I
Nước Đại Việt từ khi giành được độc lập thoát khỏi ách đô hộ của phong kiến Trung Quốc, các dòng họ quý tộc phong kiến Việt Nam cũng đua nhau tranh hùng làm chủ thiên hạ, thiết lập nên những vương triều quân chủ chuyên chế. Nhưng các triều đại của các dòng họ cũng tuân theo quy luật đạo trời, hưng thịnh, suy vong, tan hợp, thăng trầm như hết triều nhà Ngô thì sang triều nhà Đinh. Khi triều Đinh suy vong thì nhà Tiền Lê được thiết lập. Tiền Lê suy vong thì các đại thần đưa Lý Thái Tổ bước lên ngai vàng lập ra nhà Lý. Khi nhà Lý hết thì Lý Chiêu Hoàng đã nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh lập ra nhà Trần. Cuối nhà Trần, quyền thần Hồ Quý Ly lộng hành cướp ngôi và bước lên ngai vàng sáng lập nhà Hồ, đổi quốc hiệu Đại Việt thành Đại Ngu. Năm 1407 nhà Hồ thất bại trong cuộc kháng chiến chống giặc Minh xâm lược và Đại Ngu bị quân Minh thống trị suốt 20 năm trời, gây ra nhiều tội ác mà chặt hết trúc Nam Sơn cũng không ghi hết. Năm 1418 đức Lê Thái Tổ đã phất cờ khởi nghĩa giải phóng đất nước, gian lao trong 10 năm trời mới đánh đuổi được quân Minh tàn bạo, giành độc lập cho dân tộc. Sau kháng chiến thắng lợi, năm 1428 Lê Lợi lên ngôi, đế hiệu là Lê Thái Tổ lập ra nhà Hậu Lê.
Nhà Hậu Lê lấy lại Quốc hiệu là Đại Việt, kinh đô Thăng Long, còn được gọi là Đông Kinh. Lam Sơn, Thọ Xuân - Thanh Hóa, quê hương phát tích của nhà Hậu Lê được gọi là Lam Kinh. Thời kỳ đầu của nhà Hậu Lê được gọi là Lê Sơ (1428-1527) với các vị vua Lê Thái Tổ, tại vị 1428-1433, Lê Thái Tông tại vị 1433-1442, Lê Nhân Tông tại vị 1442-1459, Lê Nhân Tông bị anh là Lê Nghi Dân giết tháng 10-1459. Lê Nghi Dân lên ngôi xưng là Thiên Hưng Đế. Thiên Hưng Đế bị các đại thần Nguyễn Xí, Đinh Liệt, Nguyễn Đức Trung giết. Tháng 5 năm 1460, Lê Tư Thành, con của Lê Thái Tông và cung phi Ngô Thị Ngọc Giao lên ngôi, đế hiệu là Lê Thánh Tông, tại vị 1460-1497. Lê Thánh Tông là vị vua tài giỏi anh minh nhất trong các vị vua thời Lê Sơ, đã đưa nước Đại Việt nói chung và thời Lê Sơ lên đỉnh cao, hưng thịnh, hùng cường nhất của chế độ phong kiến Việt Nam. Đại Việt thời kỳ này phát triển toàn diện về kinh tế, văn hóa, quân sự, chính trị với những cải cách đúng đắn, triệt để của Lê Thánh Tông về pháp luật, hành chính, quân sự. Lê Thánh Tông đã hoàn thiện nhà nước Quân chủ chuyên chế tập quyền. Lê Thánh Tông cũng đã kiên quyết bảo vệ độc lập, toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền quốc gia, dân tộc. Ông răn dạy quan lại và tướng sĩ rằng kẻ nào dám đem một tấc đất xương máu của ông cha làm mồi cho giặc thì sẽ bị tru di tam tộc. 30 tháng 1 năm 1497 Lê Thánh Tông qua đời, thọ 55 tuổi, ở ngôi 37 năm. Con trưởng của Lê Thánh Tông là Lê Tranh lên ngôi, đế hiệu là Lê Hiến Tông (1497-1504), cai trị được 7 năm và mất ngày 24 tháng 5 năm 1504. Thái tử Lê Thuần kế vị là Lê Túc Tông. Hai vị vua này là minh quân, có thể nối được chí của Lê Thánh Tông. Tuy vậy, chỉ mấy tháng sau Lê Túc Tông qua đời ngày 30-12-1504, ở ngôi được 6 tháng. Anh trai của Túc Tông là Lê Tuấn lên kế vị, gọi là Lê Uy Mục (1504-1510). Sự tàn bạo và ăn chơi sa đọa dâm dật của vị vua này đã mở đầu cho thời kỳ suy sụp của triều Lê Sơ. Những người xưa không đồng ý đưa Lê Uy Mục lên ngôi bị trả thù và bị giết một cách thảm khốc. Lê Uy Mục còn giết cả bà nội là Thái hoàng thái hậu Nguyễn Thị Hằng. Tháng 6 năm 1505, Lê Uy Mục cách chức và giết chết Lễ bộ thượng thư Đàm Văn Lễ, Đô ngự sử Nguyễn Quang Bật, sau đó giết chết Nhữ Vi, kẻ đã giết hai đại thần trên để bịt đầu mối. Đêm nào Lê Uy Mục cũng uống rượu dâm dật với cung nhân, sau đó sai giết chết họ. Quyền hành trong triều rơi vào tay bọn hoạn quan và dòng họ ngoại của vua. Phía Đông thì làng Hoa Lăng, quê của Nguyễn Kính Phi, phía Tây là làng Nhân Mục, quê của Trần Hoàng hậu, phía Bắc thì làng Phù Chẩn, quê của Chiêu Nhân thái hậu. Bọn này cậy thế ra sức cướp bóc của cải vàng bạc, bức hại bách tính và quan viên chống lại. Các thân vương dòng họ Lê bị dò xét và bị giết bất cứ lúc nào. Kinh Vương Lê Kiện là chú của Lê Uy Mục chạy trốn biệt tích. Giản Tu công Lê Oanh, con của Kiến Vương bị giam vào ngục may trốn thoát. Ai cũng nơm nớp thấy rằng bản thân nguy cấp đến nơi. Tháng 11 năm 1509, Giản Tu công Lê Oanh từ Lam Kinh đem quân về Đông Kinh, chiếm kinh thành, buộc Lê Uy Mục tự sát ngày 1-12-1510.
Sau khi bắt được Lê Uy Mục, Lê Oanh lên ngôi vào năm 1509, niên hiệu Hồng Thuận. Bấy giờ bách tính đói khổ nổi dậy chống lại triều đình. Năm 1511 có người ở làng Quang Bị, Bất Bạt, Sơn Tây là Trần Tuân nổi dậy gây chấn động và chiếm cứ Sơn Tây. Lê Tương Dực sai Mỹ Huệ Hầu Trịnh Duy Sản đánh dẹp, diệt được Trần Tuân. Trịnh Duy Sản nhờ công lao đó được phong Nguyên Quận Công.
Nhưng rồi Lê Tương Dực lại sa vào vết xe đổ của Lê Uy Mục, lao vào ăn chơi sa đọa dâm dật. Để ăn chơi, Lê Tương Dực sai Vũ Như Tô xây dựng điện 100 nóc, xây Cửu trùng đài hao tốn tiền của, chết không biết bao nhiêu sinh mạng. Lê Tương Dực bỏ bê việc nước, suốt ngày du ngoạn Hồ Tây. Bách tính khổ cực lại nổi lên theo Trần Cảo phản loạn. Thanh thế Trần Cao bao trùm cả một vùng Hải Dương, Đông Triều, Thủy Đường, Thủy Nguyên. Trần Cảo xưng là Đế Thích, quân số hàng vạn. Lê Tương Dực thân chinh cầm quân nhưng không dẹp được. Trần Cảo vẫn ngang nhiên đóng tổng hành dinh ở Vạn Kiếp. Trịnh Duy Sản can ngăn sự sa đọa của Lê Tương Dực, Dực không nghe còn bắt Sản ra đánh bằng roi. Trịnh Duy Sản căm hận, cùng Thái sư Lê Quảng Độ lật đổ và giết chết Lê Tương Dực ngày 7 tháng 4 năm 1516. Trịnh Duy Sản đưa Lê Y lên ngôi, đó là Lê Chiêu Tông.
Trong khi triều đình Đông Kinh rối ren, thay ngôi đổi chủ thì ở miền đất phía Đông, một triều đình của quân khởi nghĩa do Trần Cảo đứng đầu ngày một lớn mạnh, phát triển. Khắp miền Hải Dương, An Bang (Quảng Ninh) tràn ngập quân được gọi là quân “Tam Đóa”, họ cạo trọc đầu nhưng vẫn để ba chỏm tóc với những lá cờ vàng chữ đỏ “Thiên Ứng” rợp trời rợp đất. Quý tộc, hào trưởng các vùng này nằm im thin thít, quan lại bỏ chạy, Thế lực nhà Lê Sơ ở các vùng này rạp xuống như cỏ trong cơn bão táp. Tại hành doanh của “ Thiên Ứng” Trần Cảo ở Vạn Kiếp doanh trại san sát, cờ quạt rợp trời, quân đi rầm rập suốt ngày đêm. Dòng sông Lục Đầu Giang, sông Kinh Thầy vẫn ngày đêm tuôn nước ra biển như bờm ngựa phi trong gió. Trong tổng hành dinh, Trần Cảo mặc áo đen, giáp đen, mũ đâu mâu đen đang ngồi họp bàn với các tướng lĩnh. Trần Cảo ngồi ghế chủ, đối diện là các tướng Phan Ất, Đình Ngạn, Đình Nghệ, Công Uẩn, Đinh Bảo, Đoàn Bố. Trần Cảo nói:
-Xin mời các tướng quân cạn chén.
Các tướng đồng thanh đáp:
-Đa tạ Thiên Ứng chúa công.
Trần Cảo và các tướng nâng bát uống một hơi dài rồi đặt bát xuống. Trần Cảo hỏi:
-Phan Ất tướng quân, tình hình Hải Dương và An Bang thế nào?
Phan Ất đáp:
-Dạ, bẩm chúa công, quân ta đã hoàn toàn làm chủ Thủy Đường, An Bang, Hải Dương. Bọn quan quân nhà Lê đã tháo chạy về Đông Kinh, quân ta đã lên đến vài vạn người.
Đang khi đó có thám mã từ Đông Kinh về báo:
-Dạ bẩm chúa công, ở Đông Kinh có biến.
Trần Cảo vội hỏi:
-Có biến gì, nói mau?
-Dạ, bẩm chúa công, đại thần Trịnh Duy Sản can ngăn Lê Tương Dực không nên sa đọa, Lê Tương Dực không nghe còn lôi Trịnh Duy Sản ra đánh roi. Trịnh Duy Sản oán hận đã cùng Thái sư Lê Quảng Độ giết chết Lê Tương Dực, đưa Lê Y lên ngai vàng, tức là Lê Chiêu Tông, năm nay mới 16 tuổi.
Trần Cảo nói:
- Lê Thái Tổ, Lê Thánh Tông oanh liệt hiển hách một thời, sao bây giờ con cháu đổ đốn cực độ như vậy. Thằng Lê Uy Mục được dân gian gọi là vua quỷ, đến Lê Tương Dực được gọi là vua lợn, chết cũng đáng đời.
Đang khi đó lại có thám mã từ Đông Kinh về báo:
-Dạ, bẩm chúa công, Đại thần Nguyễn Hoằng Dụ là phe cánh, chỗ dựa của Lê Tương Dực. Nay Lê Tương Dực chết, Hoằng Dụ đã kéo quân về Tây Đô, Đông Kinh chỉ còn lại quân của Trịnh Duy Sản thôi ạ.
Tướng Đinh Lan nói:
-Bẩm chúa công, nếu Đông Kinh chỉ còn lại quân của Trịnh Duy Sản thì không đáng kể. Mong chúa công nhân cơ hội nay dốc toàn lực chiếm Đông Kinh để hoàn thành nghiệp lớn.
Các tướng cũng đồng thanh nói:
-Phải lắm, mong chúa công tấn công Đông Kinh, đừng bỏ lỡ cơ hội.
Trần Cảo nói:
-Nói phải lắm. Các tướng sau đây nghe lệnh.
-Dạ mạt tướng chờ lệnh chúa công.
-Tướng quân Phan Ất dẫn 1 vạn quân đánh cửa Tây Đông Kinh.
-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.
-Tướng quân Đinh Ngạn dẫn 1 vạn quân đánh cửa Nam Đông Kinh.
-Mạt tướng tuân lệnh.
-Tướng quân Đinh Nghệ dẫn 1 vạn quân đánh cửa Bắc Đông Kinh
-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.
-Ta sẽ dẫn 1 vạn quân tiếp ứng cho các tướng ở các cửa thành.
Sớm hôm sau Trần Cảo cùng các tướng Công Uẩn, Đinh Bảo, Đoàn Bố dẫn đầu 5 vạn quân, cờ vàng rợp trời, nổi bật là lá cờ to nhất có chữ “Ứng Thiên” màu đỏ, dưới chữ “Ứng Thiên “ là chữ “Soái”. Dưới cờ là những đoàn quân mang quân phục đen. Cung tên gươm giáo tua tủa, lưng mang cung tên, đầu không mũ nón, đầu gần như trọc, chỉ còn ba túm tóc, 1 túm trước trán, hai túm hai bên thái dương nên bách tính gọi là quân “Tam Đóa”. 5 vạn quân theo đường bộ từ Vạn Kiếp tiến về Đông Kinh. Cờ bay theo gió, bụi cuốn mù đường, bước chân đi rầm rập, mặt đất như rung chuyển.
Sớm hôm sau, khi còn cách Đông Kinh nửa dặm, chợt có thám mã về báo:
-Dạ, bẩm chúa công, đại thần Trịnh Duy Sản đã đem vua Lê Chiêu Tông chạy về Tây Đô, hiện bốn cổng thành Đông Kinh dân chúng đã mở toang, không có phòng thủ ạ.
Trần Cảo cười ha hả:
-Dân chúng mở toang cổng thành để đón quân Thiên tử vào. Bá tính Đông Kinh đã biết rõ đâu là chính nghĩa, đâu là gian tà. Ha!ha!ha! Các tướng nghe lệnh:
-Các tướng cùng quân đội ở lại ngoài thành để bảo vệ thành, nhớ không được xâm phạm của cải, bắt người của dân. Ai vi phạm chém.
-Dạ, chúng mạt tướng tuân lệnh.
Trần Cảo vào điện Càn Nguyên, chưa kịp ngồi thì đã có tùy tướng vào báo:
-Dạ, bẩm chúa công, đã bắt được thái sư nhà Lê Lê Quảng Độ, người đã cùng Trịnh Duy Sản giết Lê Tương Dực, đưa Lê Chiêu Tông lên ngôi.
Trần Cảo nói:
-Đưa Lê Quảng Độ vào.
-Dạ Tuân lệnh chúa công.
Trần Cảo và các tướng vừa uống xong lượt trà thì bốn người lính đã dẫn Lê Quảng Độ vào. Đó là một người đậm, béo, mặc triều phục đại thần nhà Lê màu xanh, đội mũ cánh chuồn đen, khuôn mặt phương phi. Trần Cảo vội đứng dậy quát binh lính:
-Mau cởi trói cho Thái sư. Bọn bay thật hỗn xược.
-Dạ, tuân lệnh chúa công.
Lính vội cởi trói cho Lê Quảng Độ. Trần Cảo vội nói:
-Mong Thái sư đại xá, bọn lính không biết đã lỡ xúc phạm ngài. Mời Thái sư ngồi. Bay đâu rót nước mời Thái sư.
Lê Quảng Độ nhận bát nước, ngồi đối diện với Trần Cảo thản nhiên uống nước mà không hề sợ hãi. Sau tuần nước, Trần Cao hỏi Lê Quảng Độ:
-Triều chính rối ren, thiên hạ đại loạn, dân tình khổ cực đói rét, quyền thần giết vua như giết chó gà. Nay quyền thần Trịnh Duy Sản bắt vua vào Tây Đô, sao thái sư không đi theo?
Lê Quảng Độ đáp:
-Ta suốt đời phục vụ cho triều đình Hậu Lê làm đến chức thái sư là một trong những chức quan đầu triều, cũng đã cống hiến gần hết thời Lê Sơ, đã nhìn thấy thời hưng thịnh của đất nước thời Thái Tổ và Thánh Tông. Thời Lê Hiến Tông, Lê Túc Tông cũng có thể nói là những minh quân. Nhưng đến thời Lê Uy Mục và Lê Tương Dực, quên dân, quên nước, lao vào ăn chơi sa đọa đưa nhà Lê và đất nước vào cảnh suy tàn, hỗn lọan, dân tình đói khổ lầm than, chết chóc, quyền thần và quan lại tác oai tác quái, chỉ ra sức vơ vét để vinh thân phì gia, không ai còn nghĩ tới bách tính và đất nước. Nay Lê Chiêu Tông lên ngôi còn quá trẻ, tính tình lại đa nghi, hay nghe lời dèm pha mà giết hại trung thần, không đủ tài đức để cứu vãn thời cuộc, hoàng đế cũng chỉ là con bài của quyền thần nên ta không theo.
Trần Cảo nói:
-Thái sư nói phải lắm. Nay ta cũng vì bách tính mà nổi dậy nhằm thay đổi triều đình, dẹp loạn lạc, mang lại thanh bình cho đất nước, cho bách tính. Thái sư có đi theo để phụng sự cho nghiệp lớn không?
Lê Quảng Độ đáp:
-Suốt đời ta đã học và thực hiện chữ trung quân ái quốc. Cho nên vua vì nước thì ta trung. Ta không học theo lũ cô trung. Vua hôn quân phản nước thì ta không theo. Xét theo nghĩa đó, ta có thể theo chúa công để tôn thờ đại nghĩa.
Trần Cảo và các tướng đều vui mừng. Trần Cảo nói:
-Thái sư vẫn là đại thần của triều đại “Thiên Ứng”, trông coi triều chính cho ta. Bay đâu.
-Dạ, chúa công.
-Mở tiệc mừng lấy được Đông Kinh, mừng Thái sư Lê Quảng Độ về với chúng ta.
-Dạ, tuân lệnh chúa công.
Sớm hôm sau có thám mã về báo:
-Dạ bẩm chúa công, có tướng của Trịnh Duy Sản là Trần Chân đã tập hợp mấy nghìn binh mã ở chợ Hoàng Hoa, chuẩn bị tấn công vào cửa thành Tây Đông Kinh.
Trần Cảo ra lệnh:
-Lệnh cho đại tướng Phan Ất từ cửa Tây đem quân bao vây tiêu diệt Trần Chân.
-Dạ, tuân lệnh chúa công.
Lại nói Thiết Sơn Bá Trần Chân cùng với các thuộc tướng là Nguyễn Áng và Nguyễn Kính, Hoàng Duy Nhạc cùng 5000 quân định tiếp chiến với quân của Phan Ất ở chợ Hoàng Hoa (Ngọc Hà). Nguyễn Kính nói:
-Quân ta ít, quân giặc Phan Ất đông 1 vạn, còn các đạo quân khác của Đinh Ngạn, của Đình Nghệ, của Trần Cung, nếu chúng hợp vây thì quân ta sẽ bị tiêu diệt. Ta nên rút xa khỏi kinh thành 1 dặm để dễ bề tác chiến.
Nguyễn Áng nói thêm:
-Lời của Đại tướng Nguyễn Kính nói phải lắm. Ta nên như vậy đi.
Trần Chân nói:
-Cũng được, cứ làm theo ý tướng quân Nguyễn Kính đi.
Trần Chân lui quân về Xạ Đôi (Giảng Võ), cách Hoàng Hoa 2 dặm. Vừa dàn trận xong thì quân Phan Ất đã đến. Cậy quân đông, Phan Ất không dàn trận, trỏ gươm thét:
-Giết.
