I. Trong cõi hỗn mang của vật chất hỗn độn hàng tỉ năm, không biết bao nhiêu cơn bão lửa khủng khiếp, những trận đại hồng thủy ngập tràn vũ trụ, sấm sét kinh hoàng của những trận cuồng phong bão tố dữ dội. Đó là những thời kỳ mà vũ trụ đau đớn hỗn loạn để sinh ra những thiên hà, những thái dương hệ sau hàng tỉ năm va chạm biến đổi của vật chất kim, mộc, thủy, thổ, hỏa. Trong hàng nghìn tỉ thiên hà, hàng nghìn tỉ thái dương hệ có một thái dương hệ với 7 hành tinh với một mặt trời làm trung tâm. Các hành tinh tự vận hành quanh thái dương hệ và tự vận hành quanh nó. Trong bảy hành tinh đó, có một hành tinh được gọi là trái đất có nước và khí oxy là hai điều kiện cho sự sống xuất hiện. Từ đó trái đất sinh ra sinh vật, động vật. Khoảng vài tỉ năm sau trái đất ốn định và phân ra thành biển, núi, sông, đồng bằng. Cực Nam và cực Bắc của trái đất do mặt trời không thể chiếu tới được, lạnh giá quanh năm, tạo nên những núi băng vĩnh viễn. Còn những vùng khác trên đất sự sống xuất hiện. Với những điều kiện có nước và có oxy, cây cối, sinh vật và động vật vô cùng phong phú. Cuối cùng, khoảng 3 triệu năm trước công nguyên, có 4 phương trời khác nhau mà ngày nay gọi là châu Âu, châu Á, châu Mỹ, châu Phi và châu Đại dương, có bốn loài vượn đã tiến hóa thành người: Đại chủng Ơropôit ở châu Âu (da trắng), đại chủng Mongôlôit ở châu Á (da vàng), Đại chủng Nêgrôit ở châu Phi (da đen), đại chủng Ôtxtralôit ở châu Đại Dương. Ở châu Mỹ không có loài vượn tiến hóa thành người nhưng từ rất sớm đã có người da đỏ thuộc đại chủng Mongôlôit từ châu Á di cư sang. Thời gian di cư không rõ vào thời gian nào và không rõ theo con đường nào?

Sau khi đã thành người qua hàng vạn năm tiến hóa, con người họp lại thành cộng đồng bầy người, sau đó tiến lên cộng đồng Thị tộc. Thị tộc là người có mối liên hệ về cùng huyết thống sinh sống với nhau. Cùng với Thị tộc thì hình thành cộng đồng người liên kết rộng rãi hơn là Bộ lạc và Liên minh Bộ lạc. Bộ lạc bao gồm hai hay nhiều Thị tộc gần gũi địa bàn cư trú, gần gũi huyết thống, văn hóa liên kết với nhau. Bộ lạc do Tù trưởng đứng đầu. Do nhu cầu đòi hỏi của cuộc sống, các Bộ lạc lại Liên minh với nhau thành Liên minh Bộ lạc. Liên minh Bộ lạc do Hội đồng Liên minh Bộ lạc đứng đầu mà thành viên là các Tù trưởng Bộ lạc.

Hết thời kỳ nguyên thủy, loài người bước vào xã hội có quốc gia, có nhà nước. Con người từ thời đại dã man bước vào thời đại văn minh. Nhưng không phải tất cả các dân tộc trên trái đất bước vào xã hội có nhà nước cùng một thời gian. Bắc Phi , Trung Đông, châu Á là những nơi hình thành quốc gia và nhà nước sớm nhất. Trên mảnh đất Đông Bắc Á và Bắc Á là những mảnh đất có người Hoa (Hán) và người Việt sinh sống. Người Hoa sinh sống ở vùng châu thổ Hoàng Hà đến Bắc sông Trường Giang (Dương Tử). Triều đại đầu tiên của người Hoa  là nhà Hạ do ông Khải sáng lập khoảng hơn 2000 năm trước công nguyên. Đến thế kỷ XVIII trước công nguyên, vua Kiệt của nhà Hạ tham tàn bạo ngược đã làm nhà Hạ diệt vong. Ông Thành Thang đã lập ra nhà Thương (nhà Ân). Nhà Thương tồn tại đến kỷ XII trước công nguyên. Vua cuối cùng của nhà Thường là Trụ Vương tàn bạo, dâm đãng, say mê nàng Đát kỷ, sát hại sinh linh dẫn tới nhà Thương bị nhà Chu  tiêu diệt. Người sáng lập nhà Chu là Chu Võ Vương. Nhà Chu bao gồm thời Tây Chu và thời Đông Chu. Thời Đông Chu gồm thời Xuân Thu và thời Chiến quốc. Thời Xuân thu là thời kỳ hỗn chiến giữa một trăm nước chư hầu để tranh giành quyền bá và xâm chiếm đất đai lẫn nhau của bọn vương công, thời Chiến quốc là thời kỳ hỗn chiến của bảy nước còn lại sau thời Xuân Thu để tranh giành quyền thống trị Trung Quốc. Cuối cùng năm 221 trước công nguyên, nước Tần của Tần Thủy Hoàng đã tiêu diệt 6 nước, thống nhất Trung Quốc. Ngoài nội chiến, các triều đại Thương, Chu, Tần đều ra sức xua quân xuống Nam sông Trường Giang để tiêu diệt người Việt, mở rộng đất đai, bành trướng lãnh thổ.

Phía Nam sông Trường Giang cho đến một phần Đông Nam Á là quê hương của rất nhiều tộc người Việt như Âu Việt, Lạc Việt, Sở Việt, Mân Việt…các dân tộc Việt luôn luôn đứng trước nguy cơ bị người Hán ở phía Bắc Trường Giang tràn xuống chiếm đất đai, nô dịch, đồng hóa và tiêu diệt. Vì thế, những tộc người Việt như Lạc Việt, Âu Việt và nhiều tộc người Việt khác phải lùi dần về phía Nam, tập hợp lại thành Liên minh Bộ lạc. Để có sức mạnh đoàn kết chống lại làn sóng bành trướng mạnh mẽ xuống phương Nam của người Hán, Kinh Dương Vương, thủ lĩnh của người Lạc Việt, cũng là thủ lĩnh Liên minh của 15 Bộ lạc tuyên bố thành lập nhà nước Văn Lang.

Nhà nước Văn Lang phía Bắc giáp nước Ân Thương, phía Đông giáp Biển Đông với bản nhạc rì rầm muôn thuở với thời gian, với những trận bão tố phong ba dữ dội, phía Tây giáp đất nước rừng núi của người Lào Xủng, Lào Khạ để sau này hình thành nên nhà nước Lan Xạng (Triệu Voi), phía Nam giáp với miền đất Tây Nam mà sau này hình thành nên quốc gia Phù Nam, Chân Lạp.

Văn Lang là một quốc gia không giàu có lắm nhưng sản vật, thực vật, động vật phong phú cung cấp những sản phẩm cần thiết cho đời sống con người. Núi non hiểm trở với rừng bạt ngàn có nhiều gỗ quý, luồng nứa, song, mây, giang… Trong những cánh rừng bạt ngàn có vô số động vật hoang dã đủ các loài. Âu Lạc có nhiều sông mà lớn nhất là sông Hồng bắt nguồn từ nước Đại Lý (Vân Nam) của Người Thái và chảy vào Văn Lang ở miền Tây Bắc. Sông Hồng mang nặng phù sa tạo nên đồng bằng Bắc Bộ trù phú màu mỡ. Miền Trung còn có con sông nước chảy dữ dội như ngựa phi nên gọi là sông Mã, còn có sông Lam, sông La, sông Lệ Thủy. Những con sông này đã tạo nên những đồng bằng nhỏ ở miền Nam đất nước khi đó.

Đất nước nhiều sông ngòi tạo những đồng bằng màu mỡ nên cư dân Lạc Việt sớm biết trồng lúa nước để lấy gạo làm lương thực chính, ngoài ra còn nhiều cây lương thực như ngô, sắn, khoai lang, trồng nhiều loại rau làm thức ăn, trồng cây ăn quả, trồng dâu nuôi tằm để dệt vải làm quần áo. Trên miền núi, dân cư trồng lúa nương trên những nương đồi. Dân cư Âu Lạc đã biết thuần hóa gia cầm, gia súc để chăn nuôi như gà, vịt, dê, chó, ngựa, lợn …để lấy thịt, còn chăn nuôi trâu bò dùng làm sức kéo thay người, đặc biệt là kéo cày vỡ đất phục vụ cho nền nông nghiệp. Đất nước nhiều sông ngòi, bên bờ biển dài nên cư dân Âu lạc còn giỏi nghề đánh cá, bơi lội, giỏi bơi thuyền và đóng thuyền, đan lưới. Do nhu cầu của đời sống, nghề thủ công của Văn Lang cũng sớm phát triển. các nghề dệt vải, làm đồ sành, chế tạo công cụ vũ khí, đóng thuyền, dệt lưới đánh cá, chế tạo nhạc khí, trong đó trống đồng Đông Sơn là một thành tựu tiêu biểu. Văn lang là thời đại đồ đá mới xen lẫn đồ đồng, đồ sắt, đồ đan bằng mây, tre, nứa.

Cư dân Văn Lang đã xây dựng và phát triển một nền văn hóa tinh thần vật chất phong phú, đặt nền tảng cho lâu dài cho một nền văn hóa Lạc Vìệt, tục cưới xin, tục gói bánh chưng, bánh dầy ngày lễ hội.

Kinh đô của nước Văn Lang là Bạch Hạc, nay là thành phố Việt Trì, Phú Thọ. Kinh đô soi mình xuống ba dòng sông: sông Đà, sông Hồng, sông Lô. Đất nước chia thành 15 bộ tương đương với 15 địa bàn cư trú xưa của 15 Bộ lạc, mỗi bộ do một Lạc tướng đứng đầu, Lạc tướng là Tù trưởng Bộ lạc chuyển thành. Dưới Bộ lạc là công xã nông thôn do Bồ chính đứng đầu. Dưới công xã nông thôn là làng ở miền xuôi, bản ở miền núi do già làng, trưởng bản đứng đầu.

Xã hội Văn Lang đã phân hóa thành ba giai cấp: Giai cấp quý tộc, giai cấp nông dân và giai cấp nô lệ . Từ đó, đưa đến sự ra đời Nhà n­ước Văn Lang (Khoảng kỷ XIII tcn-208 tcn ).Nhà nư­ớc đầu tiên của ng­ười Lạc Việt ra đời nằm trong quy luật chung sự ra đời  của các nhà nước chiếm hữu nô lệ trên thế giới. Sự phát triển của sản xuất đ­ã đưa đến năng suất lao động cao, sản phẩm dư­ thừa. Xuất hiện chế độ gia đình một vợ một chồng và chế độ t­ư hữu. Chế độ tư­ hữu làm xã hội xuất hiện giai cấp. Giai cấp quý tộc chủ nô thiết lập nhà  n­ước làm công cụ  thống trị, áp bức bóc lột đối với đại đa số nhân dân và nô lệ. Sự phát triển của kinh tế, xã hội Lạc Việt vào thiên niên kỷ II trư­ớc công nguyên đã tạo tiền đề kinh tế, xã hội chính trị cho sự ra đời nhà n­ước chiếm hữ­u nô lệ Văn Lang.

Khác với những nơi khác trên thế giới, chiến tranh góp phần thúc đẩy, làm bà đỡ cho sự ra đời nhà n­ước thì ng­ười Lạc Việt có những nhu cầu bức thiết hơn. Đó là  nhu cầu trị thuỷ các con sông lớn: Sông Hồng, sông Mã, nhu cầu chống lại các cuộc xâm l­ược của các triều đại   Thư­ơng – Chu - Tần ở phía Bắc, nhu cầu trao đổi kinh tế văn hoá giữa các Bộ lạc. Tóm lại nhu cầu sinh tồn và phát triển đòi hỏi phải thống nhất các địa phư­ơng, các tộc  ngư­ời thành một quốc gia. Vậy, Nhà n­ước Văn Lang ra đời là một tất yếu, hợp quy luật, là kết quả của một quá trình phát triển lâu dài hàng chục vạn năm của ng­ười Lạc Việt.

Thời gian ra đời của nhà n­ước Văn Lang  có nhiều chính kiến khác nhau nhưng theo cứ liệu trong và ngoài nước thì khoảng 1.300 năm trước công nguyên, nhà nước cổ đại này ra đời. Quốc hiệu Văn Lang, kinh đô là Bạch Hạc (thành phố Việt Trì ngày nay) . Lãnh thổ Nhà nư­ớc Văn Lang bao gồm toàn bộ miền Bắc và miền Bắc Trung bộ (từ Thanh Hoá đến Quảng Bình). Công cụ sản xuất từ lâu đời đã có đồ đá mới nhưng ngày càng ít đi (như­ cối giã gạo, cối tuốt lúa ), công cụ chủ yếu là đồ đồng và đang bư­ớc sang thời đại đồ sắt (Truyền thuyết Thánh Gióng). Nông nghiệp trở thành nền kinh tế chủ yếu, đặc biệt nghề đúc đồng phát triển với trình độ cao, nghệ thuật tinh xảo đ­ược kết tinh trong trống đồng Đông Sơn nổi tiếng.

Xã hội Thời Hùng Vư­ơng đang trên đ­ường phân hoá giàu, nghèo,phân chia thành giai cấp quý tộc, bình dân và nô tì. Giai cấp quý tộc chủ nô là giai cấp thống trị, áp bức , bóc lột.Nông dân là giai cấp chiếm đa số dân cư­ trong một nền kinh tế nông nghiệp. Nông dân sống trong các làng xã nông thôn (Công xã nông thôn). Họ cày ruộng đất công của công xã và nộp một phần hoa lợi cho nhà nư­ớc. Nông dân có gia đình riêng, có tài sản riêng, có  một ít ruộng đất. Tầng lớp thấp nhất trong xã hội là nô tì (nô lệ), số l­ượng ít. Họ không phải là lực l­ượng sản xuất chính của xã hội, cho nên xã hội chiếm hữu nô lệ Văn Lang là xã hội chiếm hữu nô lệ không điển hình, là xã hội nô lệ kiểu châu Á, là chế độ nô lệ gia đình (gia trư­ởng).

Nhà n­ước Văn Lang là nhà nư­ớc Quân chủ quý tộc chủ nô,đứng đầu nhà nước là Vua - Hùng Vư­ơng. Hùng Vư­ơng nắm tất cả các quyền lực cơ bản của nhà nước: Quyền lập pháp,hành pháp, tư­ pháp. Ngôi vua theo chế độ thế tập, cha truyền con nối kế tục nhau qua XVIII đời. Giúp việc cho vua ở trung ­ương có Lạc hầu và một số quan lại khác. Về hành chính cả  nư­ớc chia thành 15 bộ, mỗi bộ do một Lạc t­ướng đứng đầu cai quản .

Dư­ới bộ là Công xã nông thôn có Bồ chính đứng đầu. Dư­ới công xã là làng bản do già làng tr­ưởng bản đứng đầu. Với một bộ máy như­ vậy, Hùng Vư­ơng thực hiện quyền lực của mình trên toàn lãnh thổ. Xã hội Văn Lang phân hoá thành giai cấp như­ng chư­a sâu sắc. Cộng đồng dân c­ư vẫn giữ vững truyền thống đoàn kết xây dựng và bảo vệ đất nư­ớc.

Nhà nư­ớc Văn Lang ra đời đánh dấu cộng đồng Dân tộc quốc gia Việt Nam ra đời với sự thống nhất về lãnh thổ, kinh tế, văn hoá,và ngôn ngữ. Tiếng nói của ngư­ời Lạc Việt, của Vua Hùng trở thành tiếng quốc gia. Đây là cộng đồng dân tộc được gọi là dân tộc tiền  tư­ bản, nó ra đời từ khi xuất hiện nhà nư­ớc đầu tiên mà không cần chờ đến khi chủ nghĩa t­ư bản ra đời dân tộc mới ra đời nh­ư các nuớc Âu - Mỹ. Nhà n­ước Văn Lang ra đời là một b­ước ngoặt trong tiến trình lịch sử dân tộc, đư­a nư­ớc ta từ thời đại dã man sang thời đại văn minh. Đây là bư­ớc ngoặt về kinh tế, thiết chế chính trị,xã hội, văn hoá phát triển vững vàng, cố kết hơn, rực rỡ hơn, truyền thống dân tộc đ­ược bồi đắp, phát triển vững vàng thêm một bước.

Thời kỳ tồn tại của nhà nước Văn Lang phải chống lại sự bành trướng ào ạt của người Hán thuộc triều đại nhà Ân. Thánh Gióng từ một cậu bé ba tuổi còn nằm trong nôi nhưng khi nghe lời rao tìm hiền tài cứu nước của sứ giả Hùng Vương, Thánh Gióng đã vùng dậy trở thành một tráng sĩ, với nón sắt, ngựa sặt, gậy sắt do nhân dân trang bị cho, Thánh Gióng đã xông ra mặt trận với một sức mạnh phi thường của thần thánh, ngựa phun ra lửa thiêu đốt và tiêu diệt sạch giặc Ân, bảo vệ đất nước. Sau khi đất nước thanh bình Thánh Gióng đã bay lên trời, hóa thành thần thánh phù hộ cho dân cư Lạc Việt. Năm 221 trước công nguyên, Tần Doanh Chính, vua Tần đánh bại sáu nước Hàn, Triệu, Ngụy, Yên, Tề, Sở thống nhất Trung Nguyên, Tần Doanh Chính xưng là Tần Thủy Hoàng Đế, đẩy mạnh bành trướng hơn nữa xuống phương Nam, tiêu diệt và chiếm đất của bách Việt. Năm 218 trước công nguyên, 50 vạn quân Tần do tướng Đồ Thư chỉ huy tràn xuống đất của người Lạc Việt và Âu Việt. Vua Hùng cử Thục Phán, thủ lĩnh của người Âu Việt lãnh đạo nhân dân tiến hành kháng chiến chống Tần. Nhân dân Lạc Việt, Âu Việt đã rút lui vào rừng, tiến hành chiến tranh du kích, tiêu hao dần dần quân giặc. Cuối cùng quân Tần thất bại. Sau chiến thắng, thế lực uy tín của Thục Phán càng vang dội to lớn.

II. Cuối thế kỷ 3trước công nguyên, triều Hùng Duệ Vương của nước Văn Lang đang trên đường suy nhược. Hùng Duệ vương đã quá già yếu, lại đứng trước nhiều công việc hệ trọng của quốc gia mà vua phải cáng đáng. Đặc biệt nhà vua không có con trai để kế vị ngai vàng. Việc lựa chọn người ngoài họ Hùng Vương  lên ngôi thời đó có thể chấp nhận được. Nhưng làm thế nào để lựa chọn được người có đức, có tài vì một vị vua là quyết định đến sự tồn vong của đất nước, của nòi giống, dân tộc, ảnh hưởng đến đời sống của bách tính sinh linh. Đặc biệt trong hoàn cảnh các thế lực phong kiến Trung Hoa đang hung hãn mở rộng lãnh thổ, bành trướng xuống phương Nam, chiếm nước Văn Lang của người Lạc Việt và Âu Việt. Một vị Hùng Vương trong hoàn cảnh như vậy, yêu cầu phải có tài đức trị nước nhưng trước hết phải có khả năng về quân sự để đánh bại ngoại bang một khi đất nước bị xâm lăng. Vấn đề chọn người kế vị ngai vàng đã làm cho Hùng Duệ Vương  gầy rộc, tâm hồn rầu rĩ. Cả triều đình lo lắng.

Đó là một đêm năm 208 trước công nguyên, kinh đô Bạch Hạc của Văn Lang đắm chìm trong màn đêm huyền ảo. Những ngôi nhà núp dưới những rặng cây màu tối đen tỏa ra ánh sáng vàng nhạt của những ngọn đèn dầu le lói, từng bóng cây chuyển động nhè nhẹ, vi vu xạc xào theo gió. Gió đêm từ sông Hồng, sông Thao, sông Đà thổi vào mát rượi. Những dòng sông bao lấy một không gian rộng lớn của kinh đô Bạch Hạc uốn lượn một màu xanh đen lấp lánh. Ven sông, những con thuyền đánh cá neo đậu. Trong thuyền le lói ánh đèn lung linh leo lắt. Vài vì sao nhấp nhánh trên bầu trời cũng một màu đen huyền bí.

