I
Bấy giờ là mùa hạ năm 1625, miền Thuận Hóa miền Trung Đại Việt chìm trong ánh nắng chói chang. Núi Ngự Bình, núi Bân xanh ngát soi bóng xuống dòng Hương Giang. Dòng Hương Giang như dải lụa mỏng lung linh êm đềm lặng lẽ đưa nước về xuôi. Hai bên bờ sông các làng Phú Xuân, Kim Long xanh ngát uốn quanh theo bờ sông như bức tranh thủy mạc. Vài con đò xuôi ngược không rõ đi về nơi đâu vô định.
Trong làn nắng mênh mang, từ bờ sông Hương đi lên phía Bắc khoảng 6 dặm thì gặp làng Phước Yên, huyện Quảng Điền. Phước Yên bây giờ không còn là làng quê xanh ngát bình yên như xưa. Năm 1613, chúa Nguyễn Phúc Nguyên sau khi kế vị Nguyễn Hoàng thì năm 1626 đã dời thủ phủ từ Dinh Cát vào Phước Yên để chuẩn bị lâu dài cho cuộc chiến tranh chống chúa Trịnh ngoài Bắc. Bấy giờ những cuộc tấn công của quan Trịnh vào Thuận Hóa để tiêu diệt nhà Nguyễn là không thể tránh khỏi. Ái Tử là thủ phủ từ thời Chúa Tiên Nguyễn Hoàng từ 1558-1570. Từ 1570 Nguyễn Hoàng dời thủ phủ về Trà Bát rồi 1600, Người lại dời thủ phủ đến Dinh Cát nhưng vẫn chỉ nằm loanh quanh ở phủ Triệu Phong, Quảng Trị, rất gần với mặt trận giao tranh khi quân Trịnh tấn công. Do đó năm 1626, Nguyễn Phúc Nguyên quyết tâm dời thủ phủ về Phước Yên, Thuận Hóa cho xa hẳn về phía Nam. Dù thủ phủ đã xa mặt trận nhưng khi xây dựng, thủ phủ mới vẫn nặng tính chất phòng thủ. Con sông Bồ rộng lớn bao quanh ba mặt Tây, Đông và Nam của thủ phủ, chỉ còn mặt Nam là nối với đất liền. Giữa một khu bán đảo, một bức tường dầy xây bằng gạch bao quanh một khu vực rộng lớn. Trong thành nổi lên lâu đài, cung điện lầu son gác tía sơn son thếp vàng lung linh tỏa sáng. Những lâu đài, cung điện chìm trong những rặng cây xanh mơ màng. Qua chính điện ở phía Bắc là phủ Tiết chế. Sau phủ Tiết chế là tòa Trung đường, Nghị đường, Hậu đường, Tĩnh đường. Nội cung còn có lầu Ngũ phượng là nơi ở của các cung phi. Sau phủ chúa là vườn Ngự uyển.
Trên sông Bồ những chiếc thuyền sang trọng của các quan phủ chúa đậu san sát phía Nam màu sắc rực rỡ. Các quan viên đậu thuyền ở đó rồi đi thẳng lên cửa phía Nam rộng trông ra bờ sông. Bên ngoài tường thành là trại lính, trại nuôi voi, ngựa phục vụ cho đi lại và chiến đấu.
Trong dinh thự lộng lẫy của mình, chúa Nguyễn Phúc Nguyên ăn sáng xong vội bước vào thư phòng làm việc. Hôm nay là một ngày bận rộn vì đón khách đặc biệt. Số là hai hôm trước, quan Khám Lý Hoài Nhân là Trần Đức Hòa có tiến cử một người mà đại nhân Trần cam đoan là một nhân tài có tài kinh bang tế thế hiếm có, đó là Đào Duy Từ, quê ở phủ Tĩnh Gia, trấn Thanh Hóa. Theo Trần Đức Hòa thì Đào Duy Từ uyên thâm kinh sử, là nhà chính trị, nhà quân sự, một chiến lược gia, đặc biệt là tài thiết kế các công trình quân sự phòng thủ. Nguyễn Phúc Nguyên nói:
-Nhân tài thì thời nào cũng cần, đặc biệt chúng ta đang cần nhân tài tổ chức hành chính, quân sự để xây dựng bảo vệ Đàng Trong. Đại nhân hãy dẫn Đào Duy Từ tới gặp ta.
-Xin vâng lệnh chúa công.
Nguyễn Phúc Nguyên ngồi vào ghế, bộ bàn ghế tràng kỷ gỗ lim khắc hoa lá cầu kỳ, khảm ngọc trai sáng bóng. Sau một chén trà Nguyễn Phúc Nguyên giở bản tường trình về Đào Duy Từ do Trần Đức Hòa dâng lên hôm trước. Chúa phải đọc xong sáng nay vì chiều nay theo hẹn đã phải đón Đào Duy Từ có Trần Đức Hòa cùng tới. Chúa ngồi đọc chăm chú, hai bên có hai vệ sĩ đứng quạt. Cách không xa ngoài cửa hai thị nữ khoanh tay đứng chờ sai bảo.
Theo bản đệ trình của Trần Đức Hòa thì Đào Duy Từ hiệu là Lộc Khê, người xã Hòa Trai, Huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, trấn Thanh Hóa. Cha Đào Duy Từ là Đào Tá Hán làm nghề hát chèo, mẹ là Vũ Kim Chi. Thuở thanh thiếu niên Đào Duy Từ học rộng biết nhiều nhưng luật nhà Lê cấm con nhà đào hát không được đi thi. Ông buồn bực và căm giận chế độ vô lý của nhà Lê -Trịnh. Không muốn uổng phí tài năng, năm Ất Dậu 1625, Đào Duy Từ trốn vào Đàng Trong để mong theo chúa Nguyễn. Đào Duy Từ vào Vũ Xương và sau đó vào Hoài Nhân đi làm thuê cho một phú ông ở Tùng Châu. Phú ông thấy Đào Duy Từ học rộng tài cao hơn người liền nói với Trần Đức Hòa. Trần Đức Hòa cho gọi đến hỏi mọi chuyện, Đào Duy Từ đều thông hiểu cao xa sâu rộng, liền cho ở nhà và gả con gái cho. Đào Duy Từ có bài thơ “Ngọa Long Cương” thường ví mình là Ngọa Long tiên sinh đời nay. Nguyễn Phúc Nguyên đọc bài thơ “Ngọa Long cương”, lại đọc đến cuốn binh pháp “Hổ trướng khu cơ” của Đào Duy Từ thì gật đầu tâm đắc:
-Quả là một nhân tài mà ta đang cần.
Chiều hôm đó khi Nguyễn Phúc Nguyên đang ngồi ở phòng khách thì có nội thị vào báo:
-Dạ, Bẩm chúa công, có quan Khám lý Trần Đức Hòa và một đại nhân đi cùng muốn vào yết kiến.
-Cho vào ngay.
-Dạ.
Khi nội thị đi rồi, Nguyễn Phúc Nguyên mở cửa ngách đi ra. Đào Duy Từ thấy chúa Nguyễn Phúc Nguyên mặc áo trắng sơ sài, lại không mở cửa chính đã không hài lòng. Trần Đức Hòa vội chắp tay:
- Kính chào chúa công.
Nguyễn Phúc Nguyên đáp:
- Miễn lễ, mời vào.
Trần Đức Hòa đáp:
-Đa tạ chúa công.
Nhưng Đào Duy Từ không chào chúa Nguyễn Phúc Nguyên, không đáp lễ, còn kéo áo Trần Đức Hòa định đi ra. Cả Nguyễn Phúc Nguyên và Trần Đức Hòa đều ngạc nhiên. Nguyễn Phúc Nguyên chợt thấy bộ quần áo sơ sài của mình thường mặc cho thoái mái ở cư gia chứ không phải để tiếp khách, cửa chính chưa mở liền nói:
-Ta xin lỗi, hai đại nhân chờ chút.
Nguyễn Phúc Nguyên vội đi vào mặc triều phục, mở cửa chính bước ra:
-Chào hai đại nhân, thất lễ, thất lễ, xin mời vào.
Khi đó Đào Duy Từ mới chắp tay đáp lễ:
- Không dám, kính chào chúa công, đa tạ, đa tạ.
Chủ khách chia nhau ngồi. Gia nhân rót trà. Sau một lượt trà, chúa Nguyễn Phúc Nguyên nói:
- Hai đại nhân đều biết, ta đã cắt đứt đi lại với Lê-Trịnh, không nộp thuế theo quy định hàng năm, không vào chầu nữa, chiến tranh sẽ nổ ra. Trịnh mạnh ta yếu. Xin tiên sinh cho biết làm thế nào để ta thắng quân Trịnh, giữ vững cơ nghiệp Đàng Trong này của ta?
Đào Duy Từ đáp:
-Bẩm chúa công, có thể nói thế và lực của quân Lê-Trịnh hiện nay rất mạnh, đặc biệt là sau khi tiêu diệt được nhà Mạc. Địa bàn lãnh thổ bao trùm toàn bộ miền Bắc, Bắc miền Trung Đại Việt, bao trùm cả miền núi và đồng bằng, Bắc miền Trung thì bao gồm từ Thanh Hóa đến Bố Chính, sức người, sức của rất to lớn. Hiện nay mỗi lần động viên, Trịnh có thể huy động được 30 vạn quan, thủy binh gồm 200 chiến thuyền, kỵ binh khoảng 3 vạn, tượng binh khoảng 500 thớt voi, vũ khí đã được cải thiện đáng kể, ngoài giáo mác, cung tên còn thêm súng hỏa mai và cục ném cháy gọi là nổ tạc đạn (hỏa cầu). Đại bác đặt trên thành phòng thủ và còn đặt trên chiến thuyền. Đó là chỗ rất mạnh của quân đội Lê-Trịnh hiện nay. Còn Đàng Trong của chúa công, phía Bắc từ Nam sông Linh Giang (sông Gianh), phía Nam đến Quảng Nam.
Các năm tiếp theo đời chúa Nguyễn Hoàng mở rộng đến Quảng Ngãi, Quy Nhơn. Năm 1611, Tiên chúa Nguyễn Hoàng đã sai tướng Văn Phong đánh lấy được Phú Yên. Địa bàn như vậy không phải là nhỏ nhưng đó là một dải đất hẹp, khô cằn, nắng gió, phía Đông là biển, phía Tây bị dãy Trường Sơn chắn lối. Tuy nhiên, điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt đã đã rèn luyện cho người dân miền Trung gốc xưa là dân Thanh- Nghệ vốn dày dạn kiên cường, có truyền thống đoàn kết gan dạ, bất khuất. Bây giờ chúa công mà động viên hết cả miền Trung cũng chỉ được 10 vạn quân mà thôi. Như vậy xét toàn diện tổng thể thế và lực Đàng Trong ta kém hơn Đàng ngoài nhiều lần.
Chúa Nguyễn Phúc Nguyên sốt ruột:
-Vậy khi quân Trịnh dùng 20 vạn quân, thậm chí 30 vạn quân tấn công theo đường thủy và bộ, ta làm thế nào mong tiên sinh chỉ giáo?
Đào Duy Từ ung dung uống một ly trà, ngã người tựa vào ghế tràng kỷ, mắt lim dim nhìn trần nhà nói:
-Hàn sĩ đã có cách nhưng không biết chúa công có chịu nghe hay không?
Nguyễn Phúc Nguyên đáp:
-Tiên sinh nói gì lạ vậy, kế sách giữ nước, giữ cơ nghiệp của cha ông sao ta lại không nghe. Ta hiểu cái tội to lớn nhất của con cháu là làm mất đất nước của cha ông để lại. Mong tiên sinh chỉ giáo.
