An Nam đô hộ phủ thuộc Đường năm 761, bình minh đang thức dậy rải ánh nắng ban mai xuống Đường Lâm thuộc Phong Châu. Đồi núi cao thấp đủ hình thù kỳ quái chìm trong màu xanh cây lá, mơ màng xạc xào trong gió. Những thung lũng lúa đang thì con gái của vụ chiêm xanh ngát. Mây trôi lơ lững trên bầu trời đi lang thang. Vài đàn chim tung cánh bay về phương Nam xa xôi. Có tiếng cuốc kêu trong đồi xa gọi hồn nước khản cả cố, tiếng ve than khóc trên cành thảm thương. Một con đường nhỏ um tùm cây lá dẫn vào một ngôi nhà lợp ngói, tường gạch ngã sang màu xám. Cạnh ngôi nhà ngói ba gian là gian bếp lợp tranh tre vuông góc với nhà chính, nối liền phía trước nhà là cái sân gạch nhỏ, cạnh sân là một giếng nước, vài cây cau nhô cao vổng lên trời lắc lư theo gió như sắp gãy. Góc vườn, vài ba cây mít đang sai quả, vài bụi tre đưa kẽo kẹt với gió thổi xạc xào. Một con chó vàng gầy nằm giữa sân, mắt lim dim như ngủ, vài con gà chạy quanh vườn kiếm ăn cục tác.
Chủ nhân ngôi nhà này là Đỗ Hàn Anh, khoảng 30 tuổi, người gầy dáng thư sinh, khuôn mặt khôi ngô tuấn tú, khoác áo dài nâu, tóc búi cao. Cha mẹ Đỗ Hàn Anh làm nghề nông nhưng Đỗ Hàn Anh được học ít chữ Nho và đọc được nhiều sách, cho nên được gọi là trí thức của vùng Đường Lâm, xóm làng gọi Đỗ Hàn Anh là Nho sĩ, là anh đồ. Thực ra chàng cũng chưa đi thi bao giờ. Mà dưới chế độ nhà Đường, trí thức Việt đi thi thực là khó khăn. Thi trạng nguyên, tiến sĩ phải khăn gói gạo tiền đến kinh đô nhà Đường là Trường An bên tận Trung Quốc, xa 12.000 dặm đường theo đường chim bay mà chưa chắc đã đỗ, đỗ xong chưa chắc đã được bổ nhiệm làm quan, nhưng trước hết là không có gạo tiền để ăn học và đi thi. Chế độ dị tộc này chưa chắc đã trọng dụng nhân tài, nhất là nhân tài đó không phải là người Hán.
Gia nhân của Đỗ Hàn Anh đem cho chủ nhân một ấm nước chè xanh buổi sáng theo thường lệ. Đỗ Hàn Anh rót và bê bát nước uống một ngụm, đôi mắt lim dim thưởng thức hương vị đậm đà của nước lá chè xanh trên những đồi của vùng Đường Lâm ngon có tiếng. Không hiểu từ bao giờ ai đặt cho quê hương chàng cái tên Đường Lâm. Đường Lâm có nghĩa là rừng ngọt như đường, có nghĩa là chè ngọt như đường, có nghĩa là đường rừng. Không biết nghĩa nào đúng. Nhưng với Đỗ Hàn Anh chè ngọt như đường là đúng nhất đối với những người nghiện nước chè lá xanh quê hương.
Đỗ Hàn Anh đang lim dim thưởng thức hương vị của chè và say mê trong suy tưởng thì con chó vàng gầy ngoài sân gừ gừ và sủa toáng lên. Chàng nhìn ra thì thấy một người cao lớn, lực lưỡng, mặt mày như một võ quan, mặc áo dài màu nâu, đầu buộc khăn nâu, tay nải màu nâu trên lưng đang đứng chờ chủ nhân xua chó. Đỗ Hàn Anh bước ra và bảo:
-Vàng, đi vào!
Con vàng mừng rỡ nhìn chủ nhân phe phẩy cái đuôi và đi ra góc sân nằm quan sát. Người khách chắp tay thi lễ:
-Xin chào Hàn tiên sinh
Đỗ Hàn Anh đáp lễ:
-Không dám, không dám. Đại nhân tìm nhà ai?
-Tại hạ tìm nhà Đỗ tiên Sinh.
-Chính là tại hạ, Đỗ Hàn Anh.
Đỗ Hàn Anh dẫn khách vào bàn trà, chủ khách an tọa. Đỗ Hàn Anh rót nước ra một bát khác:
-Mời đại nhân xơi nước.
Khách bê bát nước chè xanh còn bốc khói uống một hơi ngon lành, đặt bát xuống bàn và nói:
-Chè Đường Lâm có khác, ngon quá.
Đỗ Hàn Anh rót tiếp một bát nữa và hỏi:
-Đại nhân tên gì? Tìm tại hạ có việc gì?
Người khách uống nước tiếp. Bây giờ thì không tu một hơi mà uống từng ngụm, sau đó đặt bát xuống bàn và nói:
-Tiên sinh đừng gọi là đại nhân gì gì nữa, nghe khách sáo xa lạ, cứ gọi là huynh hay đệ gì đó. Tại hạ tên là Bồ Phá Lặc, có khi còn gọi là Bồ Phá Cần, năm nay 35 tuổi, người Ái Châu. Ở Ái Châu, quan lại tay chân nhà Đường, mà cụ thể là tay chân của quan đô hộ Cao Chính Bình tàn bạo, tham lam, hà hiếp dân mình quá đáng. Tôi không chịu nổi nữa mới ra đây nhờ Đỗ tiên sinh tiến cử tôi với Phùng đại nhân để lo việc lớn.
Đỗ Hàn Anh nói:
-Tại hạ 30 tuổi, vậy tại hạ kém tuổi hơn, phải gọi đại nhân là huynh. Bách tính khổ vì giặc nhà Đường mà cụ thể là Cao Chính Bình và tay chân của hắn thì không chỉ có Ái Châu mà toàn thể An Nam Đô hộ phủ. Khắp nơi dân chúng rên xiết căm thù, muôn vùng dậy mà xé xác chúng ra. Nhưng muốn vùng dậy thì phải có người lãnh đạo, trung tâm lãnh đạo tổ chức. Sau sự nghiệp của Mai Hắc Đế, bây giờ trong khắp An Nam thì trung tâm đó bây giờ là ở Đường Lâm của anh em họ Phùng mà thôi.
Bồ Phá Lặc hỏi:
-Nghe nói cơ nghiệp ngày nay của ba anh em họ Phùng đã được cụ thân sinh là Phùng Hạp Khanh chuẩn bị từ vài chục năm nay rồi. Nghe nói cụ có tham gia khởi nghĩa của Mai Hắc Đế, làm tới Đại tướng, Tổng trấn Phong Châu phải không?