Cung điện của Hùng Duệ vương nằm bên bờ sông Hồng. Trong gian phòng nằm giữa cung điện, ánh sáng vàng vọt tỏa ra từ những ngọn đèn dầu lạc, những ngọn lửa như những ngón tay lung linh trước gió như muốn tắt. Ánh sáng làm sáng rõ căn phòng làm bằng gỗ lim, tường chình đất sét với màu trắng nhạt. Mái cung điện lợp bằng ngói hình vẫy cá làm bằng đất nung như sành. Chung quanh tường căn phòng treo những cung tên, nỏ và những thanh gươm đồng. Một chiếc trống đồng to lớn đặt nghiêng trên giá cạnh ngai đồng. Trống đồng là tượng trưng cho quyền lực, uy vũ của nhà vua khi đó. Cửa ra vào có hai người lính gác khỏe mạnh lực lưỡng đứng canh.

Giữa phòng đặt bộ bàn ghế bằng gỗ lim, quanh bàn và lưng tựa của ghế có khắc chạm nhưng con chim hạc đang tung cánh quanh những mặt trống đồng. Trên hai ghế đối diện với nhau có hai người đang ngồi. Thị nữ rót ra hai chén trà thơm và lại lùi vào trong. Người mặc áo lụa vàng, đầu búi tóc cài trâm vàng là Hùng Vương thứ XVIII –Hùng Duệ Vương, người ngồi đối diện dáng bộ cường tráng nhưng khiêm tốn và lễ phép. Đó chính là thần núi Tản Viên, con rể của Vua Hùng. Hai người uống trà xong, Hùng Duệ Vương nói với Sơn Tinh:

 - Hôm nay ta cho mời con đến đây để bàn về một việc hệ trọng của quốc gia. Ta nay đã già yếu rồi vẫn còn gánh việc nước rất nặng nhọc. Ta lại không có con trai. Ta muốn nhường ngôi cho con là rể nhưng cũng là con cái trong nhà. Làm vua một nước là công việc rất nặng nề, lo cho nước, lo cho dân. Nhất là trong hoàn cảnh giặc phương Bắc luôn nhòm ngó xâm lược. Trao việc trọng đại đó cho con ta mới yên tâm dưỡng bệnh, nghỉ ngơi lúc tuổi già.

Nghe xong  lời của vua cha, khuôn mặt đẹp tuấn tú của sơn thần đang tươi vui bỗng nhiên trở nên ưu tư trước một vấn đề cực kỳ quan trọng mà vua cha đang muốn quyết định cho chàng. Sau một hồi suy nghĩ, Tản Viên nhấp một ngụm chè và nói:

 - Con cảm ơn sự tín nhiệm của nhạc phụ. Nhưng ngôi báu của nhà nước là để cai trị dân tình, lại còn phải giỏi về quân sự để chống giặc phương Bắc. Con tuy là thần linh phi thường nhưng chỉ cai trị được rừng núi thiên nhiên, còn làm cho dân tình no ấm hạnh phúc, đánh giặc giữ nước thì con chỉ có thể góp sức mà không thể quyết định đại cục được.

Nghe Sơn Thần nói, Hùng Duệ Vương suy nghĩ và gật gù: Sơn thần nói cũng có lý. Thế giới của thần linh căn bản khác với thế giới của người trần. Thần linh chỉ có thể hỗ trợ, còn không thể thay thế con người làm mọi chuyện của trần gian. Hùng Duệ Vương nói:

-Con nói cũng phải, con chỉ có thể cai quản các sơn thần và rừng núi, còn trị nước là công việc của con người. Vậy theo con, nếu truyền ngôi cho người ngoài thì nên chọn ai trong số các Lạc tướng và các tướng lĩnh?

-Dạ bẩm nhạc phụ, có thể chọn Thục Phán, thủ lĩnh tộc người Âu Việt vì Thục Phán giỏi về quân sự, đã lập được nhiều chiến công hiển hách. Năm 218 trước công nguyên, Thục phán đã lãnh đạo nhân dân Lạc Việt và Âu Việt kháng chiến 10 năm trong rừng, cuối cùng đã đánh bại 50 vạn quân Tần xâm lược.

Hùng Duệ Vương nói:

-Thục Phán giỏi quân sự nhưng chưa chắc đã giỏi cai trị đất nước. Nhưng cũng không còn ai hơn nữa. Tuy nhiên, Thục Phán còn có những tay chân giỏi như Cao Lỗ giúp sức. Thôi ta truyền ngôi cho Thục Phán. Ngày mai họp Triều đình và 15 Lạc tướng của 15 bộ sẽ quyết định việc này.

Đang là mùa hạ nên bình minh ở miền trung du có vẻ đến sớm hơn mọi vùng của đất nước Văn Lang. Kinh đô Bạch Hạc lộ dần nhưng tán cây cao thấp với màu lá xanh tươi. Những lá cây già úa vàng rời khỏi cành bay lả tả xạc xào theo gió. Sông Hồng, sông Đà, sông Thao nước ban mai trong vắt lững lờ trôi xuôi. Xa xa Tam Đảo, Ba Vì sương giăng màu trắng xóa. Cung điện của triều Hùng Vương vươn cao chắc chắn uy nghiêm. Những căn nhà chình bằng đất sét quét vôi trắng xóa. Cột nhà bằng những cây gỗ lim hai người ôm không xuể, mái lợp bàng ngói vẩy cá màu xam xám rêu phong. Rộng nhất và đẹp nhất là cung điện thiết triều, nơi Hùng Vương họp các Lạc hầu, Lạc tướng. Lạc hầu là những đại thần ở Trung ương, còn Lạc tướng là người đứng đầu các bộ, đơn vị hành chính lớn nhất của Nhà nước Văn Lang khi đó. Cuộc thiết triều mà bao gồm cả Lạc hầu, Lạc tướng thường là quyết định những việc rất quan trọng của đất nước như chọn người kế vị ngôi vua, bàn việc chống ngoại xâm… Cuộc thiết triều hôm nay là để chọn người kế vị ngai vàng nối nghiệp hàng nghìn năm của các vua Hùng để lại. Quan niệm của triều Hùng Vương khi đó cho rằng chọn vua một nước là việc vô cùng trọng đại, nó quyết định sống còn của đất nước, phồn vinh hay bại vong, hưng thịnh hay suy tàn. Cho nên truyền ngôi phải chọn người tài đức, không nhất thiết phải truyền cho con trưởng nếu như người đó không có tài, đức. Trong trường hợp không chọn được hoàng tử tài đức thì có thể truyền ngôi cho một Lạc hầu hoặc một Lạc tướng có tài có đức. Triều đình và quan lại khi đó đã đặt quyền lợi của Quốc gia, của cư dân lên trên quyền lợi của dòng tộc. Đó cũng là lý do làm cho triều Hùng Vương truyền được mười tám đời với một thời gian lâu dài. Tuy vậy, triều Hùng Vương vẫn chỉ là một nền quân chủ sơ khai, lấy phong tục làm pháp luật. Cả nước vẫn duy trì bảo tồn nền dân chủ nguyên thủy. Mọi việc hệ trọng các quan chức đều cùng nhà vua bàn bạc. Nhà vua chỉ là người quyết định cuối cùng.

Trong ngôi nhà lớn đó hai bên đạt hai hàng ghế cho Lạc tướng và Lạc hầu ngồi thiết triều. Gian trên cao hơn đặt ngai vàng của Hùng Vương. Chính giữa tường trên cao treo một cái trống đồng lớn, mặt trống to như chiếc nong, trên mặt trống khắc chạm rực rỡ tinh vi. Giữa mặt trống là một hình tròn lớn tượng trưng cho mặt trời, chung quanh là những hình nhọn dài tượng trưng cho ánh sáng rực rỡ mặt trời chiếu trong vũ trụ. Chung quanh ánh mặt trời đó là thế giới sinh hoạt phong phú của cư dân Lạc Việt như những thuyền đánh cá, những con chim lạc bay trên trời cao là tô tem giáo của người Lạc Việt, còn có những vũ nữ ca hát. Mỗi vòng trên mỗi mặt trống là những cung bậc trầm hùng cao thấp của từng nốt nhạc tạo nên những thanh âm đủ màu sắc của một bản hòa tấu trầm hùng, vang vọng. Trống đồng không chỉ là nhạc khí mà còn thể hiện uy quyền vô độ của các vua Hùng.

Một hồi trống đồng vang lên, âm thanh nghe như kim khí rung lên vang vọng trong không gian, các đồ vật trong cung điện tưởng như rung lên trong giông bão, xen lẫn âm thanh của trống đồng là tiếng tù và vang một hồi thúc dục. Trong âm thanh hùng tráng đó, vua Hùng Vương thứ 18-Hùng Duệ Vương bước ra. Nhà vua mặc chiếc áo lụa vàng nổi lên hình 15 con chim Lạc biểu trưng của giống nòi Lạc Việt, cũng là biểu tượng đất nước có 15 bộ. Thấy vua ra, tất cả các Lạc hầu, Lạc tướng đều đứng dậy cúi đầu làm lễ chào vua. Các Lạc hầu, Lạc tướng đều mặc áo dài lụa nâu, quần nâu, tóc dài buộc cuốn lên và buộc khăn có hình một  con chim lạc. Khi một hồi trống dài vang lên và chấm dứt, Hùng Duệ Vương an tọa, các Lạc hầu, Lạc tướng ngồi xuống. Bên cạnh nhà vua có hai quan giúp việc đứng hầu cận. Chung quanh cung đình nơi thiết triều nhiều lính canh cầm giáo mác đồng, sắt đứng gác. Các Lạc hầu và Lạc tướng trông Hùng Duệ vương có vẻ gầy gò ốm yếu. Tuy nhiên tiếng của Người sang sảng cất lên:

  -Hôm nay ta họp các Lạc Hầu và các Lạc tướng để quyết định một việc hệ trọng liên quan đến vận mệnh nước nhà. Các chư vị đã biết triều Hùng ta lập nước đã gần 1000 năm. Đất nước từ sơ khai đến hưng thịnh như ngày nay là nhờ công lao của thần dân muôn đời trong sự nghiệp dựng nước và bảo vệ đất nước. Đất nước ta không giầu có nhưng  sản vật của cải cũng phong phú, địa bàn có rừng núi, có trung du, có đồng bằng, có sông, có biển. Thần dân cần cù, thông minh sáng tạo, có nền tảng văn hóa lâu đời và có truyền thống quân sự đánh giặc tài giỏi. Tuy nhiên tất cả nguồn lực đó cũng chỉ là khả năng của đất nước. Muốn biến khả năng thành hiện thực làm cho đất nước hùng mạnh, thần dân no ấm, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược thì phải có những vị vua tài đức. Gần 1000 năm nay, triều Hùng ta đã chọn được những vị vua tài đức, thương nước thương dân. Nhưng nay…

Hùng Duệ Vương dừng lại, uống ngụm nước chè và nói tiếp những điều khó khăn nhất trong cuộc đời làm vua trị vì hàng thập kỷ của ông:

  -Ta ở ngôi đã lâu, nay tuổi già sức yếu, việc nước là một công việc nặng nhọc, không được sơ suất. Nay ta muốn truyền ngôi cho một vị vua khác để ta an nghỉ tuổi già. Ta lại không có Hoàng tử thì đành phải truyền ngôi cho người trong dòng tộc hoặc các Lạc tướng, các Lạc hầu. Đêm qua ta đã trao đổi với thần Tản Viên. Ta và Tản Viên đã thống nhất chọn người kế vị, trao ngai vàng cho Thục Phán, thủ lĩnh của tộc người Âu Việt. Người có tài về quân sự đã lãnh đạo nhân dân Lạc Việt, Âu Việt đánh bại năm mươi vạn quân Tần xâm lược. Người có tài về quân sự là nhu cầu cấp bách hiện nay vì nhà Tần đang không ngừng xua binh xuống phương Nam để thôn tính chúng ta. Việc Âu Việt và Lạc Việt sáp nhập với nhau sẽ tạo nên một quốc gia rộng lớn và hùng mạnh hơn. Dưới sự trì vì của vua Thục có thể đánh bại các cuộc xâm lược từ phương Bắc, đem lại đời sống yên bình, no ấm cho thần dân.

Hùng Duệ Vương dứt lời, không khí im lặng bao trùm toàn bộ cung điện, các Lạc hầu, Lạc tướng lộ vẻ căng thẳng trên nét mặt. Trong không khí căng thẳng đó, Lạc tướng của bộ Cửu Chân đứng dậy chắp tay thưa:

  -Bẩm Hùng Vương, dòng họ Hùng đã có công lập nước và xây dựng đất nước gần 1000 năm trải qua 18 đời vua, công lao như trời biển, không thể bỗng chốc lọt vào tay người ngoài. Nếu dòng tộc Hùng không có người tài giỏi thì có thế truyền ngôi cho con rể là sơn thần Tản Viên. Con rể hiền tài cũng là con cái trong nhà. Kính mong Hùng Vương suy xét.

Sơn thần Tản Viên đứng dậy chắp tay:

  -Kính thưa Hùng Vương, thưa các đại thần Lạc hầu, thưa các Lạc tướng. Thần tuy là con rể, người trong nhà của họ Hùng nhưng chỉ quen cai quản rừng núi thiên nhiên, không thể cai quản thế giới người trần. Hiện nay giặc Tần Thủy Hoàng đang đẩy mạnh tràn xuống phương Nam chiếm đất đai, đồng hóa người Bách Việt. Thục Phán thủ lĩnh người Âu Việt rất tài giỏi về quân sự, đã đánh bại 50 vạn quân Tần. Nếu Thục Phán kế vị thì việc giữ vẹn toàn độc lập đất nước là một điều có thể đảm bảo.

  Sau lời của Tản Viên, triều đình mới như sực tỉnh, vấn đề tài năng quân sự của người nối ngôi để đánh bại ngoại xâm là vấn đề bức thiết nhất trong tình hình hiện nay. Cung điện lại rơi vào im lặng nhưng không căng thẳng ngột ngạt nữa. Hùng Duệ Vương cho rằng đã đến giai đoạn biểu quyết. Theo truyền thống dân chủ nguyên thủy đã trở thành tục lệ của Triều đình có thể cho biểu quyết bằng giơ tay. Nhưng trong lựa chọn người kế vị không được để người biểu quyết không đồng ý bại lộ, sợ bị vua mới trả thù, cho nên Hùng Duệ Vương cho biểu quyết kín đáo, bí mật. Mỗi một thành viên của triều đình được phát một hạt ngô và một hạt đậu. Ai đồng ý thì bỏ hạt ngô, ai không đồng ý bỏ hạt đậu vào chung một thùng gỗ bịt kín chỉ có một lỗ duy nhất. Người bỏ hạt ngô hay hạt đậu phải giữ kín hạt khi bỏ vào hộp để tự bảo vệ mình. Một đại thần chỉ huy những người giúp việc phát ngô và đậu cho các Lạc hầu, Lạc tướng. Hùng Duệ vương nói:

  -Các thần hãy lựa chọn, ai đồng ý truyền ngôi cho Thục Phán thì bỏ hạt ngô, ai không đồng ý thì bỏ hạt đậu vào chung một cái hòm kia. Xin mời các chúng thần quyết định.

Các Lạc hầu và Lạc tướng đứng dậy lần lượt lên bỏ hạt ngô hoặc hạt đậu lựa chọn người kế vị ngai vàng. Tiếp đó, hai đại thần đứng tách hạt ngô và hạt đậu thành hai phần ngay cái bàn trước mặt Hùng Duệ vương và các chúng thần. Kết quả, phần hạt ngô nhiều hơn phần hạt đậu. Nghĩa là triều đình đa số đã đồng ý  lựa chọn Thúc Phán, Thủ lĩnh của người Âu Việt kế vị ngai vàng kế nghiệp các vua Hùng.

Hôm sau, tại vùng đồi núi Nghĩa Lĩnh vùng đất Hi Cương thuộc bộ Văn Lang, cách xa kinh đô Bạch Hạc chỉ vài dặm đường về phía Bắc được coi là vùng đất thiêng liêng. Nơi đây chính là khu đền thờ, lăng mộ của 17 đời vua Hùng và những người trong hoàng tộc. Nhưng nhà thờ tường chình đất, cột gỗ lim, mái lợp bằng ngói vẫy cá nằm rải rác trên những qủa đồi tạo thành một quần thể. Trong từng đền thờ chính giữa là bài vị các vua Hùng đặt trên những bàn cao với những bát hương đầy tàn hương. Từng quả đồi là rải rác mộ các vua Hùng xây bằng đá. Những nhà thờ và những mộ chí ẩn mình dưới những tán lá cây xanh cổ thụ cao tạo nên sự huyền bí linh thiêng.

Một ngày sau cuộc thiết triều lớn ở  kinh đô Bạch Hạc thì hôm sau trên khu đền Hùng tấp nập lạ thường. Vua Hùng Duệ Vương cùng các Lạc Hầu, Lạc Tướng tụ hội về đây đông đủ dự lễ truyền ngôi của Hùng Vương cho Thục Phán cũng là lễ tuyên thệ của nhà vua mới với các vua Hùng, với các đại thần và với nhân dân Văn Lang, Âu Lạc. Ngoài Hoàng gia, các Lạc hầu, Lạc tướng còn có các Bồ chính đứng đầu các công xã nông thôn, các già làng, trưởng bản. Hiển nhiên là có Thục Phán và các tướng lĩnh của vua mới như Cao Lỗ, Nồi Hầu, Đại Tướng quân Phan Giác…các chức sắc trong tộc người Âu Việt. Trên những con đường dẫn tới đền Hùng người đổ về đông như ngày hội. Đúng là một ngày trọng đại của đất nước. Áo the dài màu đen, khăn thếp của đàn ông chen với với áo tứ thân đủ màu sắc của đàn bà tạo nên muôn màu sắc rực rỡ. Quanh những con đường và những bãi bằng dưới đền Hùng ngựa xe đi lại như kiến cỏ mà dòng người từ muôn nẻo vẫn tiếp tục đổ về. Khu đền chính đã đông nghịt người bởi nơi đây sẽ diễn ra nghi lễ quan trọng nhường ngôi và tuyên thệ.

Sau ba hồi trống đồng và tiếng tù và hoành tráng vang lên, Vua Hùng Duệ Vương và các Lạc hầu, Lạc tướng trong quần áo thiết triều trang nghiêm cúi đầu thành kính dâng hương lên 17 vua Hùng đã quá cố. Sau đó tất cả những người có mặt đều quì xuống nghe khẩu dụ của Hùng Duệ Vương trong hương lửa nghi ngút bập bùng uy nghi và thiêng liêng. Giọng Hùng Duệ Vương trầm hẳn xuống:

  -Đức Thế Tổ Kinh Dương Vương trong dòng họ Hùng Lạc của ta, tiếp đến đức Thái Tổ Lạc Long Quân, đức mẹ Âu Cơ đã trải bao gian nan khó nhọc mở mang giữ dìn bờ cõi, dựng nên Quốc gia đất nước, tạo nên cái nôi để tồn tại và phát triển của giống nòi Lạc Việt. Dòng họ Hùng Lạc của ta không chỉ có công dựng nước mà còn dạy cho cư dân biết cày cấy, trồng trọt, đánh cá, săn bắn, chăn nuôi, khai phá ruộng nương, làm nhà làm cửa, sản xuất vật dụng và vũ khí, trồng dâu nuôi tằm dệt vải. Dạy cho dân biết thuần phong mỹ tục, tôn kính trời đất, tổ tiên, hiếu thảo với gia đình, thương yêu nhau trên cùng một đất nước. Vì thế cơ nghiệp của dòng họ Hùng Lạc ta vững bền đến nay đã gần 1000 năm với 17 đời Tiên đế.

-Ta Hùng Duệ Vương, Hùng Vương thứ 18, nối ngôi các bậc Tiên đế đã 30 năm, nay đã 90 tuổi, tuổi già sức yếu không thể cáng đáng được việc nước trọng đại, muốn nhường ngôi cho người khác để ta an dưỡng tuổi già. Tuy nhiên người được ta truyền ngôi phải là người tài năng đức độ. Đó là truyền thống truyền ngôi suốt 1000 năm qua của triều Hùng ta. Đặc biệt người kế vị phải có tài năng về quân sự để ngăn chặn sự bành trướng của giặc phương Bắc đang tràn xuống tham lam nhằm chiếm hết đất của Bách Việt. Sau khi bàn bạc thống nhất với triều đình, ta đã đồng ý nhường ngôi cho Thục Phán, thủ lĩnh của tộc người Âu Việt. Người Âu Việt cũng là anh em với người Lạc Việt. Sáp nhập Lạc Việt với Âu Việt tạo nên một Quốc gia mới, một sức mạnh mới cho chúng ta xây dựng và bảo vệ đất nước. Thục Phán đã từng lãnh đạo người Lạc Việt và Âu Việt kháng chiến 10 năm và đánh bại 50 vạn quân Tần khi chúng sang xâm lược.

  Có tiếng ồn ào trong cư dân Lạc Việt. Song mọi người lại im lặng khi Hùng Duệ Vương nói tiếp:

  -Mời tướng quân Thục Phán lên nhận ngai vàng!