Đào Duy Từ đáp:
-Quân Trịnh có thể mạnh với điều kiện tác chiến ở Đàng Ngoài nhưng khi đem quân vào Đàng Trong thì bộc lộ chỗ yếu cơ bản và khó khăn. Thứ nhất huy động 10 đến 20 vạn quân là phải bảo đảm lương thực, khí giới đạn dược. Xưa nay không ít những đội quân hàng trăm vạn mà tan vỡ vì thiếu ăn và đói khát. Cho nên khi tiến vào Đàng Trong, quân Trịnh chỉ có thể kết thúc chiến tranh nhanh chóng. Nếu chiến tranh kéo dài một vài tháng, dù có 20, 30 vạn quân Trịnh vẫn thua.
Chúa Nguyễn Phúc Nguyên hỏi:
-Muốn quân Trịnh kéo dài chiến tranh thì quân ta phải rút lui chiến lược, sau đó phản công chiến lược. Nhưng tiên sinh biết rồi đấy, đất chúng ta dài và hẹp, rút lui chiến lược đi đâu thì bộ binh Trịnh, nhất là thủy binh sẽ truy kích và tiêu diệt?
Đào Duy Từ đáp:
-Đúng như chúa công nói, điều kiện lãnh thổ dài và hẹp của ta không thể rút lui chiến lược được, chỉ còn cách ngăn chặn quân địch ngay từ Nam sông Linh Giang và ở phía Bắc sông Nhật Lệ.
Trần Đức Hoài hỏi:
-Quân Trịnh mạnh, ta làm sao ngăn chặn được, không khéo quân ta bị tiêu diệt hết.
-Nhạc phụ và chúa công hẳn biết từ Bắc đi vào Thuận Hóa phải qua sông Linh Giang và sau đó tới sông Nhật Lệ. Địa hình của nam sông Linh Giang và phía bắc sông Nhật Lệ rất hiểm trở, phía tây của sông Linh Giang đến Nhật Lệ là dãy Hoành Sơn hiểm trở, một bên là biển Đông. Từ Nam sông Linh Giang đến Nhật Lệ chỉ có một đồng bằng nhỏ hẹp. Mục đích của ta là ngăn không cho quân Trịnh theo con đường này vượt sông Nhật Lệ để vào Thuận Hóa. Nếu chúa công đồng ý, hàn sĩ sẽ cho xây dựng phòng tuyến chắn giữa hai đầu núi và biển tạo nên cái nút thắt cổ chai bịt lối ra vào. Trên chiến lũy đặt nhiều đại bác và các vũ khí khác. Quân địch khi vượt sông Linh Giang để vào sông Nhật Lệ buộc phải đi theo con đường nhỏ hẹp giữa hai phòng tuyến này. Hai phòng tuyến đó là hiểm địa, dội đại bác, chất cháy, tên , bắn đá xuống. Quân Trịnh chắc chắn bị hao binh tổn thất nặng nề và phải rút lui.
Nguyễn Phúc Nguyên vui mừng:
- Vậy mà ta không nghĩ ra. Tiên sinh đúng là Gia Cát Lượng tái thế, trời phái đến để cứu Đàng Trong. Nhưng mà ai sẽ chỉ huy xây dựng chiến lũy cho đúng với yêu cầu của tiên sinh?
Đào Duy Từ đáp:
-Nếu chúa công không chê, hàn sĩ xin được chỉ huy xây dựng công trình quan trọng này. Chỉ mong chúa công cho thêm một tướng lĩnh tài năng để huy động quân nhân, huy động nguyên vật liệu.
Nguyễn Phúc Nguyên nói:
-Không biết cử ai được đây?
Trần Đức Hoài nói:
-Tôi nghe nói Nguyễn Hữu Dật là một trong những tướng giỏi của chúa công, có thể cùng với Đào tiên sinh đảm đang công việc này.
Nguyễn Phúc Nguyên nhớ ra:
- À đúng rồi, tướng Nguyễn Hữu Dật vốn dòng dõi tướng Nguyễn Bặc, đại thần nhà Đinh và hậu duệ nhà cụ Nguyễn Trãi, khai quốc công thần Hậu Lê. Cha của Nguyễn Hữu Dật đã theo Tiên chúa Nguyễn Hoàng vào Nam năm 1558 và lập được nhiều công lao. Còn Nguyễn Hữu Dật là một tướng tài đức, là tâm phúc của ta. Giao việc cho người này ta và Đào tiên sinh mới yên tâm.
Nguyễn Phúc Nguyên gọi:
- Người đâu.
- Dạ, bẩm chúa công.
- Làm tiệc rượu để ta khoản đãi Trần đại nhân và Đào tiên sinh.
- Dạ.
Đào Duy Từ nói:
- Bẩm chúa công, còn nữa:
- Còn gì nữa tiên sinh?
- Bẩm chúa công quân sự chỉ là một phần của toàn bộ chính sách cai trị của triều đình, của nhà nước. Hàn sĩ sẽ giúp chúa công cải cách hành chính, cải cách bộ máy triều đình quan lại sao cho tinh gọn mà hiệu quả, tuân theo phép nước. Đó là cái gốc của sức mạnh quân sự. Hàn sĩ còn có thể giúp chúa công chấn chỉnh lại phong tục tập quán, phát triển thuần phong mỹ tục, phát triển văn hóa tinh thần.
Đào Duy Từ nói thêm:
- Ngay bây giờ chúa công phải cho lập công binh xưởng chế tạo 100 khẩu thần công để đặt trên chiến lũy, chế tạo hàng trăm khẩu để đặt trên chiến thuyền, chế tạo tạc đạn (hỏa cầu) để ném vào địch, chế tạo súng hỏa mai cho từng binh sĩ bên cạnh gươm giáo cung tên. Mở công binh xưởng đóng nhiều loại chiến thuyền. Có những chiến thuyền đặt 3 đại bác, có những chiến thuyền lớn đặt 10 đại bác. Khi có chiến lũy, có nhiều vũ khí, đặc biệt là súng thần công thì lo gì quân Trịnh tấn công. Chúa công có thể kê cao gối mà ngủ.
- Quân Trịnh cũng có đại bác thì ta làm sao?
- Xin chúa công yên tâm. Đại bác nặng, bộ binh không thể đem theo được khi hành quân. Đại bác chỉ có thể đặt trên chiến thuyền hoặc trên mình voi nhưng điều đó không đáng kể.
Chúa Nguyễn Phúc Nguyên nói:
- Đa tạ tiên sinh, tiên sinh đã giải đi nỗi lo lắng trong lòng ta bấy lâu nay là làm thế nào để Đàng Trong hùng mạnh, trước hết là làm thế nào để phòng thủ đánh bại các cuộc tấn công của quân Trịnh. Bây giờ cũng đã đến giờ ăn cơm. Xin mời Trần đại nhân và Đào tiên sinh uống với ta vài ly rượu mừng cuộc hội ngộ.
Trần Đức Hòa và Đào Duy Từ chắp tay:
-Đa tạ chúa công.
Ngay ngày hôm sau, chúa Nguyễn Phúc Nguyên thiết triều tại Nghị Sự Đường, đông đủ bá quan văn võ. Có những đại thần rường cột của Đàng Trong như thế tử Nguyễn Phúc Lan, tướng võ Nguyễn Hữu Dật, Trương Phúc Phấn, Tống Hữu Dật, Nguyễn Cửu Kiều, Tôn Thất Tráng, Trần Đức Hòa. Nguyễn Phúc Nguyên cũng mời Đào Duy Từ ở lại tham dự triều chính. Khi Nguyễn Phúc Nguyên ngồi vào ghế chúa, cả triều đình đứng dậy chắp tay hô lớn:
- Xin kính chào chúa công, chúa công thiên tuế, thiên tuế.
Quảng Bình Quan (cổng hạ Lũy Thầy).
Năm Tân Hợi (1631), theo lệnh chúa Nguyễn Phúc Nguyên (Đàng Trong), Tổng công trình sư Đào Duy Từ đã chính thức cho người khởi công đào đắp hệ thống Lũy Thầy và hoàn thành sau 3 năm, bắt đầu từ núi Đầu Mâu (nay ở làng Lệ Kỳ, xã Vĩnh Ninh, huyện Quảng Ninh) và kết thúc ở cửa biển Nhật Lệ (Đồng Hới). Lũy Thầy có tổng chiều dài khoảng 34 km, chiều cao thành lũy thường 12 mét, có đoạn chỉ 3 – 6 mét tùy theo địa hình và dụng ý sử dụng. Bề mặt đỉnh lũy luôn rộng rãi, người hay cả voi, ngựa có thể dễ dàng đi lại trên đó. Cứ mỗi đoạn 40 thước lại xây một pháo đài, đặt súng Thần công án ngự. Nguồn: Internet
Nguyễn Phúc Nguyên nói:
- Miễn lễ, các đại nhân bình thân.
- Tạ ơn chúa công.
Nguyễn Phúc Nguyên nói:
- Qua tin của thám mã từ Thăng Long, cuộc chiến giữa Lê-Trịnh và nhà Mạc đã đến hồi kết thúc. Nhà Trịnh sau khi tiêu diệt nhà Mạc sẽ rảnh tay dồn lực lượng tấn công Đàng Trong của chúng ta. Ta đã dời thủ phủ từ Trà Bát, Tiệu Phong Quảng Trị vào đây để xa chiến trường, xa tầm tấn công của nhà Trịnh. Nhưng thế lực nhà Trịnh hiện nay rất mạnh. Có ai bảo đảm rằng quân Trịnh không vượt qua sông Linh Giang, sông Nhật Lệ vào đây. Chúng ta làm gì và lấy gì để ngăn chặn quân Trịnh ngay từ bắc sông Linh Giang, tức là nam sông Nhật Lệ. Các vị có cao kiến gì không?
Cả triều đình im lặng. Một vài khắc trôi qua. Nguyễn Phúc Nguyên nói tiếp:
- Ta và các đại nhân, những ai đau đáu trong lòng, lo nghĩ cho cơ nghiệp của Đàng Trong, trong đầu luôn có câu hỏi đó mà không giải đáp được. Vừa may, đại nhân Trần Đức Hòa đã tiến cử cho ta một danh tài đất Bắc: Tiên sinh Đào Duy Từ. Chiều hôm qua, ta cùng đại nhân Trần Đức Hòa đã đàm đạo với tiên sinh mới thấy tiên sinh là người uyên bác mọi lĩnh vực, là nhà chính trị, nhà quân sự, nhà văn hóa, nhà thiết kế xây dựng các công trình phòng thủ. Tiên sinh đã giải mã được tất cả những vấn đề khó khăn mà Đàng Trong chúng ta đang gặp phải, nếu thực hiện được thì sẽ chiến thắng quân Trịnh, bảo vệ được Đàng Trong, xây dựng một nhà nước, một quân đội hùng mạnh, một xã hội có nền kinh tế, văn hóa phát triển. Các vị sau này hãy làm quen và tiếp xúc với Tiên sinh Đào Duy Từ xem lời ta nói có đúng không. Nay ta quyết định:
- Tiên sinh Đào Duy Từ nghe sắc chỉ.
- Dạ, chúa công, có hàn sĩ.
