#CHUYỂN GIAO VƯƠNG TRIỀU LÝ-TRẦN,#Việt Nam Diễn Nghĩa, #Tiểu Thuyết Lịch Sử



I -|- Lúc bấy giờ là tháng 3 năm 1207, Đại Việt dưới thời cai trị của hoàng đế Lý Cao Tông, là thời kỳ nhà Lý đang trên đương suy vi, thời kỳ loạn lạc. Mặt trời đã lên hơn một cây sào phía đông, tỏa ánh nắng trắng nhạt xuống vùng Hồng Châu, xuống những cánh đồng bát ngát đang xanh màu lúa thì con gái của đại hào trưởng Đoàn Thượng.

Nắng cũng rải xuống làng mạc xanh tươi màu cây nhãn, tre, mít, vải. Nắng long lanh lọt qua kẽ lá cây rơi xuống những mái gianh, mái ngói của thôn gia. Nắng rải xuống những dòng sông Thái Bình, sông Luộc làm nước xuôi về đông tỏa muôn vàn ánh bạc. Gió nhẹ đưa. Vài con thuyền giang hồ xuôi ngược trên dòng sông. Vài đàn chim đang sải cánh trên trời xanh từ phương Nam bay về quê hương phương Bắc.

Dưới ánh mặt trời, khu náo nhiệt nhất vẫn là khu quân doanh và nhà ở của hào trưởng Đoàn Thượng. Những lá cờ vàng trên cao bay phần phật theo gió. Dưới cờ là san sát doanh trại quân của Đoàn Thượng và các tướng họ Đoàn, gươm giáo sáng lòa cắm chung quanh một vùng rộng lớn.

Trên các bãi tập, trong sân các doanh trại, các tướng đang luyện tập cho quân sĩ kỹ chiến thuật tác chiến. Trung tâm của vùng Bình Giang, Ninh Giang là khu tổng hành dinh của Đoàn Thượng, nhiều dãy nhà ngói khang trang liền nhau san sát, mái vươn có đầu đao đầu rồng, nom không khác gì những mái cung điện ở Thăng Long. Cột và cửa các nhà đều bằng gỗ lim chạm khắc tinh vi rồng rắn, chim chóc hoa lá khảm ngọc trai sáng bóng.

Trong gian đại sảnh người ta thấy có Đoàn Thượng ngồi ở ghế chủ. Ngồi ở bàn ghế kê dọc đối diện nhau có các tướng Đoàn Chú, Đoàn Văn Lôi, Đoàn Cẩm, Vũ Hốt, Đoàn Nguyễn. Họ là những anh hùng, hào kiệt bậc nhất của đất Hồng Châu. Họ đang uống trà, đàm đạo chờ đến giờ tốt khởi binh chống lại các sứ quân, tỏ rõ là một quần hùng trong thiên hạ. Sau một lượt trà, Đoàn Chú đặt chén xuống hỏi Đoàn Thượng:

-Huynh là người lớn tuổi, lại được học hành sâu rộng nhất trong đám hào trưởng. Huynh nói cho bọn đệ nghe từ khi nào mà vương triều Lý lại suy vi, đổ nát như bây giờ. Trong 200 năm nay mà lúc nào cũng như mấy năm vừa qua thì dân chúng chịu được sao?

Đoàn Thượng người phương phi, tai dài, mặt vuông, dáng con nhà võ, uống cạn một ly trà, đặt chén xuống và thong thả nói:

-Nhà Lý từ Lý Thái Tổ đến Lý Cao Tông ngày nay là 7 đời vua nhưng được 4 đời vua đầu là đất nước thịnh trị, dân tình an bình và no ấm, đất nước không loạn ly. Vua đầu tiên là Lý Thái Tổ, tên thật là Lý Công Uẩn, vốn là Điện tiền Chỉ huy sứ trong triều Lê, là con rể của hoàng đế Lê Đại Hành với Hoàng hậu Dương Vân Nga. Vốn có tài đức nên năm 1009, khi Lê Ngọa Triều chết, các đại thần như Đào Cam Mộc, Thiền sư Vạn Hạnh đã đưa Lý Công Uẩn lên ngôi, lấy đế hiệu là Lý Thái Tổ, là vị vua khai sáng ra vương triều Lý. Ngài ở ngôi được 19 năm (1009-1028), thọ 54 tuổi (974-1028). Lý Thái Tổ có nhiều công lao, trong đó công lớn nhất là dời kinh đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về Thăng Long (1010), mở ra một bước phát triển mới cho đất nước Đại Cồ Việt.

  Vị vua thứ hai kế vị Lý Thái Tổ là Lý Thái Tông, tên thật là Lý Phật Mã, sinh năm 1000, cho nên khi lên ngôi đã 28 tuổi, trị vì 26 năm (1028-1054). Lý Thái Tông băng hà năm 1054, hưởng thọ 54 tuổi.

  Vị vua thứ ba của Vương triều Lý là Lý Thánh Tông, tên thật là Lý Nhật Tân, sinh năm 1023, lên ngôi lúc 31 tuổi, trị vì được 18 năm (1054-1072), hưởng thọ 49 tuổi (1023-1072). Khi Lý Thánh Tông lên ngôi năm 1054, đã đổi quốc hiệu từ Đại Cồ Việt thành Đại Việt.

  Sau khi Lý Thánh Tông mất thì từ đó các vua Lý về sau lên ngôi vào lúc tuổi còn nhỏ. Con Lý Thánh Tông với hoàng thái hậu Ỷ Lan là Lý Càn Đức lên ngôi lúc 6 tuổi, đế hiệu là Lý Nhân Tông. Lý Nhân Tông sinh năm 1066, lên ngôi năm 1072, tại vị lâu nhất trong các hoàng đế Đại Việt, từ 1072 đến năm 1127, 55 năm, hưởng thọ 61 tuổi. Dù lên ngôi khi còn nhỏ nhưng được những người phò tá nhiếp chính đều là những người giỏi giang, bản thân Lý Nhân Tông cũng chịu khó học hành rèn luyện nên khi lớn lên cũng là vị vua tài giỏi. Những người phò tá Lý Nhân Tông lúc đầu là Dương thái Hậu và Lý Đạo Thành, sau là Ỷ Lan thái hậu và Phụ quốc Thái úy Lý Thường Kiệt, người đã đánh bại quân xâm lược nhà Tống ngay trên đất Trung Quốc năm 1075 và năm 1076-1077, khi chúng tiến sang xâm lược Đại Việt. Cho nên thời Lý Nhân Tông đất nước vẫn hưng thịnh thanh bình và phát triển.

  Sau Lý Nhân Tông là vua Lý Thần Tông, tên thật là Lý Dương Hoán, lên ngôi lúc 11 tuổi, trị vì 11 năm (1127-1138), hưởng thọ 22 tuổi (1116-1138). Thời Lý Thần Tông đã có dấu hiệu triều đình tranh chấp quyền lực. Tuy nhiên Đại Việt và vương triều thời kỳ này vẫn giữ được ổn định.

  Nhà Lý bắt đầu suy vi khi vị vua thứ 6 là Lý Anh Tông, tên thật là Lý Thiện Tộ, lên ngôi lúc mới 3 tuổi, tại vị 37 năm (1138-1175), hưởng thọ 39 tuổi (1136-1175).

  Tiếp theo Lý Anh Tông là Lý Cao Tông, tên thật là Lý Long Cán, lên ngôi năm 1176, khi mới 3 tuổi, tại vị cho đến nay đã được 33 năm.

  Triều Lý, từ Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông là thời kỳ thịnh trị của vương triều và của Đại Cồ Việt và năm 1054 là Đại Việt. Nhiều lý do nhưng trong đó có lý do là các vua kế vị đều lớn tuổi, trưởng thành, chăm học hành tu luyện trở thành những vị vua giỏi giang trong việc trị nước yên dân, hết lòng vì dân vì nước. Như ta đã nói rồi, chỉ có Lý Nhân Tông là lên ngôi lúc mới 6 tuổi nhưng từ nhỏ vua đã say mê học tập, tu dưỡng bản thân, lại được những người tài giỏi như thái hậu Ỷ Lan, Phụ Quốc Thái úy Lý Thường Kiệt phụ chính, rèn dạy kèm cặp nên lớn lên vẫn là một vị minh quân, vẫn duy trì được Đại Việt trong thời kỳ vàng son phát triển, nối được chí vua cha và vua ông.

  Đoàn Thượng ngừng lại uống thêm ly nước nóng người gia nhân vừa rót. Đoàn Văn Lôi nhân đó hỏi:

-Vậy từ Lý Thái Tổ đến Lý Nhân Tông, các vị vua ấy đã làm được gì để đất nước cường thịnh phát triển?

  Đoàn Thượng uống xong, đặt cốc xuống bàn và nói tiếp:

-Các vị vua đó đã củng cố nội trị mà trước hết là phát triển kinh tế, đặc biệt chú trọng đến nông nghiệp, ngành kinh tế chủ yếu của đất nước. Về cai trị, chú trong xây dựng pháp luật, dựa trên pháp luật mà cai trị, phải chỉ rõ cho bách tính cái gì được phép làm, cái gì không được phép làm, cái gì nhà nước cấm mà vẫn làm là vi phạm pháp luật, sẽ bị nhà nước trừng phạt. Nước ta từ thời lập nước đến trước năm 1042 chưa có luật viết thành văn bản mà chỉ dựa vào tập quán trong dân gian để cai trị, cũng tạo điều kiện cho sự chuyên quyền của cá nhân cai trị. Tới năm 1042, thời vua Lý Thái Tông đã ban hành bộ luật “Hình Thư”, đó là bộ luật thành văn đầu tiên của nước ta, quy định chặt chẽ bảo vệ nhà vua, cung điện, bảo vệ của công và tài sản của bách tính, bảo vệ sản xuất nông nghiêp như quy định nghiêm cấm việc giết hại trâu bò vì trâu bò là sức kéo của nông nghiệp. Pháp luật cũng đã bảo vệ người nông dân là lực lượng chính của sản xuất nông nghiệp. Kinh tế của nhà Lý là kinh tế điền trang thái ấp, tức là tùy theo tước vị, chức vụ cao thấp mà bọn quý tộc được cấp số ruộng đất rộng hay hẹp tùy theo số hộ nông dân trong điền trang đó nhiều hay ít. Nông dân trong điền trang thái ấp đó phải cày ruộng cho chủ, bị chủ bóc lột. Nhưng Pháp luật nghiêm cấm việc chủ quý tộc biến nông dân thành nô lệ. Quy định như vậy để bảo vệ nông dân là lực lượng chính của sản xuất nông nghiệp, còn để bảo vệ lực lượng quốc phòng, vì con em nông dân là lực lượng chính của quân đội, để hạn chế kìm hãm quyền lực của bọn vương công quý tộc. Các vị vua thời đó đã củng cố cương vực quốc gia, củng cố bộ máy nhà nước cai trị từ trên xuống dưới, vươn tới những vùng biên cương miền núi xa xôi. Nhà Lý dùng chính sách hôn nhân, gả công chúa cho các tù trưởng ở các địa phương, biến họ thành con cháu trong nhà để họ trung thành phục vụ triều đình. Với những tù trưởng không thần phục thì kiên quyết đánh dẹp. Ba vị vua đầu tiên của nhà Lý đã nhiều lần xuất quân đánh tù trưởng các châu Vị Long, Đô Kim, Thường Tân, Bình Nguyên, Đình Nguyên, Yên Nguyên, Văn Hoan, Diễn, Phong, lớn nhất là đàn áp cuộc nổi loạn của người Nùng năm 1038, 1041. Các vua trong giai đoạn này đã phải giải quyết những cuộc xung đột nhỏ ở biên giới với nhà Tống và kiên quyết bảo vệ chủ quyền đất đai, ngăn chặn sự xâm lấn của phương Bắc. Hiển hách nhất là năm 1075, dưới thời Lý Nhân Tông, phụ Quốc Thái úy Lý Thường Kiệt đã “Tiên phát chế nhân”đem quân vào đất Tống, phá tan những căn cứ quân sự Khâm Châu, Liêm Châu, Ung Châu mà nhà Tống chuẩn bị cho cuộc chiến tranh xâm lược vào Đại Việt. Sau đó vào năm 1076-1077, Lý Thường Kiệt đã đánh bại cuộc xâm lược quy mô to lớn trên sông Cầu, khiến nhà Tống khiếp sợ, từ đó không dám xua quân gây hấn nữa.

  Các hoàng đế nhà Lý trong thời kỳ này thường đánh lui những cuộc cướp phá của của quân Nam Chiếu ở miền Tây Bắc, của quân Chiêm Thành ở phía Nam. Năm 1069, Lý Thánh Tông cầm quân đánh Chiêm Thành do chúng thường xuyên quấy nhiễu cướp phá. Quân Lý bắt được quốc vương Chiêm Thành là Chế Củ. Chế Củ xin dâng ba châu là Địa Lý, Ma Linh, Bố Chánh để chuộc tội. Lý Thánh Tông lấy ba châu và cho Chế Củ về nước.[1] Lãnh thổ Đại Việt mở rộng về phía nam từ đó. Các vua nhà Lý còn xác lập hệ thống giáo dục trong khoa cử. Nhà Lý vẫn tôn sùng đạo Phật. Dù sao đạo Phật cũng chỉ là tâm linh tôn giáo. Muốn cai trị phải dùng học thuyết chính trị là đạo Nho. Nho là tư tưởng của giai cấp phong kiến, muốn cai trị tốt phải dùng học thuyết Nho Gia. Cho nên ngoài đạo Phật, nhà Lý còn dùng đạo Nho để đào tạo nhân tài cho đất nước. Năm 1070, nhà Lý đã mở trường Đại học đầu tiên ở Thăng Long là Quốc Tử Giám, bên cạnh mở Văn miếu để thờ thánh tổ của đạo Nho. Trong Văn Miếu đặt thờ tượng Khổng Tử, Chu Công và những học trò lỗi lạc của Khổng Tử, bốn mùa cúng tế để mở mang sự học. Từ Thăng Long, trường học Nho đã được mở khắp nơi trong toàn quốc. Không chỉ con em quý tộc mà con em bình dân, nông dân cũng được đào tạo, được thi cử để chọn hiền tài. Năm 1075, khoa thi Nho đầu tiên được tiến hành và người đỗ đầu là Lê Văn Thịnh, sau này làm đến Thái sư, được coi như trạng nguyên đầu tiên của Đại Việt.

Ba vị hoàng đế nhà Lý là Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông lên ngôi vào lúc tuổi trưởng thành, tài năng, có tư tưởng thực thi chính sách kế tục nhau và nhất quán. Các vua lại được các danh thần tài năng giúp đỡ, phò tá nên đất nước càng an bình, thịnh vượng, nhân dân an cư lạc nghiệp. Các danh thần đó là Lê Văn Thịnh, Bùi Quốc Khái, Doãn Tử Tư, Đoàn Văn Khâm, Lý Đạo Thành đã góp phần lớn vào văn trị và chính trị, tạo sự phát triển rực rỡ của vương triều Lý giai đoạn đầu.

  Đoàn Cẩm hỏi:

-Huynh nói các vị vua Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông cai trị, mang lại sự bình yên cho thiên hạ. Sao đệ nghe nói thời kỳ Lý Thái Tông cũng có loạn Tam Vương, cũng giết chóc khủng khiếp, còn là nổi kinh hoàng cho đời sau.

  Đoàn Thượng đặt cốc nước xuống bàn và cười:

-Tháng 3 năm 1028, Lý Thái Tổ qua đời, thọ 55 tuổi, thụy hiệu là Thần Vũ hoàng đế, an táng tại Thọ Lăng. Các đại thần đến cung Long Đức dâng biểu xin thái tử Lý Phật Mã lên ngôi. Ba người em của Lý Phật Mã là Đông Chính Vương, Dực Thánh Vương và Vũ  Đức Vương không đồng ý nên đem quân phục sẵn trong hoàng thành nhằm cướp ngôi. Đông Chính Vương phục sẵn trong Long Thành, Dực Thánh Vương và Vũ Đức Vương phục binh ở cửa Quảng Phúc đợi thái tử đến sẽ đánh úp. Thái tử Lý Phật Mã từ cửa Tường Phù đi vào điện Càn Nguyên, biết có biến, ra lệnh đóng hết các cửa điện và sai vệ sĩ trong cung phòng ngự. Thấy thái tử không nỡ xuống tay với các em, quan Nội chính Lý Nhân Nghĩa xin thái tử đánh một trận được thua. Ở ngoài quân của ba vương đánh vào rất gấp. Thái tử cho mở cửa, sai Lê Phụng Hữu, người có sức khỏe phi thường ra đánh. Lê Phụng Hữu một mình vượt hàng trăm lính của ba vương xông ra trước cửa Quảng Phúc, đến tận chỗ của Vũ Đức Vương. Vương quay ngựa tránh nhưng ngựa quỵ xuống, bị Lê Phụng Hữu tóm được và bóp chết. Hai vương còn lại thua chạy. Quan quân đuổi theo giết hết lính, chỉ có Đông Chính Vương và Dực Thánh Vương chạy thoát.

  Thái tử Lý Phật Mã lên ngôi, đế hiệu là Lý Thái Tông, lấy niên hiệu là Thiên Thành. Hai vương chạy thoát, sau này được Lý Thái Tông tha tội chết.

  Sau cuộc loạn tam vương, để ngăn ngừa biến loạn có thể tái diễn, Lý Thái Tông đặt ra “Hội thề đền thần Đồng Cổ”. Đó là một lễ thề rất quan trọng trong suốt triều nhà Lý. Lý Thái Tông xuống chiếu, giao cho Hữu ty dựng miếu bên phải thành Thăng Long, sau chùa Thánh Thọ. Lấy ngày 25 tháng 3 đắp đàn ở trong miếu, cắm cờ xí, chỉnh đốn đội ngũ, treo gươm giáo trước thần vị, đọc lời thề rằng: “Làm con bất hiếu, làm tôi bất trung, xin thần minh giết chết”. Các quan từ cửa Đông đi vào đến trước thần vị cùng uống máu ăn thề.

  Sau vì tháng 3 có ngày quốc kỵ nên ngày ăn thề đổi sang ngày 4 tháng 4. Nếu không có mặt trong buổi lễ, quan lại vắng bị đánh 50 trượng.

  Việc vua Lý Thái Tông dẹp được loạn tam vương và đặt ra “Hội thề Đồng Cổ” đã khiến chính trị triều đình từ đó ổn định trong một thời kỳ dài, chấm dứt tình trạng biến loạn trong những cuộc đấu tranh giành quyền lực, tranh giành ngai vàng gây hậu quả nghiêm trọng như các triều Ngô-Đinh.

Đoàn Chú hỏi:

-Huynh nói những vị vua lên ngôi lúc còn nhỏ, bắt đầu vua Lý Nhân Tông làm cho thế cuộc suy vi như ngày nay có đúng không?

  Đoàn Thượng đáp:

-Riêng có vua Lý Nhân Tông dù lên ngôi năm 1072, lúc 6 tuổi nhưng thế nước vẫn ổn định và phát triển. Ban đầu được Dương Thái hậu và Lý Đạo Thành phụ chính giúp đỡ. Sau đó Lý Nhân Tông phế bỏ Dương Thái hậu, được mẹ đẻ là Nguyên phi Ỷ Lan và Thái úy Lý Thượng Kiệt là những người tài giỏi phụ chính giúp đỡ. Hơn nữa, nhà vua lại ra sức học tập, tu luyện tài đức để cai trị quốc gia. Hai yếu tố đó đã giúp cho Lý Nhân Tông dù còn nhỏ tuổi lên ngôi nhưng quốc gia vẫn hưng thịnh, đạt được võ công hiển hách. Năm 1075, đưới sự chỉ huy của Lý Thường Kiệt, quân Đại Việt đã tiến hành cuộc Bắc tiến để “Tiên phát chế nhân” hạ các thành Khâm Châu, Liêm Châu và Ung châu, phá tan những căn cứ hậu cần của nhà Tống chuẩn bị để xâm lược Đại Việt. Năm 1076-1077, nhà Tống cho 20 vạn quân tràn vào xâm lược Đại Việt đã bị đánh cho tan tành. Ý chí xâm lược của nhà Tống bị đè bẹp.

  Lý Nhân Tông là vị hoàng đế cai trị lâu dài nhất trong lịch sử các vị hoàng đế của Đại Cồ Việt và của Đại Việt. Ngài lên ngôi năm 1072, mất năm 1127, tại vị 55 năm. Tuy vậy, Lý Nhân Tông không có con kế vị, phải chọn con của người em là Lý Sùng Hiển là Lý Dương Hoán lên ngôi. Lý Dương Hoán phải gọi Lý Nhân Tông là bác. Năm 1127 Lý Nhân Tông qua đời, thọ 61 tuổi. Lý Dương Hoán khi đó 11 tuổi lên ngôi, đế hiệu là Lý Thần Tông, kết thúc thời kỳ rực rỡ của Vương triều Lý, bắt đầu thời kỳ suy vi của triều đại này. Tuy xuất hiện những mầm mống suy vi nhưng đất nước thời Lý Thần Tông vẫn ở thế ổn định vì được những đại thần tài giỏi phụ chính, đó là Thái sư Lê Bá Ngọc, Thái phó Dương Anh Nhĩ, Thái úy Lý Công Bình, Gián nghị đại phu Mâu Du Đồ, Điện tiền chỉ huy sứ Lý Sơn. Đó là những đại thần có năng lực, được Lý Nhân Tông giao trọng trách trước khi ngài mất. Tuy nhiên thời Lý Thần Tông đã xuất hiện sự tranh chấp quyền lực, xuất hiện bọn quan lại xu nịnh. Năm 1138, Lý Thần Tông qua đời khi mới 23 tuổi, tại vị được 11 năm. Trước đây Lý Thần Tông đã chọn con trưởng là Lý Thiên Lộc làm thái tử, nhưng Cảm Thánh phu nhân cùng Phụng Thánh phu nhân, Nhật Phụng phu nhân đã dùng tiền bạc đút lót cho hoạn quan Từ Văn Thông. Từ Văn Thông xin Lý Thần Tông phế bỏ Lý Thiên Lộc, lập con nhỏ là Lý Thiên Tộ làm thái tử, giáng Lý Thiên Lộc làm Minh Đạo Vương. Khi Lý Thần Tông qua đời, Lý Thiên Tộ khi đó 3 tuổi lên ngôi, tức là Lý Anh Tông. Cảm Thánh phu nhân Lê Thị trở thành Hoàng thái hậu. Bà này trọng dụng Đỗ Anh Vũ vốn là người hầu trong màn trướng của Lý Thần Tông. Đỗ Anh Vũ còn là con nuôi của Thái sư Trương Bá Ngọc. Vì Lê thái hậu và Đỗ thái hậu chỉ tin có mỗi Đỗ Anh Vũ nên các đại thần trong triều bất bình như Điện tiền chỉ huy sứ Vũ Đại, Phò mã Dương Tự Minh. Hai người đã làm cuộc chính biến bắt Đỗ Anh Vũ nhưng không giết đi, lại chỉ đày ra Cảo Điền Nhi cày ruộng. Lê Thái hậu cố nghĩ cách cứu Đỗ Anh Vũ. Đỗ Anh Vũ được mấy lần xá tội, về triều, giữ chức Thái úy phụ chính, lại càng được tin dùng hơn. Đỗ Anh Vũ tìm cách trả thù những đại thần trước đây đã lật đổ ông ta. Vua Anh Tông còn nhỏ chỉ gật đầu chuẩn tấu. Do đó những đại thần tham gia chính biến bị giết hoặc bị lưu đày.

  Năm 1158, Đỗ Anh Vũ qua đời. Tô Hiến Thành được thăng làm Thái úy. Năm 1174, hoàng thái tử Lý Long Xưởng gian dâm với cung phi bị Lý Anh Tông giáng làm Bảo Quốc Vương. Lý Anh Tông đưa con trai còn nhỏ là Lý Long Cán, con của một cung phi là cháu của Đỗ Anh Vũ làm thái tử. Tô Hiến Thành làm Nhập nội kiểm hiệu, Thái phó Bình chương quân quốc trọng sự, tước vương, được giao phụ chính, kèm cặp cho Thái tử.

  Năm 1175, Lý Anh Tông qua đời, ở ngôi 37 năm, Lý Long Cán mới 3 tuổi lên ngôi, gọi là Lý Cao Tông. Tô Hiến Thành được giao phụ chính. Giữa năm 1179, Tô Hiến Thành qua đời khi Lý Cao Tông mới 6 tuổi. Đỗ An Di, em trai của Đỗ thái hậu được giao quyền phụ chính. Năm 1190, Đỗ An Di qua đời. Đàm Dĩ Mông là ẹm trai của An Toàn Hoàng hậu (Đàm hoàng hậu) được cất nhắc làm phụ chính.

  Lý Cao Tông lớn lên nhưng chỉ thích chơi bời, thả sức cho mua quan bán chức để lấy tiền tiêu xài. Tạo nên bọn bất tài vô đức nhưng nhiều tiền mua được các chức quan. Khi đã thành quan càng ra sức vơ vét, nhũng nhiễu bách tính để bù vào số tiền chúng bỏ ra mua quan chức. Lý Cao Tông còn cho bán những tài sản thuộc về nhà nước. Vì thế kho bạc và tài sản trong cung như núi mà dân tình thì đói khổ cứ thế kêu than bên ngoài mà triều đình không thấu. Giặc cướp nổi lên như ong. Các thế lực hào trưởng địa phương nhân đó xây dựng lực lượng chuẩn bị xưng hùng, xưng bá trong thiên hạ, gây ra những cuộc loạn ly. Vì thế, chúng ta phải ra sức xây dựng lực lượng ở Hồng Châu, chuẩn bị đối phó với các sứ quân, kể cả với quân đội triều đình trong nay mai.

  Đoàn Cẩm hỏi:

-Thưa huynh, ngoài lực lượng của chúng ta, thiên hạ còn có lực lượng của sứ quân nào nữa ạ.