1 vạn quân áo đen “Tam Đóa” vung gươm xông vào trận địa quân Lê đánh giáp lá cà, chiêng trống vang lừng, tiếng reo hò dậy đất, tiếng gươm giáo chạm nhau tóe lửa, thây đổ máu tuôn. Quân “Tam Đóa” cậy đông hình thành thế bao vây quân Lê. Trần Chân thấy vậy liền hạ lệnh lui quân tháo chạy về Sơn Tây. Quân Lê bị giết khoảng 1000, bản thân Trần Chân cũng bị trọng thương, phía Trần Cảo cũng 1000 quân tử trận. Trần Chân chạy về Sơn Tây chờ đợi quân Lê Chiêu Tông từ Thanh Hóa ra để thu phục lại kinh thành.
Một sớm tại Tây Đô, Trịnh Duy Sản nói với vua Lê Chiêu Tông:
-Bẩm hoàng thượng, quân phản loạn Trần Cảo đông tới 4 vạn người, vừa rồi con nuôi của thần là Thiết Sơn Bá Trần Chân chỉ có 5000 quân đánh một trận lớn với giặc ở Xạ Đôi nhưng ít quân quá phải lui về Sơn Tây rồi.
Lê Chiêu Tông hỏi:
-Đại tướng quân có cao kiến gì không?
Trịnh Duy Sản nói:
-Bẩm hoàng thượng, hoàng thượng phải lấy danh nghĩa Thiên tử thảo hịch kêu gọi các trấn đem quân họp lại, đặc biệt là quân tam phủ Thiệu Thiên, Hà Trung và Tĩnh Gia cùng tấn công thì mới đủ sức phá giặc, thu phục lại kinh thành.
Lê Chiêu Tông nói:
-Khanh nói phải lắm. Bay đâu.
Nội quan:
-Dạ, bẩm hoàng thượng.
-Cho triệu Hùng Quốc công Lê Nghĩa vào gặp trẫm.
-Dạ, tuân lệnh hoàng thượng.
Hùng Quốc Công Lê Nghĩa vào quỳ hành lễ:
-Dạ bẩm hoàn thượng, hoàng thượng vạn tuế, vạn tuế…
Lê Chiêu Tông nói:
-Miễn lễ.
-Tạ ơn hoàng thượng.
Lê Chiêu Tông nói tiếp:
-Khanh viết một bài hịch kể tội bọn phiến loạn Trần Cảo và kêu gọi quan lại các trấn, đặc biệt là quan quân tam phủ Thiệu Thiên, Hà Trung, Tĩnh Gia cùng hội quân để khôi phục kinh thành.
-Dạ, thần tuân chỉ.
Vài ngày sau khi bài hịch ban ra, quân các trấn và quân tam phủ rầm rập léo về Tây Đô để giúp vua đánh giặc “Tam Đóa”, khôi phục kinh thành. Suốt một vùng rộng lớn quanh Tây Đô, binh mã doanh trại san sát đông như kiến cỏ, Trên dòng sông Mã đoạn làng Giàng, Tư Phố hơn 1000 chiến thuyền của thủy quân neo đậu, cờ vàng bay rợp trời trên dòng sông. Trong cung điện của thành Tây Đô vua Lê Chiêu Tông thiết triều và ra lệnh:
-Nay phong Nguyên Quận Công Trịnh Duy Sản làm Tiết chế quân thuỷ bộ, dưới có các tướng Cần vương Trịnh Hy, Lê San, Lê Dực, Trương Huyền Linh tiến quân ra Bắc, thu phục Đông Kinh, tiêu diệt bọn giặc “Tam Đóa” Trần Cảo.
-Dạ, chúng thần tuân lệnh hoàng thượng.
Từ Tây Đô, 5 vạn quân Lê hành quân ra Bắc, quân đi, cờ bay, ngựa hí, bụi cuốn mù trời. Bước chân quân lính đi qua những thôn mạc tiêu điều xơ xác nghèo đói do loạn ly và chiến tranh, xung đột liên miên khốc liệt.
Ra đến Đông Kinh, quan quân bao vây bốn mặt thành. Quân “Tam Đóa” từ trên mặt thành bắn tên đạn ra như mưa. An Hòa Hầu Nguyễn Hoằng Dụ từ Thanh Hóa kéo quân ra trợ chiến cho quan quân. Trịnh Duy Sản ra lệnh cho các tướng:
-Chúng ta giả vờ tấn công bốn mặt thành nhưng tập trung hết lực lượng tấn công cửa Tây, phá vỡ cửa Tây vào thành thì phá được giặc.
-Dạ, tuân lệnh Tiết chế.
Trần Cảo không biết kế đó cứ dàn đều quân bốn mặt thành. Trong khi đó lợi dụng đêm tối, Trịnh Duy Sản cho các dũng sĩ khênh những khúc gỗ lớn dài vài trượng, đầu vót nhọn, dưới sự yểm trợ của bộ binh và các cung thủ, các dũng sĩ tiếp xúc với cổng thành và tông mạnh chỉ vài lần cửa thành mở toang. Quan quân tràn vào chém giết. Tiếng gươm giáo chém nhau tóe lửa, cung tên bắn loạn xạ, tiếng reo hò rung chuyển thành quách. Quân Trần Cảo dàn mỏng không kịp chi viện cho cửa Tây, tan vỡ mở của Bắc tháo chạy ra ngoài thành, vượt cầu phao sang Bồ Đề. Quan quân truy sát, tiếng trống trận vang trời, tiếng quân chạy thoái lui và quân truy sát rung lên ở các cửa Tây và cửa Bắc. Thây người ngổn ngang dọc bến sông Hồng và bốn mặt thành. Quân Trần Cao chết khoảng 1 vạn, quân triều đình khoảng vài nghìn người đã ngã xuống. Cái đáng kể là quân triều đình đã thắng lợi, đã lấy lại được Đông Kinh. Vua Lê Chiêu Tông từ Tây Đô trở về kinh đô.
Quân Trần Cảo vẫn hoạt động mạnh, đánh phá vùng Kinh Bắc, Hải Dương. Vua Lê Chiêu Tông treo giải thưởng, thưởng lớn cho ai bắt được Trần Cảo và con là Trần Cung. Tháng 8 năm 1516, quân Lê bắt được tướng của Trần Cảo là Phan Ất ở An Bang. Phan Ất bị đóng vào cũi, giải về kinh và bị xử lăng trì. Nhân đà thắng lợi, Trịnh Duy Sản tâu với vua Lê Chiêu Tông:
-Tâu hoàng thượng, quân “Tam Đóa” vừa mới bại trận, đại tướng giặc Phan Ất vừa bị bắt, thế giặc sa sút. Hiện nay tổng hành dinh của Trần Cảo ở Chí Linh, thần xin thống lĩnh quân thủy bộ vào hang bắt cọp cho hoàng thượng.
Lê Chiêu Tông nói:
-Chuẩn tấu. Chúc ái khanh ca khúc khải hoàn.
-Đa tạ hoàng thượng.
Lê Chiêu Tông trao cho Trịnh Duy Sản quyền tiết chế thủy bộ, cai quản vùng đất Hải Dương. Cùng lúc đó sai tướng Trịnh Tuy mang một đạo quân lấy lại vùng Kinh Bắc khỏi sự chiếm đóng của quân Trần Cảo.
Tháng 11 năm 1516, Trịnh Duy Sản dẫn các tướng Nguyễn Hoằng Dụ, Trần Chân đem ba vạn quân tiến đánh Trần Cảo ở Chí Linh. Bầu trời mùa đông u ám, người ngựa bước đi rầm rập dưới bóng cờ vàng tung bay theo gió mùa đông bắc. Bỗng có thám mã Đông Kinh về cấp báo:
-Dạ bẩm Tiết chế, tướng Đa Sĩ cậy có công nhưng không được phong thưởng, đang cho quân bản bộ cướp bóc kinh thành làm cho Đông Kinh náo loạn.
Trịnh Duy Sản tức giận:
-Quan chức ngày nay tha hóa đến mức không coi danh dự luật pháp ra gì, phản loạn ngay giữa kinh thành. Trần Chân đâu?
-Dạ, có nghĩa tử.
-Con đem 5000 quân về dẹp loạn ở kinh thành. Nếu Đa Sĩ không đầu hàng thì cứ giết chết đi.
-Dạ, tuân lệnh nghĩa phụ.
Trần Chân đem 5000 quân trở lại Đông Kinh. Đa Sĩ hoảng sợ đem quân bản bộ chạy trốn lên Sơn Tây.
Quân triều đình đi đánh Trần Cảo tiến đến địa phận xã Nam Giản, Chí Linh, Hải Dương đã thấy 1 vạn quân “Tam Đóa” dàn trận. Tướng Công Uẩn cầm ngang ngọn giáo đứng trước hàng quân chờ đợi. Trịnh Duy Sản cho quân dàn trận. Tướng quân Trần Hạnh vác đại đao xông ra. Tướng Công Uẩn bên quân “Tam Đóa” cũng múa ngọn giáo xốc tới. Hai bên giao đấu khoảng 20 hiệp, Công Uẩn lia một giáo qua cổ, đầu Trần Hạnh văng xuống đất. Bất chấp tùy tướng bị giết, cậy quân đông, Trịnh Duy Sản vẫn thúc quân xông lên chém giết. Hai bên hỗn chiến, gươm chạm giáo tóe lửa, tiếng trống vang trời, tiếng reo hò kinh thiên động địa. Công Uẩn thấy quân triều đình đang hình thành thế bao vây liền ra lệnh cho quân tháo chạy. Trịnh Duy Sản thúc quân đuổi theo. Sản quên mất bổn phạn chủ tướng, xông xáo lên đầu truy kích. Đến một nơi đường hẹp, cây cối um tùm thì nghe có tiếng pháo lệnh nổ ran. Quân Trần Cảo mai phục từ hai bên sườn đồi bắn xuống như mưa. Quân Lê trúng vào trận địa mai phục thi nhau gục xuống chết. Tiếp đó quân Trần Cảo lao xuống chém giết. Nguyễn Hoằng Dụ đi phía sau ra lệnh cho quân tháo chạy. Trịnh Duy Sản và Nguyễn Thương bị quân Trần Cảo bắt sống, bị đem về Vạn Kiếp và bị chém chết.
Sau trận Chí Linh, Trần Cảo cùng các tướng thừa thắng tiến quân về Bồ Đề, chuẩn bị vượt sông Hồng tấn công Đông Kinh lần 2. Khi đó trời đã gần tối, hoàng hôn đỏ tím rồi lại chuyển sang màu đen. Trần Cảo ra lệnh cho quân đóng trại nấu cơm ăn, nghỉ ngơi. Đình Ngạn nói với Trần Cảo:
-Bẩm chúa công, đêm nay nên cho quân ra ngoài doanh trại mai phục, đề phòng quân Lê tới cướp trại.
Trần Cảo cười ha hả:
-Tướng quân lo quá xa, trụ cột của nhà Lê có mỗi một Trịnh Duy Sản thì đã bị ta giết rồi, còn ai nữa đâu mà lo. Cứ cho quân trong trại nghỉ ngơi, mai có sức công thành.
Lại nói ở kinh thành, Vua Lê Chiêu Tông nghe nói Trịnh Duy Sản bại trận đã bị giặc bắt và giết liền nói:
Trịnh Duy Sản là trụ cột của quân đội và triều đình, nay chết rồi ta biết dựa vào ai đây. Quân phiến loạn đã đến Bồ Đề, mai sẽ tấn công kinh thành, biết làm sao đây?
Lê Nghĩa nói:
-Còn nghĩa tử của Trịnh Duy Sản là Trần Chân rất giỏi binh pháp thao lược, mới mấy hôm trước đã dẹp loạn Đa Sĩ, giữ yên cho kinh thành. Nên cử Trần Chân cầm quân đánh Trần Cảo.
-Lê Chiêu Tông gọi:
-Người đâu?
-Dạ, có thần.
-Cho nội quan đi gọi tướng Trần Chân đến gặp ta.
Trần Chân đến:
-Dạ thần là Trần Chân, hoàng thượng vạn tuế, vạn tuế.
-Miễn lễ, đứng dậy đi.
-Đa tạ hoàng thượng.
Lê Chiêu Tông nói:
-Nghĩa phụ của tướng quân vì nước hy sinh, ta vô cùng nhớ ơn và cảm kích chia buồn cùng tướng quân và gia quyến. Nay giặc đã đến Bồ Đề, kinh thành vô cùng nguy cấp. Trẫm cho tướng quân làm Tiết chế cầm quân tiêu diệt giặc được không?
Trần Chân đáp:
-Đa tạ hoàng thượng, thần xin tuân lệnh, một là để diệt giặc cứu kinh thành, hai là để rửa hận báo thù cho nghĩa phụ.
Lê Chiêu Tông bảo Lê Nghĩa:
-Khanh hãy trao binh phù ấn tín cho tướng quân Trần Chân.
Rồi nhà vua nói với Trần Chân:
-Trẫm chờ tướng quân trở về với khúc ca khải hoàn.
Trần Chân quỳ lạy đỡ ấn tín binh phù và nói:
-Đa tạ hoàng thượng, thần hy vọng không phụ lòng hoàng thượng.
Trần Chân nhận trọng trách vào khoảng chiều, liền bàn với các tùy tướng là Nguyễn Kính, Nguyễn Áng và Hoàng Duy Nhạc:
-Bây giờ có hai cách để phá giặc, một là chờ giặc công thành rồi phòng thủ, hai là sang đánh giặc tại Bồ Đề.
Chợt có thám mã ở Bồ Đề về báo:
-Dạ, bẩm chủ soái, quân giặc ở Bồ Đề hoàn toàn chỉ ở trong doanh trại ăn uống nghỉ ngơi, không phòng bị, rất lơ là chểnh mảng.
Nguyễn Kính nói:
-Trời cho tướng quân thành công chuyến này rồi, đêm nay bí mật bao vây cướp trại, quân giặc có cánh cũng không bay thoát.
Nguyễn Áng nói:
-Nhỡ đó là kế của Trần Cảo cho mai phục, dụ quân ta vào cướp trại thì sao?
Trần Chân nói:
-Đêm nay cứ bí mật tiến sang Bồ Đề, chuẩn bị cướp trại, nhưng cứ cho thám mã dò la, không có mai phục thì cứ ào ạt đánh vào.
Gần tối, 5 vạn quân Lê ăn uống no say, lặng lẽ âm thầm vượt cầu phao sang sông Nhị Hà đến Bồ Đề. Một vùng đất mênh mông, doanh trại quân Trần Cảo san sát hiện ra trong bóng đêm mờ ảo. Sau khi nắm chắc Trần Cảo không có kế mai phục, Trần Chân cho quân bao vây bốn mặt, bò lại gần. Một phát tên lửa bắn lên trời. Những lính canh của quân “Tam Đóa” bị những mũi tên bắn đổ gục. Quân Lê lại gần mà quân Trần Cảo vẫn ngủ say sưa vì uống quá nhiều rượu. Quân Lê lao vào các trại băm người như băm chuối. Lát sau mới có tiếng trống báo động nổi lên, quân Trần Cảo thức dậy nhưng bị băm chém tối tăm mặt mày. Số chưa chết chỉ biết vùng dậy tháo chạy về phương Bắc. các tướng Đinh Ngạn, Công Uẩn liều chết mở đướng máu cho Trần Cảo chạy thoát lên Lạng Giang. Trận đó, quân Trần Cảo bị giết tới ba vạn và đi vào những ngày tàn của công cuộc mưu bá đồ vương.
Loạn Trần Cảo chưa dẹp xong thì các quyền thần trong triều đình lại lại xung đột nhau tranh quyền đoạt lợi. Đó là các thế lực của An Hòa Hầu Nguyễn Hoằng Dụ, Vinh Hưng Bá Trịnh Tuy, Thiết Sơn Bá Trần Chân. Cuối cùng Nguyễn Hoằng Dụ, Trịnh Tuy đem quân về Thanh Hóa. Chỉ còn mỗi Trần Chân ở lại Triều đình. Thế lực của Trần Chân ngày một lớn. Vua Lê Chiêu Tông phong Trần Chân làm phụ chính. Thế lực của Trần Chân lớn đến mức một thế lực quân phiệt lớn nhất Hải Dương là Mạc Đăng Dung đang có âm mưu vào triều đình, liền kết thông gia với Trần Chân để gây dựng thế lực sau này. Mạc Đăng Dung hỏi con gái của Chân cho con trai của mình là Mạc Đăng Doanh. Trong tình hình mâu thuẫn giữa các đại thần gay gắt và xung đột nhau, vua Lê Chiêu Tông lại không sáng suốt và đa nghi, bị chúng lợi dụng, mượn bàn tay của nhà vua giết những kẻ thù của họ và chính nhà vua lại giết những trung thần tay chân của mình. Trong đó nổi bật mâu thuẫn giữa dòng họ Nguyễn và dòng họ Trịnh mà cụ thể là giữa Nguyễn Hoằng Dụ với Trịnh Tuy, con của Trịnh Duy Sản. Một hôm vua Lê Chiêu Tông thiết triều, chú của Nguyễn Hoằng Dụ là Nguyễn Văn Lự bước ra tâu:
-Dạ bẩm hoàng thượng, thần có lời tâu.
-Khanh có gì tâu?
Nguyễn Văn Lự rút từ tay áo ra một tờ sớ và lớn tiếng nói:
-Dạ bẩm hoàng thượng, thần có bằng chứng Trịnh Tuy cùng với Trịnh Duy Đại mưu với nhau lập con của Nguyễn Trinh là Nguyễn Tùng làm ngụy chúa. Đây là một việc đại nghịch, mưu phản. Mong hoàng thượng suy xét.
Lê Chiêu Tông nghe tấu không cần xét hỏi, giận dữ quát:
-Võ sĩ đâu.
Võ sĩ vào:
-Dạ, tâu hoàng thượng.
-Bắt Trịnh Duy Đại và các tùy tướng đem ra chém.
Các võ sĩ lôi Trịnh Duy Đại ra ngoài. Trịnh Duy Đại luôn miệng kêu:
-Hoàng thượng, thần bị oan, thần bị oan…
Cùng lúc đó Nguyễn Hoằng Dụ đem quân kịch chiến với Trịnh Tuy. Trịnh Tuy thua chạy về Thanh Hóa. Trần Chân là con nuôi của Trịnh Duy Sản, là anh nuôi của Trịnh Tuy liền đem quân đánh Nguyễn Hoằng Dụ. Nguyễn Hoằng Dụ thua cũng tháo chạy về Thanh Hóa. Kinh sư khi đó đầy máu và xác chết. Hàng ngày mặt trời bỗng nhiên vàng và tối, điềm báo rất xấu cho vận nước và triều đại nhà Lê.
Lúc bấy giờ là năm 1518, dân gian xuất hiện câu ca lan truyền rằng: “Trần hữu nhất nhân, Vi thiền hạ quan, Thổ đầu hổ vĩ, Tế thế an dân”. Trong quán nước, một nhóm cụ gia ngồi uống trà đàm đạo với nhau. Một cụ hỏi cụ bạn ngồi bên cạnh:
-Cụ giỏi chữ Hán, cụ dịch câu sấm truyền ở trên cho bọn ít học này biết với.
Cụ già nom dáng dấp thông minh như một đồ Nho vuốt bộ râu trắng bạc và nói khẽ:
-Với vị vua non trẻ, hay đa nghi như Lê Chiêu Tông thì việc dịch và bàn bài ca này có thể mất đầu ba họ như chơi. Câu đó có thể dịch như thế này: “Có một người họ Trần làm vua thiên hạ, trị nước an dân”.
Một cụ hỏi:
-Người họ Trần có phải là ám chỉ quan phụ chính Trần Chân hiện tại không?
Cụ già dáng đồ Nho đáp:
-Tôi không biết là Trần nào, nhưng quả nhiên người có thế lực nhất triều đình hiện nay là quan phụ chính Trần Chân.