- Nay gia phong Đào Duy Từ làm Nha Úy nội toán, tước Lộc Khuê Hầu, trông coi việc quân cơ ở trong và ngoài. Trước mắt cho Lộc Khuê Hầu Đào Duy Từ được quyền điều động quân đội, nhân tài vật lực cùng tướng quân Nguyễn Hữu Dật giúp sức xây dựng chiến lũy ở bắc nam Linh Giang và bắc sông Nhật Lệ để ngăn chặn quân Trịnh khi chúng tấn công nhằm vượt sông Nhật Lệ vào Thuận Hóa. Lộc Khuê Hầu được quyền ra lệnh cho các công binh xưởng của nhà nước chế tạo súng thần công để đặt trên chiến lũy, để đặt trên chiến thuyền, quyền ra lệnh cho các công binh xưởng đóng chiến thuyền nhiều loại: Loại đặt 3 đại bác, loại đặt 10 đại bác, quyền ra lệnh cho các công binh xưởng chế tạo súng hỏa mai, tạc đạn để trang bị cho các chiến sĩ ngoài vũ khí truyền thống như cung tên giáo mác. Cho phép Lộc Khuê Hầu toàn quyền tiến hành cải tổ bộ máy hành chính quan lại sao cho tiện lợi và hiệu quả, cải tổ quân đội sao cho hùng mạnh. Tất cả các tướng lĩnh từ nay phải đọc và học cuốn binh pháp “Hổ Trướng Khu Cơ” của tiên sinh Đào Duy Từ để nâng cao trình độ quân sự, chỉ huy đánh giặc.
Đào Duy Từ cúi mình chắp tay:
- Đa tạ chúa công đã tin dùng, hàn sĩ sẽ cố gắng hết sức để hoàn thành trọng trách.
Nguyễn Phúc Nguyên nói:
- Ta tin tưởng vào tài năng của Lộc Khuê Hầu. Các đại nhân ai có gì tấu nữa không?
Im lặng.
- Không có. Bãi triều.
Hai năm sau, cũng tại căn phòng trong tư dinh phủ chúa, chúa Nguyễn Phúc Nguyên sau bữa ăn sáng đang ngồi uống trà thì có tùy tướng vào báo:
- Dạ, bẩm chúa công, có Lộc Khuê Hầu Đào Duy Từ từ Bố Chánh về xin vào gặp.
Nguyễn Phúc Nguyên cả mừng:
- Cho Lộc Khuê Hầu vào ngay.
- Dạ.
Nguyễn Phúc Nguyên vội mặc áo mũ thiết triều, mở toang cửa lớn ra đón. Đi theo Đào Duy Từ còn có một thanh niên khoảng hơn 30 tuổi khôi ngô tuấn tú, dáng con nhà võ. Hai người khoanh tay cúi chào:
-Xin kính chào chúa công.
Nguyễn Phúc Nguyên đáp:
-Miễn lễ, hai người vào nhà đi.
Sau khi vào nhà chia ngôi chủ khách, cạn một lượt trà, Đào Duy Từ nói:
-Dạ bẩm, sau khi nhận lệnh chúa công, đã hai năm rồi thần cùng tướng Chiêu Vũ Hầu Nguyễn Hữu Dật cùng hai vạn nhân công công binh đã lao động cật lực, hôm nay công việc đã hoàn thành. Phía nam sông Linh Giang và bắc sông Nhật Lệ đã mọc lên hai chiến lũy, một là lũy Trường Dục chắn phía Tây Nam sông Nhật Lệ, hai là lũy Trấn Ninh chắn phía Đông sông Nhật Lệ và bờ nam sông Nhật Lệ. Nếu quân Trịnh muốn đến sông Nhật Lệ phải đi vào con đường nhỏ giữa hai chiến lũy thì chúng sẽ bị đại bác và các loại vũ khí khác tiêu diệt. Chúng cũng không thể tấn công phá được chiến lũy vì rất kiên cố, bộ binh Trịnh lại không có đại bác. Chiến lũy nện bằng đất sét dầy 1 trượng, cao 2 trượng, dài 20 dặm, phía ngoài thành thẳng đứng, phía trong có bậc lên thoai thoải dốc cho quân ta lên xuống dễ dàng tác chiến. Bên trong chiến lũy có doanh trại, kho vũ khí, kho lương thực, nhà thương nơi chữa chạy vết thương cho quân sĩ. Thủy quân địch cũng không thể vào được cửa sông Nhật Lệ vì đã bị lũy Trấn Ninh chốt ngay ở bờ Bắc sông bắn phá, nếu tiến vào sâu nữa bị đại bác lũy Trường Dục tiêu diệt, giáp bờ biển phía nam sông Nhật Lệ là phá và đầm lầy, bộ binh và thủy binh càng không thể vào được. Muốn chắc chắn thêm bờ nam giáp phía đầm lầy của sông Nhật Lệ ta đặt thêm vài chục chiến thuyền thì con chim bay qua không lọt. Đây là toàn cảnh sơ đồ chiến lũy, trình chúa công xem xét bổ sung thêm.
Đào Duy Từ hai tay nâng tập giấy trình chúa Nguyễn Phúc Nguyên. Nguyễn Phúc Nguyên đỡ lấy và cảm động:
-Đã hai năm không gặp tiên sinh. Tiên sinh gầy đi nhiều. Vất vả cho Lộc Khuê Hầu quá. Để đây, tối ta sẽ đọc. Thế còn đây là…?
Đào Duy Từ vội nói:
-Thất lễ, thất lễ, quên không tự giới thiệu trước với chúa công. Chả là thần có chính thất ở quê nhà, có con gái lớn đã xuất giá. Đây là con rể thần tên là Nguyễn Hữu Tiến.
Đào Duy Từ quay lại nói với Nguyễn Hữu Tiến:
-Con hành lễ với chúa công đi. Đây là chúa công Nguyễn Phúc Nguyên mà nhạc phụ thường nói con nghe.
Nguyễn Hữu Tiến vội bước ra quỳ và chắp tay:
-Thảo dân Nguyễn Hữu Tiến xin kính chào chúa công. Chúa công thiên tuế, thiên thiên tuế.
Nguyễn Phúc Nguyên nói:
-Miễn Lễ, đứng dậy đi, chẳng hay tiểu sinh đây đang theo nghề gì?
Nguyễn Hữu Tiến đáp:
-Dạ, bẩm chúa công, thảo dân theo nghề võ ạ.
Đào Duy Từ đỡ lời:
-Hôm nay, thần đem nó vào đây là có việc phiền đến chúa công rồi.
Nguyễn Phúc Nguyên nói:
-Có việc gì xin tiên sinh cứ nói.
-Cháu đây võ nghẹ cũng khá, đầu óc lanh lợi thông minh, đã luyện theo cuốn binh pháp “Hổ Trướng khu cơ” của thần. Nay xin nhờ chúa công cho nó đầu quân và xin một chức võ quan be bé để nó lập công phục vụ chúa công.
Nguyễn Phúc Nguyên nói:
-Việc nhỏ, việc nhỏ. Ta phong cho Nguyễn Hữu Tiến làm Phó Đề đốc, dưới trướng của Nguyễn Hữu Dật, cầm quân ra phòng thủ chiến lũy Trường Dục.
Nguyễn Hữu Tiến quỳ xuống:
-Xin đa tạ chúa công. Mạt tướng sẽ hết lòng vì chúa công.
Nguyễn Phúc Nguyên rất hài lòng gọi:
-Người đâu.
-Dạ, bẩm chúa công.
-Bày tiệc rượu để ta mừng cuộc hội ngộ với Đào Tiên Sinh, với Phó Đề đốc, mừng đã hoàn thành việc lớn, xây xong chiến lũy phòng thủ vững chắc, bảo vệ Đàng Trong.
-Dạ, tuân lệnh chúa công.
Chợt có tùy tướng vào báo:
-Dạ, bẩm chúa công, có sứ giả của vua Lê Thần Tông vào xin gặp.
-Cho vào.
-Dạ.
Một người mặc quan phục nội thần dáng điệu mệt mỏi bước vào:
-Dạ xin kính chào chúa công, mạt tướng được lệnh của An Đô Vương Trịnh Tráng và vua Lê Thần Tông chuyển sắc thư cho chúa công.
Nguyễn Phúc Nguyên nói:
-Đại nhân đặt sắc thư đây cho ta rồi về dịch quán ăn uống nghỉ ngơi, chờ ta hồi đáp.
-Đa tạ chúa công.
-Người đâu.
-Dạ.
-Đem sứ giả về dịch quán cho ăn uống nghỉ ngơi chu đáo.
-Dạ, tuân lệnh chúa công.
Rồi Nguyễn Phúc Nguyên bóc thư ra xem. Sắc thư viết: “Phụng thiên thừa vận, hoàng đễ chiếu viết: Dòng họ Nguyễn Phúc, con cháu của Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng xưa, dù ở Đàng Trong Thuận Hóa xa xôi nhưng vẫn là bề tôi của triều đình. Cớ sao lâu rồi không ra Thăng Long nghe phủ dụ, cũng không nộp thuế theo quy định có từ thời Đoan Quận Công. Nay sức cho Nguyễn Phúc Nguyên phải tự mình đem thuế ra nộp và nghe phủ dụ, nếu không đi được thì cho trưởng nam đi để tỏ đạo bề tôi và thuận hiếu, đáp ứng lễ vua tôi. Khâm thử. Niên hiệu Vĩnh Tộ năm thứ Tám”.
Bên dưới tờ sắc có đóng ấn của triều đình Lê Trung Hưng.
Nguyễn Phúc Nguyên đọc xong đưa tờ sắc cho Đào Duy Từ và nói:
-Đây là ý muốn của Trịnh Tráng nhưng mượn ý chỉ của triều đình để buộc ta thần phục. Tiên sinh xem có cao kiến gì để đối phó với việc này.
Đào Duy Từ cầm sắc đọc xong liền nói:
-Đúng đây là ý của Trịnh Tráng nhưng mượn triều đình để áp chế chúa công. Ý chúa công thế nào?
-Còn thế nào nữa, Đàng Trong đã bỏ giao thiệp, bỏ nộp thuế từ thời còn Tiên Chúa Nguyễn Hoàng. Nhưng nếu nay ta không tuân theo, Trịnh Tráng sẽ tấn công ngay. Tiên sinh xem ta định liệu thế nào vừa không nhận sắc, vừa trì hoãn chiến tranh thêm một thời gian để ta chuẩn bị.
Đào Duy Từ nói:
-Vừa may chiến lũy bắc Linh Giang đã xây xong có thể đương đầu được với quân Trịnh. Xin chúa công yên tâm. Chúa công muốn xưng hùng xưng bá một phương thì nên cự tuyệt không ra nhưng cứ làm theo thế này thế này…
Nguyễn Phúc Nguyên nói:
-Quả là diệu kế. Người đâu.
-Dạ, bẩm chúa công.
-Cho gọi Văn Khuông đến đây.
-Dạ.
Một lát sau Văn Khuông đến:
-Xin kính chào chúa công. Chúa công cho gọi mạt tướng.
Nguyễn Phúc Nguyên nói:
-Tướng quân chuẩn bị ngày mai đi sứ ra Thăng Long, cùng đi với sứ giả của vua Lê. Lễ vật đã có người của ta chuẩn bị. Tướng quân phải nhớ là đưa xong lễ vật nói là về dịch quán nghỉ ngơi nhưng phải lên đường về ngay. Rõ chưa?
-Dạ, mạt tướng rõ ạ.
Văn Khuông đi rồi, Nguyễn Phúc Nguyên nói với Nguyễn Hữu Tiến:
-Phó Đề đốc Nguyễn Hữu Tiến nghe lệnh:
-Dạ, có mạt tướng.