Vấn đề Bồ Phá Lặc đặt ra khơi đúng vào dòng hưng phấn và tự hào của Đỗ Hàn Anh. Đỗ Hàn Anh nói:
-Đúng rồi, huynh hiểu biết chính xác. Khi Mai Hắc Đế vừa khởi sự được một năm, năm 713 cụ Phùng Hạp Khanh đã vào Diễn Châu để tham gia. Cụ đã đem theo ba người cháu gọi cụ bằng bác. Tức là ba người này là con của em gái cụ Phùng Hạp Khanh là cụ Phùng Thị Thảo. Cụ Phùng Thị Thảo kết hôn với cụ Phạm Huyền sinh ra Phạm Thị Uyển, người thứ hai là Phùng Huy, người thứ ba là Phùng Miễn. Cụ Phùng Hạp Khanh được Mai Hắc Đế phong là Đại tướng, Tổng trấn Phong Châu, cháu gái Phạm Thị Uyển được phong là Đại tướng, đệ nhất cung phi, chỉ sau hoàng hậu Đinh Ngọc Tô. Năm 714, khi Mai Hắc Đế tấn công thành Tống Bình đánh Quan đô hộ nhà Đường Quang Sở Khách thì Phùng Hạp Khanh là một trong các đạo quân được ở Gia Ninh để tạo thế cho thành Tống Bình.
-Còn cung phi Phạm Thị Uyển nghe nói hy sinh ở Tống Bình trong cuộc phản công của Dương Tư Húc năm 723
-Đúng vậy. Khi Dương Tư Húc và Quang Sở Khách tấn công từ Lục Châu và Hồng Châu, công chúa Ngọc Chân đã đem quân chặn địch ở Hồng Châu nhưng phần là do quân địch quá đông, thứ hai là chúng đi theo sông Bạch Đằng, sông Kinh Thầy lên Lục Đầu Giang, đánh tập hậu sau lưng nên quân ta đại bại phải rút về Tống Bình. Quân Đường truy sát về Tống Bình, gặp quân của Cung phi Phạm Thị Uyển, hai bên kịch chiến một trận lớn ở ngoài thành Tống Bình và cung phi Phạm Thị Uyển hy sinh. Cụ Phùng Hạp Khanh từ Gia Ninh Phong Châu có đem quân về ứng cứu cho cung phi Phạm Thị Uyển nhưng không cứu vãn được, cụ đành đem tàn quân rút về Đường Lâm và ở đây bí mật gây dựng cơ nghiệp từ đó cho đến nay.
-Thế còn Phạm Huy và Phạm Miễn
-Hai người cũng được phong đại tướng, làm việc ở triều đình Vạn An và cũng hy sinh khi thành Vạn An thất thủ năm 723.
Hai người lặng đi trong xúc động và uống nước. Một lát sau Bồ Phả Lặc lại hỏi:
-Sau năm 723 thì cụ Phùng Hạp Khanh xây dựng cơ nghiệp, chuẩn bị cho khởi nghĩa như thế nào?
Đỗ Hàn Anh giọng trầm hẳn xuống:
-Tôi là người cùng làng với cụ và với Phùng Hưng nên biết nhiều và rõ ràng về cụ. Sau khi triều đình Mai Hắc Đế sụp đổ, giặc Đường lại thống trị nước ta, cụ Phùng Hạp Khanh cho tất cả binh sĩ cất dấu vũ khí. Một phần binh sĩ thì cụ cho về quê, nhưng phần lớn đều xin ở lại thì cụ cho khai hoang, mở rộng diện tích đất làm ruộng, xây dựng gia đình, dựng vợ gả chồng cho họ. Do đó, nghề nông nghiêp ở Đường Lâm vô cùng phát triển. Dân nghèo đói từ các nơi di cư về đây đều được cụ cưu mang giúp đỡ, giúp cho ruộng đất, trâu bò, sau đó khai hoang mở đất, chăn nuôi trồng trọt. Có nhưng nơi xa xôi nhưng nghe tiếng tăm của cụ, kéo cả làng xóm về về đây lập làng mới. Đó là sự nghiệp hưng dân mở đất. Các vùng lân cận, các sách, các động, các mường kéo về ngày càng đông. Cụ Phùng Hạp Khanh ân cần đón tiếp, cho trâu bò, ngựa, giống lúa, giống gia súc, gia cầm ban đầu sau đó khai hoang, mở đất. Ngoài khai hoang mở đất, Phùng Hạp Khanh chú ý hướng mọi người khai mương, đào sông, xây dựng hệ thống tưới tiêu phục vụ cho đi lại và cho nông nghiệp. Cụ còn cho mở cả lò rèn để đào tạo thợ rèn nông cụ, rèn khí giới, mở các lò vật để rèn sức khỏe cho trai tráng, mở các thao trường để luyện bắn cung, nỏ, luyện võ nghệ. Phùng Hạp Khanh đã ra sức chuẩn bị trong 20 năm trời về nhân lực, vật lực cho cuộc nổi dậy của Phùng Hưng trong nay mai.
-Việc chuẩn bị của cụ Phùng Hạp Khanh là rộng lớn, sôi nổi như vậy, tại sao bọn quan đô hộ nhà Đường để yên?
-Chúng biết nhưng về lý chúng không làm gì được vì đó là chỉ là làm kinh tế để giúp đỡ người nghèo, để phát triển kinh tế nông nghiệp, một sứ mạng về danh nghĩa chính quyền cũng phải làm. Còn các hội hè, đình đám như vật, luyện võ chỉ là các trò chơi nâng cao sức khỏe, nằm trong phong tục tập quán người Việt. Chúng không có bằng chứng gì về việc làm trái quy định của chính quyền. Hơn nữa, các quan lại nhà Đường rất tham lam, cụ Phùng Hạp Khanh thường cống nộp cho chúng nhiều của cải vàng bạc, quà cáp nên chúng làm lơ. Chúng chỉ mong được bình yên vơ vét để hết nhiệm kỳ được về nước. Còn kẻ sang cai trị sau hậu quả thế nào thì kẻ đó phải chịu. Có lẽ vì thế, không có quan đô hộ nào báo cáo về triều đình Trường An tình hình ở Đường Lâm. Về bí mật, cụ Phùng Hạp Khanh đã tổ chức nên những đội dân binh rất mạnh để đề phòng quan binh nhà Đường bất ngờ trở mặt tấn công.
-Sao sinh thời cụ Phùng Hạp Khanh không khởi sự khi đã có một lực lượng mạnh như vậy?
Đỗ Hàn Anh uống ngụm nước, đặt bát xuống rồi nói:
-Khi gần cụ Phùng Hạp Khanh, tôi mới biết cụ có kiến thức chính trị và quân sự rất sâu sắc với hai chữ thời thế. Ví dụ, cụ phân tích một trong những nguyên nhân thất bại của Mai Hắc Đế, đó là do Mai Hắc Đế khởi nghĩa không gặp thời. Huynh đã biết triều Đường là một triều đại hưng thịnh bậc nhất trong các triều đại của Trung Hoa, Đặc biệt sau khi trừ khử được bè đảng của Võ Tắc Thiên. Trong triều Đường thời trị vì của Đường Huyền Tông lại là hưng thịnh nhất của hưng thịnh. Khởi nghĩa Mai Hắc Đế nằm trong thời đại cực thịnh của Đường Huyền Tông. Theo cụ Phùng Hạp Khanh, thời cơ khởi nghĩa của An Nam là lúc mà nhà Đường tan rã, Trung Quốc lắp lại sự phân liệt thành nhiều quốc gia như thời Nam -Bắc triều. Nhưng thời cụ Phùng Hạp Khanh thì thời thế chưa đến, cho nên sinh thời không thể khởi sự được.