Một cụ ngạc nhiên:
-Không thể nào. Quan phụ chính Trần Chân hiện nay nghe nói đã nhiều lần cứu Lê Chiêu Tông và rất trung thành với nhà vua cơ mà?
Cụ già dáng đồ Nho nói nhỏ:
-Trong hoàn cảnh hiện nay, trắng đen lẫn lộn, vua thì đa nghi, gian thần thì nhiều, bao nhiêu trung thần đã chết vì bị vu cáo. Bài ca này là của các thế lực gian thần tung ra nhằm mượn Lê Chiêu Tông giết hại Trần Chân. Và Lê Chiêu Tông cũng từ đó mà tự chặt chân tay của mình để bọn quyền thần dễ hoành hành, thậm chí tiến tới soán ngôi.
Một hôm Quốc Cửu Chữ Khảo, Thọ Quốc Công Trình Hựu cùng Thụy Quận Công Ngô Bính vào mật tâu với Lê Chiêu Tông. Quốc Cửu Chữ Khảo nói:
-Tâu hoàng thượng, bách tính khắp kinh thành đang truyền nhau đọc bài sấm phản nghịch có hại cho nhà Lê ta.
Lê Chiêu Tông hỏi:
-Sấm như thế nào?
-Dạ, như thế này ạ: “Trần Hữu nhất nhân, Vi Thiên hạ quân, Thổ đầu hổ vĩ, Tế thế an dân”.
Lê Chiêu Tông tức giận:
-Lại dám truyền bá một bài ca phản nghịch như vậy sao? Các khanh nghĩ như thế nào về bài “sấm” đó? Nó ứng vào ai?
Thọ Quốc Công Trình Hựu tâu:
-Dạ, muôn tâu hoàng thượng, người họ Trần không ai khác là quan phụ chính Trần Chân hiện nay. Với thế lực lớn nắm binh quyền như quan phụ chính thì mộng bá vương là điều dễ hiểu.
Thụy Quận Công Ngô Bính nói tiếp:
-Dạ tâu hoàng thượng, để trừ hậu họa thì nên sớm giết Trần Chân đi.
Lê Chiêu Tông nói:
-Nói thì dễ, làm thì khó, quyền thế của Trần Chân rất lớn, giết đâu có dễ.
Quốc Cửu Chữ Khảo ghé vào tai vua nói nhỏ:
-Như thế, như thế chắc là xong việc.
Sớm hôm sau ngày 11 tháng 7 năm 1518, Trần Chân đang ngồi trong hành dinh với các thuộc hạ như Nguyễn Kính, Nguyễn Áng, Hoàng Duy Nhạc, Cao Xuân Thì. Sau khi mọi người cạn xong một bát rượu, Nguyễn Kính hỏi Trần Chân:
-Sao chúa công hôm nay có vẻ không vui?
Trần Chân nói:
-Đúng là hôm nay ta không vui. Đêm qua ta mơ một giấc mơ đầu rơi máu chảy…
Đang khi đó có quan nội giám của Lê Chiêu Tông đến truyền khẩu dụ:
-Hoàng thượng có chỉ, mời quan phụ chính Trần Chân vào nội điện có việc gấp.
Trần Chân quỳ nhận chỉ và đáp:
-Thần tuân chỉ.
Rồi cùng nội giám và các tướng bước ra ngoài để vào cung. Bỗng nhiên một làn gió thổi cực mạnh, ngọn cờ “Soái” treo trên cột đứt dây rơi xuống. Trần Chân trèo lên yên ngựa, con ngựa hí vang thảm thiết và lồng lên dữ dội suýt hất Trần Chân xuống đất. Nguyễn Áng nói:
-Giấc mơ đầy máu, cờ “Soái” rơi xuống đất, ngựa hí và lồng lên là điềm rất xấu. Xin chúa công không nên vào cung lúc này.
Trần Chân nói:
-Vua triệu không vào là kháng chỉ, các người xui ta làm phản sao. Cứ cho Trần Trí, Nguyễn Nga, Nguyễn Bá Đá đi theo hộ vệ ta là được.
Bốn người đi vào điện Càn Nguyên, bị bức tường che khuất và khi ra sân rộng thì không thấy viên quan nội giám đâu nữa. Mọi người còn đang ngạc nhiên ngơ ngác thì từ 4 phía những trận tên như mưa dội vào 4 người. Toàn là tướng võ từng xông pha trăm trận nhưng vì quá bất ngờ, Trần Chân và 3 tùy tướng trúng tên độc vào mặt, vào người mà chết. Máu đã đổ ở sân cung điện Càn Nguyên.
Tin quan phụ chính Trần Chân bị vua Lê Chiêu Tông nghe lời bọn gian thần sát hại ở điện Càn Nguyên truyền khắp kinh thành, xôn xao dư luận, lòng người ly tán. Tại quán trà ngon nơi cũ, lại bốn cụ già hôm xưa ngồi đàm đạo về bài “sấm” truyền có hại cho quan phụ chính Trần Chân, hôm nay lại ngồi uống trà. Sau một vài chén, cụ có dáng đồ Nho gọi:
-Chủ quán.
-Dạ.
-Thêm một ấm nữa đi, cho đặc nước vào.
-Dạ.
Một cụ cất tiếng:
-Hôm nọ cụ giải thích bài “sấm” đó có hại cho quan phụ chính, nay quả nhiên quan phụ chính Trần Chân đã bị Lê Chiêu Tông giết trong điện Càn Nguyên. Đó có phải là do mệnh trời không thưa cụ?
Cụ gia đồ Nho thưởng thức một ngụm trà đặc nóng và nói chậm rãi:
-Nói là tại số mệnh cũng đúng mà không cũng đúng. Nói số mệnh đúng là vì quan trường là nơi hiểm ác, lại gặp phải thời loạn lạc, long hổ tranh hùng, các quyền thần tìm cách sát hại lẫn nhau, đã vào cuộc chơi đó thì phải chấp nhận gần như là một số mệnh. Nói không phải là số mệnh cũng đúng vì bài ca dao kia không phải là bài “sấm” của trời mà có thể do một quyền thần nào đó đặt ra để mượn bàn tay Lê Chiêu Tông diệt Trần Chân và mũi tên này đã trúng hai đích, một là gạt bỏ được vật cản đường lớn nhất là Trần Chân trên con đường vươn lên của hắn, hai là Lê Chiêu Tông mất trung thần, nhà Lê ngày càng suy yếu tạo điều kiện cho hắn soán ngôi. Bọn này đã nắm chắc được yếu điểm của Lê Chiêu Tông là còn trẻ người non dạ, hay nghe lời dèm pha, đa nghi, không biết ai là gian thần, càng không biết ai là trung thần. Trong cục diện hiện nay, giết Trần Chân, Lê Chiêu Tông đã trúng độc kế của bọn gian thần, đã tự chặt chân chặt tay của mình và tự hại mình.
Cụ đồ Nho ngừng lại, nhấp thêm ngụm nước và nói tiếp:
-Quan Phụ chính Trần Chân đã có công lao phò Lê Chiêu Tông. Trần Cảo đã nhiêu lần tiếm ngôi xưng đế tại Đông Kinh. Một mình Trần chân đã đánh bại Cảo, giữ lại ngôi báu cho Lê Chiêu Tông. Rồi khi quân triều đình rời Đông Kinh đi đánh Trần Cảo ở Chí Linh, Đa Sĩ đã nổi loạn cướp bóc kinh thành, Trần Chân lại từ Chí Linh quay về dẹp loạn, đem lại sự yên ổn cho Lê Chiêu Tông và cho kinh thành. Trần Chân là một trung thần lại có tài thao lược. Cho nên giết Trần Chân là Lê Chiêu Tông tự chặt chân tay mình, trúng vào kế của một quyền thần nào đó còn nằm trong bóng tối. Sự diệt vong của Lê Chiêu Tông là không thể tránh khỏi.
Trước đó hoàng thượng cũng đã nghe lời vu cáo của bọn gian thần, đã giết Trịnh Duy Đại và các tùy tướng ngay trong điện Càn Nguyên.
Một cụ già lại hỏi cụ đồ Nho:
-Dạ, cụ vừa nói cái chết của quan phụ chính Trần Chân là do số mệnh là thế nào?
Cụ đồ Nho đáp:
-Nghe nói trước khi vào cung ngọn cờ “Soái” của quan phụ chính Trần Chân bị gió rơi xuống đất, con ngựa mà Trần Chân cưỡi bỗng hí lên thảm thiết, lồng lên không chịu đi. Đó là vận nguy nan đã được báo trước. Nhưng cái vận hạn của quan phụ chính quá lớn đã chiến thắng, đè bẹp cái mệnh và quan phụ chính đã chết.
Một cụ nói:
-Trong trường họp đó quan phụ chính không nên vào cung.
Một cụ nói:
-Không vào cung thì kháng chỉ, có khác gì làm phản.
-Ừ nhỉ, quan trường thật là hiểm ác, khốc liệt, đúng là quan trường là chiến trường.
Lại nói các tùy tướng của Trần Chân là Nguyễn Kính, Nguyễn Áng, Hoàng Duy Nhạc, Nguyễn Hiếu, Cao Xuân Thì khuyên can Trần Chân không được, Trần Chân vẫn quyết vào cung thì rất lo lắng, ngồi uống trà để đợi tin tức, hai canh giờ sau một người lính hốt hoảng chạy về báo:
-Dạ bẩm quan phụ chính bị các cung thủ mai phục ở cung Càn Nguyên bắn chết cùng ba tùy tướng rồi ạ.
Cả bọn Nguyễn Kính ngồi lặng đi choáng váng. Nguyễn kính đập bàn tức giận:
-Tên hôn quân Lê Y này thật không biết đất trời là gì nữa, dám nghe lời dèm pha của bọn gian thần giết hại trung thần. Các tướng quân hẹn chiều nay hội quân bản bộ ở chùa Láng đánh vào cung bắt giết Lê Chiêu Tông, báo thù cho quan phụ chính.
-Tuân lệnh tướng quân.
-Bay đâu.
-Dạ.
-Đem bức thư này về Sơn Nam đưa cho quan Vĩnh Hưng Hầu Trịnh Tuy đem 2 vạn quân về tiếp ứng.
-Dạ, tuân lệnh tướng quân.
Chiều hôm đó, 3 vạn quân của các tướng dưới sự chỉ huy của Nguyễn Kính tiến đánh kinh thành. Lê Chiêu Tông chạy trốn về Gia Lâm. Quân Sơn Tây của Nguyễn Kính, Nguyễn Áng, Hoàng Duy Nhạc, Nguyễn Hiếu, Cao Xuân Thì thả sức cướp phá kinh thành. Kinh đô sạch không, dân tình náo loạn.
II
Tại hành doanh Bồ Đề, vua Lê Chiêu Tông họp cùng các đại thần bàn cách đối phó với bọn Nguyễn Kính. Lê Chiêu Tông đã cho sứ giả triệu hồi Nguyễn Hoằng Dụ ở Thanh Hóa ra cứu giá. Sứ giả về báo:
-Dạ, bẩm hoàng thượng, An Hòa Hầu Nguyễn Hoằng Dụ từ chối không đem quân ra Đông Kinh cứu hoàng thượng.
Lê Chiêu Tông tức giận:
-Hả, dám chống lại thánh chỉ, phản rồi, phản rồi.
Cung Khiêm Hầu Hà Văn Chính nói:
-Dạ, bẩm hoàng thượng, thần xin tiến cử một người có thể lui được bọn Nguyễn Kính, còn có thể dẹp yên được giặc Trần Cảo đang hoành hành ở Kinh Bắc.
Lê Chiêu Tông hỏi:
-Ai vậy?
-Dạ, bẩm hoàng thượng, đó là Vũ Xuyên Hầu Mạc Đăng Dung hiện đang trấn thủ Hải Dương.
Lê Chiêu Tông lại hỏi:
-Khanh biết gì về Mạc Đăng Dung?

Tranh minh họa Mạc Đang Dung cầm Long đao. Nguồn: nghiencuulichsu.com
-Dạ, muôn tâu. Mạc Đăng Dung sinh năm Quý Mão 1483, cuối thời vua Lê Thánh Tông, niên hiệu Hồng Đức. Quê quán Mạc Đăng Dung ở làng Cổ Trai, huyện Nghi Dung, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương, là con cháu 7 đời của lưỡng quốc trạng nguyên Mạc Đỉnh Chi đời Trần Anh Tông. Mạc Đỉnh Chi giữ chức Nhập nội hành khiển, Thượng thư môn hạ, Tả bộc xạ kiêm trung thư lệnh, Tri quân dân trọng sự. Mặc Đỉnh Chi làm quan thanh liêm, tiếng tăm lừng lẫy một thời. Nhưng đến đời cha của Mạc Đăng Dung là Mạc Hịch thì nghèo nàn, sống nơi thôn dã. Mạc Đăng Dung thời trai trẻ làm nghề đánh cá nhưng có võ nghệ và sức khỏe. Thời Lê Uy Mục, Dung dự thi môn đấu vật, trúng đô lực sĩ xuất thân trong kỳ thi tuyển võ sĩ, được tuyển vào đội túc vệ theo xe che ô cho nhà vua. Năm 1508, Mạc Đăng Dung được phong làm Đô chỉ huy sứ vệ thần vũ, năm 1511 được phong tước Vũ Xuyên Bá, năm 1518 được phong Vũ Xuyên Hầu. Quá trình làm quan Mạc Đăng Dung tỏ ra là người trung thành, vì lợi ích của triều đình, ví như trước đó có Trần Khắc Chương dùng đạo thiền Vũ thiên bồng mê hoặc bách tính. Dung dâng sớ tâu lên vua xin trị tội. Vua nghe theo đã diệt trừ Trần Khắc Chương, tín đồ và những quan lại đi theo. Năm 1517, Thiệu Quốc công thái sư Lê Quảng Độ đầu hàng Trần Cao bị bắt, Dung dâng sớ xin trị tội Độ tội bất trung.
Cối Khê Bá Lê Đại Đỗ tâu tiếp:
-Muôn tâu hoàng thượng, nhưng Mạc Đăng Dung lại thông gia với Trần Chân. Con gái Trần Chân lấy con trai của Mặc Đăng Dung là Mạc Đăng Doanh, mà hoàng thượng lại vừa giết Trần Chân. Thần cho rằng không ổn.
Lê Nghĩa nói:
-Trần Chân khi đó là quan phụ chính, nắm quyền Tiết chế, thế lực cực lớn, các quan địa phương ai mà chả muốn kết thân. Dù là thông gia nhưng Mạc Đăng Dung cũng không hết lòng vì Trần Chân đâu. Như Trần Chân liên minh với Mạc Đăng Dung để đánh Nguyễn Hoằng Dụ nhưng chính Dung đã thả cho Dụ thoát về Thanh Hóa để tạo thế đối lập với Trần Chân có lợi cho Mạc Đăng Dung.
Lê Đại Đỗ nói:
-Như thế trong thời loạn lạc này, Mạc Đăng Dung đang có những mưu tính để tạo thế có lợi cho mình. Tham vọng và mưu đồ của Mạc Đăng Dung không phải nhỏ. Mong hoàng thượng suy xét.
Lê Chiêu Tông nói:
-Cũng chưa rõ Mạc Đăng Dung là người thế nào, nhưng trong cơn hoạn nạn hiện nay, ngoài Mạc Đăng Dung thì còn ai có thể dẹp được bọn Nguyễn Kính và bọn phản loạn Trần Cảo?
-Hai khanh Hà Văn Chính và Lê Đại Đỗ nghe chỉ:
-Dạ.
-Hai khanh về Hải Dương mời Mạc Đăng Dung về triều cứu giá.
-Hạ thần tuân chỉ.
Hà Văn Chính cho người đi trước về Hải Dương báo cho Mạc Đăng Dung biết. Hai đại thần đi kiệu còn cách trấn trị Hải Dương hai dặm đã thấy hai người em của Mạc Đăng Dung là Mạc Đốc và Mạc Quyết dẫn 100 lính ra đón. Khi đến nơi, Mạc Đăng Dung ra tận cổng phủ đường đón. Theo thông lệ Hà Văn Kính nói lớn:
-Vũ Xuyên Hầu Mạc Đăng Dung tiếp chỉ:
Mạc Đăng Dung sửa áo mũ qùy xuống. Mạc Đốc, Mạc Quyết, quan lại, lính tráng trong phủ đường đều quỳ theo. Hà Văn Chính mở tờ lụa màu vàng viết chữ đen và dõng dạc đọc: “Phụng thiên thừa vận, hoàng đế chiếu viết, nay triệu hồi Vũ Xuyên Hầu Mạc Đăng Dung về kinh sư hộ giá Thiên tử. Khâm thử. Niên hiệu Quang Thiệu năm thứ 3”.
Mạc Đăng Dung lạy đáp lễ nhận chiếu chỉ và nói:
-Thần tuân chỉ, tạ ơn hoàng thượng.
Nhận chỉ xong, Mạc Đăng Dung và mọi người đứng dậy, mời hai đại thần chia nhau chủ khách uống trà. Mạc Đăng Dung gọi:
-Bay đâu.
-Dạ, bẩm Tổng trấn.
-làm cơm rượu ngon ta đãi thượng khách của triều đình.
-Dạ.
Xong lượt trà, Hà Văn Chính nói:
-Nghe đại danh của Vũ Xuyên Hầu lâu rồi nay mới được gặp.
Mạc Đăng Dung đáp:
-Không dám, hạ quan thật là vinh hạnh được đón tiếp hai đại nhân ở đây.
Ba người cơm rượu vui vẻ xong, Mạc Đăng Dung mặc chiến bào nâu, áo giáp sắt, mũ sắt nhọn, mang thanh đại đao nổi tiếng nặng 37 cân, gọi là Định Nam Đao lên ngựa điểm quân rầm rộ tiến về Đông Kinh. Hà Văn Chính và Lê Đại Đỗ quan sát thấy Dung người cao lớn, lực lưỡng, mặt vuông, tai dài, mày rậm, đôi mắt sáng quắc khôn ngoan. Cả hai đại thần đều cho rằng Dung là anh hùng trong thời trị và gian hùng trong thời loạn. Tướng mạo Dung chứa đựng những tham vọng bá vương rất lớn. Mạc Đăng Dung đem theo ba vạn quân bản bộ và các tướng lĩnh tâm phúc như em là Mạc Đốc, Mạc Quyết, con trai là Mạc Đăng Doanh, các tướng tâm phúc như Phạm Tử Nghi, Lê Bá Vi…Mạc Đăng Dung cho thủy quân đóng ở dòng Bắc sông Hồng, bộ binh đóng doanh trại ở Bồ Đề. Sau đó Dung vào yết kiến vua Lê Chiêu Tông. Gặp vua, Dung vội quỳ xuống hành lễ:
-Bẩm hoàng thượng, thần Vũ Xuyên Hầu Mạc Đăng Dung, Tổng trấn Hải Dương, chúc hoàng thượng vạn tuế, vạn tuế.
Vua Lê Chiêu Tông nói:
-Miễn lễ, ái khanh đứng dậy đi.
-Thần đa tạ hoàng thượng.
Mạc Đăng Dung đứng dậy. Lê Chiêu Tông khi đó mới nhìn rõ Mạc Đăng Dung, quả nhiên xứng đáng là một đô lực sĩ, trạng nguyên võ, oai phong lực lưỡng, mặt to tai lớn. Nhìn Mạc Đăng Dung, Lê Chiêu Tông bỗng nhiên cảm thấy hoảng sợ, lo lắng. Mạc Đăng Dung cũng nhìn kỹ vua Lê Chiêu Tông. Đó là vị vua còn quá trẻ, nếu vua sinh năm 1506 thì năm nay mới 14 tuổi. Vua trẻ lại bất tài, đa nghi, các đại thần tài giỏi như Trần Chân và một số người khác bị vua nghe lời dèm pha của bọn gian thần mà giết hết. Nhìn tình cảnh triều đình đầy quan viên nhưng trống rỗng, nhân tài vắng bóng, Mạc Đăng Dung vui mừng trong bụng vì âm mưu bước lên ngai vàng của Dung càng dễ dàng thực hiện, không bị ai cản bước mà khâu đầu tiên là phải diệt trừ hết những vây cánh trung thành với Lê Chiêu Tông còn lại, đưa và bổ nhiện tay chân vây cánh của Mạc Đăng Dung lấp kín triều đình, khi đó bước tới và ngồi vào ngai vàng dễ như thò tay vào túi lấy đồ vật.