-Ngày mai tướng quân đem hai vạn quân hộ tống chở đạn cho súng thần công, lương thực, vũ khí thêm cho chiến lũy Trường Dục, Trấn Ninh. Chiến lũy Trấn Ninh đã có tướng Nguyễn Hữu Dật, riêng tướng quân sẽ chỉ huy và bảo vệ chiến lũy Trường Dục đánh quân Trịnh khi quân Trịnh tấn công.
Nguyễn Hữu Tiến quỳ chắp tay:
-Đa tạ chúa công tin tưởng, mạt tướng tuân lệnh.
Nguyễn Phúc Nguyên nói:
-Nào bây giờ mời Đào Tiên Sinh và tướng quân uống cùng ta vài ly rượu mừng cuộc hội ngộ và mừng chiến lũy Linh Giang đã xong. Từ nay ta đã có thể kê cao gối mà ngủ được rồi.
-Đa tạ chúa công.
II
Mùa hè năm 1627, ánh nắng chói chang rải xuống kinh thành Thăng Long, rải xuống hoàng thành và phía Đông của hoàng thành là phủ chúa Trịnh mọc lên từ sau năm 1623. Phủ chúa cũ thời Trịnh Tùng đã bị Trịnh Xuân đốt cháy rụi khi Xuân không được làm thế tử. Trịnh Tráng sau khi nối ngôi chúa đã xây dựng phủ mới thật nguy nga tráng lệ. Đây là một tòa thành xây bằng gạch hình chữ nhật mà chiều ngang kéo dài từ hồ Tây ra đến bến Tây Long khoảng 6 dặm, chiều dài từ bờ đê sông Hồng nơi có cung Tây Long kéo dài xuống giáp hồ Bảy Mẫu. Trong thành dưới bóng mát của nhiều cây cổ thụ xanh tươi là cung điện lầu son, gác tía, nơi ở và nơi làm việc của gia đình nhà chúa. Phía Tây của thành có cửa chính gọi là Diên Đức Môn thông ra con đường rộng lát đá đối diện với cửa của hoàng thành, nơi ở của triều đình vua Lê. Qua chính môn là cửa Cáp Môn là phủ Tiết chế, từ phủ Tiết chế đi vào Đại điện có sân điện rộng lớn. Chính giữa có thiên gác hai tầng bày nghi trượng, vũ khí, nghi vệ phô bày uy vũ của nhà chúa. Phía sau là nhà Trung Đường, Nghị Sự Đường, Tĩnh Đường. Nội cung còn có lầu Ngũ phượng, là nơi ở của các tuyên phi. Các hành lang nối các cung điện là những dãy nhà nhỏ dài uốn lượn lợp ngói lưu ly, có bao lơn vòng kiểu cách rất đẹp. Sau nội cung là thái miếu, dinh thự dành cho người nhà chúa có nhiều cửa mở thoáng đãng, các cửa đó đồ sộ, chạm trổ cầu kỳ, chất liệu bằng gỗ lim. Tất cả đều lộng lẫy xa hoa, sơn son thếp vàng. Trên đường đi trồng nhiều cây hoa lá, nhiều chòi tháp nhỏ, nhiều ao. Vườn ngự uyển sau cung có nhiều hồ lớn như hồ Tả Vọng (hồ Gươm) ở phía Nam, phía dưới là hồ Hữu Vọng (Đông phủ). Chung quanh phủ chúa và ven hồ có nhiều nguyệt đài như tả vọng đình trên hồ Tả Vọng. Quanh bờ hồ trồng nhiều cây cảnh kỳ lạ thu thập từ muôn phương về. Đường đi uốn lượn quanh co, có núi non bộ. Bên hồ có nhiều thạch kiều (cầu đá) với những rặng liễu xanh xõa tóc đung đưa theo gió. Trong vườn có nhiều chim thú kỳ lạ hót véo von. Nổi tiếng trong phủ chúa là hồ Long Trì. Phủ chúa là cảnh thần tiên nơi trần thế.
Ven bờ sông Hồng quanh phủ chúa là các trại thủy binh. Ngoài thành có xây chuồng voi, có kho thuốc súng, bãi duyệt binh, kho súng ống và kho đạn thần công. Bãi duyệt binh còn là nơi tế cờ và nơi thi đấu võ, thi múa đèn. Tổng cộng trong phủ chúa có khoảng 52 cung điện, lâu đài, phủ.
Một ngày mùa hè năm 1627, chúa Trịnh Tráng đang thiết triều ở Nghị Sự Đường. Tham gia gồm tất cả các quan văn võ của phủ chúa như Thế tử Trịnh Tạc, Trịnh Toàn, Trịnh Căn, Đào Quang Nhiêu, Lê Thì Hiến, Nguyễn Khắc Liệt, Lê Văn Hiểu… Chúa Trịnh Tráng nói:
-Hiện nay chúng ta ngoài dồn sức tiêu diệt tàn dư của nhà Mạc ở Cao Bằng, còn phải lưu ý đến sự bất phục tùng của họ Nguyễn Phúc ở Thuận Hóa. Từ năm 1600, khi Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng trốn vào Nam đến nay, trấn thủ Thuận Hóa không nộp thuế, không ra Thăng Long nghe chỉ dụ hàng năm theo quy định. Vừa rồi ta có sai người mang sắc chỉ của hoàng thượng Lê Thần Tông vào Phước Yên đòi Nguyễn Phúc Nguyên hoặc con trai trưởng phải đem thuế ra Thăng Long nộp và nghe phủ dụ, đến nay chưa có hồi âm.
Trịnh Tráng vừa dứt lời thì có quan nội thị vào báo:
-Dạ, bẩm chúa công, có tùy tướng của Nguyễn Phúc Nguyên từ Thuận Hóa ra muốn xin vào gặp.
Trịnh Tráng nói:
-Cho vào ngay.
-Dạ.
Một lát sau nội thị dẫn tùy tướng của Nguyễn Phúc Nguyên vào. Người đó nói:
-Kính chào chúa công. Chúa công thiên tuế, thiên thiên tuế. Thần là Văn Khuông, thừa lệnh trấn thủ Thuận Hóa ra gặp chúa công.
-Miễn lễ, đứng dậy trình bày đi. Trấn thủ Thuận Hóa Nguyễn Phúc Nguyên hay con ông ta có ra Thăng Long theo sắc chỉ không?
Văn Khuông đáp:
-Dạ bẩm chúa công, trấn thủ Thuận Hóa sai mạt tướng ra thu xếp trước rồi Người sẽ ra sau. Đây là món lễ mọn của chúa công tôi dâng chúa công trước để tạ tội ạ.
-Trịnh Tráng nói:
-Đưa lên đây.
Nội thị bê một mâm đồng xếp đầy vàng bạc châu báu đặt lên bàn chúa Trịnh. Trịnh Tráng hỏi Văn Khuông:
-Nguyễn Phúc Nguyên bao giờ thì ra được?
-Dạ, chúa công tôi hiện đã xuất phát, khoảng 10 ngày nữa thì ra đến nơi ạ.
Trịnh Tráng nói:
-Người đâu.
-Dạ, bẩm chúa công.
-Đem Văn khuông về quán dịch nghỉ ngơi ăn uống.
-Dạ, tuân lệnh chúa công.
-Đa tạ chúa công.
Khi Văn khuông đi rồi, Trịnh Tráng bảo quan nội thị.
-Cất vàng bạc và mâm đi.
-Dạ, tuân lệnh chúa công.
Trịnh Tráng tiếp tục nghị sự triều chính, canh giờ sau quan nội thị tay cầm phong thư, tay cầm chiếc mâm đồng đã vỡ vào và tâu:
-Bẩm chúa công, thần nhỡ tay đánh rơi mâm thì mâm bị vỡ, hóa ra là chiếc mâm có hai đáy, bên trong chứa đựng lá thư này ạ.
Cả triều đình nhà Trịnh ngạc nhiên:
-Hả, đựng thư trong mâm hai đáy?
-Sao lại có kiểu ngoại giao kỳ lạ như vậy?
Trịnh Tráng nói:
-Đưa thư lên đây.
-Dạ.
Trịnh Tráng bóc thư ra, bên trong chỉ có một bài thơ ngắn:
“Mẫu nhi vô dịch
Mịch phi kiến tích
Ái lạc tâm trường
Lực lai tương dịch”.
Trịnh Tráng đọc đi đọc lại bài thơ ba lần không hiểu bài thơ này nói gì, liền bảo quan nội thị:
-Ta đọc không hiểu. Quan nội thị đọc to và chậm xem có ai hiểu gì không.
-Dạ.
Quan nội thị đọc to chậm ba lần. Trịnh Tráng hỏi:
-Có ai hiểu bài thơ viết gì không xin chỉ giáo.
Bá quan văn võ ngồi im phăng phắc. Thái Bảo Diễm Quận Công Lê Bật Tứ đứng dậy tâu:
-Dạ bẩm chúa công, đây là bài thơ của Đào Duy Từ viết hộ Nguyễn Phúc Nguyên ạ.
Bá quan văn võ ồ lên:
-Hả, Đào Duy Từ tự ví mình là Ngọa Long tiên sinh, tài học cao rộng, kiến thức uyên bác mọi lĩnh vực lừng danh thiên hạ, nay đã vào theo Nguyễn Phúc Nguyên rồi ư?
Trịnh Tráng sốt ruột hỏi:
-Đào Duy Từ viết gì vậy?
-Dạ, bẩm chúa công, câu đầu bắt đầu từ chữ mâu, bỏ một nét phẩy thành ra chữ dư, dư có nghĩa là ta. Câu thứ hai bắt đầu từ chữ mịch, mịch bỏ chữ kiến thành ra là chữ bất tức là không. Câu thứ ba bắt đầu từ chữ ái, ái bỏ chữ tâm thành ra là chữ thụ hay là nhận. Câu cuối là chữ lai ghép với chữ lực thành ra chữ sắc. Toàn bộ bài thơ này có nghĩa là ta không nhận sắc. Nói rõ hơn Nguyễn Phúc Nguyên viết là ta không nhận sắc.
-Hả, không nhận sắc chỉ của hoàng thượng sao?
-Phản rồi, làm phản rồi.
Trịnh Tráng cũng đập bàn tức giận:
-Phản thật rồi. Người đâu.
-Dạ, đi bắt Văn Khuông, kẻ đưa thư tới đây.
-Dạ.
Một lát sau tùy tướng bước vào:
-Dạ, bẩm chúa công, Văn Khuông đã rời Thăng Long rồi ạ.
Lại có tùy tướng vào báo:
-Dạ bẩm chúa công, có thám mã ở Thuận Hóa về cấp báo ạ.
-Cho vào.
-Dạ.
Thám mã vào quỳ và nói:
-Dạ bẩm chúa công, có việc khẩn cấp, Đào Duy Từ theo lệnh Nguyễn Phúc Nguyên đã xây dựng hai chiến lũy kiên cố ở Nam sông Nhật Lệ, gọi là lũy Trấn Ninh và lũy Trường Dục, trên đặt hàng trăm đại bác, máy bắn đá để ngăn chặn quân ta tiến vào sông Nhật Lệ. Bách tính Thuận Hóa gọi đó là lũy Thầy, nhiều kẻ còn thách chúa công có giỏi thì mang quân vào đánh ạ.
Trịnh Tráng nói:
-Đào Duy Từ quê ở đâu, một người giỏi như vậy sao không lấy ông ta đỗ trạng nguyên hay tiến sĩ để triều đình ta dùng. Các khanh quên câu “Nhân tài là nguyên khí quốc gia sao”?