Bồ Phá Lặc nói:
-Bái Phục, bái phục cụ Phùng Hạp Khanh và dòng họ Phùng Đường Lâm Phong Châu.
Đỗ Hàn Anh nói thêm:
-Dòng họ Phùng là một dòng họ có truyền thống hào trưởng và cự phách ở Đường Lâm này. Cụ Phùng Hạp Khanh là cháu sáu đời của cụ Phùng Trí Cái. Cụ Phùng Trí Cái từng là quan lang nổi danh ở đất Đường Lâm, từng được Đường Cao Tổ mời sang dự yến trong cung. Đó là niên hiệu Vũ Đức (618-626). Các đời sau của cụ Phùng Trí Cái cũng là những hào trưởng, những quan lang nổi tiếng ở đây. Phùng Hạp Khanh tham gia khởi nghĩa của Mai Hắc Đế từng được phong Đại tướng, Tổng trấn Phong Châu. Hiện nay, dân binh trong nhà của Phùng Hưng đã vài nghìn, tính cả cư dân các làng, các bản, các mường, các động, các sách thì lên đến hàng vạn, ruộng đất trâu, bò, gia súc, gia cầm không kể xiết.
-Thế còn ba con trai của cụ Phung Hạp Khanh có nối được chí tài năng của cha ông mình không?
Đỗ Hàn Anh kể:
-Phu nhân của Phùng Hạp Khanh là bà Sử Thị có con muộn. Sau khi cụ ông ở Vạn An Diễn Châu về, mãi khi ông bà 50 tuổi cụ bà mới mang thai, khi sinh ra một lúc được ba người con trai. Con cả là Phùng Hưng, tự là Công Phấn; con thứ hai là Phùng Hải, tự là Tư Hòa; người thứ ba là Phùng Dĩnh, tự là Danh Đạt. Đó là ngày 15-11-năm Canh Tý (761), năm nay ba người đã 18 tuổi. Cả hai ông, bà cụ thân sinh đã mất. Cả ba anh em đều có sức khỏe phi thường, tư chất lại thông minh, trong đó Phùng Hưng là người có sức khỏe và tư chất thông minh đặc biệt.
Bồ Phá Lặc nói:
-Tại hạ ở Ái Châu cũng nghe đồn về sức khỏe phi thường của ba anh em họ Phùng. Nghe nói Phùng Hưng còn đánh chết hổ bằng tay không, có thật không Hàn tiên sinh?
-Chuyện đó là sự thật. Có một hôm hai con trâu mộng húc nhau dữ dội không thể tách ra được. Phùng Hưng bước tới dạng chân, hai tay đặt lên hai đầu con trâu và đẩy ra hai phía. Hai con trâu tiếp tục định lao vào nhau nhưng bị hai tay Phùng Hưng đẩy ra. Hai con hầm hè nhau một lúc, cuối cùng đành phải rời khỏi cuộc chiến trước tiếng reo hò của mọi người. Phùng Hưng đã nổi tiếng khắp nơi từ đó rồi.
-Phùng Hưng còn nổi tiếng là đô vật giỏi. Tất cả các đô vật ở Đường Lâm hoặc ở các châu khác tới, kể cả những đô vật người Hán thường giở những trò hiểm ác nhất nhưng chỉ được vài hiệp là bị Phùng Hưng nhấc bổng xoay vòng trên đầu. Tất cả đều phải xin thua cuộc vì sợ Phùng Hưng ném xuống đất, không chết cũng què. Nhưng Phùng Hưng chưa ném ai xuống đất chết bao giờ, kể cả những đô vật người Hán.
Ngừng một lát Đỗ Hàn Anh kể tiếp:
-Nhưng sự việc làm cho Phùng Hưng nổi tiếng khắp thiên hạ là tay không giết hổ. Đường Lâm là vùng rừng rậm, nhiều hoang thú, cách đây hai năm xuất hiện một con hổ vằn to lớn, hung dữ, thường bắt trâu bò và bắt cả người, khắp vùng ai cũng hoảng sợ không làm ăn gì được. Anh em Phùng Hưng quyết tâm giết hổ cứu dân. Phùng Hưng cho làm hình nộm bằng rơm, mặc quần áo như người thật, đem đặt nơi hổ thường đi lại. Ban đầu hổ trông thấy người nộm lao vào cắn xé. Sau nhiều lần hổ đi qua nhưng không thèm cắn xé hình nộm nữa. Khi biết như vậy, một hôm Phùng Hưng chỉ đóng khố, trát bùn khắp người rồi đứng thế chỗ hình nộm. Hổ đi qua nhưng do mùi bùn không nhận ra được hơi người và cứ thế bước đi. Bất ngờ Phùng Hưng nhảy lên lưng hổ, ghì chặt và đấm những cú đấm trời dáng xuống đầu hổ. Hổ hoa mắt và đuối sức. Cuối cùng, với sự giúp sức của hai em trai, Phùng Hưng đã giết được hổ, trừ hại cho dân.
Bồ Phá Lặc chắp tay:
-Bái phục, bái phục. Thật là phi phàm, phi phàm.
Hai người mải chuyện trò, khi nhìn ra mái hiên thì thơì gian đã hết buổi sớm, sang trưa. Đỗ Hàn Anh nói:
-Cũng đã đến bữa cơm trưa rồi, không mấy khi huynh từ xa đến đây, xin mời huynh ở lại dùng bữa cơm rau đạm bạc với đệ. Cơm trưa xong nghỉ ngơi, chiều đệ sẽ cùng huynh đến bái kiến Phùng Hưng.
Bồ Phá Lặc chắp tay:
-Đa tạ, đa tạ. Cung kính tuân lệnh chủ nhân.
Rồi Đỗ Hàn Anh bảo gia nhân mua rượu, giết gà làm cơm đãi Bồ Phá Lặc.
IISáng hôm sau vẫn một ngày nắng đẹp ở Đường Lâm, nắng rải khắp núi đồi, cây cối làm phong cảnh màu xanh biếc càng lung linh. Nắng rải xuống những thung lũng lúa bạt ngàn bát ngát của điền trang của hào trưởng họ Phùng. Nắng rải xuống khu đại sảnh của trang viên càng làm cho những khu nhà thêm cổ kính sáng lạn. Những hàng cau cao vút nặng buồng quả và lá lắc lư như những cánh buồm trên không trung, xanh mát dưới trời, những gốc mít cổ thụ nặng quả gai xanh sù sì, những khóm tre đầy nắng gió lá xạc xào. Nhìn những tòa nhà ngói khang trang, cổ kính biết ngay đó là nơi ngụ cư của dòng họ Phùng cự phách đã sinh cơ lập nghiệp ở đất này hàng trăm năm.