  Đoàn Thượng đáp:

-Theo tin thám mã các nơi báo về, hiện nay ở các địa phương nhiều sứ quân bí mật xây dựng lực lượng như Nguyễn Nộn ở Bắc Giang, Hà Cao ở Quy Hóa, Đỗ Bị ở Sơn Tây, Phí Lang ở Ninh Bình, nhưng mạnh nhất là thế lực của dòng họ Trần ở Hưng Hà, Bố Hải Khẩu.

  Không khí bỗng nhiên trầm lắng hẳn xuống. Đoàn Thượng gọi:

-Bay đâu.

-Dạ, chúa công.

  Bày tiệc rượu ra đây để ta cùng các đệ vui vẻ, chuẩn bị cho ngày mai làm lễ tế cờ khởi binh. Thời thế tạo anh hùng, thiên hạ loạn lạc, triều đình suy vi là điều kiện tốt cho họ Đoàn ta xưng hùng, xưng bá suốt một vùng từ Hồng Châu phía tây tới gần Thăng Long, phía đông bao gồm ven biển xưa gọi là An Biên và Lục Châu. Nào xin mời các đệ cạn chén.

-Xin mời các đệ. Chúc cho lá cờ của họ Đoàn ta tung bay không chỉ ở Hồng Châu mà còn tung bay khắp thiên hạ.

-Cạn chén…

Messi về Man City là canh bạc cuộc đời của Guardiola
LÝ SẢM - Lý Huệ Tông - Cuộc Đời Bất Hạnh, Điên Loạn - Truyền Ngôi Cho Con Gái Và Bị Bức Chết. Ảnh: Biên Niên Sử Việt.

II

  Tháng 3 năm 1207, kinh thành Thăng Long vẫn còn rơi rớt không khí mùa xuân, nắng vàng rải xuống phố phường đầy cây cao bóng mát, lá xanh phủ xuống các mái nhà rêu phong cổ kính, gió còn hơi se lạnh. Lá vàng rơi lả tả cuốn theo gió, theo chân người, xe ngựa đi lại trên đường phố. Hoàng thành và Tử cấm thành vẫn yên tĩnh.Trong điện Càn Nguyên, Lý Cao Tông đang thiết triều. Lý Cao Tông hỏi:

-Có việc gì bẩm tấu không?

  Quan phụ chính Phạm Bĩnh Di bước ra:

-Thần có tấu.

-Ái khanh nói đi.

-Dạ bẩm hoàng thượng, sau cuộc nổi loạn của Phí Láng ở Ninh Bình, bây giờ đến lượt Đoàn Thượng, Đoàn Chú ở Hồng Châu đang tụ tập binh mã, đắp thành lũy, treo cờ xưng vương để chống lại triều đình. Kính mong hoàng thượng cử quân đi đánh dẹp.

  Lý Cao Tông ngạc nhiên:

-Lại có chuyện đó nữa sao?

Quan Thái úy Đàm Dĩ Mông bước ra nói:

-Dạ bẩm hoàng thượng, hiện nay thiên hạ loạn lạc, không chỉ thế lực của họ Đoàn ở Hồng Châu mà hào trưởng các địa phương cũng đang xây dựng thế lực ngầm để tranh hùng trong thiên hạ. Mong hoàng thượng cho quân tiêu diệt họ Đoàn để làm gương răn dạy cho kẻ khác.

chu-geeph1-xsel-1650380921.jpg
Tượng vua Lý Cao Tông. Nguồn: Internet.

 

Lý Cao Tông nói:

-Vậy thì triều đình lại phải khó nhọc cất quân rồi.

-Đàm Dĩ Mông nghe chỉ.

-Bẩm hoàng thượng, có thần.

-Thái úy đem quân đạo Đại Thông[1] đánh Hồng Châu từ phía bắc.

-Thần tuân chỉ.

-Đại tướng Phạm Bĩnh Di nghe chỉ.

-Dạ có thần.

-Đại tướng đem quân đạo Khả Liễu đánh vào Hồng Châu từ phía Nam.

-Thần tuân chỉ.

-Đại tướng Trần Hinh nghe chỉ.

-Dạ, có thần.

-Đại tướng đem quân đạo Phù Đại[2] đánh Đoàn Thượng từ phía đông.

-Thần tuân chỉ.

-Ái khanh nào còn tấu?

Im lặng.

-Không còn tấu, bãi triều.

Quan  Thượng phẩm Phụng ngự Phạm Du vốn cũng đã nuôi chí xây dựng lực lượng để phản lại triều đình, xưng hùng xưng bá, không muốn Lý Cao Tông đàn áp lực lượng của Đoàn Thượng để sau này còn có thể liên minh, liền vào nói với Lý Cao Tông:

-Tâu hoàng thượng, việc cho rằng Đoàn Thượng ở Hồng Châu chiêu tập binh mã chống lại triều đình là không đúng.

  Lý Cao Tông hỏi:

-Ái khanh biết tin gì mới về Hồng Châu chăng?

-Thần nắm chắc Đoàn Thượng có chiêu tập binh mã nhưng là để sau này bảo vệ hoàng thượng, đối phó với hào trưởng nào chống lại nhà Lý. Cho nên thần khẩn xin hoàng thượng cho lui binh, nếu không lại giết hại những lực lượng muốn giúp đỡ triều đình, sau này nguy biến còn ai mà phò tá hoàng thượng nữa. Mong hoàng thượng suy xét kỹ.

  Lý Cao Tông nói:

-Khanh nói phải lắm.

-Quan nội thị đâu.

-Dạ, có thần.

-Khanh phái ba sứ giả đi ba nơi triệu ba đạo quân về, không cần tấn công Hồng Châu nữa.

-Thần tuân chỉ.

  Nhận được chỉ dụ của Lý Cao Tông, các tướng Đàm Dĩ Mông, Phạm Bĩnh Di, Trần Hinh cho lui binh. Từ đó lực lượng của Đoàn Thượng ở Hồng Châu ngày càng lớn mạnh, lại hình thành sự liên kết giữa Đoàn Thượng và Phạm Du ở kinh thành Thăng Long.

  Phạm Du nuôi chí chiếm cứ một địa phương, xây dựng lực lượng để xưng hùng xưng bá, suy đi tính lại chỉ còn vùng đất Nghệ An, Thanh Hóa là chưa có hào trưởng nào. Tháng 10 năm 1208, Phạm Du nói với Lý Cao Tông:

-Nay đất Nghệ An-Thanh Hóa không phải là quê hương của hoàng thượng nhưng là vùng đất quan trọng, được coi như đất đế vương thang mộc. Nay thần xin hoàng thượng cho thần vào đó trông coi việc quân, xây dựng lực lượng, hỗ trợ cho triều đình, cho hoàng thượng nhỡ khi có biến loạn.

  Lý Cao Tông mừng rỡ đáp:

-Ái khanh đúng là người biết lo xa cho triều đình. Khanh hãy vào Nghệ An nắm việc quân và xây dựng lực lượng ở đó, phòng khi thiên hạ đại loạn thì hỗ trợ cho trẫm.

-Thần tuân chỉ.

  Tháng 10 năm 1208, Phạm Du vào Nghệ An, lấy cớ là được Lý Cao Tông cho phép chiêu tập thêm binh lính, Phạm Du liền chiêu tập những người vô gia cư thành một lực lượng riêng của mình. Phạm Du dung túng cho chúng làm càn, bọn này cậy có Phạm Du, không kiêng sợ gì cả, đi khắp nơi cướp của giết người hãm hiếp. Lý Cao Tông ở Thăng Long được thám mã về báo:

-Dạ, bẩm hoàng thượng, quan Thượng phẩm phụng ngự  Phạm Du ở Nghệ An chiêu tập binh làm phản, thả cho quân lính cướp bóc, giết người, đốt nhà, hãm hiếp, tội chồng như núi ở châu Nghệ An. Mong hoàng thượng minh xét.

  Lý Cao Tông nổi giận:

-Sao Phạm Du lại có thể làm như vậy, không coi vương pháp ra gì. Bay đâu.

-Dạ, hoàng thượng.

-Cho gọi đại tướng Phạm Bĩnh Di vào đây.

-Dạ.

  Phạm Bĩnh Di vào:

-Dạ, bẩm hoàng thượng.

  Lý Cao Tông nói:

-Nay Phạm Du vào đất Nghệ An coi việc quân nhưng lại chiêu tập bọn vô lại làm phản, thả sức cướp của giết người, đốt nhà hãm hiếp ở đó. Ái khanh hãy đem quân vào dẹp và bắt Phạm Du về đây.

-Dạ, thần tuân chỉ.

  Phạm Bĩnh Di kéo quân vào đến Diễn Châu đã thấy Phạm Du dàn quân đón đánh, quân lính hàng ngũ lộn xộn, ăn mặc rách rưới, hò reo ầm ĩ. Phạm Bĩnh Di biết đó là đội quân ô hợp cho nên không cần dàn trận, ngồi trên ngựa Phạm Bĩnh Di hô lớn:

-Xông lên, giết.

  Quân triều đình hò nhau xông lên, tiếng hô giết vang lừng, gươm giáo chạm nhau loảng xoảng, thây đổ máu tuôn. Đám quân của Phạm Du phút chốc chết ngổn ngang. Số còn lại vứt gươm giáo tìm đường chạy trốn. Phạm Bĩnh Di tiến vào cho đốt hết nhà cửa doanh trại của cải của Phạm Du ở Nghệ An. Phạm Du cố thoát thân, thúc ngựa chạy ròng rã hơn ngày đường mới về đến Thăng Long, bí mật về dinh cơ riêng của mình, thu gom vàng bạc rồi gọi gia nhân:

-Người đâu?

-Dạ.

-Ngươi đem vàng bạc này vào gặp quan Minh Tự có tên là Bằng và nói rằng ta không làm phản mà bị Phạm Bĩnh Di vu cáo. Chính Phạm Bĩnh Di mới là người cho quân cướp bóc, đốt nhà, giết người hãm giếp ở Nghệ An. Tội của Phạm Bĩnh Di chồng chất. Xong đưa số vàng bạc này và bức thư này cho ông ta, xong việc về ta thưởng.

-Dạ, tuân lệnh chủ nhân.

  Minh tự Bằng cũng là một gian thần, bạn thân với Phạm Du, mở thư ra đọc. Thư viết: “Huynh hãy cứu giúp ta. Ta vào Nghệ An chiêu mộ lực lượng định xây dựng một thế lực riêng nhưng chuyện sớm bại lộ, bị Phạm Bĩnh Di đánh thua, quân lính và tài sản mất hết. Đệ may mắn đã bí mật thoát thân về được Thăng Long. Nay huynh hãy nhận số vàng bạc này đem chi cho vây cánh của chúng ta, phao tin và sau đó tâu với Lý Cao Tông rằng ta bị oan. Chính Phạm Bĩnh Di vào Nghệ An mới tàn ác, giết người cướp của, tàn sát sinh linh dã man không kể xiết. Có như vậy các huynh mới cứu được đệ, mới giết được Phạm Bĩnh Di, rửa hận cho đệ”.

  Minh Tự Bằng đọc xong thư nghĩ thầm: “Chiêu vu cáo này mượn tay Lý Cao Tông để giết một trung thần như Phạm Bĩnh Di quả là cao tay tàn độc. Phạm Bĩnh Di là một trung thần, lại là một võ quan cột trụ của triều đình, giết ông ta thì triều đình nguy khốn, thế nước càng loạn lạc. Nhưng không sao, đã là trung thần thì đối lập với gian thần như nước với lửa. Ai bắt ông ta không thương lượng, lại ra tay đánh bại Phạm Du, đối lập với phe cánh gian thần của chúng ta. Thôi thì đành tuân theo ý trời vậy. Rồi Minh tự Bằng đem vàng bạc chia cho bọn đồng liêu cùng phe cánh và dặn như thế, như thế…

  Từ miệng các gian thần, triều đình đồn đại không ngớt về tội ác của Phạm Bĩnh Di ở Nghệ An. Khắp kinh thành cũng ầm ĩ tạo nên một dư luận xôn xao rằng quan Thượng phẩm phụng ngự Phạm Du vô tội, bị vu oan, kẻ có tội lớn là Phạm Bĩnh Di. Phạm Bĩnh Di đã đem quân vào Nghệ An giết người cướp của, tàn sát dã man người dân vô tội, thây tắc nghẽn cả sông Lam, máu nhuộm đỏ cả nước. Trong một buổi thiết triều, Lý Cao Tông ngồi trên ngai vàng hỏi:

-Các khanh ai có tấu?

  Minh Tự Bằng bước ra khoanh tay tấu:

-Bẩm hoàng thượng, thần có tấu.

-Ái khanh có tấu gì?

-Dạ, bẩm hoàng thượng, hiện nay kinh thành Thăng Long khắp nơi dân chúng đồn đại xôn xao về sự việc của quan Thượng phẩm Phụng Ngự Phạm Du làm phản ở Nghẹ An là bị oan. Thực tình không phải như vậy, chính Đại tướng Phạm Bĩnh Di vào Nghệ An đã cho quân lính thả sức giết người cướp của, tàn sát dã man người vô tội.

  Lý Cao Tông nói:

-Ta cũng từng nghe thám mã về báo về dư luận của dân kinh thành đồn đại về nổi oan của Phạm Du, về tội ác của Phạm Bĩnh Di. Phạm Bĩnh Di có tiếng là một trung thần trung nghĩa cơ mà?

  Minh Tự Bằng nói:

-Dạ thần  cũng không tin mới cho thám mã vào tận Nghệ An dò xét tình hình. Thám mã về báo đúng sự thật là như vậy. Mong hoàng thượng minh xét.

  Quan Ngự sử đại phu Vũ Cảnh cũng bước ra nói:

-Dạ bẩm hoàng thượng, đó là sự thật 100 phần trăm. Xin hoàng thượng gọi Phạm Bĩnh Di về trị tội, gọi Phạm Du về minh oan.

  Cả triều đình đồng thanh:

-Xin hoàng thượng nghiêm trị Phạm Bĩnh Di, cho gọi Phạm Du về minh oan.

  Lý Cao Tông vốn từ xưa đến nay ham chơi bời, thân thiết với bọn gian thần vì những lời xui nịnh dễ nghe và những trò tiêu khiển thú vị do chúng bày ra, chúng lại hay dâng những của ngon vật lạ, bày những trò chơi cuốn hút. Nhịp thở và lời nói của Lý Cao Tông là nhịp thở đồng điệu với bọn gian thần, do đó những quyết định của Lý Cao Tông không còn sáng suốt. Lý Cao Tông nói;

-Được rồi, truyền chỉ gọi Phạm Bĩnh Di và cả Phạm Du về triều.

-Hoàng thượng anh minh.

-Bãi triều.

Lý Cao Tông sai Trần Hinh đi đón Phạm Du về. Phạm Du quỳ tâu:

-Dạ, thần đã phụ sự ủy thác của hoàng thượng. Mong hoàng thượng trị tội. Nhưng quả thật thần bị người ta vu oan. Mong hoàng thượng thánh minh tra xét.

  Lời nói của Phạm Du dẻo ngọt làm Lý Cao Tông mềm lòng:

-Được rồi, đứng dậy đi, trẫm biết khanh vẫn một lòng trung thành với trẫm, trẫm không trách tội khanh nữa.

-Đa tạ hoàng thượng, thần sẽ một lòng khuyển mã với hoàng thượng.

chkinhthanh1-1650468314.jpg

Kinh thành Thăng Long thời Lý. Nguồn: hoangthanhthanglong.vn

 

  Phạm Bĩnh Di về triều muộn hơn vì đường xa, phe cánh gian thần Phạm Du đều nhất mực đòi Lý Cao Tông trị tội ông. Phạm Bĩnh Di đang ở quân doanh thì sứ giả của Lý Cao Tông đến báo:

-Hoàng thượng có khẩu dụ đòi đại tướng Phạm Bĩnh Di vào triều yết kiến.

-Thần tuân chỉ.

  Quan nội thị nói:

-Hoàng thượng muốn cả công tử Phạm Phụ cùng vào.

  Bộ tướng của Phạm Bĩnh Di là Quách Bốc nói:

-Chỉ một mình chúa công vào là được, sao lại phải cả công tử.

  Quan nội thị đáp:

-Ta chỉ biết truyền khẩu dụ của hoàng thượng, còn không biết lý do. Tướng quân định kháng chỉ chăng?

  Khi hai cha con Phạm Bĩnh Di sắp đi thì con ngựa lồng lên, ngọn cờ “Soái” bị cơn giông thổi mạnh rơi xuống đất. Quách Bốc nói:

-Ngựa của chúa công lồng lên, cờ soái rơi xuống đất, đó là báo trước điều chẳng lành, chúa công không nên đi.

  Phạm Bĩnh Di nói:

-Thân là bề tôi, vua triệu không vào là kháng chỉ, là phản nghịch. Ta đi, tướng quân ở nhà chuẩn bị có gì thì ứng cứu.

  Hai cha con Phạm Bĩnh Di vào đến điện Càn Nguyên, chưa kịp quỳ xuống hành lễ thì Lý Cao Tông đã thét:

-Võ sĩ đâu, bắt tên phản nghịch tống giam chờ xét xử.

 Bọn võ sĩ lao ra bắt Phạm Bĩnh Di và Phạm Phụ lôi đi. Phạm Bĩnh Di kêu:

-Thần bị vu oan, mong hoàng thượng minh xét.

  Lý Cao Tông nói:

-Đem giam hai cha con kẻ phản đồ vào Thủy Viên, xét tội sau.

  Sau khi hai cha con Phạm Bĩnh Di đi rồi, Quách Bốc ngồi uống trà với tướng Đinh Khả và Hà Quang nhưng rất lo lắng. Chợt có thám mã về báo:

-Nguy rồi, bẩm tướng quân, hai cha con chúa công đã bị Lý Cao Tông nghe lời bọn gian thần Phạm Du bắt giam vào ngục Thủy Viên rồi.

  Quách Bốc nói:

-Chúa công là một trung thần hết lòng vì dân vì nước, vả lại chúa công đối với chúng ta và quân sĩ thật tốt, ta phải khởi binh đi cứu chúa công thôi.

  Đinh Khả đáp:

-Xin tuân lệnh tướng quân.

  Quách Bốc cùng Hà Quang và Đinh Khả cưỡi ngựa đi đầu dẫn hai vạn quân tiến vào Hoàng thành, phá cửa Đại Thanh kéo vào Đại nội. Tại đây quân ngự lâm bắt đầu xung đột đánh nhau với quân Quách Bốc. Tiếng reo hò chém giết kinh thiên động địa vang khắp kinh thành. Quân Quách bốc phá được cửa Đại Thanh tràn vào nội điện. Lý Cao Tông vội ra lệnh:

-Không để quân Quách Bốc giải thoát Phạm Bĩnh Di và Phạm Phụ, giải hai cha con chúng về điện Kim Tinh, nhanh lên.

-Dạ, tuân lệnh hoàng thượng.

  Trong khi lính đang giải Phạm Bĩnh Di và còn là Phạm Phụ chạy đến điện Kim Tinh thì gặp Phạm Du và em là Phạm Kinh. Phạm Du thét:

-Ngươi là kẻ thù không đội trời chung với ta, ngươi phải chết.

  Rồi Phạm Du và Phạm Kinh giật gươm của lính. Phạm Du nói với Phạm Kinh;

-Đâm chết con nó đi, nhanh.

  Phạm Du và Phạm Kinh gạt lính ra lao vào đâm vào ngực Phạm Bĩnh Di và Phạm Phụ, máu phun đỏ đất. Hai cha con Phạm Bĩnh Di gục xuống chết. Vừa khi đó Lý Cao Tông chạy đến kêu lên:

-Sao khanh lại giết ông ta? Quách Bốc đến lấy gì mà thương lượng?

  Phạm Du điềm nhiên đáp:

-Không cần thương lượng, hoàng thượng chạy theo thần nhanh lên.

  Phạm Du, Phạm Kinh, Lý Cao Tông cùng vài tên ngự lâm chạy ra cửa Bắc, phi ngựa qua cầu phao sông Hồng chạy một mạch lên miền Quy Hóa (Yên Bái, Phú Thọ), nương nhờ hào trưởng thiểu số Hà Cao.

  Trong sự hỗn loạn của Tử cấm thành, máu đổ, quân reo, lửa chạy người chết, quân sĩ hai bên vẫn giao chiến, Tô Trung Từ, tả thị lang bộ binh đem vài trăm kỵ binh chạy đến cung Ngự Thiện của Hoàng thái tử Lý Huệ Sảm. Cung này đang bị tướng của Quách Bốc là Đinh Khả tấn công. Hoàng Thái tử cùng An Toàn hoàng hậu (Đàm hoàng hậu), hai công chúa, em của thái tử đang vô cùng nguy ngập hoảng loạn. Hoàng hậu và hai công chúa đang kêu khóc. Tô Trung Từ cùng binh lính mở đường máu đưa bốn mẹ con hoàng hậu thoát ra khỏi hoàng thành. Khi đã an toàn, Tô Trung Từ nói với Thái tử Sảm:

-Hoàng hậu, điện hạ và hai công chúa tạm lánh về thái ấp của thần và anh vợ thần ở Hải Ấp, Hưng Hà, Bố Hải Khẩu rồi tính sau.

  Thái tử Sảm nói:

-Xin nghe theo Tô thị lang, về đâu cũng được, miễn là qua cơn nguy biến này.

  Hoàng thái tử, Đàm hoàng hậu lên một con ngựa, hai công chúa lên hai con ngựa của hai người lính, cùng Tô Trung Từ và 200 người lính chạy ra cửa Nam và theo Tô Trung Từ chạy về hướng đông-nam, phi qua cầu Bo, tiến về Hải Ấp vào lúc gần chiều.

  Quách Bốc đến điện Kim Tinh, thấy xác chủ tướng là Phạm Bĩnh Di và con trai là Phạm Phụ nằm chết bên đường, ngực hai người còn bị cắm hai thanh kiếm, máu đã đông đặc ngã màu đen. Quách Bốc, Hà Quang và Đinh Khả quỳ xuống rút kiếm ra, vuốt mắt cho chủ tướng và công tử rồi khóc:

-Cả đời trung thành với nhà Lý, với Lý Anh Tông, Lý Cao Tông, xông pha mũi tên hòn đạn vì dân vì nước, lại bị bọn gian thần và hôn quân vu oan, giết hại thê thảm. Hoàng thiên và trời đất có thấu cho việc này. Hu!hu!hu!!!

  Canh giờ sau Quách Bốc ra lệnh:

-Lính đâu.

-Dạ, tướng quân.

  Đem thi hài chúa công và công tử tắm rửa sạch sẽ, khâm liệm vào áo quan để đưa vào điện Kính Thiên hương khói ba ngày rồi mai táng.

-Xin tuân lệnh tướng quân.

  Đủ ba ngày hương khói, Quách Bốc cho lấy xe ngự chở thi hài Phạm Bĩnh Di và Phạm Phụ đi ra cửa Việt Thành và an táng ở bến Triều Đông. 2 vạn quân của Quách Bốc mặc áo tang và đi đưa. Dọc đường, bách tính kinh thành khi biết Phạm Bĩnh Di và con là Phạm Phụ bị gian thần và Lý Cao Tông vu oan rồi giết chết, bách tính hết thảy đều thương tiếc mà rơi nước mắt.

  Quách Bốc làm chủ kinh thành liền nói với Đinh Khả và Hà Quang:

-Nước một ngày không thể không có vua. Ta phải tìm một con cháu nhà Lý đưa lên ngôi, thay cho tên hôn quân vô đạo Lý Cao Tông.

  Đinh Khả nói:

-Tướng quân nói phải lắm. Lý Cao Tông vô đạo đã bỏ chạy rồi, phải thay người khác. Vả lại ta cũng phải có một hoàng thượng để phò tá và ban mệnh lệnh mà khống chế thiên hạ.

  Quách Bốc gọi:

-Bay đâu.

-Dạ, tướng quân.

-Đi tìm các cung xem còn có ai là hoàng tử nhà Lý hoặc anh em họ hàng với nhà Lý đem về đây. Nhớ là không được giết họ, rõ chưa?

-Dạ, rõ tướng quân.

  Trưa hôm sau, Quách Bốc đang ngồi uống rượu với Đinh Khả, Hà Quang và các tướng thì lính dẫn về một thiếu niên khoảng 10 tuổi. Quách Bốc hỏi người lính:

-Là ai vậy?

  Người lính thưa:

-Dạ, bẩm tướng quân, đây là hoàng tử, con thứ của Lý Cao Tông.

-Sao ngươi biết là hoàng tử?

-Dạ, ngọc bội hoàng tử đeo bên ngực nhìn thì biết.

  Quách Bốc giỡ áo thiếu niên lôi ra miếng ngọc bội màu xanh, ngọc bội ghi: Tước vị hoàng tử, con thứ của Lý Cao Tông, tên là Lý Thẩm.

  Quách Bốc cả mừng:

-Bay đâu.

-Dạ.

-Lấy ghế cho hoàng thượng ngồi.

-Dạ.

  Thiếu niên nói:

-Ta không phải hoàng thượng, phụ hoàng của ta mới là hoàng thượng, đã bị các ông đánh chạy đi đâu rồi?

  Quách Bốc nói:

-Vì phụ hoàng của ngài nghe theo bọn gian thần, giết hại trung thần và bỏ chạy theo bọn gian thần, người phải ngồi lên ngai vàng để yên lòng bá tính, để thiên hạ yên bình không đại loạn nữa. Ngài không vì thiên hạ, không vì bách tính của Đại Việt sao? Ngày mai chọn giờ tốt ngài sẽ đăng quang.

  Hoàng tử im lặng.

  Thế là Lý Thẩm, con thứ của Lý Cao Tông được Quách Bốc đưa lên ngôi hoàng đế. Đó là cuối năm 1209.

III.

  Quá trưa sang chiều, Hoàng Thái tử Lý Hạo Sảm cùng mẹ là Đàm hoàng hậu và hai em gái được Thị lang bộ binh Tô Trung Từ giải thoát khỏi vòng vây của Đinh Khả, chạy về đến điền trang thái ấp của Trần Lý, hào trưởng Hải Ấp, anh rể của Tô Trung Từ.