Lê Chiêu Tông gọi: -Người đâu, mở yến tiệc mừng Vũ Xuyên Hầu Mạc Đăng Dung về triều hộ giá.
-Dạ, tuân lệnh hoàng thượng
Mạc Đăng Dung chắp tay hành lễ:
-Thần đa tạ hoàng thượng.
Sau đêm tiệc của triều đình chiêu đãi, sáng hôm sau Lê Chiêu Tông thiết triều bàn việc đánh bọn Nguyễn Kính, Nguyễn Áng, Trịnh Tuy, Hoàng Duy Nhạc và tay chân của Trần Chân còn lại. Mạc Đăng Dung nói:
-Tâu Hoàng thượng, thần đã có kế sách đối phó, trước hết cứ dụ hàng, sau đó không hàng thần sẽ đánh.
Lê Chiêu Tông nói:
-Chuẩn tấu, khanh cứ theo kế sách đó mà làm.
-Thần tuân chỉ.
Thực ra Mạc Đăng Dung cho người đi gặp Nguyễn Kính để trao thư dụ hàng, mà sai tay chân viết một bức thư giả làm thư của bọn Nguyễn Kính để diệt hết tay chân thân cận của Lê Chiêu Tông. Hôm sau Mạc Đăng Dung nói với Lê Chiêu Tông:
-Dạ bẩm hoàng thượng, thần đã cho người đưa thư dụ hàng và đây là thư trả lời của bọn Nguyễn Kính.
Lê Chiêu Tông nói:
-Trình lên đây.
Mạc Đăng Dung chuyển thư cho nội quan, nội quan dâng lên cho vua Lê Chiêu Tông. Thư viết: “Thiết Sơn Bá Trần Chân bị giết là do bọn Chữ khải, Trịnh Hựu, Ngô Bính dèm pha. Nếu hoàng thượng giết ba người ấy thì vua tôi lại như cũ, không có mưu đồ gì khác”.
Lê chiêu Tông gọi:
-Võ sĩ đâu.
-Dạ.
-Truyền lôi Đoan Quận Công Ngô Bính, Thọ Quận Công Trịnh Hựu và đại thần Chữ Khải ra chém.
Chỉ một bức thư, ba đại thần thân tín của vua Lê Chiêu Tông. Vài ngày sau Lê Chiêu Tông hỏi Mạc Đăng Dung:
-Sao trẫm đã giết ba người theo yêu cầu của bọn Kính mà chúng vẫn chưa về hàng.
Tiếp tục dùng kế mượn tay vua để giết đại thần, Mạc Đăng Dung đáp:
-Muôn tâu hoàng thượng, bọn người nuốt lời hứa này thần sẽ đem quân trừng phạt. Hiện nay ở Bồ Đề không an toàn cho hoàng thượng, xin hoàng thượng dời hành dinh và xa giá về Bảo Châu ,Từ Liêm.
Quan Đô Ngự sử Đỗ Nhạc can ngăn:
-Vũ Xuyên Hầu sao ức hiếp hoàng thượng quá đáng, bắt dời hành cung ra chỗ này rồi lại chạy xa giá ra chỗ khác.
Quan phó Đô Ngự sử cũng nói:
-Ngài mới về triều, chưa lập được chút công cán gì, lại dám bắt nạt hoàng thượng. Ngài muốn gì đây?
Mạc Đăng Dung to tiếng:
-Là đại thần ăn lộc của triều đình, của vua, sao không lo an toàn cho vua là phản tội phản nghịch. Bay đâu.
-Dạ.
-Truyền tước mũ áo hai đại thần đuổi về quê vì tội phản đối việc bảo vệ an toàn cho hoàng thượng.
-Tuân lệnh Vũ Xuyên Hầu.
Chiêu Tông nhìn hai đại thần của mình bị đuổi mà không dám can ngăn. Hai đại thần vừa bị lôi đi vừa quay lại mắng lớn:
-Hoàng thượng, chính Mạc Đăng Dung là phản nghịch, nó sẽ diệt hết những đại thần tay chân của Người để cướp ngai vàng. Hoàng thượng. Hãy nhớ lời thần.
Vua đành theo Mạc Đăng Dung về hành cung Bảo Châu. Từ đó quyền hành triều đình trong tay Mạc Đăng Dung.
Lại nói bọn Nguyễn Kính, Hoàng Duy Nhạc, Nguyễn Áng nghe tin Mạc Đăng Dung đem quân thủy bộ từ Hải Dương về Kinh Đô giúp vua Lê Chiêu Tông, còn chưa biết đối phó ra sao, bỗng có tùy tướng vào báo:
-Dạ, bẩm tướng quân, người của Trịnh Tuy xin vào gặp.
Nguyễn Kính nói:
-Cho vào.
Tùy tướng của Trịnh Tuy bước vào:
-Kính chào các tướng quân. Chúa công Trịnh Tuy có bức thư gửi cho các tướng quân.
Tùy tướng trao thư cho Nguyễn Kính, Nguyễn Kính bóc thư ra đọc. Thư viết: “Nay thế của Mạc Đăng Dung rất mạnh không chỉ về lực lượng mà còn lấy được danh nghĩa phò Lê Chiêu Tông để hiệu triệu thiên hạ. Nay nếu các tướng quân đồng ý thì ta cùng hợp lực đưa một cháu chắt của nhà Lê lên ngôi thì thiên hạ mới theo. Thiên hạ theo thì sự nghiệp mới thành được. Nay kính thư”.
Nguyễn Kính đưa thư cho Hoàng Duy Nhạc và Nguyễn Áng, Cao Xuân Thì đọc. Cả bốn đồng ý với Trịnh Tuy, lập một triều đình mới thay cho triều Lê Chiêu Tông đang bị Mạc Đăng Dung khống chế. Vậy là tháng 9 năm 1518, tại hành điện Do Nha, Từ Liêm, bọn Trịnh Tuy, Nguyễn Kính…đưa chắt 4 đời của Cung Vương Lê Khắc Xương, con của Tu Tĩnh Công Lê Lôi là Lê Bảng lên ngôi, gọi là Đại Đức Đế. Lê Khắc Xương là hoàng tử thứ hai của vua Lê Thái Tông (1433-1442). Được nửa năm sau, bọn Trịnh Tuy lại phế Lê Bảng, lập Lê Do, gọi là Thiên Hiền Đế. Bọn Trịnh Tuy tự xếp đặt các quan văn võ trong triều đình mới.
Ở Đông Kinh, Lê Chiêu Tông và Mạc Đăng Dung nhận được tin cấp báo rằng bọn Trịnh Tuy lập một triều đình mới, Lê Chiêu Tông hỏi Mạc Đăng Dung:
-Bây giờ Vũ Xuyên Hầu định thế nào với bọn phản nghịch?
Mạc Đăng Dung đáp: -Tâu hoàng thượng, xin hoàng thượng ra chỉ dụ điều Nguyễn Hoằng Dụ từ Tây Đô đánh ra mặt Nam, thần sẽ từ Đông Kinh đánh từ phía Bắc. Hai mặt ép lại thế nào cũng phá được chúng.
Lê Chiêu Tông còn trẻ, không thể hiểu được ý đồ của Mạc Đăng Dung. Dung không chỉ muốn tiêu diệt các đại thần trong triều, tay chân của Lê Chiêu Tông để đưa người của Dung vào, mà còn phải tiêu diệt các thế lực quân phiệt lớn ở các địa phương mà nay hoặc mai sau sẽ đối lập với Mạc Đăng Dung. Trong đó có hai thế lực lớn là Trịnh Tuy và Nguyễn Hoằng Dụ. Bây giờ mượn chỉ của Lê Chiêu Tông để đẩy Dụ đánh Tuy, bất kể thế lực nào bị tiêu diệt và một bên kiệt quệ suy yếu cũng đều có lợi cho Dung.
Nghe kế sách của Dung, Lê Chiêu Tông cho là phải liền nói:
-Chuẩn tấu.
Liền cho sứ giả đem chiếu chỉ vào Thanh Hóa, lệnh cho Nguyễn Hoằng Dụ đem quân ra Bắc phối hợp với Mạc Đăng Dung đánh Trịnh Tuy, diệt ngụy triều Lê Do. Nguyễn Hoằng Dụ không biết đó là kế của Mạc Đăng Dung, định xuất binh. Tùy tướng của Nguyễn Hoằng Dụ can:
-Nay Mạc Đăng Dung đa mưu quỷ kế, đã mượn chỉ dụ của Lê Chiêu Tông giết hại rất nhiều đại thần, gây dựng thế lực trong triều, sớm muộn thế nào cũng cướp ngôi. Chúa công và Trịnh Tuy cũng là những lực lượng mà Mạc Đăng Dung phải tiêu diệt trên con đường soán ngôi. Đây là kế đẩy chúa công cùng với Trịnh Tuy tiêu diệt nhau, Mạc Đăng Dung đứng ngoài hưởng lợi. Mong chúa công suy xét.
Nguyễn Hoằng Dụ nói:
-Lê Chiêu Tông đã nhiều lần nguy khốn nhờ cậy ta, sai lầm của ta là nhiều lần ta từ chối để Mạc Đăng Dung có thời cơ len được vào triều chính. Nay ta phải ra Bắc để Lê Chiêu Tông biết rằng còn có một chỗ dựa ở quê nhà, cũng để cho Mạc Đăng Dung biết rằng còn một lực lượng khác bên cạnh vua để Dung bớt uy hiếp vua.
Rồi Dụ đem 2 vạn quân đi suốt ngày đêm vượt 300 dặm từ Thanh Hóa ra Đông Kinh, sáng hôm sau đến Nam địa phận Do Nha đã trông thấy 3 vạn quân Trịnh Tuy dàn trận hình cánh cung chờ đợi. Nguyễn Hoằng Dụ một mặt cho một tùy tướng đi báo cho Mạc Đăng Dung để phối hợp tấn công, mặt khác cứ dàn quân chiến đấu. Một tùy tướng nói với Nguyễn Hoằng Dụ:
-Bẩm chúa công, quân ta ít, quân địch nhiều, quân địch dàn thế trận cánh cung là để bao vây tiêu diệt quân ta, mong chúa công chờ quân của Mạc Đăng Dung đến rồi cùng tiến đánh.
Nguyễn Hoằng Dụ nói:
-Không được làm lòng quân hoang mang. Quân ta ít những sẽ có quân Mạc Đăng Dung tấn công mặt Bắc, hai mặt ép lại quân Tuy phải thua.
Rồi dàn trận quyết chiến. Trông thấy Nguyễn Kính, Nguyễn Hoằng Dụ mắng:
-Cả đời ăn lộc nhà Lê sao nay lại phản, xuống ngựa chịu trói mau.
Nguyễn Kính cười ha hả:
-Ông là đại thần nhà Lê mà như con chuột nằm bám rễ ở Thanh Hóa, năm lần bảy lượt vua Lê Chiêu Tông nguy khốn bảo ra cứu giá không ra, để cho Mạc Đăng Dung được triệu vào Kinh giết biết bao đại thần thân tín của vua, đưa tay chân thân tín đầy triều, biến vua thành bù nhìn, chuẩn bị soán ngôi. Đó không phải là lỗi của ngươi tiếp tay cho giặc sao?
Nguyễn Hoằng Dụ quá tức giận thét :
-Có ai ra bắt thằng giặc này cho ta.
-Có mạt tướng.
Tùy tướng của Nguyễn Hoằng Dụ là Trần Đô múa đại đao xông ra giao đấu với Nguyễn Kính. Được 20 hiệp, Kính lia một gươm, đầu Trần Đô lăn xuống đất. Trịnh Tuy hô to:
-Xông lên giết.
Quân Trịnh Tuy xông lên chém giết, lại hình thành thế bao vây. Quân Nguyễn Hoằng Dụ đại bại mà không thấy bóng dáng quân Mạc Đăng Dung đâu. Nguyễn Hoằng Dụ đường cùng được các tùy tướng mở đướng máu chạy thoát về hướng Nam nhưng dọc đường kiệt sức chết do già yếu. Trước khi chết, Dụ kêu to lên uất hận:
-Ta cả đời chinh chiến lại bị tên gian hùng Mạc Đăng Dung đánh lừa. Than ôi, hận này biết bao giờ nguôi!!!
Nói xong Nguyễn Hoằng Dụ tắt thở.
Nghe tin Nguyễn Hoằng Dụ đại bại và chết, Trịnh Tuy cho rằng một mình Mạc Đăng Dung là không đáng kể, liền tung quân vượt qua cầu phao sang sông đánh vào hành dinh Bồ Đề. Quân Trịnh Tuy đông hàng vạn băng băng rầm rập chạy qua cầu. Đột nhiên, một phát tên lửa bắn lên không trung. Từ hai bên dòng sông hàng trăm thuyền chiến trút bỏ lá ngụy trang xông ào ạt vào hai bên cầu. Quân lính trên thuyền chiến bắn tên như mưa vào quân trên cầu. Quân Trịnh Tuy trúng tên hàng trăm, hàng nghìn lộn nhào xuống sông mà chết. Quân Mạc Đăng Dung còn bắn tên lửa vào cầu, cầu bốc cháy và đứt. Hàng nghìn quân Trịnh Tuy nhào xuống sông chết đuối, hoặc bị lửa thiêu, hoặc bị trúng tên mà chết. Tùy tướng của Trịnh Tuy là Mai Đường Bá tử trận. Trịnh Tuy cùng các tướng mở đường máu đem vua Lê Do chạy về Yên Lãng, Yên Lạc, sau đó lại đem Do về Từ Liêm.
Tháng 7 năm 1519, Mạc Đăng Dung quyết tâm tiêu diệt bằng được Trịnh Tuy, liền đem 3 vạn quân bao vây Do Nha. Trời tháng 7 mưa như trút nước, nơi hành dinh của Lê Do lại thấp. Mạc Đốc nói với Mạc Đăng Dung:
-Huynh cứ cho phá đê nước tràn ngập vào thì Lê Do và Trịnh Tuy cùng quân sĩ biến thành cá.
Mạc Đăng Doanh nói:
-Tháo nước vào thì chết quá nhiều bách tính.
Mạc Đăng Dung nói:
-Chết bách tính mà diệt được kẻ thù thì không sao cả. Chiến tranh không được mềm lòng.
Liền ra lệnh phá đê. Hành dinh Do Nha phút chốc chìm trong biển nước. Cư dân trong khu vực đó như ong vỡ tổ, nhà cửa tài sản ngập chìm. Vô số trẻ em, người gìa, phụ nữ chết đuối. Tiếng kêu khóc vang trời. Nước sông vẫn vô tình đổ về như thác. Quân đội của Mạc Đăng Dung đông hàng vạn thản nhiên đứng nhìn như không có chuyện gì xẩy ra. Vua Lê Do và cận thần Nguyễn Sư lóp ngóp bơi vào bờ bị quân Mạc bắt và giết chết. Trịnh Tuy không rõ bằng cách nào chạy thoát về Thanh Hóa. Các tướng Sơn Tây Nguyễn Áng, Nguyễn Kính, Hoàng Duy Nhạc biết đại cục đã vỡ liền theo hàng Mạc Đăng Dung.
Ngày 20 tháng 9 năm 1519, Mạc Đăng Dung rước vua Lê Chiêu Tông về Đông Kinh. Vua ban chiếu đại xá thiên hạ, thăng chức tước của các quan lên một cấp. Mạc Đăng Dung được phong lên Minh Quận Công, đầu năm 1521 lại phong lên Nhân Quốc Công, thống lĩnh quân thủy bộ 13 đạo. Trong triều đình lúc này hầu hết các chức vụ quan trọng đều nắm trong tay vây cánh của Mạc Đăng Dung, hoặc là ngả theo Mạc Đăng Dung. Thế lực của Dung lúc này nghiêng ngửa triều đình. Tâm phúc của vua Lê Chiêu Tông chỉ còn đếm trên đầu ngón tay như Lại Thế Vinh, Nguyễn Kim, Trịnh Công Năng, hoàng thân Lê Ý. Nhóm này thường bí mật gặp Lê Chiêu Tông bàn cách đối phó với Mạc Đăng Dung nhưng đều cảm thấy bất lực và cực kỳ nguy hiểm bởi tai mắt của Dung đầy triều. Một lần gặp nhau trong hậu cung, hoàng thân Lê Ý nói:
-Chúng ta thấy rõ Nhân Quốc Công Mạc Đăng Dung đã và đang chuyên quyền nhưng bản vương thấy rằng trước mắt nên dùng đạo trung nghĩa mà thuyết phục.
Lê Chiêu Tông hỏi:
-Bằng cách nào, thưa thân vương?
Lê Ý nói:
-Dạ, tâu hoàng thượng, có thể phải chính hoàng thượng đến phủ Mạc Đăng Dung thuyết phục và phong Dung chức Thái phó.
Đại thần Nguyễn Kim tức giận nói:
-Không được, nước Đại Việt từ khi có vua đến giờ theo lễ nghĩa vua tôi, chỉ có bề tôi vào triều bái yết vua chứ không có vua đến nhà bề tôi. Chính các ngài đã phá nát lễ nghĩa và dung túng cho Mạc Đăng Dung làm càn.
Lê Chiêu Tông nói:
-Ái khanh Nguyễn Kim nói đúng nhưng thời thế của chúng ta ngày nay đã khác. Mạc Đăng Dung đã tiết chế 13 đạo quân thủy bộ. Em của Dung là Mạc Đốc đã nắm toàn bộ quân ngự lâm, quá 2/3 đại thần triều đình là vây cánh của Mạc Đăng Dung. Chúng ta như cá nằm trên thớt. Cho nên trẫm sẽ phá lệ, tự đến dinh của Mạc Đăng Dung may ra có thể cứu được cơ nghiệp nhà Lê.
Một sáng Mạc Đăng Dung đang ngồi uống trà sau ăn sáng thì có lính vào báo:
-Dạ, bẩm Nhân Quốc Công, có hoàng thượng giá đáo. Mạc Đăng Dung nở một nụ cười ranh mãnh bước ra ngoài hành lễ:
-Không nghênh đón xa giá từ xa, tội thần đáng muôn chết.
Lê Chiêu Tông xuống kiệu:
-Miễn lễ, là do ta đến mà không báo cho ái khanh biết trước.
Sau khi vào đại phủ, Vua Lê Chiêu Tông ngồi rồi, Mạc Đăng Dung và các quan theo nghi lễ vẫn đứng. Mạc Đăng Dung nói:
-Dạ bẩm hoàng thượng, hoàng thượng xa gia khó nhọc tới đây chắc là có việc quân quốc trọng sự?
Lê Chiêu Tông đáp:
-Khanh là bậc trung nghĩa ái quốc, công lao lớn đã dẹp được các thế lực đại thần chống đối để thiên hạ bình yên. Nay trẫm tới đây là để thăm phủ đệ của ái khanh. Thứ hai là để xứng công lao của khanh, nay phong thêm chức và giao thêm trọng trách cho khanh. Quan nội giám:
-Dạ, có thần.
-Tuyên chỉ.
-Dạ, tuân lệnh hoàng thượng.
Đại thần Nhân Quốc Công Mạc Đăng Dung tiếp chỉ:
Mạc Đăng Dung, gia đình, gia tướng vội quỳ xuống. Nội quan giở bản lụa vàng và đọc: “Phụng thiên thừa vận, hoàng đế chiếu viết, xét công lao to lớn của Nhân Quốc Công Mạc Đăng Dung nay sắc phong cho chức Thái phó bình chương quân quốc trọng sự. Khâm thử. Niên hiệu Quang Thiệu năm thứ 6.”.