Lê Bật Tứ thưa:
-Dạ bẩm chúa công, Đào Duy Từ quê ở phủ Tĩnh Gia, trấn Thanh Hóa, tự ví mình là Ngọa Long tiên sinh thời nay, có đi thi nhưng triều đình không cho vì cha của Đào Duy Từ làm nghề hát chèo vì luật triều đình ta cấm tất cả những người hát chèo và con cái họ không được đi thi, còn gọi họ là “xướng ca vô loài”. Đào Duy Từ do đó phẫn uất đã vào Thuận Hóa theo Nguyễn Phúc Nguyên ạ.
Trịnh Tráng thở dài:
-Cái luật này không biết đã làm chìm đắm bao nhân tài của đất nước.
Cho gọi hai tướng Lê Khuê và Nguyễn Khái vào đây.
-Dạ.
Một lát Lê Khuê và Nguyễn Khái vào:
-Dạ, chúa công cho gọi mạt tướng?
Trịnh Tráng nói:
-Ta sẽ thống lính 20 vạn binh mã đánh Thuận Hóa. Tướng Lê Khuê nghe lệnh.
-Dạ.
-Tướng quân đem 200 chiến thuyền và 3 vạn quân đi đường biển vào sông Linh Giang chở bộ binh qua sông.
-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.
-Tướng quân Nguyễn Khải nghe lệnh
-Dạ, có mạt tướng.
-Ta làm chủ soái, tướng quân làm phó soái chỉ huy 7 vạn quân cùng ta tiến vào Linh Giang theo đường bộ.
-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.
-Thế tử Trịnh Tạc nghe lệnh.
-Dạ, Tạc nhi nghe lệnh.
-Thế tử thay ta ở nhà nhiếp chính.
-Dạ, Tạc nhi tuân lệnh.
-Bãi triều.
Lũy Thầy Đồng Hới (Quảng Bình) ngày nay.
Lũy Thầy, (hay còn gọi là Lũy Đào Duy Từ), do tướng Đào Duy Từ chỉ huy xây dựng năm 1630; và đã hoàn thành sau 3 năm.. Lũy Thầy chứa đựng những độc đáo về kiến trúc và giá trị lịch sử, năm 1992 được công nhận là Di tích Lịch sử – Văn hóa cấp Quốc gia. Lũy Thầy đã bị tàn phá nặng nề bởi các cuộc chiến tranh thời Phong Kiến và Thực Dân. Các di tích còn lại chỉ là những mảnh ghép nhỏ trong hệ thống Lũy Thầy năm xưa.Tuy nhiên giá trị văn hóa, lịch sử, quân sự thì trường tồn mãi theo năm tháng. Nguồn: Internet.
III
200 binh thuyền và 3 vạn quân Trịnh do tướng Lê Khuê chỉ huy xuất phát từ Lục Đầu Giang qua sông Kinh Thầy xuôi ra cửa Nam Triệu, tinh kỳ rợp trời theo đường biển tiến vào sông Linh Giang. Mỗi thuyền có 26 mái chèo nên thuyền đi như tên bay. Trên mỗi thuyền đặt 3 đại bác, ở mũi thuyền một khẩu, phía sau 2 khẩu. Gió thổi vi vu, sóng vỗ vào mạn thuyền tung bọt trắng xóa. Đoàn thủy binh đi 3 ngày 3 đêm đã vào sông Linh Giang chờ bộ binh do Trịnh Tráng và Nguyễn Khái đang tiến vào theo đường bộ. Chờ 10 ngày sau, 7 vạn quân Trịnh đến bờ bắc sông Linh Giang. Lý Khuê cho thủy binh xuống bờ Nam để dùng thuyền chở bộ binh qua sông. Mất một ngày 7 vạn bộ binh mới qua hết bờ Nam. Một phần ba bộ binh mang vũ khí nhẹ như súng hỏa mai, cung tên, gươm giáo, tạc đạn. Tạc đạn ném vào quân địch cho nổ tung, sát thương bằng các mảnh kim loại, gốm, sứ vỡ bên trong. Yếu điểm của bộ binh Trịnh là không có đại bác vì nặng không tiện cho việc hành quân, đại bác chỉ có gắn trên chiến thuyền mà thuyền chỉ ở biển cửa Nhật Lệ, không thể bắn vào quân Nguyễn hoặc công phá chiến lũy. 3000 kỵ binh và xe cộ lương thực cũng đành để lại bên bờ Bắc Linh Giang. Quân Trịnh hạ trại ăn lương khô gồm bánh chưng, bánh đa, giò lợn, giò bò, tự người lính phải mang theo bình nước uống cho mình. Trịnh Tráng ra lệnh canh phòng nghiêm ngặt đề phòng quân Nguyễn cướp trại.
Ngày hôm sau khi hừng đông báo hiệu một ngày mới thì 10 vạn quân Trịnh cũng thức dậy. Chưa bao giờ bờ bắc sông Nhật Lệ lại nhộn nhịp như vậy. Quân Trịnh chia làm 3 đạo, quân phục màu nâu, gươm, giáo, súng hỏa mai sáng lòa, lưng mang nặng trĩu tạc đạn, cung tên, lương khô, nước uống. Trên đầu hàng vạn cờ vàng bay phấp phới. Trịnh Tráng nói to trước hàng quân:
-Hỡi ba quân, quân đội của chúng ta đã bách chiến bách thắng, đánh bại quân Mạc. Hôm nay chúng ta quyết phá tan lũy Thầy của quân Nguyễn, vượt sông Nhật Lệ tiến về thủ phủ Phước Yên, tiêu diệt họ Nguyễn, đưa Thuận Hóa về với Đại Việt, với Lê Trung Hưng. Nay ta ra lệnh:
-Đại tướng Lê Khuê chỉ huy 3 vạn quân tiến đánh lũy Trấn Ninh
-Mạt tướng tuân lệnh.
-Đại tướng Nguyễn Khái chỉ huy ba vạn quân tiến đánh chiến lũy Trường Dục.
-Mạt tướng tuân lệnh.
-Đại tướng Nguyễn Khắc Liệt chỉ huy thủy quân sẵn sàng đánh thủy quân Nguyễn ở cửa sông Nhật Lệ, bảo vệ phía sau cho quân ta ở bắc Nhật Lệ.
-Mạt tướng tuân lệnh.
6 vạn quân Trịnh chia thành hai khối ngang tiến về Bắc Nhật Lệ. Chỉ còn cách Nhật Lệ khoảng 6 dặm thì quân Trịnh phải đi qua cánh đồng hẹp, còn hai bên phía Đông và phía Tây là những chiến lũy dựng đứng đắp bằng đất sét dầy và cao. Trên mặt chiến lũy cờ vàng bay phấp phới, dưới những lá cờ là hàng trăm khẩu thần công. Trên mặt chiến lũy thấp thoáng bóng quân Nguyễn. Quân Trịnh càng tới gần sông Nhật Lệ càng thấy rõ những bức thành cao sừng sững với những khẩu thần công đen ngòm như những thần chết đang sẵn sàng nhả đạn vào họ. Chưa đánh mà quân Trịnh đã thấy hoảng hồn rợn tóc gáy.
Trong khi quân Trịnh đang tiến vào thì trong lũy Trấn Ninh tướng Nguyễn Hữu Dật cùng 2 vạn quân đã sẵn sàng nhả đạn vào quân Trịnh. Tại lũy Trường Dục dưới sự chỉ huy của tướng Nguyễn Hữu Tiến và Nguyễn Phúc Trung cùng 2 vạn quân cũng đã nằm bên những khẩu thần công và máy bắn đá, chỉ còn chờ lệnh là dáng sấm sét xuống đầu quân Trịnh. Cấu trúc của lũy Thầy là bên ngoài thành dựng đứng, bên trong thoai thoải có bậc thang cho quân lính di chuyển dễ dàng. Bên trong chiến lũy là doanh trại, kho lương thực, kho đạn dược, thuốc súng, nhà ăn, nhà cứu thương.
Quân Trịnh đứng trước chiến lũy mà không có phương tiện trèo lên, không biết cửa lũy ở đâu mà phá. Lý Khuê và Nguyễn Khái ra lệnh cho quân ném tạc đạn vào lũy để mong phá sập thành đất, nhưng tạc đạn cách xa không vào được chân thành. Sau những tiếng nổ ầm ầm thì quân Trịnh hò reo tiến vào. Tiếng hò reo vang dậy, tiếng trống trận thúc liên hồi, hàng vạn quân Trịnh lao vào ném tạc đạn vào chân chiến lũy, bắn súng hỏa mai lên trên mặt thành. Hàng vạn ánh chớp lóe lên, tạc đạt liên hồi thi nhau nổ như sấm. Trong khói lửa mù mịt, quận Nguyễn trên chiến lũy bắt đầu nã máy bắn đá, tạc đạn, cung tên và súng hỏa mai vào quân Trịnh. Hàng nghìn quân Trịnh gục xuống. Hàng vạn quân Trịnh cố xông lên gần và ném tạc đạn. Tạc đạn gần có thể làm chiến lũy tổn hại cho nên Nguyễn Hữu Dật và Nguyễn Hữu Tiến quyết định thảm sát quân Trịnh:
-Bắn súng thần công.
Sau mệnh lệnh, hàng trăm khẩu thần công nổ vang như sấm, phụt khói. Đạn trái phá rơi vào hàng ngũ dày đặc của quân Trịnh và nổ, hàng nghìn xác lính nổ tung và bay lên trời trong khói lửa và mảnh đạn. Quân Nguyễn cũng ném tạc đạn xuống. Đại bác và tạc đạn làm lần lượt hàng nghìn xác lính Trịnh bay lên trời. Quân Trịnh khiếp sợ bắt đầu tan vỡ tháo chạy ra phía Bắc. Họ dày đạp lên xác đồng đội mà chạy. Trong cuộc đời chinh chiến họ chưa thấy một loại vũ khí nào khủng khiếp như vậy. Thấy quân đội tan vỡ bỏ chạy, vả lại có đứng lại cũng chỉ làm mồi cho đại bác và tạc đạn, hai tướng Lê Khuê và Nguyễn Khái cũng thúc ngựa chạy về bờ Nam sông Linh Giang.
Trịnh Tráng trong tổng hành dinh ở Bắc Nhật Lệ khoảng 10 dặm, nhìn thấy phía trước như giông bão của lửa đạn biết rằng cuộc tấn công có thể bị thất bại vì quân Trịnh không có đại bác. Đại bác trên chiến thuyền quân Trịnh từ sông Linh Giang bắn không tới, nếu tới cửa Nhật Lệ thì bị đại bác trên chiến lũy tiêu diệt. Quả nhiên như linh tính, hàng vạn quân Trịnh mặt mày hoảng sợ, quần áo đen kịt hoặc lành lặn hoặc bị thương chạy trong rối loạn về trước tổng hành dinh. Nguyễn Khái và Lê Khuê quân phục tơi tả chạy về quỳ trước Trịnh Tráng:
-Dạ bẩm chúa công, quân đội sợ hãi uy lực của thần công quân Nguyễn, tự động tan vỡ và tháo chạy. Mạt tướng xin chúa công trị tội.
Trịnh Tráng hỏi:
-Sao không tiến sát chân thành ném tạc đạn phá chiến lũy địch?
-Dạ bẩm chúa công, quân ta bị máy bắn đá, tạc đạn và sau cùng là súng thần công khống chế không thể vào gần được chân thành, chỉ từ xa ném tạc đạn nên không có kết quả.
Trịnh Tráng nói:
-Đứng dậy đi, chỉ tại lũy Thầy quá lợi hại. Ngày mai ta cho thủy binh tới cửa Nhật Lệ bắn phá, bộ binh phối hợp đánh từ mặt Bắc.
-Tướng Nguyễn Khắc Liệt đâu?