  Trần Lý là con trai của Trần Tự Hấp, cháu nội của Trần Tự Kinh, xuất thân làm nghề đánh cá. Ban đầu gia đình Trần Tự Hấp định cư ở Tức Mặc[1], đến đời Trần Tự Kinh thì chuyển về định cư ở Hải Ấp, phủ Long Hưng. Trần Tự Kinh chuyển sang nghề nông và ngày càng giàu có, đến đời Trần Lý thì trở thành một hào trưởng có thế lực. Thái ấp của Trần Tự Kinh gần với trang ấp của quan đại thần nhà Lý Tô Hiến Thành, hai nhà biết nhau, vì vậy Tô Hiến Thành gả trưởng nữ là Tô Lan Phương, chị của Tô Trung Từ cho Trần Lý, con trai của Trần Tự Kinh. Từ đó dòng họ Trần Lý càng có thế lực và tiếng tăm.

 Vào một buổi sáng tháng tư năm 1209, đã hết xuân sang hè, ánh mặt trời rực rỡ tỏa ánh nắng sáng loáng xuống vùng Hải Ấp. Ánh nắng rải xuống những làng quê uốn lượn quanh co màu xanh cây lá. Cây lá phủ lên những mái nhà lợp rạ dầy hàng gang tay của hàng nghìn nông dân nghèo vùng Bố Hải Khẩu. Ánh nắng rải xuống những cánh đồng lúa vụ chiêm đang thì con gái xanh mơn mởn mênh mông. Ánh nắng soi xuống khu nhà sang trọng lợp ngói tường gạch, cột lim láng bóng của hào trưởng Trần Lý. Những cái sân trước nhà lát gạch. Quanh sân và quanh nhà cây cối bao quanh. Kế liền sân là những chiếc ao trong veo lộ ra những đàn cá tung tăng bơi lội đớp mồi tạo nên những đợt sóng trên mặt ao lung linh.

 

  Trong khu đại sảnh của nhà Trần Lý tấp nập lạ thường. Hôm nay nhà hào trưởng Trần Lý mở tiệc chiêu đãi khách quý từ Thăng Long về, đó là đón Đàm Hoàng hậu, thái tử Lý Hạo Sảm và hai công chúa của nhà Lý. Trong gian nhà ngói rộng ba gian, sát tường gian giữa đặt bàn thờ gia tiên. Bàn thờ sơn son thếp vàng, Phía trong bàn cao hơn và thấp dần ra ngoài. Trên các bàn thờ đặt nhiều bài vị, bát hương lớn bằng sứ vẽ rồng phượng màu xanh, từng bát đã đầy hương đang tỏa khói nghi ngút. Những lư hương bằng đồng đặt cạnh xếp đầy hương chưa đốt. Hàng cột gỗ lim to nâu bóng đứng hai bên của bàn thờ ngoài cùng treo hai câu đối sơn đen, chữ Hán màu vàng bóng. Trên cao treo hoành phi màu đỏ chữ vàng óng ánh. trên bàn thờ phía ngoài đã đặt ba mâm cỗ có ba thủ lợn lớn đã luộc chín, còn có vàng hương, trầu cau và những bình rượu thơm đã được mở nắp.

  Ngoài gian giữa và gian hai bên là những bộ tràng kỷ, giữa những bộ ghế tràng kỷ là những chiếc bàn. Bàn ghế là bằng gỗ lim gụ, màu nâu bóng, có khắc hoa văn và nạm khảm trai bóng loáng. Trên những bộ bàn ghế bày la liệt những ấm trà và chén. Các bàn trong nhà đã ngồi đầy khách  khứa và gia chủ. Ngoài sân, gia nhân và đầy tớ đi lại bê cỗ và rượu, nước. Ngồi ở gian bàn ghế giữa nhà, quay ra sân là Đàm hoàng hậu, hoàng thái tử Sảm, hai công chúa. Kế tiếp đó là hai bàn gồm những người quan trọng trong gia đình Trần Lý. Hai bên là những khách khứa, chủ yêu là các bô lão trong gia tộc họ Trần Tự. Sau một lượt trà, Tô Trung Từ ngồi gần với thái tử Sảm đứng lên và nói:

-Bẩm An Toàn hoàng hậu, bẩm thái tử, hôm nay gia đình nhà anh rể thần là Trần Lý tổ chức bữa rượu nhạt nghênh đón hoàng hậu, thái tử và hai công chúa xa giá về Hải Ấp, cũng là để hoàng hậu, thái tử và hai công chúa làm quen với gia đình Trần Lý. Xin giới thiệu với gia đình ta, đây là đương kim An Toàn hoàng hậu còn gọi là Đàm hoàng hậu.

  Tô Trung Từ dứt lời, tất cả đều đứng dậy chắp tay cúi đầu:

-Hoàng hậu thiên tuế, thiên thiên tuế.

  Tô Trung Từ nói tiếp:

-Còn đây là hoàng Thái tử Lý Hạo Sảm và hai công chúa, em của thái tử.

  Tất cả lại chắp tay và nói:

-Hoàng thái tử thiên thiên tuế, công chúa thiên thiên tuế.

  Thái tử Sảm đứng dậy và nói:

-Kính mời tất cả bình thân.

-Đa tạ hoàng hậu, đa tạ thái tử, đa tạ công chúa.

  Khi mọi người đã an tọa, Tô Trung Từ nói tiếp:

-Bẩm hoàng hậu, bẩm hoàng thái tử, bẩm nhị vị công chúa, thần xin giới thiệu những người trong gia tộc họ Trần: Đây là Trần Lý, hào trưởng đất Hải Ấp, anh rể của thần.

  Một ông già khoảng 50 tuổi, khỏe mạnh, quắc thước ngồi đối diện với Tô Trung Từ đứng dậy:

-Dạ bẩm hoàng hậu, bẩm hoàng thái tử, bẩm nhị vị công chúa.

  Tô Trung Từ nói tiếp:

-Còn đây là phu nhân của ngài Trần Lý, Tô Lan Phương, chị gái của thần.

  Người đàn bà ngồi cạnh Trần Lý, khoảng gần 50 tuổi nhưng vẫn xinh đẹp đứng dậy:

-Dân nữ kính chào hoàng hậu, thái tử và nhị vị công chúa.

Tô Trung Từ nói tiếp:

-Còn đây là các con của ngài Trần Lý và Tô phu nhân: Trần Thừa, trưởng nam, nhị lang Trần Tự Khánh, tiểu thư Trần Thị Dung, còn gọi là Trần Nhị Nương, em của Trần Tự Khánh, còn đây tiểu thư Trần Tam Nương, em của Trần Thị Dung.

  Cả bốn người đứng dậy chắp tay cúi đầu hành lễ:

-Kính chào hoàng hậu, hoàng thái tử và nhị vị công chúa ạ.

  Trần Thừa và Trần Tự Khánh có vóc dáng cao lớn, khỏe mạnh, oai phong lẫm liệt, dáng dấp võ tướng. Còn Trần Thị Dung quả là tuyệt sắc giai nhân, chim sa cá lặn, dung nhan cực kỳ kiều diễm, mái tóc dầy đen óng ả ôm lấy khuôn mặt trái xoan, da trắng như trứng gà bóc, mắt lúng liếng như sao sa, đôi môi đỏ tươi như bông hoa hé nở. Chiếc áo tứ thân màu lụa nâu ôm lấy tấm thân tròn lẳn, nở nang, thắt dáy lưng ong của nàng càng tăng thêm vẻ đẹp diệu kỳ. Hoàng thái tử nhìn nàng bỗng nhiên thấy choáng váng.

  Tô Trung Từ trỏ tay vào người thanh niên ngồi ngoài cùng bên cạnh Trần Thị Dung, có dáng người khỏe mạnh, khuôn mặt thâm trầm, thông minh, đôi mắt sáng như đang suy nghĩ những vấn đề gì đó xa xăm nhưng hiện thực:

-Còn đây là công tử Trần Thủ Độ, cháu gọi ngài Trần Lý bằng bác.

  Trần thủ Độ vội đứng dậy chắp tay hành lễ:

-Kính chào hoàng hậu, hoàng thái tử và nhị vị công chúa.

  Tô Trung Từ nói tiếp:

-Còn thần là Tô Trung Từ, em của phu nhân Tô Lan Phương. Còn đây là các em của thần: Tô Tường Văn, Tô Khang Sơn, Tô Danh Hiển và Tô Thị Kim Liên. Thân phụ của thần là Tô Hiến Thành, đại thần triều Lý Anh Tông, là vì thái ấp của nhà thần cũng ở gần Hải Ấp nên mới được vinh dự là thông gia với nhà ngài Trần Lý.

  Cả bốn người vội đứng dậy khoanh tay hành lễ:

-Kính chào hoàng hậu, chào Thái tử và nhị vị công chúa.

  Tô Trung Từ chỉ vào một người khoảng 50 tuổi nói tiếp:
-Còn đây là ngài Phạm Ngu, bạn của ngài Trần Lý và gia tộc họ Trần.

  Phạm Ngu vội đứng dậy vái chào:

-Kính chào hoàng hậu, kính chào thái tử và nhị vị công chúa.

-Còn đây là Lưu Thiện, tướng bảo vệ của hoàng thái tử.

  Lưu Thiện vội đứng dậy vái chào tất cả. Khi Lưu Thiện ngồi xuống, Trần Lý đứng dậy chắp tay nói:

-Kính bẩm hoàng hậu, bẩm hoàng thái tử, nhị vị công chúa, hôm nay vùng Hải Ấp xa kinh thành và gia đình hạ thần được vinh hạnh đón tiếp hoàng hậu, hoàng Thái tử và nhị vị công chúa. Kính mời hoàng hậu, hoàng thái tử, nhị vị công chúa, tướng Lưu Thiện vui với gia đình, gia tộc chúng tôi chén rượu nhạt, tỏ niềm vui buổi gặp gỡ.

  Rồi Trần Lý gọi:

-Người đâu

-Dạ.

-Bày tiệc rượu ra.

-Dạ, chủ nhân.

 Tiếp theo đó gia nhân, đầy tớ tấp nập bê mâm bát, cốc chén thịt rượu lên các bàn. Con cái Trần Lý và những người trẻ tuổi lui xuống ngồi mâm dưới. Mâm giữa nhà chỉ còn hoàng hậu, thái tử Sảm, Tô Trung Từ, Trần Lý, Tô Lan Phương, Lưu Thiện, Phạm Ngu và nhị vị công chúa. Mọi người ăn uống chuyện trò vui vẻ. Quá trưa sang chiều tiệc mới tan.

  Không lâu sau ngày gặp nhau ở nhà Trần Lý, một hôm Tô Trung Từ gặp hoàng thái tử Sảm, thấy sắc mặt thái tử u buồn, người có vẻ như hao gầy. Tô Trung Từ hỏi:

-Sao thần sắc điện hạ u buồn, có vẻ như  không được khỏe mạnh?

  Thái tử Sảm thở dài và nói:

-Tô Thị Lang đã hỏi thì ta cũng phải nói thực và nhờ ái khanh giúp đỡ.

-Điện hạ cứ nói, nếu giúp được thì thần sẽ giúp.

-Ta muốn kết nghĩa phu thê với tiểu thư Trần Thị Dung, cháu của ái khanh, con gái ngài Trần Lý.

-Việc này chắc không khó, để thần trao đổi với ngài Trần Lý.

  Một buổi chiều Tô Trung Từ đến nhà Trần Lý, sau khi cạn một lượt trà, Tô Trung Từ nói:

-Ta có việc này, huynh nên suy xét mà quyết định.

-Việc gì đệ cứ nói.

-Thái tử Sảm muốn kết nghĩa phu thê cùng cháu Trần Thị Dung.

  Trần Lý đáp:

-Con gái lớn thì phải lấy chồng, cháu Dung cũng đã đến tuổi rồi, được thái tử để ý đến thì còn gì bằng, tốt quá rồi. Bay đâu.

-Dạ.

-Cho gọi Tô phu nhân và tiểu thư Trần Thị Dung đến đây.

-Dạ.

  Phu nhân Tô Lan Phương và Trần Thị Dung đến. Trần thị Dung chắp tay cúi đầu:

-Con chào phụ thân, chào mẫu thân, cháu chào cậu.

  Trần Lý nói:

-Phu nhân và con ngồi đi.

-Phu nhân và con này, thái tử Lý Hạo Sảm muốn kết nghĩa phu thê với  con. Phu nhân và con thấy thế nào?

  Phu nhân Tô Lan Phương nói:

-Con cũng đã đến tuổi cập kê rồi, thái tử ngỏ lời thì tốt quá rồi.

  Trần Thị Dung đỏ mặt ngập ngừng đáp:

-Dạ, nhưng mà còn đệ Trần Thủ Độ. Đệ ấy…

  Trần Lý ngắt lời:

-Trần Thủ Độ thì thiếu gì con gái trong thiên hạ mà phải lấy chị con ông bác. Ta đã quyết rồi. Con không muốn làm thái tử phi và sau này thái tử kế vị, con là hoàng hậu sao? Con không muốn giúp cha và giúp họ Trần sao? Ý cha đã quyết, không thể nào khác được.

  Trần Thị Dung hơi buồn nhưng một lát sau thì đáp:

-Con xin vâng lời cha, mẹ và cậu.

-Con ngoan lắm, ba ngày nữa sẽ tổ chức đám cưới cho con và hoàng thái tử.

-Dạ, con cảm ơn cha mẹ và cậu.

  Trần Thị Dung quay về phòng buồn vui lẫn lộn nhưng buồn thì nhiều hơn. Nàng tiếc cho mối tình nơi thôn dã với người em con ông chú Trần Thủ Độ đầy thơ mộng vừa chớm nở nay đành đứt gánh giữa đường.Vài giọt lệ trào ra từ đôi mắt đẹp của nàng cũng là để khép lại mối tình thôn quê vào quá khứ.

  Thế rồi trong ba ngày đám cưới của Trần Thị Dung và hoàng tử Lý Hạo Sảm diễn ra đông vui tấp nập chưa từng có. Rượu như nước, xôi thịt bánh trái như núi. Gia tộc họ Trần, họ Tô, quan viên Hải Ấp, gia nhân, đầy tớ, binh lính của Tô Trung Từ ăn uống ba ngày mới dứt. Từ trước đến nay chưa từng có đám cưới nào ở Hải Ấp mà linh đình như vậy. Trần Thị Dung một bước trở thành thái tử phi và trong tương lai sẽ là hoàng hậu. Trần Lý, một hào trưởng nơi thôn dã bỗng chốc thành nhạc phụ của thái tử và trong tương lai là nhạc phụ của hoàng đế Đại Việt. Họ Trần và họ Tô, dân làng ở Hải Ấp hết thảy đều vui mừng cho dịp may hiếm có.

Sau lễ cưới, Trần Lý ra lệnh cho thợ sơn vàng bốn ngôi nhà ngói liền kề nhau, còn sai thợ khắc bốn tấm biển nền đỏ chữ vàng. Tấm thứ nhất đề chữ “Cung thái tử”, dưới thêm chữ nhỏ “Minh Chủ”, hàm ý thái tử Sảm đã thành lập một triều đình mới ở Hải Ấp, tấm biển thứ hai đề “Cung An Toàn Thái hậu” ở bên phải cung thái tử, ngôi nhà bên trái cung thái tử ghi “Cung thái tử phi”, ngôi nhà cạnh cung thái hậu ghi là  “Cung công chúa". Trần Lý còn cho thợ làm một cái ghế rộng sơn vàng có hình hai con rồng đỏ lớn uốn quanh, hai tay ngai cũng có hai đầu rồng nhô ra, mỗi khi bàn công việc thái tử Sảm ngồi vào đó coi như thiết triều. Còn chọn mỗi cung có 10 thị nữ hầu hạ và phục dịch. Trước mỗi cung có hai người lính mặc quân phục, cầm vũ khí đứng canh, hết canh giờ thì thay đổi cho nhau. Những cuộc họp mà do thái tử Sảm chủ trì thì coi như thiết triều, mệnh lênh ban ra được coi là mệnh lệnh của hoàng đế, thay mặt cho Lý Cao Tông.

chutttu-1650642190.png
Tướng Tô Trung Từ. Nguồn: Internet

 

  Trong một buổi thiết triều, thái tử Sảm ngồi trên ngai vàng, hai bên có hai quan nội thị đứng hầu. Thái tử Sảm nói:

-Các ái khanh có gì bẩm tấu:

  Tô Trung Từ nói:

-Thần có tấu.

-Ái khanh có gì tâu?

  Bẩm thái tử, sau loạn Quách Bốc, đất nước càng thêm hỗn loạn. Hoàng thượng Lý Cao Tông xiêu dạt lên miền núi, công việc đất nước không ai chủ trì, quyết định, các sứ quân nổi dậy tranh hùng, chia cắt đất nước. Nay để danh chính ngôn thuận, dẹp tan giặc giã, hiệu lệnh thiên hạ, thu giang sơn về một mối, điện hạ hãy lên ngôi hoàng đế mới hoàn thành được nghiệp lớn, thỏa lòng mong đợi của thiên hạ.

  Thái tử Sảm nói:

-Đa tạ Thị lang đã lo cho triều đình, lo cho thiên hạ và bách tính, nhưng hoàng thượng còn đó, ta chưa thể ngồi vào ngai vàng và xưng đế hiệu. Nay ta lấy danh là Minh Chủ, có ta như có hoàng thượng, chỉ dụ của ta là chỉ dụ của hoàng thượng, mệnh lệnh của ta là của hoàng thượng, như vậy thiên hạ vẫn có chủ và nhà Lý vẫn tồn tại.

  Mọi người đều nói:

-Minh chủ anh minh.

-Tô Trung Từ nghe chỉ:

-Có thần.

-Nay ta phong Tô Trung Từ làm Điện tiền chỉ huy sứ nắm giữ cánh quân của triều đình và quân bản bộ của ngài tiến ra Thăng Long dẹp loạn Quách Bốc.

-Thần tuân chỉ.

-Trần Lý nghe chỉ:

-Có thần.

-Nay phong ngài làm Minh Tự, chỉ huy toàn bộ dân binh và các tướng lĩnh họ Trần ở Hải Âp tiến ra Thăng Long cùng Tô Trung Từ dẹp loạn Quách Bốc.

-Thần tuân chỉ.

-Ngài Phạm Ngu nghe chỉ.

-Nay phong ngài làm Thượng phẩm phụng ngự, là phó tướng giúp cho ngài Trần Lý thống lĩnh các tướng lĩnh và thân binh họ Trần, cùng với ngài Tô Trung Từ tiến ra Thăng Long dẹp loạn Quách Bốc chấn hưng nhà Lý, đem lại thái bình cho thiên hạ.

-Thần tuân chỉ.

  Rồi tất cả đồng thanh đáp:

-Chúng thần tuân chỉ, điện hạ thiên thiên tuế.

  Trong khi quân của Tô Trung Từ và thân binh Trần Lý đang chuẩn bị xuất phát đánh Thăng Long thì thám tử về báo cho thái tử Sảm:

-Dạ, bẩm điện hạ, hào trưởng Bắc Giang là Nguyễn Nậu và Nguyễn Nải bắt được Phạm Du, sai lính đem về đây cho thái tử định đoạt.

  Thái tử Sảm ra lệnh:

-Bảo họ đem Phạm Du vào đây.

-Dạ.

  Năm người lính của hào trưởng Nguyễn Nải, Nguyễn Nậu tay cầm gươm giải gian thần Phạm Du vào. Hai tay Phạm Du bị trói quặt ra sau lưng, quần áo rách rưới, mặt mày hốc hác do đói khát. 5 người lính trông thấy thái tử Sảm vội quỳ hành lễ:

-Thái tử thiên tuế, thiên thiên tuế.

-Miễn lễ, đứng dậy đi.

-Đa tạ thái tử.

  Phạm Du không quỳ. Một người lính lấy chân đạp chân sau khiến Phạm Du khịu xuống trong tư thế quỳ. Thái tử hỏi:

-Sao các hảo hán lại bắt được Phạm Du vậy?

  Một người lính có vẻ là chỉ huy tốp lính nói:

-Bẩm thái tử, hoàng thượng Lý Cao Tông cùng Phạm Du chạy lên Quy Hóa, ở nhà hào trưởng Hà Cao. Hoàng thượng nghe tin thái tử lập triều đình riêng ở Hải Ấp, tự ý phong chức tước, tưởng thái tử làm phản nên sai Phạm Du về Hồng Châu nhờ thế lực họ Đoàn đem quân về Hải Ấp đánh ngài. Thuyền của Đoàn Thượng đón Phạm Du ở Lục Đầu Giang chờ suốt đêm mà không thấy đành phải quay về. Hóa ra đêm đó Phạm Du rẽ vào Thăng Long nên nhỡ hẹn. Khi Phạm Du đến nơi không có thuyền, đi lang thang lên mạn Bắc Giang tìm thuyền nên bị chúa công chúng tôi bắt được, nay đem cho thái tử tùy ý xử lý.

  Thái tử nói:

-Ta thay mặt hoàng thượng phong một vài tước hiệu chỉ huy ở đây để tiến về Thăng Long đánh giặc Quách Bốc chứ đâu có làm phản. Lại cái lưỡi gian thần của nhà ngươi xui giục hoàng thượng phải không?

  Phạm Du cúi đầu lạy như tế sao:

-Dạ bẩm thái tử, thần không xui giục hoàng thượng, thần không nói gì cả.

-Ta còn lạ gì cái lưỡi của nhà ngươi. Phạm Bĩnh Di là một trung thần bị nhà ngươi vu cáo đến mức hoàng thượng lệnh bắt giam Phạm Bĩnh Di. Sau khi Quách Bốc khởi binh để cứu chủ tướng, đáng lý phải để Phạm Bĩnh Di và Phạm Phụ để thương lượng dẹp loạn thì nhà người đã vội giết hai cha con họ để bị đầu mối làm phản ở Nghệ An của ngươi khiến cho triều đình tan nát như ngày nay, ngươi còn chối tội được ư?

  Tô Trung Từ nói:

-Cùng là đại thần của triều đình nhưng tên này toàn xui vua giết hại trung thần gây oan khuất cho người vô tội, gây loạn lạc cho xã tắc. Tội của Phạm Du không thể tha thứ được.

  Thái tử sảm gọi:

-Bay đâu.

-Dạ.

-Đem tên gian thần này ra ngoài chờ, đúng giờ ngọ hành quyết, trả thù cho hai cha con trung thần Phạm Bĩnh Di.

-Tuân lệnh.

  Bốn người lính của Tô Trung Từ xốc Phạm Du đứng dậy lôi ra ngoài. Phạm Du kêu đến khản cả cổ:

-Xin thái tử tha mạng, thần vô tội, xin tha mạng.

  Thái tử lại gọi:

-Bay đâu.

-Dạ.

-Đem năm người lính xuống nhà khách cho ăn uống no say, cho cả  ngựa ăn để chiều các hảo hán còn về Bắc Giang. Cho ta gửi lời cảm tạ các hào trưởng Nguyễn Nậu và Nguyễn Nải.

-Đa tạ thái tử, thảo dân sẽ chuyển lời, xin cáo biệt.

  Trong khi chờ trên bãi cát đúng ngọ để hành hình, Phạm Du mới ăn năn về sai lầm của mình để đến nỗi sa cơ bị bắt. Vâng lệnh Lý Cao Tông về Hồng Châu, từ Quy Hóa Phạm Du đi thuyền theo sông Hồng và cứ thế có thể đi lên Lục Đầu Giang đúng hẹn gặp thuyền của Đoàn Thượng đón thì bây giờ đang oai phong là chú soái của một cánh quân Hồng Châu tiến đánh thái tử ở Hải Ấp. Nhưng đến Thăng Long, Phạm Du đã lên hoàng thành tư thông với một quận chúa góa chồng, rất kiều diễm mà Phạm Du đã gian díu từ lâu. Mãi say cuộc ân ái thành ra lỡ hẹn đón của quân Hồng Châu nên Phạm Du đã sa bẫy và chết vì sắc. Bí mật này không ai biết được và hắn cứ thế ôm xuống âm ty cái bí mật sung sướng nhưng khủng khiếp này.

  Giết xong gian thần Phạm Du, thái tử Sảm họp với Tô Trung Từ, Trần Lý và Phạm Ngu bàn cách đánh Quách Bốc ở Thăng Long. Tô Trung Từ nói:

-Trong thành còn rất nhiều tướng sĩ thân cận của ta và của hoàng thái tử. Ta phải cho người vào thành bí mật liên hệ, khi ta dụ quân Quách Bốc ra ngoài thành giao chiến thì ở trong mở cổng thành để quân ta tiến vào. Ta đã liên hệ từ trước rồi. Khi nhìn thấy bên trong bắn tên lửa lên trời thì cổng thành sẽ mở, ta sẽ xông vào hoàng thành, còn quân của ngài Trần Lý ở ngoài đánh ép vào, Quách Bốc phải thua.

  Trần Lý nói:

-Kế của quan Điện tiền chủ huy sứ hay lắm.

  Phạm Ngu nói:

-Thần cho rằng khi hành quân về Thăng Long, quân ta phải cải trang là lái buôn và hết sức bí mật tiếp cận Thăng Long.

  Thái tử Sảm nói:

-Lời quan Thượng phẩm phụng ngự chí phải.

Ngay hôm đó, Tô Trung Từ cho tổ chức thành hai cánh quân, một cánh là quân ngự lâm và quân bản bộ của Tô Trung Từ, một cánh là thân binh của gia tộc họ Trần do Trần Lý chỉ huy, Phạm Ngu làm phó, tham gia gồm các tướng Trần Thừa, Trần Tự Khánh, Trần Thủ Độ, Lưu Thiện, Tô Tường Văn, Tô Khang Sơn, Tô Danh Hiển. Hai cánh quân cải trang bí mật tiến về Thăng Long.

  Tại Thăng Long, trong cung Càn Nguyên, Quách Bốc đang bàn công việc với Đinh Khả, Hà Quang, Lý Thẩm thì thám mã về báo:

-Báo, dạ bẩm hoàng thượng, bẩm đại tướng quân, theo tin thám mã, Trần Lý và Tô Trung Từ đang đem quân từ Hải Ấp tiến về Thăng Long.

  Quách Bốc hỏi:

-Chúng tiến đến đâu rồi?

-Dạ, chỉ còn cách kinh thành chừng nửa dặm.

  Quách Bốc ra lệnh:

-Tướng Đinh Khả nghe lệnh.