Mạc Đăng Dung giơ tay nhận chỉ và nói:
-Thần đa tạ hoàng thượng.
Lê Chiêu Tông nói:
-Miễn Lễ, ái khanh đứng dậy đi.
-Tạ ơn hoàng thượng.
Lê Chiêu Tông nói tiếp:
-Còn công việc quan trọng sắp tới của khanh là dẹp tan lũ phản loạn Trần Cảo hiện còn hoành hành ở Kinh Bắc và Bắc Giang.
Mạc Đăng Dung đáp:
-Thần tuân chỉ.
Lê Chiêu Tông liếc nhìn khuôn mặt của Mạc Đăng Dung khi được phong chức Thái phó không một chút vui mừng. Bộ mặt lì lợm thản nhiên như là điều đó thật quá nhỏ so với tham vọng của một quyền thần đắc thế. Lê Chiêu Tông thất vọng cáo biệt Mạc Đăng Dung. Mạc Đăng Dung cùng các anh em tùy tướng tiễn kiệu vua ra khỏi cổng phủ. Ngay chiều hôm đó, Mạc Đăng Dung họp bàn với các tướng về việc đánh dẹp loạn Trần Cảo. Mạc Đăng Dung nói:
-Ta đã sai thám mã đi do thám về Trần Cảo và con là Trần Cung đã 10 ngày rồi mà không thấy về.
Chợt có tùy tướng vào báo:
-Dạ, bẩm Thái phó có thám mã muốn vào gặp.
-Cho vào.
Thám mã vào:
-Dạ bẩm Thái phó…
-Cứ nói đi.
-Dạ, sau lần bị Trần Chân đánh bại ở Bồ Đề, Trần Cảo rút về phía Bắc sông Minh Nguyệt, chiếm cứ miền Kinh Bắc. Sau đó Cảo truyền ngôi cho con là Trần Cung rồi xuống tóc đi tu và từ đó không thấy tung tích đâu nữa.
Mạc Đăng Dung hỏi:
-Thế còn Trần Cung?
-Dạ, Trần Cung chiếm cứ vùng Kinh Bắc và Thái Nguyên xưng hoàng đế, niên hiệu là Tuyên Hóa.
Mạc Đăng Dung ra lệnh:
-Tướng quân Mạc Quyết.
-Dạ có mạt tướng.
-Tướng quân đem 1 vạn quân đi tiên phong lên Thái Nguyên đánh Trần Cung.
-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.
-Mạc Đăng Doanh, Mạc Đốc đâu?
-Dạ có mạt tướng.
-Mạc Đăng Doanh đi trung quân, Mạc Đốc đi hậu quân cùng tiến đánh Thái Nguyên.
-Mạt tướng tuân lệnh.
Tháng 8 năm 1521, dưới trời nắng như đổ lửa, 3 vạn quân Mạc rầm rộ tiến về Thái Nguyên đánh vào hành dinh của vua Tuyên Hóa Trần Cung. Đến Phổ Yên đã thấy Trần Cung dàn quân nghênh chiến. Quân Mạc Quyết bên tả, quân Mạc Đốc bên hữu sẵn sàng bao vây quân địch. Mạc Đăng Dung, Mạc Đăng Doanh cưỡi ngựa đứng ở trung quân. Mạc Đăng Dung nói lớn:
-Thằng nhãi ranh phản loạn Trần Cung bảo bố mày là Trần Cảo ra đây chịu trói đi.
Trần Cung quát:
-Thằng giặc họ Mạc kia, mày đã giết hại bao nhiêu trung thần của nhà Lê, có ai ra bắt thằng giặc này đền tội không?
Trong hàng trận Trần Cung, em Trần Cung là Trần Chúc múa gươm xông ra. Mạc Đăng Dung bị mắng nổi giận, múa thanh đại đao nặng 37 cân nổi tiếng thúc ngựa màu đen xông ra. Chỉ 10 hiệp, Mạc Đăng Dung đưa đại đao qua cổ Trần Chúc, chiếc đầu đẫm máu văng xuống đất. Mạc Đăng Doanh thấy vậy hô lớn:
-Xông lên giết.
3 vạn quân Mạc Đăng Dung khép chặt vòng vây chém giết, gươm giáo chạm nhau tóe lửa, máu chảy đầu rơi. Quân Trần Cung đại bại, 2 vạn quân bị giết, thây chồng chất, máu chảy thành suối. Trần Cung mở đường máu phá vây cùng tàn quân chạy lên phía Bắc. Mạc Đăng Dung ra lệnh cho Mạc Quyết, Mạc Đốc truy kích đuổi cùng, diệt tận, cuối cùng bắt được Trần Cung ở Thất Nguyên (Thất Khê) Cao Bằng, đóng cũi đem về kinh sư và chém chết. Cuộc phản loạn của Trần Cảo, Trần Cung kéo dài từ thời Lê Uy Mục, Lê Tương Dực, đến đời Lê Chiêu Tông hoàn toàn bị Mạc Đăng Dung tiêu diệt. Thanh thế của Mạc Đăng Dung chấn động thiên hạ. Triều đình lúc này hoàn toàn nằm trong tay Mạc Đăng Dung. Mạc Đăng Dung tiếp tục củng cố thế lực vây cánh, chuẩn bị cho việc soán ngôi nhà Lê. Qua mai mối, Dung kết thông gia với quan thượng thư bộ lễ Phạm Gia Mô. Dung cho em rể là Quỳnh Khê Hầu làm hữu Đô đốc trấn giữ Sơn Tây, giữ vị trí xung yếu phía Tây kinh thành, sai em là Mạc Quyết chỉ huy đạo binh túc vệ, sai con là Mạc Đăng Doanh coi giữ điện Kim Quang để giám sát vua Lê Chiêu Tông. Dung còn đưa vào cung một mỹ nhân cho nhà vua để dò la tin tức, nhất cử nhất động của vua Lê Chiêu Tông và thân tín. Trước tình hình đó, một số thượng thư như Trình Chí, Nguyễn Thì Nuy… đã ngả theo Mạc Đăng Dung. Năm 1522 đại thần Lê Bá Hiếu đã dấy quân chống lại Mạc Đăng Dung ở Đông Ngàn, Gia Lâm. Dung đem quân đánh dẹp. Vài nghìn quân bản bộ của Lê Bá Hiếu không chống lại được 2 vạn quân chính quy của Mạc Đăng Dung. Chỉ một buổi sáng, lực lượng Lê Bá Hiếu bị đánh tan. Lê Bá Hiếu bị bắt và bị chém đầu. Một số quan chức của triều đình tỏ ý chống đối, Dung ra tay sát hại không thương tiếc như Dung giết thị vệ Nguyễn Cấu, Đô lực sĩ Minh Sơn Bá, Nguyễn Thọ, Đàm Cử và nhiều quan viên của triều đình. Khi đó Mạc Đăng Dung đi kiệu thì trang trí long phượng dát vàng, đi thuyền thì thuyền rồng không kém gì nghi vệ của một hoàng đế.
Vào một đêm khuya, có mấy người lính thị vệ đi tuần, sau đó họ lẻn vào mật cung của vua Lê Chiêu Tông. Sau khi họ bỏ trang phục ngự lâm thì đó là đại thần Nguyễn Kim, Lại Thế Vinh, Trịnh Công Năng và một số người khác. Họ cải trang để tránh con mắt nhòm ngó của bọn mật thám đầy trong triều của Mạc Đăng Dung, kể cả nơi hậu cung của Vua. Chưa có vị vua nào mà khốn khổ như Lê Chiêu Tông. Tai mắt của quyền thần soi đến tận long sàng của vua. Nguyễn Kim, Lại Thế Vinh, Trịnh Công Năng và các đại thần quỳ hành lễ Lê Chiêu Tông. Lê Chiêu Tông nói rất khẽ:
-Miễn lễ, các ái khanh đứng dậy cả đi.
-Đa tạ hoàng thượng.
Vua Lê Chiêu Tông gọi thị nữ đem lên khay trà. Vài ngọn đèn dầu lạc trong những bát đồng tỏa ra ánh sáng vàng khè yếu ớt, vua cùng các đại thần uống trà. Một lát vua cho các thị nữ ra ngoài, đóng cửa và nói:
-Mạc Đăng Dung đưa các anh em và tay chân thân tín nắm hết các chức vụ trọng yếu trong triều đình, giết hại nhiều đại thần chống đối. Nay thiên hạ nhà Lê sắp mất vào tay nhà Mạc đã rõ. Trẫm bây giờ cũng như cá nằm trên thớt, như chim trong lồng. Các khanh có kế sách gì cứu vãn được ngai vàng và giang sơn nhà Lê Không?
Lại Thế Vinh nói:
-Hoàng thượng phải cải trang và trong đêm tối trốn về Sơn Tây, ra lời hiệu triệu cần vương, huy động lực lượng địa phương các trấn thì mới có thể đánh bại Mạc Đăng Dung, cứu vãn ngai vàng và giang sơn nhà Lê.
Lê Chiêu Tông hỏi Nguyễn Kim:
-Ái khanh thấy thế nào?
Nguyễn Kim đáp:
-Tâu hoàng thượng, trong tình thế hiện nay, chỉ còn cách như đại nhân Lại Thế Vinh nói mà thôi.
Vua Lê Chiêu Tông nói:
-Ta trốn đi nhưng phải mang theo hoàng thái hậu và em ta là Lê Xuân đi cùng, nếu ở lại tính mệnh sẽ rất nguy hiểm.
Trịnh Công Năng nói:
-Nếu báo cho thái hậu và điện hạ Lê Xuân công việc có thể bị bại lộ. Vả lại lúc này Mạc Đăng Dung chưa có gan giết thái hậu và điện hạ đâu.
Lê Chiêu Tông buồn thảm nói:
-Thôi cũng đành như vậy thôi.
Vào tối hôm 27 tháng 7 năm 1522, như thường lệ chiếc xe chở thực phẩm cho vua vẫn đi vào cung điện, sau đó đi vào nhà bếp hoàng gia, sau khi dỡ rau, thịt, thực phẩm và hoa quả, xe lại được bịt kín và dời đi trước con mắt nhìn ngó của quân túc vệ của Mạc Quyết và quân canh giữ điện Kim Quang của Mạc Đăng Doanh. Một tên lính chặn xe:
-Dừng xe, xuống xe để khám xét.
Người đánh xe ngựa nói:
-Dạ bẩm quan, xe chở thực phẩm cho nhà bếp hoàng gia, vừa mới vào chỉ nửa canh giờ, xuất hết thực phẩm cho nhà bếp, bây giờ quay ra.
Tên chỉ huy bảo:
-Xe này chở thực phẩm cho hoàng thượng, vừa khám rồi, đi đi.
-Dạ, tạ ơn quan chỉ huy.
Chiếc xe ra khỏi tử cấm thành, hoàng thành và cuối cùng ra khỏi kinh thành và chạy một mạch lên Sơn Tây. Khi đến vùng Minh Nghĩa, Sơn Tây xe dừng lại, bọn người vội vã lên xe lôi đủ các thứ bao tải, sọt tre và đỡ một người nằm dưới sàn xe dậy. Một người nói:
-Để hoàng thượng khổ cực thế này tội chúng thần đáng muôn chết.
Người được giấu dưới sàn xe chính là vua Lê Chiêu Tông. Chuyến đi trót lọt như vậy là nhờ sự giúp đỡ của Phạm Hiền, Phạm Thứ. Khi Lê chiêu Tông bước xuống xe thì các tướng Hà Phi Chuẩn, Đàm Thận Huy, Lê Đình Tú phủ phục dưới đất và nói:
-Hoàng thượng vạn vạn tuế, xa giá khổ cực long đong, tội các hạ thần đáng muốn chết.
Lê Chiêu Tông mệt mỏi nói:
-Các ái khanh đứng dậy đi, xa giá long đong vất vả tội ở thần quyền nghịch đạo, không phải lỗi ở các khanh. Đa tạ các khanh đã hộ giá.
Cả bọn đưa vua Lê Chiêu Tông vào căn nhà gỗ lợp ngói nghỉ ngơi. Hôm sau thì bọn Nguyễn Kính, Nguyễn Áng đem quân tới, các võ quan Sơn Tây cũng đem quân về hộ giá. Thanh thế quân cần vương rất lớn.
Hôm sau 28 tháng 7, Mạc Đăng Dung đang ngồi trong phủ thì có Mạc Đăng Doanh và Mạc Quyết vào báo:
-Bẩm thân phụ, đêm qua vua Lê Chiêu Tông đã bỏ trốn lên Sơn Tây, đang tập hợp quân cần vương chống lại chúng ta.
Mạc Đăng Dung giận dữ:
-Các ngươi canh phòng giám sát thế nào vậy? Mạc Quyết coi quân túc vệ, Mạc Đăng Doanh coi điện Kim Quang mà để Lê Chiêu Tông trốn thoát. Mưu đồ bá vương mà làm ăn vậy sao?
Mạc Quyết nói:
-Dạ, đệ xin chịu hình phạt vì vua lẩn trốn trong xe chở thực phẩm. Thực không ngờ…
Mạc Đăng Dung nói:
-Gọi Hoàng Duy Nhạc đến đây.
Hoàng Duy Nhạc bước vào:
-Dạ, chúa công cho gọi mạt tướng?
Mạc Đăng Dung ra lệnh:
-Nay vua Lê Chiêu Tông bỏ chạy lên Sơn Tây tụ hội quân cần vương chống lại ta. Tướng quân đem 4 vạn quân lên đánh và bắt vua trở về.
-Mạt tướng tuân lệnh.
Rồi Hoàng Duy Nhạc kéo quân về Sơn Tây. Đi đến Thạch Thất, trước mặt là con đường nhỏ đầy cây cối như rừng. Tùy tướng của Hoàng Duy Nhạc nói:
-Đường nhỏ, cây cối rậm rạp, tướng quân đề phòng có mai phục.
Hoàng Duy Nhạc cười ha hả:
-Lê Chiêu Tông phải trốn trong xe thực phẩm để chạy, còn đâu khí thế mà mai với phục.
Nhạc cứ thúc quân đi, khi lọt hết vào khu hiểm địa thì nghe thanh là chiêng trống vang dội. Những trận tên như mưa bão từ hai bên cây rậm tuôn ra. Hàng vạn quân Mạc trúng tên gục chết, máu phun như nước. Sau những trận mưa tên là quân mai phục do Nguyễn Kính, Nguyễn Áng chỉ huy xông ra chém giết. Hoàng Duy Nhạc bị giết tại trận. Tàn quân Mạc còn lại tháo chạy về Đông Kinh.
Sau trận thắng này, thế lực quân cần vương bao trùm các khu vực phía Tây, phía Nam, phía Bắc kinh thành. Mạc Đăng Dung chỉ còn thế lực ở Đông Kinh và khu vực phía Đông. Trong một lần họp phe cánh bàn cách đối phó, Thái sư Lường quốc công Lê Phụ nói:
-Để đối phó với Lê Chiêu Tông và quân Cần Vương, chúng ta phải có danh chính thì ngôn mới thuận, ta phải có vua, phải lập Lê Xuân là em Lê Chiêu Tông lên làm hoàng đế, phế bỏ Lê Chiêu Tông, có như vậy Lê Chiêu Tông mới không còn danh chính ngôn thuận mà huy động quân cần vương. Quân cần vương tự khắc tan rã.
Mạc Đăng Dung vui mừng nói:
-Hay lắm, Thái sư nói chính hợp ý ta.
Hôm sau, Mạc Đăng Dung cho triệu Lê Xuân đến và nói:
-Lê Chiêu Tông tự ý bỏ kinh thành mà đi, nhà vua trở thành phản loạn. Để cho thiên hạ yên bình, nước một ngày không thể không có vua, thần khẩn xin điện hạ lên ngôi hoàng đế.
Rồi Mạc Đăng Dung ra lệnh Lê Xuân mặc áo long bào, đội vương miện, đi hài vàng, sai nội giám dắt tay Xuân lên ngai vàng ở điện Càn Nguyên. Các đại thần vội phủ phục tung hô:
-Chúc mừng hoàng thượng, hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.
Lê Xuân ngỡ ngàng lóng ngóng. Nội quan đứng cạnh nhắc:
-Hoàng thượng đáp lại đi.
Lê Xuân nói:
-Miễn Lễ, các khanh bình thân.
-Đa tạ hoàng thượng.
Mạc Đăng Dung nói:
-Hoàng thượng đăng cơ, đế hiệu là Lê Cung Hoàng đế, niên hiệu Thống Nguyên năm thứ nhất.
Các quan lại hành lễ:
-Chúc mừng hoàng thượng.
Mạc Đăng Dung nói tiếp:
-Một nước không thể có hai vua. Lê Chiêu Tông tự bỏ ngai vàng mà đi, phụ tông miếu xã tắc, phụ chúng ta là tôi trung, thành vua phản loạn. Nay phế truất Lê Chiêu Tông, dáng xuống thành Đà Giang Vương.
Mạc Đăng Doanh nói:
-Bẩm Nhân Quốc Công, nay thế lực của quân cần vương đang mạnh, xin phụ thân đem hoàng thượng về Hải Dương, gây dựng lực lượng mạnh để phản công chống lại.
Lê Phụ nói:
-Mạc Tướng quân nói phải lắm, mong Nhân Quốc Công chấp thuận.
Dung nghe lời, đem vua Lê Cung Hoàng về Hồng Thị, Hải Dương.
Vua Lê Chiêu Tông đem quân về thu phục lại Đông Kinh, dọc đường xa giá dừng lại ở xã Mang Sơn, Sơn Tây. Quan Lại Khoa cấp sự trung Nguyễn Khắc Tuy đem tùy tùng đến đón. Người nhà Tuy can:
-Trước hoàng thượng mới đến Sơn Tây rất khó khăn, có mời đại nhân đến hộ giá, đại nhân không đến, nay lại đến, e không tiện, có khi còn bị hại.
-Trước ta không đến là có lý do riêng. Nay hoàng thượng đang chiêu mộ quân cần vương để đánh Mạc Đăng Dung, lẽ đâu lại giết đại thần thì ai còn đến phò giúp nữa.
Rồi không nghe lời can, cứ đến Mang Sơn yết kiến Lê Chiêu Tông. Lê Chiêu Tông quát:
-Trước kia ta chạy trốn khổi Đông Kinh, tình cảnh rất khó khăn, ta gọi ngươi sao không đến, muốn làm phản chăng? Võ sĩ đâu?
-Dạ, lôi Tuy ra ngoài chém.
Nguyễn Khắc Tuy bị hai võ sĩ lôi đi, vừa đi vừa la hét:
-Hoàng thượng giết đại thần còn ai “cần vương” nữa?
Các đại thần đều thở dài lắc đầu nói:
-Hoàng thượng vẫn sai lầm như xưa, xưa nghe lời dèm pha giết trung thần Trần Chân mới đến cơ sự như ngày nay. Nay đang lúc khó khăn chống quyền thần Mạc Đăng Dung lại giết đại thần vô cớ. Lũ chúng ta chắc chết không có đất mà chôn.
Nghe tin Lê Chiêu Tông về Đông Kinh, Mạc Đăng Dung sai Mạc Đăng Doanh, Phạm Tử Nghi, Dương Chấp Nhất đem 4 vạn quân đi theo Lục Đầu Giang vào sông Thiên Đức, vào sông Nhị Hà, đổ bộ tấn công vào bến Đông Hà. Vua Lê Chiêu Tông sai các tướng Lại Thúc Mậu, Nguyễn Dư Hoàn, Nguyễn Định, Đàm Khắc Nhượng đem 3 vạn quân ra chặn quân Mạc. Hai bên dàn trận, quân hai bên trong chiến phục màu nâu, áo giáp sắt, mũ nhọn sắt, cờ màu vàng, chỉ khác quân Mạc trên cờ ghi chữ “Mạc” màu đen, quân của Lê Chiêu Tông ghi chữ “Lê”, đại đao, gươm, giáo, họa kích tua tủa, cung tên đeo đầy lưng. Tiếng trống trận vang khắp thành phía Bắc và vang dội khắp kinh thành. Lại Thúc Mậu trông thấy Mạc Đăng Doanh liền quát:
-Bọn quyền thần phản loạn sao không xuống ngựa chịu trói.