 Một người ngồi ở hàng ghế bên phải hàng đầu đứng dậy bước lên lễ đài, bộ quân phục gọn gàng màu nâu, đầu đội chiếc mũ có cắm đầy lông chim, Thục Phán người cao lớn lực lưỡng, dáng con nhà võ. Ông càng thêm oai phong lẫm liệt khi bên hông mang thanh gươm báu gia truyền của dòng họ Thục nổi tiếng.

  Lên lễ đài khi gần Hùng Duệ vương, Thục Phán cúi mình chào và quỳ lạy trước linh vị các vua Hùng. Hùng Duệ Vương cũng vái lạy tiên tổ Hùng Lạc rồi lấy quốc ấn trao cho Thục Phán. Trên bàn thờ 17 Vua Hùng đèn đuốc sáng trưng, hương khói nghi ngút. Trong không khi trang nghiêm, Thục Phán đọc lời thề:

-Trước linh vị của các vị vua Thế  Tổ và Thái Tổ Hùng Lạc anh linh thần thánh, trước trời đất sông núi nước Văn Lang linh thiêng, trước vua Hùng Duệ Vương đáng kính, trước mặt trăm quan và ba quân, trước mặt toàn thể cư dân Lạc Việt và Âu Việt, trước mọi  thần linh Bách Việt, tôi Thục Phán được truyền ngôi kế vị các vua Hùng. Tôi xin thề: Đời đời coi tổ tiên Hùng Lạc là tổ tiên của Thục Phán, hương khói quanh năm, thề tỏ đạo hiếu nghĩa muôn đời. Thứ hai chăm lo cho đất nước phồn vinh, dân cư đời đời no ấm. Thứ nữa, Thục Phán thề sẽ đem hết sức mình bảo vệ giang sơn gấm vóc của Lạc Việt và Âu Việt tồn tại muôn đời. Nếu Thục Phán sai lời thề xin trời chu đất diệt.

  Sau lời thề, Thục Phán đốt hương và cắm vào tất cả các bát hương thờ các vua Hùng. Hương khói nghi ngút, đuốc sáng cháy rừng rực khắp vùng núi rừng Nghĩa Lĩnh. Trống đồng và tù và vang lên từng hồi không ngừng vang vọng không gian như điệp khúc. Bỗng nhiên trời đất nổi dông gió mù mịt, sấm chớp sáng lòe xé không trung và rền vang chuyển động, một lát sau thì mưa như trút nước. Trong ngày trọng đại này những điềm như vậy của trời đất không rõ là điềm lành hay là xấu. Các cụ già, các thầy cúng đều lắc đầu thở dài cho rằng điềm trời báo rất xấu cho vận nước.

  Thục Phán sai khắc lời thề vào hòn đá lớn và đem dựng ở Trung tâm đền Hùng núi Nghĩa Lĩnh để tỏ quyết tâm sắt đá của mình. Một quân Vương không thể nói chơi, người cai trị không thể nói lời nuốt lời.

III. Kinh đô Bạch Hạc bắt đầu một ngày mới. Cây cối một màu xanh dưới nắng gió. Sông Thao, sông Đà, sông Lô vẫn mênh mông bình thản đưa nước về xuôi. Người dân lại bắt đầu một cuộc sống sản xuất mưu sinh bình thường, cái khác là trong cung điện của triều đình Hùng Lạc bây giờ đã thay chủ mới.

  Sáng nay, trong cung điện có buổi thiết triều. Lạc hầu, Lạc tướng ngồi hai hàng ghế thành hai ban. Ngoài những quan chức cũ của triều Hùng Duệ Vương còn thêm rất nhiều tướng soái của Thục Phán mà người nổi tiếng là Cao Lỗ. Còn có Thái sư Võ Quốc, Đại tướng quân Chiêu Công, Hoàng Minh Đại Vương, Đinh Công Tuấn tướng công, Đại tướng quân Phan Giác, Nồi Hầu đại thần, Thừa tướng Lạc Hầu Thục Ngạn…Thục Phán thiết triều buổi đầu tiên để bắt đầu công cuộc cai trị đất nước. Thục Phán nói:

  -Ta nay được tiền bối Hùng Duệ Vương truyền ngai vàng, ta đổi Quốc hiệu từ Văn Lang thành Âu Lạc tức là hòa hợp giữa tộc người Lạc Việt của Hùng Vương với tộc người Âu Việt của ta. Các chư vị thấy thế nào?

 -Các Lạc hầu, Lạc tướng hô to:

  -Chúng thần đồng ý.

  Thục Phán nói tiếp:

  -Ta muốn lấy đế hiệu là An Dương Vương. Các chư vị thấy thế nào?

  Triều đình lại đồng thanh:

-Chúng thần đồng ý.

  Các chư vị ai có ý kiến gì không?

Cao Lỗ, một đại tướng có tài năng ở bộ Vũ Ninh đã từng theo Thục Phán lâu năm, lập được nhiều công lao đứng dậy tâu:

  -Muôn tâu, thời các vua Hùng nhà nước không có quân đội mà chỉ có dân binh, các Lạc tướng ở các Bộ cũng chỉ có dân binh. Nay tình hình đã khác, nước nhà muốn vững mạnh phải xây dựng quân đội để trong thì tỏ rõ uy quyền với muôn dân, ngoài thì có thể chống được giặc Tàu từ Bắc phương tràn tới. Đây là việc hệ trọng, xin An Dương Vương minh xét.

  An Dương Vương tỏ vẻ vui mừng nói:

  -Lời tướng quân Cao Lỗ rất hợp ý ta. Phong cho Cao Lỗ làm Tổng tư lệnh, đứng ra chiêu tập trai tráng thành lập quân đội.

  Sau buổi thiết triều đó, Cao Lỗ trở thành người đứng đầu các đại thần bao gồm Cao Hầu, Nội Hầu, Đinh Toán…Cao Lỗ ra sức kén chọn trai tráng, xây dựng quân đội cho nhà nước Âu Lạc. Ngoài xây dựng bộ binh, Cao Lỗ còn xây dựng thủy binh. Trong nước gấp rút xây dựng những xưởng đóng thuyền, những công binh xưởng chế tạo vũ khí. Cao Lỗ còn tự thiết kế, tự chỉ đạo một công xưởng đặc biêt, chế tạo một loại vũ khí bắn một phát ra hàng trăm mũi tên, gọi là nỏ liên châu “Linh quang thần nỏ” mang tính sát thương mạnh mẽ và hàng loạt. Nỏ liên châu càng thêm uy lực khi đầu những mũi tên này, Cao Lỗ cho gắn với mũi đồng ba cạnh làm cho mũi tên xoáy rất sâu vào mục tiêu, kẻ bị trúng tên không chết thì cũng rất khó rút mũi tên ra. Vũ khí này uy lực nên được gọi là “Nỏ thần”, một loại vũ khí mà giặc Bắc phương chưa có.

 Ngoài quân đội triều đình, Cao Lỗ còn nói với An Dương Vương đốc thúc các Lạc tướng ở các địa phương ra sức xây dựng quân đội ở các bộ để phối hợp tác chiến với quân đội triều đình, giữ vững an ninh ở địa phương.

  Trong một lần thiết triều, An Dương Vương nói với triều thần:

  -Trong gần 1000 năm nay 18 đời vua Hùng lấy Bạch Hạc Làm kinh đô. Nay đất nước đã lớn mạnh, chúng ta phải dời đô về đồng bằng để có thể vươn quyền lực ra tất cả mọi miền của đất nước, đặc biệt là miền Bắc và miềnTrung. Ta xem thế đất của bộ Giao Chỉ, nơi đồng bằng sông Hồng và là nơi giao nhau của các con sông Hoàng Giang, sông Đuống, sông Tô Lịch, sông Cầu là nơi thế đất thiêng có thể làm trung tâm của đất nước. Cho nên ta có ý định thiên đô về vùng đất đó.

  Cả triều đình im lặng. An Dương Vương nói tiếp:

  -Tướng quân Cao Lỗ hay thay ta về bộ Giao Chỉ, vùng đồng bằng sông Hồng chọn đất đóng đô. Công việc càng nhanh càng tốt.

Cao Lỗ đứng dậy cúi mình đáp;

  -Thần xin tuân lệnh.

  Một thời gian sau, trong căn phòng mà An Dương Vương dùng để tiếp các đại thần, tướng quân Cao Lỗ ngồi trên ghế tràng kỷ gỗ lim chạm khắc hoa văn rất đẹp, trước mặt là chiếc bàn rộng, đối diện bên kia là Thục Phán An Dương Vương. Trên bàn đặt một mô hình tòa thành bằng đất sét phơi khô. Thị nữ bê hai chén màu nâu đựng nước chè thơm phức, một khay trầu cau cũng được đặt lên. Người Lạc Việt và người Âu Việt quen uống nước chè  và ăn trầu trong khi tiếp khách. Đó là một phong tục lâu đời. Hai chén nước chè màu xanh bốc khói thơm nghi ngút. An Dương Vương mời:

  -Tướng quân uống nước, ăn giầu đi.

  Cao Lỗ bê chén nước:

  -Kính mời Thục Vương.

  Vua tôi uống nước xong, An Dương Vương nói:

  -Tướng quân trình bày đi.

  Cao Lỗ chỉ tay vào chiếc sa bàn và nói:

  -Xét về địa thế thì kinh đô mới của nước Âu Lạc ta chỉ có thể ở bộ Giao Chỉ, ở trung tâm đồng bằng sông Hồng, Tây Bắc giáp bộ Văn Lang, Bắc giáp bộ Vũ Ninh, phía Tây giáp bộ Phúc Lộc, phía Đông giáp bộ Dương Tuyền, phía Nam giáp bộ Cửu Chân. Trong địa thế rộng lớn đó của bộ Giao Chỉ, vùng đồng bằng giao nhau giữa sông Hồng, sông Đuống, phía Bắc là sông Cầu có thể khống chế được cả nước, có thể phát triển kinh tế văn hóa, đặc biệt là về quân sự. Thành trì ở đây sẽ được sông Hồng, sông Đuống, sông Hoàng Giang che chở. Có thể phòng thủ, có thể tấn công. Thành trì vừa là kinh đô, vừa là căn cứ bộ binh và căn cứ thủy quân. Khi tấn công bộ binh có thể tiến tới bộ Lục Hải, thủy binh theo dòng sông đào quanh thành tiến ra sông Hoàng Giang và triển khai trên sông Hồng, tiến tới Lục Đầu Giang của bộ Dương Tuyền để ngăn chặn quân địch từ xa.

  Cao Lỗ dừng lại nhìn nhà vua. An Dương Vương đăm chiêu suy nghĩ và gật gù. Sau đó, Thục Vương hỏi :

  -Thế tướng quân định xây dựng thành hình thù như thế nào?

  Cao Lỗ chỉ tay vào nơi trung tâm của Sa bàn và nói tiếp:

  -Bẩm Thục Vương, đây là thành mà thần thiết kế để xây dựng. Thành này được gọi là Loa Thành hay thành Ốc vì nó có chín vòng thành theo hình xoáy trôn ốc. Vòng trong cùng là nơi ở của Hoàng gia, nơi làm việc của Thục Vương, là nơi các cung điện làm việc của các cơ quan Nhà nước. Vòng thành thứ hai là nơi ở của các quan lại cao cấp của triều đình và gia đình, vòng thành thứ ba là nơi ở của quan lại thấp hơn, nơi tiếp khách khứa và quan lại trong nước và nước ngoài vào kinh đô. Các vòng thành tiếp theo là nơi ở của cư dân. Vòng ngoài cùng là nơi đóng của quân đội bảo vệ hoàng thành. Quanh vòng thành có sông đào có thể hai chiến thuyền đi hàng ngang được để bảo vệ hoàng thành nhưng khi có chiến tranh thủy binh ở Đầm Vạc có thể theo sông đào này triển khai ra sông Hồng và từ đó tỏa ra tác chiến trên các dòng sông trên cả nước, đặc biệt lưu ý triển khai trên sông Bạch Đằng, nơi cửa ngõ từ biển vào sâu Âu Lạc.

An Dương Vương hỏi tiếp:

  -Bố trí vũ khí trên thành như thế nào?

  -Bẩm Thục Vương, thành vòng ngoài cứ 100 bước chân xây một tháp canh và một bệ đặt 100 nỏ Liên châu sẵn sàng nhả tên vào quân địch nếu chúng công thành, ngoài ra còn có các đơn vị bộ binh, thủy binh hỗ trợ tác chiến. Như vậy thành Cổ Loa vừa là kinh đô, vừa là căn cứ quân sự bộ binh, vừa là căn cứ thủy binh.

  An Dương lại gật gù vẻ hài lòng và hỏi tiếp:

  -Vật liệu xây dựng thành bằng đá hay là đất?

  Cao Lỗ đáp:

  -Thần sẽ kết hợp cả hai. Móng thành phải kè bằng đá, khi lên đến độ cao nhất định thì thành chình bằng đất sét, móng thành rộng 6 sãi tay của người lớn, thu hẹp dần và tường thành rộng 4 sãi tay người lớn. Sự vững chãi chắc chắn của thành rất cao, tồn tại dưới mưa nắng rất lâu dài.

  An Dương Vương nói:

  -Ta tin tưởng ở tướng quân.

  Ý tưởng của Cao Lỗ đã thành hiện thực. Hàng vạn nhân công lao động đã được huy động và làm việc trong một năm thành Cổ Loa đã được xây dựng nên, đồ sộ, vững chãi với 9 vòng thành sừng sững trên vùng đất Tây Bắc của bộ Giao Chỉ. Triều đình của An Dương Vương đã từ Bạch Hạc thiên đô về Cổ Loa. Cổ Loa thành kinh đô trung tâm của đất nước Âu Lạc. Trên vòng thành ngoài của Cổ Loa, những ngọn cờ vàng tung bay trước gió, phần phật reo vui dưới mây trời trắng xóa lang thang. Dưới những lá cờ, trên mặt thành chình bằng đất sét vững chãi có những tháp canh và những bệ đặt nỏ liên châu do Cao Lỗ chế tạo  chĩa ra ngoài sẵn sàng nhả hàng vạn mũi tên đồng ba cạnh vào quân thù. Dưới vòng thành ngoài là hào nước rộng như sông bao quanh thành đủ để hai chiến thuyền dàn hàng ngang di động. Hào này nối với căn cứ thuỷ quân của Âu Lạc ở Đầm Vạc. Từ Đầm Vạc thủy binh đi qua đây và triển khai trên sông Hoàng Giang và tiến ra sông Hồng và tỏa đi các sông khác mà quan trọng nhất là đến Lục Đầu Giang và tiến ra sông Bạch Đằng ngăn chặn chiến thuyền Phương Bắc xâm lược.

IV.  Mùa đông năm 202 trước công nguyên, thám mã từ biên cương Đông Bắc Âu Lạc đưa về tin tức, phía bên kia biên giới của Âu Lạc,  nước Nam Việt đang tập trung rất đông bộ binh và thủy binh, có thể đang có âm mưu xâm lước và tấn công Âu Lạc. An Dương Vương đã phải họp triều đình một cách khẩn cấp. Trong trung tâm của Loa Thành, nơi đại điện dùng để thiết triều, An Dương Vương mặc áo gấm vàng dài, đội vương miện màu vàng ngồi trên cao chính điện. Bên dưới là hai bên quan văn võ ngồi thành hai hàng, có trụ cột của triều đình như Cao Lỗ, Cao Hầu, Đại Tướng Nội Hầu, Đinh Toán, Đại tướng quân Chiêu Công, Hoằng Trị, Thiên Đá, Phạm Dũng, Phạm Đá, Vũ Chiêu Tâm, Trung Thành, Đông Lương, Thung Vĩnh, Đinh Công Tuấn…Có những đại thần thuộc triều Hùng Duệ Vương nhưng đa số đều là những tướng đã theo Thục Vương từ khi mới khởi nghiệp, từng tham gia cuộc kháng chiến chống quân Tần như Cao Lỗ, Cao Hầu, Nồi Hầu, Chiêu Công…An Dương Vương trên ngai vàng cao nhìn xuống bao quát các đại thần một lượt rồi nói:

  -Hôm qua những thám mã của ta ở miền biên cương Đông Bắc đã báo về, phía bên Nam Việt gần biên giới với ta đang tập trung rất nhiều quân đội bộ binh và thủy binh có ý đồ xâm phạm Âu Lạc ta. Cao Lỗ khanh có biết  về Nam Việt hãy nói tường tận cho ta và văn võ bá quan nghe.

  Cao Lỗ bước ra khỏi ghế, chắp tay vái chào An Dương Vương và nói:

  -Dạ bẩm Thục Vương, Trung Nguyên từ nhà Hạ thay đổi sang triều Thương (Ân), từ triều Thương diệt vong lại sang triều Chu. Triều Tây Chu thì hưng thịnh nhưng sang giai đoạn Đông Chu thì Trung Nguyên hỗn loạn và suy yếu, Buổi đầu của Đông Chu là cục diện Xuân thu gồm 100 nước chư hầu hỗn chiến với nhau để giành quyền bá, thâu tóm đất đai của nhau, sau đó thời tàn của Đông Chu là cục diện Chiến quốc gồm 7 nước tranh hùng tiêu diệt nhau để thống trị Trung Nguyên. Năm 221 trước công nguyên, Tần Doanh Chính, vua nước Tần đã tiêu diệt 6 nước Hàn, Sở, Triệu Ngụy Yên, Tề và họ Tần thống trị Trung Nguyên, Tần Doanh Chính xưng là Tần Thủy Hoàng Đế. Nhưng Tần Thủy Hoàng đột nhiên chết. Nhà Tần suy yếu. Cục diện Trung Nguyên bước vào đại loạn. Năm 206 trước công nguyên nhà Tần bị Lưu Bang và Hạng Vũ lật đổ. Từ 206 trước công nguyên đến nay đang diễn ra cuộc chiến tranh giữa Lưu Bang và Hạng Vũ để tranh giành bá chủ ở Trung Nguyên, còn gọi là cuộc chiến tranh Hán (Lưu Bang), Sở (Hạng Vũ ). Nhân cơ hội đó năm 204 trước công nguyên, một viên quan của nhà Tần là Hiệu úy Triệu Đà trông coi miền Quảng Đông, Quảng Tây vốn là đất của nhiều tộc người Việt bị nhà Tần xâm chiếm đã tách ra khỏi đất Trung Nguyên, lập nên quốc gia Nam Việt. Triệu Đà xưng là Triệu Vũ Vương. Kinh đô của nước Nam Việt là Phiên Ngung. Thần cho rằng Triệu Vũ Vương đang có ý đồ xâm lược Âu Lạc ta và hiện đang tập trung binh lực.

  An Dương Vương nói:

  -Vậy là Âu Lạc ta đang đứng trước nguy cơ bị xâm lược. Các khanh có kế sách gì không?

  Đại tướng Nồi Hầu đứng dậy tâu:

  -Thưa Thục Vương, chúng ta nên phòng bị trước. Biên giói hiện nay đã có bố phòng nhưng sức chưa đủ mạnh để đối phó nếu địch tấn công. Mong Thục Vương phái các Đại tướng tài giỏi và các đạo quân mạnh bịt chặt các ngã đường tiến xuống. Nên bịt chặt cả cửa sông Bạch Đằng không cho quân địch tiến vào phối hợp với bộ binh.

  Cao Lỗ đứng dậy nói tiếp:

  -Lời nói của Đại tướng Nội Hầu là chí phải. Thần xin đem đại quân lên bộ Vũ Ninh chống giặc. Xin cử Đại tướng  Vũ Chiêu Tâm đem quân lên chấn giữ bộ Quảng Ninh, Đại tướng Đinh Toán đem thủy binh bịt cửa sông Bạch Đằng, Đại tướng Nồi Hầu ở nhà bố phòng bảo vệ Cổ Loa.

  An Dương Vương gật đầu:

  -Chuẩn tấu lời của Đại tướng  Cao Lỗ. Các khanh cứ theo sự phận công phận sự mà làm, không được sơ suất.

  Bấy giờ là mùa đông năm 182 trước công nguyên, suốt ba ngày ba đêm người dân kinh thành Cổ Loa thấy những Đại tướng cưỡi ngựa đi đầu, theo sau là những đội quân gươm giáo sáng lòa, cung nỏ đầy mình đi như gió về miền Đông Bắc. Những lá cờ vàng bay phần phật trên đầu các chiến binh. Cứ sau mỗi đạo quân thì có những cỗ xe ngựa kéo những dàn nỏ Liên châu to khủng khiếp, xòe những cánh nỏ như những cánh con đại bàng hung dữ lao đi. Bụi cuốn tung mù, trời mùa đông u ám, không gian đầy gió lạnh nhưng không khí nóng bỏng vì chiến tranh đã cận kề. Có những chiếc xe ngựa kéo những chiếc trống đồng khổ lớn cũng lao đi cùng với đại quân. Chiến thuyền từ quân cảng Đầm Vạc cũng di chuyển về sông đào Cổ Loa, xuôi trên Hoàng Giang, đổ ra sông Hồng và xuôi về Lục Đầu Giang. Trên những mạn thuyền vẽ hình những con chim lạc to tướng như đang xòe cánh tung bay. Thủy binh quân phục màu xanh gươm giáo cung nỏ đầy mình đứng trên những chiến thuyền cong đang đi như gió.