-Có mạt tướng.

-Tướng quân đem 5000 quân ra giữ thành.

-Mạt tướng tuân lệnh.

-Tướng Hà Quang và ta đem 2 vạn quân ra ngoài thành phá giặc.

-Mạt tướng tuân lệnh.

Quách Bốc cùng Hà Quang điểm 2 vạn quân ra cửa Đông-Nam dàn trận. Canh giờ sau thấy bụi cuốn mù mịt, cờ vàng bay phấp phới. Một lát sau khoảng 2 vạn quân Hải Ấp mặc sắc phục dân binh màu nâu, gươm giáo cung tên đầy mình kéo tới. Đây là cánh quân do Trần Lý và Phạm Ngu chỉ huy. Thấy quân Quách Bốc, Trần Lý dàn quân hình cánh cung ở thế sẵn sàng bao vây đối phương. Chiêng trống vang trời. Bên hàng trận quân Quách Bốc, tướng Hà Quang cưỡi ngựa nâu, múa giáo xông ra, bên quân Hải Ấp, Trần Tự Khánh vung kiếm cưỡi ngựa đen chạy ra chặn đánh, hai ngựa xáp nhau, gươm chạm tóe lửa. Hai tướng giao đấu khoảng 30 hiệp. Thốt nhiên hàng ngũ quân Quách Bốc rối loạn, thì ra phía sau bị một vạn quân của Tô Trung Từ tấn  công tập hậu bất ngờ. Trong tình hình đó tướng Hà Quang đường giáo rối loạn bị Trần Tự Khánh đâm một giáo thủng ngực ngã nhào xuống ngựa. Trần Lý hô to:

-Xông lên giết.

chlyhuetong-1650723253.jpg
Vua Lý Huệ Tông (1194-1226) là vị hoàng đế thứ tám của nhà Lý, cai trị từ năm 1210 đến năm 1224.

 

  Lão tướng dứt lời thì thúc ngựa cùng toàn quân xông lên. Quân Quách Bốc tan vỡ tháo chạy về hoàng thành nhưng thành đã bị quân nội ứng của Tô Trung Từ lấy mất. Quân Hải Ấp thừa thế truy sát và giết. Trần Thừa đuổi rất gấp Quách Bốc, khi gần tới nơi phóng một mũi lao từ phía sau lưng, Quách Bốc ngã nhào xuống đất mà chết. Trong khi mãi truy sát địch, Trần Tự Khánh luôn bên Trần Lý nhưng trong lúc hỗn loạn, một mũi tên vu vơ của quân Quách Bốc trúng vào ngực Trần Lý. Trần Lý sắp ngã xuống đất thì Trần Tự Khánh lại đỡ nhưng mũi tên quá sâu, Trần Lý chỉ kịp nói với Trần Tự Khánh trong hơi thở gấp:

-Con hãy thay cha chỉ huy quân Hải Ấp và gây dựng nghiệp lớn.

  Trần Tự Khánh kêu lên:

-Cha, cha đừng chết!!!

  Nhưng Trần Lý đã tắt thở. Đó là đầu năm 1210, năm thứ 5 niên hiệu Trị Bình Long đời Lý Cao Tông, Trần Lý thọ 59 tuổi. Năm 1225 cháu nội Trần Lý lên ngôi là Trần Thái Tông truy tôn miếu hiệu là Nguyên Tổ, thụy hiệu Chiêu Vương. Đời Trần Anh Tông truy tôn thụy hiệu là Chiêu Hoàng Đế. Trần Thái Tông cũng truy phong bà nội Tô Lan Phương là Thánh Từ Hoàng hậu.

  Trần Lý mất, lực lường họ Trần Hải Ấp do con thứ là Trần Tự Khánh nắm giữ. Còn Tô Trung Từ nắm giữ quân của triều đình được tập hợp lại. Việc Tô Trung Từ dẹp được loạn Quách Bốc chứng tỏ hai thế lực quân sự này rất lớn đang nổi lên trong cuộc tranh giành thiên hạ, vì Quách Bốc có trong tay lực lượng quân đội mạnh, thiện chiến của võ quan Phạm Bĩnh Di để lại mà lại bị chiến bại chỉ một trận trong một buổi sáng  thì lực lượng của Tô Trung Từ và Trần Tự Khánh không phải bình thường.

  Dẹp xong Quách Bốc, Tô Trung Từ cho đón Lý Cao Tông về kinh thành năm 1210. Ngày 15 tháng 11 năm 1210 Lý Cao Tông băng hà, hưởng thọ 37 tuổi (1173-1210), tại vị 35 năm (1175-1210), an táng tại Thọ Lăng, được truy tôn là Thánh Minh Quang Hiếu Hoàng Đế. Ngay hôm sau, ngày 16 tháng 11 năm 1210, Hoàng Thái tử Lý Hạo Sảm đăng quang, đế hiệu là Lý Huệ Tông, niên hiệu Kiến Gia năm thứ nhất.

IV.

  Trong điện Càn Nguyên, Lý Huệ Tông ngồi trên ngai vàng, đầu đội vương miện, mình mặc áo bào vàng có hai con rồng đỏ uốn quanh, hai đầu vươn về phía trước chạm vào hình tròn tượng trưng cho mặt trời. Các quan ở dưới quỳ lạy hành lễ:

-Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.

  Lý Huệ Tông nói:

-Miễn lễ, các ái khanh bình thân.

-Tạ ơn hoàng thượng.

  Lý Huệ Tông nói:

-Truyền quan nội thị ban chiếu dụ.

  Viên nội quan đứng cạnh mở chiếu ra đọc: “Phụng thiên thừa vận, hoàng đế chiếu viết, nay tôn An Toàn hoàng hậu làm An Toàn hoàng Thái hậu. Tô Trung Từ có công phò tá, có công dẹp loạn Quách Bốc, đem lại bình an cho thiên hạ, nay phong Tô Trung Từ làm Thái úy phụ chính. Nhà họ Trần ở Hải Ấp đã có công giúp trẫm khi xa giá chạy loạn về, lại có công dẹp loạn Quách Bốc, nay phong Trần Thừa, Trần Tự Khánh làm Chương thành hầu, phong Trần Thị Dung làm nguyên phi, lập tức nhanh chóng đón nguyên phi từ Hải Ấp về Thăng Long. Khâm thử”

  Bá quan văn võ lại quỳ hành lễ:

-Chúc mừng hoàng thượng, hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế. Chúc mừng hoàng Thái hậu thiên tuế, thiên tuế.

  Sau khi vua Lý Huệ Tông đăng cơ, cử Trần Thừa và Trần Tự Khánh về trông giữ vùng Hải Ấp và toàn bộ miền Bố Hải Khẩu. Trần Tự Khánh rút quân về. Ở kinh sư, Đàm Dĩ Mông, em Hoàng Thái hậu, dù cộng tác với Quách Bốc nhưng vẫn giữ chức Thái sư, Tuy nhiên Tô Trung Từ nắm toàn bộ quân đội và chi phối nhà vua, chi phối triều đình, trở thành quyền thần hùng mạnh, thế nghiêng cả triều đình, chao đảo cả thiên hạ. Lý Huệ Tông từ việc lớn đến việc nhỏ đều phải hỏi Tô Trung Từ.

  Thăng Long đang chìm dần trong tối, bóng đêm bao phủ cả hoàng thành. Nhưng màn đêm bị xé loang lổ bởi những ngọn đèn vàng khè tỏa ra từ các cung cửa đóng then cài nhưng ánh sáng vẫn lọt qua khung cửa sổ. Trong một căn phòng hẹp ở cung Càn Nguyên, dưới ánh đèn dầu, đại thần Đỗ Kính Tu và năm vị đại thần khác đang chụm đầu bàn bạc. Ngoài Đỗ Kính Tu, còn thấy  một người to đậm, mặt hơi dài, đó là Thái sư Đàm Dĩ Mông, em của Đàm Thái hậu, còn gọi là An Toàn hoàng Thái hậu. Đỗ Kính Tu người làng Hậu Ái, tổng Phương Canh, phủ Hoài Đức. Năm 18 tuổi, Đỗ Kính Tu thi kỳ thi võ, năm 33 tuổi đỗ khoa thi tam giáo, được bổ nhiệm làm Thái úy kiêm hiệu Thái bảo thời Lý Thần Tông. Năm 1182 được lĩnh chức Đế sư, thầy dạy học cho vua nhỏ Lý Cao Tông, sau là Quốc sư phụ chính thời Lý Cao Tông. Năm 1210, trước khi mất, Lý Cao Tông cho gọi Đỗ Kính Tu ký thác, phải phò tá Lý Huệ Tông, do đó được ban quốc tính nên gọi là Lý Kính Tu, được gọi là Minh Tự.

  Sau một tuần trà, mấy đại thần ngồi sát gần nhau nghe Đỗ Kính Tu nói rất nhỏ:

-Trước khi tiên đế Lý Cao Tông băng hà có cho ta vào nhận di nguyện và ký thác rằng chúng ta phải phò tá Lý Huệ Tông, trung thành và giữ gìn ngôi báu cho nhà Lý, nhưng trong hoàn cảnh thế nước suy yếu, trong nước nhiều bè phái, triều đình cũng chia năm xẻ bảy. Lại thêm triều đình không nắm được quân đội, quân đội đã nằm hết trong tay quyền thần Tô Trung Từ. Mạng của chúng ta, kể cả mạng của hoàng thượng như cá nằm trên thớt, trong tay Tô Trụng Từ, sống chết lúc nào là do quyền thần định đoạt. Ngai vàng ai dám bảo đảm không sớm thì muộn sẽ chuyền vào tay họ Tô hay họ Trần. Trước tình hình này các đại thần có mưu tính gì không?

  Có tiếng một đại thần nói nhỏ:

-Cứ lập mưu giết Tô Trung Từ đi là xong.

  Đàm Dĩ Mông nói:

-Nhưng giết Tô Trung Từ rồi thì triều đình dựa vào ai, dựa vào lực lượng nào. Các ông không thấy bài học Lý Cao Tông giết chết Phạm Bĩnh Di đã gây ra loạn Quách Bốc, suýt cả tiên đế và các hoàng tử bị đe dọa không, cả ngài vàng và triều đình lung lay không?

-Ta có kế này, giết Tô Trung Từ vẫn phải giết nhưng trước hết phải tạo thời cơ và chờ thời cơ, trước mắt mua chuộc những bộ tướng của Tô Trung Từ để họ mưu phản lại chủ tướng của mình, nội bộ suy yếu thì ta mới có cơ hội giết Thái úy phụ chính, hoặc khi thế của Tô đã suy yếu thì không còn là quyền thần được nữa, khi đó ta giành lại quyền lực cho hoàng thượng.

  Đa số đại thần gật gù:

-Kế hay, diệu kế, thật là diệu kế.

  Đỗ Kính Tu nói như kết luận:

-Cho dù là mưu kế đó hay nhưng vẫn phải sẵn sàng thực hiện cung đoạn giết Tô Trung Từ khi có thời cơ.

  Mọi người đều nói:

-Tất nhiên, tất nhiên, Đế sư yên tâm, yên tâm.

  Đỗ Kính Tu, Đàm Dĩ Mông và các đại thần không ngờ cuộc họp kín đó lọt vào tai một quan nội thị đi qua, sau đó đứng ở ngoài nghe được gần hết. Hôm sau, quan nội thị đó nói với Lý Huệ Tông:

-Tâu hoàng thượng, thần có việc cơ mật cần bẩm báo.

-Ái khanh đứng dậy có việc gì khẩn cấp nói đi.

  Quan nội thị nhìn quanh e ngại. Lý Huệ Tông nói:

-Ra ngoài hết đi.

-Dạ.

  Khi chỉ còn hai người, quan nội thị nói:

-Dạ, bẩm hoàng thượng, đêm hôm qua thần vô tình đi qua một phòng trong cung Càn Nguyên, nghe được cuộc bàn kín giữa Đế sư Đỗ Kính Tu, Thái sư Đàm Dĩ Mông và một số đại thần khác, bàn việc mưu giết quan Thái úy phụ chính Tô Trung Từ.

  Lý Huệ Tông kinh hãi:

-Hả, Đế sư không rút ra được bài học tiên đế giết Phạm Bĩnh Di gây ra loạn Quách Bốc, gây ra thiên hạ loạn lạc, ta và cả hoàng gia suýt nữa mất mạng, xa giá long đong khắp nơi sao?

-Dạ, lại còn gây nghiêng ngửa cho triều đình nữa.

-Ngươi ra, ta sẽ hậu thưởng, nghe được gì thì báo tiếp cho ta.

-Dạ, đa tạ hoàng thượng.

  Quan nội thị ra rồi, Lý Huệ Tông gọi:

-Bay đâu.

-Dạ, hoàng thượng.

-Cho gọi Đế sư Đỗ Kính Tu đến đây.

-Dạ.

  Đỗ Kính Tu đến quỳ xuống hành lễ:

-Hoàng Thượng vạn, vạn tuế.

-Miễn lễ, Đế sư bình an, ban ngồi.

-Tạ ơn hoàng thượng.

-Ta vừa được mật báo, ái khanh cùng Thái sư Đàm Dĩ Mông và một số đại thần khác họp nhau mưu giết Thái úy phụ chính Tô Trung Từ có phải không?

-Dạ, bẩm hoàng thượng, thần chỉ muốn diệt trừ quyền thần đem lại quyền bính cho hoàng thượng.

-Khanh đã quên bài học tiên đế Lý Cao Tông nghe lời gian thần Phạm Du giết trung thần Phạm Bĩnh Di gây ra loạn Quách Bốc làm nghiêng ngửa sơn hà xã tắc, xa giá tiên đế xiêu dạt lên tận Quy Hóa, còn ta, thái hậu và hai công chúa trôi dạt gian khổ về Hải Ấp. Khanh quên rồi sao?

-Dạ, thần không dám.

-Ta còn nghe nói khanh tự ý cho đào con kênh Trầm Động đi qua chùa Linh Ứng đổ ra sông Nhuệ, phá vỡ phong thủy và cảnh quan của kinh thành. Khanh định mưu phản chăng?

  Đỗ Kính Tu nghe Lý Huệ Tông gán cho chữ làm phản, vội dập trán xuống nền cung điện, máu chảy đỏ mặt kêu lên:

-Bẩm hoàng thượng, thần không có, thần bị oan.

  Lý Huệ Tông thấy mặt Đỗ Kính Tu máu chảy đầm đìa cả sợ nói:

-Khanh đi về đi, trẫm không muốn nhìn thấy khanh nữa.

Đỗ Kính Tu uất ức thất thểu chạy ra và lên ngựa phi ra khỏi kinh thành, chạy đến bãi Quần Thần, ngửa mặt lên trời mà kêu:

-Ta cả đời trung thành và hết lòng với nhà Lý, được gọi là Lý Kính Tu, nay hoàng thượng gọi ta là làm phản, lại còn nói không muốn nhìn mặt ta nữa. Ta phải dùng cái chết để tỏ lòng trung này với trời đất.

  Nói xong, Đỗ Kính Tu xuống ngựa, lao mình xuống tự vẫn ở sông gọi là bãi Quần Thần (thuộc Từ Liêm), đoạn sông Thượng Cát thuộc sông Hồng. Gia nhân của Đỗ Kính Tu chạy bộ theo sau kêu:

-Đừng mà, chủ nhân, đừng mà.

chtrantukhanh-1650810746.jpg
Tranh minh họa: Trần Tự Khánh viên tướng trứ danh thời kỳ suy vong của triều đại nhà Lý. Nguồn: Internet.

 

  Khi thấy Đỗ Kính Tu lao xuống sông, người gia nhân cũng lao xuống, một hồi sau mới mò được xác đưa ông lên, nhưng Đỗ Kính Tu đã chết. Người gia nhân đặt ông lên ngựa và dắt về tư dinh. Bảy thê thiếp trẻ của ông thấy chồng đã chết liền nhất loạt tự sát để được chết cùng ngày, được nằm cùng một chỗ với chồng, tạo nên một cảnh tượng đau lòng đầy tang tóc hiếm có trong tình nghĩa phu thê ở thế gian này.

  Cái chết của Đế sư Đỗ Kính Tu chấn động triều đình. Lý Huệ Tông truy phong ông là Khai quốc Đại vương, làng Hậu Ái thờ ông làm thành hoàng.

  Các đại thần nhà Lý trong khi bàn luận về cái chết của Đỗ Kính Tu đều đổ lỗi cho Tô Trung Từ. Trong một tiệc rượu ở nhà quan nội hầu Đỗ Thế Quy, tham gia gồm chủ nhân, còn có tướng Đỗ Quảng, Phí Liệt, rượu vào ba người nói càng hăng. Đỗ Thế Quy cạn xong, đặt bát xuống rất mạnh và nói:

-Đế sư Đỗ Kính Tu chết thảm quá, bảy thê thiếp còn trẻ chết theo càng thảm, việc này là do Tô Trung Từ chuyên quyền mà ra.

  Phí Liệt nói:

-Quan nội hầu nói phải lắm, chúng ta phải giết Tô Trung Từ, nếu không đến lượt chúng ta chết.

  Đỗ Quảng nói:

-Nói đúng lắm, mai ta gửi chiến thư cho Tô Trung Từ, thách hắn đem quân quyết một trận sống chết.

-Phải rồi, chiến thư, chiến thư. Tô Trung Từ, quyền thần phải chết. Ha! Ha!Ha!

-Rượu đâu, rượu đâu…

 Tô Trung Từ nhận được bức thư, mở thư đọc rồi viết thư trả lời. Đỗ Thế Quy mở thư đọc. Thư viết: “Ta đồng ý cùng quan Nội hầu quyết một trận cho phân thắng bại. Ta hẹn ngày kia buổi sáng, hai bên dàn quân ở bãi đình Tứ Đạt. Trước khi giao chiến, ta và các ngài vào Bí thư các ở gần đó họp bàn luận, nếu không thống nhất được với nhau để cùng nhau khuông phò nhà Lý thì sẽ ra giao chiến với nhau cũng chưa muộn”.

  Đỗ Thế Quy đọc xong thư, đưa cho Đỗ Quảng, Phí Liệt đọc. Đọc xong, Phí Liệt nói:

-Xem Tô Trung Từ có mưu kế gì chăng?

  Đỗ Thế Quy nói:

-Mưu kế gì thì quân ta đông hơn quân Tô Trung Từ, ta vẫn đối phó được. Sớm ngày kia, ngài Phí Liệt đem quân ra dàn trận ở bãi sân đình Tứ Đạt, chờ quân của Tô Trung Từ, ta và Đỗ Quảng đi vào gặp Tô Trung Từ ở Bí thư các.

  Lại nói chiều hôm nhận được thư của Đỗ Thế Quy, Tô Trung Từ viết một bức thư và bảo em là Tô Khang Sơn:

-Đem thư này về Hải Ấp đưa cho Trần Tự Khánh bảo đem 2 vạn quân chi viện gấp, hẹn tối mai phải tới được Thăng Long.

-Đệ tuân lệnh.

  Tô Khang Sơn đi suốt chiều và đêm đó đến Hải Ấp đưa thư của Tô Trung Từ cho Trần Tự Khánh. Trần Tự Khánh mở thư ra đọc. Thư viết: “Ta đã nhận chiến thư, sáng ngày mai phải giao chiến với bọn đại thần nhà Lý Đỗ Thế Quy. Quân ta ít không chắc thắng được. Tướng quân phải đem 2 vạn quân, khi đến Thăng Long phải bí mật im hơi lặng tiếng, lên đến nơi sẽ bàn kế hoạch tác chiến.

  Trần Tự Khánh gọi nói:

-Tướng quân ăn cơm xong về trước báo tin cho Thái úy phụ chính, ta sẽ đem quân đến sau.

-Bay đâu.

-Dạ.

- Bày cơm rượu để tướng quân đây ăn uống để còn về Thăng Long ngay.

-Dạ.

-Cho cả ngựa tướng  quân ăn uống no nê, rõ chưa?

-Dạ.

  Đúng ngày hẹn, Đỗ Thế Quy, Đỗ Quảng, Phí Liệt dẫn 2 vạn quân đến bãi sân đình Tứ Đạt, đã thấy quân Tô Trung Từ dàn trận đứng chờ. Đỗ Thế Quy hơi chột dạ khi thấy quân của Tô Trung Từ đông, lại dàn quân ở thế vòng cung là thế trận sẵn sàng bao vây. Đỗ Thế Quy để Phí Liệt đứng trước hàng quân rồi cũng Đỗ Quảng đi vào cung Bí thư các, theo sau khoảng 10 lính hộ vệ. Tô Trung Từ cũng để lại lính cho Đào Phán, còn tự mình dẫn 10 vệ sĩ do Lưu thiện, Tô Tường Văn, Tô Khang Sơn, Tô Danh Hiển hộ tống đi vào Bí thư các.

  Đỗ Quảng và Đỗ Thế Quy vừa bước vào thềm cung Bí thư các thì bị phục binh bắn tên như mưa. Đỗ Thế Quy và Đỗ Quảng trúng tên gục xuống. Quân vệ sĩ của Đỗ Thế Quy kêu to:

-Có phục binh, chủ tướng chết rồi.

  Quân hộ tống của Đỗ Thế Quy và Đỗ Quảng rất nhanh quay lại phía sau và nã tên như mưa, các vệ sĩ của Tô Trung Từ cũng bắn tên về phía trước tạo nên một cuộc bắn nhau hỗn loạn. Thốt nhiên một mũi tên bắn trúng vào ngực Tô Trung Từ. Tô Trung Từ gục xuống. Tô Tường Văn cố cõng Tô Trung Từ lên vai, chung quanh có Tô Khang Sơn, Tô Danh Hiển và các vệ sĩ hộ tống chạy ra. Trong khi đó nghe trong cung Bí thư các hỗn loạn, quân hai bên ở bên ngoài cũng lao vào giáp chiến. Tiếng hô xông lên giết giết vang lên, tiếng gươm giáo chạm nhau khô khốc. Tướng Phí Liệt bên quân Đỗ Thế Quy bị tướng Trần Tự Khánh đâm chết. 1 vạn quân của Đỗ Thế Quy bị giết, 1 vạn quân đầu hàng. Bãi sân đình Tứ Đạt máu chan hòa mặt đất, xác chết kín đặc, chồng chất ngổn ngang. Trần Tự Khánh thu quân về, đưa Tô Trung Từ vào hành dinh, mời lang y đến cứu chữa. Lang y sau khi rút mũi tên ra, cầm tay bắt mạch, đưa tay lên mũi Tô Trung Từ và lắc đầu nói:

-Không kịp, mũi tên có độc, Thái úy đã chết rồi.

  Mấy người em của Tô Trung Từ vây quanh tử thi mà khóc. Chợt có thám mã về báo cho Trần Tự Khánh:

-Dạ bẩm tướng quân, mạt tướng là người của tướng quân Nguyễn Ma La. Tướng Nguyễn Ma La là con rể của Thái úy Tô Trung Từ. Nghe tin Thái úy giao chiến với Đỗ Thế Quy, Nguyễn Ma La đem quân đến chỗ Nguyễn Trinh, bộ tướng của Thái úy, yêu cầu xuất binh chi viện nhưng Nguyễn Ma La đã bị Nguyễn Trinh sai phục binh giết chết trong tiệc rượu. Phu nhân của Nguyễn Ma La là Tô Thị bị Nguyễn Trinh bắt.

  Trần Tự Khánh ngạc nhiên:

-Lại có chuyện phản chủ vậy sao?

-Dạ.

-Tướng quân Trần Thừa đâu.

-Tướng quân đem một vạn quân về đạo Thuận Lưu, tiêu diệt tên Nguyễn Trinh, bộ tướng của Tô Thái úy làm phản đã giết chết con rể của ngài là Nguyễn Ma La, còn bắt tiểu thư Tô Thị.

-Tuân lệnh.

  Trong đêm, một vạn quân của Trần Thừa cải trang thành dân thường nên Nguyễn Trinh không biết. Đêm đó hắn cho quân ăn uống no say nên lăn ra ngủ. Sau khi cho quân bí mật vây doanh trại, tốp lính của Trần Thừa do tướng Đào Phán chỉ huy tiếp cận giết lính gác, bắt một tên và hỏi:

-Phòng của Nguyễn Trinh đâu, dẫn đường ta tha mạng.

-Dạ, xin dẫn đường, xin tha mạng.

  Đến cửa phòng, lính của Trần Thừa đạp cửa xông vào. Nguyễn Trinh đang ngồi bên bàn uống rượu. Tô Thị đang đứng ủ rủ ở một góc nhà khóc lóc xin tha.

  Đào Phán quát to:

-Thằng phản bội phải chết.

  Nguyễn Trinh giật mình, chưa kịp đứng dậy  đã bị Đào Phán đâm một gươm từ ngực ra sau lưng, trào máu ra và gục xuống. Một vạn quân của Nguyễn Trinh hạ vũ khí đầu hàng. Trần Thừa thu nhận vào quân Trần. Đến đây quân đội và thế lực của Tô Trung Từ không còn nữa. Thế lực của anh em họ Trần do Trần Tự Khánh chỉ huy lớn mạnh hẳn lên do sự gia nhập của quân sĩ và tướng lĩnh của Tô Trung Từ. Trần Tự Khánh cho mai táng Tô Trung Từ ở làng Hoạch. Trần Tự khánh cho đón Trần Thị Dung lên Thăng Long để xum họp với Lý Huệ Tông. Lý Huệ Tông phong Trần Thị Dung làm Nguyên phi. Trần Tự Khánh thay Tô Trung Từ nắm quyền bính trong triều đình.

V.

  Bóng đêm bao trùm Thăng Long tối mù mịt nhưng dưới những rặng cây phố xá vẫn le lói ánh đèn, đèn sáng hơn là ở khu vực Tử cấm thành. Gió về đêm khua lá cây đung đưa xào xạc. Bầu trời màn nhung đen thẫm lung linh những vì sao như những viên kim cương lấp lánh từ xa.

