giờ mà phá vây thì phải huyết chiến với 4 vạn quân của Đỗ Cảnh Thạc. Ta thì ở thế bất lợi, sẽ tổn thất rất lớn. Nhỡ ra chúa công cũng hi sinh thì lấy ai mà thống nhất đất nước.

Đinh Bộ Lĩnh nói:

- Ta cả đời chinh chiến thì không còn coi cái chết là gì nhưng chinh chiến không phải là để chết mà là buộc kẻ thù phải chết để ta thống nhất thiên hạ, chấm dứt sự đau khổ chết chóc cho lê dân. Liều chết không phải là cách hay. Để xem trong tình thế bị vây hãm này có cách gì hay hơn không?

Lê Hoàn nói:

- Bẩm chúa công, vẫn còn đủ lương thực cho quân ăn một tuần. Chúa công cứ cho quân phòng thủ. Mạt tướng xin vượt sông Tích về Cổ Loa cùng Tổng trấn Đinh Liễn huy động binh mã các nơi đánh sau lưng quân địch. Chúa công khi đó mở cống thành, trong đánh ra ngoài đánh vào thì Đỗ Cảnh Thạc sẽ chết.

Đinh Bộ Lĩnh nói:

- Cách này hay lắm, mau rút cầu gỗ qua đầm lầy để quân Đỗ Động Giang không vào bao vây thành để ta chờ viện binh.

Đêm đó Lê Hoàn dặn Đinh Bộ Lĩnh:

- Nếu mạt tướng đem quân đến, sẽ có ba phát tên châm lửa bắn lên không trung, khi đó chúa công cho mở cổng thành đánh ra.

Đinh Bộ Lĩnh nắm tay Lê Hoàn:

- Ta biết tướng quân bơi lặn giỏi nhưng trên sông Tích vẫn có thuyền canh tuần tiễu của Đỗ Cảnh Thạc, tướng quân và hai võ sĩ phải cẩn thận.

- Đa tạ chúa công.

Đêm đó chờ cho thuyền tuần tiễu của quân Đỗ Động Giang đi qua, bóng đêm trùm xuống mịt mù, Lê Hoàn cùng hai võ sĩ đội bèo bơi về bờ Đông sông Tích. Ba người đi suốt đêm về nhà Hà Khôi, một hào trưởng ở Đỗ Động Giang mà Lê Hoàn quen biết từ thời ở Hoa Lư. Gần sáng tới cổng nhà Hà Khôi. Người nhà mở cổng:

- Quan nhân hỏi ai ạ?

- Vào bảo Hà đại nhân có bạn xưa ở Hoa Lư tới gặp.

- Dạ, ngài chờ chút.

Một lát, Hà đại nhân ra trông thấy Lê Hoàn cả mừng.

- Kính chào cố nhân, lâu không gặp. Nghe nói tướng quân đang phò tá Vạn Thắng Vương đánh Đông dẹp Bắc, sao có thời gian hạ cố tới thăm lão phu?

Lê Hoàn nói:

- Mạt tướng theo Đinh chúa công đang đánh thành Quèn của Đỗ Cảnh Thạc nhưng bị trúng kế, Đinh chúa công và 5 vạn quân đang bị vây ở thành Quèn rất nguy cấp.

Hà Khôi nói:

- Vậy xin mời Lê tướng quân vào nhà cơm nước nghỉ ngơi rồi sẽ bàn kế giải vây cho Đinh chúa công.

- Đa tạ nhưng mạt tướng không có thời gian. Hà đại nhân cho mượn ba con ngựa để ba chúng tôi đi gấp về Cổ Loa điều động binh mã đến cứu gấp. Nếu chậm trễ, 5 vạn quân và Đinh chúa công sẽ nguy ngập, không còn ai đánh giặc thống nhất đất nước, cứu nước, cứu lê dân.

Hà Khôi nói:

- Đáng tiếc, đáng tiếc.

- Bay đâu.

- Dạ.

- Đem ba con ngựa khỏe ăn no ra đây.

- Dạ.

Gia nhân của Hà Khôi dắt ba con ngựa ra khỏi cổng, Lê Hoàn và hai người lính chắp tay.

- Đa tạ, sẽ báo đáp sự giúp đỡ này sau.

Hà Khôi nói:

- Tại hạ bất tài nhưng hôm nay sẽ liên kết với ba anh em họ Cao người ở đây dấy quân cứu chúa công Đinh Bộ Lĩnh.

- Vậy hẹn đại nhân khi quân Cổ Loa đến thì phối hợp với quân của đại nhân và quân của Cao đại nhân cùng đi về thành Quèn.

- Rồi cứ như vậy

- Đa tạ đại nhân, cáo từ, hẹn gặp lại.

- Cáo từ.

Khi lên ngựa, Lê Hoàn nói với hai võ sĩ:

- Đệ Dân và đệ Nghĩa đi về Cổ Loa, báo cho Tổng trấn Cổ Loa Đinh Liễn điều động quân mã tới thành Quèn, dặn tướng quân Đinh Liễn giờ ngọ ngày mai hội quân cách thành Quèn 5 dặm, khi hành quân phải bí mật, không được cờ trống. Rõ chưa? Hai đệ hoàn thành công việc này ta sẽ nói với Đinh chúa công thưởng cho. Còn ta sẽ đi về Tây Phù Liệt huy động quân của tướng quân Trịnh Tú.

- Cáo biệt tướng quân. Hẹn gặp lại.

- Cáo biệt, hẹn gặp lại.

Hai võ sĩ đi về Cổ Loa. Lê Hoàn đi về Tây Phù Liệt. Vó ngựa phi điên cuồng gấp gáp.

Lại nói 4 vạn quân của Đỗ Cảnh Thạc bao vây 5 vạn quân của Đinh Bộ Lĩnh ở thành Quèn nhưng chỉ ở trên đồi mà không xáp vào tấn công thành. Đã 5 ngày trôi qua. Quân sư Hồ Hồng Hạnh nói:

- Mạt tướng bị bệnh đến quá muộn. Không đến sớm giúp chúa công. Sao chúa công không tấn công thành để tiêu diệt quân Hoa Lư?

Đỗ Cảnh Thạc nói:

- Ta chờ quân Đinh Bộ Lĩnh đói vàng mắt và đến lúc gục xuống, đánh làm gì cho tốn xương máu của binh sĩ.

Hồ Hồng Hạnh nói:

- Nguy to rồi. Vậy chúa công không dự tính viện binh của Đinh Bộ Lĩnh đến, khi đó trong đánh ra, ngoài đánh vào, quân ta có thể lâm vào thế nguy nan và có thể bị tiêu diệt?

Đỗ Cảnh Thạc như sực nhớ ra:

- Ta không nghĩ tới, lão phu sai rồi. Tướng quân Đỗ Thanh Phong đâu?

- Có mạt tướng.

- Tướng quân hãy ra lệnh cho quân tràn xuống phá thành, quyết chiến.

Đỗ Thanh Phong cho quân bắc cầu phao qua đầm lầy để có đường đi cho quân xuống phá thành. Cầu vừa bắc xong thì phía sau quân Đỗ Động Giang ba phát tên châm lửa bắn lên trời. Quân Đỗ Cảnh Thạc còn ngơ ngác, chưa hiểu đó là tín hiệu gì. Trong thành Quèn, quân Hoa Lư đã hết lương thực, nước uống, đang trong tình thế hết sức nguy kịch, bỗng nhìn thấy ba phát tín hiệu trên không trung, toàn quân mừng rỡ reo lên:

- Lê tướng quân đã đến cứu viện…

Đinh Bộ Lĩnh ra lệnh:

- Quân cứu viện đã đến, tướng Phạm Cự Lượng mở cổng thành cho bắc lại cầu phao qua đầm lầy nhanh lên.

Tướng Phạm Cự Lượng mở cổng thành và báo:

- Dạ, cầu phao đã được quân Đỗ Cảnh Thạc bắc rồi ạ.

Đinh Bộ Lĩnh ra lệnh:

- Toàn quân ra khỏi thành xông lên chém giết.

Trong khi quân Đỗ Động Giang còn ngơ ngác thì đã bị 5 vạn quân Hoa Lư do Lê Hoàn, Đinh Liễn, Trịnh Tú chỉ huy đánh phía sau, trước mặt thì 5 vạn quân Hoa Lư trong thành Quèn xông ra chém giết. Quân Đỗ Cảnh Thạc bị kẹt vào giữa vòng vây 10 vạn quân Hoa Lư, ra sức chống đỡ nhưng thế trận đã vỡ. Tiếng chiêng trống cùng tiếng reo hò của quân Hoa Lư làm rung chuyển trời đất vùng Đỗ Động Giang. Quân Đỗ Động Giang gục đổ, máu tuôn như suối nhuộm đỏ cả dòng sông Tích, thây chất thành núi, gươm giáo chạm nhau như chớp giật. Đây là cuộc hỗn chiến, trận giáp lá cà của 15 vạn quân, trận chém giết lớn nhất trong lịch sử của cuộc nội chiến 12 sứ quân. Phần lớn 5 vạn quân của Đỗ Cảnh Thạc tử trận, còn lại đầu hàng. Đỗ Cảnh Thạc cùng tàn quân mở đường máu chạy thoát ra ngoài vòng vây nhưng quân Hoa Lư truy kích rất gắt gao. Đỗ Cảnh Thạc chạy về thành Bảo Đà nhưng thành đã bị tướng Hoa Lư Phạm Công Đình lấy mất. Đỗ Cảnh Thạc chạy về miền Sài Sơn, Phong Châu. Quân Hoa Lư vẫn truy sát. Đỗ Cảnh Thạc bị trúng tên độc của quân Hoa Lư ngã xuống ngựa mà chết. Con ngựa cao to khỏe mạnh của Đỗ Cảnh Công cưỡi suốt cuộc đời chinh chiến bây giờ nhìn chủ tướng tắt thở, nó chảy ra hai dòng nước mắt và cũng gục xuống chết theo. Đó là tháng 7 năm 966. Đỗ Cảnh Công thọ 55 tuổi.

Sau chiến trận, Lê Hoàn đưa hào trưởng Hà Khôi, nói về tình cố tri ở Hoa Lư, nói về việc Hà đại nhân cho mượn ba con ngựa để nhanh chóng về Cổ Loa, Tây Phù Liệt huy động quân cứu viện. Hà đại nhân còn hợp tác vơi ba anh em hào trưởng họ Cao, huy động được một vạn quân, góp vào thành 5 vạn quân của Cổ Loa-Tây Phù Liệt để đánh tập hậu Đỗ Cảnh Thạc và giải vây cho Đinh chúa công. Đinh Bộ Lĩnh nói:

- Đa tạ Hà đại nhân và Cao đại nhân đã giúp đỡ.

Bốn người chắp tay đáp lễ:

- Không dám, không dám. Đó là công việc chúng tôi nên làm.