Trong gian đại sảnh đường vẫn đặt những đồ vật như thời cụ Phùng Hạp Khanh, vẫn bàn thờ gia tiên họ Phùng đặt gian giữa, những bài vị, tay ngai, lư hương sơn son thếp vàng óng ánh, lung linh. Trước bàn thờ, một chiếc bàn kê ngang thấp hơn, nối liền bàn kê ngang là những bàn đặt dọc giữa hai dãy ghế tràng kỷ. Cả bàn và ghế đều bằng gỗ lim sến, chạm khắc hoa văn, chim muông hoa lá tinh xảo, với kỹ thuật khảm ngọc trai điêu luyện.
Sớm nay, có cuộc gặp mặt giữa Phùng Hưng với những nhân vật chủ chốt bàn về việc khởi nghĩa lật đổ chế độ thống trị của giặc Đường ở An Nam Đô hộ phủ. Trên bàn, các gia nhân đã đặt những ấm nước chè xanh và những bát sành màu nâu thẫm . Phùng Hưng ngồi ghế sau chiếc bàn ngang, đó là ghế chủ nhân. Ngồi ghế đó nhìn xuống những chiếc bàn và hai dãy tràng kỷ đặt dọc có thể hướng về mọi người. Gia nhân rót ra những bát nước chè xanh bốc khói, màu xanh vàng sóng sánh. Phùng Hưng bê bát và mời:
-Kính mời các huynh, đệ và các quý vị.
Các vị ngồi ở bàn dọc đáp lễ và cũng bê nước uống. Sau khi mọi người đã đặt bát xuống bàn, Phùng Hưng nói:
-Thưa các đại nhân, các huynh và các đệ, hôm nay chúng ta hội tụ về đây là bàn đại sự cứu đất nước, cứu bách tính thoát khỏi ách thống trị tàn bạo của giặc Đường mà cụ thể là của tên quan đô hộ Cao Chính Bình đã và đang gieo rắc ở xứ An Nam.
-Hôm nay chúng ta hân hạnh được đón một anh hùng hào kiệt mới về tụ nghĩa. Đây là đại nhân Bồ Phá Lặc, quê ở Ái Châu, mới về với chúng ta chiều hôm qua.
Bồ Phá Lặc đứng dậy chắp tay thi lễ. Mọi người cũng chắp tay thi lễ đáp lại. Mọi người quan sát thì thấy Bồ Phá Lặc đúng là dáng một võ tướng phi phàm, mặt vuông, tai dài, mắt lồi sáng như chớp. Phùng Hưng nói với Bồ Phá Lặc:
-Đại nhân hãy làm quen với các huynh đệ ở đây. Đây là Đỗ Hàn Anh, quê quán ở Đường Lâm, người biết chữ nhiều nhất trong số huynh đệ chúng ta nên được gọi quân sư.
Dù không xa lạ nhưng Đỗ Hàn Anh cũng chắp tay thi lễ chào mọi người. Mọi người chắp tay đáp lễ. Phùng Hưng nói tiếp:
-Tại hạ là Phùng Hưng, hiệu là Công Phấn, chủ nhân của trang viên ở Đường Lâm này.
Bồ Phá Lặc đã gặp Phùng Hưng chiều hôm qua do Đỗ Hàn Anh đưa tới, đã nhìn thấy Phùng Hưng, nhưng bây giờ Bồ Phá Lặc quan sát kỹ thì thấy Phùng Hưng cao to, lực lưỡng, mặt vuông môi dầy, mắt sáng, tiếng nói vang vang như chuông, sức khỏe phi thường. Phùng Hưng chỉ vào người ngồi ngay hàng đầu của ghế:
-Đây là đệ thứ hai của tại hạ, tên là Phùng Hải, tự là Tư Hòa.
-Đây là đệ thứ ba của tại hạ, tên là Phùng Dĩnh, tự là Danh Đạt.
Bồ Phá Lặc nhìn kỹ hai người em và Phùng Hưng, do tam sinh nên ba anh em giống nhau như đúc một khuôn, chỉ khác là Phùng Hưng có phong thái đĩnh đạc và khỏe mạnh hơn.
Phùng Hưng chỉ vào ba cô gái trẻ:
-Đây là ba cháu gái họ của tại hạ, gọi tại hạ bằng bác. Cháu này là Phùng Thị Mây, cháu đây là Phùng Thị Nga và còn cháu này là Phùng Thị Hoa. Ba cháu tuy là gái nhưng cũng biết chút võ nghệ côn quyền, múa kiếm bắn cung, cũng muốn đòi thực hiện chí lớn với các bác và các chú.
Ba cô gái chắp tay thi lễ với các chú, các bác.
Phùng Hưng nói:
-Bây giờ chúng ta bàn đến việc khởi sự. Lực lượng dân binh bí mật của ta cho đến nay có hai vạn, lương thực đủ ăn trong 6 tháng nhưng khi đã phất cờ khởi nghĩa thì trai tráng trong toàn An Nam sẽ tham gia đông đảo, có thể lên đến ba, bốn vạn người, có thể đánh thành phá lũy. Quân sư Đỗ Hàn Anh có kế gì không?
Đỗ Hàn Anh nói:
-Thời cơ cho chúng ta khởi nghĩa giành thắng lợi nay đã có. Trung Quốc chưa phân liệt thành nhiều nước nhưng do chính sách áp bức bóc lột dân tộc nên đã sinh ra biến loạn An Lộc Sơn và Sử Tư Minh (755-763). Hai cuộc chiến tranh làm Trung Quốc tổn hại không biết bao nhiêu sinh mạng và của cải vật chất nên nhà Đường bước vào suy yếu. Những vua giỏi của nhà Đường đã chết như Đường Huyền Tông, Đường Túc Tông và nay kế vị là Đường Đại Tông Lý Tự. Hậu quả lớn nhất là nền kinh tế bị tàn phá, đời sống nhân dân khổ cực. Chính quyền trung ương nhà Đường suy yếu thì thế lực của các Tiết độ sứ địa phương mạnh lên, đang chứa đựng mầm mống cát cứ phân liệt. Nhà Đường lúc này đang khắc phục hậu quả nội chiến nhưng cũng không phải một sớm một chiều mà xong được. Cho nên, chúa công có thể khởi sự vào lúc này lật đổ Cao Chính Bình là tạm thời thích hợp với thời thế.