  Trong cung thái hậu, bàn ghế sơn son thếp vàng khảm ngọc trai sáng bóng lung linh theo anh đèn. Lụa vàng, lụa đỏ treo từ trên cao rủ xuống khiến cung càng thêm ấm cúng. Trong cung, Lý Huệ Tông đang ngồi uống trà cùng Đàm Thái hậu, Hai thị nữ túc trực đứng hầu hai bên. Lý Huệ Tông uống xong chén nước trà, đặt cốc xuống hỏi Đàm thái hậu:

-Sao bỗng nhiên thái hậu lại đem các hoàng tử cùng cha khác mẹ nhưng là các đệ của Sảm nhi dìm xuống giếng là các hoàng tử Nhân Quốc Công, Lục Hoàng tử và Thất hoàng tử, con của phụ hoàng với các cung phi khác, họ chết thê thảm quá. Sau khi chết lại không cho đem chôn cất, lại vứt xác ra hoàng thành khiến thần dân ai cũng bi thương xót xa phẫn nộ và khiếp đảm. Họ vô tội, lại còn nhỏ, sao Thái hậu lại giết họ tàn nhẫn như vậy?

  Đàm thái hậu mắt long lên, nghiến răng ken két, dằn bát nước mạnh xuống bàn và nói:

-Ta làm tất cả vì hoàng thượng, vì giữ ngai vàng cho con. Để các hoàng tử đó sống, nay mai một thế lực nào đó mạnh lên sẽ phế bỏ con và đặt họ lên ngai vàng thì con còn gì không? Giết chúng đi thì không còn lo mầm loạn phế lập nữa.

-Thái hậu sai rồi. Đệ của con thì thiếu gì người. Mà họ Lý thì thiếu gì người. Họ muốn phế lập thì không có hoàng tử thì họ chọn người khác trong họ Lý. Còn đệ của Sảm nhi là Lý Long Tường và một vài người nữa, thái hậu đừng có mà mưu giết tiếp.

Đàm thái hậu đáp gay gắt:

-Ta không sai, cái mạng của Lý Long Tường và những người khác ta muốn lấy lúc nào mà chả được. Còn điều quan trọng này nữa, dẹp xong loạn Quách Bốc thì lo thế lực của Tô Trung Từ, bây giờ Tô Trung Từ chết rồi thì lại lo thế lực của Trần Tự Khánh. Đây là bức thư của thế lực họ Đoàn ở Hồng Châu cảnh báo cho ta và hoàng thượng về thế lực của họ Trần đây. Xem đi.

Lý Huệ Tông cầm thư lên xem thì ra đó là thư của Đoàn Thượng, thế lực sứ quân lớn ở Hồng Châu. Lý Huệ Tông đọc, Thư viết: “Trong sự rối ren của thiên hạ ngày nay, thế lực nào cũng muốn ngồi lên ngôi báu của hoàng thượng. Trần Tự Khánh đem quân vào kinh sư là mưu đồ phế lập. Xin hoàng thượng phải tinh tường, biết thế lực nào là trung thành với nhà Lý khả dĩ có thể dựa vào được để giữ vững cơ nghiệp tổ tiên và để phúc thái bình cho thiên hạ. Như họ Đoàn của thần ở Hồng Châu là con cháu của Đại trung thần Đoàn Văn Khâm, Công bộ Thượng thư đời Lý Nhân Tông, có thể làm rường cột cho hoàng thượng. Mong hoàng thượng minh xét cho cơ đồ khỏi cảnh điêu tàn nghiêng ngửa như vừa qua. Sứ quân Hồng Châu Đoàn Thượng kính thư”.

  Lý Huệ Tông đọc xong thư, Đàm thái hậu hỏi:

-Ý hoàng thượng thế nào?

-Ý Sảm nhi là dựa hẳn vào họ Trần để yên thiên hạ và giữ cơ nghiệp. Sảm nhi định giao chức Thái úy phụ chính cho Trần Tự Khánh.

  Đàm thái hậu đập bàn:

-Không được, chức Thái úy phụ chính phải để cho Đàm Dĩ Mông, thứ hai phải tìm cách đuổi Trần Tự Khánh khỏi kinh thành vì họ Trần có ý phế lập, thứ nữa phải đuổi Trần Thị Dung về Hải Ấp và bỏ cô ta đi, nếu không ta sẽ giết chết có ngày, còn nữa về lực lượng quân sự mà dựa vào có thể liên kết với sứ quân Đoàn Thượng.

  Lý Huệ Tông không còn cách nào khác vì Đàm thái hậu can thiệp quá sâu vào triều chính mà có sáng suốt gì đâu, chỉ một mực bảo vệ ngai vàng cho con đẻ, tàn sát cả người trong họ, kể cả hoàng tử nhà Lý. Đàm Dĩ Mông là em trai thái hậu đã đi theo Quách Bốc không bị trừng trị, còn được giữ chức Thái sư, tài đức học thức quá kém cõi, nay còn mơ cả chức Thái úy phụ chính, lực lượng quân sự triều đình đã tan rã hết sau cái chết của Tô Trung Từ. Dựa vào Trần Tự Khánh may ra còn hy vọng vì đó dẫu sao cũng là anh ruột của nguyên phi. Bỏ và giết nguyên phi quả là việc làm quá bất nghĩa, không còn nhớ thời gian khổ ở Hải Ấp đã được họ Trần cưu mang bốn mẹ con, rồi họ Trần lấy lại ngai vàng cho Lý Huệ Tông, trong khi đó các sứ quân khác bó tay. Vả lại giết nguyên phi là một hành động quá ngu xuẩn về chính trị. Trần Tự Khánh có thể đuổi cùng giết tận khi em gái bị giết, đòi giết hoặc bỏ nguyên phi là thái hậu không biết gì đến tình cảm của Lý Huệ Tông với Trần Thị Dung. Nhưng thái hậu vẫn là thái hậu, Lý Huệ Tông thở dài và nói:

-Những điều khác thì Sảm nhi nghe theo mẫu thân nhưng còn việc bỏ nguyên phi Trần Thị Dung con không chấp nhận, nếu thái hậu giết Trần Thị Dung thì con sẽ chết theo, thứ nữa nếu nàng ấy bị sát hại, thế lực nhà họ Trần có tha cho chúng ta không, ai bảo thế lực quân sự nhà Trần hiện nay không mạnh? Thái hậu giết nguyên phi là giết Sảm nhi và tự giết mình đó.

  Nói xong Lý Huệ Tông buồn bã đứng dậy:

-Sảm nhi cáo biệt.

  Đàm thái hậu không bất ngờ với những lời nói của Lý Huệ Tông vì bà biết tình yêu của Lý Huệ Tông giành cho nguyên phi quá sâu nặng ngay từ ngày gặp nhau lần đầu ở Hải Ấp. Dù sao thì Lý Huệ Tông cũng đã để cho bà tham chính để bảo vệ ngai vàng cho Sảm nhi, bảo vệ quyền lợi cho dòng họ Đàm. Quốc gia, bách tính, dân tộc đối với Đàm thái hậu không có ý nghĩa gì mà chỉ xếp ở thứ tự sau cùng.

  Trong buổi thiết triều hôm sau, Lý Huệ Tông nói:

-Sau khi đại thần Tô Trung Từ tử trận, triều đình khuyết chức Thái úy phụ chính. Nay giao chức này cho Đàm Dĩ Mông.

  Cả triều đình bất ngờ:

-Hả…

Đại thần Phạm Bố nói:

-Thần có tấu.

-Ái khanh tấu đi.

-Bẩm hoàng thượng, Đàm Dĩ Mông xưa loạn Quách Bốc đã ở lại cộng tác với giặc, triều đình tha tội cho là may. Chức Thái úy phụ chính nay nên giao cho Chương thành hầu Trần Tự Khánh.

  Lý Huệ Tông nói:

-Trần Tự Khánh khi trẫm đăng quang đã phong Chương Thành hầu, nay hãy giữ tạm như vậy sẽ tính sau.

-Còn nữa, nay vùng Hải Ấp rất quan trọng trống vắng, đề phòng quân phản nghịch ở Đại Hoàng tấn công vùng quan trọng này, Trần Tự Khánh hãy kéo quân đội về phòng thủ ở đó cho trẫm. Hẹn ngày mai phải rời khỏi kinh thành.

-Hả?...

-Ai còn tấu?

  Im lặng, không có ai tấu.
-Bãi Triều.

  Trần Tự Khánh đến hẹn không rút quân về Hải Ấp. Tháng 7 năm 1211, Lý Huệ Tông lấy cớ đó giáng Trinh Thuận quý phi Trần Thị Dung xuống ngự nữ, hạ chiếu kêu gọi các sứ quân các nơi khởi binh đánh Trần Tự Khánh vì tội kháng chỉ. Ngay lập tức Đoàn Thượng ở Hồng Châu kéo quân về kinh sư. Quân Trần Tự Khánh núng thế rút khỏi Thăng Long. Đoàn Thượng, Đoàn Văn Lôi, Đoàn Chú, Đoàn Nguyễn, Đoàn Cẩm vào yết kiến Lý Huệ Tông, quỳ hành lễ:

-Hoàng Thượng vạn tuế, vạn tuế.

  Lý Huệ Tông nói:

-Miễn lễ, các ái khanh đứng dậy đi.

-Tạ ơn hoàng thượng.

  ĐoànThượng đứng dậy và nói tiếp:
-Đất nước loạn ly, nhiều sứ quân, giặc dã nổi lên vì lợi ích riêng tư đã làm cho hoàng thượng vất vả, xa giá gian nan. Tội của chúng thần là không phò tá hoàng thượng được chu toàn. Nay đã về đây sẽ tôn phò hoàng thượng chu đáo, đem lại an bình cho thiên hạ, giữ vững cơ nghiệp 200 năm của nhà Lý.

  Lý Huệ Tông nói:

-Thiên hạ chao đảo loạn ly, nay được các khanh phò tá, trẫm có thể yên tâm.

  Lý Huệ Tông hỏi Đoàn Thượng:

-Với lực lượng mạnh như Trần Tự Khánh, khanh định như thế nào?

  Đoàn Thượng đáp:

-Bẩm hoàng thượng, thần sẽ tiêu diệt hết lực lượng quân sự của họ Trần, thu hẹp sự chiếm đóng của Trần Tự Khánh. Trước mắt là đuổi lực lượng của Khánh ra khỏi Khoái Châu, giáp với Hồng Châu của thần.

  Lý Huệ Tông nói:

-Tốt lắm, nay ta phong cho mấy huynh đệ họ Đoàn tước hầu để hiệu triệu thiên hạ tiêu diệt Trần Tự Khánh.

  Đoàn Thượng, Đoàn Văn Lôi, Đoàn Cẩm, Đoàn Chú, Đoàn Nguyễn quỳ hành lễ:

-Đa tạ hoàng thượng.

  Hôm sau về quân doanh, Đoàn Thượng lệnh cho Đoàn Văn Lôi và Vũ Hốt:

-Hai tướng quân nghe lệnh:

-Dạ, chúa công.

-Hai Tướng quân đem 2 vạn quân tiêu diệt quân Trần ở Khoái Châu, đuổi thế lực họ Trần khỏi ranh giới với Hồng Châu.

-Tuân lệnh chúa công.

  Đang đêm quân họ Đoàn hành quân bất ngờ bao vây tấn công doanh trại của quân Trần ở Hoàng Điểm. Quân Trần bị bất ngờ chống cự yếu ớt và bị tiêu diệt gần hết. Tướng Trần là Nguyễn Đường bị bắt, tướng Trần Lại Linh đem quân cứu viện nhưng không kịp. Quân Trần thua trận phải rút khỏi vùng Khoái Châu.

  Trần Tự Khánh nói với Trần Thừa, Trần Thủ Độ và Trần Hiến Sâm:

-Ta đã mất thế đứng ở Thăng Long, ở Hưng Yên, bây giờ ta phải mở rộng thế lực ra đồng bằng Bắc Bộ, nơi đông dân, nhiều người nhiều của để phát triển lực lượng, tiêu diệt thế lực họ Đoàn và các sứ quân khác.

  Trần Thừa nói:

-Chương thành hầu nói phải lắm.

  Trần Tự Khánh ra lệnh:

-Trần Thừa, Trần Thủ Độ  nghe lệnh.

-Có mạt tướng.

-Hai tướng quân đem quân đến Đội Sơn (Duy Tiên Hà Nam) tiêu diệt quân của Đoàn Cẩm để chiếm toàn bộ đất Duy Tiên.

-Chúng mạt tướng tuân lệnh.

  Đoàn Cẩm đang ngồi ở phủ đường Đội Sơn, chợt có thám mã về báo:

-Dạ bẩm tướng quân, 2 vạn quân Trần đang tiến vào Đội Sơn đánh chúng ta.

  Đoàn Cẩm ra lệnh:                                                                                   

-Mở cổng thành để ta ra giao chiến.

-Dạ.

  Cổng thành mở. Đoàn Cẩm  và Vũ Hốt đem quân ra khỏi thành nửa dặm dàn trận. Canh giờ sau thấy bụi cuốn mù mịt, quân đi ngựa chạy như gió, khi lại gần quân Đoàn Cẩm, quân Trần dàn trận. Ba tướng đứng đầu đoàn quân dưới cờ vàng bay pháp phới, oai phong lẫm liệt, đó là Trần Thừa, Trần Thủ Độ, Trần Hiến Sâm. Trần Thừa quát:

-Ai ra bắt thằng giặc này cho ta.

-Có mạt tướng.

  Mọi người nhìn ra thì đó là tướng Trần Hiến Sâm, cưỡi ngựa nâu, sử dụng hai thanh kiếm. Bên quân của Đoàn Cẩm, tướng Vũ Hốt cưỡi ngựa đen sử dùng ngọn giáo dài xông ra. Khi hai ngựa xáp nhau, kiếm và giáo chạm nhau tóe lửa như chớp, phát ra tiếng kêu keng keng chát chúa. Đấu khoảng 20 hiệp không phân thắng bại, Trần Thừa vẫy cờ hiệu, quân Trần theo hình cánh cung bao vây quân Đoàn Cẩm mà đánh giết. Quân Đoàn Cẩm tan vỡ tháo chạy nhưng bị vây bọc lại và bị giết. Tiếng chiêng trống, tiếng reo hò náo loạn vùng trời đất Duy Tiên. Đoàn Cẩm, Vũ Hốt mở đường máu chạy một mạch về Hồng Châu.

  Sau trận đó, Trần Tự Khánh làm chủ một vùng từ Thuận Lưu (Thái Bình) cho đến hết Hà Nam, Nam Định, trừ vùng Đại Hoàng Ninh Bình còn do sứ quân Bùi Đỗ và Đinh Khang đóng giữ.

Sau khi phát triển thế lực ở đồng bằng Bắc Bộ, Trần Tự Khánh thấy phải đánh Thăng Long và miền Bắc, liền kéo quân về bến Đại Thông ra lệnh cho tướng Tô Khang Sơn:

-Tướng quân đem 2 vạn quân tiến vào Thăng Long, dò xem quân họ Đoàn bố phòng thế nào, nếu thấy mạnh thì dọa rồi rút về đây.

-Mạt tướng tuân lệnh.

  Tô Khang Sơn kéo quân về Thăng Long nhưng thấy quân Đoàn phòng thủ mạnh liền ra lệnh:

-Đốt cầu Ngoạn Thiềm và rút.

-Tuân lệnh chủ tướng.

  Quân Trần đốt cầu Ngoạn Thiềm cháy thành than. Quân Trần lại rút về bến Đại Thông.

  Tháng 2 năm 1212, Trần Tự Khánh đang ngồi trong bản doanh thì tham mã về báo:

-Dạ bẩm Chương thành hầu, tướng quân Nguyễn Tự đã chết rồi ạ.

  Trần Tự Khánh ngạc nhiên:

-Sao mà chết?

-Dạ trong trận chiến với Ngô Thưởng Vu và Vũ Cao, tướng quân bị trúng tên độc, bệnh chưa khỏi thì 10 ngày sau đã quan hệ với đàn bà, khí độc phát tác mà chết ạ.

  Nguyễn Tự vốn là bộ tướng của Tô Trung Từ. Tháng 4 năm 1211, định làm phản và mưu giết con rể của Tô Trung Từ là Nguyễn Ma La nhưng việc bại lộ, bỏ Tô Trung Từ chạy sang Quốc Oai, phát triển thế lực mạnh. Sau khi Tô Trung Từ chết, Trần Tự Khánh liên kết với Nguyễn Tự. Hai người đã hội sư ở bến Đông Triều, thề hết lòng giúp nước, cùng chung sức dẹp loạn để yên dân. Hai bên còn chia nhau phạm vi thế lực theo địa giới, hẹn tháng 3 năm 1213 họp binh với nhau để đánh họ Đoàn ở Hồng Châu, không ngờ nay đã sớm qua đời.

  Trần Tự Khánh đang ngồi suy nghĩ thì có thám mã về báo:

-Dạ, có người của tướng Nguyễn Cuộc, Phó tướng của Nguyễn Tự ở Quốc Oai xin vào gặp.

-Cho vào ngay.

-Dạ.

  Sứ giả của Nguyễn Cuộc vào quỳ:

-Dạ, phó tướng Nguyễn Cuộc có thư cho Chương thành hầu ạ.

-Đứng dậy đi.

-Dạ.

-Tướng quân ngồi và uống nước đi.

-Đa tạ ơn Chương thành hầu.

 Trần Tự Khánh bóc thư của Nguyễn Cuộc ra đọc. Thư viết: “Chủ tướng Nguyễn Tự đã chết, nay mạt tướng nắm giữ binh quyền, nguyện đem binh quyền và đất đai Quốc Oai sáp nhập vào với cơ nghiệp của Chương thành hầu. Mong Chương thành hầu tiếp nhận. Kính thư.”

  Trần Tự Khánh gọi:

-Bay đâu.

-Dạ.

-Cơm rượu ngon cho tướng quân đây ăn. Cho cả ngựa ăn nữa, rõ chưa?

-Dạ, tuân lệnh chúa công.

  Người lính ăn xong, Trần Tự Khánh đến trao cho một phong thư và nói:

-Tướng quân về trao bức thư này cho ngài Nguyễn Cuộc. Còn đây là tiền đi đường.

-Dạ, đa tạ chúa công.

  Nhận được thư, Nguyễn Cuộc bóc thư đọc. Trong thư Trần Tự Khánh đồng ý sáp nhập và phong Nguyễn Cuộc là Tả tướng quân. Nhà Trần được thêm miền Quốc Oai, thế lực càng hùng mạnh. Trần Tự Khánh ra lệnh cho quân tiến sát tới Thăng Long của Lý Huệ Tông ở phía Tây (Quốc Oai) và phía Nam (Thường Tín).Vua Lý Huệ Tông lo sợ gọi:

-Thái sư Đàm Dĩ Mông đâu?

-Dạ, có thần.

-Thái sư đem 1 vạn quân đánh quân Trần ở phía nam kinh thành.

-Thần tuân chỉ.

-Tướng quân Đoàn Văn Lôi đâu.

-Tướng quan đem một vạn quân đánh đuổi quân Trần ở miền Quốc Oai.

-Thần tuân chỉ.

-Còn ta sẽ cùng Phạm Bố đem một vạn quân đánh quân Trần ở  ở Mễ Sở.

-Thần tuân chỉ.

  Lý Huệ Tông lại nói với nội quan:

-Khanh xuống Hồng Châu truyền khẩu dụ của trẫm bảo Đoàn Thượng cho quân tiếp ứng.

-Thần tuân chỉ.

  Lý Huệ Tông đi thuyền rồng theo đường sông, quân lính đi bộ trên bờ, cờ bay rợp trời, nắng tháng 7 đổ xuống ngoại vi kinh thành như đổ lửa. Đến nơi nhà vua lên bờ hô quân dàn trận ở Hát Giang. Quân Trần do Nguyễn Cải và Vương Lê chỉ huy rút gươm giáo, khua chiêng gióng trống mãnh liệt tiến lên. Quân Triều đình và quân họ Đoàn nhìn thấy chưa giao chiến đã tháo chạy hết. Lý Huệ Tông phải bỏ thuyền lên bờ, lên ngựa tháo chạy về kinh sư, bỏ cả thuyền rồng cho Vương Lê và Nguyễn Cải bắt được.

  Về đến kinh sư, Lý Huệ Tông chưa hết cơn hoảng loạn thì có thám mã báo:

-Dạ bẩm hoàng thượng, đạo quân của Thái sư Đàm Dĩ Mông đã bị quân của Trần Thừa, anh của Trần Tự Khánh đánh tan ở An Diên (Thường Tín), phía nam kinh thành.

  Lại có tin báo:

-Dạ bẩm hoàng thượng, quân của Đoàn Văn Lôi và Vũ Hốt đã bị các tướng Trần Phan Lân, Nguyễn Nộn, Nguyễn Cuộc từ Quốc Oai tiến xuống đánh bại ở Chợ Dừa.

-Đoàn Thượng có cho quân đến cứu không?

-Dạ, quân Trần do Trần Tự Khánh chỉ huy đang tiến đánh vào Hồng Châu từ Nam Sách, Đoàn chúa công vì thế không thể cứu giá được.

  Lý Huệ Tông hốt hoảng:

-Giặc bốn phía sắp tiến vào kinh thành, nhanh hộ vệ xa giá của trẫm, của thái hậu, của ngự nữ Trần Thị Dung chạy lên Lạng Châu, nhanh lên.

-Dạ, tuân chỉ.

  Triều đình rút chạy hỗn loạn, kinh sư cũng trong rối bời, tan nát. Đó là tháng 7 năm 1213. Trần Tự Khánh lần thứ hai vào kinh thành, vào điện Càn Nguyên, gọi:

-Bay đâu.

-Dạ, chúa công.

-Gọi tướng Trần Hiến Sâm vào đây.

-Dạ.

  Trần Hiến Sâm vào, Trần Tự Khánh nói:

-Tướng quân cầm phong thư này trao cho hoàng thượng Lý Huệ Tông.

  Trần Hiến Sâm nói:

-Hoàng thượng không có chủ kiến, chỉ theo ý của Đàm Thái hậu và Đàm Dĩ Mông chống lại họ Trần, lúc thì theo sứ quân này, lúc thì theo sứ quân khác, nếu hoàng thượng lần này không về, chúa công cứ lập người nào đó họ nhà Lý lên làm vua là được.

  Trần Tự Khánh nói:

-Trong thế cục ngày nay, muốn thống nhất và chế ngự được thiên hạ phải có trong tay vua Lý Huệ Tông. Tướng quân đi đi.

-Dạ, tuân lệnh chúa công.

  Tại hành cung Lạng Châu, vua Lý Huệ Tông nhận được thư của Trần Tự Khánh, giở ra đọc. Thư viết: “Dân tình uất ức, không thấu được lên trên cho nên nhân lòng giận dữ của người trong nước, thần khởi binh dẹp lũ đó, cắt trừ gốc loạn để yên lòng dân mà thôi. Đến như thân phận vua tôi, thần không dám phạm đến một chút nào, ngờ đâu phải gánh lấy những chuyện chuyên quyền, đánh dẹp để cho xa giá phải long đong, tự xét tội của thần đáng vạn lần chết, xin bệ hạ nguôi giận dữ, quay xa giá về kinh sư để thỏa lòng người mong muốn. Nay kính thư”.

  Lý Huệ Tông đọc xong thư, lòng buồn rầu nói:

-Ta cũng chưa hiểu hết được lòng dạ của Trần Tự Khánh. Thôi thì cứ để cho thời gian với sự biến động về sau trả lời. Ta chưa về đâu. Nhà ngươi về đi.

  Trần Hiến Sâm nói:

-Thần xin cáo biệt.

  Trần Hiến Sâm về Thăng Long, Trần Tự Khánh hỏi:

-Tướng quân gặp hoàng thượng, ý hoàng thượng thế nào?

  Trần Hiến Sâm đáp:

-Bẩm chúa công, hoàng thượng đọc xong thư rất buồn rầu nhưng vẫn chưa quyết định quay về kinh sư.

  Trần Tự Khánh im lặng, lát sau nói:

-Chúng ta ép hoàng thượng phải về bằng cách lập một vua mới để tỏ ra không có người này thì có người khác. Tướng quân đi tìm Huệ Văn Vương báo ngày mai ông ta sẽ lên ngôi vua.

-Dạ, tuân lệnh chúa công.

  Người đâu.

-Dạ, chúa công.

-Cho gọi quan nội thị vào đây.

-Dạ.

  Quan nội thị vào.

-Dạ bẩm Chương thành hầu.

-Ngài chuẩn bị cho buổi thiết triều sáng ngày mai, Huệ Văn Vương sẽ đăng quang ngôi hoàng đế.

-Dạ, thần sẽ chuẩn bị.

  Sáng hôm sau, khi ánh nắng rải chan hòa xuống kinh thành thì trong điện Càn Nguyên, đại thần văn võ bá quan quan phục mũ mãng cân đai theo tước vị, chức vụ tề chỉnh vào triều. Ngai vàng bỏ trống, đất nước vô chủ. Khi văn võ bá quan đã an tọa, Trần Tự Khánh đứng dậy nói:

-Trong thời buổi đất nước loạn lạc, thiên hạ rối ren thì đất nước càng cần có chủ, hoàng thượng Lý Huệ Tông không biết điều quan trọng đó, chỉ một mình nghe theo lời xui giục của bọn gian thần, của Đàm Thái hậu, của Đàm Dĩ Mông, của Đoàn Thượng ở Hồng Châu, nhất quyết bỏ ngai vàng mà đi để xa giá long đong khắp nơi. Ta đã năm lần bảy lượt viết thư xin hoàng thượng quay về kinh sư để ta và các ngài phò tá, thỏa lòng mong mỏi đợi chờ của bá quan văn võ và muôn dân, để thiên hạ có chủ mà yên bình. Nay đất nước phải có chủ thì thiên hạ mới bình yên, cho nên ta quyết định đưa Huệ Văn Vương, dòng dõi Lý Anh Tông lên ngài vàng.

 -Quan nội thị đâu.

-Có thần.

-Mời Huệ Văn Vương ra đăng quang ngôi hoàng đế.

-Dạ.

  Quan nội thị đi vào, một lát sau từ cửa trái của đại điện, nơi giành cho các hoàng đế đi ra thiết triều, Huệ Văn Vương, con của Lý Anh Tông trong áo long bào, đội vương miện đi ra. Đó là một thanh niên tuấn tú hiền lành. Khi vua an tọa vào ngai vàng, các quan văn võ vội rời ghế, bước ra quỳ và cúi xuống nền cung điện Đại An hành lễ:

-Hoàng thượng vạn, vạn tuế.