Đinh Bộ Lĩnh bảo Lưu Cơ:

- Tướng quân đem ấn tín binh phù ra đây. Nay phong thưởng cho Hà Đại nhân làm Huyện lệnh Đỗ Động Giang. Phong cho ba đại nhân họ Cao: Anh cả Cao Trí làm Chỉ huy sứ, đệ thứ hai Cao Minh làm Cao Đô úy, đệ thứ ba Cao Sáng làm Cao hiệu úy.

Bốn người quỳ gối chắp tay:

- Đa tạ Đinh chúa công, đa tạ…

Đinh Bộ Lĩnh cử tướng Phạm Công Đình lĩnh 1 vạn quân chấn giữ Đỗ Động Giang, cho Trịnh Tú 1 vạn quân về trấn giữ Tây Phù Liệt, Đinh Liễn đem 1vạn quân về làm Tổng Trấn Cổ Loa. Còn Đinh Bộ Lĩnh lưu lại Đỗ Động Giang vài ngày cho quân đội nghĩ ngơi, trù liệu cuộc tấn công tiêu diệt Nguyễn Khoan ở Tam Đái, Phong Châu.

Việc Đinh Bộ Lĩnh đơn đao đến Đằng Giang thu phục Phạm Bạch Hổ, một lão thần phò ba đời vua Ngô, ông ngoại của Vua Ngô Xương Xí, nhạc phụ của vua Ngô Nam Sách Vương, thân phụ của Hoàng Thái hậu Phạm Thị Ngọc Dung đã làm cho các sứ quân trong thiên hạ kính phục. Tiếp đến, Đinh Bộ Lĩnh đánh bại Đỗ Cảnh Thạc, một lão thần cũng phò ba đời vua Ngô, có một lực lượng hùng mạnh, một lão tướng dày dạn kinh nghiệm chính trị và quân sự đã làm chấn động các sứ quân còn lại. Họ khiếp sợ uy danh lững lẫy trùm thiên hạ của Đinh Bộ Lĩnh.

Trong cuộc họp các tướng lĩnh bàn về việc đánh sứ quân Nguyễn Khoan ở Tam Đái, Đinh Bộ Lĩnh nói:

- Muốn giải phóng Phong Châu, phải tiêu diệt sứ quân Nguyễn Khoan ở vùng Tam Đái. Ta đã viết thư chiêu hàng nhưng Nguyễn Khoan nói ngạo mạn thách ta nếu muốn bỏ xác như Ngô Xương Văn thì cứ tiến vào Tam Đái để ông ta báo thù cho anh ông ta là Nguyễn Siêu vừa bị ta tiêu diệt ở Tây Phù Liệt. Quân sư Lưu Cơ có biết thêm về Nguyễn Khoan không?

Lưu Cơ nói:

- Bẩm chúa công, Nguyễn Khoan là em của Nguyễn Siêu, anh của Nguyễn Thủ Tiệp, người Việt gốc Hoa. Lớn lên, khoảng năm 945, Nguyễn Khoan trở thành hào trưởng vùng Tam Đái. Tam Đái ở Tây Bắc Cổ Loa, là tên gọi vùng có ba giải đất bao quanh Bạch Hạc. Đó là vùng đất Loan Giang, Bạch Hạc Giang và Phó Đáy Giang, thuộc Yên Lạc, Phong Châu. Nơi đây, một bên có núi Một Tai, một bên là Núi Biện. Giữa thung lũng có một dải đất nhô lên như voi quỳ phủ phục, dưới có đầm sâu. Nguyễn Khoan cho xây thủ phủ trên núi Biện Sơn, còn một công trình mang tính quân sự là đồn gò Đồng Đậu. Nguyễn Khoan ngạo mạn xưng là Quảng Trí Quân (Vua vĩ đại), còn có tên là Nguyễn Thái Bình. Nguyễn Khoan đã chống lại nhà Ngô ngay thời vua Nam Tấn Vương và chính Nam Tấn Vương Ngô Xương Văn đã tử trận khi đi dẹp loạn ở đây. Như vậy, có mấy lý do để Nguyễn Khoan không đầu hàng chúa công, một là mộng bá vương của ông ta rất lớn, muốn làm “Vua vĩ đại”, thứ hai, anh ruột ông ta là Nguyễn Siêu vừa bị chúa công tiêu diệt. Cho nên mạt tướng nghĩ rằng với Nguyễn Khoan chỉ có dùng quân sự tiêu diệt.

Đinh Bộ Lĩnh nói:

- Quân sư nói chí phải.

Rồi lập tức Đinh Bộ Lĩnh đem 4 vạn quân từ đất Cổ Loa, vượt qua sông Cà Lồ tiến vào vùng Tam Đái. Đi Tiên phong là tướng Phạm Hạp và Lê Hoàn, đi trung quân là Lưu Cơ, Lý Công Uẩn, Nguyễn Bặc, đi hậu quân là Phạm Cự Lượng, Đinh Đức Thông. Trời mùa đông u ám, gió lạnh thổi như cắt da, cờ bay phấp phới, quân đi chuyển đất. Còn cách Tam Đái ba dặm, Đinh Bộ Lĩnh thấy Nguyễn Khoan với khoảng 3 vạn quân đã dàn trận. Trống chiêng vang động, những lá cờ vàng thêu chữ “Quảng Trí Quân” bay phấp phới. Đinh Bộ Lĩnh cho quân Hoa Lư dàn trận. Một tướng từ hàng quân Nguyễn Khoan cưỡi ngựa nâu múa đại đao xông ra. Quân Tam Đái nhìn thì ra đó là tướng Nguyễn Duy. Bên quân Hoa Lư, tướng Phạm Hạp cưỡi ngựa đen cũng múa đại đao xông ra tiếp chiến. Chiêng trống vang lừng, bụi bay mù mịt, hai đại đao chạm nhau tóe lửa. Chưa được 10 hiệp, Phạm Hạp đưa một đao, đầu tướng Nguyễn Duy rơi xuống đất. Trong tích tắc, khi quân Nguyễn Khoan còn bàng hoàng thì Phạm Hạp như một tia chớp lao ngay vào nơi lá cờ vàng có đề chữ “Quảng Trí Quân” và lia đại đao vào người đứng dưới cờ. Người đó chính là Nguyễn Khoan chết ngay và rơi xuống ngựa, con ngựa rú lên chạy ngay vào đám loạn quân của Nguyễn Khoan đang vỡ trận tháo chạy, quân Hoa Lư như sóng vỡ bờ xông lên chém giết. 3 vạn quân Tam Đái phần lớn bị tiêu diệt, phần còn lại thì đầu hàng. Hai phu nhân của Nguyễn Khoan tự vẫn ở ao Nâu, cạnh gò Đồng Đậu. Quân Hoa Lư hoàn toàn làm chủ Tam Đái và đã làm chủ Cổ Loa, Đại La, Tây Phù Liệt, Đỗ Động Giang, nối liền với Đằng Châu, Bố Hải Khẩu, Câu Lậu, Vô Công và Hoa Lư, tạo thành một vùng liên hoàn rộng lớn hầu khắp trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Đinh Bộ Lĩnh quyết định thừa thắng sẽ tiến quân tiêu diệt sứ quân Kiều Công Hãn.

Lại nói Giám quốc Kiều Công Hãn sau khi Ngô Xương Xí về Bình Kiều thì cũng về Phong Châu, trở thành một trong 12 sứ quân, xưng là Kiều Tam Chế. Kiều Công Hãn chiếm ba châu: Thái Châu, Hào Châu và Phong Châu, xây dựng nhiều thành quách, trong đó có thành Tam Giang ở ngã ba sông Bạch Hạc, thành Phú Lập. Tổng hành dinh là thành Tam Giang, nơi ở của Kiều Công Hãn, còn thành Phú Lập là do bộ tướng Hoàng Định thống lĩnh 2 vạn quân trông coi. Kiều Công Hãn còn cho tu sửa đền, chùa ở Đại Bi. Kiều Công Hãn còn cố gắng mở rộng địa bàn sang tả ngạn sông Lô, thường xung đột với sứ quân Nguyễn Khoan ở vùng Lập Thạch, Phong Châu.

Trước khi tiến quân, Đinh Bộ Lĩnh có viết thư thuyết phục Kiều Công Hãn đầu hàng vì Đinh Bộ Lĩnh biết Kiều Công Hãn là một công thần của nhà Ngô, từng phản đối việc làm bất trung bất nghĩa của ông nội Kiều Công Tiễn giết Tiết Độ sứ Dương Đình Nghệ, từng có công lớn trong chiến dịch Bạch Đằng năm 938, có người nói ông là người tham mưu cho Tiền Ngô Vương đóng cọc nhọn trên cửa sông Bạch Đằng. Sau đó, Kiều Công Hãn phò ba triều vua Ngô và rất trung thành. Kiều Công Hãn đã từ chối lời đề nghị hợp tác của Đinh Bộ Lĩnh. Có thể trong con mắt của Kiều Công Hãn, Đinh Bộ Lĩnh chỉ là kẻ phản bội nhà Ngô, không thể hợp tác, cũng có thể trong Kiều Công Hãn cũng chứa đựng mộng bá vương quá lớn, hoặc là trung thành với nhà Ngô một cách không thức thời, không biết thời thế đang thay đổi, đặc biệt sau khi Đinh Bộ Lĩnh tiêu diệt Lã Tử Bình, Đỗ Cảnh Thạc, thu phục Phạm Bạch Hổ thì cục diện đang nghiêng về thế có lợi cho Đinh Bộ Lĩnh.

Đinh Bộ Lĩnh tiếp tục tiến quân vào lãnh địa của Kiều Công Hãn. Lê Hoàn chỉ huy 2 vạn quân đánh thành Tam Giang, Đinh Bộ Lĩnh chỉ huy 2 vạn quân đánh thành Phú Lập, mục đích là làm cho Tam Giang và Phú Lập không cứu ứng được nhau. Quân Hoa Lư ở đâu thắng trước thì chi viện cho bên kia. Đinh Bộ Lĩnh kéo quân đến thẳng thành Phú Lập. Làng quê miền trung du xanh mướt màu cây lá, đồi núi xen lẫn ruộng đồng, nước sông Lô vẫn tuôn dào dạt về Đông cuồn cuộn. Nắng rải xuống như tơ. Gió làm cờ vàng của quân Hoa Lư bay phấp phới. Đinh Bộ Lĩnh bao vây thành Phú Lập và cho quân loa lên mặt thành:

- Loa.. loa.. loa… nay đại quân của Vạn Thắng Vương đã đến, mục đích là muốn quân của sứ quân Kiều Tam Chế quy thuận để sớm thống nhất đất nước, chấm dứt nạn chết chóc cho lê dân. Tướng quân Hoàng Định và quân sĩ hãy quy thuận chính nghĩa, sẽ được bảo toàn tính mạng và được ghi công đầu. Nếu chống cự khi thành bị hạ sẽ bị xử tội chết.