  Ở khắp nơi dọc đường quân đội hành quân, người dân Âu Lạc già trẻ lớn bé đổ ra đường xem và bàn tán:

  -Quân đội đi đâu vậy?

  -Không thấy à? Họ hành quân lên phía Bắc.

  -Chắc sắp có chiến tranh…

  Chiến tranh với ai? Nhà Tần à?

   -Không  phải, Nhà Tần đã sụp đổ rồi, cục diện Trung Nguyên đang hết sức rối loạn. Nghe nói chiến tranh với Nam Việt Triệu Đà.

  Triệu Đà cũng  là người Việt sao lại đánh ta. Không sợ thừa tướng Cao Lỗ và nỏ thần của ta sao?

  -Sợ thì sợ nhưng nổi máu tham đất nước của người thì hết sợ.

  -Chiến tranh ai nói trước được điều gì .

  Ngày mùa đông năm nay rét rất đậm. Bầu trời biên cương hai nước Nam Việt và Âu Lạc âm u, không một tia nắng mặt trời. Sự âm u càng tăng lên bởi những rừng cây bạt ngàn cao thấp đầy cành đầy lá. Gió bấc thổi hun hút lạnh lùng. Những núi non trùng điệp cao thấp uốn lượn muôn hình muôn vẻ điệp trùng tưởng như vô tận. Chim chóc, hổ báo dường như đã ẩn mình vào tổ ấm tránh rét, không một bóng chim trên bầu trời, không một âm thanh gầm rú của hổ báo. Chỉ có những làn sương trắng xóa phủ khắp non ngàn. Tuy vắng âm thanh của núi rừng nhưng  núi rừng lại rung lên bới những âm thanh của chiến tranh. Những bước chân hành quân của hàng vạn lính Nam Việt đang lao cấp tốc tiến về phương Nam, vào miền đất Âu Lạc gây chiến tranh xâm lược theo lệnh của triều đình Phiên Ngung. Hàng vạn người với quân phục đen, mũ đen, chân quấn cà cạp, người mang nặng giáo mác, trường thương, cung nỏ đi ngoằn ngoèo tưởng như vô tận theo những con đường mòn dẫn vào Âu Lạc. Cứ cách khoảng hai dặm dài của hàng quân thì lại có một võ tướng cưỡi ngựa tay cầm đại đao hoặc trường thương đi kèm đốc thúc, duy trì kỷ luật hành quân. Giữa đoàn quân vô tận đó nổi lên một cỗ xe màu vàng, cờ quạt cũng màu vàng phấp phới bay theo gió vàng rực thấp thoáng trong những tán lá cây xanh. Một lá cờ to hơn cả, đẹp hơn, sặc sỡ hơn có ghi chữ Hán: “Triệu Vũ Vương Nam Việt”.

  Triệu Vũ Vương đưa tay vén miếng lụa vàng che bên phải xe, hỏi tướng hộ vệ cưỡi ngựa đi bên cạnh:

  -Đây là đâu?

  Viên tướng đáp:

  -Thưa Bệ hạ đã qua bộ Lục Hải thuộc đất Âu Lạc, bây giờ  đến bộ Vũ Ninh.

  Triệu Vũ Vương nói:

  -Vậy là đã tiến rất sâu vào đất địch, Chuẩn bị triển khai thế trận chiến đấu.

  Triệu Đà vừa dứt lời, bổng nhiên phía tiền quân rối loạn bởi những trận tên như mưa của quân Âu Lạc từ hai bên sườn núi rừng bắn xuống. Mỗi lần như vậy hàng trăm hàng nghìn quân Nam Việt ngã xuống bên đường như gỗ mục. Đến trưa, quân Nam Việt đã nhìn thấy địa thế ít rừng núi, đồng bằng đã xuất hiện, có, lẽ đã đến cuối địa giới bộ Vũ Ninh, phía Bắc sông Cầu, không xa kinh thành Cổ Loa. Nhưng trước khi đến đồng bằng quân Nam Việt buộc phải đi qua một thung lũng rộng. Trên các gò cao quân Âu Lạc đã dàn sẵn thế trận. Quân Nam Việt trông thấy quân Âu Lạc đông bạt ngàn, quân phục màu nâu, cờ vàng phấp phới, gươm giáo sáng lòa. Triệu Vũ Vương lần đầu trông thấy trong quân Âu Lạc có những cỗ xe lớn, trên xe là những chiếc nỏ khổng lồ dang cánh rộng oai phong lẫm liệt như cánh những con đại bàng. Trên mỗi chiếc nỏ đó là hàng trăm mũi tên bịt đồng đã được đặt, sẵn sàng nhã tên về phía quân Nam Việt. Trên một chiếc xe cao nhất có một võ tướng cao lớn uy nghi, quân phục màu nâu mang trụ giáp bằng đồng, oai phong lẫm liệt. Triệu Vũ Vương hỏi một tùy tướng:

  -Người đó là ai vậy?

  -Dạ bẩm đó là Đại tướng của Âu Lạc tên là Cao Lỗ, người chế tạo nỏ thần, thiết kế xây dựng thành Cổ Loa, kinh đô Âu Lạc.

  Triệu Đà nghe xong kinh hãi nhưng vẫn sai một Đại tướng Nam Việt ra khiêu chiến. Viên tướng thúc ngựa xông ra thì  đã bị một mũi tên từ quân Âu Lạc phóng  xuyên qua ngực, ngã lăn xuống ngựa chết. Trong quân Âu Lạc một lá cờ vàng phất lên. Triệu Đà còn đang ngơ ngác thì  hàng loạt cánh của nỏ thần hoạt động, hàng nghìn mũi tên như mưa trút xuống quân Nam Việt. Quân Nam Việt cứ từ lớp này đến lớp khác gục xuống, máu lênh láng, kêu la thảm thiết vang động toàn bộ khu vực Vũ Ninh và khu vực Giao Chỉ. Những quân cận vệ của Triệu Vũ Vương lấy thân che đạn cho ông ta đã chết gần hết. Quân Nam Việt hoảng loạn, thế trận tan vỡ. Quân Âu Lạc thừa cơ từ trên các ngọn đồi lao xuống chém giết, hò reo như sấm vang động cả một vùng Đông Bắc, thế như cuồng phong gió cuốn, quân Nam Việt như lá rụng trước cuồng phòng, như kiến bơi trong thác nước, thây chồng như núi, máu chảy thành sông. Quân Nam Việt đại bại.

 Các tướng lĩnh cận vệ liều chết bảo vệ che chắn cho Triệu Đà tháo chạy. Xe của Vương bị lật úp. Triệu Đà lên ngựa cùng các tướng chạy tối tăm mặt mày, suốt một ngày mở đường máu mới ra khỏi đất Âu Lạc khủng khiếp. Triệu Đà thu nhặt tàn quân, khoảng 3 vạn người chết trận, còn hai vạn thoát chết nhưng cũng không còn hồn vía nữa. Đang khi đó ngựa do thám về báo:

-Đạo quân Nam Việt ở bộ Dương Tuyền (Hải Dương) cũng đã bị nỏ thần Âu Lạc tiêu diệt gần hết.

  Lại một ngựa do thám nữa về báo:

  -Đạo thủy binh bị chặn lại ở ngoài cửa sông Bạch Đằng, thiệt hại lớn cũng đã rút về Khâm Châu.

  Đà tức giận, hai mắt trợn ngược nhìn lên trời, hai tay giơ lên run rẩy, miệng rít lên không thành tiếng:

  -Ta thề sẽ chiếm được Âu Lạc, nếu không chết không nhắm mắt.

  Triệu Vũ Vương thu nhặt tàn quân, chỉnh đốn quân đội, sắp đặt trông coi biên giới. Vua dẫn bại quân về Phiên Ngung trong tâm trạng ảo não, căm thù.

  Vài ngày sau thất bại thảm hại, tại kinh đô Phiên Ngung Triệu Vũ Vương họp triều đình bàn kế chiếm Âu Lạc. Thừa Tướng Lữ Gia tâu:

  -Muôn tâu, xưa Văn Lang thuộc dòng họ Hùng cai trị, có lịch sử văn hóa quân sự gần 1000 năm, nhiều lần đánh bại sự xâm lấn của nhà Ân Thương, nhà Tần. Sau do Hùng Duệ Vương nhường ngôi cho Thục Phán, thủ lĩnh của người Âu Việt, Lạc Việt sáp nhập với Âu Việt nên Thục Phán đổi quốc hiệu là Âu Lạc. Hai tộc người này sáp nhập với nhau tạo nên một sức mạnh phi thường, trình độ Âu Lạc đã phát triển hơn thời Văn Lang một bậc về văn hóa, kinh tế, quân sự, đặc biệt là về quân sự. Thục Phán là một thủ lĩnh xuất sắc về quân sự hiện nay. Thục Vương trước khi được nhường ngôi đã lãnh đạo quân dân Lạc Việt và Âu Việt đánh bại 50 vạn quân Tần xâm lược do tướng Đồ Thư chỉ huy. Chính những chiến công này mà Thục Phán đã được Hùng Duệ Vương truyền ngôi. Dưới trướng Thục Phán lại có những người tài giỏi giúp đỡ, phò tá như Cao Lỗ, Nồi Hầu, Đinh Toán… Riêng Cao Lỗ nổi tiếng là người tài giỏi, người thiết kế xây dựng Loa Thành, nỏ thần đầy sức mạnh mà cho đến nay ta vẫn chưa biết hết sự huyền bí của nó. Ngoài ra, Âu lạc còn biết bao nhiêu Lạc tướng tài năng ở các địa phương. Nhân dân Âu lạc lại đoàn kết kiên quyết bảo vệ độc lập. Âu Lạc lại là đất nước hiểm trở, rất khó cho nước ngoài xa lạ tác chiến…

  Không để cho Lữ Gia nói hết lời, Triệu Vũ Vương ngắt lời, sốt ruột:

  -Thừa tướng nói vậy thì chả nhẽ chúng ta bất lực không chiếm được Âu Lạc để mở rộng bờ cõi, trả mối nhục thất bại vừa qua sao? Ta không thể nuốt trôi nổi nhục thất bại này.

  Lữ Gia điềm tĩnh:

  -Trận đánh vừa qua chứng minh ta không thể chỉ dùng quân sự mà chiếm được Âu Lạc. Trước tiên phải dùng mưu kế. Mục đích của mưu kế là nắm được tình hình, quy luật hoạt động bố phòng của Âu Lạc, thứ hai là nắm được bí quyết bí mật của nõ thần mà phá nó, trên thực tế ta phải đoạt được bí mật sức mạnh của nó để phục vụ cho ta, thứ ba là ly gián giữa An Dương Vương với các tướng của Thục Vương để tự giết hết người tài của Âu Lạc, khi An Dương bị cô độc chỉ có một mình thì ta lấy Âu Lạc dễ như thò tay vào túi lấy đồ vật, thứ tư là phải bỏ vàng ra mua chuộc bọn người Âu Lạc tham tiền, tham chức vụ để khi ta tấn công Cổ Loa chúng sẽ mở cổng thành làm nội ứng. Chỉ khi làm được bốn việc đó ta mới dùng sức mạnh cuối cùng là quân sự để đánh chiếm Cổ Loa, việc lớn mới thành công được.

  Triệu Vũ Vương nghe Lữ Gia nói như bừng tĩnh, vỗ tay xuống bàn khoái trá:

  -Thật là tuyệt vời. Nhưng ai và làm thế nào để đột nhập vào Cổ Loa thực hiện được bốn điều trên?

  Lữ Gia nói:

  -Thần đã có trù tính rồi nhưng điều đó chí có nói trong phòng cơ mật.

  Bãi triều, Triệu Vũ Vương mời Lữ Gia vào phòng cơ mật. Vua tôi ăn cơm uống rượu với nhau. Lữ Gia vừa ăn vừa trình bày mưu kế với Triệu Vũ Vương. Triệu Vũ Vương nghe ra vô cùng phấn khởi, tinh thần thư thái, quên hết những nặng nề do cuộc bại trận vừa qua.

 V.  Tin chiến thắng từ biên giới, từ bộ Vũ Ninh bay về kinh thành Cổ Loa, lan tràn trên đất nước Âu lạc, từ bộ Văn lang, Châu Diên, Phúc Lộc,Tần Hưng, Vũ Định, Vũ Ninh, Lục Hải, Ninh Hải, Dương Tuyền, Giao Chỉ,  tới bộ miền Trung xa xôi như Cửu Chân, Hoài Hoan, Cửu Đức, Việt Thường, Bình Văn. Khắp nơi trên đất nước Âu Lạc treo cờ vàng nhảy múa ca hát ăn mừng chiến thắng. Triều đình Cổ Loa chìm trong yến tiệc thâu đêm suốt sáng. Các quần thần của triều đình kể cả bọn gian thần xu nịnh sâu dân mọt nước đến cả các trung thần đều lần lượt kéo đến chúc mừng Thục Vương. An Dương Vương vui mừng khôn xiết. Ánh hào quang của chiến thắng, sự chúc mừng quá mức độ của quần thần đã làm cho An Dương Vương cảm thấy quyền lực lên đến tột đỉnh, kèm theo đó là sự ngạo mạn, tự đắc xuất hiện trong ông và ngày càng dâng lên mạnh mẽ mà trước hết là thái độ coi thường văn võ bá quan, coi thường những người trực tiếp xông pha chiến trường hi sinh để đem lại chiến thắng. Điều nguy hiểm hơn là Thục Vương xuất hiện tâm lý coi thường Nam Việt. Thục Vương bắt đầu thích nghe xu nịnh, coi thường và ghét nghe những lời nói thẳng của các trung thần như Cao Lỗ. Thục Vương bắt đầu coi mình là chúa tể, quan lại thần dân chỉ là bọn đầy tớ cỏ rác mà thôi.

  Khoảng một tháng sau chiến thắng, trong một buổi thiết triều của triều đình Âu Lạc, một viên cận thần bước vào:

  -Dạ, Bẩm Thục Vương sứ giả của Nam Việt xin được cầu kiến.

  Cả triều đình sửng sốt trước sự xuất hiện của sứ giả Nam Việt. Kể cả An Dương Vương cũng hơi ngạc nhiên. Thục Vương nói:

  -Cho đoàn sứ giả vào!

  Đoàn sứ giả Nam Việt gồm 5 người mặc quan phục màu xanh, mũ xanh quai tía. Hai người khênh một chiếc hộp màu vàng. Cả bọn 5 người rất bình tĩnh nhưng khúm núm đi vào giữa hai hàng bá quan của Âu Lạc. Khi tới tầm gần thì dừng lại chắp tay vái chào Thục Vương. Tên Chánh sứ người cao nhưng mặt choắt rất ranh ma, nói tiếng Lạc Việt rất giỏi:

Muôn tâu Thục Vương, tôi là chánh sứ thần, vâng mệnh của Triệu Vũ Vương đến xin đặt vấn đề bang giao hữu hảo với Âu Lạc.

 Hắn ngừng lại liếc lên nhìn trông chờ thái độ của An Dương Vương. An Dương Vương nói:

  -Ha!Ha!... Triệu Đà coi trời bằng vung, dám đem quân xâm phạm Âu Lạc ta, bị đánh tơi bời, nay còn gì để nói?

  Chánh sứ Nam Việt lựa lời:

  -Dạ, muôn tâu Thục Vương, vừa qua vua nước chúng tôi là Triệu Vũ Vương  không lượng sức mình đã chuốc lấy thất bại, chúa công chúng tôi vô cùng hối hận, nay sai tôi đi sứ cầu mong Thục Vương tha thứ. Từ nay về sau, Chúa công tôi sẽ ngoảnh mặt về Nam chắp tay vái lạy để xưng thần. Chúa công tôi có gửi cho Thục Vương món quà nhỏ mọn tỏ lòng hối cải. Xin Thục Vương cho phép hai phó sứ của tôi dâng lên.

  An Dương Vương nghe những lời xu nịnh nhún nhường của tên Chánh sứ liền cười:

 Ha! Ha! Triệu Đà thật là một kẻ biết điều, biết ăn năn hối cải, lại còn xưng thần nữa thì nay ta cũng xá tội cho. Cho hai Phó sứ dâng quà lên đây!

  Hai Phó sứ Nam Việt trao chiếc hòm màu vàng cho hai lính cận vệ của Thục Vương. Hai người lính ì ạch bê lên chỗ Thục Vương. Cả triều đình im lặng chờ xem không biết thứ gì mà nặng vậy. Khi chiếc hòm được đặt xuống, Thục Vương nói:

-Mở ra!

  Hai người lính loay hoay mở nắp chiếc hòm. Một luồng ánh sáng màu trắng màu hồng từ chiếc hòm chiếu lên. Thì ra gần đầy hòm toàn là hồng ngọc và kim cương lấp lánh. An Dương Vương ngắm nhìn thích thú. Còn bọn triều thần hám vàng bạc của Âu Lạc cũng sững sốt ồ lên. Song, đa số triều thần trong đó có Đại tướng Cao Lỗ nghiêm nét mặt không nói gì.

  Bọn sứ giả thấy An Dương Vương và một số triều thần thích thú thì mĩm cười một cách ranh mãnh. Tên Chánh sứ khoanh tay:

  -Dạ, bẩm Thục Vương, còn một việc quan trọng nữa mà chúa công tôi ủy thác.

 Cho phép thần được bẩm lên chúa thượng.

  An Dương Vương tỏ ra tự đắc:

  -Còn việc gì quan trọng cho phép nói

  -Dạ bẩm, chúa công tôi có nhiều  Hoàng tử, trong đó có một Hoàng tử năm nay 20 tuổi tên là Trọng Thủy, rất đẹp người đẹp nết, học hành giỏi giang, kiến thức rất sâu sắc dù là còn trẻ và được lập làm Thái tử. Chúa công tôi biết Thục Vương có ba công chúa. Công chúa Phượng Minh đã gã cho Cao Tứ, em Đại tướng Cao Lỗ, công chúa Quỳnh Anh đã gả cho Võ Trung Thái sư, còn một công chúa út là Mỵ Châu rất sắc nước hương trời. Chúa công tôi muốn Thục Vương cho phép đôi trai tài gái sắc này nên nghĩa phu thê. Chúa công tôi sẽ là thông gia một nhà với Thục Vương để hai nước Nam Việt và Âu Lạc làm chỗ dựa cho nhau thì thật là phúc lớn cho hai nước và cho muôn dân. Mong chúa thượng suy xét.

  Lời tâu trình của tên Chánh sứ làm triều đình Âu Lạc và cả An Dương Vương cũng bất ngờ. Nhưng công việc đặt ra đánh đúng vào một trong những suy nghĩ lo lắng đêm ngày của An Dương Vương. An Dương có ba công chúa, hai người chị đã yên bề gia thất, chỉ còn công chúa út là Mỵ Châu. Đây là cô công chúa xinh đẹp, nết na được An Dương Vương yêu quý cưng chiều nhất. Thục Vương ngày đêm lo nghĩ tìm sao cho Mỵ Châu có một người chồng tốt, tài năng và môn đăng hộ đối. Nếu chấp nhận lời cầu hôn của Triệu Đà thì sẽ tìm được người môn đăng hộ đối cho Mỵ Châu, Trọng Thủy là Thái tử thì tương lai Mỵ Châu sẽ là hoàng hậu Nam Việt, đồng thời mở ra một liên minh chặt chẽ lâu dài cho hai nước. Đây thực là mối lương duyên của trời đất, một việc đáng vui mừng trăm năm. Nghĩ như vậy An Dương Vương nói:

  -Ta chuẩn tấu, về bảo chúa công nhà ngươi chọn ngày lành tháng tốt sang đây đặt sính lễ dạm hỏi, sau đó mới bàn chuyện cưới xin theo đúng phong tục Âu Lạc ta.

  An Dương Vương vừa dứt lời thì Đại tướng Cao Lỗ đứng dậy thưa:

  -Bẩm Thục Vương việc này không nên.

  An Dương Vương nhìn Cao Lỗ tỏ vẻ không hài lòng:

  -Sao lại không được?

  -Tâu Thục Vương. Nếu hai nước hòa hiếu lâu đời thì việc Triệu Đà cầu hôn có thể hiểu được. Còn Triệu Vũ Vương có dã tâm xâm lược nước ta nhưng bị đánh tơi bời, bị tổn thất tới ba vạn quân và nhiều đại tướng, tổn thất thật là to lớn và nhục nhã. Kẻ kia không thể không tính tới mưu kế báo thù. Cho nên  việc cầu hôn chỉ là giả dối và là mưu kế thôn tính Âu Lạc lâu dài. Mong Thục Vương vì kế vẹn toàn của nước nhà mà suy xét.