-Dạ, bẩm chúa công, có mạt tướng.
-Đạn pháo trên chiến thuyền nếu bắn liên tục được mấy canh giờ?
-Dạ, chỉ ba canh giờ là hết đạn ạ.
Trịnh Tráng phân vân:
-Quá ít, phải bắn công phá một buổi sáng may ra thành công.
Đang khi đó thám mã từ phía Bắc về báo:
-Dạ, bẩm chúa công, tin từ Thăng Long khẩn cấp, Trịnh Gia và Trịnh Nhạc nhân lúc chúa công chinh chiến xa đang chuận bị nổi dậy đoạt ngôi chúa ạ.
Trịnh Tráng lo lắng:
-Chiến trận tổn thất, Đông Kinh có biến, phen này ta chết không có đất mà chôn. Tướng Nguyễn Khắc Liệt đâu?
-Dạ, có mạt tướng.
-Chuẩn bị chiến thuyền cùng 3 vạn quân để ta nhanh chóng về Thăng Long.
-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.
-Tướng Lê Khuê và Nguyễn Khái đâu.
-Dạ, có mạt tướng.
-Dùng thuyền đưa bộ binh qua bờ Bắc Linh Giang, sau đó hai tướng chỉ huy quân đội rút theo đường bộ về Thăng Long.
-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.
Trên sông Linh Giang về chiều nắng gay gắt, nước sông ngẹn ứ dào dạt bởi 200 chiến thuyền chở quân Trịnh sang sông từ bờ Nam sang bờ Bắc. Sau đó trong khói bụi mịt mờ, quân viễn chinh mất hút dần về phương Bắc. Đoàn chiến thuyền chở 3 vạn quân và Trịnh Tráng cũng rời sông ra biển trong buổi hoàng hôn hồng rực trời Tây. Sông Linh Giang trở lại cảnh êm đềm vốn có. Đêm xuống dần, gió và sóng lao xao trong màn đêm đen huyền lấp lánh những vì sao.
IV
Mùa đông năm 1633, kinh thành Thăng Long chìm trong giá rét, bầu trời u ám không thấy ánh mặt trời. Gió lạnh thổi từng cơn thốc tháo, lá vàng trút xuống những mái lâu đài, cung điện bay lả tả chất chồng lên những lớp lá vàng trước đó. Những đàn chim mải miết tung cánh trên trời cao bay về phương Nam xa lắc. Sông Hồng vẫn cuồn cuộn đưa nước về Đông. Những con thuyền trôi vô định lang thang giang hồ mây nước.
Trong dinh Tiết chế phủ chúa Trịnh, Trịnh Tráng sau bữa ăn sáng đang ngồi uống trà. Hai người lính canh lực lưỡng đứng trước dinh, hai thị nữ đứng chắp tay chờ sai bảo. Lò than bằng đồng đỏ hồng rực sưởi ấm căn phòng. Trịnh Tráng đang suy nghĩ làm sao công phá được chiến lũy của quân Nguyễn để tiến vào Thuận Hóa. Chợt có tùy tướng vào báo:
-Dạ bẩm chúa công, có thám mã từ Thuận Hóa về báo tin khẩn cấp.
-Cho vào ngay.
-Dạ.
Thám mã bước vào quỳ hành lễ:
-Kính chào chúa công, chúa công thiên tuế, thiên tuế.
-Miễn lễ, đứng dậy có gì nói ngay.
-Dạ bẩm chúa công, có thư của Nguyễn Phúc Anh, con thứ tư của Nguyễn Phúc Nguyên ạ.
Thám mã trình thư. Trịnh Tráng bóc thư đọc. Thư viết: “Mạt tướng là Nguyễn Phúc Anh, con trai thứ tư của Sãi Vương. Vừa rồi huynh trưởng mạt tướng là Nguyễn Phúc Kỳ ở ngôi thế tử nhưng chẳng may qua đời, phụ thân mạt tướng lại lập huynh thứ hai là Nguyễn Phúc Lan, kẻ kém tài đức làm thế tử, còn mạt tướng không được phụ thân đoái hoài đến, chỉ suốt đời là trấn thủ ngồi ở nơi khô cằn cát bụi Quảng Nam. Nay nếu chúa công tấn công chiến lũy ở Nhật Lệ, mạt tướng sẽ làm nội ứng. Khi chúa công lấy được Thuận Hóa hãy cho mạt tướng đứng đầu và sẽ mãi thần phục chúa công. Nếu sai lời sẽ bị thần linh trời đất tru diệt. Khi chúa công đem quân vào cửa Nhật Lệ, bắn pháo hiệu lên và trong chiến Lũy sẽ có một phát tên lửa bắn lên trời thì chúa công tấn công. Khi đó toàn bộ quân phòng thủ đã bị mạt tướng cho uống rượu có thuốc mê mà ngủ gục, chúa công sẽ vào chiến lũy như vào chỗ không người. Nay kính thư”.
Trịnh Tráng đọc thư, nửa tin nửa ngờ. Người lính do thám nói:
-Dạ, bẩm chúa công, Nguyễn Phúc Anh có trao vật này làm con tin cho chúa công.
Một gói nhỏ dâng lên, Trịnh Tráng bóc xem thì đó là ấn trấn thủ Quảng Nam của Nguyễn Phúc Anh. Sự nghi ngờ của Trịnh Tráng thoáng tan biến. Vả lại, sau thất bại năm 1627, Trịnh Tráng vẫn nuôi mộng tấn công lần nữa để tiêu diệt họ Nguyễn, thu hồi đất Thuận Hóa. Có thể đây là cơ hội trời cho không nên bỏ lỡ. Trịnh Tráng liền gọi:
-Người đâu.
-Dạ. bẩm chúa công.
-Cho gọi thế tử Trịnh Tạc, thân vương Trịnh Toàn và các đại tướng Đào Quang Nhiêu, Lê Thì Hiến, Nguyễn Khắc Liệt vào gặp ta.
-Dạ, tuân lệnh chúa công.
Lát sau thế tử Trịnh Tạc, Trịnh Toàn và các đại tướng bước vào, chắp tay hành lễ: Kính chào Thanh Đô Vương. Thanh Đô Vương thiên tuế, thiên thiên tuế.
-Miễn lễ, ngồi đi.
-Dạ, đa tạ Thanh Đô Vương?
Trịnh Tráng nói:
-Thân Vương Trịnh Toàn và Đại tướng Đào Quang Nhiêu nghe lệnh.
-Dạ, có mạt tướng.
-Nay ta khởi binh đánh Thuận Hóa lần 2, Trịnh Toàn và Đào Quang Nhiêu lĩnh 200 thuyền chiến, 3 vạn thủy binh đi đường biển vào sông Linh Giang chờ ta.
-Mạt tướng tuân lệnh.
Tướng quân Nguyễn Khắc Liệt, Lê Thì Hiến nghe lệnh.
-Dạ, có mạt tướng.
-Tướng quân Nguyễn Khắc Liệt lĩnh 3 vạn bộ binh đi tiên phong, tướng quân Lê Thì Hiến lĩnh 3 vạn quân đi hậu quân. Ta sẽ đi trung quân thống suất hai đạo thủy bộ tiến vào sông Nhật Lệ.
-Mạt tướng tuân lệnh.
-Thế tử Trịnh Tạc quyền nhiếp chính trông coi toàn bộ công việc của chính phủ khi ta vắng ở Thăng Long.
-Hài nhi tuân lệnh phụ thân.
Tháng 12 năm 1633, 200 chiến thuyền mông đồng của nhà Trịnh, mỗi chiếc đặt 3 đại bác, một ở mũi, hai khẩu ở sau, chở 3 vạn quân ra cửa Nam Triệu vượt biển tiến vào Nam. Gió mùa đông bắc thổi mạnh nên chỉ 3 ngày 3 đêm đoàn chiến thuyền đã vào sông Linh Giang neo đậu chờ bộ binh. 10 ngày sau, 5 vạn bộ binh do Trịnh Tráng thống lĩnh đã tập kết bờ Bắc sông Linh Giang. Trịnh Tráng cho Trấn thủ Bố Chính Bùi Thế Đạt huy động đồ gỗ của trấn để bắc cầu phao cho bộ binh qua sông, còn là để thuận lợi cho việc tác chiến sắp tới.
Nhờ thuyền chiến chở qua sông và nhờ cầu phao, buổi chiều 3 vạn thủy binh và 7 vạn bộ binh Trịnh đã tập kết vào phía Bắc chiến lũy Trấn Ninh, thủy binh đến cửa sông Nhật Lệ. Đêm nay, Nguyễn Phúc Anh, con của Nguyễn Phúc Nguyên sẽ làm nội ứng. Sau khi đánh thuốc mê vào rượu cho 2 vạn quân giữ chiến lũy say mê mệt sẽ bắn tín hiệu và mở cửa. Quân Trịnh chỉ việc xông vào chiến lũy và vượt qua sông Nhật Lệ, tiến thẳng vào thủ phủ Phước Yên, bắt sống Nguyễn Phúc Nguyên. Trịnh Tráng nói:
-Sau khi có một phát tên lửa bắn lên trời làm tín hiệu mới được tấn công.
-Chúng mạt tướng tuân lệnh chúa công.
Trịnh Tráng lên đài chỉ huy 200 chiến thuyền cùng 3 vạn thủy binh sẵn sàng vượt sông Nhật Lệ. Trong khi đó, Nguyễn Khắc Liệt và Lê Thì Hiến, Trịnh Toàn dẫn 5 vạn bộ binh im lìm không cờ, không trống trong màn đêm tiến dần tới mặt bắc lũy Trấn Ninh.
Trước khi quân Trịnh tiến vào sông Nhật Lệ nửa tháng, tại phủ trấn Quảng Nam, quan trấn thủ Nguyễn Phúc Anh ngày nào cũng say mềm và nói những lời bất mãn, phản nghịch khi biết Nguyễn Phúc Lan được chọn làm thế tử. Nguyễn Phúc Anh cứ say là đánh mắng thuộc hạ, bỏ bê việc công đường:
-Ta mới là thế tử, Nguyễn Phúc Lan có tài cán gì. Ta mới là xứng đáng…
Hôm khác lại nói:
-Ta sẽ mời quân Trịnh vào giúp ta lên ngôi chúa chứ không thèm ngôi thế tử…
Rồi một hôm Nguyễn Phúc Anh gọi một tên tùy tùng thân cận:
-Đệ đem phong thư này ra Thăng Long đưa cho Trịnh Tráng, xong việc ta lên ngôi chúa, đệ sẽ là quan to, vinh hoa phú quý, tước công là chắc chắn, rõ chưa?
-Dạ, mạt tướng tuân lệnh chúa công.
Những việc đó không qua khỏi mắt lưới do thám dày đặc của Đào Duy Từ. Tên lính đưa thư từ Quảng Nam vừa đến đầu đèo Hải Vân thì bị bắt. Cả thư và người được đưa về Phước Yên trình Nguyễn Phúc Nguyên và Đào Duy Từ. Nguyễn Phúc Nguyên hỏi Đào Duy Từ:
-Thầy định liệu việc này như thế nào?
-Bẩm chúa công, thân vương Nguyễn Phúc Anh vì bản thân quá hám danh lợi địa vị đã phản bội sự nghiệp của cha ông, tội quá nặng, chúa công phải ra lệnh bắt giam ngay, cử người khác đến làm trấn thủ Quảng Nam.
-Nguyễn Phúc Nguyên nói:
-Thầy nói phải lắm. Bay đâu.
-Dạ, bẩm chúa công.
-Gọi Nguyễn Phúc Lan vào ngay.