Trong thành Phú Lập, tướng Hoàng Định hỏi các tùy tướng:

- Thành Tam Giang của chúa công thế nào?

Một tùy tướng nói:

- Bẩm tướng quân, thám mã về báo thành Tam Giang cũng đang bị chính tướng kiệt xuất của quân Hoa Lư là Lê Hoàn bao vây công phá.

Tướng Hoàng Định kinh hãi:

- Vậy người đang tấn công thành ta là do chính Đinh Bộ Lĩnh?

- Dạ bẩm tướng quân, chính Đinh Bộ Lĩnh.

Hoàng Định nói :

- Để ta lên mặt thành xem.

Hoàng Định lên mặt thành thấy hàng vạn quân Hoa Lư khí thế ngút trời đang bao vây thành Phú Lập, chuẩn bị phá thành. Hoàng Định gọi xuống:

- Cho ta gặp Đinh sứ quân.

Một người cưỡi con ngựa nâu cao to. Người đó còn trẻ, tay cầm đại đao, cường tráng, khôi ngô tuấn tú, oai phong lẫm liệt đứng dưới lá cờ chữ Soái đáp:

- Ta là Đinh Bộ Lĩnh đây. Tướng quân là Hoàng Định?

- Chính là mạt tướng.

- Nay ta đến đây là để thu phục sứ quân Kiều Công Hãn về thành một mối, cùng ta thu phục các sứ quân khác vì sự nghiệp thống nhất đất nước, chấm dứt nổi khổ can qua cho dân tình Nước Việt. Tướng quân có muốn cùng ta làm đại nghĩa không?

Hoàng Định nói:

- Nếu Chúa công cho mạt tướng và quân sĩ an toàn tính mạng thì mạt tướng sẽ mở cửa thành.

Đinh Bộ Lĩnh bẻ gãy mũi tên mà nói:

- Ta mà nuốt lời sẽ như mũi tên này.

- Đa tạ chúa công.

Hoàng Định đi xuống, một lát sau trên thành xuất hiện cờ trắng, rồi cửa thành Phú Lập mở toang, Hoàng Định và 1 vạn quân sĩ đi ra tay không vũ khí, đầu hàng Đinh Bộ Lĩnh. 1 vạn quân được biên chế ngay vào hàng ngũ quân Hoa Lư.

Trong khi đó, 2 vạn quân Lê Hoàn tiến đến thành Tam Giang, 2 vạn quân của Kiều Công Hãn dàn trận chờ sẵn. Lê Hoàn cho dàn trận và quan sát thấy một người khoảng 50 tuổi, quắc thước, oai phong, mặc chiến bào màu vàng, giáp sắt, đội mũ đâu mâu màu vàng, cưỡi ngựa màu đen, tay cầm gươm, đứng dưới lá cờ vàng thêu chữ “Kiều Tam Chế” đang bay phấp phới. Lê Hoàn biết đó là Kiều Công Hãn, con người nổi tiếng mấy triều vua từ Dương Tiết độ sứ đến Tiền Ngô Vương đến Hậu Ngô Vương, con người cũng nổi danh trong trận Bạch Đằng, nghe nói, từng đi tiền trạm, chuẩn bị hậu cứ rất chu đáo cho Ngô Vương ở cửa sông Bạch Đằng, tạo điều kiện cho thắng lợi của trận thủy chiến oanh liệt. Đáng tiếc, con người trung nghĩa này giữ lòng trung với triều Ngô một cách mù quáng mà không thấy được thời thế đang thay đổi, nhà Ngô đã hết thời. Con người trung nghĩa này không chịu về với Đinh Chúa công, bị chết trong chiến trận thật là đáng tiếc. Dù bây giờ tình thế bắt buộc đang ở chiến tuyến khác nhau nhưng Lê Hoàn rất kính nể Kiều Công Hãn và một nổi xót xa vô cớ đang xuất hiện trong lòng người tướng trẻ rất nhanh.

Kiều Công Hãn cũng quan sát Lê Hoàn, đó là một tướng còn rất trẻ, cường tráng, mặt vuông, tai dài. Mắt sáng, khôi ngô tuấn tú lạ thường. Kiều Công Hãn thấy bối rối vì từ con người đó toát ra một hào khí đế vương rực rỡ. Đó là một anh hùng trong thời loạn và minh quân trong thời trị. Lê Hoàn trên mình con ngựa nâu to lớn chắp tay vái Kiều Công Hãn và nói:

- Nghe đại danh của Kiều sứ quân lâu rồi, vinh hạnh được gặp mặt. Hôm nay mạt tướng Lê Hoàn tới đây là muốn mong sứ quân hợp tác, về với quân Hoa Lư để cùng nhau thu phục các sứ quân khác, thống nhất đất nước, chấm dứt cảnh can qua người Việt chém giết nhau, chấm dứt nổi đau khổ cho sinh linh, chẳng hay sứ quân có thuận không?

Kiều Công Hãn đáp:

- Đa tạ tướng quân, nhưng làm cho nhà Ngô sụp đổ, tạo điều kiện cho các cường hào dấy binh nội chiến tranh giành quyền lực là từ họ Đinh. Ai đã chống lại nhà Ngô từ Nam Sách Vương đến Nam Tấn Vương? Chính là Đinh Bộ Lĩnh ở động Hoa Lư. Tướng quân là người tài năng, nay muốn nêu cao chính nghĩa thì về với lão phu để mưu sự khôi phục lại nhà Ngô. Còn Lão phu quyết không hợp tác với những người đã phản bội nhà Ngô.

Lê Hoàn đáp:

- Sứ quân thật là cố chấp nên không hiểu thời thế. Các triều đại hưng thịnh rồi lại suy vong, suy vong rồi lại hưng thịnh. Nhà Ngô có công với dân tộc nhưng đáng tiếc mệnh trời ngắn ngủi, ngày nay thời vận đã hết, mà sự suy sụp của Nhà Ngô bắt đầu từ Dương Tam Kha soán ngôi, chứ đâu phải tại Đinh Chúa công.

Kiều Công Hãn nói:

- Thằng trẻ ranh này lại dám bảo lão thần ba triều không biết thời thế. Bay đâu, bắt Lê Hoàn cho ta.

Một tướng phi ngựa xông ra, nhìn ra thì đó là Kiều Công Lĩnh. Bên Lê Hoàn, tướng Phạm Hán xông ra, người ngựa xáp nhau, đại đao chạm gươm tóe lửa, được 20 hiệp Phạm Hán đưa một đao, đầu Kiều Công Lĩnh văng xuống đất. Lê Hoàn trỏ đại đao hô to:

- Xông lên!

Quân Hoa Lư tưng bừng khí thế xông lên chém giết. Tiếng reo hò, tiếng gươm đao chạm nhau, tiếng ngựa hí, tiếng chiêng trống vang lừng dồn dập chuyển động cả trời Tam Giang. Ba dòng sông cũng như reo hò tung sóng cổ vũ cho trận chiến khốc liệt. Đang khi đó, thế trận của quân Kiều Công Hãn tan vỡ vì bị quân Hoa Lư đánh tập hậu. Thì ra Đinh Bộ Lĩnh từ thành Phú Lập đã nhanh chóng hành quân sang Tam Giang đúng vào lúc hai bên đang giao chiến. Đinh Bộ Lĩnh cho quân đánh tập hậu và bịt lối chạy vào thành của quân Tam Giang. Gần canh giờ sau thì Kiều Công Hãn đại bại, chỉ còn 2000 quân mở đường máu chạy về hướng Đông. Đinh Bộ Lĩnh biết Kiều Công Hãn chạy về hướng Đông là theo đường thiên Lý sẽ chạy về Bình Kiều, Ái Châu theo Ngô Xương Xí. Đinh Bộ Lĩnh một mặt truy kích, mặt khác cho thám mã phi rất nhanh báo cho các hào trưởng từ Câu Lậu, Hoa Lư, Vô Công bịt đường và chặn đánh Kiều Công Hãn. Kiều Công Hãn và 2000 quân mệt mỏi, đói khát, chạy đến vùng An La, Nam Trực, Giao Thủy, Câu Lậu thì bị hào trưởng Nguyễn Tấn đem quân và dân binh chặn đánh. 2000 quân bị tiêu diệt hết, Kiều Công Hãn cũng bị Nguyễn Tấn chém vào cổ. Người ngựa cố chạy đến đất Hiệp Luật thì ngựa gục xuống do kiệt sức, còn Kiều Tam Chế cũng nằm lại trên mảnh đất này. Hôm sau, dân làng Hiệp Luật ra chôn cất cho ông thì mối đã mai táng cho ông một ngôi mộ to lớn. Nhân dân địa phương đã vàng hương cúng vái tiễn đưa ông, một lão thần tận trung với nhà Ngô cho đến hơi thở cuối cùng. Đó là ngày 10 tháng 12 năm Đinh Mùi (967).

Sau khi tiêu diệt được sứ quân Kiều Công Hãn, Đinh Bộ Lĩnh trù tính trận ra quân tiếp theo là đánh sứ quân Kiều Công Thuận ở miền Bắc Phong Châu để làm chủ hoàn toàn châu này. Đây là sứ quân miền núi và xa nhất tính từ Hoa Lư và Bố Hải Khẩu. Kiều Công Thuận là con trai thứ ba của Kiều Công Tiễn, là thúc thúc của Kiều Công Hãn, người đã đồng lõa với cha là Kiều Công Tiễn giết Dương Đình Nghệ để đoạt chức Tiết độ sứ, đã giết gia tướng của cha là Lưu Định khi Lưu Định phản đối việc làm của hai cha con Kiều Công Tiễn. Khi Dương Tam Kha đánh thành Đại La, giết chết Kiều Công Tiễn, Kiều Công Thuận đã chạy trốn về Phong Châu. Sau năm 938, Tiền Ngô Vương vì nể tình Kiều Công Hãn đã có công với nhà Ngô mà bỏ qua không truy sát Kiều Công Thuận. Khi Nam Tấn Vương tử trận, nhà Ngô suy yếu, Kiều Công Thuận chiếm cứ một vùng rộng lớn của Phong Châu ở hữu ngạn sông Thao, xây dựng thành Hồi Hồ ở Cẩm Khê, trung tâm Phong Châu, cách thành Gia Ninh 80 dặm về phía Tây và cách thành Cổ Loa 160 dặm về hướng Tây Bắc. Kiều Công Thuận còn xây dựng thành Mè ở vùng Ma Khê (Trấn trị Phú Thọ) và cho tướng Ma Văn Trường đóng giữ.