Mạc Đăng Doanh thét lớn:
-Ai ra bắt thằng giặc này cho ta.
-Có ta.
Từ trong hàng trận quân Mạc, một tướng cao lớn cưỡi ngựa màu nâu múa đại đao xông ra, mọi người nhìn thì ra đó là tướng Phạm Tử Nghi. Bên quân Lê tướng Nguyễn Định múa giáo xông ra. Hai tướng người ngựa xáp nhau, đại đao chạm giáo tóe lửa. Đánh nhau chừng 20 hiệp, Phạm Tử Nghi đưa một nhát đại đao qua cổ, đầu Nguyễn Định đẫm máu rơi xuống đất, ngựa rống lên kéo lê thân Nguyễn Định chạy về hàng quân Lê. Quân Mạc xông lên chém giết quân Lê, một trận kịch chiến khốc liệt, thây người gục đổ, máu phun đỏ đất. Quân Lê núng thế rút lui vào hoàng thành. Cùng lúc đó quân Mạc do Mạc Đăng Dung chỉ huy tấn công từ phường Phúc Cổ vào hành điện. Vua Lê Chiêu Tông đang thiết triều thì có nội quan vào báo:
-Dạ bẩm hoàng thượng, nguy cấp, Mạc Đăng Dung sắp đánh vào hành điện.
Lại có thám mã về báo:
-Dạ bẩm hoàng thượng, quân ta giao chiến với quân Mạc ở Đông Hà thất bại và đang rút chạy.
Triều đình hỗn loạn. Bọn Lại Thế Vinh đem xa giá Lê Chiêu Tông ra Nhân Mục rồi chạy về chùa Thiền Quang, xã Thuận Mỗ, huyện Từ Liêm. Đúng lúc nguy kịch, Trịnh Tuy đã lấy quân Tam phủ Tĩnh Gia, Quảng Xương, Đông Sơn, cho thuộc tướng là Nguyễn Bá Kỷ đem 1 vạn quân ra Bắc cứu vua. Nhưng nội thần Phạm Biên xui vua Lê Chiêu Tông:
-Trịnh Tuy là người của Trần Chân đã bị hoàng thượng giết, hoàng thượng đã nhiều lần gọi không ra, nay mới cho Nguyễn Bá Kỷ ra, chắc là có ý phản loạn?
Lê Chiêu Tông vốn là người đa nghi, bất chấp đang lúc nguy nan, bố trí võ sĩ mai phục chém chết Nguyễn Bá Kỷ. Trịnh Tuy tức giận cùng Trịnh Duy Thần đem quân ra Bắc, bất ngờ đánh và bắt Lê Chiêu Tông về Thanh Hóa. Quốc Tử giám Tư Nghiệp Lê Hữu Trương chết trong khi bảo vệ vua. Về Tây Đô, Trịnh Tuy nói với Lê Chiêu Tông:
-Quân cần vương chỉ làm rối loạn thiên hạ. Hoàng thượng xuống chiếu giải tán đi, mọi người lại về cai trị ở địa phương của mình.
Lê Chiêu Tông nói:
-Nhưng còn việc diệt trừ quyền thần phản tặc Mạc Đăng Dung?
Trịnh Tuy nói:
-Diệt trừ Mạc Đăng Dung đã có thần.
Lê Chiêu Tông buộc phải xuống chiếu giải tán quân cần vương. Do đó lực lượng chống Mạc ở ngoài Bắc tan rã. Thám mã về báo, Mạc Đăng Dung cười ha hả:
-Đúng là một tên vua ngu ngốc, trong lúc nguy khốn, Nguyễn Bá Kỷ đem 1 vạn quân ra giúp lại nghe lời dèm pha giết đi, nay lại giải tán quân cần vương, ta không đánh mà một lực lượng hùng mạnh chống đối ta phải tan. Đó là Lê Chiêu Tông tự hại mình và giúp cho ta. Trời cho ta thành công chuyến này. Ha!ha!ha!
Chợt có thám mã về báo:
-Dạ bẩm chúa công, có hai tướng của Trần Chân xưa là Nguyễn Kính, Nguyễn Áng muốn về hàng chúa công. Mong chúa công định đoạt.
Mạc Đăng Dung mừng rỡ nói với Mạc Đăng Doanh:
-Trong số các tướng của Trần Chân và sau này theo Lê Chiêu Tông, chỉ có Nguyễn Kính và Nguyễn Áng là hai tướng giỏi nhất, lực lượng mạnh nhất, nay về với ta thì còn gì bằng. Được hai người này thì thiên hạ trong tầm tay. Cho hai tướng vào.
-Dạ, tuân lệnh chúa công.
Nguyễn Kính và Nguyễn Áng bước vào, Mạc Đăng Dung thấy hai người oai phong lẫm liệt, mắt sáng mặt vuông, tay dài. Hai người cúi đầu hành lễ:
-Kính chào Nhân Quốc Công.
Mạc Đăng Dung vội đứng dậy:
-Không dám, không dám, mời hai tướng quân ngồi. Bay đâu.
-Dạ, chúa công.
-Rót nước trà mời hai tướng quân.
Sau khi ba người cạn bát nước, Nguyễn Kính nói:
-Bẩm Nhân Quốc Công, chúng tôi vốn là thủ hạ của đại thần Trần Chân. Trần Chân lập bao công lao với Lê Chiêu Tông nhưng lại bị Lê Chiêu Tông giết hại. Khi Lê Chiêu Tông trốn khỏi kinh thành và xuống chiếu cần vương, chúng tôi vì chữ “trung” nên đành phò giúp. Nay Lê Chiêu Tông giải tán quân Cần vương, bị Trịnh Tuy đưa về khống chế ở Tây Đô, chúng tôi nguyện về với chúa công để mưu việc lớn. Không biết chúa công có chấp nhận không?
Tượng Lê Cung Hoàng (1522-1527). Nguồn: Internet.
Mạc Đăng Dung cười vui vẻ:
-Hai Tướng quân là những người hiền tài của triều đình. Tôi mong hai tướng quân như hạn mong mưa để cùng mưu việc lớn. Nay hai tướng quân đã về đây thật là phúc lớn cho triều đình, cho lão phu.
Nguyễn Kính, Nguyễn Áng cúi đầu:
-Dạ, đa tạ sự dung nạp chiếu cố của Nhân Quốc Công. Chúng mạt tướng sẽ hết lòng vì Nhân Quốc Công.
Mạc Đăng Dung gọi:
-Bay đâu.
-Dạ.
-Bày tiệc rượu để ta khoản đãi hai tướng quân.
-Dạ, tuân lệnh chúa công.
Ngày 18 tháng 12 năm 1522, sau khi dẹp tan cuộc phản loạn của Giang Văn Dụ ở kinh thành, Mạc Đăng Dung đưa xa giá vua Lê Cung Hoàng về Đông Kinh. Năm 1523, Mạc Đăng Dung sai Sơn Đông Hầu Mạc Quyết, Quỳnh Kê Hầu Vũ Hộ, Dương Xuyên Hầu Vũ Như Quế đem 5 vạn quân đi đánh vua Lê Chiêu Tông ở Thanh Hóa. Trước khi tiến quân, Mạc Đăng Dung ép vua Lê Cung Hoàng tuyên chỉ phế Lê Chiêu Tông thành Đà Giang Vương.
5 vạn quân của Mạc Quyết hành quân theo đường biển vào cửa Lạch Trường và vào sông Mã, sau đó theo đường bộ tiến lên Tây Đô. Đến nơi đã thấy Trịnh Tuy và Lê Chiêu Tông dàn 3 vạn quân phía Đông thành nghênh chiến. Mạc Quyết cho dàn trận. Chiêng trống khua vang, cờ vàng bay rợp trời, quân hai bên đằng đằng sát khí, gươm giáo sáng lòa. Trịnh Tuy thét:
-Ai ra bắt bọn quyền thần phản loạn cho ta?
-Có mạt tướng.
Một tướng sử dụng long đao, cưỡi ngựa đen xông ra, nhìn thì đó là tướng Trịnh Duy Thân. Bên quân Mạc tướng Vũ Hộ cưỡi ngựa nâu múa giáo xông ra. Đánh nhau được 20 hiệp, Trịnh Duy Thân bị Vũ Hộ chém một long đao vào cổ ngã lăn xuống đất. Mạc Quyết trỏ gươm hô lớn:
-Xông lên giết.
Quân hai bên lao vào nhau giáp lá cà huyết chiến. Nửa canh giờ quân Trịnh Tuy tan vỡ. Quân Mạc bủa vây không cho quân Trịnh Tuy chạy vào thành Tây Đô. Trịnh Tuy và các tướng mở đường máu đưa vua Lê Chiêu Tông chạy khỏi vòng vây và hộ giá đưa nhà vua chạy lên miền núi Lang Chánh. Quân Mạc chiếm Tây Đô và làm chủ phần lớn Thanh Hóa. Sau chiến thắng ở Thanh Hóa, vua Lê Cung Hoàng phong cho Mạc Đăng Dung làm Thái phó, nắm Bình chương quân quốc trọng sự. Tháng 10 năm 1525, Mạc Đăng dung quyết tâm tiêu diệt tàn quân của Trịnh Tuy và Lê Chiêu Tông ở miền núi Thanh Hóa. Trịnh Tuy thua trận ốm mà chết. Dung bắt được Vua Lê Chiêu Tông ở Đông An Nhân, đưa về Đông Kinh. Các quần thần như Phúc Lương Hầu Hà Phi Chuẩn, Nghiêm Bá Kỳ, Giang Văn Dụ, Đàm Thận Huy đều bị bắt và bị giết chết. Ngày 18 tháng 12 năm 1526, vua Lê Chiêu Tông cũng qua đời ở phường Đông Hà. Mạc Đăng Dung sai đưa thi hài Lê Chiêu Tông về mai táng ở Vĩnh Hưng Lăng theo nghi lễ thiên tử. Vua Lê Chiêu Tông khi đó mới 21 tuổi, ở ngôi 10 năm.
Kinh đô Đông Kinh vào một ngày tháng tư năm 1527, nắng mùa hè như trải tơ mong manh xuống kinh thành. Những tán cây bàng, cây phượng vĩ xạc xào buông màu xanh trên những mái lâu đài, thành quách. Mây trắng bay nhởn nhơ trên nền trời xanh. Không xa phía Bắc đô thành, sông Hồng vẫn cuồn cuộn tuôn nước đỏ ngầu về Đông. Đường phố tấp nập người xe đi lại ngược xuôi.
Trong điện Kim Quang của Long Phượng Thành, vua Lê Cung Hoàng đang ngồi bàn việc với một số đại thần tin cậy. Ánh sáng bên ngoài lọt vào phòng rất ít nên căn phòng u tối. Vua tôi nói rất nhỏ sợ mật thám của Mạc Đăng Dung nghe được. Giống như thời Lê Chiêu Tông, khắp nơi trong kinh thành, trong hoàng thành, trong Tử Cấm Thành đều có tai mắt của Mạc Đăng Dung.
Sau một lượt trà nước, vua Lê Cung Hoàng cho hết thị nữ và nội giám ra ngoài, đóng cửa lại và nói nhỏ với ba đại thần là Nguyễn Kim, Lại Thế Khanh và Lại Thế Vinh:
-Vậy là hoàng huynh Lê Chiêu Tông đã ra đi được 5 tháng rồi, mẫu hậu vẫn ngày đêm không ngớt nhớ thương đau buồn. Trẫm ngày nay ngoài này dựa vào các khanh còn dựa vào Thái phó Mạc Đăng Dung. Các khanh có kế sách gì để Mạc Đăng Dung tăng thêm lòng trung thành không?
Lại Thế Khanh nói:
-Nay Mạc Đăng Dung đã đánh dẹp được giặc Trần Cảo và tất cả các lực lượng đối lập với triều đình. Uy tín và thế lực Mạc Đăng Dung hiện rất lớn. Hiện nay, Mạc Đăng Dung đang ở Cổ Trai. Thần nghĩ hoàng thượng nên phái người đến Cổ Trai phong cho ngài ta tước vương, tước cực phẩm của quyền lực để Mạc Đăng Dung đội ơn hoàng thượng mà trung thành.
Nguyễn Kim nói:
-Hoàng thượng nếu không thấy an tâm thì xin hoàng thượng đi với thần về Thanh Hóa để đề phòng biến cố xẩy ra, đi trước còn bảo vệ được long thể và còn bảo vệ cho mẫu hậu.
Lê Cung Hoàng nói:
-Ba khanh và một số đại thần còn trung thành với nhà Lê nên cáo bệnh và về Thanh Hóa trước đi, đề phòng tình thế xấu nhất thì các khanh cố gắng dấy binh, khôi phục lại giang sơn nhà Lê mà đức Thái Tổ khó nhọc trong 10 năm đánh giặc Minh mới giành lại được, các đức Thái Tông, Thánh Tông, Minh Tông khó nhọc hàng trăm năm xây dựng, không thể để mất một cách dễ dàng. Các khanh có nhận di mệnh này của trẫm không?
Ba đại thần vội quỳ xuống và nói:
-Chúng thần nguyện ghi nhớ thực hiện di mệnh của hoàng thượng cho dù phải tan xương nát thịt.
Lể Cung Hoàng đỡ ba người dậy và nói:
-Đa tạ các khanh còn nghĩ tới triều Hậu Lê. Còn trẫm không thể bỏ đi được, thứ nhất, Mạc Đăng Dung chưa hành động mà trẫm đi thì lỗi làm mất giang sơn nhà Lê là do trẫm, thứ hai, trẫm không thể đi mà bỏ mẫu hậu lại một mình. Đó là thuộc đạo trung hiếu. Thứ ba, trẫm cũng phải minh chứng rằng trẫm không sợ chết. Trẫm không thể bảo vệ được giang sơn nhà Lê nhưng trẫm sẽ lấy cái chết để nói rằng trẫm kiên quyết bảo vệ. Giang sơn nhà Lê dù có mất nhưng trẫm tin rằng các khanh sẽ trung hưng lại được vì các khanh hành động theo lòng dân và đạo trời.
Vua tôi im lặng ngậm ngùi. Ba đại thần đều hiểu đã đến lúc chia tay với vua. Không biết đến bao giờ gặp lại và biết có còn gặp lại vua hay không. Bầu trời bỗng nhiên tối sầm lại như cơ đồ nhà Lê đang đến hồi sắp tắt. Ba đại thần quỳ hành lễ vua lần cuối:
-Hoàng thượng bảo trọng.
-Các ái khanh bảo trọng và nhớ thực hiện di mệnh của trẫm.
-Chúng thần tuân chỉ.
Làng Cổ Trai tháng tư đang chìm trong ánh nắng mùa hè gay gắt, cây cối xanh rờn dưới nắng đung đưa theo gió. Làng mạc nhà cửa uốn quanh tạo nên những bức tranh thiên nhiên kỳ thú. Xa xa tiếng sóng biển rì rào như bản nhạc muôn thuở. Giữa làng Cổ Trai nổi lên những tòa nhà lộng lẫy vàng son như cung điện. Đó là cung điện của Nhân Quốc Công Thái Phó Mạc Đăng Dung. Trong căn phòng sang trọng, Mạc Đăng Dung đang ngồi ở ghế tràng kỷ gỗ gụ chạm khắc hoa lá tinh xảo. Giữa phòng kê bàn thờ gia tiên bằng gỗ lim sơn son thếp vàng óng ánh, trên những bàn thờ đặt những bát hương sứ trắng in hình rồng phượng màu xanh. Trong những bài vị đặt trên bàn thờ, có bài vị trạng nguyên Mạc Đỉnh Chi, cụ tổ 7 đời của dòng họ Mạc. Mạc Đăng Dung vừa uống xong bát nước trà thì có tùy tướng vào báo:
-Dạ bẩm Quốc Công, có đoàn sứ bộ của hoàng thượng xe ngựa đến nơi đang chờ vào gặp.
Mạc Đăng Dung nói:
-Cho vào nhưng chờ ta mặc triều phục xong đã.
-Dạ, tuân lệnh Nhân Quốc Công.
Mạc Đăng Dung mặc triều phục xong bước ra đón phái bộ của triều đình. Các sứ giả của vua Lê Cung Hoàng do đại thần Trung Dương Hầu Vũ Hựu dẫn đầu, còn có Lan Xuyên Bá Phan Đình Tá, Trung Sứ Đỗ Hiếu Đễ. Theo sau là người cầm cờ tiết, người cầm kim sách, người đội thùng đựng áo mũ đỏ thêu rồng màu đen, đai dát ngọc, kim tía, quạt vẽ rồng, lọng tía long trọng tiến vào. Đại thần Vũ Hựu nói to dõng dạc:
-Quan Thái phó, Bình chương quân Quốc trọng sự Nhân Quốc Công Mạc Đăng Dung tiếp chỉ.
Mạc Đăng Dung, các tùy tướng, các gia nhân vội quỳ. Trung Dương Hầu Vũ Hựu đọc: “Phụng thiên thừa vận, hoàng đế chiếu viết: Nay phong cho Nhân Quốc Công Thái Phó Mạc Đăng Dung làm An Hưng Vương, ban cho cờ tiết, lọng tía, quạt vẽ rồng, đai dát ngọc để làm nghi lễ đi lại và khi thiết triều. Niên hiệu Thiên Nguyên năm thứ 5. Khâm thử”.
Mạc Đăng Dung nói to:
-Thần nhận chỉ. Tạ ơn hoàng thượng.
Mạc Đăng Dung nhận chỉ từ tay Vũ Hựu và đứng lên, sai người nhà nhận các đồ nghi lễ vua ban. Dung cùng ba đại thần an tọa. Ba người đều nói:
-Xin chúc mừng An Hưng Vương.
Dung cười đáp:
-Đa tạ ba đại nhân.
Rồi gọi:
-Người đâu.
-Dạ.
-Làm tiệc rượu để ta khoản đãi ba đại thần và những người của hoàng thượng.
-Dạ.
Trong khi chờ tiệc rượu và ngồi uống nước, ba đại thần quan sát Dung. Dung được triều đình phong đến cực phẩm tước vương, một tước vị chỉ dành cho hoàng tộc nhưng khuôn mặt Dung thản nhiên, không lộ ra một chút vui mừng, mọi hành động đáp lễ chỉ là theo khuôn phép ngoại giao tôn nghiêm kính cẩn. Ba người đều biết rằng người ngồi trước mặt họ là người đầy bản lĩnh. Sau khi tiễn đoàn sứ thần của vua Lê Cung Hoàng về Đông Kinh, Mạc Đăng Dung vào ngồi ngắm các nghi lễ mà vua Lê ban tặng với một tâm trạng nôn nao khó tả. Bỗng có gia nhân vào báo:
-Bẩm An Hưng Vương, có quan nội thị Đông Kinh về muốn gặp.
-Cho vào.
-Dạ.
Quan nội thị bước vào hành lễ:
-Kính chào An Hưng Vương.
-Miễn lễ, triều đình có việc gì vậy?
-Dạ, bẩm An Hưng Vương, hoàng thượng bỗng nhiên mang bệnh nặng, mời An Hưng vương về kinh gấp.
Mạc Đăng Dung nói:
-Hoàng thượng còn trẻ sao lại lâm bệnh nặng được.
-Dạ, thần không rõ.
Mạc Đăng dung đi gấp về Đông Kinh. Sớm hôm sau Mạc Đăng Dung đang định vào thăm Lê Cung Hoàng thì quan nội thị vào báo tin:
-Dạ bẩm An Hưng Vương, cả hoàng thượng và Thái hậu đã băng hà rồi.