-Thứ hai là muốn khởi sự thì phải có danh nghĩa, danh có chính thì ngôn mới thuận, phải có danh nghĩa để hiệu triệu bách tính đứng dậy, bên trong thì lấy quân lệnh để điều hành tướng sĩ để họ thi hành những nhiệm vụ của chiến tranh, thưởng phạt nghiêm minh thì mới điều hành được. Cho nên, chúa công phải tự phong cho mình là quân vương, sau đó lấy danh nghĩa quân vương phong chức vụ và giao nhiệm vụ cho các tướng, các tướng lấy danh nghĩa tướng soái mới điều hành được binh sĩ và tùy tùng. Hàng vạn người khi đó như một bộ máy cơ thể thống nhất, hành động vào mục tiêu diệt thù, giành quyền tự chủ và độc lập. Chức vụ không phải là một thứ quyền lực cho oai, một thứ trò chơi mà là dùng nó vào mục đích cao thượng là giải phóng bách tính.
-Thứ ba là ngày mai chúng ta khởi sự sẽ tấn công đâu trước? Trước mắt là tấn công huyện lỵ Mê Linh, sau đó là tấn công lên trị sở của Phong Châu là thành Gia Ninh. Giải phóng Phong Châu sẽ ảnh hưởng đến châu ki mi Vũ Định, thậm chí cả Giao Châu, từ đó bao vây và tấn công thành Tống Bình. Lấy thành Tống Bình thì chính quyền nhà Đường ở An Nam sụp đổ. Đó là vài lời thiển cận, mong chúa công suy xét.
Phùng Hưng hỏi:
-Các quý vị có cao kiến gì nữa không?
Bồ Phá Lặc nói:
-Tại hạ tán thành những cao kiến của quân sư Đỗ Hàn Anh. Tại hạ chỉ thêm rằng đã khởi sự với danh nghĩa quân vương thì nghi thức và tổ chức phải đàng hoàng và chặt chẽ. Lính tráng và tướng lĩnh phải có quân phục và kỷ luật, phải có cờ hiệu, phải có chiêng, trống, tù và để khi hành quân, khi lâm trận tạo nên khi thế động viên tướng sĩ.
Phùng Hải nói:
-Quân sư Đỗ Hàn Anh và đại nhân Bồ Phá Lặc nói chí phải, ngày mai chúng ta dựng cờ khởi nghĩa, nếu không nhỡ mất thời thế.
Phùng Hưng nói:
-Như vậy là để lấy danh nghĩa hiệu triệu bách tính và điều hành ba quân, tại hạ lấy hiệu là Đô Quân, phong cho Phùng Hải là Đô Bảo, Phùng Dĩnh là Đô Tổng, phong cho Đỗ Hàn Anh làm đại tướng quân sư, phong cho Bồ Phá Lặc làm đại tướng tiên phong, phong cho Phùng Thị Mây làm tướng hậu quân, phong cho Phùng Thị Nga làm tướng Trung quân, phong cho Phùng Thị Hoa là tướng phụ trách quân lương.
-Còn về vũ khí, cờ, quân phục, áo giáp, ngựa chiến, trống, chiêng, tù và trang trại chúng ta đã chuẩn bị nhiều năm nay. Tướng quân Phùng Thị Hoa
-Dạ, có mạt tướng.
-Ngay chiều và đêm nay, tướng quân cho mở tất cả các tổng kho phân phát vũ khí, quân phục, áo giáp, cờ, chiêng, trống cho các tướng lĩnh và quân sĩ, đồng thời chuẩn bị ngựa, yên cương cho hàng trăm ngựa chiến.
-Mạt tướng tuân lệnh.
Suốt chiều và đêm hôm đó trong trang trại rộng hàng nghìn dặm vuông của Đô Quân Phùng Hưng, trai tráng đông như hội tấp nập chuẩn bị lương thực, cơm nước, vũ khí, quân phục, cờ quạt, áo giáp, chiến mã, yên cương, chiêng trống. Sự chịu đựng đã hết, đã đến lúc vùng dậy lật đổ chế độ tàn bạo của ngoại bang để cứu lấy giống nòi.
IIISớm hôm sau, một ngày mới của tháng 3 năm 786 bắt đầu, vẫn một ngày nắng đẹp rải như tơ lụa xuống đồi núi muôn hình thù, muôn màu cây lá của Đường Lâm, thuộc Phong Châu. Nhưng hôm nay Đường Lâm đang bừng bừng khí thế. Trên một bãi rộng mênh mông thuộc điền trang của Đô Quân Phùng Hưng, hai vạn dân binh, những trai tráng nhà nông đã mặc quân phục màu nâu, áo giáp sắt, mũ sắt nhọn, chân đi dép da bò khô, lưng mang cung tên, lương thực, tay cầm vũ khí đủ loại gươm, giáo, dao, đại đao... Trên đầu họ, hàng nghìn lá cờ màu vàng mang chữ Đô Quân pháp phới bay vàng rực trong nắng. Còn hàng nghìn người lính mang cả trống da bò, tù và, chiêng là những thứ không thể thiếu để cổ vũ tinh thần trong xung trận. Họ xếp hàng dọc nhưng toàn bãi thì hàng vạn lính đứng thành một hình vuông nom oai phong và dũng mãnh. Đứng trước hàng quân là các tướng lĩnh mặc quân phục màu nâu, áo giáp đồng vàng, mũ đồng vàng, đi giầy da bò, lưng mỗi tướng mang một bộ cung tên, tay cầm những vũ khí sở trường như đại đao, kiếm, dao, ngồi trên những con ngựa nâu khỏe mạnh. Nổi bật là Đô Quân Phùng Hưng, mình mặc áo chiến bào màu vàng, áo giáp đồng màu vàng, mũ đâu mâu đồng màu vàng, chân đi giầy màu vàng, cưỡi con ngựa màu đen, tay cầm đại đao. Phía trên, một người lính tay cầm lá cờ lớn màu vàng viết chữ Soái đỏ rực. Ba nữ tướng Phùng Thị Hoa, Phùng Thị Nga, Phùng Thị Mây đều mặc chiến bào xanh, áo giáp đồng màu vàng, mũ đồng vàng, chân đi guốc màu đồng, lưng mang cung tên, tay mỗi người đều cầm song kiếm, cả ba đều cưỡi ngựa màu trắng. Chung quanh binh lính, bách tính Đường Lâm ra đứng tiễn đưa những người lính ra trận đông vòng trong vòng ngoài. Phía trước hàng quân và các tướng, một lá cờ màu vàng có chữ Đô Quân được treo trên cao, cờ được gió sơm mai thổi bay phần phật. Dưới cột cờ, người ta đặt một chiếc bàn cao, trên đặt nhiều lư hương cắm đầy hương đang cháy nghi ngút. Bên cạnh bàn, những bó đuốc với những ngọn lửa thiêng cháy rần rật. Phùng Hưng xuống ngựa, quỳ lạy làm lễ tế cờ, cầu tổ tiên thần thành đất Việt phù hộ cho nghĩa quân chiến thắng quân thù, làm tròn nghĩa vụ giải phóng đất nước, chiêng trống và tiếng tù và vang lên. Sau lễ tế cờ, chiêng trống im lặng, Phùng Hưng nói trước ba quân:
-Hỡi ba quân, hôm nay chúng ta vùng dậy rửa hận cho nước, cứu giống nòi bách tính, lật đổ chế độ tàn bạo của nhà Đường, giành độc lập dân tộc cho chúng ta và con cháu chúng ta thoát khỏi cảnh nô lệ, diệt vong, xây dựng một cuộc đời tự do, no ấm. Ba quân hãy tiến về công phá phủ đường Mê Linh, giải phóng quê hương, sau đó chúng ta tiến lên công phá thành Gia Ninh, giải phóng Phong Châu. Bản Đô Quân ra lệnh xuất phát!