Đầu năm 968, Đinh Bộ Lĩnh đem 6 vạn quân tiến đánh Kiều Công Thuận, khí thế quân Hoa Lư như phong ba bão táp, vũ khí như rừng, cờ vàng in bông lau rợp trời. Kiều Công Thuận đem 3 vạn quân ra ngoài thành nghênh chiến. Đinh Bộ Lĩnh thấy Kiều Công Thuận, lớn tiếng mắng:

- Thằng phản nghịch kia, hôm nay ta sẽ rửa mối hận cho Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ và tướng Lưu Định bị cha con ngươi giết hại.

Kiều Công Thuận nói:

- Kẻ phản nghịch nhà Ngô, nay ta lấy mạng ngươi. Ai ra bắt thằng giặc đất lau cỏ cho ta!

- Có mạt tướng.

Mọi người nhìn ra đó là tùy tướng Ma Đán, cưỡi ngựa đen, múa đại đao xông ra. Bên quân Hoa Lư, tướng Đinh Đức Đạt múa giáo xông ra. Người ngựa xáp nhau. Đại đao chạm giáo tóe lửa. Chưa được 10 hiệp, Đinh Đức Đạt đưa một đường giáo cắt cổ Ma Đán khiến cái đầu đẫm máu văng xuống đất. Đinh Bộ Lĩnh trỏ gươm:

- Xông lên!

6 vạn quân Hoa Lư xông lên vây bọc lấy quân Kiều Công Thuận mà chém giết. Quân Đinh Bộ Lĩnh quá đông lại quá thiện chiến, đã bịt chặt cổng thành không cho quân Kiều Công Thuận chạy vào thành. Kiều Công Thuận phải mở đường máu chạy xuống sông, theo đường thủy, vượt sông Hồng, dẫn tàn quân về thành Mè ở Ma Khê với Ma Văn Trường. Quân Hoa Lư chiếm thành Hồi Hồ, làm chủ toàn bộ trung tâm và hữu ngạn sông Thao. Đinh Bộ Lĩnh nói với Lê Hoàn:

- Tướng quân dùng 3 vạn quân truy kích tấn công thành Mè ở Ma Khê ngay, nếu không, Kiều Công Thuận sẽ tập hợp lực lượng sẽ rất khó đánh. Còn nữa, không được để Kiều Công Thuận chạy thoát về rừng núi các châu Ki Mi ở vùng Vũ Định, dựa vào rừng núi mà kháng cự thì quân ta sẽ rất khó nhọc mới tiêu diệt được.

Lê Hoàn đáp:

- Xin tuân lệnh chúa công.

Lê Hoàn rất nhanh chóng dẫn ba vạn quân truy kích Kiều Công Thuận. Khi quân Hoa Lư đến nơi, Kiều Công Thuận rút kinh nghiệm thất bại ở Hồi Hồ không ra giao chiến mà đóng chặt cổng thành cố thủ. Tên đạn và đá trong thành bắn vào quân Hoa Lư như mưa. Lê Hoàn cho các võ sĩ lấy những tấm ván dày dàn hàng ngang đi trước che tên đạn, đá và cả chất cháy từ trên thành trút xuống. Đi sau “áo giáp” gỗ là những võ sĩ khênh nhưng cột gỗ to vòng một người ôm, đầu nhọn, dài 10 sải tay lao vào cổng thành. Khi đến nơi, quân cầm ván dẹp ra hai bên, các võ sĩ từ sau lao gỗ vào cổng thành. Chỉ 5 lần, cổng thành bật mở toang ra, 2 vạn quân Hoa Lư tràn vào thành chém giết, thành Mè thất thủ. Lê Hoàn bám rất sát nên đã chém chết Kiều Công Thuận ngay tại trận. Một vạn quân thành Mè bị giết hoặc đầu hàng. Tướng Ma Văn Trường mở cổng sau nhanh chóng chạy thoát lên miền núi thuộc vùng Tuyên Quang phía Bắc. Thế lực họ Kiều ở Phong Châu bị tiêu diệt hoàn toàn. Quân Hoa Lư làm chủ toàn bộ Phong Châu và 18 châu Ki Mi thuộc châu này. Trong tư dinh của Kiều Công Thuận, quân Hoa Lư tìm thấy một phong thư của phu nhân Kiều Công Thuận là Mai Trinh Nương viết trước khi tạ thế vài năm trước để lại cho chồng. Trong thư, bà Khuyên Kiều Công Thuận hãy về với Đinh Bộ Lĩnh để tránh nạn binh đao, tránh cái chết cho bản thân mình và cho quân sĩ. Than ôi! Tầm mắt của đàn bà nữ nhi đôi khi sáng suốt hơn các đấng mày râu ham mộng bá vương, quyền lực.

Sau khi làm chủ Phong Châu, Đinh Bộ Lĩnh đưa quân đi dẹp Nguyễn Thủ Tiệp ở Vũ Ninh. Nguyễn Thủ Tiệp xưng là Nguyễn Lệnh Công, còn có tên là Ba An Quân, là anh của Nguyễn Khoan và là em của Nguyễn Siêu. Nguyễn Thủ Tiệp dựa vào thời thế loạn lạc đã chiếm miền Tiên Du, sau đó đánh bại Thứ sử Vũ Ninh Dương Huy, chiếm cứ một vùng rộng lớn, có nhiều tài sản ruộng đất và gia nhân, Quân đội của Dương Huy được sáp nhập vào với quân đội của Nguyễn Thủ Tiệp khoảng 3 vạn. Nguyễn Thủ Tiệp có trang viên rộng lớn gọi là trang Nguyễn Xá, xây dựng thành lũy lớn ở núi Bát Vạn, tạo nên căn cứ quân sự ở Tiên Du. Toàn bộ quân đội của Nguyễn Thủ Tiệp do Đại tướng Nguyễn Quốc Khánh thống lĩnh.

Cuối năm 967, tại thành Tam Giang, Đinh Bộ Lĩnh họp các tướng lĩnh bàn việc đánh Nguyễn Thủ Tiệp. Đinh Bộ Lĩnh nói:

- Sau khi anh và em của Nguyễn Thủ Tiệp là Nguyễn Siêu và Nguyễn Khoan bị tiêu diệt, Nguyễn Thủ Tiệp ở Tiên Du đã liên kết với Lý Khuê ở Siêu Loại, phía Nam của Vũ Ninh. Căn cứ vào địa hình, ta sẽ dùng ba đạo quân. Đạo binh thuyền gồm 1 vạn quân do Đinh Liễn chỉ huy đi từ sông Hồng sang sông Đuống rồi chốt quân đoạn sông Đuống mà phía Bắc là Tiên Du, đất của Nguyễn Thủ Tiệp, phía Nam sông là Siêu Loại, đất của Lý Khuê để quân Lý Khuê không thể tràn sang Tiên Du, đánh tập hậu sau lưng quân ta. Đinh Liễn nhớ giữ vững mặt trận này, nếu vỡ quân ta sẽ bị đánh tập hậu khi đang vây thành Bát Vạn. Nhớ chưa?

- Dạ, mạt tướng tuân lệnh.

Đinh Bộ Lĩnh tiếp:

- Đạo thứ hai khoảng 2 vạn quân do ta chỉ huy sẽ tiến từ phía Nam, từ bờ Bắc sông Đuống đổ bộ bao vây đánh thành Bát Vạn.

- Đạo thứ ba do Nguyễn Bặc chỉ huy gồm 1 vạn quân từ Thanh Oai đánh vào Bát Vạn từ hướng phía Đông.

Nguyễn Bặc nói:

Mạt tướng tuân lệnh:

Trời mùa đông lạnh giá, gió bấc thổi như dao cắt vào da. Trên trời, những đàn cò và chim đang tung cánh về phương Nam tránh rét. Ba đạo quân của Đinh Bộ Lĩnh âm thầm hành quân. Đạo binh thuyền của Đinh Liễn từ sông Hồng vào sông Đuống và đổ bộ lên hạ doanh trại san sát bờ Bắc đoạn sông Đuống Tiên Du và Siêu Loại. Đạo quân của Đinh Bộ Lĩnh và Nguyễn Bặc theo hai hướng khác nhau hành quân vào trung tâm Tiên Du bao vây mặt Nam và mặt Đông của thành Bát Vạn. Đại tướng Nguyễn Quốc Khánh bàn với Nguyễn Thủ Tiệp:

- Khi giặc đến ngoài thành, chúa công cho mạt tướng đem quân ra ngoài thành phá giặc.

Nguyễn Thủ Tiệp nói:

- Ta đã giao hẹn với sứ quân Lý Khuê ở Siêu Loại rồi. Khi giặc vây thành Bát Vạn, ta cố thủ, Lý Khuê sẽ nhanh chóng vượt sông Đuống ở bờ Nam tấn công vòng ngoài, ta mở cổng thành đánh ra tất phá được Đinh Bộ Lĩnh. Tướng quân lên mặt thành đốc chiến giữ thành đi.

- Mạt tướng tuân lệnh.

Vì chủ trương đó của Nguyễn Thủ Tiệp, quân Hoa Lư tiến vào bao vây thành mà không gặp sự kháng cự nào.

Lại nói, Lý Khuê được thám mã báo quân Đinh Bộ Lĩnh đã bao vây thành Bát Vạn, Nguyễn Thủ Tiệp hết sức nguy cấp, liền đem 2 vạn quân tiến lên phía Bắc, vượt sông Đuống tiến về thành Bát Vạn để phối hợp trong đánh ra ngoài đánh vào như đã định với Nguyễn Thủ Tiệp. Khi quân Lý Khuê đến bờ Nam sông Đuống, nhìn sang bên kia, thủy binh dưới sông và bộ binh của quân Hoa Lư trên bờ đã dàn thành phòng tuyến chặn đường tiến quân của quân Lý Khuê. Lý Khuê cả sợ nói:

- Đinh Bộ Lĩnh đúng là tính toán như thần. Ta không qua được sông, sứ quân Nguyễn Thủ Tiệp và thành Bát Vạn nguy to rồi.

Rồi Lý Khuê hạ lệnh rút quân về cố thủ ở căn cứ Ấp Côi.

Trong thành Bát Vạn, Nguyễn Thủ Tiệp ngóng chờ mãi mà không thấy tăm hơi quân của Lý Khuê đến cứu, trong lòng rối loạn lo lắng không yên, trút giận vào Nguyễn Quốc khánh. Nguyễn Quốc Khánh thấy chủ tướng trút giận vào mình thì cũng trút giận vào lính tráng, trong đó có 10 tên lính ngủ say trên mặt thành trong khi làm nhiệm vụ. Nguyễn Quốc Khánh đánh họ tóe máu ở lưng, còn phạt không cho ăn uống. Nguyên đó là những người lính của Thứ sử Vũ Ninh Dương Huy. Khi Nguyễn Thủ Tiệp xung đột với Thứ sử Dương Huy để lấy toàn bộ Vũ Ninh thì 10 người lính này bị bắt và đầu hàng. Họ bị đối xử tàn bạo, đã nung nấu ý định làm phản. Đêm đó, 10 người lính vừa đau, vừa đói khát. Một người lính nói:

- Ta nghe nói Vạn Thắng Vương dụng binh như thần, lại nhân nghĩa với quân sĩ. Thành này sớm muộn cũng thất thủ. Hay là ta lập chút công lao với Vạn Thắng Vương rồi về với quân Hoa Lư, biết đâu cuộc đời lính tráng trâu ngựa như chúng ta sẽ khá hơn chăng?