-Dạ.
Nguyễn Phúc Lan vào:
-Dạ con kính chào phụ vương, kính chào thầy.
Nguyễn Phúc Nguyên nói:
-Đệ của con Nguyễn Phúc Anh làm phản, viết thư mời Trịnh Tráng vào đánh Thuận Hóa, nó sẽ làm nội ứng. Nay con đến bắt tống giam và con tạm thay Trấn thủ Quảng Nam.
-Dạ, con xin tuân lệnh phụ thân.
Đào Duy Từ nói:
-Ta nên tương kế tựu kế đánh cho Trịnh Tráng một đòn thất điên bát đảo. Thế tử cầm lá thư này về Quảng Nam, buộc Nguyễn Phúc Anh viết lại phong bì và đóng dấu niêm phong trấn thủ Quảng Nam vào. Gửi cả ấn trấn thủ Quảng Nam cho Trịnh Tráng làm vật tin. Chọn một tùy tướng dũng cảm, trung thành cầm thư và ấn ra Thăng Long đưa cho Trịnh Tráng.
-Dạ, con xin nghe lời thầy.
Khi Nguyễn Phúc Lan đi rồi, Nguyễn phúc Nguyên hỏi Đào Duy Từ:
-Mai Trịnh Tráng đem quân vào, thầy định tương kế tựu kế như thế nào?
-Bẩm chúa công, chúng ta không có tham vọng và cũng không thể tiêu diệt toàn bộ 10 vạn quân Trịnh trong trận này. Ta chỉ có thể dụ địch vào sâu tiêu diệt phần lớn quân số địch làm cho chúng kinh hoàng khiếp sợ may là lần sau chúng không tiến vào gây chiến nữa, mà nếu có tiến vào thì cũng không còn tinh thần và chỉ có chiến bại. Kính mời chúa công xem, nếu đồng ý kế hoạch này chúa công sai tùy tướng đem ra chiến lũy cho Nguyễn Hữu Dật và Nguyễn Hữu Tiến để thực hiện.
Chúa Nguyễn Phúc Nguyên cầm và xem kỹ kế hoạch trận đánh và nói:
-Thưa thầy, tốt lắm. Người đâu.
-Dạ.
-Gọi tướng Tống Hữu Dật vào đây.
-Dạ.
Tống Hữu Dật bước vào cúi mình hành lễ:
-Dạ, kính chào chúa công thiên tuế, thiên thiên tuế. Kính chào thầy.
-Miễn lễ.
-Dạ, đa tạ chúa công.
Nguyễn Phúc Nguyên nói:
-Tướng quân phi ngựa gấp ra gặp và đưa hai bản kế hoạch này cho tướng quân Nguyễn Hữu Dật và tướng quân Nguyễn Hữu Tiến và nói hai tướng phải bàn bạc bố trí lực lượng thực hiện tốt kế hoạch này.
-Mạt tướng tuân chỉ.
* *
*
Đêm đã khuya, 200 chiến thuyền của quân Trịnh neo ở vùng biển Nhật Lệ. Phía trong bờ Bắc của Nhật Lệ là chiến lũy Trấn Ninh dài đến 9 dặm, bề rộng khoảng 1 dặm tạo nên một khối hình chữ nhật. Trên thành hàng trăm khẩu thần công khống chế cửa sông, khống chế toàn bộ phía Nam dòng sông, khống chế toàn bộ mặt Bắc. Phía bờ Nam dòng sông đối diện với bờ Bắc, quân Nguyễn mới xây dựng thêm chiến lũy Trường Sa. Thành ra nếu thủy binh quân Trịnh tiến vào Nhật Lệ sẽ lọt vào giữa hai làn đạn từ bờ Bắc và Bờ Nam. Trịnh Tráng và các tướng còn quan sát thấy có những lùm cây thấp ven bờ Nam mà đó có thể là những chiến thuyền quân Nguyễn ngụy trang. Trịnh Tráng nói với Đào Quang Nhiêu và Trịnh Toàn:
-Khi có tín hiệu của Nguyễn Phúc Anh, hai tướng quân chỉ huy 50 chiến thuyền tiến vào sông hỗ trợ cho đạo quân bộ, còn ta chỉ huy 150 chiến thuyền hỗ trợ phía sau.
-Mạt tướng tuân lệnh.
Canh ba bầu trời khuya đen thẫm, dòng sông vẫn lững lờ tuôn nước ra biển, biển vẫn vỗ sóng vào bờ với điệu nhạc rì rầm muôn thuở. Thốt nhiên trên chiến lũy Trấn Ninh một phát tên châm lửa bắn lên trời vạch vẽ sáng rực rồi tắt ngấm. Trịnh Tráng ra lệnh cho 50 chiến thuyền do Đào Quang Nhiêu chỉ huy tiến sâu vào sông Nhật Lệ. Khi đoàn thuyền lọt vào giữa hai chiến lũy Trường Sa và Trấn Ninh, đại bác từ hai chiến lũy nã như mưa vào thuyền quân Trịnh, những tiếng nổ như sấm sét trên chiến lũy, hàng trăm viên đạn rơi xuống thuyền lại nổ tung, những quầng lửa sáng lòe. Loạt đạn đầu 30 thuyền Trịnh bốc cháy hoặc nổ tan tành. Chiến thuyền quân Trịnh cũng bắn đại bác nhưng bắn vu vơ do hoảng loạn. Các loạt đạn khác thi nhau dội xuống, sông Nhật Lệ như chảo lửa. Những bụi cây lặng lẽ Nam bờ sông giờ cũng di động tiến lại gần và nổ súng vào chiến thuyền quân Trịnh. Thì ra đó là những chiến thuyền quân Nguyễn ngụy trang. Canh giờ sau, 40 thuyền quân Trịnh còn lại bốc cháy, 1 vạn thủy binh tan xác chết chìm cùng xác những chiến thuyền đang thành than đỏ rực hoặc đen ngòm. Tướng Đào Quang Nhiêu may đi thuyền sau nên chạy thoát ra cửa biển. Trịnh Tráng ra lệnh cho 150 chiến thuyền còn lại chạy ra sông Linh Giang.
Trong khi đó tướng Nguyễn Khắc Liệt trông thấy tín hiệu trong chiến Lũy Trấn Ninh bắn lên, liền cho 5 vạn quân áp sát vào chân chiến lũy phía Bắc. Thốt nhiên một phát tín hiệu nữa bắn lên, quân Trịnh còn đang ngơ ngác thì máy bắn đá, tạc đạn súng hỏa mai, cung tên như mưa dội xuống đầu quân Trịnh dưới chân thành. Quân Trịnh tan xác, dập đầu và trúng hỏa mai và trúng tên ở cự ly rất gần. Nửa canh giờ sau hàng vạn quân ngã gục. Có tạc đạn, có súng hỏa mai mà quân Trịnh không kịp chiến đấu, chỉ ôm đầu chạy về phía Bắc. Khi đã ra khỏi chân thành thì lại bị đạn đại bác giáng xuống như sấm sét. Xác quân Trịnh lại tung lên trời cùng những tiếng nổ rung chuyển không gian hòa với tiếng la hét hoảng loạn khủng khiếp. Khi xa tầm đại bác chưa kịp hoàn hồn thì những bụi cây mà quân Trịnh trông thấy xa xa ban chiều thì bây giờ biến thành hàng vạn quân truy kích bắn giết quân Trịnh. Quân Trịnh như đang đi vào cõi chết, quân Nguyễn biến hóa như ma để tiêu diệt họ. Quân Trịnh chạy đến bờ Nam sông Linh Giang, may mà còn cầu phao, liền tranh nhau chạy ra bờ Bắc. Canh giờ sau cầu pháo quá sức bị gãy, hàng nghìn quân Trịnh lại rơi xuống sông, bị cuốn ra biển. Phía quân Nguyễn vẫn truy kích. Hàng nghìn quân Trịnh không qua được sông đành hạ vũ khí đầu hàng. Trận năm 1633 là một trận kinh hoàng đối với quân Trịnh.
V
Phủ chúa Trịnh Thăng Long một sáng mùa hè năm 1643, trong Nghị Sự Đường, chúa Trịnh Tráng đang thiết triều. Chưa bao giờ bá quan văn võ lại thấy chúa có một bộ dạng tức giận như vậy. Trịnh Tráng gọi:
-Võ sĩ đâu.
-Dạ
-Xuống nhà ngục dẫn tù phạm Nguyễn Khắc Liệt lên đây.
-Dạ, tuân lệnh chúa công.
Một lát sau, hai võ sĩ dẫn Nguyễn Khắc Liệt lên, hai tay bị trói ra sau lưng. Oai phong của một võ tướng giờ đã biến mất, chỉ còn lại một thân hình tiều tụy với khuôn mặt xanh xám đầy sợ hãi. Trịnh Tráng không cho Nguyễn Khắc Liệt ngồi, bắt đứng và nói:
-Tại sao ngươi không cứu Ba Đồn ở Bắc sông Linh Giang khi bị quân Nguyễn Phúc Lan tấn công tiêu diệt năm 1637, để cho Ba Đồn thất thủ, tướng Nguyễn Tích tử trận với hàng nghìn quân và Nam Bố Chính bị mất vào tay quân Nguyễn?
Nguyễn Khắc Liệt đáp:
-Dạ bẩm chúa công, thần có đem quân cứu ứng nhưng không kịp, khi thần đến thì Ba Đồn đã thất thủ, thất thủ quá nhanh. Năm 1640 thần tuân lệnh chúa công tấn công nhằm lấy lại Nam Bố Chính nhưng quân Nguyễn quá mạnh, để bảo toàn lực lượng thần phải rút về Bắc Bố Chính.
Trịnh Tráng lại hỏi:
-Tại sao lại để mất Bắc Bố Chính một cách nhanh chóng?
-Dạ bẩm chúa công, lực lượng ta không đủ sức chống đỡ, thần đã viết thư xin cứu viện, chúa công không tiếp ứng, lại cho Trịnh Kiều đem 5000 quân bắt thần, mặt trận Bố Chính do đó trống không và Bắc Bố Chính bị mất.
Trịnh Tráng đập bàn:
-Ngươi nói vậy là mất Bắc và Nam Bố Chính trách nhiệm là do ta chăng?
-Thần không có ý như vậy, thần chỉ nói sự thực của thế cục mặt trận khi đó.
Trịnh Tráng cầm lên một phong thư và nói:
-Đây là bức thư của tướng Nguyễn Hữu Dật tố cáo ngươi hồi còn Nguyễn Phúc Nguyên đã thông đồng xin hàng, sau đó lại quay ra phản bội cả Nguyên và cả ta. Nguyễn Hữu Dật có nói ngươi là một con người tráo trở, không xứng đáng là một võ quan cao cấp của cả Trịnh và Nguyễn?
Nguyễn Khắc Liệt nói:
-Thần bị oan, đó là kế ly gián của kẻ thù mà chúa công tin thì tự chặt tay chân mình. Chúa công có nhớ trận chiến năm 1627, khi đó chúa công đang ở sông Linh Giang cũng nhận được tin ở Thăng Long Trịnh Nhạc, Trịnh Gia mưu phản, vì thế chúa công vội vả rút quân về. Chúa công quên rồi sao? Đó là kế của quân Nguyễn. Chúa công hãy đưa một bằng chứng như là thư của thần gửi Nguyễn Phúc Nguyên, còn thư của Nguyễn Hữu Dật là của quân Nguyễn, chỉ một chiều. Thần chết cũng không tâm phục khẩu phục.