 Cả triều đình lặng im nín thở, không khí đột nhiên căng thẳng. An Dương Vương nói giọng gay gắt tức giận:

  -Tướng quân nói vậy là suy diễn, không có căn cứ, có hại cho công việc hòa thuận giữa hai nước và hai triều đình. Tướng quân không nghe rõ sứ giả đã nói sao? Triệu Đà sau trận thua đã sợ vỡ mật, đã ngoảnh mặt về Nam cống lễ xưng thần. Còn việc cầu hôn là việc riêng giữa gia đình ta và gia đình Triệu Vũ Vương. Cuộc hôn nhân này nếu thành công càng tăng thêm tình hữu hảo giữa hai nước, hòa bình càng bền chặt là phúc của muôn dân, lại là sự liên minh để chống lại sự bành trướng của giặc Hán xuống phương Nam. Vả lại, nếu Đà trở mặt tấn công thì ta đã có nỏ thần và lực lượng quân sự hùng mạnh, lo gì không đập tan được chứ?

  Cao Lỗ đáp:

  -Khi không rõ được âm mưu bụng dạ của Triệu Đà thì lời Thục Vương cũng chỉ là giấc mơ tốt đẹp tưởng tượng mà thôi. Cuộc hôn nhân này là việc riêng của gia đình Thục Vương nhưng nó có quan hệ tới vận mệnh Quốc gia. Xin Thục Vương lấy giang sơn xã tắc làm trọng. Đặt quốc gia và xã tắc lên trên hết, lên trên quyền lợi gia đình.

  Thái sư phò mã Võ Quốc cũng đứng dây:

  -Tâu phụ vương, Tướng quân Cao Lỗ nói đúng, bọn người phương Bắc thường lắm mưu nhiều kế để thôn tính lẫn nhau và xâm lược nước người. Trong thời Xuân thu Chiến quốc có biết bao mưu kế thâm độc, kể cả lợi dụng hôn nhân để các nước chư hầu tiêu diệt lẫn nhau. Trong những cuộc sát phạt có những kẻ dùng nội công ngoại kích thường là thu được thành công. Mong phụ vương suy xét.

  Sau Thái sư Phò mã Võ Quốc và các quan đại thần, các võ quan như Thống lĩnh bộ binh Hoàng Trị, Thống lĩnh thủy quân Thiên Đá, Chiêu Công Đại Tướng quân, Quốc cữu Thánh Cả, Thánh Hai, Đại công thần Nồi Hầu, Đinh Công Tuấn tướng quân, Đại Tướng quân Phan Giác, Đại tướng quân Phò Mã Cao Tứ, em Cao Lỗ, thần y Vương Ứng… can vua , đồng thanh bẩm tấu:

  -Kính mong Thục Vương suy xét vì quyền lợi an nguy của Quốc gia xã tắc. 

  An Dương Vương nổi giận đập bàn:

  -Sao lại bảo ta không vì giang sơn xã tắc. Ta làm như vậy chính là vì giang sơn xã tắc. Các ngươi không muốn cho Công chúa  lấy chồng sao. Còn nếu Triệu Đà trở mặt thì ta đã có nỏ thần. Ta đã quyết, không bàn bạc nữa. Sứ giả Nam Việt nghe đây.

  -Dạ

  -Về bẩm với Triệu Vũ Vương ta đồng ý gã công chúa cho Trọng Thủy. Bảo chúa công nhà ngươi chọn ngày lành tháng tốt sang Cổ Loa đặt sính lễ và cưới xin theo phong tục Âu Lạc.

  Những tên sứ giả của Nam Việt mừng vui ra mặt vì quyết định nhanh chóng của An Dương Vương:

  -Dạ, chúng thần cảm tạ Thục Vương. Chúng thần sẽ trình với Chúa công chúng thần và sẽ nhanh chóng quay lại làm nghi lễ để Công chúa và Hoàng tử sớm thành phu thê, hai nước sớm đi vào hòa hảo. Chúc Thục Vương vạn tuế.

  An Dương Vương mệt mỏi đứng dậy:

  -Bãi triều!                                    

Kinh đô Phiên Ngung của Nam Việt. Trong một căn phòng lộng lẫy sang trọng lấp lánh ngọc ngà vàng bạc trong cung điện của triều đình họ Triệu dành cho Thái tử Trọng Thủy và Thái tử Phi, Mỵ Châu ngồi im lặng thẫn thờ nhớ nhà, nhớ căn phòng thân yêu của nàng ở Cổ Loa, nhớ phụ vương và nhớ mọi người trong hoàng gia. Mới đó mà nàng đã xa Âu Lạc hơn sáu tháng trời và đã về kinh đô Phiên Ngung cũng bằng ấy thời gian, tất cả đối với nàng vừa là hiện thực lại như một giấc chiêm bao đi về trong ký ức của nàng. 

Nàng nhớ lại sau buổi thiết triều đầy sóng gió giữa Phụ Vương và các đại thần, phụ vương đã đồng ý cho nàng kết hôn với Thái tử nước Nam Việt là Trọng Thủy. Sau lễ ăn hỏi là lễ vu quy. Có lẽ ở Âu Lạc chưa có một buổi lễ vu quy  nào hoành tráng, lộng lẫy và xa hoa như  của nàng với Trọng Thủy. Khi đón nàng về đến Phiên Ngung, lễ thành hôn được tiến hành ba ngày ba đêm cũng không kém phần xa hoa vui vẻ và đầy hạnh phúc. Nhưng đối với nàng lễ vu quy và lễ thành hôn chỉ là một phần qua đi trong ký ức, phần quan trọng là nàng được Trọng Thủy, một người chồng đẹp trai, tài giỏi và rất mực thương yêu nàng. Cuộc hôn nhân này ban đầu đến với nhau không phải là tình yêu mà là do cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy. Nhưng bây giờ thì nàng thật sự yêu Trọng Thủy và Trọng Thủy cũng thật sự yêu nàng, chiều chuộng nàng vì nàng thật sự là một thiếu nữ xinh đẹp, hiền thục cùng với sự ngây thơ, đài các của một nàng Công chúa vừa mới qua tuổi thiếu nữ. Nàng cảm thấy thực sự hạnh phúc, thực sự may mắn.

  Nhưng trời thật sự không cho ai tất cả bao giờ cả. Trong tâm trạng mãn nguyện bên cạnh người chồng yêu quý nhưng nàng vẫn nhớ nước Âu Lạc, nhớ Phụ Vương và Quốc mẫu mẹ nàng, nhớ anh chị em trong hoàng tộc, nhớ hai công chúa chị nàng là Phượng Minh và Quỳnh Anh. Nàng lại còn nhớ cả căn phòng ấm cúng của mình ở Cổ Loa, căn phòng đã chứng kiến biết bao kỷ niệm thời thơ ấu và lớn lên của nàng.

  Nỗi nhớ nhà, nhớ nước của Mỵ Châu theo thời gian ngày tháng tăng dần làm cho hạnh phúc của đôi vợ chồng trẻ giàu sang phú quý không trọn vẹn. Qua các sứ giả Âu Lạc thường qua Nam Việt công cán thì Thục Vương, cha nàng, anh em hoàng thất của nàng cũng rất nhớ nàng, đặc biệt là Thục Vương người rất thương yêu nàng. Khi quyết gả chồng xa cho Mỵ Châu ông tưởng là có thể chịu đựng được cảnh tử biệt sinh ly nhưng bây giờ đối với Thục Vương quả nhiên quá sức chịu đựng. Sau những buổi lo việc nước thiết triều, An Dương Vương thường ngồi một mình trong phòng nhớ con, thở dài và uống rượu một mình.

  Qua những mạng lưới do thám, qua những tên sứ giả của Nam Việt công cán ở Âu Lạc, triều đình Phiên Ngung theo dõi chặt chẽ mọi diễn biến ở Âu Lạc. Việc hôn nhân giữa Trọng Thủy và Mỵ Châu đã gây mối bất hòa chia rẽ sâu sắc trong triều đình Âu Lạc, giữa An Dương Vương và những đại thần ủng hộ ông ta với các đại thần phản đối cuộc hôn nhân. Triệu Đà, Thừa tướng Lữ Gia hài lòng với sự thành công bước đầu của kế hoạch mà quan trọng nhất là bước đầu chia rẽ được triều đình Âu Lạc. Một đất nước, một dân tộc, một triều đình mà bị chia rẽ, không đoàn kết nội bộ thì trước sau cũng bị ngoại bang khuất phục. Qua các sứ giả và do thám, Triệu Vũ Vương còn biết Thục Vương rất nhớ con gái Mỵ Châu. Ngược lại, qua Trọng Thủy và những người hầu cận Mỵ Châu, Triệu Đà cũng biết Mỵ Châu rất nhớ cha, nhớ hoàng gia và nhớ Âu Lạc. Đây là nguyên nhân quan trọng để thuyết phục An Dương Vương đồng ý cho Trọng Thủy sang Âu Lạc ở gửi rể, cắm người của Nam Việt trực tiếp tại Cổ Loa để thực hiện những bước  tiếp theo của kế hoạc nội công để nhanh chóng ngoại kích thôn tính Âu Lạc.

Tại kinh đô Cổ Loa, khi An Dương Vương vừa ra lệnh cho các quan an tọa chuẩn bị buổi thiết triều thì một viên quan phụ trách lễ nghi vào báo:

  -Tâu Thục Vương có đoàn sứ giả Nam Việt tới đang chờ xin vào yết kiến

  An Dương vương nóng lòng muốn biết tin công chúa Mỵ Châu nên lập tức ra lệnh:

  -Mau cho đoàn sứ thần vào!

  Đoàn sứ thần của Nam Việt bước vào. Triều đình và Thục Vương nhìn ra thì không phải ai xa lạ, chính là những sứ thần đã sang đặt vấn đề xin Mỵ Châu về làm vợ Hoàng Thái tử Trọng Thủy, ăn hỏi và đóng vai trò chính trong việc đón Mỵ Châu về Nam Việt. Vẫn là tên mặt choắt, nhỏ thó nom nham hiểm và bốn tên dáng bộ rất ranh ma khác. Chúng không còn dáng bộ sợ sệt như buổi ban đầu mà bây giờ vì là người một nhà nên chúng đi rất hiên ngang tiến vào trước long sàng, trước mặt An Dương Vương. Tên mặt choắt cất tiếng:

  -Cúi lạy Thục Vương, chúc Thục Vương vạn tuế, vạn vạn tuế…

  Cả năm tên cùng đồng thanh hô như hát:

   -Chúc Thục Vương vạn tuế, vạn tuế…

  An Dương Vương sốt ruột:

  -Miễn lễ, nói đi, Thái tử phi Mỵ Châu thế nào, có khỏe không?

  Chỉ chờ câu hỏi đó, tên Chánh sứ mặt choắt tâu:

  -Dạ bẩm Thục Vương, Thái tử Phi khỏe nhưng…

  An Dương Vương hốt hoảng:

  Nhưng thế nào? Có chuyện gì chăng?

  -Dạ, không có chuyện gì. Chỉ có điều là Thái tử Phi rất nhớ Thục Vương, nhớ Quốc mẫu, nhớ anh chị em và nhớ hoàng gia, nhớ Cổ Loa và Âu Lạc.

  Nghe đến đó sắc mặt An Dương Vương buồn thảm. Ông đang nén tiếng thở dài. Thục Vương hỏi tên Chánh sứ:

  -Hôm nay các ngươi sang Cổ Loa có việc gì không?

  Tên Chánh sứ đáp:

  -Việc giữa hai quốc gia thì không có nhưng có việc quan trọng của gia đình Chúa công tôi với gia đình Thục Vương. Có thể không tiện bàn ở Triều đình, để chúng tôi sẽ gặp riêng Thục Vương.

  An Dương Vương nói:

  Chuyện của ta với Chúa công các ngươi cũng là việc Quốc gia đại sự, cứ tâu trình ở đây cũng được.

  -Dạ là thế này ạ, hiện nay Thái Tử Phi rất nhớ Thục Vương, Quốc mẫu và Hoàng gia, e rằng tình cảnh này mà kéo dài thì Thái Tử Phi sẽ không chịu nổi mà sinh ra bệnh tật đau ốm thì rất nguy. Chúa công tôi coi Thái Tử Phi như con đẻ nên cũng rất lo lắng. Người đã tìm ra một giải pháp vượt qua cả luật tục của Nam Việt. Đó là cho Thái Tử Phi về sống ở Cổ Loa, còn Hoàng Thái Tử Trọng Thủy sẽ sang Âu Lạc ở gửi rể. Thái tử Phi vừa được gần Hoàng thái tử, lại vừa gần Thục Vương và hoàng gia, không còn nổi đau khổ nhớ nhà, nhớ nước. Việc này chỉ là ý của Chúa công tôi, có thực hiện được hay không thì do Thục Vương quyết định.

 An Dương Vương mừng rỡ:

 -Không ngờ Triệu Vũ Vương cũng thương con dâu đến như vậy mà vượt cả luật tục xưa nay của Nam Việt, tạo điều kiện cho Mỵ Châu gần hoàng gia của mình thì còn gì bằng.

 Cả triều đình Cổ Loa quá bất ngờ với quyết định của Triệu Đà và của Thục Vương. Đại tướng Cao Lỗ đứng dậy nói:

  -Tâu Thục Vương, người phương Bắc luôn nuôi tham vọng nuốt lãnh thổ của Âu Lạc, cho đến bây giờ dù Triệu Đà thông gia với Thục Vương thì đây chỉ là cái cớ  cài cắm người vào để dò la bí mật của nỏ thần, của Quốc gia, để gây dựng lực lượng bên trong, thực hiện nội công ngoại kích. Kính mong Thục Vương xem lại.

 An Dương Vương đáp gay gắt:

 -Nay Âu Lạc và Nam Việt là một nhà, Âu Lạc Cổ Loa cũng là nhà của Phò mã Trọng Thủy cũng như Phiên Ngung là nhà của con gái ta Mỵ Châu, tại sao con rể ta không thể ở được. Vả lại Trọng Thủy rất yêu quý vợ nó, làm sao nó có thể hành động gì để hại đến người vợ thương yêu của nó. Đại tướng xem mới xa Hoàng gia có sáu tháng mà Công chúa nhớ nhà, nhớ nước gầy còm ốm yếu. Nếu không được về Cổ Loa thì nó sinh bệnh và ai biết nói trước được điều gì. Đại tướng không có con gái chăng?

  Thái sư Phò mã Võ Quốc đứng dậy thưa:

  -Tâu phụ vương, thần hiểu tình cảm của Phụ Vương với Công chúa Mỵ Châu. Giá như Trọng Thủy là người Âu Lạc thì không sao nhưng đây lại là người ngoại bang. Ai biết Triệu Đà thực lòng hay chỉ là giả dối thực hiện mưu kế xâm lược Âu Lạc , mong phụ Vương xét lại.

  Thục Vương ngắt lời nổi giận:

 -Thái sư là người trong nhà mà cũng nói vậy sao. Ngoại bang thì làm sao chứ, nay Nam Việt và Âu lạc đã là một nhà, Triệu Vũ Vương xa con trai không nhớ sao, nhưng ông ta đã biết nén tình cảm vì sức khỏe Mỵ Châu và cả vì ta nữa. Sao Thái sư lại phụ lòng tốt của người ta vậy?

Lạc Hầu, một trong những đại thần của triều đình Cổ Loa được An Dương Vương tin dùng nhưng sự tin dùng đó chưa bằng được Cao Lỗ, Cao Tứ, Thái sư Võ Quốc, Nồi Hầu…Nay nhân cơ hội này, Lạc Hầu thấy phải ủng hộ An Dương Vương để mưu lợi riêng cho mình. Lạc Hầu đứng dậy nói:

 -Tâu Thục Vương, thần cho rằng cho Phò mã Trọng Thủy ở gửi rể vừa có thể giải quyết được tình cảm Công chúa với hoàng gia vừa là biện pháp giữ nước hiệu quả. Trong cục diện Xuân thu Chiến Quốc ở phương Bắc, nước mạnh giao hảo với nước yếu thường bắt nước yếu đưa con tin đến kinh đô nước mình để bảo đảm, nếu phản bội mà gây sự con tin chết đầu tiên. Nay Trọng Thuỷ đến ở gửi rể Âu Lạc thì cũng là một dạng con tin. Nếu Triệu Đà bội ước xâm lược thì Trọng Thủy là người chịu tai họa đầu tiên. Nên lưu ý đó là con tin đắt giá, là Hoàng Thái tử của Nam Việt, là vua tương lai của Nam Việt.

 An Dương Vương thích thú với sự phân tích của Lạc Hầu:

  -Thừa tướng Lạc Hầu nói phải lắm.Ha!ha!ha!

 Những người thân cận thuộc phái Lạc Hầu cùng hô to:

 -Đúng lắm, con tin đắt giá, phải lắm.

  Cao Lỗ đứng dậy:

 -Lời của Lạc Hầu chỉ là sự chủ quan, xem thường kẻ địch, đánh giá thấp Triệu Đà, Lữ Gia và các mưu sĩ của y.

 Các quan đại thần, các võ quan như Thống lĩnh bộ binh Hoàng Trị, Thống lĩnh thủy quân Thiên Đá, Chiêu Công Đại Tướng quân, Quốc cữu Thánh Cả, Thánh Hai, Đại công thần Nồi Hầu, Đinh Công Tuấn tướng quân, Đại Tướng quân Phan Giác, Đại tướng quân Phò Mã Cao Tứ, em Cao Lỗ, thần y Vương Ứng… can vua, đồng thanh bẩm tấu:

  -Bẩm Thục Vương không thể coi thường quân địch, không thể rước giặc vào nhà.

  An Dương nổi giận đạp bàn:

  -Sao lại gọi Phò mã là giặc. Các ngươi định làm phản chăng? Đây là việc riêng của hoàng gia.

 Cao Lỗ lớn tiếng:

  -Việc này có an nguy đến giang sơn xã tắc Âu Lạc mà giang sơn xã tắc không phải là của riêng Thục Vương và Hoàng gia. Cơ đồ này là của dân chúng Lạc Việt và Âu Việt, là cơ đồ của Hùng Vương gây dựng hàng nghìn năm để lại.

  An Dương Vương quá giận dữ, không kiểm soát được mình nữa, đập bàn:

  -Ta đã quyết, nhà ngươi đừng nói nữa. Ta có thể đuổi nhà ngươi khỏi Cổ Loa.

  Cả triều đình im lặng. Lần đầu tiên họ nghe thấy An Dương Vương gọi khai quốc công thần số một Cao Lỗ là ngươi. Triều đình Cổ Loa từ sau cuộc hôn nhân của Trọng Thủy với Mỵ Châu đã rạn nứt và bây giờ chính thức bị phân liệt vì sự can thiệp của ngoại bang. An Dương Vương nói với sứ giả Nam Việt:

  -Các ngươi về Phiên Ngung nói với Chúa công các ngươi ta đồng ý cho Phò mã Trọng Thủy sang Âu Lạc ở gửi rể, sớm thu xếp càng nhanh càng tốt, đừng để ta đợi lâu và thất vọng.

  Những tên sứ thần Nam Việt ranh mãnh vui mừng:

  -Dạ đa tạ Thục Vương. Chúng thần sẽ nhanh chóng đưa Phò mã và Thái tử Phi về nước ạ.

Sau hai ngày đường gian nan vất vả hành trình từ Phiên Ngung, kinh đô của Nam Việt, cuối cùng Trọng Thủy, Mỵ Châu cùng đoàn tùy tùng cũng về tới Cổ Loa, kinh đô Âu Lạc vào lúc hoàng hôn đang buông xuống. Những ánh nắng cuối cùng hắt những ráng đỏ hồng rực lên bầu trời u tối. Những rặng cây xanh nhóm màu đen xào xạc. Kinh đô Cổ Loa đã bắt đầu lên đèn, những ánh sáng màu vàng hiu hắt.

 Cung điện Cổ Loa rộn ràng đón tiếp Công chúa Mỵ Châu và Trọng Thủy. Mỵ Châu ôm Thục Vương, ôm Quốc mẫu, ôm hai chị là Công chúa Phượng Minh và Quỳnh Anh. Các  chị lau nước mắt sung sướng đoàn tụ cho Mỵ Châu. Mỵ Châu và Trọng Thủy ngồi ăn tiệc đón nàng, chuyện trò rộn ràng như không dứt. Mỵ Châu nói hơi nhiều, tiếng của nàng nghe êm tai như những nốt nhạc thánh thót khiến người nghe phải say mê và thả hồn vào cõi mơ hồ.