Phùng Hưng dứt lời, chiêng, trống tù và vang lên. Hai vạn quân rùng rùng chuyển động, đi đầu là Đại tướng tiên phong Bồ Phá Lặc. Theo sau Bồ Phá Lặc là một vạn quân. Đi tiếp theo là trung quân có Đô Quân Phùng Hưng và các tướng trung quân như Đại tướng quân sư Đỗ Hàn Anh, tướng trung quân Phùng Thị Nga, lá cờ Soái bay phần phật. Theo sau trung quân là hậu quân gồm có Đô Bảo Phùng Hải, Đô Tổng Phùng Dĩnh và nữ tướng hậu quân Phùng Thị Mây, nữ tướng Phùng Thị Hoa. Quân đi, bụi cuốn mù mịt, cờ bay rợp trời đất.
Nghĩa quân gần đến trấn trị Mê Linh thì thám mã về báo:
-Dạ cấp báo, bẩm Đô Quân, huyện lệnh Triệu Tử Hàn đã bỏ thành trì chạy trốn, không biết chạy về đâu rồi ạ.
Phùng Hưng nói:
-Vẫn cho quân đội tiến vào tiếp quản, ăn uống nghỉ ngơi, sau đó xuất phát hành quân về thành Gia Ninh.
Nghĩa quân tiến tiếp về huyện lỵ Mê Linh, đến nơi thấy bốn cổng thành mở toang hoang, trong huyện đường, dinh thự không một bóng người. Huyện lệnh đã cùng gia đình và quan chức tùy tùng có lẽ chạy về Tống Bình. Vậy là không mất một mũi tên hòn đạn, nghĩa quân đã giải phóng toàn bộ huyện Mê Linh rộng lớn, trực tiếp uy hiếp Tống Bình. Đại tướng quân sư Đỗ Hàn Anh nói với Phùng Hưng:
-Bây giờ quân số đã tăng lên bốn vạn, giờ này Cao Chính Bình đã biết ta khởi nghĩa, có thể tấn công Đường Lâm là căn cứ của ta. Cho nên Đô Quân phải cho Đô Bảo Phùng Hải đem một vạn quân bảo vệ Mê Linh, bảo vệ Đường Lâm và trang viên của ta bằng mọi giá. Nếu Cao Chính Bình mà đánh phá được hậu phương của ta thì quân ta nguy to. Mặt khác, chúng ta phải nhanh chóng hạ được thành Gia Ninh, giải phóng Phong Châu, uy hiếp Tống Bình và cũng là bảo vệ cho căn cứ Đường Lâm.
Phùng Hưng nói:
-Quân sư nói chí phải
Phùng Hưng cho gọi Phùng Hải đến và truyền lệnh:
-Đại Tướng Đô Bảo lĩnh hai vạn quân bảo vệ Mê Linh và Đường Lâm. Đó là cái gốc của ba quân, căn cứ hậu phương, cơ nghiệp tổ tiên họ Phùng nên vô cùng quan trọng. Nếu Cao Chính Bình đánh tới, phải kiên quyết bảo vệ bằng được, mất Đường Lâm là mất cơ sở, sẽ thất bại.
Phùng Hải chắp tay thưa:
-Xin Tuân lệnh Đô Quân.
Sau khi Phùng Hải dẫn quân về bản doanh, Phùng Hưng dẫn các tướng và ba vạn quân hành quân thần tốc, tiến đánh thành Gia Ninh, trị sở Phong Châu. Sáng hôm sau, quân của Đô Quân còn cách Gia Ninh một dặm đã thấy Thứ sử Phong Châu Ngụy Hoành cùng hai vạn quân Đường dàn trận hình chữ nhất chờ tiếp chiến. Thứ sử Ngụy Hoành mặc chiến bào đen, giáp sắt đen, đội mũ đâu mâu đen, cưỡi ngựa nâu, cầm ngang thanh đại đao đứng đầu ba vạn quân. Cùng Thứ sử Ngụy Hoành, tả hữu có các tùy tướng cũng mặc chiến bào đen, giáp sắt, mũ nhọn đen, cưỡi ngựa đen, cầm những vũ khí tùy thân như giáo, đại đao, họa kích. Phùng Đô Quân cho dàn trận. Một tướng của ngụy Hoành cưỡi ngựa đen vác đại đao xông ra. Phùng Dĩnh tế ngựa nâu, múa gươm xông ra nghênh chiến. Cờ hai bên tung bay phấp phới, tiếng trống trận thúc liên hồi. Được 20 hiệp, Phùng Dĩnh cắt đại đao tướng Đường văng xuống đất, Phùng Dĩnh xáp vào dùng tay nâng bổng tướng Đường lên trời xoay mấy vòng rồi ném xuống đất, tướng Đường hộc máu chết tươi trước sự khiếp đảm của quân Đường, sự vui mừng và khâm phục của quân Việt. Ba tùy tướng Đường còn lại xông lên cùng vây đánh Phùng Dĩnh. Bên quân Việt, Bồ Phá Lặc, Phùng Hưng cũng xông ra trợ giúp Phùng Dĩnh. Được 10 hiệp, cả ba tướng Đường cũng bị ba tướng Việt nhấc bổng lên không trung trong tiếng reo hò vang động của quân Việt. Ba tùy tướng Đường bị ném tung lên trời và rơi xuống cách nơi giao chiến nửa dặm.
Trông thấy cảnh đó, Thứ sử Ngụy Hoành khiếp sợ bỏ chạy về thành. Đại quân Đường tan vỡ, cũng chạy theo chủ nhân, đại quân Việt xông lên chém giết. Quân Đường thây chết ngổn ngang, máu chảy thành suối. Số còn lại chạy vào thành nhưng quân Việt đuổi sát sau lưng, không kịp đóng cổng thành. Quân Việt tràn vào thành chém giết, quân Đường nhanh chóng hạ vũ khí đầu hàng. Thành Gia Ninh mất vào tay quân Việt. Phong Châu được giải phóng. Huyện lệnh ở các huyện Phong Châu đem vợ con, tùy tùng bỏ chạy về Tống Bình hoặc là trốn về Trung Quốc. Phùng Đô Quân làm chủ Phong Châu.
Quan đô hộ Cao Chính Bình ở thành Tống Bình đã được thám mã về báo rằng Phùng Hưng ở Đường Lâm Phong Châu làm phản, đã làm chủ Đường Lâm, Mê Linh. Quan tri huyện Mê Linh và tùy tùng đã bỏ trốn đi đâu không rõ tung tích. Cao Chính Bình chưa biết đối phó thế nào thì lại có thám mã về báo:
-Dạ cấp báo Quan độ hộ, quân Phùng Hưng đã tiến đánh và chiếm được thành Gia Ninh, làm chủ Phong Châu, ba vạn quân ta, quan Thứ sử Ngụy Hoành và tất cả các tướng đã tử trận.