Một tên nói:

- Đúng đấy, đằng nào quân Hoa Lư tràn vào ta cũng chết, nếu không ta cũng chết vì đòn roi đói khát của tên mạt tướng Nguyễn Quốc Khánh độc ác này.

- Vậy huynh biết chữ, viết vài chữ dùng tên bắn ra ngoài hẹn mở cổng thành cho Đinh Bộ Lĩnh đi.

- Rồi.

Đêm đó một người lính Hoa Lư vào gặp Đinh Bộ Lĩnh:

- Dạ, bẩm chúa công, mạt tướng nhặt được một bức thư từ trên thành bắn xuống.

Đinh Bộ Lĩnh mở thư. Thư viết: “Canh ba đêm nay, khi có một phát tên châm lửa bắn lên thì cổng thành đã mở, xin chúa công cho quân tấn công thành. Chúng tôi là 10 người lính của Thứ sử Dương Huy xưa muốn về với chúa công. Ký tên: Tâm”. Đọc xong thư, Đinh Bộ Lĩnh nói:

- Báo cho tướng quân Nguyễn Bặc và quân sĩ, canh ba đêm nay khi nhìn thấy phát tên châm lửa bắn lên trời thì cổng thành mở, theo đó mà tràn vào.

- Da, mạt tướng tuân lệnh.

Canh ba đêm đó,10 tên lính chia nhau giết lính canh cổng, mở toang hai cửa thành phía Nam và Phía Đông. Bên ngoài, quân Hoa Lư nhìn thấy tên lửa bắn lên và cổng thành mở toang liền tràn vào thành chém giết. Tiếng reo hò vang động, lửa cháy dữ dội, gươm dao sáng loáng dưới ánh sáng lửa. Quân của Nguyễn Thủ Tiệp bị bất ngờ chống cự yếu ớt, một số bị giết, còn đại đa số đầu hàng. Nguyễn Thủ Tiệp chạy một mạch vào Hoan Châu, đến cửa Cồm, Quỳnh Lưu và chết ở Hương Ái. Đại tướng Nguyễn Quốc Khánh giả làm thầy cúng chạy đến bến đò No thì bị quân Đinh Bộ Lĩnh bắt và bị chém đầu.

Trong trận chiến với Nguyễn Thủ Tiệp ở Tiên Du, Đinh Bộ Lĩnh cũng đồng thời đánh bại Lý Khuê ở Siêu Loại, Nam Tiên Du. Lý Khuê còn có tên là Lý Lãng Công, quê quán Thuận Thành, Vũ Ninh, là hào trưởng văn võ song toàn, đức độ, tín nghĩa, đã hứa với ai điều gì thì thực hiện bằng được. Năm 965 khi Nam Tấn Vương tử trận, đất nước lâm vào cảnh loạn ly, Lý Khuê nổi lên ở quê hương mình và chiếm Thuận Thành, Lương Tài, Gia Bình thuộc Vũ Ninh và một phần Gia Lâm làm lãnh địa cát cứ. Đại bản doanh đóng ở Luy Lâu nhưng căn cứ quân sự chính là Ấp Cội thuộc Nguyệt Đức, Thuận Thành. Bên ngoài thành, một hệ thống ao hồ vây quanh, trong hệ thống ao hồ là tường lũy cao, chung quanh lũy trồng tre gai dày đặc che chắn. Cả ấp chỉ để có hai cổng ra vào. Đồn canh cổng một nửa hầm chìm dưới đất, một nửa lên mặt đất. Nửa trên mặt đất tròn giống bụng người nên gọi là đồn Bụng. Trong chiến lũy có những gò đồng để có thể rút vào được gọi là những Tầm Bui. Giữa căn cứ là một cái ao lớn, chung quanh trồng tre gai, giữa ao nổi lên một gò đất để họp bộ chỉ huy gọi là Vườn Phú.

Khi biết Đinh Bộ Lĩnh sẽ tấn công căn cứ của Nguyễn Thủ Tiệp, Lý Khuê hẹn với Nguyễn Thủ Tiệp sẽ đem quân ứng cứu nhưng đến bờ Nam sông Đuống đã bị quân của Đinh Liễn chặn ở bờ Bắc, thủy quân thì chặn dưới sông nên không qua được. Đinh Bộ Lĩnh dù đang bao vây Bát Vạn nhưng khi nghe tin Lý Khuê đã rời căn cứ Ấp Cội, liền cho thám mã chạy về Cổ Loa truyền lệnh cho Lê Hoàn tức tốc từ Tây Nam đánh sang Siêu Loại, chặn đường về căn cứ của Lý Khuê ở phía Nam, đồng thời hạ lệnh cho Đinh Liễn vượt sông Đuống đánh Lý Khuê ở mặt Bắc. Lý Khuê vượt sông Đuống không được đang định rút về căn cứ thì thám mã báo:

- Dạ bẩm chúa công, tướng Lê Hoàn đã đem quân Hoa Lư chặn mất đường quân ta rút về Ấp Cội.

Lại một thám mã báo:

- Dạ bẩm chúa công, quân Hoa Lư đã vượt sông Đuống tấn công quân ta ở phía Bắc.

Lý Khuê kinh hoàng:

- Đinh Bộ Lĩnh quả là tay dùng binh như thần.

Lý Khuê vừa dứt lời, quân Hoa Lư từ hai hướng Bắc- Nam ập vào chém giết. Quân Siêu Loại tan vỡ, hai vạn quân bị giết, số còn lại thì đầu hàng. Lý Khuê bị trúng tên độc, mở đướng máu chạy về đến Dương Xá, Gia Lâm thì tử trận. Đó là ngày 30 tháng 4 năm Mậu Thìn 968.

Từ Vũ Ninh, Đinh Bộ Lĩnh quyết định hành quân xuống vùng Tế Giang ,Văn Giang thuộc Đằng Châu đánh sứ quân Lã Đường. Lã Đường sinh năm 927 trong một gia đình hào trưởng giàu có. Cha Lã Đường là Lã Đại Liêu, nguyên là bộ tướng của Trần Minh Công ở Bố Hải Khẩu. Lã Đại Liêu có tham gia trận Bạch Đằng năm 938 và lập nhiều chiến công dưới triều Tiền Ngô Vương. Lớn lên, Lã Đường theo nghiệp cha, trông coi vùng đất Tế Giang, mang tên một dòng sông. Sông Tế Giang là con sông nối sông Hồng với sông Cầu và sông Thương. Tế Giang là vùng đất bùn lầy, quanh co hiểm yếu. Lã Đường đã xây dựng căn cứ làng Khoai - Đình Bến làm tổng hành dinh. Trong một trận chiến bị thương, Lã Đường được một cô gái thuyền chài cứu chữa, chăm sóc, Lã Đường cảm tạ lòng tốt đó và kết duyên cùng cô gái. Cuộc hôn nhân đã sinh cho Lã Đường một con trai tên là Lã Lang khôi ngô tuấn tú, tài giỏi, tinh thông võ nghệ.

Tháng tư năm 968, sau khi làm chủ Vũ Ninh, Đinh Bộ Lĩnh sai Lưu Cơ làm chủ tướng, cùng Nguyễn Bặc, Bùi Quang Dũng đem 1 vạn quân tiến về phía Đông Nam đánh Lã Đường. Lã Đường chủ trương thực hiện chiến thuật du kích, đóng giữ những nơi hiểm yếu, gặp quân Hoa Lư đông thì tránh đi, gặp ít thì đánh. Lưu cơ, Nguyễn Bặc đối phó bằng cách đánh vào lương thực của Lã Đường. Tất cả phòng tuyến vòng ngoài bị công phá. Quân Hoa Lư dưới sự chỉ huy của Lưu Cơ, Nguyễn Bặc, Bùi Quang Dũng bao vây thành Tế Giang. Thành tế Giang cạn kiệt lương thực. Trong thế lâm nguy, Lã Lang nói với Lã Đường:

- Con xem Vạn Thắng Vương Đinh Bộ Lĩnh đúng là thiên tài quân sự, đã đánh bại và thu phục 8 sứ quân, kể cả sứ quân có lực lượng mạnh như Đỗ Cảnh Thạc, Lã Tử Bình. Lực của ta đâu bằng các sứ quân đó. Cố thủ chống cự cuối cùng cũng thất bại và chết. Ta nên đầu hàng thì hơn.

Lã Đường nói:

- Nhưng đầu hàng họ cũng giết.

Lã Lang nói:

- Con nghe nói sứ quân Phạm Bạch Hổ ở Đằng Giang ta đã theo về với Trần Minh Công và Đinh Bộ Lĩnh, có bị giết đâu? À mà nói tới Trần Minh Công con mới nhớ cha từng kể xưa ông nội là Lã Đại Liêu là bộ tướng của Trần Minh Công, mà Trần Minh Công là nhạc phụ của Đinh chúa công. Sao không tận dụng quan hệ này để Đinh Bộ Lĩnh không giết chúng ta?

Lã Đường nói:

- Mải việc quân ta quên khuấy đi. Để ta viết một bức thư cho Nguyễn Bặc, may ra cứu vãn được tình thế.

Lã Đường viết một bức thư lên mặt thành Tế Giang bắn xuống. Nguyễn Bặc đọc thư. Thư viết: “Kính gửi tướng quân Nguyễn Bặc và Đinh chúa công, khi xưa cha mạt tướng là Lã Đại Liêu là gia tướng từng phục vụ chúa công Trần Minh Công ở Bố Hải Khẩu. Nay mạt tướng xin đầu hàng. Đinh chúa công có nể tình đó mà tha chết thì mạt tướng kéo cờ trắng, mở cửa thành và nguyện trung thành phục vụ cho sự nghiệp của Đinh Chúa công. Nay kính thư- Mạt tướng Lã Đường”.

Nguyễn Bặc cho gọi Lưu Cơ và nói:

- Lã Đường xin được tha mạng thì sẽ đầu hàng. Mà cha Lã Đường xưa là bộ tướng của Trần Minh Công, từng tham gia trận Bạch Đằng năm 938, có nhiều công lao. Quân sư bảo có nên tha không?

Lưu Cơ nói:

- Trả lời rằng nếu đầu hàng sẽ tha mạng.

- Có cần báo cho chúa công đang ở Vũ Ninh biết không?

- Chúa công cũng sẽ quyết định như vậy thôi.

Lưu Cơ gọi:

- Bay đâu.

- Dạ, bẩm quân sư.