Sau bữa cơm đón mừng của Hoàng gia và gia đình, nàng xin phép về phòng nghỉ sớm vì mệt mỏi sau hai ngày ngồi trên xe ngựa. Nàng cảm thấy sung sướng khỏe mạnh khoan khoái hẳn lên sau khi bước vào căn phòng lộng lẫy sang trọng quen thuộc của nàng nằm sâu trong cung điện. Không cần ý tứ với Trọng Thủy, Mỵ Châu ngả người lên chiếc giường êm ái quen thuộc của mình và nhắm mắt thanh thản khoan khoái.

  Trọng Thủy ngắm nhìn Mỵ Châu đang thanh thản nghỉ ngơi. Trọng Thủy biết qua hai ngày đường đi xe ngựa, Mỵ Châu hẳn là rất mệt. Chàng rất thương nàng. Cho đến bây giờ hắn mới có thời gian nhìn kỹ Mỵ Châu. Nàng vốn xinh đẹp rồi nhưng bây giờ hắn mới thấy nàng thật sự xinh đẹp. Trọng Thủy càng cảm thấy yêu nàng hơn và cảm thấy hạnh phúc dâng tràn. Hắn đã có người vợ đẹp như tiên giáng trần, lại có một phụ vương và cả Hoàng gia Âu Lạc hết lòng yêu quý hắn. Nhưng chợt đôi mắt của Trọng Thủy tối sầm, hắn lê chân lại ngồi xuống ghế có bộ bàn uống nước sang trọng. Một tâm tư hổ thẹn day dứt hắn. Hắn đang ôm trong lòng một kế hoạch và phải thực hiện bằng được âm mưu độc ác gian xảo do Triệu Vũ Vương, cha hắn trao cho để phục thù và chiếm Âu Lạc, mở rộng bờ cõi Nam Việt xuống phương Nam.

  Trọng Thủy còn nhớ như in trong căn phòng lộng lẫy của Triệu Vũ Vương ở Phiên Ngung, phụ vương đã gặp hắn trước khi hắn lên đường sang Âu Lạc ở gửi rể. Triệu Vũ Vương nói, giọng hạ thấp như sợ ai nghe thấy:

  -Con sang Âu lạc lần này không phải là ở gửi rể, xây dựng gia đình trăm năm hạnh phúc, bách niên giai lão mà là vì sự nghiệp lớn, vì sự hưng thịnh và tồn tại muôn đời của Nam Việt, vì sự rửa hận thù nhục nhã cho cha, cho Quốc gia vì sự thua trận lần trước.

  Trọng Thủy lo sợ đáp:

  -Thưa phụ vương, con nghĩ là con đã tìm được hạnh phúc vì đã có một người vợ là nàng Mỵ Châu xinh đẹp, nết na hiền thục. Vả lại con nghĩ An Dương Vương chắc là một vị nhạc phụ tốt. Còn việc lớn ư, con không có gan cũng không có tài cáng đáng được. Còn trận thua nhục nhã đâu phải do Thục Vương, do Âu Lạc đem đến cho Phụ Vương mà tự Phụ Vương đem quân đánh người ta trước. Tốt nhất đã là thông gia rồi thì hai nước nên sống hòa thuận hòa bình với nhau, có hay gì gây ra cảnh núi xương sông máu cho cả Nam Việt lẫn ÂU lạc.

Triệu Vũ Vương nén giận:

-Con là trang nam tử hảo hán phải có chí khí, phải làm việc lớn, đừng như lũ đàn bà nhút nhát. Như cha đây chỉ là một viên Hiệu úy nhỏ bé của nhà Tần. Khi nhà Tần diệt vong, Trung Nguyên rối loạn, nếu cha không có chí lớn làm sao có được nước Nam Việt như ngày nay. Tuy nhiên, sau khi diệt nhà Tần, Lưu Bang và Hạng Vũ đang chiến tranh với nhau để tranh giành bá chủ Trung Nguyên. Bất chấp Hạng Vũ hay Lưu Bang chiến thắng, sau khi xác lập ngôi vị làm chủ Trung Nguyên, dứt Khoát họ sẽ tiến quân xuống tiêu diệt Nam Việt ta. Nam Việt chỉ là nước nhỏ không thể chống lại được. Cho nên cha muốn thôn tính Âu Lạc, mở rộng đất đai, dân số để có nguồn lực đủ sức chống lại cuộc xâm lăng của Lưu Bang hoặc của Hạng Vũ. Như vậy thôn tính Âu Lạc là sự tồn vong của họ Triệu, của Nam Việt ta. Con không vì họ Triệu, không vì giang sơn Nam Việt sao?

Trọng Thủy nói:

  -Tất nhiên là con rất muốn vì sự tồn tại lâu dài của họ Triệu, của Nam Việt nhưng con cũng không bất nghĩa, lừa dối vợ mình, lừa dối nhạc phụ mình, lừa dối những người đã tin tưởng con và tin cả cha nữa. Phụ vương dạy con làm điều bất nghĩa sao?

  Triệu Đà dịu giọng:

  -Cha đã tính toán cho con vừa trọn tình nghĩa lại vừa tròn chữ hiếu với cha. Sau khi con giúp cha lấy được Âu Lạc là con đã tròn chữ hiếu. Sau khi ta làm chủ Âu Lạc vẫn bảo vệ tính mạng cho Thục Vương và toàn bộ Hoàng gia. Mỵ Châu vẫn là vợ bên cạnh con. Vậy thì có gì là bất nghĩa. Lấy được Âu Lạc mà Mỵ Châu vẫn là vợ con, con không thấy hạnh phúc sao?

Trọng Thủy nghe Triệu Đà nói vậy như chợt tỉnh cơn mê:

Có thể như thế được không?

Triệu Đà chắc chắn:

-Phụ Vương thề với con là sẽ bảo vệ Mỵ Châu cho con, còn giữ lại An Dương Vương và Hoàng gia Âu Lạc miễn là ông ấy thần phục.

Trọng Thủy hỏi:

Vậy bên nước người xa xôi phụ vương bảo con phải làm những gì?

Triệu Đà thấy trọng Thủy đã nghe lời liền nói cho Hoàng Thái tử nghe những gian kế, những âm mưu thâm độc mà Đà đã cùng các mưu sĩ và thừa tướng Lữ Gia dày công nghiền ngẫm:

  -Con đừng lo là chỉ có một mình. Sau khi con sang ở gửi rể, dưới vỏ bọc là những gia nô của con, cha sẽ phái theo con 100 mưu sĩ và võ sĩ bậc nhất, gian ngoan thông minh bậc nhất, những cao thủ võ lâm bậc nhất của triều đình Nam Việt giúp con. Có khi phần lớn kế hoạch là do họ thực thi.

-Vậy con phải làm gì?

-Nhiệm vụ của con là phải làm cho Mỵ Châu yêu say đắm con và từ đó con đưa ra yêu cầu gì Mỵ Châu cũng phải chiều theo. Hơn nữa con phải lấy được lòng An Dương Vương và Hoàng Gia. Từ đó nhiệm vụ của con là: Thứ nhất dò được bí mật quân sự và làm mất hiệu lực của nỏ thần khi quân ta tiến đánh Cổ Loa. Thứ hai, làm cho An Dương Vương ngày càng hiểu lầm và tiêu diệt những trung thần tài giỏi của Âu Lạc như Cao Lỗ, Nồi Hầu, Phan Giác… Những tướng lĩnh tài năng của Âu Lạc phải bị An Dương Vương giết hết, không giết được thì bị đuổi về quê. Người tài bị diệt hết, Âu lạc sẽ trống rỗng. Quân đội giỏi, nỏ thần “Linh Quang thần nỏ” mà không có tướng tài thì Âu Lạc cũng sẽ sụp đổ dưới sức tấn công của quân Nam Việt ta. Thứ ba, thành Cổ Loa xây dựng kiểu xoáy trôn ốc với chín vòng thành, bên thành ngoài cùng lại có sông rộng bao bọc với thủy binh hùng mạnh, trên lại có nỏ thần uy lực. Nếu không có nội phản bên trong làm tê liệt nỏ thần, mở cổng thành khi quân ta tấn công thì không thể vào được thành. Cho nên, con không tiếc vàng bạc mua chuộc bằng được một số người Âu Lạc làm nội ứng. Đất nước nào thời nào chả có bọn tham vàng, tham chức vụ mà theo ngoại bang. Con cứ cho họ thật nhiều vàng bạc và hứa phong chức quan cho chúng khi đại nghiệp hoàn thành. Thứ tư, lấy cớ là con nhớ nhà cần có chỗ du ngoạn và chơi bời cho khuây khỏa, con phải nói với Mỵ Châu để Mỵ Châu nói Với An Dương Vương khoanh cho con và Mỵ Châu những vùng đất để lập những trang trại, hành cung săn bắn, chơi bời. Từ biên giới đến Cổ Loa cứ 50 dặm lập một trang trại hay một hành cung. Trong mỗi trang trại hay hành cung đó dưới vỏ bọc những người phục vụ cho con, quân đội Nam Việt sẽ trà trộn vào để khi ta tấn công, quân lính đó sẽ hỗ trợ đắc lực cho quân đội Nam Việt và nhanh chóng đột kích vào  Cổ Loa làm quân Âu Lạc không kịp trở tay.

Triệu Đà im lặng, cái mồm rộng của ông ta mấp máy đầy tham vọng và nhấn mạnh:

  -Trong bốn việc đó việc nào cũng quan trọng và có liên hệ với nhau, bổ sung cho nhau, hỗ trợ cho nhau thì mới tạo nên sức mạnh của nội công tạo điều kiện cho ngoại kích thắng lợi. Chỉ khi hoàn thành tốt bốn nhiệm vụ đó thì việc lấy Âu Lạc dễ như thò tay vào túi lấy đồ vật. Con nhớ lấy điều đó.

  Suy nghĩ của Trọng Thủy bị cắt đứt bởi tiếng trống đồng cầm canh trên thành Cổ Loa điểm canh ba. Trong ánh đèn dầu vàng vọt của ngọn đèn dầu trong căn phòng lộng lẫy sang trọng, Mỵ Châu đang say giấc nồng. Nàng thật là xinh đẹp. Sự xinh đẹp và ngây thơ của Mỵ Châu khiến Trọng Thủy thấy hổ thẹn khi trong lòng hắn đang chứa chấp những âm mưu thâm độc. Hắn chợt lo lắng cho tương lai của hắn và Mỵ Châu một khi âm mưu của cha hắn hoàn thành và chiến tranh giữa Nam Việt và Âu Lạc bùng phát. Nhưng Trọng Thủy nhớ lại lời của cha hắn, thực hiện được âm mưu này hắn có cả Âu Lạc, lại có cả Mỵ Châu, chữ hiếu và chữ tình đều vẹn toàn. Nghĩ như vậy, hắn thấy như trút được gánh nặng, khoan khoái hơn. Hắn nằm xuống bên cạnh người đẹp và thiếp đi trong một giấc mơ đầy máu lửa chết chóc bi thương!

V -|- Đã gần một năm rồi, An Dương Vương không thiết triều, không bàn bàn việc nước với các đại thần. An Dương Vương tự quyết định lấy những công việc của đất nước, kể cả những công việc quan trọng. Thời gian này, ông không phân biệt được đâu là việc nước, đâu là việc nhà mà thường lẫn lộn với nhau, đánh đồng việc nước với việc nhà, đôi khi đặt việc nhà lên trên lợi ích quốc gia, nhất là từ khi công chúa Mỵ Châu và Trọng Thủy về Cổ Loa. Có việc gì băn khoăn ông thường bàn bạc với Lạc Hầu, Thừa tướng Thục Ngạn, là người trong hoàng gia họ Thục, lại luôn ủng hộ An Dương Vương trong nhiều vấn đề. Trong suy nghĩ và tư duy của An Dương Vương, sau chiến thắng Nam Việt và đặc biệt sau khi Triệu Đà tỏ ra thần phục thì sự ngạo mạn của ông đã lên đến cao độ. Đối với Thục Vương không còn việc gì là quan trọng nữa, không ai có thể khuất phục được sức mạnh của ông. Tai của Thục Vương giờ đây không muốn nghe những lời nói trái tai của Cao Lỗ và những người theo phe cánh ông ta. Tai của vị quân vương bây giờ chỉ thích nghe những lời tâng bốc ca tụng ngọt ngào của Lạc Hầu và những người xu nịnh của ông ta. Sự chia rẽ của triều đình Cổ Loa đã lên đến đỉnh cao, nhất là An Dương Vương hàng ngày thường nghe lời than phiền về sự khinh  miệt của Cao Lỗ đối với Trọng Thủy do chính miệng Trọng Thủy nói ra hoặc do miệng dèm pha của bọn Lạc Hầu, của hàng trăm tên người Nam Việt theo Trọng Thủy sang Cổ Loa để hầu hạ phục dịch cho Hoàng Thái tử. Tất cả chỉ tóm lại là Cao Lỗ và phe cánh rất căm thù trọng Thủy và bọn gia nô Nam Việt của chàng. Bọn Nam Việt và bọn người Lạc Hầu còn đánh tiếng là có lẽ Trọng Thủy không thể sống nổi ở Cổ Loa mà phải quay về Phiên Ngung để tránh sự bức hại của Cao Lỗ và phe cánh.

  Tuy chỉ nghe phong phanh và những lời đơm đặt đó chưa chắc là sự thật nhưng vì không muốn xa Mỵ Châu và Trọng Thủy, lại hết sức yêu thương con gái và con rể nên An Dương Vương bàn với Lạc Hầu đuổi Cao Lỗ khỏi Cổ Loa thì Trọng Thủy mới có thể ở lại Âu Lạc bình yên. Lạc Hầu đồng ý với đề xuất của An Dương Vương. Buổi thiết triều hôm nay là để quyết định đuổi Cao Lỗ khỏi kinh thành. Trong không khí bao trùm nặng nề cung điện, An Dương Vương nói:

  -Các chư vị ai có tấu gì không?

  Cao Lỗ Đứng dậy:

  -Bẩm Thục Vương, thần có lời tấu trình.

  -Nhà ngươi nói đi!

  Cả triều đình lại một lần nữa sửng sốt. Đây là lần thứ hai An Dương Vương gọi bậc nhất khai quốc công thần là “ngươi”. Cao Lỗ không để ý đến cách gọi miệt thị đại thần của An Dương Vương. Tâm tư của ông chỉ đang bức xúc vì những việc an nguy đến xã tắc, quốc gia. Cao Lỗ hỏi:

  -Tâu Thục Vương, thần xin hỏi ai đã cho phép Thái tử Phi dẫn Trọng Thủy đi xem các bệ đặt “Linh Quang thần nỏ” ở vòng ngoài thành Cổ Loa?

  An Dương Vương đáp giọng gay gắt:

  -Ta cho phép. Đó là vì Trọng Thủy buồn vì nhớ nhà, nhớ nước nên muốn đi dạo xem cảnh đẹp của Cổ Loa. Sao? Có chuyện gì không?

  Cao Lỗ đáp:

  -Tâu Thục Vương, toàn bộ vòng ngoài của Loa Thành đặt tới 100 khẩu “Linh quang thần nỏ”. Đó là nơi đặc biệt quan trọng về quân sự, về quốc phòng, là nơi tuyệt đối bí mật. Các quan đại thần của triều đình không có trách nhiệm cũng không được đến, người dân Âu Lạc càng không được bén mảng, huống hồ Trọng Thủy là người Nam Việt.

  An Dương Vương ngắt lời:

  -Trọng Thủy là người Nam Việt nhưng là Phò mã, là con cái trong nhà cũng như Cao Tứ, em ngươi là Phò mã, như Võ quốc Thái sư là Phò mã, ta cũng coi như con cái một nhà, thăm nỏ thần một chút thì đã làm sao?

 Cao Lỗ nói tiếp:

  -Bẩm Thục Vương, Trong Thủy không chỉ thăm nơi bí mật quốc phòng đó một lần mà đã nhiều lần cùng những gia nô người Nam Việt rủ rê những người lính trực ban ở các nỏ thần chè chén say sưa. Lính sử dụng nỏ thần là một loại lính kỹ thuật đặc biệt, không thể buông lỏng và vi phạm quân luật. Xin cho phép thần đem những người lính và những người Nam Việt đó ra xử theo quân luật.

  An Dương Vương đáp:

  -Có chuyện đó sao. Chuyện đó không sao vì nay là thời bình. Lính cũng là những con người đôi khi cũng phải cho họ vui vẻ chút có khi lại nâng cao tinh thần chiến đấu. Còn xử những người Nam Việt gia nô của Phò mã e làm tổn thương tới bang giao hai nước. Cao Lỗ nhà ngươi khắt khe quá.

  Cao Lỗ nói tiếp:

  -Bẩm Thục Vương, thần thật sự lo cho an nguy của Quốc gia xã tắc. 100 tên gia nô Nam Việt kia thần xem ra có nhiều tên gian manh, là những bậc cao thủ về mưu lược, còn phần lớn là những tên lực lưỡng khỏe mạnh có dáng cao thủ võ lâm. Vì an nguy của Quốc gia xã tắc, mong Thục Vương cẩn trọng.

  An Dương Vương lớn tiếng:

  -Ngươi dám bảo ta không vì giang sơn xã tắc ?

  Cao Lỗ nói tiếp:

  -Thần còn một việc nữa xin được bẩm tấu.

  Không đợi An Dương có đồng ý hay không, Cao Lỗ nói tiếp:

  -Thần biết rằng từ gần Cổ Loa đến giáp biên giới Âu Lạc-Nam Việt, Thục Vương đã cho phép xây dựng những hành cung, những trang trại cho Thái tử phi và Trọng Thủy săn bắn du chơi và nghỉ ngơi. Trong các hành cung và trang trại đó thần được biết Trọng Thủy đã cho rất nhiều người Nam Việt toàn là trai tráng khỏe mạnh đến với cớ  là phục dịch Trọng Thủy?

  An Dương Vương ngắt lời:

  -Đó là do Hoàng Thái tử nhớ nhà, nhớ nước nên cần có chỗ cho Thái Tử vui chơi. Vả lại Công chúa ở mãi trong cung cấm cũng buồn chán, cũng cần phải đi thăm thú xem phong cảnh tươi đẹp của Âu Lạc. Hai con ta đã đi du ngoạn thì phải có nơi ăn ở nghỉ ngơi. Đó là đất của ta sao ta lại không cho con ta được?

  Cao Lỗ đáp:

  -Nhà Vua có quyền cho lập hành cung, trang trại nhưng có thể là nơi khác. Còn những hành cung, trang trại hiện nay toàn là những nơi hiểm yếu, quan trọng của Quốc phòng, là địa thế cho quân đội tác chiến ngăn chặn địch từ phương Bắc tràn xuống, ví dụ như hành cung ải Chi Lăng của bộ Lục Hải,  như hành cung chặn ngã sáu của Lục Đầu Giang ở bộ Dương Tuyền, hành cung ở bộ Vũ Ninh, hành cung phía Nam sông Cầu, đầu bộ Giao Chỉ gần Cổ Loa. Những nơi đó là gần những căn cứ quân sự của quân ta, thuộc vùng đất nghiêm cấm người nước ngoài  và trong nước lai vãng tới gần nhòm ngó. Hơn nữa, trong các hành cung, trang trại này rất nhiều nam giới Nam Việt đã tới. Thần cho rằng chúng đến với danh nghĩa gia nô của Trọng Thủy nhưng khi có chiến tranh chúng sẽ là lính tráng hỗ trợ cho quân đội Nam Việt hoặc chúng có thể tấn công quân đội Âu Lạc ngay từ bên trong nhanh chóng, ta không kịp trở tay. Ngay trong thời bình, chúng đã có thể do thám nắm bắt tình hình bí mật của ta để sau đó tấn công. Vì an nguy xã tắc và Quốc gia, mong Thục Vương xem xét.

  An Dương Vương tức giận đến mức trợn ngược hai mắt, đập bàn đứng dậy:

  -Nhà ngươi nói vậy tức là ta là kẻ bán nước sao, ta không biết gì về quân sự Quốc phòng sao. Ta, người đã đánh bại 50 vạn quân Tần do nguyên soái Đồ Thư chỉ huy, ngươi không biết sao? Ta, người cách đây không lâu đã đánh bại cuộc xâm lăng 5 vạn quân của Triệu Đà, ngươi không biết sao? Ta không cần ngươi nữa xem ta có chiến thắng hay không, xem Âu Lạc có vững bền không? Ngay hôm nay ngươi phải rời khỏi Cổ Loa về Vũ Ninh. Ta không muốn thấy mặt ngươi nữa.

  Thái sư Võ Quốc vội vã đứng dậy chắp tay:

  -Bẩm phụ Vương, Cao Lỗ tướng quân không thể rời Cổ Loa được, không thể rời triều đình được vì sự tồn tại lâu dài của Âu Lạc. Mong phụ Vương xét tơí công lao của Cao Lỗ cùng phụ vương gian khổ đánh bại quân Tần, thiết kế xây dựng thành Cổ Loa kiên cố, chế tạo “Linh quang thần nỏ”, góp công lao đánh bại cuộc xâm lược của Triệu Đà. Âu Lạc và Cổ Loa không thể thiếu Cao Lỗ được. Mong phụ Vương xét lại.