  Huệ Văn Vương nói:

-Miễn lễ, các ái khanh bình thân.

-Tạ ơn hoàng thượng.

Quan nội thị nói:

-Hoàng thượng đăng cơ, đế hiệu là Nguyên Vương, niên  hiệu là Càn Ninh. Năm nay là năm Càn Ninh thứ nhất.

  Bá quan văn võ lại hành lễ:

-Hoàng thượng vạn tuế, vạn tuế.

-Miễn lễ, các ái khanh bình thân.

  Lý Huệ Tông đang ở Lạng Châu thì có quan nội thị vào báo:

-Dạ, bẩm hoàng thượng có thám mã ở Thăng Long về báo:

-Cho vào.

  Thám mã vào quỳ hành lễ rồi nói:

-Dạ, bẩm hoàng thượng, Trần Tự Khánh ở Thăng Long đã lập Huệ Văn Vương lên ngôi hoàng đế rồi ạ.

chutranthudongcongtu1-1651067110.jpg
Bìa sách về Trần Thủ Độ của Nhà xuất bản Lao động.

 

  Lý Huệ Tông cả giận:

-Giám mưu việc phế lập, bất trung bất đạo. Bay đâu.

-Dạ, hoàng thượng.

-Ngươi xuống Hồng Châu bảo Đoàn Thượng xuất binh đánh Trần Tự Khánh.

-Thần tuân chỉ.

  Sứ giả đi gấp về Hồng Châu, gặp Đoàn Thượng nói:

-Đoàn chúa công tiếp chỉ.

  Đoàn Thượng, Đoàn Văn Lôi, Đoàn Cẩm, Đoàn Nguyễn, Đoàn Chú, Vũ Hốt quỳ hành lễ. Quan nội thị nói:

-Hoàng thượng khẩu dụ, Trần Tự Khánh ở Thăng Long làm việc phế lập phản nghịch. Nay có khẩu dụ Đoàn Thượng đem quân chinh phạt Trần Tự Khánh, không được chậm trễ.

-Chúng thần tuân chỉ, tạ ơn hoàng thượng.

  Đoàn Thượng bàn với Đoàn Nguyễn và Đoàn Cẩm, Đoàn Văn Lôi:

-Kinh thành khó tấn công, chi bằng ta đánh Bắc Giang tiêu diệt tướng của Khánh là Nguyễn Nộn cho chắc thắng.

  Đoàn Cẩm nói:

-Chúa công nói phải lắm.

  Nguyễn Nộn đang ngồi trong hành dinh uống rượu thì có thám mã về báo:

-Bẩm tướng quân, Đoàn Thượng dẫn 2 vạn quân đang từ Hồng Châu tiến lên Bắc Giang tiêu diệt chúng ta.

-Chúng đi theo đường nào?

-Dạ, chúng hướng về Gia Lương, có lẽ qua núi Đông Cửu.

  Nguyễn Nộn cười lớn:

-Địa thế Đông Cửu rất hiểm trở, ta đi gấp cho quân mai phục ở đó thì quân Hồng Châu phải chết.

  Lại nói 2 vạn quân Đoàn Thượng cờ xí rợp trời, trống chiêng dậy đất tiến về Bắc Ninh. Đoàn Nguyễn đi tiên phong, Đoàn Thượng đi trung quân, Đoàn Cẩm đi hậu quân. Đến địa phận Gia Lương, đại quân lọt vào nơi đường hẹp, núi đá và cây cối rậm rạp. Bỗng nhiên có nhiều phát tên lửa bắn lên trời. Quân Hồng Châu chưa hiểu điều gì thì hai bên đường những trận mưa tên dội xuống, hàng nghìn người ngựa trúng tên ngã vật xuống, máu phun đỏ đất. Tướng Đoàn Nguyễn đi tiên phong trúng ba mũi tên lăn xuống ngựa chết. Quân Nguyễn Nộn từ sườn núi nhào xuống chém giết, tiếng reo hò kinh thiên động địa, tiếng gươm giáo chạm nhau như sét, tạo nên những âm thanh rùng rợn. Đoàn Thượng, Đoàn Cẩm vội quay đầu tháo chạy. Quân Nguyễn Nộn truy kích mãi tới Lục Đầu Giang mới thôi.

  Tại hành dinh của Lý Huệ Tông ở Lạng Châu, thám mã về báo:

-Dạ, bẩm hoàng thượng, quân Hồng Châu của Đoàn Thượng bị quân Nguyễn Nộn, tướng của Trần Tự Khánh đánh bại ở Gia Lương đã chạy về Hồng Châu rồi ạ.

  Lý Huệ Tông hốt hoảng:

-Quân họ Đoàn mà còn thua, ta biết dựa vào ai mà chống Trần Tự Khánh đây?

  Quan nội thị tâu:

-Dạ bẩm hoành thượng, Nguyễn Nộn mà đánh bại được Đoàn Thượng chứng tỏ Nguyễn Nộn rất mạnh, hoàng thượng cứ truyền chỉ nếu ngài ấy đánh lại Trần Tự Khánh thì hoàng thượng sẽ về với ngài ấy.

  Lý Huệ Tông nói:

-Diệu kế, nhưng chưa chắc Nguyễn Nộn đã nghe, nhưng thôi cứ thử xem. Quan nội thị.

-Dạ, có thần.

-Quan nội thị về Bắc Ninh nói với Nguyễn Nộn xem ý ông ta thế nào?

-Thần tuân chỉ.

  Nguyễn Nộn đang ngồi uống trà trong hành dinh thì thám mã vào báo:

-Dạ bẩm tướng quân, có sứ giả của hoàng thượng Lý Huệ Tông muốn vào gặp.

-Cho vào.

-Dạ.

  Quan nội thị bước vào:

-Xin chào tướng quân.

-Không dám, chào quan nội thị, ngài ở chỗ hoàng thượng Lý Huệ Tông đến đây có việc gì?

-Hoàng thượng sai tôi đến có việc lớn của tướng quân và cả việc lớn của hoàng thượng, của đất nước.

-Việc lớn gì?

-Hoàng thượng nói nếu tướng quân đánh lại Trần Tự Khánh thì hoàng thượng sẽ về với ngài để ngài phò tá, từ đó mà hiệu lệnh thiên hạ, thống nhất đất nước, ngài sẽ là Thái úy phụ chính.

-Chả là hoàng thượng đang theo họ Đoàn chống lại họ Trần đó sao?

-Nhưng họ Đoàn không đủ sức, mới rồi chả bị tướng quân đánh bại ở Gia Lương đó sao?

  Nguyễn Nộn im lặng. Ý định của Lý Huệ Tông thật phù hợp với ý định của Nguyễn Nộn, cũng đang muốn vươn lên xưng hùng xưng bá trong thiên hạ, đặc biệt sau khi đánh bại Đoàn Thượng thì Nguyễn Nộn tin rằng có thể đánh bại được cả Trần Tự Khánh. Nghĩ vậy, Nguyễn Nộn đáp:

-Ngài về nói với Lý Huệ Tông nếu về với ta thì ta sẽ phò tá và ra sức tận trung báo quốc.

-Tốt lắm, tướng quân quả là người biết rõ thời thế, ta về sẽ trình hoàng thượng. Hẹn gặp lại.

  Tại hành dinh ở Thăng Long, Trần Tự Khánh đang bàn việc với với Trần Thủ Độ, Trần Thừa và Nguyên Vương thì có thám mã về báo:

-Dạ, bẩm hoàng thượng, bẩm chúa công, vua Lý Huệ Tông đã về Bắc Ninh với Nguyễn Nộn. Nguyễn Nộn đã tuyên bố phò tá Lý Huệ Tông và đang phát binh đánh Thăng Long.

  Trần Tự Khánh ngạc nhiên:

-Hả, ta có ngược đãi nó đâu mà nó lại phản ta. Cái bệnh ngông cuồng muốn bá chủ thiên hạ làm nó phản chủ.

  Lại có thám mã về báo:

-Dạ bẩm hoàng thượng, bẩm Chương thành hầu, Đỗ Bị ở Cam Giá, Sơn Tây đã phản lại chúng ta, đang tuyên bố sẽ đánh Thăng Long.

  Trần Tự Khánh nói:

-Mặt bắc và mặt tây Thăng Long bị tấn công, có thể cả mặt đông cũng bị Đoàn Thượng tấn công. Chúng ta không đủ sức chống đỡ. Ta ra lệnh rút khỏi Thăng Long.

Trần Thủ Độ nói:

-Đệ cho rằng phải lấy hết vàng bạc, của cải trong kho đem đi, nếu không bọn Nguyễn Nộn, Đỗ Bị sẽ lấy hết.

-Đệ nói phải lắm, lấy hết đem về hành cung ở Lý Nhân.

-Xin tuân lệnh.

  Quân Trần rút đi. Nguyễn Nộn rước Lý Huệ Tông về Thăng Long mà không gặp một sự kháng cự nào. Tuy nhiên, Nguyễn Nộn cũng không đủ lực lượng để truy kích quyết chiến với quân Trần.

  Tại hành cung Lý Nhân, Trần Tự Khánh sau khi cạn một chén trà, đặt chén xuống và nói:

-Như vậy hiện nay thiên hạ đã lâm vào tình trạng phân liệt với ba thế lực lớn nhất, thứ nhất thế lực của ta ở nam Thăng Long, thứ hai thế lực của Nguyễn Nộn ở Thăng Long và Bắc Giang, thứ ba là thế lực Đoàn Thượng ở phía đông. Ngoài ra còn nhiều thế lực nhỏ hơn như Đỗ Bị ở Sơn Tây, Ô Kim Hầu Lý Bát ở Ô Kim (Hoài Đức Hà Tây), họ Phạm ở Nam Sách, Bùi Đôi, Đinh Khang ở Đại Hoàng Ninh Bình, Hà Cao ở Quy Hóa (Yên Bái, Tuyên Quang). Nguy cơ lớn nhất của chúng ta là nếu như Nguyễn Nộn liên minh với Đoàn Thượng tấn công chúng ta. Theo các tướng quân ta phải làm thế nào để phát triển lực lượng đủ sức thống nhất đất nước?

  Trần Thủ Độ nói:

-Nguyễn Nộn và Đoàn Thượng không thể liên minh với nhau vì Đoàn Thượng vừa bị Nguyễn Nộn đánh bại, giết cả em của Đoàn Thượng là Đoàn Nguyễn. Theo ý của đệ, trước hết vẫn phải giành một phần lực lượng bảo vệ mặt bắc Lý Nhân và đông bắc, mặt khác cho quân tiêu diệt các sứ quân nhỏ để mở rộng đất đai, tăng cường lực lượng của ta.

  Trần Thừa nói:

-Đệ nói chí phải, ta sẽ đem hai vạn quân đánh họ Phạm, lấy đất Nam Sách.

Trần Thủ Độ nói:

-Đệ cũng đem một vạn quân đánh Lý Bát và Đỗ bị ở Quốc Oai, lấy Hoài Đức và Sơn Tây về cho ta.

  Trần Hiến Sâm nói:

-Đệ xin đem một vạn quân đánh Bùi Đôi và Đinh Khang ở Đại Hoàng, Ninh Bình.

  Trần Tự Khánh nói:

-Vậy các huynh, đệ hãy ra điểm quân xuất phát, ta chờ tin thắng trận của các huynh, đệ.

  Đầu năm 1214, Trần Tự Khánh trong hành dinh, tin tức các nơi liên tục về cấp báo:

-Dạ, bẩm chúa công, tướng Trần Hiến Sâm đã tiêu diệt được Bùi Đôi và Đinh Khang, thu phục được Đại Hoàng Ninh Binh.

-Dạ cấp báo:

-Có tin gì?

-Bẩm chúa công, Trần Thừa đã tiêu  diệt họ Phạm ở Nam Sách, thu phục được Đằng Châu.

-Cấp báo.

-Tin gì?

-Dạ, bẩm chúa công, tướng Trần Thủ Độ đã tiêu diệt Đỗ Bị, Lý Bát, thu phục đất Sơn Tây và Hoài Đức.

-Tốt lắm.

  Cùng năm đó Trần Tự Khánh tự cầm quân cùng Đỗ Năng Tuế thu phục đất Bình Hợp (Phúc Thọ, Hà Tây). Nhân đà thắng lợi đó, tháng 4 năm 1216, Trần Tự Khánh tiêu diệt luôn những sứ quân nhỏ như Đỗ Át, Đỗ Nhuế ở Từ Liêm, thu phục những vùng đất tây Thăng Long. Thanh thế quân Trần lừng lẫy, chấn động khắp nơi. Nguyễn Nộn sợ hãi, bỏ vua Lý Huệ Tông ở Thăng Long, đem quân về Bắc Giang.

  Tại Tử cấm thành, vua Lý Huệ Tông được thám mã về báo:

-Dạ bẩm hoàng thượng, thanh thế của quân Trần rất lớn, đất của họ đã sát kinh thành Thăng Long rồi ạ.

Lại có thám mã về báo:

-Dạ, Nguyễn Nộn lo sợ đã bỏ kinh thành rút về Bắc Giang rồi ạ.

-Hả, nó rút sao không báo ta biết, không hộ giá để ta cùng đi, thằng phản nghịch. Đi gọi quan nội thị và tướng Phạm Bố vào đây.

-Dạ.

  Phạm Bố và quan nội thị vào:

-Hoàng thượng vạn vạn tuế.

-Miễn lễ, bình thân.

-Tạ ơn hoàng thượng.

-Nay Nguyễn Nộn lo sợ thanh thế của Trần Tự Khánh đã bỏ Thăng Long, bỏ trẫm mà về Bắc Giang, nay các ái khanh cho ta biết ta nên dựa vào ai đây?

  Phạm Bố nói:

-Tâu hoàng thượng, họ Trần sẽ làm chủ đất nước nay mai, người thống nhất đất nước chính là Chương thành hầu Trần Tự Khánh, hoàng thượng nên về với Trần Tự Khánh.

ch-lyhuetong-1651156348.jpeg
Tranh minh họa: Vua Lý Huệ Tông (1194-1226) là vị hoàng đế thứ tám của nhà Lý, cai trị từ năm 1210 đến năm 1224. Nguồn: Internet.

 

  Quan nội thị cũng nói:

-Thần cũng mong hoàng thượng nên sớm về với Trần Tự Khánh, muốn vậy trước hết hoàng thượng nên phục hồi tước vị của ngự nữ Thuận Trinh lên là Thuận Trinh hoàng hậu, thứ hai là phải bảo vệ không cho thái hậu giết chết Thuận Trinh hoàng hậu. Trần Thị Dung mà chết, hoàng thượng sẽ rất khó tiếp xúc và về với họ Trần.

  Lý Huệ Tông nói:

-Việc hậu cung cũng không dấu được hai khanh. Đàm thái hậu liên tục bỏ thuốc độc vào cơm nước của Thuận Trinh ngự nữ. Ta phải cấm nàng đó ăn cơm do người khác mang đến mà mỗi bữa ăn phần cơm cùng ta, uống nước của ta mới bảo vệ được đến ngày nay. Ta là vua một nước sao lại khổ như vậy. Thế lực sứ quân nào mà chả nhìn ngôi báu, mong bá chủ thiên hạ. Thôi ta về với họ Trần rồi tính sau, mất còn do trời định. Ngôi báu là của trời, ta có giữ mãi cho họ Lý cũng không được.

  Im lặng một hồi lâu, Lý Huệ Tông thở dài rồi nói tiếp:

-Quan nội thị.

-Có thần.

-Ái khanh đi sứ sang hành dinh của Trần Tự Khánh đi.

-Thần tuân chỉ, sẽ hết lòng vì hoàng thượng trong chuyến đi này.

  Tại hành dinh của Trần Tự Khánh ở Cửu Liên, Khoái Châu, một sáng, Trần Tự Khánh đang uống trà sau bữa ăn sáng thì có thám mã về báo:

-Dạ bẩm chúa công, có quan nội thị của Lý Huệ Tông xin vào gặp.

-Cho vào ngay.

-Dạ.

  Quan nội thị bước vào cúi mình chào:

-Xin chào Chương Thành hầu, đã lâu không gặp.

  Trần Tự Khánh đứng dậy:

-Không dám, xin chào quan nội thị, mời ngài ngồi dùng trà.

  Sau một lượt trà, Trần Tự Khánh hỏi:

-Lý Huệ Tông sai ngài đến hành dinh của ta hẳn là có việc.

-Dạ, quan Chương thành hầu đoán việc như thần, ta đến là báo cho ngài một tin vui.

-Tin vui gì vậy?

-Hoàng thượng muốn về với họ Trần để được ngài phò tá.

-Trước đây, ta đã có thư lên tận Lạng Châu trình bày gan ruột, lòng trung của ta cách đây ba năm rồi, hoàng thượng có nghe đâu.

-Dạ, nay thì dứt khoát rồi, không về với ngài là anh vợ, họ Trần là họ ngoại thì về với ai? Đoàn Thượng ư? Nguyễn Nộn ư? Đâu có đủ lực, đâu là ruột thịt nội ngoại.

Trần Tự Khánh nói:

-Ngài về nói với hoàng thượng về với ta thì yên tâm đi. Ta còn thì bản thân, ngai vàng của ngài ấy sẽ còn. Đàm thái hậu đã mấy lần định giết em gái ta nhưng ta không chấp. Ta sẽ bảo vệ ngai vàng và cả Đàm thái hậu cho hoàng thượng.

-Đa tạ Chương thành hầu, ngài quả là cao thượng, một lòng vì dân, vì nước, vì triều đình.

-Đa tạ, ngài quá khen nhưng để bình thiên hạ mà không cao thượng thì sao nên cơ nghiệp.

  Trần Tự Khánh gọi:

-Bay đâu.

-Dạ.

-Sắp cơm rượu lên đây ta cùng vui với quan nội thị.

-Dạ, chúa công.

  Ăn uống xong, quan nội thị nói:

-Đa tạ quan Chương Thành hầu, cáo biệt, hẹn gặp lại.

  Quan nội thị về Thăng Long, thuật lại cuộc nói chuyện với Trần Tự Khánh, Lý Huệ Tông cả mừng, ngay chiều đó đến phòng của Trần Thị Dung, vừa đến cửa thì nghe tiếng nội giám quát:

-Thái hậu bảo nhà ngươi phải uống cạn bát thuốc này, không uống ta bóp cổ đổ vào miệng.

  Trần Thị Dung vừa kêu vừa khóc:

-Ta không uống, hoàng thượng đâu, cứu thiếp, hu!hu!hu!...

  Lý Huệ Tông đạp cửa bước vào. Tên nội giám cả sợ. Lý Huệ Tông hỏi:

-Thuốc gì vậy?

-Dạ, thần không biết thuốc gì, thái hậu bảo đưa và buộc ngự nữ phải uống.

-Đưa ta xem.

-Dạ.

-Bay đâu.

  Hai cấm quân bước vào.

-Dạ, hoàng thượng.

-Đổ bát thuốc này vào mồm tên nội giám.

-Dạ, hoàng thượng tha mạng, xin tha mạng.

  Hai người lính ghì tên nội giám xuống, một người đổ bát thuốc vào mồm. Thuốc chảy hết vào bụng, một lát sau tên nội giám trào máu ra miệng mà chết. Cả Lý Huệ Tông và Trần Thị Dung đều sợ xanh mặt. Trần Thị Dung còn chưa hết run rẩy. Lý Huệ Tông bảo hai cẩm y vệ:

-Cho gọi tướng quân Phạm Bố đến đây.

-Dạ.

  Phạm Bố bước vào, Lý Huệ Tông ra lệnh:

-Tướng quân chọn 10 cẩm y vệ kỵ binh bí mật chờ ta ở ngoài Tử cấm thành. Nhớ 10 ngựa cho lính và 1 ngựa cho ta. Nhớ không cho Thái hậu biết.

-Dạ, thần tuân chỉ.

  Canh ba Lý Huệ Tông cùng Trần Thị Dung ăn mặc như dân thường cùng 10 lính ngự lâm và đại tướng Phạm Bố rời Thăng Long, phi một mạch về đông nam, trời sáng thì đến huyện Yên Duyên. Tướng của Trần Tự Khánh là Lê Mịch đón vào dinh nghỉ ngơi. Lê Mịch gọi một thám mã báo:

-Nhà ngươi nhanh chóng đi đến hành dinh ở Cửu Liên báo cho chúa công rằng cho người đến đón hoàng thượng ở chỗ ta. Rõ chưa.

-Dạ, tướng quân.

  Gần trưa, cơm nước xong thì tướng Lê Vương đến:

-Hoàng thượng vạn vạn tuế, phu nhân thiên thiên tuế.

-Miễn lễ, bình thân.

-Dạ, mạt tướng vâng mệnh Chương thành hầu đem binh thuyền đón hoàng thượng và phu nhân về bãi Cửu Liên (Hưng Yên). Kính mời hoàng Thượng và phu nhân lên thuyền.

  Đến bãi Cửu Liên, Lý Huệ Tông cho gọi Trần Tự Khánh đến chầu, vua tôi gặp nhau thật lòng đồng thuận. Trần Tự Khánh lại tôn phò Lý Huệ Tông, vua Nguyên Vương (Càn Ninh) lại làm Văn Huệ Vương. Tại Cửu Liên, Thuận Trinh phu nhân sinh ra Thuận Thiên công chúa.

VI.

  Tháng 12 năm 1216, kinh thành Thăng Long chìm trong giá rét, các cung điện phô mái ngói rêu phong, những đà đao đầu rồng nhô lên trời xam xám, xen kẽ nhưng cây lá xanh xào xạc. Những cung điện bị chiến tranh tàn phá cháy nham nhở còn chưa kịp sửa chữa, ghi lại tàn dư của cuộc nội chiến tương tàn vẫn chưa kết thúc.

  Trong điện Càn Nguyên, bá quan văn võ đang dự thiết triều. Vua Lý Huệ Tông vương miện vàng ngọc lung linh, áo long bào màu vàng nhạt phai màu nhuộm bụi gió sương, xa giá long đong nay lại quay về ngồi trên ngai vàng do sự phò tá của lực lượng quân sự nhà Trần. Bá quan văn võ quỳ xuống hành lễ:

-Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.

-Miễn lễ, các ái khanh bình thân.

-Tạ ơn hoàng thượng.

-Các khanh nghe truyền chỉ.

  Bá quan văn võ lại quỳ và cúi xuống. Quan nội thị tuyên đọc: “Phụng thiên thừa vận, hoàng đế chiếu viết, xét công lao nay thấy Chương thành hầu Trần Tự Khánh có công đánh dẹp, thống nhất thiên hạ, có công phò giá, nay gia phong chức Thái úy phụ chính, thống lĩnh cả dân chính và binh quyền, khi xướng lễ không phải xướng tên. Nay phong Trần Thừa tước Liệt Hầu, làm Nội thị phán thủ. Nay phong Trần Liễu, Phùng Tá Chu, Lai Linh tước nội hầu, phong Trần Hải con trai Trần Tự Khánh tước vương, phong  Thuận Trinh ngự nữ (Trần Thị Dung) làm Thuận Trinh hoàng hậu. Khâm Thử”.

-Tạ ơn hoàng thượng.

-Hoàng thượng anh minh.

-Miễn lễ, các ái khanh bình thân.

-Tạ ơn hoàng thượng.

-Còn ai có tấu gì không?

-Bẩm hoàng thượng thần có tấu.

  Triều đình nhìn ra thì đó là Thái úy phụ chính Trần Tự Khánh.

-Ái khanh tấu đi.

-Bẩm hoàng thượng, nay giặc giã vẫn chưa dẹp hết, thần xin hoàng thượng cho thần dẹp hết những thế lực phản loạn còn lại để thống nhất nước nhà.

-Chuẩn tấu.

-Còn ái khanh nào tấu nữa không?

Im lặng, không ai tấu nữa.

-Bãi triều.

  Sau đó Lý Huệ Tông cho đi đón Đàm thái hậu và hai công chúa lưu lạc ở Bắc Giang về. Cùng tháng 6 năm đó, có nội thần vào báo với Lý Huệ Tông:

-Bẩm hoàng thượng, bẩm Thái úy phụ chính, có sứ giả của Đoàn Thượng ở Hồng Châu xin vào gặp.

-Cho vào.

  Tướng Vũ Hốt vào quỳ hành lễ:

-Hoàng thượng vạn tuế, vạn tuế.

-Miễn lễ, bình thân.

-Tạ hoàng thượng.

  Vũ Hốt đứng dậy chắp tay cúi đầu:

-Kính chào Thái úy phụ chính.

Lý Huệ Tông hỏi:

-Ngài Đoàn Thượng sai tướng quân vào kinh có việc gì không?

-Dạ, bẩm hoàng thượng, bẩm Thái úy phụ chính, chúa công họ Đoàn muốn từ nay quy phục triều đình, nguyện làm một chức quan coi giữ vùng đất Hồng Châu cho hoàng thượng.

  Lý Huệ Tông hỏi Trần Tự Khánh đứng bên cạnh:

-Quan Thái úy phụ chính thấy thế nào?

  Trần Tự Khánh đáp:

-Bẩm hoàng thượng, họ Đoàn quy phục triều đình là tốt, bớt đi những trận quyết chiến đẫm máu tương tàn. Hoàng thượng hãy phong tước cao cho họ Đoàn.

chhung-nhan-dai-vuong-1583722304-1651244529.jpg
Miếu Mẽ, Mỹ Xá, thị trấn Hưng Nhân - Nơi thơ Hưng Nhân Đại Vương Phùng Tá Chu. Nguồn: baothaibinh.com.vn

 

  Lý Huệ Tông nói:

-Vậy ta phong tước vương cho họ Đoàn, vì trước đó đã phong tước hầu rồi.

  Vũ Hốt quỳ lạy:

-Đa tạ hoàng thượng.

  Trần Tự Khánh nói:

-Về nói với chúa công của tướng quân phải mãi mãi trung thành với triều đình, đáp lại lòng ưu ái của hoàng thượng, rõ chưa.

-Đa tạ quan Thái úy phụ chính căn dặn, mạt tướng sẽ nói lại.