- Đem giấy mực ra đây

- Dạ.

Có giấy mực, Lưu Cơ viết thư trả lời xong, gọi:

- Bay đâu.

- Dạ.

- Đem lá thư nay bắn lên mặt thành cho Lã Đường.

Lã Đường nhận được thư, mở đọc. Thư viết: “Chiêu hàng là một chủ trương lớn của Đinh Chúa công để tập hợp anh hùng hào kiệt, đỡ tốn xương máu, phục vụ cho sự nghiệp thống nhất đất nước. Huống chi Lã sứ quân lại có cha là bộ tướng của Trần Minh Công, nhạc phụ của Đinh Chúa công. Sứ quân về với quân Hoa Lư sẽ được trọng dụng. Nay kính thư. Chủ tướng mặt trận Tế Giang- Lưu Cơ”.

Lã Đường bảo Lã Lang:

- Cha quyết định đầu hàng quân Hoa Lư, con thấy thế nào?

- Còn thế nào nữa, con đã bảo cha rồi mà.

Lã Đường goi:

- Bay đâu!

- Dạ.

- Ra lệnh của ta đầu hàng quân Hoa Lư để bảo toàn tính mạng cho mọi người. Mở cổng thành, kéo cờ trắng, quân sĩ ra ngoài thành không mang vũ khí.

Quân Hoa Lư bỗng thấy trên thành Tế Giang kéo cờ trắng, Cổng thành mở toang, Lã Đường và Lã Lang đi trước, đi sau là một chiếc kiệu phủ lụa xanh của Lã phu nhân, có 10 thị nữ đi kèm, tiếp theo là các tùy tướng và 1 vạn binh sĩ không mang khí giới ra đầu hàng. Nguyễn Bặc, Lưu Cơ, Bùi Quang Dũng xuống ngựa tiến lại phía Lã Đường và thi lễ:

- Xin chào Lã đại nhân, chào đại công tử và Lã phu nhân.

Lã Đường, Lã Lang và các tùy tướng chắp tay:

- Chào các tướng quân, mạt tướng là những kẻ bại trận, đa tạ các tướng quân không giết. Đa tạ, đa tạ.

Chợt có thám mã từ Vũ Ninh về nói nhỏ với Lưu Cơ. Lưu Cơ nói với Lã Đường:

- Đinh chúa công không có ở đây mà từ Vũ Ninh đã về Cổ Loa vì công việc. Nhưng thám mã truyền đạt lệnh của chúa công rằng: Lã sứ quân không quyết cố thủ nên đỡ tốn xương máu cho cả hai bên là đã có công. Nay phong Lã đại nhân làm Lã Tá Công, tiếp tục cai trị vùng Tế Giang nhưng phải giúp đỡ bách tính nghèo khổ, đóng góp lương thực và nhân lực cho quân đội Hoa Lư. Thứ nữa, cho đại công tử Lã Lang đi theo các tướng lĩnh Hoa Lư để đào luyện nhân tài cho quân đội sau này.

Lã Đường, Lã Lang và các tùy tướng quỳ xuống chắp tay:

- Đa tạ Đinh chúa công, đa tạ các tướng quân. Mạt tướng xin tuân lệnh Đinh chúa công và các tướng quân.

Lưu Cơ nói:

- Lã đại nhân, Lã công tử và các tướng quân đứng dậy đi, Tướng quân Nguyễn Bặc biên chế thu nhận 1 vạn quân và các tướng quân Tế Giang vào quân đội Hoa Lư. Lã công tử chuẩn bị tư trang hành lý và ngựa cùng lên đường về Cổ Loa với chúng tôi. Lã đại nhân nhận ấn tín Lã Tá Công và trở lại phủ đường Tế Giang. Hẹn gặp lại. Chúng mạt tướng xin cáo biệt.

Lã phu nhân từ trên kiệu bước xuống để từ biệt con trai:

- Xin chào các tướng quân.

Lưu Cơ, Nguyễn Bặc, Bùi Quang Dũng vội thi lễ:

- Xin chào Lã phu nhân.

Lã Lang vội quỳ xuống bái biệt Lã Đường và Lã phu nhân:

- Con tạm xa phụ thân, tạm biệt thân mẫu. Phụ Thân và thân mẫu bảo trọng. Hẹn ngày gặp lại phụ thân và thân mẫu.

Lã Đường nói:

- Con đi nhớ nghe lời Đinh Chúa công và các tướng quân dạy bảo, nhớ trung thành phục vụ Đinh chúa công.

- Dạ, con xin vâng lời phụ thân.

Lã phu nhân đỡ Lã Lang đứng dậy, ôm con và khóc:

- Con nhớ lời phụ thân dặn, nhớ bảo trọng.

- Con xin ghi nhớ lời mẫu thân, cáo biệt, mẫu thân nhớ bảo trọng.

Lã Lang lên ngựa cùng các tướng Hoa Lư và 3 vạn quân đi về hướng Bắc theo con đường tới cổ Loa. Lã Tá Công, Lã phu nhân, gia nhân và thị nữ nhìn theo cho đến khi bóng quân, bóng cờ và bóng người con thân yêu khuất dần trong ánh hoàng hôn chiều tím khắp vùng Tế Giang.

Tháng 5 năm 968, tại Cổ Loa, Đinh Bộ Lĩnh trù tính tiến quân đánh sứ quân Ngô Nhật Khánh ở Đườg Lâm. Ngô Nhật Khánh là cháu họ của Tiền Ngô Vương. Sau khi Nam Tấn Vương Ngô Xương Văn tử trận, từ Đường Lâm, Ngô Nhật Khánh cũng kéo quân về Cổ Loa tranh giành quyền lực với Lã Tử Bình. Nhưng trước thế lực to lớn của Lã Tử Bình, Ngô Nhật Khánh về Đường Lâm, xưng là Ngô Lãnh Công. Trước khi xuất binh, Đinh Bộ Lĩnh viết cho Ngô Nhật Khánh một bức thư. Một buổi sáng, Ngô Nhật Khánh sau khi ăn sáng đang ngồi uống trà ở đại bản doanh thì thám mã vào báo:

- Dạ bẩm chúa công, có thư của Đinh Bộ Lĩnh.

- Thư đâu?

- Dạ, đây ạ.

Ngô Nhật Khánh mở thư đọc. Thư viết: “Mạt tướng kính chào chúa công Ngô Nhật Khánh. Mạt tướng là Đinh Bộ Lĩnh, đang ở Cổ Loa thành. Mạt tướng báo cho chúa công một tin mừng là sự nghiệp thống nhất đất nước sắp hoàn thành. Nếu chúa công cùng về hợp tác với mạt tướng để hoàn tất sự nghiệp này mà không đổ máu vô ích của quân Hoa Lư và quân Đường Lâm nữa thì hay biết mấy. Tên của Ngô Sứ quân sẽ lưu vào sử sách, rạng danh tiên tổ của dòng họ Ngô anh hùng. Nay kính thư. Đinh Bộ Lĩnh”

Ngô Nhật Khánh bối rối. Là một lá thư của kẻ đang chiến thắng hùng mạnh kêu gọi kẻ yếu đầu hàng mà lời lẽ hết sức khiêm tốn. Trong gần hai năm qua, Ngô Nhật Khánh không phải là không biết những chiến thắng của Đinh Bộ Lĩnh. Không chỉ những sứ quân yếu mà những sứ quân lực lượng hùng mạnh như Lã Tử Bình, Đỗ Cảnh Thạc, Kiều Công Hãn…cũng bị tiêu diệt. Giá như Đỗ Cảnh Thạc sáng suốt hơn, dấn một bước nữa thì Đinh Bộ Lĩnh cùng 4 vạn quân đã chết ở thành Quèn rồi. Trong nguy nan như vậy mà Đinh Bộ Lĩnh vẫn đảo ngược được tình thế, đúng là số trời. Ngô Nhật Khánh gọi:

- Bây đâu.

- Dạ.

- Đi mời thân mẫu ta tới đây

- Dạ.

Một lát sau, thân mẫu của Ngô Nhật Khánh bước vào. Đó là một người đàn bà quý phái đã gần 50 tuổi nhưng dung mạo vẫn cực kỳ xinh đẹp, đoan trang thùy mỵ, nước da trắng như trứng gà bóc, mái tóc dầy mây khói ôm lấy khuôn mặt như tiên nữ. Ngô Phu Nhân có hai người con, một là Ngô Nhật Khánh, thứ hai là tiểu thư Ngô Nương. Phu quân mất sớm nhưng Ngô Phu nhân không tái giá mà ở lại nuôi con. Theo sau Ngô Phu nhân là hai thị nữ. Ngô phu nhân ngồi và hỏi:

- Con có việc gì quan trọng mà mời mẫu thân?

- Dạ, việc quan trọng, đây là thư của Đinh Bộ Lĩnh dụ con đầu hàng quân Hoa Lư. Con không biết tính thế nào. Mẹ dạy bảo cho con.

Ngô Phu nhân nói:

- Việc quân sự thì bàn với các tướng lĩnh, sao lại bàn với mẹ. Nhưng theo mẹ thì đầu hàng thì hơn. Theo mẹ biết thì tất cả các sứ quân hùng mạnh hay không hùng mạnh đều đã bị Đinh Chúa công tiêu diệt hết rồi. Lực lượng của con một chút ở Đường Lâm nhỏ nhoi này mà chống cự ư? Muốn chết chăng?

- Nhưng còn mộng bá vương, khôi phục lại ngai vàng nhà Ngô của con thì sao?

- Thế và lực của con hiện nay không cho phép thì cứ đầu hàng đi, sau có thời cơ thì tính toán sau. Đã là anh hùng thì phải biết luận thời thế. Rõ chưa?

- Dạ, con xin vâng lời mẫu thân.

Rồi Ngô Nhật Khánh viết thư, sai thám mã chạy về Cổ Loa đưa cho Đinh Bộ Lĩnh. Đinh Bộ Lĩnh nhận được thư, mở ra đọc. Thư viết: “Kính gửi Vạn Thắng Vương. Mạt tướng ở Đường Lâm vẫn theo dõi và chúc mừng thắng lợi của Đinh chúa công trên mọi mặt trận. Mạt tướng từ lâu đã muốn về với chúa công. Nay có thư của chúa công mạt tướng mới có cơ hội. Hai ngày nữa thu xếp xong mạt tướng sẽ đem quân đội, tùy tướng về Cổ Loa nhập với quân đội Hoa Lư và làm tùy tướng của chúa công. Nay kính thư- Mạt tướng Ngô Nhật Khánh”.

Đúng hai hôm sau, Ngô Nhật Khánh đem 1 vạn quân và các tùy tướng về Cổ Loa đầu hàng Đinh Bộ Lĩnh. Đinh Bộ Lĩnh và các tướng lĩnh Hoa Lư ra đón tiếp Ngô Nhật Khánh và các tùy tướng. Đinh Bộ Lĩnh và các tướng Hoa Lư ngạc nhiên thấy có một chiếc kiệu che mành đỏ cùng đi với quân Đường Lâm. Đinh Bộ Lĩnh hỏi Ngô Nhật Khánh:

- Kiệu của ai vậy?