Cao Chính Bình hoảng sợ, cho gọi quan Tư mã Hà Tấn Lương đến bàn cách đối phó. Tư mã Hà Tấn Lương nói:
-Mạt tướng sẽ dẫn năm vạn quân đến thành Gia Ninh chiếm lại thành, bắt bọn phản tặc về trị tội. Quan đô hộ cùng 2 vạn quân giữ thành chờ tin thắng trận của mạt tướng.
Cao Chính Bình nói:
-Bản quan chờ quan Tư mã chiến thắng trở về.
Tư mã Hà Tấn Lương cùng các tùy tướng dẫn 5 vạn quân tiến về thành Gia Ninh, cách thành Tống Bình về phía Tây khoảng 100 dặm. Quân Đường không theo đường thủy Sông Hồng mà chỉ hành quân theo đườngg bộ. Đường bộ từ Tống Bình lên Gia Ninh là con đường nhiều cây cối rậm rạp như rừng. Một tùy tướng nhắc nhở:
-Đường nhiều cây cối rạm rạp rất dễ bị quân Việt mai phục, mong Tư mã lưu ý.
Hà Tấn Lương nói:
-Ngươi nói chí phải. Tướng Võ Mang đâu?
-Có mạt tướng.
-Ngươi dẫn 1000 quân đi trước dò đường xem quân Việt có mai phục không!
-Mạt tướng tuân lệnh.
Võ Mang đem 1000 quân đi tiên phong dò đường. Qua địa phận Hương Canh, địa thế hiểm trở, cây cối bạt ngàn như rừng rậm nhưng 1000 quân Võ Mang đi qua an toàn. Hà Tấn Lương yên chí thúc quân đi sau. Khi quân Đường lọt vào nơi đất trũng và thấp, hai bên cây cối um tùm, thốt nhiên có hai phát tên châm lửa sáng bắn lên trời. Quân Đường chưa hiểu có chuyện gì xẩy ra, còn đang ngơ ngác thì từ hai bên sườn hàng nghìn mũi tên như mưa dội xuống, hàng nghìn quân Đường gục ngã. Chiêng trống thanh là và tiếng hò reo vang trời. Quân Đường kêu lên:
-Có mai phục, có mai phục.
Thì ra quân Việt theo kế của quân sư Đỗ Hàn Anh đã để cho quân tiên phong của Võ Mang đi qua, không đánh để dụ đại quân Đường vào bẫy. Lại những trận mưa tên dội tới tấp xuống quân Đường, hàng nghìn thân xác quân Đường lại đổ gục, máu tuôn xối xả. Quân Đường thực sự hoảng loạn chạy như ong vỡ tổ, như kiến bò trong chảo nóng. Khi đó trong những rừng rậm có tiếng hô:
-Xông ra giết, giết!
Khoảng ba vạn quân Việt từ trong các bụi rậm tả, hữu tràn xuống kẹp quân Đường vào giữa mà xả thịt. Hai canh giờ huyết chiến, năm vạn quân Đường bị chém sạch, kể cả quan Tư mã Hà Tấn Lương và các tùy tướng. Chỉ còn 1000 quân đi tiên phong của Võ Mang theo đường đê sông Hồng chạy về Tống Bình. Võ Mang vào quỳ trước Cao Chính Bình và báo:
-Bẩm quan đô hộ, quân ta bị mai phục ở Hương Canh, năm vạn người đã bị giết hết, kể cả quan Tư mã Hà Tấn Lương.
Cao Chính Bình là viên quan đô hộ nhát gan, lại bị bệnh tim hiểm nghèo, nghe xong tin, ngã vật xuống đất bất tỉnh. Võ Mang kêu:
-Bay đâu, bay đâu, mau gọi đại phu!
Quan đại phu tới bắt mạch cho Cao Chính Bình và nói:
-Quan đô hộ rồi sẽ tỉnh lại nhưng nếu gặp chuyện xốc như vừa rồi sẽ lại ngất và nguy cơ đến tính mạng.
Võ Mang hỏi:
-Đây là bệnh gì vậy đại phu?
-Đây gọi là bệnh đau tim, có thể nhồi máu cơ tim và chết đột ngột, gọi là đột tử.
-Có chữa được không đại phu?
-Không chữa được. Chỉ còn cách cho Quan đô hộ về nước, dưỡng lão ở nơi yên tĩnh. Bệnh này không làm quan được, làm quan nhiều sự kiện căng thẳng, sốc, tim ngừng đập, chết ngay.
-Chết rồi, Quan đô hộ lại cho gia đình về nước hết rồi, lấy ai mà chăm sóc bây giờ.
Lại nói Phùng Đô Quân theo kế của Đỗ Hàn Anh mai phục, thắng một trận lớn ở Hương Canh. Chủ lực của quân Đường ở Tống Bình chỉ có 7 vạn mà 5 vạn đã bị tiêu diệt, lại còn mất đi những võ quan có khả năng chiến đấu bảo vệ Tống Bình. Trận Hương Canh mở ra khả năng cho quân Việt tấn công lấy Tống Bình. Đang khi đó thám mã về báo:
-Bẩm Đô Quân, tin tức chính xác từ Tống Bình đưa ra là Cao Chính Bình sau khi nhận được tin thất bại ở Hương Canh, ngất đi và nay nằm liệt giường sắp chết.
Quân sư Đỗ Hàn Anh nói:
-Đây là thời cơ để quân ta tấn công Tống Bình, Phùng Đô Quân không nên chậm trễ.
Phùng Hưng nói:
-Đúng, đây là cơ hội trời trao Tống Bình cho ta.
Phùng Hưng liền để Phùng Dĩnh cùng một vạn quân ở lại giữ thành Gia Ninh và Phong Châu. Cử tướng Bồ Phá Lặc đi tiên phong, đi trung quân có Phùng Hưng, quân sư Đỗ Hàn Anh và nữ tướng Phùng Thị Nga, đi hậu quân có nữ tướng Phùng Thị Mây. Tổng cộng 4 vạn quân tiến về Tống Bình.
Trong thànhTống Bình, cuối cùng thì Cao Chính Bình cũng tỉnh lại nhưng không ăn được gì mà chỉ uống thuốc. Lúc Cao Chính Bình đang bê bát thuốc uống thì thám mã về báo:
-Dạ bẩm Quan đô hộ, Phùng Hưng đang đem các tướng và 4 vạn quan tiến đánh Tống Bình.
Cao Chính Bình nghe báo, bát thuốc trên tay rơi xuống đất vỡ tan tành, còn Quan đô hộ thì ngã vật xuống bất tỉnh.
Võ Mang vội gọi:
-Bay đâu, gọi đại phu nhanh lên!
Quan đại phu vào bắt mạch cho Cao Chính Bình một lúc rồi lắc đầu:
-Quan đô hộ đã chết.