  Tháng 6 năm 1218, để nắm chắc thêm thế lực của họ Đoàn, Trần Tự Khánh đồng ý gả em gái là Trần Tam Nương cho Đoàn Văn Lôi, em Đoàn Thượng, vậy là đã tạm thời thu phục được đất Hồng Châu cho triều đình, thu phục được một thế lực sứ quân tương đối hùng mạnh.

  Hai năm sau, tháng 5 năm 1220, Trần Tự Khánh ngồi nhâm nhi chén trà vừa trù tính tiêu diệt Hà Cao ở Quy Hóa trước hay là Nguyễn Nộn ở Bắc Giang trước, sau đó ra lệnh:

-Tướng quân Lai Linh, tướng quân Phan Cụ nghe lệnh.

-Có mạt tướng.

-Hai tướng quân dùng thuyền đem quân tiến theo sông Lô (Tuyên Quang) tiến vào bao vây thủ phủ của Hà Cao.

-Mạt tướng tuân lệnh.

-Nội thị phán thủ Trần Thừa nghe lệnh.

-Mạt tướng nghe lệnh.

-Tướng quân đem 2 vạn quân cùng ta theo dòng sông Quy Hóa (sông Hồng) tấn công doanh trại của Hà Cao.

-Mạt tướng tuân lệnh.

  Hành dinh của sứ quân Hà Cao vừa là quân doanh vừa là nơi gia đình ở, là những căn nhà lợp ngói chen lẫn nhà sàn,  chung quanh là trại dân binh và gia nhân. Chung quanh doanh trại được vây bọc bởi dãy tường đất sét đắp cao, ngoài tường là hào sâu có nước, bên ngoài hào được vây bọc bởi lũy tre gai. Buổi sáng Hà Cao đang ngồi uống trà sau bữa ăn sáng thì có gia nhân vào báo:

-Dạ bẩm chúa công, quân của Trần Tự Khánh có hai đạo tiến theo đường thủy sắp đổ bộ đánh vào trang trại ta.

 Hà Cao hốt hoảng ra lệnh:

-Cho hết dân binh ra chặn đánh ở hai bờ sông.

-Dạ.

  Quân Trần đổ bộ lên gặp đám dân binh của Hà Cao thì lao vào chém giết. Nửa canh giờ sau, đám dân binh bị tiêu diệt, xác chết ngổn ngang, máu đỏ bờ sông. Quân Trần phá cổng tràn vào thì Trần Tự Khánh thấy Hà Cao và vợ con thê thiếp đã thắt cổ tự sát chết hết. Trần Tự Khánh thở dài nói:

-Sao không quy thuận triều đình mà sống cùng vợ con. Tự xưng hùng xưng bá mà không có thực lực thì tự chết.

  Dẹp xong Hà Cao, một vùng Thượng Nguyên Lộ (Thái Nguyên), Tam Đái Giang (Vĩnh Phú) rộng lớn yên ổn đều quy thuận triều đình. Trận đánh Hà Cao là trận đánh cuối cùng của Trần Tự Khánh. Giữa năm 1223, Trần Tự Khánh ốm nặng và cuối năm đó qua đời ở Phù Liệt, thọ 49 tuổi, được truy phong là Kiến Quốc Đại Vương. Quyền bính trong triều chuyển sang tay Trần Thủ Độ là em con ông chú của Trần Tự Khánh. Trần Tự Khánh là một tướng lĩnh xuất sắc, đánh dẹp được tất cả các thế lực cát cứ cuối thời Lý, thống nhất đất nước. Thế lực lớn nhất là Họ Đoàn cũng đã quy phục triều đình. Chỉ còn Nguyễn Nộn ở Bắc Giang nhưng thế lực không đáng kể. Tháng 12 năm 1228, Đoàn Thượng bị Nguyễn Nộn tiêu diệt, không lâu sau đó Nguyễn Nộn cũng chết. Thiên hạ vào những năm 20 thế kỷ XIII đã thu về một mối. Công lao của Trần Tự Khánh với nhà Lý, nhà Trần thật to lớn, đặc biệt đã bình thiên hạ trong thời kỳ loạn lạc, không để Đại Việt lại lâm vào tình trạng sứ quân phân liệt trầm trọng như cuối thời Ngô, đặt nền tảng và mở đường cho cuộc chuyển giao vương triều hòa bình, mở đầu cho một vương triều mới: Triều Trần, đủ sức đối phó với cuộc xâm lăng của đế quốc Nguyên-Mông sau đó 30 năm.

*       *

*

Sau đám tang của Trần Tự Khánh, vua Lý Huệ Tông thiết triều. Bá quan văn võ trong điện Càn Nguyên quỳ hành lễ:

-Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.

-Miễn lễ, các ái khanh bình thân

-Tạ ơn hoàng thượng.

-Các ái khanh nghe khẩu dụ của trẫm. Nay Thái úy Chương thành hầu Trần Tự Khánh đã mất, trẫm sắc phong Trần Thừa làm Thái úy phụ chính, tước Liệt hầu, phong Trần Thủ Độ chức Điện tiền chỉ huy sứ, tước Thượng Phẩm phụng thừa, phụ trách toàn bộ cấm quân và lực lượng quân sự ở đô thành, phong Phùng Tá Chu làm Thái phó.

  Trần Thừa, Trần Thủ Độ và Phùng Tá Chu quỳ hành lễ:

-Đa tạ ơn hoàng thượng.

  Như vậy việc Trần Tự Khánh mất đi, quyền lực của họ Trần trong triều đình nhà Lý không giảm mà lại còn tăng lên mạnh mẽ bởi chức Thái úy phụ chính đã vào tay Trần Thừa, anh trai Trần Tự Khánh, chức này không chỉ nắm quyền hành chính, dân sự, tư pháp mà còn nắm cả binh quyền. Lại thêm chức quan trọng nữa là Điện tiền chỉ huy sứ, nắm binh quyền ở kinh đô và cung cấm rơi vào tay Trần Thủ Độ, em con ông chú của Trần Tự Khánh.

  Sau buổi thiết triều, gần như giao toàn bộ quyền bính cho họ Trần, Lý Huệ Tông bảo quan nội thị:

-Đi gọi quan Thái phó Phùng Tá Chu gặp trẫm.

-Thần tuân chỉ.

  Một lát Phùng Tá Chu đến, đó là một người khoảng 30 tuổi nhưng râu tóc như một ẩn sĩ, mặc áo đội mũ văn quan. Đó là quan Thái phó Phùng Tá Chu, quê ở Phụng Thiên, Quảng Bá, Tây Hồ, người có kiến thức sâu rộng, tinh thông tam giáo, cửu lưu, bách gia chư tử, thông kinh bác cổ, giỏi Nho, lý, số, được coi là bậc tài cao đức trọng, kiến thức thâm hậu của đương thời.

  Giới trí thức phong kiến Đại Việt thời nào cũng có người trung quân ái quốc. Nhưng Phùng Tá Chu sống vào cuối thời Lý, triều đình đã suy vi, các thế lực quân phiệt hào trưởng nổi lên cát cứ, gây chiến tranh với nhau, đẩy dân tộc vào cuộc nội chiến tương tàn. Phùng Tá Chu cũng như các trí thức tiến bộ thấy cần phải tìm ra một con đường giúp bách tính tránh được tai họa chiến tranh tranh chấp tương tàn. Giải pháp duy nhất của lịch sử khi đó là tuân theo quy luật tự nhiên, cái mới phải thay cái cũ, triều đại, chế độ già nua lỗi thời phải được thay bằng triều đại, chế độ mới tiến bộ đang lên, mở ra bước phát triển mới cho dân tộc. Với Phùng Tá Chu, có đưa một người nào đó họ Lý thay Lý Huệ Tông thì cuộc đấu tranh giành quyền lực vẫn tiếp diễn, đất nước vẫn biến loạn, không thể khác được. Phải thay thế triều đại nhà Lý hết sức sống bằng một triều đại khác tràn đầy cái mới và sức mạnh mới mở ra lối thoát cho dân tộc khi đó. Ý tưởng đó ngày càng rõ nét trong tư tưởng chính trị của Phùng Tá Chu. Ôm tư tưởng chính trị như vậy, ông có mang tội là phản bội triều đình nhà Lý, một triều đình đã tín nhiệm và trọng dụng cha ông là Phùng Tá Thang rồi sau đó lại tín nhiệm và trọng dụng ông tới chức Thái phó. Không phải vì ông phản bội triều Lý mà muốn cứu nguy cho nhân dân, cho dân tộc, cho đất nước. Một triều đại, một chế độ đã lạc hậu thì phải loại bỏ, thì phải thay bằng một triều đại, một chế độ tiến bộ. Không còn cách nào khác.

  Còn với Trần Thừa và Trần thủ Độ, bây giờ họ nắm quyền hành của triều đình trong tay, họ có muốn chuyển ngai vàng từ tay nhà Lý sang tay nhà Trần không? Họ muốn. Nhưng rất may cho họ là ý muốn của họ lại phù hợp với nguyện vọng của dân tộc, của lịch sử, của thời đại đang đặt ra là phải thay đổi triều đại. Do đó, trong quan điểm chính trị này Phùng Tá Chu gặp tư tưởng của Trần Thừa, Trần Thủ Độ.

  Kiệu  đã đến Tử cấm thành cắt đứt dòng suy nghĩ của Phùng Tá Chu. Ông theo quan nội thị vào cung của Lý Huệ Tông. Phùng Tá chu quỳ xuống hành lễ:

-Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.

-Miễn lễ, bình thân.

-Tạ ơn hoàng thượng.

-Người đâu dâng trà.

-Tạ ơn hoàng thượng.

  Các ngươi lui hết ra đi.

  Trong gian phòng, khói bốc hương thơm của trà tỏa khắp phòng ấm cúng. Những lò than trong phòng Lý Huệ Tông đỏ rực xua tan giá lạnh của mùa đông năm 1223. Sau một lượt trà, Lý Huệ Tông đặt chén xuống và nói:

-Trẫm nối ngôi tiên đế vào lúc khí vận của triều Lý suy vi, suốt 10 năm nội chiến, xa giá long đong nay đây mai đó, dân tình khổ cực, lầm than đói rách vì chiến tranh. Trẫm có lỗi với thiên hạ nên trời trừng phạt, không cho có hoàng tử để kế vị, chỉ có hai công chúa với Thuận Trinh hoàng hậu, đứa lớn là Thuận Thiên công chúa, đã yên bề gia thất với trưởng nam của Phụ quốc thái úy Trần Thừa là Trần Liễu, đứa thứ hai là Chiêu Thánh công chúa năm nay mới 8 tuổi, tư chất thông minh, tháng 10 năm 1224 được phong hoàng thái tử. Trẫm muốn truyền ngôi cho Chiêu Thánh công chúa. Làm như vậy liệu có giữ yên được hòa bình và thống nhất cho thiên hạ, bình an cho bách tính không? hay là phải chọn một người con trai trong vương tôn nhà họ Lý lên ngôi?

  PhùngTá  Chu cạn một ly trà và nói:
-Hoàng thượng đã quyết chí đem lại sự thống nhất cho thiên hạ, hòa bình cho đất nước thì không nên chọn một vương tôn trong tôn thất nhà Lý lên ngôi, ngài đó không có quân quyền trong tay nên vẫn phải dựa vào họ Trần sẽ dẫn đến mâu thuẫn xung đột giữa hoàng đế mới với nhà Trần, xung đột giữa các sứ quân khác thì nước nhà không có hòa bình thống nhất, họ Lý nhà ta sẽ gặp họa bị tàn sát. Cho nên, cách tốt nhất là hoàng thượng cho công chúa Chiêu Thánh lên ngôi. Dần dà công chúa sẽ kết hôn với người con trai thứ hai của Trần Thừa là Trần Cảnh, đó là một trang nam nhi tuấn tú tài giỏi. Trần Cảnh và công chúa Chiêu Thánh hiện là học cùng lớp do thần đang dạy dỗ nên thần biết khả năng của Trần Cảnh. Sau khi thành phu thê, Công chúa Chiêu Thánh có thể nhường ngôi cho chồng hoặc là Trần Cảnh phò tá cho nữ vương thì cũng tạo nên một triều đại vững chắc, xây dựng được một triều đại hùng mạnh, bảo đảm được hòa bình thống nhất cho thiên hạ, bởi hai người này không chỉ có tài năng mà vương triều của họ còn dựa được vào lực lượng quân sự hùng mạnh của nhà Trần. Điều đó dù nhà Lý còn ngai vàng, hay có thể ngai vàng chuyển sang tay nhà Trần nhưng đều thực hiện được mong muốn của hoàng thượng cũng như của bách tính là hòa bình và thống nhất đất nước, Hoàng thượng rất thấu hiểu ngai vàng không phải là của riêng một dòng họ mà ngai vàng quyền lực là của dân tộc, của đất nước, như bà Dương Vân Nga xưa đã nhường ngai vàng cho Lê Đại Hành để cứu đất nước, như các đại thần Đào Cam Mộc, sư Vạn Hạnh của triều Lê Long Đĩnh đã trao ngai vàng cho Lý Thái Tổ nhà ta lúc mà nhà Lê đã hết năng lực. Đó là mệnh trời mà ngày nay chúng thần và hoàng thượng cũng phải tuân theo cho phải đạo. Mong hoàng thượng minh xét.

Lý Huệ Tông nói:

-Nếu mà như vậy, ái khanh hãy góp phần thúc đẩy quá trình chuyển giao quyền lực này cho hợp lý, chớ sai sót mà mang lại tai họa cho bách tính, Được như vậy ta về an nghỉ cũng an lòng.

  Không lau sau, một sáng trong phủ Thái úy phụ chính, Trần Thừa và quan Thượng phẩm phụng thừa Trần Thủ Độ, Điện tiền chỉ huy sứ tiếp kiến Phùng Tá Chu. Sau một lượt trà, Phùng Tá Chu nói:

-Hiện nay, hoàng thượng mới gần 30 tuổi không thể nói là già nhưng bệnh hoàng thượng không thuyên giảm. Vừa rồi ta tiếp kiến hoàng thượng, ngài muốn bàn giao ngai vàng cho Chiêu Thánh công chúa để về làm Thái thượng hoàng, thực tế là về nghỉ ngơi an hưởng tuổi già. Nhưng hoàng thượng muốn được nhà Trần là chỗ dựa của nữ hoàng, trực tiếp là Trần Cảnh, con thứ hai của Thái úy phụ quốc đây là phu quân để phò tá cho hoàng đế, hoặc nếu hoàng đế đồng ý sẽ nhường ngôi cho chồng để chấm dứt tranh giành quyền lực, bảo đảm hòa bình thống nhất thiên hạ, bảo đảm an toàn cho bách tính và cho dòng họ Lý. Ý của Thái úy và quan Điện tiền chỉ huy sứ như thế nào?

chtranthudo-1651332658.jpg

Thái sư Trần Thủ Độ (1194 - 1264) là người đoạt vương vị cho nhà Trần. Đây là người “đạo diễn” cho một sự thay đổi triều đại; cũng là người mang trọng trách gánh vác Hoàng triều Trần thời kỳ đầu, mở ra một vương triều huy hoàng trong cả việc giữ nước, chống giặc ngoại xâm, lẫn việc xây dựng đất nước. Nguồn: Internet.

 

  Trần Thừa nói:

-Hoàng thượng có ý như vậy là lo nghĩ cho bách tính, phúc cho bách tính và thiên hạ, chỉ sợ người đời dị nghị lại cho rằng họ Trần nay nắm binh quyền ỷ thế mạnh cướp ngôi nhà Lý.

  Trần Thủ Độ nói:

-Ý định là như vậy nhưng còn phải xem Lý Chiêu Hoàng có muốn kết duyên với cháu Trần Cảnh hay không? Rồi sau nữa có muốn nhường ngôi cho chồng hay không? Đó hoàn toàn là tự nguyện, không ai ép buộc được, thuận theo mệnh trời. Còn thiên hạ đàm tiếu là chuyện bình thường, như thái hậu Dương Vân Nga nhường ngai vàng nhà Đinh cho nhà Lê để cứu nước mà còn bị thiên hạ dị nghị này khác nhưng làm sao cản được mệnh trời.

  Sau những cuộc thương nghị như vậy thì tháng 6 năm 1225, trong điện Càn Nguyên, Lý Huệ Tông đang thiết triều. Bá quan văn võ quỳ hành lễ:

-Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.

-Miễn lễ, các ái khanh bình thân.

-Tạ hoàng thượng.

  Lý Huệ Tông nói:

-Các ái khanh đều biết trẫm năm nay chưa ngoài 30 tuổi mà sớm mắc bệnh hiểm nghèo, nửa tỉnh nửa say làm cho thiên hạ lo lắng và các ái khanh đau lòng. Nay trẫm thoái vị về làm Thái thượng hoàng để dưỡng bệnh. Quan nội thị đâu.

-Dạ, có thần.

-Tuyên chỉ.

-Dạ.

-“ Phụng thiên thừa vận, hoàng để chiếu viết: Nay ta hoàng đế Đại Việt, đế hiệu Lý Huệ Tông, 10 năm trên ngôi báu nhưng nay bị bệnh hiểm nghèo không làm tròn chức trách và bổn phận, nay truyền ngôi lại cho con gái là Chiêu Thánh công chúa, đế hiệu Lý Chiêu Hoàng, niên hiệu Thiên Chương Hữu Đạo năm thứ nhất. Tất cả đại thần quan lại lớn nhỏ trong triều đình, vương thất nhà Lý, tướng sĩ trong quân đội phải tuân theo thánh chỉ mà phò tá Chiêu Thánh hoàng đế để trọn đạo hiếu trung, giúp cho nước nhà hòa bình, thiên hạ không loạn lạc, bá tính yên vui. Khâm thử”.

  Quan nội thị đọc xong, bá quạn văn võ còn chưa hết bàng hoàng vì quá đột ngột thì từ trong cửa tả của điện Càn Nguyên. Lý Chiêu Hoàng bước ra đẹp như tiên nữ. Hoàng đế mới 8 tuổi được nội thị đỡ lên ngai vàng, áo hoàng bào cỡ nhỏ nhưng vẫn rộng thùng thình, mũ miện từng dây ngọc buông xuống lấp lánh, lung linh trước khuôn mặt đẹp. Hai con rồng vàng ở áo và ở ghế như bao lấy nữ hoàng bé nhỏ. Các quan văn võ vội quỳ hành lễ:

-Hoàng thượng vạn vạn tuế.

-Thái thượng hoàng thiên tiên tuế.

  Lý chiêu hoàng mĩm cười nói:

-Miễn lễ, các ái khanh bình thân.

-Tạ ơn hoàng thượng.

  Sự thay đổi hoàng đế, nhường ngôi và nhận ngôi nhanh quá khiến các đại thần như vừa qua một giấc mơ, khi tất cả thất thểu bước ra sân rồng để về mới biết đó là sự thật.

  Năm Ất Dậu 1225, Lý Huệ Tông nhường ngôi cho Lý Chiêu Hoàng và xuất gia, cùng Đàm Thái hậu ra ở chùa Chân Giáo trong nội điện, sau chuyển ra chùa Phù Liệt, pháp danh là Huệ Quang Thiền Sư, tạ thế ngày 10 tháng 8 năm Bính Tuất (1226). Lý Huệ Tông ở ngôi 14 năm, đi tu 2 năm, thọ 33 tuổi, di cốt táng ở tháp chùa Bảo Quang, tôn miếu hiệu là Huệ Tông hoàng đế. 

VII.

  Vài ngày sau, trong phủ Thái úy phụ chính có mặt chủ nhà là Trần Thừa, Điện tiền chỉ huy sứ Trần Thủ Độ, Thái phó Phùng Tá Chu và quan Tả Phụ Nguyễn Chánh. Bốn người ngồi trên hai ghế tràng kỷ màu gụ chạm khắc hoa lá tinh vi, khảm ngọc trai sáng bóng. Giữa bốn người đặt chiếc bàn màu nâu bong loáng. Trần Thừa mời:

-Kính mời thái phó và quan Tả phụ dùng trà cho nóng.

-Đa tạ, mời quan Thái úy.

  Bốn người cạn một lượt trà, đặt chén xuống, Trần Thừa nói:

-Tháng trước nghe quan Thái phó nói, nhưng không ngờ Thái thượng hoàng rời bỏ ngai vàng, truyền ngôi cho Chiêu Thánh công chúa cũng thật là đột ngột, không biết bên trong có ẩn tình gì không?

  Phùng Tá Chu bê chén nước vừa uống vừa nói:

-Trước đó vài ngày, Thái thượng hoàng có mời hạ quan đến nói rõ tâm ý của người, đại lược lên ngôi đã 10 năm rồi mà chiến tranh binh lửa liên miên, Lý do là triều Lý suy yếu không đủ mạnh để khống chế thiên hạ. Thái thượng hoàng muốn có một quân vương mạnh, một triều đại mạnh ra đời để thống nhất thiên hạ, đưa thiên hạ đến thái bình, tạo phúc cho bá tính.

  Nguyễn Chánh ngạc nhiên:

-Đưa  công chúa mới 8 tuổi lên ngôi mà muốn tạo ra một triều đại mạnh sao?

  Phùng Tá Chu nói:

-Ngài chưa nghe ta nói hết.

-Ngài nói tiếp đi.

-Công chúa dù là nữ hoàng nhưng cuối cùng vẫn phải lấy chồng. Người mà Thái thượng hoàng nhằm tới cho nữ hoàng không ai khác mà chính là Nhị Lang Trần Cảnh, con thứ hai của quan Thái úy phụ chính đây. Thái thượng hoàng đã khen Trần Nhị Lang còn nhỏ mà tướng mạo phi thường, có thể giúp đời yên dân. Cho nên Thái thượng hoàng muốn nhận công tử làm con mà làm chủ cơ nghiệp nước nhà, Vả lại Lý Chiêu Hoàng cũng xứng đôi với Trần Nhị Lang. Khi kết duyên xong, Trần Nhị Lang tài giỏi sẽ giúp cho nữ hoàng cai trị, hoặc nếu nữ hoàng đồng ý nhường ngôi cho chồng thì triều đại nhà Trần mạnh mẽ sẽ ra đời mà không cần một cuộc tranh giành biến loạn đau thương nữa, vừa bảo vệ cho bách tính, vừa bảo vệ cho dòng họ Lý, giống như nhà Lê đã thay nhà Đinh, hoặc như nhà Lý đã thay nhà Lê cách đây 200 năm.

  Nguyễn Chánh nói:

-Vương triều Lý do Lý Thái Tổ sáng lập năm 1009, đến nay đã hơn 200 năm, trải quan 8 đời vua, là triều đại có công xây dựng bảo vệ đất nước Đại Việt hùng cường như ngày nay, lập chiến công hiển hách, đánh Tống bình Chiêm, ơn mưa móc dồi dào thấm vào thiên hạ, khiến người người, đời đời mang ơn. Cho dù là 10 năm nay chiến tranh biến loạn nhưng thiên hạ mãi không quên được công ơn của triều Lý. Còn việc quan Thái Phó nói nhỡ ra đó là phép thử của Thái thượng hoàng xem nhà Trần có là trung thần hay là phản nghịch. Khi đó có khi lại thành ra là tội đồ cướp ngôi, bị thiên hạ chê cười thì sao?

  Trần Thủ Độ nói:

-Lời của quan Tả phụ sai rồi, nếu như Thái thượng hoàng có con trai mà tính nhường ngôi cho Trần Nhị Lang thì việc trái nghĩa ấy ta không thể vâng mệnh được. Nay Thái thượng hoàng muốn chọn người hiền để phó thác ngôi cao, nhằm mục đích vì xã tắc, vì muôn dân, vì thiên hạ, vì bách tính, ta không vâng lời là phụ sự ủy thác của người. Trần Nhị Lang được Thái Thượng hoàng chọn là ý trời, trời ban mà không nhận là có tội, mong Thái úy suy xét.

  Trần thừa nói:

-Đó là ý muốn của Thái thượng hoàng và chúng ta, việc có thành hay không còn phụ thuộc vào hoàng thượng Chiêu Hoàng có đồng ý hay không. Thứ nhất là Lý Chiêu Hoàng có đồng ý lấy Trần Cảnh hay không? Thứ hai là lấy xong rồi hoàng thượng có đồng ý nhường ngôi cho chồng hay không? Chúng ta không thể ép nữ hoàng lấy Trần Cảnh, cũng không thể ép nữ hoàng nhường ngôi cho chồng. Thiên hạ và lịch sử sẽ chê cười chúng ta. Việc này ta giao cho Phùng Tá Chu là thầy học của hoàng thượng và của Trần Cảnh và giao cho Trần Thủ Độ có thể tác động.

-Xin tuân lệnh Thái úy.

  Thái úy phụ chính Trần Thừa là anh trai của Trần Tự Khánh, sau Trần Tự Khánh là Trần Thị Dung, sau Trần Thị Dung là Trần Tam Nương. Trần Thừa có hai con trai, con đầu là Trần Liễu, con thứ hai là Trần Cảnh. Trần Thị Dung tức Thuận Trinh hoàng hậu có hai công chúa với Lý Huệ Tông. Thuận Thiên công chúa đã lấy Trần Liễu, còn Chiêu Thánh công chúa là em đã được Lý Huệ Tông nhường ngôi là Lý Chiêu Hoàng. Như vậy Lý Chiêu Hoàng phải gọi Trần Cảnh là anh con ông bác. Thực ra Lý Chiêu Hoàng và Trần Cảnh không xa lạ gì nhau, ngoài quan hệ anh em thì hai người còn là đồng môn vì cùng học một thầy là sư phụ Phùng Tá Chu.

  Một hôm Trần Thủ Độ gọi Trần Cảnh đến và bảo:

-Nay cháu đã lớn rồi phải nhận chức để làm việc trong triều.

Trần Cảnh đáp:

-Cháu mới 8 tuổi chưa đủ tuổi làm quan, còn phải học hành mới làm việc ở triều đình được.

-Nhưng chức quan này ngoài cháu ra không ai làm được, cũng không cần học, không cần chờ lớn tuổi.

-Chức quan gì vậy?

-Chức quan này là chức Chính thủ.

-Nhiệm vụ là làm gì?