- Dạ, đó là thân mẫu của mạt tướng. Bà cứ đòi đi tiễn mạt tướng và nuốn gặp mặt vị tướng lừng danh Vạn Thắng Vương.

- Vậy tướng quân mời Phu Nhân xuống kiệu để gặp ta.

- Dạ, mạt tướng tuân lệnh.

Ngô Nhật Khánh mở rèm. Đinh Bộ Lĩnh và các tướng lĩnh trông thấy một mệnh phụ khoảng 50 tuổi đẹp như tiên giáng thế từ trên kiệu bước xuống. Hai thị nữ đỡ phu nhân đi lại gần Đinh Bộ Lĩnh. Đinh Bộ Lĩnh và các tướng thi lễ:

- Xin chào Phu nhân.

Ngô phu nhân chắp tay thi lễ, dáng điệu thật dịu dàng quý phái:

- Xin kính chào Vạn Thắng Vương Đinh chúa công, thiếp nghe đại danh của chúa công như sấm bên tai, nay may mắn mới được gặp.

- Xin kính chào các tướng quân.

Đinh Bộ Lĩnh và các tướng quân đáp lễ. Đinh Bộ Lĩnh mời phu nhân, Ngô Nhật Khánh, các tướng Hoa Lư và Đường Lâm vào Cổ Loa và mở tiệc mừng Ngô Nhật Khánh về với quân Hoa Lư. Tiệc rượu suốt đêm. Hôm sau, Đinh Bộ Lĩnh cử tướng Phạm Hán cùng gia nhân của Ngô Nhật Khánh dùng kiệu có ngựa kéo cùng 2000 quân hộ tống phu nhân về Đường Lâm. Trong giờ phút đưa tiễn, Phu nhân dạy Ngô Nhật Khánh:

- Con nhớ nghe lời và trung thành với Đinh chúa công, nghe chưa?

- Dạ, Con xin nghe lời mẫu thân, mẫu thân nhớ bảo trọng.

Ngô Phu nhân cáo biệt Đinh Bộ Lĩnh:

- Xin chúa công dạy bảo, giúp đỡ con thần thiếp, thần thiếp đội ơn, hẹn ngày tái ngộ.

Đinh Bộ Lĩnh dịu giọng đáp:

- Xin Phu nhân yên tâm. Phu nhân nhớ bảo trọng.

Hai người cảm thấy trong cuộc chia ly có sự lưu luyến khó quên.

Đinh Bộ Lĩnh ở Cổ Loa để cắt cử các tướng, mỗi tướng một vạn quân trấn giữ các vùng đất vừa mới lấy được từ tay các sứ quân với phương châm giúp bách tính phát triển kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp, tiễu trừ giặc dã, cướp bóc để yên lòng dân. Khoảng tháng 8 năm 968, Đinh Bộ Lĩnh kéo quân về Bố Hải Khẩu, ở với phu nhân Trần Nương, thăm Trần Minh Công. Tháng 9 năm đó, Đinh Bộ Lĩnh đem 4 vạn quân do Lê Hoàn làm tiên phong tiến về Ái Châu, đánh sứ quân cuối cùng là Ngô Xương Xí. Ngô Xương Xí là con trưởng của Nam Sách Vương Ngô Xương Ngập và hoàng thái hậu Phạm Thị Ngọc Dung, cháu nội của Tiền Ngô Vương, cháu ngoại của Phạm Bạch Hổ.

Năm 965, Vua Ngô là Nam Tấn Vương Ngô Xương Văn tử trận khi đi đánh Nguyễn Khoan. Ngô Xương Xí là cháu lên kế vị nhưng bị quyền thần Lã Tử Bình lấn quyền và có nguy cơ bị giết hại nên đã chạy về thành Bình Kiều của nhà Ngô ở miền trung du Ái Châu. Thành Bình Kiều cách Tư Phố, Ái Châu 13 dặm về phía Tây, dãy núi Cửu Noãn là chiến lũy phía Đông, phía Bắc là núi Nưa thuộc Hợp Thành, Triệu Sơn, Ái Châu. Cạnh thành là con sông Mau Giêng, một nhánh của sông Nhơm, thượng nguồn sông Cầu Quan chảy vào sông Yên đổ ra cửa Ghép.

Trên đường hành quân vào Ái Châu, Đinh Bộ Lĩnh cho dừng quân tại Tam Lỗ, trước khi đến Bình Kiều. Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn và các tướng vào thăm Dương Tam Kha. Đinh Bộ Lĩnh lần đầu đến quê hương của Dương Đình Nghệ, của Dương Tam Kha, của cả Lê Hoàn. Nhưng đối với Lê Hoàn, Tam Lỗ là nơi vô cùng thân thuộc và đầy kỷ niệm của tuổi thanh thiếu niên. Lê Hoàn từ quê hương Thọ Xuân đã về ở nhà Dương Tam Kha để học tập võ nghệ và văn chương. Nơi đây Lê Hoàn đã luyện võ, học tập, vui chơi với những công tử của Dương Tam Kha. Lê Hoàn còn được làm bạn với tiểu thư của Dương Tam Kha là Dương Vân Nga, một thiếu nữ sắc nước hương trời, đoan trang, hiền thục. Hai người có thể nói là tri âm, tri kỷ với nhau. Lê Hoàn nhớ mãi ngày chàng từ biệt ra Hoa Lư theo Đinh Bộ Lĩnh, đôi mắt đẹp của Dương Vân Nga bao phủ một nét u buồn khiến trái tim Lê Hoàn xao xuyến. Rồi thời gian chinh chiến bận rộn, Lê Hoàn cũng đã quên đi thời lãng mạn thoảng qua đó. Bây giờ về lại nơi xưa, kỷ niệm xưa sống lại mới bồi hồi xao xuyến.

Dương Tam Kha vui mừng ra đón khách. Thời gian đã làm mái tóc Dương Tam Kha nhuộm trắng như sương. Khi Đinh Bộ Lĩnh và các tướng lĩnh thi lễ thì Lê Hoàn quỳ xuống chắp tay và nói:

- Con kính chào sư phụ.

Dương Tam Kha đáp lễ các tướng Hoa Lư và đỡ Lê Hoàn đứng dậy:

- Lê tướng quân đứng dậy đi.

Sau một tuần nước, Dương Tam Kha gọi:

- Bay đâu!

- Dạ.

- Làm tiệc rượu thết đãi Vạn Thắng Vương và các tướng quân Hoa Lư. Bảo gia nhân mở kho rượu, gạo, giết bò, gà và lợn khao 4 vạn quân Hoa Lư. Rõ chưa?

- Dạ, bẩm chúa công rõ ạ.

Với Đinh Bộ Lĩnh, chuyến dừng lại ở Tam Lỗ không chỉ là thăm Dương Tam Kha, một nhân vật lừng danh trong thế cuộc hiện nay mà còn là kết thân với dòng họ nổi tiếng và thế lực, qua đó nắm bắt các hào trưởng, anh hùng hào kiệt ở Ái Châu, một châu ảnh hưởng rất lớn đến các triều đại, đến các thế lực chính trị và quân sự của thiên hạ. Sau quân sự thì Đinh Bộ Lĩnh đã và đang chuẩn bị chính trị và xã hội cho sự ra đời của triều nhà Đinh. Đinh Bộ Lĩnh đã thu phục được một thế lực lớn ở Đằng Châu là Phạm Bạch Hổ, thu phục dòng họ đế vương là Ngô Nhật Khánh. Đinh Bộ Lĩnh dự kiến sẽ kết hôn với mẫu thân của Ngô Nhật Khánh là Ngô Phu Nhân, dù đã gần 50 tuổi nhưng còn sắc nước hương trời, sẽ gả công chúa Phất Ngân cho Ngô Nhật Khánh, sẽ cưới em gái Ngô Nhật Khánh cho Đinh Liễn. Với thế lực họ Ngô, Đinh Bộ Lĩnh lần này về Bình Kiều sẽ không đánh mà chiêu dụ Ngô Xương Xí đầu hàng là giải giáp chính trị hay nhất, vì Ngô Xương Vương không chỉ đã là vua Nước Việt, còn là cháu của Phạm Hạch Hổ, Dương Tam Kha, của Dương Vân Nga, cháu nội Dương Thái Hậu. Dương Vân Nga, người tuyệt thế giai nhân mà Đinh Bộ Lĩnh dự định sẽ hỏi làm phu nhân ngay trong cuộc hội ngộ lần này.

Sau tiệc rượu, Đinh Bộ Lĩnh nói với Dương Tam Kha:

- Mạt tướng từ lâu đã ngưỡng mộ họ Dương, đặc biêt là chúa công ở Ái Châu. Mạt tướng nghe nói Dương chúa công có ái nữ DươngVân Nga là quốc sắc thiên hương và đức hạnh. Mạt tướng muốn làm con rể và được gọi chúa công là nhạc phụ, chẳng hay chúa công nghĩ thế nào?

Dương Tam Kha đáp:

- Gái lớn gả chồng. Lão phu cũng đang định tìm cho Nga nhi một đấng phu quân. Đa tạ Đinh Chúa công đã chiếu cố, như vậy còn gì bằng.

Đinh Bộ Lĩnh đứng dậy, quỳ xuống và nói:

- Đa tạ nhạc phụ.

Dương Tam Kha đỡ Đinh Bộ Lĩnh:

- Chúa công đứng dậy đi.

- Bay đâu.

- Dạ.

- Gọi tiểu thư Dương Vân Nga ra đây.

- Dạ.

Mọi người im lặng chờ đợi, một lát sau hai thị nữ cùng Dương Vân Nga bước ra. Các tướng Hoa Lư và Đinh Bộ Lĩnh sửng sốt bàng hoàng trước sắc đẹp như tiên nữ dáng trần của Dương Vân Nga. Mái tóc đen óng ả búi cao, mặt trái xoan bầu bầu trắng nõn, da như trứng gà bóc, mắt phượng mày ngài, môi son má phấn, thanh thoát dịu dàng như mây liễu. Dương Vân Nga và hai thị nữ quỳ xuống, tiếng của nàng hay như nhạc du dương:

- Nga nhi xin lạy phụ thân. Thần thiếp xin chào Đinh chúa công, xin chào các vị tướng quân.

Đinh Bộ Lĩnh và các tướng Hoa Lư bàng hoàng, bỗng như sực tỉnh vội chắp tay thi lễ:

- Xin chào đại tiểu thư Dương Vân Nga.

Dương Tam Kha nói:

- Đây là Nga nhi, ái nữ của lão phu. Nga nhi này, đây là Vạn Thắng Vương Đinh chúa công, chủ soái quân Hoa Lư, tiếng tăm vang dội.