Lại có thám mã vào báo:
-Dạ bẩm, quân Việt đã bao vây thành Tống Bình, họ nói nếu đầu hàng thì được toàn tính mạng và được về Trung Quốc. Mong đại tướng quyết định.
Lúc này quan đô hộ đã chết, quan Tư mã Hà Tấn Lương đã tử trận, Võ Mang nghĩ mình chỉ là một tùy tướng, không ngờ có lúc lại gánh vác việc quyết định số phận của một thuộc địa 12 châu của hoàng đế Đại Đường. Nếu đánh thì tướng giỏi đã chết hết rồi mà bên quân Việt toàn những tướng vật trâu, giết hổ. Trận Gia Ninh nghe nói họ nhấc bổng các tướng Đường lên trời và quật chết như quật con mèo, còn cố thủ thì lương thực gần cạn, chỉ còn được vài ngày. Nhưng cố thủ khi quân Việt phá được thành thì chết hết. Thôi mở cổng thành đầu hàng. Ta còn mẹ già, vợ dại con thơ ở nhà, được cái thuộc địa An Nam này thì dân nghèo như ta được gì chứ, chỉ đi chết cho bọn quan lại quyền quý phè phởn.
Nghĩ như vậy, Võ Mang lên mặt thành nói xuống:
-Mạt tướng muốn gặp Phùng Đô Quân.
Phùng Hưng trên ngựa nói:
-Là ta.
-Quan đô hộ Cao Chính Bình chết rồi. Nếu chúng tôi đầu hàng Phùng Đô Quân có cho toàn tính mạng về nước không?
Phùng Hưng nói:
-Chúng ta là quân đại nghĩa, dấy binh để giành lại quyền độc lập của nước Nam, không chém giết bừa bãi. Cho nên, nếu các tướng quân và binh sĩ hạ vũ khí, ta sẽ bảo toàn tính mạng và cho về nước
-Điều kiện để binh sĩ và mạt tướng ra hàng phải như thế nào?
-Ngày mai giờ ngọ, các tướng và binh sĩ khoẻ mạnh không mang vũ khí, kéo cờ trắng đi ra. Xe ngựa kéo chỉ dùng cho người ốm đau và thương binh. Mỗi người sẽ được phát cơm xôi và nước đủ dùng cho đến khi về bên kia biên giới. 5000 kỵ binh Việt sẽ hộ tống tướng sĩ nhà Đường đến biên giới.
-Đa tạ Phùng Đô Quân.
Phùng Hưng nói:
-Cứ như vậy đi. Ai sai hẹn sẽ bị trời chu đất diệt.
-Đa tạ, đa tạ..
Phùng Hưng ra lệnh cho quân Việt đang bao vây thành lùi xa nửa dặm nhưng vẫn ở thế bao vây và sẵn sàng chiến đấu. Đúng giờ ngọ, những lá cờ trắng xuất hiện trên thành. Cổng Thành mở toang. Quân Đường tay cầm cờ trắng, lưng mang túi cá nhân lần lượt đi ra khỏi cổng thành từ cửa Bắc. Đi đầu là chiếc xe ngựa kéo để trần nên nhìn thấy quan tài, trên có lư hương cháy nghi ngút. Đó là quan tài đựng thi hài Quan đô hộ Cao Chính Bình, rồi hàng trăm xe ngựa chở thương binh, người ốm đau. Xen kẽ vào đó là 2 vạn quân Đường đi bộ. Bên quân Việt đặt hàng dẫy bàn dài hàng dặm đường, trên đặt những túi cơm xôi và những chai nước. Quân Đường đi qua, mỗi người được nhận một gói dùng trên đường đi. Họ phải đi bộ hành quân 300 dặm từ Tống Bình đến Quỷ Môn Quan là qua bên kia biên giới. Quân Việt phải huy động rất nhiều thuyền bè của quân đội và của nhân dân để hai vạn quân Đường qua sông Cầu. Qua khỏi sông Cầu, 5000 kỵ binh Việt đi phía sau cùng quân Đường lên biên giới. Quân đi, bụi cuốn mù trời, nắng chói chang. Đoàn quân bại trận đi kéo dài lê thê tưởng như vô tận về biên cương phía Bắc. Đó là một ngày tháng tư năm 792, niên hiệu Phùng Đô Quân năm thứ nhất.
Từ Tống Bình, chính quyền nhà Đường sụp đổ trên toàn cõi An Nam Đô Hộ phủ. Phùng Hưng vào thành Tống Bình, lên ngôi vua, xây dựng một chính quyền tự chủ. Phùng Hưng lấy Đế hiệu là Bố Cái Đại Vương, lấy Tống Bình làm kinh đô, giữ được 10 năm độc lập cho nước nhà.
Ngày 8 tháng 1 năm 802, Bố Cái Đại Vương qua đời. Triều đình chia làm hai phái khi chọn người kế vị. Một nửa chọn Phùng Hải, em của Bố Cái Đại Vương, một phái kia do Bồ Phá Lặc cầm đầu chọn Phùng An là con của Phùng Hưng với hoàng hậu Nguyễn Thị Hồng Loan. Phái ủng hộ Phùng An do Bồ Phả Lặc cầm đầu nên có thế mạnh áp đảo triều đình. Để tránh một cuộc xung đột nội bộ tương tàn, Phùng Hải và Phùng Dĩnh chạy về động Chu Nham rồi sau không rõ tung tích. Những người ủng hộ Phùng Hải cũng bỏ đi hết. Từ đó triều đình Phùng An ngày càng suy yếu.
Nhân cơ hội đó, năm 803, vua Đường là Đường Đức Tông phong Triệu Xương làm Quan đô hộ An Nam đô hộ phủ. Triệu Xương đem 20 vạn quân tràn vào An Nam, một mặt đưa kế sách chiêu dụ Phùng An đầu hàng. Nghe theo bọn đại thần hèn nhát, chỉ biết quyền lợi gia đình và mạng sống của bản thân, không thiết gì giang sơn và bách tính, Phùng An chưa đánh đã đầu hàng. Triệu Xương nuốt lời hứa, đã đưa vua và gia đình lưu đày lên phương Bắc Trung Quốc xa xôi giá lạnh. Tại đây, Phùng An hối hận, đã đầu hàng mà vẫn bị lưu đày như vậy thì thà quyết một trận tử chiến thì chưa chắc đã chiến bại. Mà cho dù có chiến bại thì cũng làm rạng danh mình, không hổ thẹn với liệt tổ liệt tông anh hùng. Nhưng Phùng An có hối hận thì cũng đã muộn rồi.
Sau 10 năm độc lập tự chủ dưới thời Bố Cái Đại Vương, đất nước lại rơi vào thuộc địa của giặc Đường. Nhưng ngọn lửa bất khuất anh hùng của bách tính Việt thì không bao giờ tắt mà lại ngày càng bùng lên mạnh mẽ hơn, sẽ thiêu cháy quân xâm lược và bè lũ bán nước.