Mạc Đăng Dung kinh hoàng:
-Sao lại như vậy được?
Rồi Dung gọi:
-Người đâu.
-Dạ.
-Gọi Mạc Đăng Doanh và Mạc Quyết vào đây.
-Dạ.
Mạc Đăng Doanh và Mạc Quyết vào:
-Dạ, thận phụ gọi con.
-Huynh cho gọi đệ?
Mạc Đăng Dung nói:
-Nay bỗng nhiên cả hoàng thượng và thái hậu băng hà, sợ có biến lớn. Mạc Quyết và Mạc Đăng Doanh đem 1 vạn quân kể cả cấm binh bao vây nội cung, bảo vệ cho buổi thiết triều hôm nay, không được sơ xuất.
-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.
-Người đâu.
-Dạ, bẩm An Hưng Vương.
-Cho triệu đại tướng Phạm Tử Nghi vào đây.
-Dạ, tuân lệnh An Hưng Vương.
Phạm Tử Nghi bước vào:
-Mạt tướng có mặt, xin kính chào An Hưng Vương
Mạc Đăng Dung ra lệnh:
-Hoàng thượng và thái hậu đã băng hà, Đại tướng Phạm Tử Nghi đem 5 vạn quân bao vây toàn bộ hoàng thành, nội bất xuất, ngoại bất nhập.
-Mạt tướng tuân lệnh chúa công.
Mạc Đăng Dung nói với quan nội thị:
-Theo ngài cho cử hành tang lễ hoàng thượng và hoàng thái hậu trước hay chọn vua kế vị rồi tổ chức tang lễ sau?
Quan nội thị đáp:
-Dạ bẩm An Hưng Vương, nước một ngày không thể không có vua, An Hưng vương hãy cho lập vua mới trước rồi cử hành tang lễ sau. Vả lại đã là quốc tang thì phải có hoàng đế mới đứng ra chủ trì nghi lễ.
Mạc Đăng Dung nói:
-Ta là võ tướng không quen nghi lễ, ta nghe theo quan nội thị.
-Người đâu.
-Dạ, cho đánh trống thiết triều.
-Dạ.
Hôm đó là ngày 15 của tháng theo thông lệ, các quan văn võ đều phải lên triều. Khi vào hoàng thành, các quan ngạc nhiên vì thấy dày đặc lính tráng bao vây. Ngay quanh điện Càn Nguyên cũng mấy vòng lính, gươm giáo sáng lòa, mặt đằng đằng sát khí. Các quan không nói ra nhưng ai cũng biết sắp có biến cố to lớn. Một số đại thần còn trung thành với nhà Lê thì vô cùng hoảng sợ, lo lắng cho vua Lê Cung Hoàng và hoàng thái hậu. Đa số các quan là người của Mạc Đăng Dung thì thản nhiên, dấu vẻ vui mừng. Một hồi trống lớn vang lên rung động cả điện Càn Nguyên báo giờ thiết triều. Các quan theo thói quen đều ngóng ra cửa bên tả ngai vàng nơi Lê Cung Hoàng từ đó đi ra và các quan sẽ quỳ xuống tung hô vạn tuế. Trống dứt hồi, từ cửa đó không có vua Lê Cung Hoàng đi ra mà từ dưới đi lên lại là quan nội thị. Quan nội thị đi đến cạnh ngai vàng và thông báo:
-Hơn 10 ngày nay hoàng thượng bệnh nặng và hôm qua đã băng hà, dù thái y đã ra sức cứu chữa nhưng không được. Hoàng thái hậu quá đau buồn nên cũng qua đời vào đêm qua.
Cả triều đình sửng sốt:
-Hả, sao lại như vậy?
-Theo thông lệ, trước khi tổ chức quốc tang theo nghi lễ thiên tử, phải có vua mới chủ trì, hơn nữa nước một ngày không thể không có vua. Xin bá quan văn võ lựa chọn vua mới.
-Hả, hoàng thượng Lê Cung Hoàng chưa có con, lại không có anh em trai, tìm đâu ra người họ Lê bây giờ?
Quan nội thị nói:
-Trước khi mất, hoàng thượng có triệu Đại học sĩ Nguyễn Văn Thái vào và nhờ viết lời di chúc. Ta thay mặt hoàng thượng tuyên đọc.
Bá quan văn võ vội rời ghế và quỳ xuống. Quan nội thị giở chiếu đọc: “Phụng thiên thừa vận, hoàng đế chiếu viết: Nghĩ Thái Tổ ta, thừa trời cách mệnh, có được thiên hạ, các vua truyền nhau, nối giữ cơ đồ là do mệnh trời lòng người cùng hợp, cùng ứng nên mới được thế. Cuối đời Hồng Thuận gặp nhiều tai họa, Trần Cảo đầu têu, gây mầm loạn ly, Trịnh Tuy giả trá lập kế phản nghịch. Lòng người đã lìa, mệnh trời không giúp. Khi ấy thiên hạ không phải là của nhà ta. Ta không có đức, lạm giữ ngôi trời, việc gánh vác không kham nổi. Mệnh trời lòng người đều theo về người có được. Xét Thái úy An Hưng Vương Mạc Đăng Dung nhà ngươi, bẩm tính thông minh, sáng suốt, có tài lược văn võ. Bên ngoài đánh dẹp bốn phương, các nơi đều phục tùng, bên trong coi sóc trăm quan, mọi việc đều tốt đẹp. Công to đức lớn, trời cho người theo. Nay ta cân nhắc lẽ phải nên nhường ngôi cho. Hãy gắng sửa đức lớn giữ mãi mệnh trời để ức triệu dân lành được yên vui. Mong kính theo đó. Khâm thử. Niên hiệu Thống Nguyên năm thứ 5”.
Quan nội thị đọc xong gọi to:
-An Hưng Vương Mạc Đăng Dung mau nhận chỉ.
Mạc Đăng Dung quỳ ngay hàng đầu đáp lại:
-Thần không dám, ngai vàng giang sơn là của nhà Lê. Thần nguyện trung thành phò tá nhà Lê, phò tá hoàng thượng.
Quan nội thị nói:
-An Hưng Vương không được kháng chỉ:
Mạc Đăng Dung giả vờ hoảng sợ:
-Dạ, thần không dám, thần xin lĩnh chỉ.
Nhận chỉ xong, Mạc Đăng Dung đi vào phòng trong rồi bước ra với áo long bào, đội vương miện, ngồi vào ngai vàng, đăng quang hoàng đế. Các quan văn võ bá quan lại quỳ xuống tung hô:
-Chúc mừng hoàng thượng, hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.
Mạc Đăng Dung nói:
-Miễn lễ, các khanh bình thân.
Lại nói tiếp:
-Nay ta bố cáo lập ra một triều đại mới: Triều Mạc. Ta lấy đế hiệu Mạc Thái Tổ, niên hiệu Minh Đức…
Bỗng một đại thần đứng bật dậy với vẻ tức giận ngắt lời Mạc Đăng Dung:
-Không thể vô pháp mà ngang nhiên như vậy được, Triều đình có luật của triều đình, dòng họ có quy tắc của dòng họ. Dù cho đó là ý chỉ của hoàng thượng Lê Cung Hoàng nhường ngôi thì cũng không đúng vơi luật nước và luật triều đình, luật của dòng họ Lê. Ta cho rằng chiếu chỉ trên là chiếu chỉ giả. Nguyễn Văn Thái, ngài có dám thừa nhận đó là sự thật không? Cả triều đình run sợ lo lắng thay cho đại thần đang nói, nhìn kỹ thì ra đó là quan Lại bộ Thượng thư, Đông các Đại học sĩ Vũ Duệ, còn gọi là Vũ Nghĩa Chi. Văn võ bá quan còn chưa hết cơn hoảng sợ thì một đại thần khác lại đứng dậy đập bàn. Mọi người nhìn ra thì là công bộ Thượng thư Ngô Hoán. Ngô Hoán nói:
-Triều đình xã tắc rối bời suy yếu không chỉ do Lê Uy Mục, Lê Tương Dực mà còn do bọn loạn thần tặc tử. Triều Lê là ân nhân của cả triều đình, của cả nước, kể cả Mạc Đăng Dung. An Hưng Vương chỉ là một nông dân làm nghề đánh cá, được nhà Lê lấy cho đỗ Trạng nguyên võ, được lấy vào quân túc vệ và cất nhắc đến tước vương cực phẩm như ngày nay. Như vậy phải trung quân báo quốc để đền ơn nhà Lê mới phải đạo. An Hưng Vương hãy trả lại ngai vàng cho nhà Lê đi để tỏ lòng trung quân.
Quan Lễ bộ Thượng thư Lê Tuấn Mậu cũng đứng dậy nói:
- Ta cho rằng cứ cử hành quốc tang cho hoàng thượng và thái hậu trước đi, sau đó tìm người dòng giống nhà Lê Thái Tổ đưa lên ngai vàng cũng chưa muộn.
Mạc Đăng Dùng nói:
- Ta không chỉ tuân chỉ của hoàng thượng Lê Cung Hoàng mà con tuân theo ý chỉ của triều đình. Bá quan văn võ quyết thế nào?
Sau câu nói của Mạc Đăng Dung, hầu hết bá quan văn võ rời khỏi ghế, quỳ xuống và tung hô:
-Chúc mừng hoàng thường, hoàng thượng Mạc Thái Tổ vạn tuế, vạn vạn tuế.
Trong sự hỗn loạn của triều đình, các đại thần như Lại bộ Thượng thư, Đông các Đại học sĩ Vũ Duệ, Công bộ thượng thư Ngô Hoán, Lễ Bộ thượng thư Ngô Tuấn Mậu, Thị Thư Hàn Lâm Nguyễn Mẫn, Đốc quân đô ngự sử Nguyễn Văn Vãn, Hàn lâm hiệu úy Nguyễn Thân Bạt, Lại bộ thượng thư Đàm Thận Hùng, Tham chính sứ Nguyễn Duy Tường, Quan sát sứ Nguyễn Trí Cường, Bình Hồ Bá Nghiêm Bá Ký, Đàm Thận Huy, Đô Ngự Sử Lại Kim Bảng, Phúc Lương Hầu Hà Phi Chuẩn, Hộ bộ thượng thư Nguyễn Thiệu Tri, Phó đô ngự sử Nguyễn Hữu Nghiêm, Lễ bộ tả thị lang Lê Võ Cương đều đứng dậy bỏ thiết triều ra về. Sau này, ngày cử hành Quốc tang vua Lê Cung Hoàng và thái hậu Trịnh Thị Loan, hơn chục vị trung thần trên, có người nhảy xuống sông tự vẫn, có người quỳ hướng về Lam Sơn vái lạy rồi tự treo cổ, có người khởi binh đánh Mạc Đăng Dung nhưng thất bại và hy sinh. Sau này thời Lê Trung Hưng xếp các vị trung thần hy sinh vì nước, trong đó Lại bộ thượng thư, Đông các đại học sĩ Vũ Duệ xếp đầu tiên.
Sau khi hơn chục đại thần bỏ ra về, bá quan văn võ còn lại cùng Mạc Đăng Dung tiếp tục thiết triều. Mạc Đăng Dung nói:
- Ta nay được Lê Cung Hoàng nhường ngôi, thân mang trọng trách. Ta tuyên bố lập triều đại mới, triều đại nhà Mạc. Nay ta lấy đế hiệu là Mạc Thái Tổ, niên hiệu Minh Đức. Năm nay 1527 được coi là năm Minh Đức thứ nhất. Kinh đô Đông Kinh, quốc hiệu Đại Việt, lấy phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương là đất thang mộc làm Dương Kinh.
Bá quan văn võ quỳ xuống chúc mừng:
- Chúc mừng hoàng thượng, hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.
- Miễn lễ, bình thân.
- Đa tạ hoàng thượng.
Mạc Đăng Dung nói tiếp:
- Nay ta phong Mạc Đăng Doanh làm thái tử, Mạc Chính Trung làm hoàng tử, tước Hoằng Vương, Mạc Quyết làm Tín Vương, Mạc Đốc làm Từ Vương, Mạc Bang Hộ làm Đô đốc Tĩnh Quốc Công, phong bốn tiểu nữ của trẫm làm công chúa: Công chúa Mạc Ngọc Thọ, Mạc Ngọc Châu, Mạc Ngọc Quang và Mạc Ngọc Tư, lấy ngày sinh của trẫm: 23 tháng 11 làm ngày Càn Ninh khánh tiết.
Bá quan văn võ lại quỳ xuống chúc mừng:
- Hoàng thượng vạn vạn tuế, chúc mừng thái tử điện hạ, chúc mừng Tín Vương, Từ Vương, chúc mừng Thái tử, Hoàng tử, chúc mừng các công chúa nương nương.
Mạc Đăng Dung nói:
- Miễn lễ, các khanh bình thân.
- Đa tạ hoàng thượng.
- Tín Vương Mạc Quyết nghe chỉ:
- Dạ, có thần.
- Khanh đem 1 vạn quân về Cổ Trai, Dương Kinh xây dựng thêm một cung thật nguy nga ở phía Tây điện Hưng Quốc, thứ hai, xây dựng phần mộ tổ tiên họ Mạc ở Dương Kinh thật tráng lệ cho xứng với lăng tẩm tổ tiên của bậc đế vương.
Mạc Quyết quỳ và nói:
- Thần tuân chỉ.
- Thái tử Mạc Đăng Doanh nghe chỉ.
- Dạ, thần nghe chỉ.
- Thái tử trang trí lại đàn Nam Giao ở Đông Kinh để ta làm lễ tạ ơn đức Ngọc Hoàng thượng đế đã ban cho ta ngôi báu.
- Dạ, thần tuân chỉ.
Mạc Đăng Dung nói tiếp:
- Bá quan văn võ nghe chỉ.
Bá quan văn võ vội quỳ xuống chắp tay:
- Nay phong Trung quan Nguyễn Thế Ân làm Ly Quốc Công, giúp rập cho trẫm.
Nguyễn Thế Ân bước ra rập đầu:
- Đa tạ hoàng thượng, thần tuân chỉ.
- Nay phong Nguyễn Quốc Hiến làm phò mã đô úy, Thái bảo Lâm Quốc công.
Nguyễn Quốc Hiến rập đầu:
- Đa tạ hoàng thượng, thần tuân chỉ.
- Nay phong Mạc Quốc Minh làm thái sư Lâm Quốc Công.
Mạc Quốc Minh rập đầu:
- Đa tạ hoàng thượng.
- Nay phong Mạc Đình Khoa làm tả Đô đốc Khiêm Quận Công.
Mạc Đình Khoa rập đầu:
- Đa tạ hoàng thượng.
- Nay phong Nguyễn Thì Ung làm Thiếu bảo Thông Quận Công.
Nguyễn Thì Ung rập đầu:
- Đa tạ hoàng thượng.
- Nay phong Trần Phỉ làm Lại Quận Công.
Trần Phỉ rập đầu:
- Đa tạ hoàng thượng.
- Nay phong Khuất Quỳnh Cửu làm Thuần Khê Hầu.
Khuất Quỳnh Cửu rập đầu:
- Đa tạ hoàng thượng.
Cứ như vậy tổng cộng 56 anh em, đại thần, quan lại triều đình nhà Mạc được phong chức tước thứ bậc lớn nhỏ khác nhau.
Ngày hôm sau Nguyễn Thế Ân nói với Mạc Đăng Dung:
- Dạ bẩm hoàng thượng, Lê Cung Hoàng và hoàng thái hậu nhà Lê Trịnh Thị Loan hoàng thượng phải cho mai táng sớm, để lâu lòng người tưởng nhớ nhà Lê sẽ sinh biến loạn.
Mạc Đăng Dung nói:
Lê Cung Hoàng là vua của một nước và hoàng thái hậu là thái hậu của Đại Việt. Ta và Khanh đi lo liệu đi để làm vừa lòng bách tính.
- Thần tuân chỉ.
Mạc Đăng Dung cho đem thi hài hoàng thái hậu và vua Lê Cung Hoàng về chôn ở lăng Hoa Dương, huyện Ngự Thiên, Hưng Hà, Thái Bình theo nghi lễ thiên tử. Năm đó Lê Cung Hoàng mới 20 tuổi, ở ngôi 5 năm. Trời hôm đó tối xầm, mưa như trút nước, lá cờ vàng trên điện Càn Nguyên gục đổ. Hơn chục trung thần nhà Lê nghe tin Lê Cung Hoàng và hoàng thái hậu qua đời đều quỳ vái vọng theo linh cữu, vái vọng về Lam Sơn và tự vẫn. Triều Hậu Lê do Lê Thái Tổ sáng lập năm 1428 mà giai đoạn đầu là Lê Sơ, truyền qua 10 đời hoàng đế và kết thúc năm 1527. Nhà Mạc thay thế mà vua đầu là Mạc Thái Tổ. Hai năm sau, năm 1529, Mạc Đăng Dung nhường ngôi cho con là Mạc Đăng Doanh, đế hiệu Mạc Thái Tông. Mạc Đăng Dung lui về làm Thái thượng hoàng nhưng vẫn nắm giữ triều chính. Một số trung thần nhà Hậu Lê đứng đầu là Nguyễn Kim đã chạy về miền Tây Thanh Hóa, sang Lào, đưa con của Lê Chiêu Tông lên ngôi là Lê Trang Tông, lập ra Nam triều. Một thời kỳ nội chiến tương tàn của Đại Việt 60 năm bắt đầu.
III
Sầm Châu nước Ai Lao một đêm mùa hè năm 1543, núi đồi cao thấp phủ dày đặc rừng cây cổ thụ, tre, nứa và cây không tên uốn lượn cao thấp khác nhau làm không gian càng thêm huyền bí. Sương mờ bàng bạc dưới ánh trăng mờ mờ huyền ảo. Gió đưa những rặng tre nứa như tóc xõa trong đêm phát ra những âm thanh xào xạc. Trong mờ ảo mênh mông của rừng núi Sầm Châu rất khó thấy những mái nhà và những ánh đèn le lói của người Ai Lao. Duy cả một thung lũng bát ngát những lán trại của quân đội Việt trải mênh mông chìm trong ánh trăng, chìm trong rừng tre nứa. Trong những lán trại le lói ánh đèn. Bên ngoài có những tốp lính thay nhau đi tuần, canh gác bảo vệ doanh trại là thức với đêm. Vài con gõ kiến gõ túc tắc, vài con bìm bịp kêu thảng thốt trong đêm.
Có một doanh trại màu xanh lớn nằm giữa nghìn trại vừa và nhỏ. Trong trại bốn ngọn đèn dầu trên bốn chiếc đĩa sành tỏa ánh sáng vàng vọt soi rõ một bộ bàn ghế gỗ đơn sơ. Trên bàn đặt một bộ ấm và bát uống nước. Ngoài cửa trại, hai người lính lực lưỡng cầm gươm đứng canh. Một người mặc áo thụng màu đen, đầu buộc khăn đen đang ngồi tựa ghế uống nước. Người đó tầm thước cao lớn, mặt vuông, tai dài, mắt sáng lấp lánh. Đó chính là Nguyễn Kim, chức Hữu vệ điện tiền tướng quân nhà Lê Sơ, tước An thành Hầu, quê quán ở Bái Trang, Tống Sơn, Thanh Hóa. Nguyễn Kim nâng bát nước chè xanh nóng và uống chậm rải từng ngụm rồi lại đặt bát xuống và nhớ lại chặng đường đã qua. Mới đó mà đã 5 năm trôi qua. Những sự biến đau thương cuối thời Lê Sơ như mới hôm qua còn rõ ràng trong trí nhớ của Nguyễn Kim.