Dương Vân Nga ngẩng nhìn Đinh Bộ Lĩnh, quả là khôi ngô tuấn tú, còn trẻ mà tài năng đã vang lừng thiên hạ, có khí phách đế vương, liền nói:

- Xin chào Đinh chúa công, thần thiếp nghe danh chúa công như sấm bên tai, nay mới vinh hạnh được gặp.

Đinh Bộ Lĩnh đáp lễ:

- Đa tạ tiểu thư, mạt tướng từ lâu nghe danh tiểu thư, nay cũng hân hạnh được hội ngộ.

Dương Tam Kha nói tiếp:

- Nga nhi này, còn đây là tướng quân Lê Hoàn, người Thọ Xuân - Ái Châu ta, cũng là người nhà của chúng ta. Nga nhi có nhớ xưa thời niên thiếu Lê Hoàn từng ở nhà ta để ta dạy văn võ cho, sau này mới ra Hoa Lư theo Đinh Chúa công, cũng là một tướng nổi danh của quân Hoa Lư.        

Dương Vân Nga nhìn Lê Hoàn rất nhanh và lại cúi xuống, Lê Hoàn cũng nhìn Dương Vân Nga, bốn con mắt chạm nhau bối rối. Lê Hoàn chỉ biết rằng sau mấy năm xa cách, Dương Vân Nga đã lớn lên và ngày càng xinh đẹp. Đinh Bộ Lĩnh nói:

- Đa tạ Dương chúa công đã dạy dỗ cho mạt tướng một tướng quân tài ba như Lê tướng quân đây.

Dương Tam Kha nói với Dương Vân Nga:

- Nga Nhi này.

- Dạ, phụ thân.

- Gái lớn phải lấy chồng, nay con cũng đã lớn rồi, Đinh chúa công đây ngỏ lời muốn thương con, cùng con kết nghĩa phu thê, chẳng hay ý con thế nào?

Dương Vân Nga e lệ đáp:

- Dạ, cảm ơn Đinh chúa công, phận con thì cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy, thưa cha.

Đinh Bộ Lĩnh và các tướng Hoa Lư quá vui vẻ. Đinh Bộ Lĩnh chắp tay:

- Đa tạ nhạc phụ, đa tạ Dương tiểu thư đã chiếu cố, ta sẽ hết lòng vì thê tử của ta.

Dương Vân Nga cúi đầu lui vào trong.

Đinh Bộ Lĩnh cho người về Hoa Lư đón chú Đinh Thúc Dự và gia tộc họ Đinh, cho người về Bố Hải Khẩu đón Trần Minh Công, Trần Nương và gia tộc họ Trần. Dương Tam Kha cho người đón gia tộc họ Dương ở Giao Thủy, Câu Lậu, ở Tam Lỗ, Ái Châu và dòng họ Dương ở Dương Xá về dự lễ vu quy của Đinh Bộ Lĩnh và Dương Vân Nga. Tiệc rượu ở Tam Lỗ cho ba họ Dương, Đinh, Trần, cho các bạn bè, hào trưởng, quan lại suốt từ Ái Châu, Hoa Lư đến Bố Hải Khẩu, các tướng lĩnh 4 vạn quân Hoa Lư diễn ra tưng bừng suốt 3 ngày 3 đêm. Còn lễ thành hôn sẽ tiến hành ở Bố Hải Khẩu chờ sau khi Đinh Bộ Lĩnh thu phục sứ quân cuối cùng là Ngô Xương Xí, thiên hạ hoàn toàn thống nhất.

Sau lễ vu quy ở Tam Lỗ, Đinh Bộ Lĩnh tạm biệt Dương Tam Kha, tạm biệt Dương Vân Nga lên đường đến Bình Kiều đánh Ngô Xương Xí. Trước khi đi, Đinh Bộ Lĩnh đến chào Dương Tam Kha. Dương Tam Kha nói với Đinh Bộ Lĩnh:

- Ngô Xương Xí loanh quanh cuối cùng lại là cháu của Đinh chúa công vì nó gọi Dương Vân Nga là bác, Ngô Xương Ngập, cha nó gọi Dương Vân Nga là chị con ông bác, Ngô Xương Xí còn là cháu ngoại của Phạm Phòng Át hiện đã về với Trần Minh Công và với Đinh chúa công. Vả lại, nó lại là anh ruột của Thiền sư Ngô Chân Lưu đang phụ trách các chùa chiền của Đinh Chúa công. Chuyến đi này Đinh chúa công nên cho nó quy hàng thì hay biết mấy.

Đinh Bộ Lĩnh nói:

- Đa tạ nhạc phụ dạy bảo, con đã có ý định cho Ngô Xương Xí quy hàng, chỉ không biết là ý của sứ quân đó như thế nào?

- Chắc là nó đồng ý quy hàng vì sau những chiến thắng của Đinh chúa công khắp miền Cổ Loa, Phong Châu, Vũ Ninh, Đằng Châu, uy lực của chúa công đã chấn động cả thiên hạ. Lực nó có bao nhiêu mà dám châu chấu chọi xe. Đây là phong thư ta viết cho nó. Đinh chúa công cứ đưa cho nó thì nó tất hàng.

- Đa tạ nhạc phụ, con xin cáo biệt.

Rồi Đinh Bộ Lĩnh dẫn các tướng lĩnh và 4 vạn quân đi về hướng Tây đến Bình Kiều. Đến nơi Đinh Bộ Lĩnh cho quân tràn lên chiếm núi Cửu Noãn bao vây thành Bình Kiều của Ngô Xương Xí. Ngô Xương Xí đứng trên thành quan sát núi Cửu Noãn thấy hằng hà sa số quân đội và tướng lĩnh, vũ khí sáng lòa, cờ vàng rợp trời đất, cả sợ nói với các tùy tướng:

- Đinh Bộ Lĩnh đã tiêu diệt và hàng phục được 10 sứ quân, kể cả những sứ quân hùng mạnh nhất, ta chỉ có hơn 2 vạn quân biết làm sao đây.

Phạm Man nói:

- Chúa công nên hàng thì hơn.

Ngô Xương Xí nói:

- Nhưng hàng mà nó vẫn chém đầu thì hàng làm gì, thà liều chết còn hơn.

Đang còn phân vân thì một tùy tướng vào báo:

- Bẩm vương gia, có thư của Dương Tam Kha và thư của Đinh Bộ Lĩnh gửi Vương gia.

- Ngô Xương Xí giở thư đọc. Dương Tam Kha viết: “Đinh chúa công hành quân lên Bình Kiều đã nghé vào thăm ông và đã thành hôn với bác của cháu là Dương Vân Nga. Như vậy, Đinh chúa công cũng là bác của cháu, là người một nhà. Ông khuyên cháu nên về với Đinh chúa công. Ông Ngoại cháu là Phạm phòng Át, em cháu là Ngô Xương Tý, tức Ngô Chân Lưu, rồi anh em họ cháu ở Đường Lâm là Ngô Nhật Khánh cũng đã quy thuận. Cháu cũng nên quy thuận để hưởng phúc lộc lâu dài. Đây là tâm huyết thư của ông- Dương Tam Kha.”

Ngô Xương Xí lại đọc thư của Đinh Bộ Lĩnh. Thư viết: “Kính gửi chúa công Ngô Xương Vương, từ lâu mạt tướng đã coi chúa công là người trong nhà. Nay quả nhiên là như thế. Vừa rồi qua Tam Lỗ, được sự thương tình của Chúa công Dương Tam Kha, mạt tướng đã thành con rể của Dương chúa công. Nay nếu như Ngô chúa công về với mạt tướng thì một nhà xum họp, vui vẻ biết bao, hưởng phúc lâu dài. Nếu chúa công ưng thuận thì cắm cờ trắng lên thành làm tín hiệu, mở cổng thành và chúa công cùng quân đội tay không đi ra ngoài, mạt tướng sẽ nghênh đón. Nay kính Thư, Đinh Bộ Lĩnh”.

Ngô Xương Xí nói:

- Thôi đành về với Đinh Bộ Lĩnh vậy.

Rồi ra lệnh cắm cờ trắng lên thành Bình Kiều, mở toang cổng thành. Ngô Xương Xí và Phạm Man cùng các tùy tướng cưỡi ngựa đi ra ngoài, theo sau là 1 vạn quân tay không khí giới. Đinh Bộ Lĩnh cùng các tùy tướng rời núi Cửu Noãn, cưỡi ngựa đi lại gần thành Bình Kiều, khi gần nhau, Ngô Xương Xí, Phạm Man cùng các tùy tướng xuống ngựa. Đinh Bộ Lĩnh cùng các tùy tướng cũng xuống ngựa. Ngô Xương Xí, Phạm Man và các tùy tướng chắp tay thi lễ:

- Kính chào Đinh chúa công, nghe đại danh đã lâu nay mới được gặp mặt, hân hạnh.

Đinh Bộ Lĩnh và các tướng chắp tay:

- Kính chào Ngô chúa công và Phạm tướng quân, chúng ta là người một nhà, miễn lễ. Hôm nay nếu theo thứ tự gia đình, Ngô chúa công phải gọi ta là bác,ha!ha!ha!

Các tướng hai bên cười vui vẻ. Bỗng có tiếng nói:

- Đệ chào Phạm đại huynh.

Phạm Man nhìn ra thì đó là em trai Phạm Hạp, từng theo Phạm Bạch Hổ về với Đinh Bộ Lĩnh năm 966. Phạm Man hỏi:

- Đệ cũng về với Đinh chúa công rồi à.

- Đệ về với Đinh Chúa công cùng huynh Phạm Bạch Hổ được gần 2 năm rồi.

Đinh Bộ Lĩnh chắp tay thi lễ với Phạm Man:

- Chào Phạm tướng quân. Đa tạ Phạm tướng quân đã cho mạt tướng một tướng quân kiệt xuất trong quân đội Hoa Lư. May có Ngô Xương Vương sáng suốt, suýt nữa toàn người nhà đánh nhau.

- Ha! ha! ha!

Các tướng lại cười vui vẻ.

Sau đó Đinh Bộ Lĩnh cắt một tùy tướng với 5000 quân coi giữ thành Bình Kiều rồi cùng Ngô Xương Xí và các tướng lĩnh trở lại Tam Lỗ. Đinh Bộ Lĩnh cử Ngô Xương Xí làm Thứ sử Ái Châu, để lại cho 1 vạn quân. Ngô Xương Xí nhận binh phù ấn tín và quân đội xong đa tạ và dẫn quân về thành Tư Phố, trị sở của Ái Châu. Đinh Bộ Lĩnh ở lại Tam Lỗ một ngày rồi cáo biệt Dương Tam Kha, đón Dương Vân Nga và kéo đại quân về Bố Hải Khẩu. Thiên hạ Nư