  Sau Thái sư Võ Quốc và các quan đại thần, các võ quan như Thống lĩnh bộ binh Hoàng Trị, Thống lĩnh thủy quân Thiên Đá, Chiêu Công Đại Tướng quân, Quốc cữu Thánh Cả, Thánh Hai, Đại công thần Nồi Hầu, Đinh Công Tuấn tướng quân, Đại Tướng quân Phan Giác, Đại tướng quân Phò mã Cao Tứ, em Cao Lỗ, thần y Vương Ứng… can vua , đồng thanh bẩm tấu:

  -Kính mong Thục Vương suy xét vì quyền lợi an nguy của Quốc Gia xã tắc, Đại tướng Cao Lỗ là trụ cột của Quốc Gia.

  An Dương Vương càng nổi giận khi thấy triều đình ca ngợi đề cao Cao Lỗ:

-Trụ cột cái gì, ý ta đã quyết. Bãi triều!

  Cả triều đình bàng hoàng. Ngay cả người của Lạc Hầu Thục Ngạn vốn không ưa Cao Lỗ cũng cảm thấy sửng sốt cho quyết định của Thục Vương, cho tình thế bất lợi của triều đình. Triều đình đang tan rã, Quốc gia đang lâm nguy nhưng mọi người cảm thấy bất lực, tất cả như đang bị một sức mạnh vô hình ma quái chi phối.

 Cao Lỗ nói to, dõng dạc:

  -Ta sẽ rời Cổ Loa. An Dương Vương sửa lại những lỗi lầm như ta đã nói thì còn nước, nhất là những bí mật của “Linh Quang thần nỏ” ở Cổ Loa”. Làm trái lại thì mất nước. Các vị ghi lấy lời của ta xem có đúng hay không.

  Sau khi Cao Lỗ rời Cổ Loa, đến lượt các đại thần, các đại tướng quân rường cột của nước nhà người thì bị An Dương Vương đuổi đi, người tự ý bỏ đi vì can vua không được. Thái sư Võ Quốc đem vợ là công chúa Quỳnh Anh về trang Long Đỗ, Long Biên, Thống lĩnh Bộ binh Hoàng Trị cùng em là Thống lĩnh thủy quân Thiên Đá cáo quan về Mỹ Hào Hưng Yên và chết già ở quê. Thiên Quan Đại tướng quân là Dũng, em là Bình Man đô nguyên súy về quê ngoại Trì La và tự sát, Chiêu Công Đại Tướng quân bỏ về An Viễn, Cửu Chân. Đại tướng Vũ Chiêu Tâm bỏ về quê ở Cao Viên (Hà Tây), Hoàng Minh Đại Vương, tướng thủy quân bỏ về Hoằng Hóa, Cửu Chân. Quốc Cữu Thánh Cả, Thánh Hai có chị là Dung Nương  phi tần của Thục Vương cũng bỏ về Kiến Xương - Nam Định làm ruộng. Đại tướng quân Nồi Hầu và hai con trai là Vinh lộc Đại phu Đống Công, Ly Vực Đại phu Vực Công cũng cáo quan. Đại công thần Đinh Công Tuấn (Đinh Toán) từ quan về quê Hữu Bố Hạ, Phong Châu (Phú Thọ), Đại tướng quân Phan Giác từ quan về Hải Dương, Thần Y đại tướng quân Vương Ứng can vua không được bỏ vào núi Tản Viên ở ẩn và không ai rõ tung tích từ đó. Triều đình Cổ Loa trống rỗng nhân tài, chỉ còn lại những kẻ bất tài vô dụng, xu nịnh, tham lam danh lợi. Còn An Dương Vương mê muội đặt quyền lợi gia đình lên quyền lợi Quốc gia dân tộc, mê muội về quyền lực, về tình thông gia hữu hảo giữa hai nước, hai gia đình. Con thuyền Âu Lạc đang quằn quại trong cơn bão táp của những mưu kế độc ác của ngoại bang.

VI -|- Vào một đêm mùa đông năm 179 trước công nguyên, bóng tối bao trùm toàn bộ lãnh thổ Âu Lạc, bao trùm toàn bộ kinh đô Cổ Loa. Vẫn như xưa, chín vòng thành đồ sộ đen sì cao lừng lững. Những ngọn đèn dầu tỏa ánh sáng vàng lay lắt, những rặng cây tán lá đen sì rủ trong bóng tối khua xào xạc. Những con thuyền chiến đậu trên sông đào quanh thành ngoài đen sì như những con chim khổng lồ đang ngủ, ánh đèn trên thuyền tỏa xuống nước lung linh. Gió mùa đông bắc thổi mạnh mang lại cái rét căm căm trong không gian tĩnh mịch.

  Trong căn phòng lộng lẫy sang trọng của Mỵ Châu, Trọng Thủy vẫn leo lắt ánh đèn. Đôi vợ chồng trẻ vẫn chưa ngủ. Kể từ khi lấy chồng đến bây giờ đây là đêm buồn nhất của công chúa Mỵ Châu vì nàng sắp xa Trọng Thủy một thời gian. Đã hai năm Trọng Thủy sang sống ở Cổ Loa với nàng, chàng chưa một lần về thăm nhà ở Phiên Ngung Nam Việt. Sớm hôm nay, chàng đã xin phụ vương An Dương Vương về nước thăm cha mẹ, phụ vương đã đồng ý. Mỵ Châu không muốn xa Trọng Thủy, nàng cũng xin đi cùng Trọng Thủy về Nam Việt nhưng Trọng Thủy và Phụ vương không cho. Cổ Loa đến Phiên Ngung đường đất quá xa, đi rồi lại về, thân gái dặm trường yếu đuối mệt nhọc gian nan vất vã. Lần trước, từ Phiên Ngung về Cổ Loa nàng ốm mãi, sức vóc hao gầy làm cho phụ vương, Trọng Thủy và Hoàng gia lo lắng hàng tháng trời. Cho nên lần này chỉ một mình Trọng Thủy hành trình mà thôi. Cả ngày hôm nay hai người phải chuẩn bị hành trang tiền bạc cho chàng đi đường. Buổi chiều lại dự bữa cơm đưa tiễn của hoàng gia. Đêm về hai vợ chồng mới được phút riêng tư cho mình.

  Đêm đã khuya, trống đồng trên thành Cổ Loa đã điểm canh ba. Mỵ Châu tựa người vào Trọng Thủy mà khóc. Trọng Thủy dỗ dành Mỵ Châu nhưng trong lòng hắn cũng đang rối bời. Hắn xin về thăm nhà chỉ là cái cớ. Trong hành trang bí mật của hắn là một bức thư dài của Triệu Ngung, viên chánh sứ Nam Việt đã đến Âu Lạc cùng 100 cao thủ võ lâm trong vai gia nô theo hầu Trọng Thủy. Chính Triệu Ngung đã giúp Trọng Thủy thực hiện những kế hoạch mà Triệu Đà đã giao cho khi Trọng Thủy đi ở gửi rể ở cổ Loa. Trong chuyến đi của Trọng Thuỷ về nước lần này là đưa bức thư tối mật do Triệu Ngung viết cho Triệu Đà. Trọng Thủy có hỏi Triệu Ngung sao không cử người khác về. Triệu Ngung đáp không thể để người khác đi thay vì chỉ có Trọng Thủy là Phò mã mới có thể qua cửa ải Âu Lạc nếu bị kiểm soát. Nếu để người khác mà không qua được hoặc thư bị phát giác thì bao nhiêu công lao hai năm trời hoạt động của nhóm gián điệp đổ xuống sông xuống biển. Thứ nữa, khi thư về là chiến tranh giữa Nam Việt và Âu Lạc bùng phát, Hoàng Thái tử ở Cổ Loa sẽ rất nguy hiểm đến tính mạng. Tất cả những lý do đều là chính đáng nên Trọng Thủy phải đi về.

  Nhưng còn nàng Mỵ Châu yêu quý của hắn? Hắn về Nam Việt là chiến tranh hai nước sẽ bùng nổ, nàng sẽ ra sao? Ai bảo vệ cho nàng? Dù hắn đã ra lệnh cho Triệu Ngung khi có chiến tranh bằng bất cứ giá nào cũng phải bảo vệ an toàn cho nàng. Tên chánh sứ đầy mưu kế gian manh đã hứa và thề thốt, nhưng những lời hứa của những kẻ gian manh thì tin thế nào được. Vả lại chiến tranh biến loạn tên bay đạn lạc gươm dao ai mà biết trước được điều gì. Trọng Thủy cảm thấy có tội với Mỵ Châu. Chính hắn đã và đang phá tan gia đình hạnh phúc của hắn, chính hắn đã và đang hành động đi đến chiến tranh xâm lược để giết chết nàng. Không, ta phải bảo vệ nàng, phải tìm cho được nàng dù chiến tranh có đưa nàng lưu lạc nơi đâu. Nghĩ như vậy Trọng Thủy thốt nhiên hỏi Mỵ Châu:

  -Ta về nhỡ chiến tranh bùng phát phân ly, nàng có thể rời Cổ Loa đến một nơi nào đó, ta biết tìm nàng ở đâu và làm sao mà tìm được?

  Mỵ Châu ngạc nhiên:

  -Sao chàng nói những điềm gở như vậy? Xa nhau một hai tháng rồi chàng trở về chứ đâu phải chia ly. Mà chiến tranh nào cơ?

  -Vì ta nhớ thương nàng nên nói gở vậy thôi. 

  Mỵ Châu nói:

  -Nếu chẳng may có chiến tranh loạn ly, thiếp có cái áo rét lông ngỗng, trên đường chạy thiếp sẽ rắc lông ngỗng làm dấu, chàng theo dấu vết đó mà tìm thiếp.

  Trọng Thuỷ buồn rầu đáp:

  -Đa tạ nàng, ta sẽ theo lông ngỗng mà quyết tâm tìm được nàng dù đi cùng trời cuối đất. Sau đó, ta và nàng sẽ sống hạnh phúc đến đầu bạc răng long, bách niên giai lão.

  Đêm khuya, hai vợ chồng thiếp đi trong sầu não. Họ mơ thấy những giấc mơ ma quái rùng rợn.

  Sớm hôm sau, trong làn gió mùa đông lạnh giá, một chiếc xe song mã có che lụa là gấm vóc màu hồng từ thành Cổ Loa đi theo hướng Bắc. Đó là xe đưa nàng Mỵ Châu tiễn Trọng Thủy về Phiên Ngung Nam Việt. Sau xe của Mỵ Châu là một xe của nữ tì, hai bên xe mỗi bên có 10 võ sĩ cưỡi ngựa đi kèm hộ tống bảo vệ. Dọc đường ngồi cạnh nhau trong xe, Trọng Thủy và Mỵ Châu không nói được gì với nhau. Mỵ Châu chỉ luôn khóc, nước mắt dàn dụa. Trọng Thủy cũng buồn bã liên tục thở dài. Gần trưa, xe dừng lại ở bờ Nam sông Cầu. Trọng Thuy, Mỵ Châu và hai thị tì xuống xe, đoàn võ sĩ xuống ngựa. Đôi phu thê chia tay nhau trong nước mắt bên bờ sông. Trọng Thủy lấy hết can đảm rời Mỵ Châu quay đi và bước xuống con thuyền đang cập bờ chờ đợi. Con thuyền rời bến ra xa. Mỵ Châu đưa khăn vẫy Trọng Thủy đang trên con thuyền đưa hắn sang bờ Bắc. Rồi Trọng Thủy lên bờ, lên ngựa, quay lại vẫy nàng và cùng đám tùy tùng biến dần vào trong gió bụi xa dần và mất hút trong không gian rộng lớn, nàng Mỵ Châu khi đó mới lên xe trở lại Cổ Loa trong buồn bã. Cuộc chia ly này thật là não nề, thê lương. Nàng quả thật đã yêu hắn vô bờ bến. Duyên phận giữa nàng và Trọng Thủy thật là trớ trêu và phũ phàng. Nàng không biết rằng người mà nàng tin yêu ra đi và khi trở lại Âu Lạc sẽ mang lại chiến tranh chết chóc, bất hạnh cho Cổ Loa, cho đất nước, cho phụ vương, cho hoàng gia và cho cả chính nàng.

  Do là Phò mã nên Trọng Thủy đã qua được những quan ải biên thùy của Âu Lạc và về đến kinh đô Phiên Ngung của Nam Việt. Buổi chiều và tối là tiệc tùng vui mừng của Hòang gia đón Trọng Thủy. Sau đó, dù đêm đã khuya, Trọng Thủy vẫn phải gặp cha trong phòng riêng của Triệu Vũ Vương. Trọng Thủy trao cho cha bức thư dầy cộm mà Triệu Ngung viết cho Triệu Đà. Trong khi Trọng Thủy ngồi uống nước, Triệu Đà mở thư ra đọc ngay. Thư viết: “Muôn tâu Chúa thượng, chúng thần và Hoàng thái tử vì nhiệm vụ chúa thượng giao nên xa đất nước đã hai năm. Tuy nhiên trong thời gian đó, chúng thần đã hoàn thành được tất  cả những nhiệm vụ mà chúa thượng giao phó:

  -Đã lấy được lòng tin của Thục Phán, đã làm cho Thục Phán mê muội hoàn toàn, tin vào sự thần phục, ngoảnh mặt về Nam xưng thần của Chúa thượng, tin vào tình nghĩa thông gia giữa hai họ, hai triều đình, tình hòa hảo hữu nghị vàng son của hai nước.

  -Đã hoàn thành việc chia rẽ nội bộ triều đình Âu Lạc, chia rẽ vua tôi, đã khiến cho hầu hết các bề tôi trung, các Đại thần văn võ tài năng của Âu Lạc bị Thục Phán giết, hoặc bị đuổi về quê hương, hoặc bị bức phải tự sát. Thành quả lớn nhất là đã khiến Thục Vương đuổi Đại tướng quân Cao Lỗ về quê ở bộ Vũ Ninh và bị vu cáo là làm phản và bị giết chết. Cao Lỗ là một tài năng lớn nhất của Âu Lạc, người cùng theo Thục Phán đánh bại 50 vạn quân Tần do tướng Đồ Thư chỉ huy sang xâm lược Văn Lang năm 218 trước công nguyên, người thiết kế xây dựng thành Cổ Loa được gọi là thành Ốc, người chế tạo nỏ liên châu bắn một phát được hàng trăm mũi tên gắn đồng, người đã làm cho Chúa thượng và quân ta tổn thất nặng nề và thất bại trong cuộc chiến tranh hai năm trước. Cao Lỗ là Đại công thần và là cây trụ cột lớn nhất của Nhà nước và triều đình Âu Lạc, người tỉnh táo nhất luôn đề phòng và biết rõ âm mưu của ta đối với Âu Lạc. Diệt  được Cao Lỗ là trừ được mối họa lớn cho Nam Việt, đặc biệt là trong cuộc chiến sắp tới. Ngày nay, trong triều đình Âu Lạc nói riêng và Âu Lạc nói chung không còn tướng tài, quan lại tướng lĩnh toàn bọn bất tài, tham lam, lại chỉ lo vơ vét cho gia đình và bản thân, chia bè kết phái tự làm hại lẫn nhau, tự làm hại đất nước. Triều đình Âu Lạc hiện nay  trống rỗng, thối nát như cây gỗ mục. An Dương Vương thì suốt ngày uống rượu đánh cờ, ngạo mạn, tai chỉ muốn nghe những lời xu nịnh ngợi ca. Tất cả đều tạo thời cơ cho ta chiến thắng Âu Lạc trong cuộc chiến tranh sắp tới. Một đất nước giết hại người tài, không dùng người tài, coi hiền tài như cỏ rác thì mất nước là lẽ đương nhiên, không thể tránh khỏi.

  -Đã hoàn thành việc do thám bí mật quân sự, những nơi đóng quân hiểm yếu, những địa điểm chiến lược quan trọng của Âu Lạc. Sau khi Cao Lỗ chết, An Dương Vương đã thay một loạt tướng ở các bộ, các địa phương. Những tướng lĩnh này phần lớn trẻ, bất tài và không có kinh nghiệm chiến đấu nhưng rất tham lam và cũng chỉ lo cho gia đình bản thân. Sức mạnh chiến đấu của quân đội Âu Lạc sa sút nghiêm trọng sau những vụ giết hại các tướng lĩnh tài năng thời Cao Lỗ. Đặc biệt, sức mạnh đáng gờm của quân đội Âu Lạc là những khẩu “Linh quang thần nỏ”, có sức mạnh sát thương ghê gớm nhưng rất to lớn cồng kềnh. Ở Cổ Loa thành vòng ngoài có khoảng 100 bệ đặt 100 khẩu “Linh quang thần nỏ”, một ‘Linh quang thần nỏ “ có 3 lính có kỹ thuật túc trực bắn và phục vụ bắn. Đây là vũ khí lợi hại để phòng thủ bảo vệ Cổ Loa.

  Nhưng Chúa thượng yên tâm, nỏ thần lợi hại nhưng phải có người sử dụng, quân đội Âu Lạc hùng mạnh nhưng nay tướng tài đã hết. Khi quân ta đến thành Cổ Loa, Chúa thượng cho bắn lửa sáng làm tín hiệu, 100 cao thủ của ta trong thành Cổ Loa sẽ hạ sát hết những quân sĩ trực để bắn nỏ trên thành ngoài, “Linh quang thần nỏ” sẽ bị vô hiệu hóa, quân ta không bị tổn thất như trong lần tấn công lần thứ nhất.

  Đọc đến đây Triệu Đà vỗ tay xuống bàn kêu lên sung sướng:

  -Thật là tuyệt diệu.

  Triệu Đà đọc tiếp:

  Thành Cổ Loa là thành xoáy trôn ốc, chín vòng thành nện bằng đắt sét dày vài trượng, cao hàng chục trượng nên rất khó công phá thành, Chung quanh thành lại có sông đào hai chiến thuyền dàn hàng ngang đi lại được. Trên sông đào vòng thành ngoài này có thủy quân Âu Lạc canh giữ. Ra vào thành là bốn cổng chính rộng vừa cho ba con ngựa dàn đi hàng ngang vào. Cửa cổng thành bằng gỗ lim nặng nề và kiên cố. Nối liền với cổng có bốn chiếc cầu gỗ rộng rãi qua sông đào để qua lại vào ra. Khi đến thành Cổ Loa, quân ta không bị đe dọa bởi nỏ thần nữa lập tức tiêu diệt thủy quân Âu Lạc ở sông đào quanh thành, người của ta sẽ hạ sát lính gác và mở toang cổng thành, Chúa thượng hãy cho quân nhanh chóng tràn vào thành chém giết, chắc chắn chiếm được thành. Chiếm được kinh đô thì Âu Lạc sẽ bị khuất phục, sự phản kháng của Âu Lạc trên toàn lãnh thổ không đáng kể.

Về số lượng quân đưa vào Âu lạc lần này, Chúa thượng không cần đưa nhiều quân vào sẽ gây ra sự đề phòng. Chúa thượng nên chọn 2 vạn quân tinh nhuệ cao thủ võ lâm, đi làm nhiều toán nhỏ, mặc thường phục, lấy cớ là người của Thái tử đến sửa chữa hành cung trang trại. 2 vạn quân tinh nhuệ này sẽ hợp nhất với 1 vạn quân mà ta đã bí mật hay công khai đưa vào các hành cung, trang trại của Thái Tử trên đất Âu Lạc  suốt 2 năm nay, tập kết ở hành cung gần Cổ Loa, nhất là bên kia bờ nam sông Cầu. Những chiến thuyền mà ta bí mật đóng ở hành cung này sẽ đưa các võ sĩ vượt sông và nhanh chóng tiến về thành Cổ Loa trong đêm càng nhanh càng tốt. Khi đó nội công ngoại kích chặt chẽ sẽ thu được thắng lợi.

  Trên đây là sơ bộ những điều kiện và kế hoạch tác chiến đánh Âu lạc lần hai. Mong Chúa thượng cùng thừa tướng Lữ Gia bàn bạc, hoàn thiện thêm kế hoạch và gấp rút tiến công, đừng bỏ lỡ thời cơ.

  Nay kính thư. Thần Triệu Ngung kính chúc Chúa Thượng an khang vạn tuế. Hẹn gặp và chiến thắng ở Cổ Loa-Âu Lạc”.

  Triệu Đà đọc xong thư, sự sung sướng vui mừng lộ ra trên nét mặt dài, nham hiểm và đầy tham lam của Triệu. Ông ta kêu lên:

  -Con trai Trọng Thủy giỏi lắm, Triệu Ngung giỏi lắm. Ta không chọn nhầm người.