Tranh minh họa: Sau khi Trịnh Kiểm tìm được Lê Duy Ninh là con của vua Lê Chiêu Tông, Nguyễn Kim đã tôn lên làm vua là Lê Trang Tông (1533-1548), niên hiệu Nguyên Hòa, hoàng đế thứ 12 của vương triều Hậu Lê, mở đầu cho giai đoạn Lê Trung Hưng. Ông còn được dân gian ưu ái cho mỹ danh nghèo nàn chúa Chổm. Nguồn: Internet.
Nguyễn Kim nhớ lại ngày tháng 6 khủng khiếp năm 1527 trong điện Càn Nguyên, ngày thiết triều mà không có vua Lê Cung Hoàng. Cả vua Lê cung Hoàng và hoàng thái hậu cùng một lúc băng hà. Trong tình cảnh thế và lực ở triều đình tuyệt đối thuộc về Mạc Đăng Dung, Nguyễn Kim khâm phục ba đại thần đã dám đập bàn mắng Mạc Đăng Dung giữa triều đình dù biết rằng làm vậy có thể sẽ chết. Nguyễn Kim cũng khâm phục hơn chục vị đại thần đã bỏ thiết triều ra về và ngày Quốc tang vua Lê Cung Hoàng và hoàng thái hậu đã vái vọng theo linh cửu, vái vọng về Lam Sơn và tự vẫn. Tuy nhiên, Nguyễn Kim không tán thành các đại thần tìm cái chết để tỏ lòng trung. Nguyễn Kim cho rằng lòng trung phải thể hiện bằng thực tế là tìm cách xây dựng lực lượng, khôi phục lại nhà Lê, đánh đổ nhà Mạc. Cho nên Nguyễn Kim đã phải giấu mình. Sau sự biến năm 1527, ông đã cùng các đại thần Lại Thế Vinh tìm cách thực hiện di mệnh của Lê Cung Hoàng mà các ông đã nhận trong buổi tối gặp vua lần cuối cùng ở thâm cung. Nguyễn Kim đã đem cả nhà gồm phu nhân, trưởng nữ tiểu thư Nguyễn Thị Ngọc Bảo và hai con trai trưởng nam Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng về quê nhà Thanh Hóa. Từ Thanh Hóa, Nguyễn Kim cùng Lại Thế Vinh, Trịnh Kiểm… đi sang đất Ai Lao, thương lượng với vua Ai Lao Sạ Đẩu cho mượn vùng Sầm Châu làm căn cứ xây dựng lực lượng chống Mạc. Nguyễn Kim còn nhớ, tháng 12 năm 1530, ông đã đem vài nghìn quân, 30 thớt voi tiến về miền Lôi Dương (Thọ Xuân) Thanh Hóa nhưng bị phục binh của nhà Mạc do Mạc Trúc Hầu chỉ huy đánh bại. Lần thứ hai vào năm 1531, Nguyễn Kim cầm quân đánh tan quân Mạc do Nguyễn Kính chỉ huy ở Đông Sơn Thanh Hóa. Sau trận thắng này, Nguyễn Kim dẫn quân tiến ra Gia Viễn, Ninh Bình nhưng bị Nguyễn Kính phối hợp quân thủy bộ đánh bại. Nguyễn Kim lại phải rút quân về Sầm Châu. Sau nhiều lần thất bại, Nguyễn Kim cho rằng phải lập lại nhà Lê để lấy chính danh hiệu triệu thiên hạ mới huy động được đông đảo lực lượng để chiến thắng nhà Mạc. Nửa năm nay, Nguyễn Kim đã cho người đi khắp nơi tìm người thuộc con cháu nhà Lê để đưa lên ngôi. Đêm đã khuya, trống trong quân doanh đã điểm canh ba, Nguyễn Kim đang định đi nghỉ thì có lính canh vào báo:
-Dạ bẩm chúa công, có tướng quân Trịnh Kiểm từ Thanh Hóa sang muốn vào gặp.
-Cho vào.
-Dạ.
Một người cao lớn, khôi ngô tuấn tú, dáng con nhà võ bước vào. Đó là Trịnh Kiểm. Trịnh Kiểm mới khoảng 30 tuổi, quê quán ở thôn Hổ, xã Vệ Quốc, huyện Yên Định, trấn Thanh Hóa, người có chí lớn diệt Mạc, đã theo về với Nguyễn Kim từ năm 1529. Thấy Trịnh Kiểm, Nguyễn Kim sốt ruột hỏi ngay:
-Công việc thế nào, có tìm được không, Trịnh tướng quân?
Trịnh Kiểm chắp tay:
-Dạ bẩm chúa công, mạt tướng đã tìm được hoàng tử Lê Duy Ninh, con của tiên hoàng đế Lê Chiêu Tông lưu lạc tha phương ở quê nhà Lam Sơn. Hoàng tử và tùy tướng đang đợi ngoài quân doanh chờ lệnh chúa công.
Nguyễn Kim mừng rỡ:
-Cho vào ngay.
-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.
Trịnh Kiểm đi ra, một lát sau dẫn vào một thiếu niên khoảng 10 tuổi, người gầy gò nhếch nhác đầy gió bụi phong trần nhưng có đôi mắt sáng, tai dài, dáng dấp đế vương. Thiếu niên bận áo dài màu nâu, đầu buộc khăn nâu. Nguyễn Kim vái chào:
-Kính chào điện hạ, mời điện hạ ngồi.
Chàng thiếu niên đáp:
-Không dám, kính chào chúa công.
-Người đâu.
-Dạ.
-Rót nước mời điện hạ và Trịnh tướng quân.
-Dạ.
-Chuẩn bị cơm rượu cho điện hạ và Trịnh tướng quân.
-Dạ.
Chàng thiếu niên nói:
-Đa tạ chúa công.
Nguyễn Kim nói:
-Mọi việc bi thảm của tiên hoàng đế Lê Chiêu Tông thần đã rõ. Bây giờ điện hạ nói qua sau khi tiên hoàng bị bắt và bị giết, điện hạ lưu lạc đến đâu?
Lê Duy Ninh đáp:
-Bẩm chúa công, sau khi Trịnh Tuy đem phụ hoàng về Tây Đô Thanh Hóa, thân mẫu tại hạ đã xin phụ hoàng cho về Lam Sơn để tránh binh đao khói lửa hiểm nguy. Từ đó cho đến nay tại hạ sống trong rừng Lam Sơn. Thân Mẫu khi nghe tin phụ hoàng mất đã đau buồn lâm bệnh mà qua đời.
Nguyễn Kim nói:
-Nay hạ thần đón điện hạ về để đưa ngài lên ngôi hoàng đế, nối lại vương triều nhà Lê, gọi là Lê Trung Hưng, lấy danh nghĩa chính thống để tập hợp lực lượng, tiêu diệt nhà Mạc. Việc vô cùng hệ trọng. Để danh chính ngôn thuận với anh hùng hào kiệt, với thần dân, với dòng dõi đức Lê Thái Tổ, điện hạ có mang theo ngọc bội hoặc vật gì đó minh chứng ngài đúng là hoàng tử của tiên đế Lê Chiêu Tông?
Lê Duy Ninh thò tay vào túi trong áo trước ngực lôi ra một chiếc túi gấm, lại lôi từ túi gấm một miếng ngọc bội và nói;
-Dạ bẩm chúa công, thân mẫu khi sắp qua đời đã trao cho tại hạ chiếc túi này và dặn trao lại cho ai là trung thần muốn khôi phục lại nhà Lê, chống nhà Mạc.
Nguyễn Kim cầm miếng ngọc bội sáng chói dưới ánh đèn, trên viết chữ màu vàng: Hoàng tử Lê Duy Ninh. Phụ Hoàng Lê Chiêu Tông, thân mẫu Phạm Thị Ngọc Quỳnh.
Nguyễn Kim vội đứng dậy hành lễ:
-Thần xin kính chào điện hạ, để cho điện hạ vất vả phong trần, chịu nhiều gian lao khổ cực là tội của hạ thần.
Lê Duy Ninh vội đỡ Nguyễn Kim và nói:
-Chúa công đứng dậy đi. Đó là tội của bọn quyền thần phản loạn. Được gặp lại chúa công là may mắn cho tại hạ rồi.
Nguyễn Kim nói:
-Đa tạ điện hạ. Tướng quân Trịnh Kiểm đưa điện hạ đi ăn cơm và nghỉ ngơi. Sáng mai có Lại Thế Vinh, Trung Đình Công và các đại thần, ta sẽ trù liệu công việc sau.
Trịnh Kiểm đáp:
-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.
Nguyễn Kim đáp:
-Đa tạ Trịnh tướng quân đã tìm được điện hạ Lê Duy Ninh.
Sau lễ đăng quang một ngày, sớm hôm sau trong một lán trại màu vàng rộng lớn có buổi thiết triều đầu tiên của vua Lê Trang Tông. Sớm mùa hạ trời quang mây tạnh, ánh bình minh chói đỏ phía đông, rừng núi Sầm Châu như thức dậy đầy tiếng gió ru cây lá xạc xào, chim chóc hót vang những bài ca muôn thuở. Trên cái lán trại lớn, lá cờ vàng tung bay phấp phới mang chữ “Nguyên Hòa”, niên hiệu của vua Lê Trang Tông. Lê Trang Tông ngồi ở chiếc ghế cao, trước mặt là chiếc bàn gỗ. Bức tường sau lưng nhà vua có hai con rồng lớn màu vàng được vẽ trên tấm vải đỏ. Phía dưới có chiếc bàn kê dọc dành cho các đại thần. Lê Trang Tông nói:
-Từ khi Mạc Đăng Dung phản loạn cướp ngôi nhà Lê, các bậc tiên hoàng đế Lê Chiêu Tông, Lê Cung Hoàng, thái hậu Trịnh Thị Loan và các trung thần lần lượt qua đời, giang sơn nhà Lê chìm đắm, gặp biết bao biến cố đau thương, bản thân trẫm cũng gặp không ít gian khổ nơi quê hương. Nay may nhờ các khanh một lòng trung quân ái quốc, phò tá trẫm trung hưng lại cơ nghiệp của đức Lê Thái Tổ. Như đã nói trong lễ đăng quang, trẫm lấy đế hiệu là Lê Trang Tông, niên hiệu Nguyên Hòa, hoàng đế thứ 12 của vương triều Hậu Lê, mở đầu cho giai đoạn Lê Trung Hưng. Trẫm sẽ cùng các khanh nằm gai nếm mật, tiêu diệt nhà Mạc, khôi phục lại giang sơn nhà Hậu Lê. Các Khanh nghe chỉ dụ.
Các đại thần vội rời khỏi ghế, quỳ xuống chắp tay. Quan nội thị đọc chỉ:
-Nay phong Nguyễn Kim là Thượng phụ Thái sư Hưng Quốc Công, thuộc hàng khai quốc công thần.
Nguyễn Kim lạy tạ:
-Đa tạ hoàng thượng, thần tuân chỉ.
-Nay phong đại thần Lại Thế Vinh là Hòa Quận Công, thuộc hàng khai quốc công thần.
Lại Thế Vinh lạy tạ:
-Đa tạ hoàng thượng, thần tuân chỉ.
-Nay phong tướng quân Trịnh Kiểm là Dực Quận Công, thuộc hàng khai quốc công thần.
Trịnh Kiểm lạy tạ:
-Đa tạ hoàng thượng, thần tuân chỉ.
-Nay phong Trung Đình Công làm Thiếu úy Hùng Quốc Công.
Trung Đình Công lạy tạ:
-Đa tạ hoàng thượng, thần tuân chỉ.
-Nay phong Trịnh Duy Thuận làm Lỵ Quốc Công.
Trịnh Duy Thuận lạy tạ:
-Đa tạ hoàng thượng, thần tuân chỉ.
-Nay phong Trịnh Duy Duyệt làm Phúc Hưng Hầu.
Trinh Duy Duyệt lạy tạ:
-Đa tạ hoàng thượng, thần tuân chỉ.
-Nay phong Trịnh Duy Liệu làm tả Đô đốc.
Trịnh Duy Liệu lạy tạ:
-Đa tạ hoàng thượng, thần tuân chỉ.
Lê Trang Tông nói tiếp:
-Nay ta ban cho mỗi ái khanh một quả ấn, một thanh gươm, tự mình điều động quân bản bộ tiêu diệt quân Mạc và phủ dụ bách tính về với Lê Trung Hưng để tiêu diệt nhà Mạc
-Tạ hoàng thượng, hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.
-Các ái khanh bình thân, đứng dậy cả đi.
Lê Trang Tông hỏi:
-Các khanh có ai tấu gì không?
Nguyên Kim nói:
-Thần có tấu.
-Khanh nói đi.
-Bẩm hoàng thượng, triều Lê ta được khôi phục, nay hoàng thượng phải xuống chiếu cần vương bố cáo cho thiên hạ biết để các anh hùng hào kiệt về tụ nghĩa thì chúng ta mới có lực lượng đánh đổ nhà Mạc.
-Chuẩn tấu, Thái sư Hưng quốc công Nguyễn Kim hãy thay ta thảo chiếu cần vương.
-Thần tuân chỉ.
-Bãi triều.
Sau buổi thiết triều của Lê Trang Tông ở Sầm Châu, khắp Đại Việt, các trấn, phủ, huyện đều truyền tay nhau bài chiếu “Cần Vương” của nhà Lê Trung Hưng. Chiếu viết: “Phụng thiên thừa vận, hoàng đế chiếu viết: Nhà Hậu Lê ta từ khi đức Lê Thái Tổ gian khổ 10 năm trời, nằm gai nếm mật đánh đuổi giặc Minh, giải phóng bách tính, khôi phục Đại Việt truyền đến nay đã 10 đời vua. Hơn 100 năm đó triều ta coi dân như con, coi quốc gia xã tắc là trên hết, ơn nghĩa sâu dầy trong thiên hạ. Vậy mà nay Mạc Đăng Dung từ một dân chài lưới được nhà Lê ưu ái cất nhắc từ một lính cầm ô lên đến cực phẩm tước vương, đáng lý phải trung quân ái quốc để trả đền ơn nghĩa, lại nẩy sinh lòng tham lam phản loạn, giết hại các đại thần trung nghĩa, giết hai vua, giết hoàng thái hậu nhà Lê, soán đoạt ngai vang, tội ác ngập sông núi, trời thần người đều giận. Nay trẫm là Lê Duy Ninh, hoàng tử của tiên hoàng Lê Chiêu Tông, thể theo mệnh trời và nguyện vọng của bách tính đã lên ngôi ở Sầm Châu, Ai Lao, đế hiệu Lê Trang Tông, niên hiệu Nguyên Hòa, mở đầu cho triều Lê Trung Hưng để thảo phạt ngụy triều Mạc. Nay xuống chiếu này kêu gọi các anh hùng hào kiệt, các nghĩa sĩ khắp thiên hạ hãy về tụ nghĩa dưới cờ của nhà Lê Trung Hưng, chiến đấu vì đại nghĩa, vì bách tính, vì giang sơn xã tắc. Sử sách sẽ ghi nhớ công ơn muôn đời. Khâm thử. Niên hiệu Nguyên Hòa năm thứ nhất, 1533”.
Từ đó, anh hùng hào kiệt trong thiên hạ tìm về Sầm Châu như nước chảy. Trong đó có các võ quan như Hoàng Đình Ái, quê quán Biện Thượng, xã Vĩnh Hùng, huyện Vĩnh Lộc, con nhà cậu của Trịnh Kiểm, Lê Hữu Trung vốn là tướng của Lê Chiêu Tông, Lại Thế Khanh, vốn là đại thần triều Lê Sơ, người thôn Đông, xã Quảng Lăng, huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, trấn Thanh Hóa; Nguyễn Hữu Liêu, người xã Tây Đàm, Tây Tựu, Từ Liêm, Đông Kinh, Vũ Sư Thước, người làng Du Trường, huyện Thuần Lộc (Hậu Lộc), Thanh Hóa. Trong các năm đó, quân số bộ binh lên 5 vạn, kỵ binh tăng 2 vạn, 500 tượng binh. Thanh thế chấn động. Vua Lê Trang Tông lại phong tước vị cho một loạt các tướng sĩ khác. Có đại thần cả nhà phò tá Lê Trung Hưng như Thái sư Hưng Quốc Công Nguyễn Kim, có con là Nguyễn Uông, Nguyễn Hoàng. Khoảng sau năm 1539, Trịnh Kiểm đã có chính thất là Lại Thị Ngọc Trân, con của Lại Thế Vinh, nhưng do mến tài đức, Nguyễn Kim đã gã đại tiểu thư Nguyễn Thị Ngọc Bảo cho Kiểm làm thứ thất. Như vậy, Trịnh Kiểm có hai gia đình nhạc phụ phò tá Lê Trang Tông. Tiếp đó là gia đình Lại Thế Vinh cùng hai con trai là Quận công Lại Thế Mỹ, con thứ là Quận Công Lại Thế Đạt, con rể là Trịnh Kiểm phò nhà Lê Trung Hưng. Trong một buổi thiết triều năm 1543, Nguyễn Kim nói:
-Bẩm hoàng thượng, nay Lê Trung Hưng ta lực lượng đã mạnh, xin hoàng thượng cho quân về nước, trước tiên là đánh chiếm đất thang mộc là Thanh Hóa, sau nữa lấy Nghệ An để phát triển lực lượng thì mới có thể tiến quân Bắc phạt.
Lại Thế Vinh nói:
-Thần tán thành ý kiến của Hưng Quốc Công. Thần nghe nói nhà Mạc có biến động, Mạc Đăng Dung đã nhường ngôi cho con là Mạc Đăng Doanh vào năm 1529 và về làm thái thượng hoàng. Mạc Đăng Doanh đế hiệu là Mạc Thái Tông nhưng mất năm 1540 khi mới 40 tuổi (1500-1540). Con Mạc Đăng Doanh là Mạc Phúc Hải còn nhỏ lên ngôi, đế hiệu là Mạc Hiến Tông. Năm 1541 Mạc Đăng Dung cũng qua đời. Triều Mạc không còn ai là trụ cột, đó là trời giúp cho Nam Triều ta thu phục giang sơn về một mối.
Lê Trang Tông nói:
-Vậy Mạc Đăng Dung và Mạc Đăng Doanh là hai trụ cột chính của nhà Mạc đã không còn. Trẫm ra lệnh tiến quân về nước. Thụy Quận Công Hà Thọ Trường tiếp chỉ.
-Dạ, có thần.
-Trẫm phong khanh làm Ngự doanh Đề thống hộ giá khi xa giá của ta về nước.
-Đa tạ hoàng thượng, thần tuân chỉ.
-Thái sư Hưng Quốc Công Nguyễn Kim tiếp chỉ:
-Dạ, có thần.
-Trẫm phong khanh làm Tiết chế thống lĩnh toàn bộ các tướng lĩnh và binh sĩ Nam Triều tiến về giải phóng Thanh Hóa, Nghệ An.
-Đa tạ hoàng thượng, thần tuân chỉ.
Chiều hôm đó rừng núi Sầm Châu như chuyển động, người ngựa, voi, tướng lĩnh và quân sĩ triều Lê Trung Hưng theo hàng dọc lũ lượt như nước tiến về phía Đông. Đi tiên phong là đại tướng Dực quận công Trịnh Kiểm, đi trung quân là Tiết chế Nguyễn Kim, cùng các đại thần hộ giá xa giá vua Lê Trang Tông. Các tướng Lại Thế Vinh, Lại Thế Mỹ, Lại Thế Đạt đi hậu quân. Vua Lê Trang Tông và triều đình Lê Trung Hưng về kinh đô Vạn Lại-An Trường ở Lôi Dương, cách Lam Sơn về phía Đông khoảng vài dặm mà Lại Thế Vinh và Trịnh Kiểm đã xây dựng từ năm 1539, còn Nguyễn Kim đem quân đội tiến đánh Tây Đô, từ đó mà tiến lên giải phóng Thanh Hóa. Cuộc chiến đẫm máu giữa Nam Triều và Bắc Triều lại bùng lên. Bầu trời vạch vẽ những đám mây đầy sát khí báo hiệu những cơn dông tố tàn khốc của chiến tranh.