-Là giúp việc trong cung của hoàng đế.

-Như vậy có được gần hoàng đế nhiều không?

-Nhiều, vì phải phục vụ cho hoàng đế mà.

-Tốt quá, vậy thì cháu làm quan Chính thủ.

chly-chieu-hoang-1602677748-1651413412.jpg
Lý Chiêu Hoàng - Nữ hoàng đầu tiên của Đại Việt. Nguồn: Internet.

 

  Một hôm Trần Cảnh bê nước cho Lý Chiêu Hoàng nên phải vào cung. Lý Chiêu Hoàng trông thấy Trần Cảnh rất vui:

-A, huynh đồng môn, huynh vào đây, có huynh ta vui quá.

  Từ đó, cung nữ hoàng vốn vắng vẻ im lìm, có Trần Cảnh thêm vui. Lý Chiêu Hoàng thường trêu đùa Trần Cảnh. Có một hôm Trần Cảnh bê chậu nước đứng chờ, Lý Chiêu Hoàng rửa mặt xong, lấy tay té nước ướt cả mặt Trần Cảnh và cười vang lên:

-Ha!ha!ha! Nhà ngươi được hoàng đế rửa mặt cho có sướng không?

-Dạ, thần không dám.

  Lần khác Trần Cảnh bê khay trầu đến cho Chiêu Hoàng. Chiêu Hoàng cầm một miếng trầu và ném một chiếc khăn cho Trần Cảnh. Trần Cảnh vội nói:

-Dạ, thần không dám.

  Lại một hôm, Chiêu Hoàng lấy khăn trầu ném cho Trần Cảnh. Trần Cảnh lạy rồi nói:

-Hoàng thượng có tha cho thần không? Thần xin vâng mệnh.

  Lý Chiêu Hoàng cười và nói:

-Tha cho ngươi. Nay nhà ngươi đã biết nói khôn rồi đó.

  Trần Cảnh về thuật lại những chuyện đó với Trần Thủ Độ. Trần Thủ Độ sang phủ Thái úy nói với Trần Thừa:

-Thái úy nên đến phủ của Thuận Trinh Thái hậu bàn chuyện tác thành phu thê cho Lý Chiêu Hoàng và Trần Cảnh.

  Trần Thừa nói:

-Té nước vào mặt, ném khăn cho nhau là trò nghịch ngợm của trẻ con, sao có thể gọi là tín hiệu đồng ý lấy nhau được.

 - Thì huynh cứ đem chuyện đó nói với Thuận Trinh hoàng thái hậu xem có khi chuyện đó là thực.

  Trần Thừa đem việc đó nói với Thuận Trinh thái hậu. Trần Thị Dung nói:

-Rồi, để muội hỏi Chiêu nhi.

  Hôm sau Thuận Trinh thái hậu nói lại với Trần Thừa và Trần Thủ Độ:

-Muội đã hỏi Chiêu nhi. Chiêu nhi đồng ý lấy Trần Cảnh. Chúng ta phải tổ chức lễ ăn hỏi và đám cưới cho hai đứa thôi.

  Rồi tháng 11 năm 1225, triều đình Thăng Long nhộn nhịp tưng bừng lễ cưới của Lý Chiêu Hoàng và Trần Cảnh. Cả hoàng thành ăn uống tiệc rượu trong ba ngày, rượu tràn như nước, xôi thịt như núi. Sau đó, lệnh đại xá thiên hạ một năm.

  Tháng 12 năm 1225, kinh thành Thăng Long chìm trong giá rét, những cơn gió lạnh thổi lá vàng bay lả tả. Nắng vàng mờ nhạt tuôn chảy, ánh nắng như những viên kim cương lọt qua kẽ lá xuống hoàng thành. Trong điện Thiên An, bá quan văn võ đang thiết triều. Ngồi trên ngai vàng là vị nữ hoàng bé nhỏ xinh đẹp, đứng bên cạnh là quan nội thị. Ba hồi trống vang lên, bá quan văn võ quỳ xuống hành lễ:

-Hoàng thượng vạn tuế, vạn tuế.

  Lý Chiêu Hoàng nói:

-Miễn lễ, các ái khanh bình thân.

-Tạ ơn hoàng thượng.

  Lý Chiêu Hoàng nói:

-Quan nội thị đâu.

-Có nô tài.

-Cho Trần Cảnh ra.

-Dạ.

  Quan nội thị dẫn Trần Cảnh ra. Đó là chàng thiếu niên khoảng 8 tuổi, dung mạo khôi ngô, khoan thai nho nhã, mặt đẹp môi đỏ, mắt sáng, oai phong lẫm liệt. Lý Chiêu Hoàng nói:

-Quan nội thị tuyên chiếu.

-Thần tuân chỉ.

  Quan nội thị đọc: “Phụng thiên thừa vận, hoàng đế chiếu viết, từ xưa nước Đại Việt ta đã có đế vương trị vì thiên hạ. Triều Lý ta vâng chịu mệnh trời, các tiên đế thánh truyền hơn 200 năm. Chỉ vì thượng hoàng có bệnh, không người nối dõi, thế nước hiểm nguy, sai trẫm nhận minh chiếu cố gượng lên ngôi, từ xưa đến nay chưa từng có việc này. Khốn nỗi trẫm là nữ chúa, tài đức đều thiếu, làm sao mà giữ nỗi ngôi báu. Trẫm dậy sớm thức khuya, chỉ sợ không cáng đáng nổi. Vẫn nghĩ tìm người hiền nhân quân tử để cùng giúp chính trị, đêm ngày khẩn khoản đến thế là cùng cực. Nay trẫm suy đi tính lại, chỉ có Trần Cảnh là người văn chất đủ vẻ, thực phong cách quân tử hiền nhân, uy nghi đường hoàng, có tư cách thánh thần văn võ, cho nên trẫm nhường ngôi báu để thỏa lòng trời, cho xứng lòng trẫm, đồng lòng hết sức cùng giúp vận nước, hưởng phúc thái bình. Vậy bố cáo thiên hạ để mọi người đều biết. Khâm Thử”.

  Quan nội thị đọc xong, Lý Chiêu Hoàng bước xuống ngai vàng, bước lại gần, cởi áo long bào khoác lên người Trần Cảnh, dắt tay bảo ngồi lên ngai vàng. Bá quan văn võ vội quỳ xuống hành lễ:

-Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.

-Hoàng hậu thiên thiên tuế.

  Trần Cảnh nói:

-Miễn lễ, các ái khanh bình thân.

-Tạ ơn hoàng thượng.

Trần Cảnh nói:

-Quan nội thị tuyên chiếu:

  Quan nội thị đọc:

-Trẫm lên ngôi lấy đế hiệu là Trần Thái Tông, niên hiệu Kiến Trung. Sắc phong Chiêu Thánh công chúa là Chiêu Thánh hoàng hậu, phong Thái úy phụ quốc Thái úy Trần Thừa là Trần Thái Tổ, thái thượng hoàng phụ chính, phong Trần thủ Độ làm Thái sư Quốc thượng phụ, nắm quyền cai trị mọi mặt trong nước, Khâm thử”.

 Bách quan văn võ lại quỳ xuống hành lễ:

-Hoàng thượng vạn vạn tuế.

-Thái thượng hoàng thiên thiên tuế.

-Còn ai tấu nữa không.

-Không có, bãi triều.

  Như vậy nhà Lý đã đi vào lịch sử sau 216 năm tồn tại, một triều đại mới bắt đầu: Triều Trần. Lý Chiêu Hoàng lên ngôi tháng 6 năm Ất Dậu năm 1225 và nhường ngôi cho chồng tháng 11 năm Ất Dậu cùng năm. Vậy, Lý Chiêu Hoàng chỉ ở ngôi có nửa năm. Sự việc chuyển giao vương triều diễn ra nhanh chóng nhưng thực ra nó đã được hình thành và chuẩn bị những nhân tố và đấu tranh gay gắt với nhau trong khoảng hơn 10 năm trước đó. Những con người liên quan đến việc chuyển giao quyền lực hai vương triều này là những nhân vật lịch sử, gắn bó vận mệnh với hai vương triều.

                                  

                                   *        *

                                         *

  92 năm sau, mùa hè năm 1317, đang là thời Trần Minh Tông, hoàng thành Thăng Long chìm trong nắng ban mai, kinh thành hơn 300 năm tắm nắng gội mưa càng thêm cổ kính. Mây bay trên trời, gió vi vu trên nhưng ngọn cây cổ thụ vươn cao, gió xào xạc đưa nhẹ những chiếc lá vàng rơi xuống đất. Phố phường, nhà cửa theo thời gian đã có nhiều thay đổi. Duy chỉ có sông Hồng vẫn như xưa, vẫn vội vã đưa nước về Lục Đầu Giang trôi ra biển.

  Dinh thự của quan Bảng nhãn, Hàn lâm học sĩ kiêm Giám tu Quốc sử Lê Văn Hưu chìm trong cây lá làm cho dinh thự vắng vẻ im lìm như nơi ẩn mình của cư sĩ. Trong căn phòng khách giữa nhà cổ kính, ngồi trên ghế tràng kỷ màu gụ khảm trai là một cụ già hơn 80 tuổi, râu tóc bạc phơ, da dẻ hồng hào, mắt sáng dưới hai bộ lông mày rậm rạp và bạc trắng, vẫn tinh anh và tràn đầy nghị  lực. Đó chính là Hàn lâm học sĩ kiêm Giám tu quốc sử Lê Văn Hưu.

  Lê Văn Hưu quê ở Phủ Lý, Đông Sơn, Thanh Hóa, sinh năm 1230, đỗ bảng nhãn năm 17 tuổi trong kỳ thi tam khôi đầu tiên thời Trần Thái Tông năm 1244, cùng khóa thi với Nguyễn Hiền, người Nam Định, đỗ trạng nguyên năm 13 tuổi, cùng với Đặng Ma La, người Thăng Long đỗ thám hoa cũng mới 17 tuổi. Sau khi đỗ, Lê Văn Hưu được Trần Thái Tông phong cho chức Binh bộ Thượng thư, sau đó là Hàn lâm học sĩ kiêm Giám tu quốc sử để viết sử nước nhà. Năm 1272, ông đã hoàn thành bộ quốc sử “Đại Việt sử ký” 30 quyển, chép sử Đại Việt từ thời An Dương Vương cho đến Lý Chiêu Hoàng. Đó là bộ lịch sử đầu tiên của nước nhà nổi tiếng đương thời được người đời hâm mộ thán phục và được vua Trần Thánh Tông khen thưởng. Vì thế, quan lại, học giả xa gần thường đến nhà Lê Văn Hưu đàm đạo về bộ  “Đại Việt sử ký” nên ông không mấy khi được rảnh rỗi.

  Lê Văn Hưu đang bê chén trà uống và suy nghĩ về bộ sử thì có gia nhân vào báo:

-Bẩm chủ nhân, có ngài Chu Văn An muốn xin vào gặp.

-Cho mời vào.

-Dạ.

  Khách bước vào, đó là một thanh niên tuấn tú, nho nhã, khoảng 25 tuổi, cúi đầu chắp tay:

*-Dạ, kính chào quan Hàn lâm học sĩ, thảo dân là hàn sĩ Chu Văn An, quê ở Thăng Long, nghe tiếng của thầy từ lâu, nay muốn xin được thỉnh giáo.

- Miễn lễ, xin mời tiên sinh ngồi.

-Bay đâu.

-Dạ.

-Rót nước mời tiên sinh

-Dạ.

-Mời tiên sinh dùng nước.

-Dạ, đa tạ thầy.

  Hai người xong một ly trà, Lê Văn Hưu hỏi:

-Tiên sinh Chu Văn An hạ cố đến có việc gì không?

  Chu Văn An đặt chén xuống và nói:

-Dạ, thưa thầy, học trò nghe tiếng thầy đã lâu, vừa rồi lại được đọc bộ sử “Đại Việt sử ký” của thầy, học trò như được mở mang tầm mắt về những lý giải về các sự kiện, những nhân vật một cách mới mẻ, chưa từng có ai lý giải được. Bái phục, bái phục.

  Lê Văn Hưu nói và như hỏi:

-Nhiều chỗ lão phu cũng chưa lý giải được những bí ẩn của lịch sử Đại Cồ Việt và Đại Việt. Tiên sinh đọc kỹ rồi có gì chỉ giáo không?

-Dạ, trong bộ sử đó, thầy chỉ mới viết từ thời Âu Lạc cho đến thời Lý Chiêu Hoàng. Thời Lý Chiêu Hoàng là cuộc chuyển giao quyền lực vương triều Lý sang vương triều Trần. Sau cuộc chuyển giao quyền lực đó, số phận những ngưởi tham gia, ví dụ như Lý Chiêu Hoàng sau này thế nào thầy?

  Lê Văn Hưu đáp:

- Sau khi nhường ngôi, Lý Chiêu Hoàng được lập làm hoàng hậu, vị hoàng hậu trẻ nhất trong số các hoàng hậu của Đại Cồ Việt và Đại Việt. Lý Chiêu Thánh sống với Trần Thái Tông từ năm hai người 8 tuổi cho đến lúc gần 20 tuổi mà hai người không có con để kế vị ngai vàng. Điều này khiến cho Thái sư Trần Thủ Độ và vợ là Linh Từ Quốc mẫu Trần Thị Dung lo sợ và ép Trần Thái Tông bỏ Chiêu Thánh hoàng hậu, lấy Thuận Thiên công chúa là vợ của Trần Liễu, anh trai của Trần Thái Tông đang có mang ba tháng, là chị dâu của Trần Thái Tông. Trần Liễu nổi loạn chống lại Trần Thủ Độ nhưng thất bại. Trần Thái Tông lấy làm hổ thẹn, bỏ ngai vàng vào Yên Tử đi tu. Nhưng trước sức ép của Trần Thủ Độ, và nghĩ tới trách nhiệm với đất nước, Trần Thái Tông đành phải chấp nhận và trở lại ngai vàng. Thuận Thiên công chúa ở với An Sinh Vương Trần Liễu được hai người con là Vũ Thành Vương Trần Doãn, thứ hai là Tĩnh Quốc Đại Vương Trần Quốc Khang, người đã cùng với con là Trần Kiện mang 2 vạn quân ra đầu hàng quân Nguyên-Mông ở mặt nam Thanh Hóa, khiến cho đất nước lâm vào tình trang nghìn cân treo sợi tóc trong cuộc kháng chiến lần thứ 2 năm 1285. Trần Quốc Khang dù là con của Trần Liễu nhưng về với Trần Thái Tông mới sinh ra. Thuận Thiên công chúa sinh tháng 6 năm Bính Tý 1216, có tên là Lý Oanh, về với Trần Thái Tông được phong hoàng hậu năm 1237, niên hiệu Chính Bình năm thứ 6, sinh ra hoàng thái tử có tên là Hoảng, sau lên ngôi là Trần Thánh Tông, người con trai nữa là Chiêu Minh Đại Vương Trần Quang Khải, Trần Quang Khải là học trò của lão phu. Thuận Thiên hoàng hậu còn sinh ra công chúa An Tư, người đã hy sinh để cứu đất nước trong cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên Mông lần 2 năm 1285. Thuận Thiên hoàng hậu mất tháng 6 năm Mậu Thân1248, thọ 32 tuổi (1216-1248), được phong Hiển Từ Thuận Thiên hoàng hậu.

chtrthtonbg-1651499762.jpg
Nguổn: Internet.

 

 -Lại nói Lý Chiêu Hoàng là hoàng đế, khi nhường ngôi trở thành hoàng hậu, khi ly hôn với Trần Thái Tông bị giáng xuống làm công chúa và sống một mình. Mãi tới năm 40 tuổi, Lý Chiêu Thánh được Trần Thái Tông ban hôn, kết duyên với Ngự sử trung tướng Lê Tần, người có công hiến kế cứu Trần Thái Tông và quân đội thoát khỏi cuộc bao vây của quân Nguyên Mông trong cuộc chiến tranh lần thứ nhất 1258 tại mặt trận Bình Lệ Nguyên. Sau khi thắng trận, Trần Thái Tông đã nói: “ Trẫm không có khanh thì đâu có ngày nay. Khanh hãy cố gắng để cùng được trọn vẹn về sau”. Chiêu Thánh công chúa kết hôn với Lê Tần năm 1258, có hai con với Lê Tần, con trai là Thượng Vi hầu Lê Tân, con gái là Ứng thụy công chúa Lê Ngọc Khuê. Chiêu Thánh công chúa qua đời tháng 3 năm mậu Dần, 1278, thọ 61 tuổi (1218-1278). Lý Chiêu Thánh trải qua những thụy danh Lý Phật Kim, Lý Thiên Hinh, Chiêu Thánh công chúa, Hoàng Thái Tử, Chiêu Thánh hoàng đế, Chiêu Thánh hoàng hậu, Chiêu Thánh công chúa. Các thụy danh và tên gọi nói lên cuộc đời thăng giáng của bà khi lên ngôi và khi nhường ngôi hoàng đế, khi kết duyên với Trần Thái Tông và khi ly hôn. Tên và danh thụy của bà phản ánh cuộc thăng trầm trong chuyển giao quyền lực của vương triều.

  Chu Văn An hỏi:

-Dạ, thưa thầy, còn nhân vật chủ đạo thứ hai trong cuộc chuyển giao vương triều này là Trần Thái Tông?

-Lê Văn Hưu đáp:

 -Người đứng ở trung tâm của cuộc chuyển giao vương triều là Trần Thái Tông. Trần Thái Tông tên húy là Trần Cảnh, cha là Trần Thừa, mẹ là Lê Thị Thái. Trần Thái Tông sinh ngày 9 tháng 7 năm 1218 tại Hải Ấp. Như vậy khi lên ngôi Trần Thái Tông mới có 7 tuổi. Nhưng với Trần Thái Tông, những người chọn ông để bàn giao quyền lực vương triều đã hoàn toàn chính xác khi lựa chọn để phó thác nhiệm vụ to lớn nặng nề, đặt vận mệnh tương lai đất nước vào tay vị hoàng đế trẻ tuổi. Lớn lên, Trần Thái Tông là một vị hoàng đế anh minh tài giỏi về mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, giáo dục, quân sự để đưa đất nước tiếp tục phát triển cao hơn mà nhà Lý đang dang giở, để bảo vệ đất nước trước sự xâm lược hung hãn của đế quốc Nguyên-Mông, một đế quốc to lớn nhất thời đại đang chinh phục toàn thế giới. Trần Thái Tông đã cải tổ luật pháp, đưa luật pháp thời Trần thành một hệ thống với “Quốc Triều thông chế” 20 quyển, cải tổ hành chính, phân định rạch ròi hệ thống quan văn và quan võ trong bộ máy nhà nước, quy định các kiểu áo, mũ, xe kiệu của quan lại, trả lương cho quan lại, chia cả nước làm 12 lộ đứng đầu là An phủ chánh, phó sứ, khuyến khích và ra nhiều chính sách tạo điều kiện cho nông, thương nghiệp phát triển, chú ý đắp đê điều và đào nhiều sông ngòi cho thông thương, đảm bảo thủy lợi cho nông nghiệp, cải cách giáo dục trong kiến thức toàn diện của tam giáo đồng nguyên, nhưng đẩy mạnh phát triển Nho giáo trong học hành và mở các kỳ thi, năm 1232-1239 mở các khoa thi thái học sinh, năm 1247 mở kỳ thi lấy tam khôi: chọn học vị trạng nguyên, thám hoa, bảng nhãn trong các kỳ thi Nho học để chọn nhân tài cho đất nước. Mở Quốc học viện, cho thờ Chu Công Đán, Khổng Tử, Mạnh Tử và Thất thập nhị hiền (72 môn sinh giỏi của Khổng Tử), mở Giảng võ đường để đào tạo tướng lĩnh quân sự, ra sức xây dựng quân đội hùng mạnh, thiện chiến. Trần Thái Tông đã khôi phục lại Hội Thề  đền Đồng Cổ thời Lý (ở Yên Thái, Thăng Long) để củng cố lòng trung thành của quan lại. Ông đặt ra lệ Thái thượng hoàng sớm nhường ngôi cho vua trẻ để kèm cặp, giáo dục hoàng đế trẻ, ngăn chặn sự tranh giành quyền lực, tương tàn của các hoàng tử khi mà Thái thượng hoàng còn đó. Trần Thái Tông còn là Thiền sư Phật giáo với nhiều tác phẩm lý luận ảnh hưởng đến Thừa phái Trúc Lâm, Phật giáo mang màu sắc Việt Nam. Ông còn là nhà thơ lớn của Đại Việt. Hơn hết ông là nhà quân sự đã lãnh đạo nhân dân đánh bại cuộc xâm lược lần thứ nhất của giặc Mông-Cổ vào Đại Việt năm 1258, mở đầu cho sự sụp đổ của Đế quốc Mông Cổ trên toàn thế giới. Ông là nhà chính trị, nhà kinh tế, nhà quân sự, nhà Phật học, nhà thơ, nhà văn, trên hết ông là anh hùng dân tộc. Dưới thời của ông "Quốc gia vô sự, nhân dân yên vui”.Trần Thái Tông mất tháng 5 năm 1277, thọ 59 tuổi tại điện Vạn Thọ, Thăng Long, mai táng ở Chiêu Lăng, phủ Long Hưng, Đại Việt, truy phong thụy hiệu Thần Văn Thánh vũ Nguyên Hiếu Hoàng Đế.

  Lê Văn Hưu ngừng lại, uống một ly trà và nói tiếp:

  -Các con của Trần Thái Tông cũng là những anh hùng tuấn kiệt. Trần Tịnh (mất năm 1233), Trần Thánh Tông (Trần Hoảng), Chiêu Minh Đại Vương Trần Quang Khải, Chiêu Văn  Vương Trần Nhật Duật, Vũ Uy Vương Trần Duy, Bình Nguyên Vương Trần Nhật Vĩnh, Minh Hiến Vương Trần Quốc Uất, Tĩnh Quốc Đại Vương Trần Quốc Khang, Thái Đường Công chúa, Thiều Dương công chúa, Thụy Bảo Công Chúa, An Tư Công chúa. Các hoàng tử của Trần Thái Tông, trừ Chiêu Quốc Vương Trần Ích Tắc đầu hàng giặc, còn lại đều là những tướng lĩnh góp phần to lớn vào những cuộc kháng chiến chống quân Nguyên-Mông xâm lược trong các năm 1285 và 1287-1288.

 - Thưa thầy, còn những người liên quan tác động đến cuộc chuyển giao vương triều như Linh Từ Quốc mẫu, Trần Thủ Độ, Trần Thừa và Trần Liễu?

-Thuận Trinh hoàng Thái hậu Trần Thị Dung, sau khi Lý Huệ Tông qua đời năm 1226, được gọi là Thiên Cực công chúa. Sau đó bà trở thành phu nhân của Thượng Phụ Thái sư Trần Thủ Độ. Bà qua đời tháng giêng năm Kỷ Mùi (1259), Thụy hiệu là Linh Từ Quốc Mẫu, an táng tại đền Ngừ, Hưng Hà, Thái Bình.

  -Trần Thủ Độ, con Trần Thủ Huy, em Trần Lý, có vai trò quan trọng trong chuyển giao quyền lực Lý sang Trần. Ở triều  Trần, ông giữ chức Thượng phụ Thái sư, quyền nghiêng cả nước. Trần Thủ Độ mất ngày 22-2-1264, thọ 70 tuổi (1194-1264), thụy hiệu Trung Vũ Đại Vương.

  -Trần Thừa, thái thượng hoàng đầu tiên của nhà Trần, coi như Trần Thái Tổ, mất ngày 17 tháng 2 năm 1234, thọ 50 tuổi (1184-1234), được truy phong Thùy Dụ Chí Hiếu Hoàng Đế

  -Anh Trần Thái Tông là Trần Liễu, con cả của Trần Thừa. Trần Liễu sinh năm 1211 tại phủ đệ Tinh Cương, phủ Long Hưng (Hưng Hà, Thái Bình). Năm 1228 được phong Thái úy lúc 17 tuổi, năm 1234 là Phụ chính. Năm 1237 nổi loạn chống lại Trần Thủ Độ vì phu nhân là Thuận Thiên công chúa bị đưa về làm hoàng hậu cho Trần Thái Tông. Nhưng cuộc nổi loạn thất bại. Trần Liễu mất năm 1251, thọ 40 tuổi, được truy phong Khâm Minh Đại Vương. Công lao to lớn nhất của Trần Liễu là sinh ra và đào tạo Trần Quốc Tuấn, tức là Hưng Đạo Đại Vương, người đã lãnh đạo triều đình Trần và nhân dân Đại Việt đánh bại hai lần xâm lược to lớn hung bạo của đế quốc Nguyên-Mông, bảo vệ được độc lập dân tộc, mở đầu sự sụp đổ cho đế quốc Nguyên-Mông trên khắp thế giới. Trần Hưng Đạo là anh hùng dân tộc, là danh nhân quân sự của Đại Việt.

  Chu Văn An bê cốc trà nóng vừa nhâm nhi vừa suy nghĩ, ưu tư, cuối cùng nói:

-Đa tạ thầy đã giúp con hiểu rõ ràng vấn đề. Những người lựa chọn và thúc đẩy chuyển giao vương triều đã trở thành những nhân vật lịch sử. Họ đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình, giao đất nước và tay những vị hoàng đế, một triều đại mới, phát triển hơn để có sức mạnh, đưa dân tộc đến hưng thịnh mọi mặt, chuẩn bị vượt qua được những cơn bão táp bên ngoài đang tràn vào, đánh bại chúng để tồn tại và phát triển.

  Lê Văn Hưu cũng vừa uống trà vừa nói:

-Đúng như tiên sinh nói, lão phu cũng chưa giải mã hết những bí ẩn của lịch sử vừa là ngẫu nhiên của con người, vừa là tất nhiên của định mệnh, của luật trời.

  Hai người vừa uống trà vừa nhìn ra ngoài sân. Nắng rải loang lổ như những hạt kim cương lấp lánh, gió thổi xạc xào. Không gian Kinh thành như có muôn vạn linh hồn của các anh hùng hào kiệt đang về tụ hội, mừng thời kỳ thịnh trị của Đại Việt dưới Vương Triều Trần.