  Trọng Thủy hỏi:

  -Phụ vương quyết tâm chiếm Âu Lạc ư?

 Triệu Đà đáp:

  -Đây là thời cơ chín muồi, nội công đã gần hoàn thành. Bây giờ đến lượt dùng sức mạnh quân sự để quyết định thành công.

  Trọng Thủy buồn rầu nói:

- Nếu có chiến tranh phụ vương phải ban bố lệnh cho quân đội phải bảo toàn tính mệnh cho Mỵ Châu. Phụ vương đã hứa rồi. Chính phụ vương nói con sẽ được cả Âu Lạc và Mỵ Châu.

-Ta đã hứa là làm, con yên tâm. Ta phải đi nghỉ một chút, ngày mai còn bàn với thừa tướng Lữ Gia để hoàn thiện kế hoạch xuất quân đánh chiếm Âu Lạc.

Đêm về khuya. Trống trên thành Phiên Ngung đã điểm canh ba. Sau khi về  tới phòng Trọng Thủy chìm vào giấc ngủ đầy mộng mị đẫm máu và nước mắt của hắn và nàng Mỵ Châu…

                                                                     *

      Một buổi sáng mùa đông, thành Cổ Loa chìm trong giá rét. Cây cối trong thành lá vàng rơi tơi tả, chỉ còn lại những cành khẳng khiu nhô lên dưới bầu trời âm u. Trên không trung, vài đàn chim mải miết bay về phương Nam tránh rét. Chung quanh thành, lúa vụ mùa trên những cánh đồng xen lẫn với làng xóm cây cối um tùm uốn quanh. Trên dòng sông đào quanh thành những con thuyền chiến như ngủ say dập dờn trên nước. Sông Hoàng Giang và xa xa là sông Hồng đang cuồn cuộn tuôn nước về đông. Núi Ba Vì, Tam Đảo, Tản Viên xa mờ đầy sương trắng.

  Trong cung điện của triều đình Âu Lạc, An Dương Vương đang thiết triều. Lâu lắm rồi An Dương Vương say mê rượu và cờ gần như bỏ bễ triều chính, không thiết triều. Nhưng thời gian gần đây đã có nhiều tin đồn từ biên cương và miền Bắc đất nước đưa về. Tin về những hoạt động của người Nam Việt. Nhiều tốp người Nam Việt, mỗi tốp hàng nghìn trai tráng khỏe mạnh đã đột nhập vào Âu Lạc, dân chúng rất hoang mang lo sợ nên An Dương Vương hôm nay phải thiết triều để nghe trình tấu.

  An Dương Vương nhìn xuống hàng ghế các đại thần. Hầu hết là những người mới do Thừa tướng Lạc Hầu tiến cử. Lứa Đại thần tài giỏi, trung quân ái quốc thời Cao Lỗ nay không còn. An Dương Vương biết thế hệ thay thế họ ngồi kia là những kẻ bất tài, tham lam, không vì dân vì nước, chỉ kéo bè kéo cánh bon chen vì lợi ích cá nhân, lợi ích gia đình. Nhưng không sao, An Dương Vương vẫn là đấng vương quân đầy quyền lực, lỗ tai ông hàng ngày được nghe những lời ca tụng, tâng bốc vô liêm sĩ, giả dối. Nhưng không hiểu sao, những lời đó vẫn làm cho An Dương Vương ngây ngất, sung sướng trong ánh hào quang giả dối đó. An Dương vương hỏi:

-Các chư vị có gì trình tấu không?

  Lạc Hầu thừa tướng đứng dậy thưa:

  - Dạ, bẩm Thục Vương, trong 10 ngày qua, tin tức từ biên cương và phía Bắc báo về có nhiều dân phu người Nam Việt xâm nhập vào Âu Lạc, mỗi đợt có đến hàng nghìn người. Quan biên ải của ta hỏi thì họ nói rằng là gia nô của Nam Việt được Phò mã Trọng Thủy đưa sang để làm việc ở các hành cung và trang trại của Phò mã trên đất Âu Lạc.

An Dương Vương vừa như nói vừa như hỏi:

-Sao hành cung và trang trại của Phò mã cần nhiều người vậy? Nay những gia nô đó ở đâu?

  -Dạ, hàng nghìn người đó đã phân tán về các hành cung và trang trại của phò mã ở Chi Lăng, ở Vũ Ninh, bộ Dương Tuyền và ở bộ Giao Chỉ.

  -Họ làm gì trong đó?

  -Dạ, trong các hành cung và trang trại của phò mã đã từ lâu người Âu Lạc không được vào, kể cả các nhà chức trách và quan viên.

  -An Dương Vương nói nhỏ:

  -Cái thằng Phò mã Trọng Thủy này thực là… Nó làm gì vậy không biết nữa. Chắc là phò mã có công việc của nó. Nó đã trưởng thành rồi, đã biết lo lắng làm ăn rồi.

  Bọn đại thần trong triều đồng thanh:

  -Dạ phải, Thục Vương anh minh.

  An Dương Vương cười. Cả triều đình chìm trong không khí xu nịnh, dễ chịu. Bỗng một viên quan  chạy vội vào lo sợ hớt hãi:

  -Dạ bẩm Thục Vương nguy to rồi, 3 vạn quân Nam Việt đã vượt qua sông Cầu đang tiến vào bộ Giao Chỉ và tiến vào Cổ Loa!

  An Dương Vương hỏi:

  -Chúng từ biên giới vào sao thám mã của ta không ai biết?

 -Dạ, trước đó chúng chia lẻ từng toán xâm nhập Âu Lạc, ta có biết nhưng chúng nói là người của phò mã sang hành cung và các trang trại để phục dịch. Bọn mới sang này nhập với bọn đã sang 2 năm trước đây ở các hành cung và trang trại nên quân số lên đến 3 vạn người mà ta không biết.

  -Vũ khí chúng lấy từ đâu?

  -Khi sang chúng chỉ mang dao ngắn nói là để dùng cá nhân. Khi đến các hành cung mới được trang bị kiếm, cung giáo mác do các hành cung và trang trại bí mật sản xuất.

  -Thuyền bè đâu mà chúng vượt sông Cầu sang bờ Nam?

  -Dạ chúng vượt bằng bè luồng đã được chuẩn bị bí mật trong hành cung và trang trại ở bộ Vũ Ninh và Giao Chỉ trên bờ sông Cầu.

  An Dương Vương tức giận gầm lên:

  -Hừ, thằng Triệu Đà phản phúc, hắn không sợ nỏ thần của ta sao?

  An Dương Vương hỏi:

  -Ai có kế sách gì chống giặc?

  Cả triều đình im lặng

  An Dương Vương gằn giọng:

  -Ai dám đem quân ra phá giặc?

  Triều đình vẫn lặng im như hến.

  An Dương Vương tức giận:

  -Ngày thường các ngươi ngon ngọt, chỉ lo vinh thân phì gia, tranh giành danh lợi. Nay Quốc gia có đại sự nguy nan sao lại như đàn bà vậy? May sao ta có thành Cổ Loa chắc chắn hiểm trở khó công phá, đặc biệt là có “Linh quang thần nỏ” với sức mạnh phi thường. Nay lệnh cho bộ binh rút hết vào giữ thành để khi lâm trận nỏ thần không làm bị thương quân ta. Chờ cho quân địch đến bao vây thành, ta sẽ dùng linh quang thần nỏ đồng loạt tiêu diệt chúng.

An Dương Vương ra lệnh tiếp:

  -Đại tướng quân Thục Trung lên mặt thành vòng ngoài cùng và điều động tất cả đơn vị xạ thủ bắn và phục vụ 100 nỏ thần lên mặt thành chiến đấu. Bộ binh phải giữ vững thành trì, khi quân Nam Việt bị nỏ thần tiêu diệt kiệt quệ thì phản công ra ngoài truy kích tiêu diệt quân địch.

am-mc-2-1629941226.jpg
Am Mỵ Châu có một bức tượng đá kỳ lạ mang dáng dấp một phụ nữ ngồi xếp bằng tròn, hai tay buông dọc, bàn tay đặt trên gối và không có đầu. Nguồn: Internet.

  Thành Cổ Loa suốt ngày ồn ào trong tất bật chuẩn bị chiến đấu. Dân chúng sợ hãi nấp trốn  trong nhà, quân đội đi ra đi vào, đi lên đi xuống rầm rập. Đêm trùm xuống và khuya dần, chuyển sang canh ba. Bên ngoài thành Cổ Loa tiếng ầm ầm của ngựa hí quân reo của hàng vạn bộ binh và kỵ binh Nam Việt đang tiến vào bao vây Cổ Loa bốn mặt. Thốt nhiên, trong màn đêm từ phía quân Nam Việt có hàng trăm mũi tên mang mồi lửa bốc cháy bay lên không trung. Quân Âu Lạc trong thành không biết đó là tín hiệu gì nhưng bọn 100 cao thủ của Trọng Thủy nằm bên trong Cổ Loa đã hai năm thì chúng hiểu đó là tín hiệu hành động phối hợp với bộ binh, kỵ binh bên ngoài. Lập tức trên không trung vòng ngoài thành Cổ Loa, 100 bóng đen bịt mặt, tay mang gươm sà xuống các bệ nỏ thần và giết chết nhanh gọn các xạ thủ. Mỗi xạ thủ bị cứa một nhát vào cổ gục xuống chết bên nỏ hoặc gục xuống đất, máu me đầm đìa, kể cả Đại tướng quân Thục Trung cũng bị giết chết trên mặt thành. Bọn Nam Việt sát nhân này còn dùng búa phá tan các nỏ thần uy lực. Các nỏ thần uy lực đầy sức mạnh đã biến thành những đống tre và gỗ mục. Sức mạnh phòng thủ uy lực nhất của Âu Lạc đã bị tiêu diệt nhanh chóng nhờ nội công bên trong. Sau đó, bọn sát thủ đã  xuống mặt đất bên trong thành vòng ngoài trà trộn và nhanh chóng tiêu diệt quân Âu Lạc canh cổng. Những cánh cổng thành nặng nề bằng gỗ lim như những bức tường mở toang ra. Những đóm lửa được bắn ra, đó là tín hiệu của 100 tên cao thủ báo cho quân Nam Việt tiến vào. Quân Nam Việt rùng rùng tiến vào đốt các chiến thuyền của Âu Lạc trên sông đào, vượt qua các cây cầu và tiến vào thành Cổ Loa.

 An Dương Vương đang theo dõi  diễn biến ở lầu cao vòng thành trong cùng. Ông ngạc nhiên quân Nam Việt đã trong tầm tiêu diệt sao nỏ thần không bắn. Đúng khi đó một thám mã về báo:

  -Dạ bẩm Thục Vương, toàn bộ các xạ thủ ở 100 bệ phóng nỏ thần đã bị bọn gia nô của Phò mã giết chết, kể cả Đại tướng Thục Trung. 100 nỏ thần cũng đã bị chúng phá tan hoang.

  Nỏ thần bị phá, xạ thủ điêu luyện bị giết, sức mạnh to lớn để phòng thủ Cổ Loa không còn. An Dương Vương khi đó thực sự hoảng loạn. Đang khi đó một thám mã lại về cấp báo:

  -Da, bẩm Thục Vương, 100 tên cao thủ võ lâm đó đã giết hết lính giữ cổng thành của ta và mở toang cửa, hiện quân Nam Việt đang như nước tràn vào chém giết dân lành. Quân ta chống cự không nổi và hi sinh gần hết.

  An Dương Vương bủn rủn chân tay, mắt trợn ngược:

  -Ta đã trúng gian kế của Triệu Đà rồi. Than ôi!!!

 An Dương Vương nhìn quanh. Trống đồng thúc ngũ liên dồn dập vang vọng khắp Cổ Loa báo hiệu kinh đô nguy biến. Quân Nam Việt đông như kiến cỏ tràn vào bốn mặt thành Đông Tây Nam Bắc vung gươm giáo chém giết quân dân Âu Lạc. Quân Âu Lạc chống cự một cách tuỵệt vọng và gục xuống những vũng máu bên cạnh đồng đội và nhân dân Cổ Loa. Quân và dân Âu Lạc bị chết theo đủ kiểu, kiểu bị cụt đầu, kiểu bị kiếm xuyên qua ngực, kiểu bị chặt đôi người… Thây người lớn và trẻ em chồng chất ngổn ngang. Máu chảy thành suối. Tiếng sắt thép chạm nhau đanh chát và tóe lửa, tiếng reo hò man rợ của quân giết người chiến thắng, tiếng chân chạy rầm rập. Rồi Cổ Loa bốc cháy. Bọn 100 tên gia nô sát thủ đã thuộc hết thành Cổ Loa như trong nhà của chúng, chúng đốt kho quân lương, đốt xưởng đóng chiến thuyền, xưởng gỗ chế tạo nỏ liên châu, đốt kho chứa dầu ép bằng trái cây để làm dầu thắp sáng… Thành Cổ Loa biến thành biển lửa, Cư dân không bị địch giết thì cũng chết cháy và chết vì khói ngạt. Chúng xông vào hoàng cung vơ vét vàng bạc. Cổ Loa ngập chìm trong máu và lửa tang thương.

  An Dương Vương như đang trong giấc mộng kinh hoàng chợt tỉnh giấc, nhớ tới hoàng gia và Mỵ Châu, vội chạy đến phòng Công chúa. Mỵ Châu đang ngồi tựa vào tường gào khóc, khiếp sợ. An Dương Vương vào nắm cánh tay Mỵ Châu và nói:

Ta chạy thôi con.

  Mỵ Châu trên tay cầm chiếc áo mùa đông lông ngỗng và chạy theo cha. Hai cha con lên ngựa tìm lối thoát ra ngoài thành. Lính ngự lâm khoảng chục người phi ngựa hộ tống nhưng họ đã ngã xuống bởi các mũi tên hoặc mũi giáo của quân Nam Việt. Cũng may khi đó trời đã sáng rõ nên binh lính Nam Việt trông thấy rõ Mỵ Châu. Chúng đã được lệnh của Trọng Thủy nên la lớn truyền cho nhau:

-Không được làm bị thương và giết Thái tử phi!

Nhờ vậy, ngựa của An Dương Vương thoát ra ngoài thành. Ngựa phi nước đại về hướng Nam. An Dương Vương ngoảnh đầu nhìn lại, thành Cổ Loa chìm trong máu lửa chết chóc. Cảnh tượng đó làm chấn động suốt một vùng rộng lớn của đồng bằng sông Hồng. Tiếng vó ngựa, tiếng quân reo, những làng mạc sông ngòi đồng ruộng của Âu Lạc hiện ra  và lùi dần về phía sau vó ngựa của hai cha con An Dương Vương. Trên mình ngựa, những chiếc lông ngỗng từ tay công chúa Mỵ Châu rút ra từ chiếc áo của nàng và bay trắng xóa về phía sau trên con đường hai cha con đang chạy trốn. Nàng vẫn đang thực hiện lời hứa của nàng với Trọng Thủy. Lông ngỗng sẽ là dấu hiệu duy nhất để Trọng Thủy tìm lại nàng trong cảnh lọan ly. Nhờ có dấu lông ngỗng, Trọng Thủy và đội quân của hắn vẫn bám đuổi được hai cha con Mỵ Châu sát phía sau. Con ngựa cường tráng đã đưa Thục Vương và Mỵ Châu chạy qua bộ Giao Chỉ, qua bộ Cửu Chân và bắt đầu đến địa đầu của bộ Nhật Nam. Ngựa đã chạy một mạch hai ngày một đêm. Ngựa đã bắt đầu chùn bước, nó đi chậm rải. An Dương Vương nhìn một bên là biển cả mênh mông, một bên là miền đồi núi hoang vu. Tiếng vó ngựa và hò reo của quân giặc vẫn chấn động phía sau. An Dương Vương bất ngờ nhìn lại phía sau. Từ tay Mỵ Châu, đứa con mà An Dương Vương yêu quý nhất hoàng gia, những chùm lông ngỗng trắng xóa rải xuống chỉ đường cho giặc. Bây giờ An Dương Vương đã hiểu vì sao chạy suốt hai ngày đường ròng rã mà giặc vẫn đuổi sát phía sau. An Dương Vương vô cùng tức giận rút gươm ra quát lên như sấm:

-Sao con lại phản lại ta?

Trong ánh sáng chớp lòe của lưỡi gươm đưa ngang cổ, Mỵ Châu chỉ kịp kêu lên thảm thiết:

-Con không phản cha, con…

Tiếng kêu đứt đoạn vì đầu nàng Mỵ Châu đã lìa khỏi cổ, rơi xuống đất. Con ngựa cũng gục xuống cùng với thân mình nàng Mỵ Châu. Hai mắt con ngựa trung thành chảy ra hai dòng nước. Nó cũng ngừng thở. Nó nhìn An Dương Vương như oán trách.

Nước mất, nhà tan, gia đình không biết còn ai sống sót. Đứa con gái mà ông yêu thương nhất lại bị chính lưỡi gươm của ông giết chết một cách oan nghiệt. An Dương Vương không ngờ chỉ có hai ngày mà ông mất hết và chịu đến tận cùng đau khổ bi thương của một kiếp con người. Ông hiểu con gái ông không phản ông mà nó chỉ muốn chỉ đường cho Trọng Thủy tìm được nó để vợ chồng xum họp. Ông quỳ xuống bên thi hài con gái, đầu đã lìa khỏi cổ, máu me đầm đìa. Chỉ có đôi mắt của nàng vẫn mở to trong sáng nhìn lên khoảng  trời âm u như không hiểu vì sao một người vợ yêu chồng mà vẫn phải chết thảm thương. An Dương Vương vuốt mắt nàng và khóc:

-Con ơi, con không phản cha mà tội là ở cha. Nhà tan nước mất và cả cái chết của con là do cha. Cha đã đem con gã bán cho loài ngoại bang lang sói, đã quá tin vào tình thông gia, tình hữu hảo của hai nước, đã rước lang sói vào nhà, đã đặt việc nhà lên trên việc nước, đã không nghe lời can gián của những trung thần như Cao Lỗ, lại còn bức hại họ. Cha đã có tội với con, với muôn dân Âu Lạc, với những bậc trung thần, với Tổ tiên, với xã tắc, với các vua Hùng.

An Dương Vương định chôn cất cho Mỵ Châu nhưng vó ngựa của quân Nam Việt đã đến rất gần. An Dương Vương đứng dậy vuốt mắt cho con, vuốt mắt cho con ngựa trung thành rồi ông đi ra biển. Từ nơi bờ biển An Dương Vương nhìn lại đất nước Âu Lạc tươi đẹp lần cuối và ông đi ra xa, xa mãi và mất dần trong sóng biển đại dương mênh mông của biển miền Trung. Vùng mà công chúa Mỵ Châu và An Dương Vương ra đi có tên là Mộ Dạ, Diễn Châu thuộc Bộ Hoài Hoan, miền Trung Âu Lạc.

Trọng Thủy và đám tùy tùng của hắn theo dấu lông ngỗng tìm được đến nơi thì nàng Mỵ Châu đã đầu lìa khỏi cổ, thân mình đẫm máu bên cạnh con ngựa của An Dương Vương chết vì kiệt sức. Trọng Thủy xuống ngựa ôm lấy xác Mỵ Châu và ngất đi. Một canh giờ sau, Trọng Thủy tỉnh lại, nước mắt dàn dụa, miệng lảm nhảm:

-Phụ Vương Triệu Vương lừa dối ta. Nàng đã chết vì ta. Phụ vương được Âu Lạc nhưng ta không còn Mỵ Châu. Phụ vương lừa dối ta.

Rồi Trọng Thủy ra lệnh khâm liệm Mỵ Châu và đưa về mai táng ở Cổ Loa. Vài hôm sau khi mai táng cho Mỵ Châu, Trọng Thủy  nhảy xuống giếng ở Cổ Loa tự vẫn. Chính trị và chiến tranh thật là tàn bạo, kể cả con cái kẻ đầu sỏ gây chiến cũng trở thành nạn nhân thảm khốc.

Sau khi Cổ Loa thất thủ, Âu Lạc bị sáp nhập vào Nam Việt. Triệu Đà chia Âu Lạc thành hai quận: Giao Chỉ và Cửu Chân, cử quan Thái thú đến cai trị. Năm 111 trước công nguyên, triều đình Phiên Ngung và Nam Việt bị nhà Hán xâm chiếm. Âu Lạc bị nhà Hán, tiếp đó là các triều đại phong kiến Trung Quốc như Đông Ngô, Tấn, Lương, Tùy, Đường, Nam Hán thống trị, áp bức, bóc lột, đồng hóa hơn 1000 năm. Cho nên Cổ Loa thất thủ năm 179 trước công nguyên là mở đầu một thời kỳ bi thảm lâu dài trong lịch sử của người Lạc Việt và Âu Việt.