Đến đây thì Trịnh Tráng như đuối lý. Thực ra không có bằng chứng xác đáng nào là Nguyễn Khắc Liệt làm phản, ví dụ như bức thư do chính tay của Nguyễn Khắc Liệt viết. Tất cả chỉ là tin đồn đại, còn thư cũng chỉ là của phía bên kia để ly gián chúa tôi nhà Trịnh. Nhưng tính cách của Nguyễn Khắc Liệt từ lâu đã làm cho Trịnh Tráng ghét. Vả lại nay trị một người còn là kế “rung cây dọa khỉ”, đe nạt những kẻ hai lòng trong nay mai. Nghĩ vậy Trịnh Tráng quát:
-Ngươi nghĩ rằng ngươi vô tội ư, riêng việc làm mất Bắc và Nam Bố Chính đã đáng tội chết chưa nếu xét theo quân luật. Võ sĩ đâu.
-Dạ.
-Lôi ra ngoài chém.
-Dạ.
Nguyễn Khắc Liệt bị lôi đi, vẫn quay đầu lại kêu lớn:
-Chúa công, thần bị oan, hãy tha tội, thần sẽ lấy công chuộc tội. Chúa công, thần bị oan…
Nguyễn Khắc Liệt bị lôi xa khỏi Nghị Sự Đường mà tiếng thét kêu oan vẫn vang vọng vào. Bá quan văn võ ngồi lặng im, mặt mày xanh xám. Thực ra họ thấy chúa Trịnh Tráng xử Nguyễn Khắc Liệt tội chết cũng không thỏa đáng. Ở góc độ làm phản thì không có bằng chứng xác đáng, còn tội làm mất Bắc-Nam Bố Chính thì chiến tranh được thua là chuyện thường tình của nhà binh. Ví như Trịnh Tráng đã thua hai trận lớn ở sông Nhật Lệ, làm chết vài vạn quân thì sao? Ai hỏi tội chúa đây? Khi tiếng kêu của Nguyễn Khắc Liệt xa dần rồi mất hẳn, Trịnh Tráng nói:
-Năm 1634, quân sư Đàng Trong là Đào Duy Từ đã mất, năm 1635 đến lượt Nguyễn Phúc Nguyên mất, hai cây cột lớn của Thuận Hóa không còn, Nguyễn Phúc Lan lên thay. Trong hoàn cảnh đó đáng lý ta phải chiến thắng mới phải, lại mất thêm Bắc và Nam Bố Chính, thật không thể chịu nổi.
-Thân vương Trịnh Lê đâu?
-Dạ, có mạt tướng.
-Tướng quân đem hai vạn quân đi tiên phong tiến đánh Bắc Bố Chính.
-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.
-Các tướng Phạm Công Trứ, Nguyễn Danh Thọ.
-Dạ, có mạt tướng.
-Hai tướng đem 3 vạn quân đi trung quân.
-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.
-Tướng quân Nguyễn Quang Minh đâu?
-Dạ, có mạt tướng.
-Tướng quân đem 2 vạn quân đi hậu quân.
-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.
-Thế tử Trịnh Tạc đâu?
-Dạ, có nhi thần.
-Thế từ làm thống lĩnh ba quân tiến đánh lấy lại Bắc và Nam Bố Chính.
-Nhi thần tuân lệnh.
Bảy ngày sau, quân Trịnh đến cuối Hà Tĩnh, đầu Bố Chính. Trịnh Tạc và Trịnh Lệ đã gặp 2 vạn quân tiên phong của quân Nguyễn do tướng Bùi Công Thắng chỉ huy. Quân Nguyễn dàn hàng ngang trên một bãi đất rộng. Trịnh Tạc trên mình con ngựa đen cao lớn trỏ gươm thét:
-Ai ra bắt thằng giặc kia cho ta?
-Có mạt tướng.
Trịnh Lê trên mình con ngựa trắng múa kiếm xông ra. Bên quân Nguyễn có Nguyễn Hữu Dật và Bùi Công Thắng cưỡi ngựa đứng trước hàng quân. Bùi Công Thắng múa đại đao xông ra chặn Trịnh Lê. Hai bên đánh nhau hơn 50 hiệp, gươm chạm đại đao tóe lửa, tiếng reo hò, tiếng trống thúc vang động, cờ vàng bay phấp phới. Thốt nhiên Bùi Công Thắng bị Trịnh Lê đâm một nhát gươm vào sườn, Thắng lăn xuống ngựa chết. Quân Trịnh hò reo xông lên thì Nguyễn Hữu Dật ra lệnh:
-Bắn hỏa mai và ném tạc đạn.
Một vạn khẩu hỏa mai đồng loạt nổ, hàng nghìn quả tạc đạn tung vào quân Trịnh, tiếng nổ như sấm tóe lửa, hàng nghìn quân Trịnh đổ gục vì đạn hỏa mai và tạc đạn. Quân Trịnh cũng ném tạc đạn và bắn hỏa mai sang quân Nguyễn. Đến lượt quân Nguyễn chết như ngả rạ, xác tan từng mảnh tung lên không trung, tiếng nổ chát chúa vang vọng cả vùng Hoành Sơn. Quân Trịnh đông như kiến cỏ xông lên. Nguyễn Hữu Dật ra lệnh:
-Toàn quân rút lui.
Nguyễn Hữu Dật cùng các tùy tướng phi ngựa chạy trước, quân sĩ ào ào theo sau nhưng vẫn quay lại ném tạc đạn vào quân Trịnh. Quân Trịnh vừa truy kích vừa ném tạc đạn theo. Xác quân Trịnh và quân Nguyễn rải theo đường thiên lý đến tận bờ Bắc sông Linh Giang. 200 chiến thuyền quân Nguyễn ghé vào bờ Bắc Linh Giang đón bộ binh, phần lớn bộ binh tháo chạy theo cầu phao. Qua được sông, quân Nguyễn ném tạc đạn phá cầu phao. Quân Trịnh đành dừng lại bờ Bắc sông Linh Giang. Dù sao Trịnh Tạc cũng đã hoàn thành được nhiệm vụ do Trịnh Tráng giao cho là giải phóng Bắc và Nam Bố Chính.
VI
Thăng Long một sớm mùa hè năm 1643, những cây cổ thụ không biết đã bao nhiêu năm cao to sù sù, vỏ xám trắng mốc meo khoảng một người ôm nhưng không tỏ ra già nua, còn phủ tán lá rộng xuống hoàng thành, nơi cung điện của triều đình nhà Hậu Lê. Gọi là triều đình nhưng vua Lê đã không còn quyền lực từ năm 1592 nên sân rồng và cung điện vắng lặng, không còn tấp nập xe ngựa như xưa. Lá vàng rụng đầy lối đi, cuốn theo chiều gió như buổi tàn tạ của vương triều.
Trái với hoàng thành vắng lặng cổ kính thì phủ chúa Trịnh đối diện với hoàng thành ở phía Đông nguy nga tráng lệ với những lầu son gác tía, là trung tâm quyền lực thực sự của đất nước nên ngựa xe suốt ngày nườm nườp của quan lại, kẻ sĩ cơ hội đến để cầu danh lợi.
Trong căn phòng tráng lệ trung tâm của phủ chúa, chúa Trịnh Tráng khoác long bào màu tía, đai ngọc thắt lưng tía, mũ tía đang ngồi trước án thư màu gụ khảm ngọc trai. Trịnh Tráng nhấm nháp ly chè thơm phức. Chúa uống một ngụm chè, đặt chén xuống bàn và mông lung suy nghĩ.
Việc đè nặng trong đầu chúa Trịnh Tráng là vấn đề hệ trọng, vấn đề chiến tranh tiêu diệt thế lực họ Nguyễn ở Nam sông Linh Giang trở vào, gọi là Đàng Trong.
Mâu thuẫn giữa hai dòng họ Trịnh-Nguyễn phát sinh từ thời ông nội Trịnh Tráng là chúa Trịnh Kiểm. Nhà Hậu Lê do Lê Thái Tổ sáng lập sau cuộc kháng chiến chống quân Minh thắng lợi, giải phóng dân tộc vào năm 1427. Năm 1428 Lê Lợi lên ngôi xưng đế hiệu là Lê Thái Tổ, lập ra nhà Hậu Lê. Nhà Hậu Lê với giai đoạn Lê Sơ (1428-1527) cực kỳ hưng thịnh vàng son. Nhưng thế nước trong thiên hạ cứ thịnh lâu thì suy, suy lâu rồi thịnh. Năm 1527 quyền thần nhà Hậu Lê là Mặc Đăng Dung thay vua Lê Cung Hoàng, giành ngôi nhà Lê, lập ra nhà Mạc. Một đại thần nhà Lê là Nguyễn Kim chạy vào miền Tây Thanh Hóa đưa vua Lê Trang Tông lên ngôi lập ra nhà Lê Trung Hưng, gây chiến tranh chống nhà Mạc. Sử gọi là chiến tranh Nam- Bắc triều. Từ Thanh Hóa tiến quân ra Ninh Bình, Nguyễn Kim bị gián điệp nhà Mạc giết chết. Hai con trai của Nguyễn Kim là Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng còn nhỏ nên quyền phò tá nhà Lê Trung Hưng lọt vào tay Trịnh Kiểm, con rể của Nguyễn Kim. Không bao lâu hai con trai của Nguyễn Kim trưởng thành. Nguyễn Uông đi trận mạc, không rõ vì sao mà chết. Nguyễn Hoàng là người có chí lớn, muốn mở mang cơ nghiệp, nhờ chị là Nguyễn Thị Ngọc Bảo-vợ Trịnh Kiểm nói với anh rể cho đi trấn thủ Thuận Hóa. Nghĩ đến đây, Trịnh Tráng giận ông nội sao không giết chết Nguyễn Hoàng, lại nghe lời bà nội thả hổ về rừng. Vào năm 1558, Nguyễn Hoàng khi đó mới 35 tuổi vào trấn thủ Thuận Hóa. Nguyễn Hoàng và những người kế tục sau này đã vượt mọi gian khổ, nếm mật nằm gai, khai hoang mở đất, dựng xây cơ nghiệp. Từ chúa Nguyễn Hoàng, đến đời Nguyễn Phúc Nguyên và nay là Nguyễn Phúc Lan gần như vạch đôi sơn hà, ngày càng đối địch gay gắt với nhà Trịnh. Trịnh Tráng đã hai lần cho đại quân vào chinh phạt họ Nguyễn, lần thứ nhất vào năm 1627, lần thứ hai vào năm 1633, nhưng cả hai lần đều thất bại. Trịnh Tráng không thể nuốt trôi hai lần thất bại nhục nhã ấy nên năm nay quyết kéo đại quân được thua với họ Nguyễn một lần. Trong cuộc chiến sắp tới này để chắc thắng, nghe lời các mưu sĩ, Trịnh Tráng quyết định nhờ đến lực lượng của Công ty Đông Ấn Hà Lan. Theo lời các quân sư thì Công ty Đông Ấn Hà Lan có những hạm thuyền cỡ lớn, chạy bằng buồm và bằng sức đẩy của chèo, có đặt những đại bác cỡ lớn, bắn tầm xa. Hạm thuyền của Công ty Đông Ấn Hà Lan vừa buôn bán vừa cướp bóc, là một nỗi sợ hãi với các quốc gia ở châu Á và các châu lục khác.
Về phía chúa Trịnh ra điều kiện, nếu Công ty Đông Ấn giúp đánh bại được chúa Nguyễn thì được cai trị vùng Quảng Nam. Ngoài ra chúa Trịnh còn trả cho Công ty Đông Ấn vài vạn lạng bạc, Toàn quyền Công ty Đông Ấn Hà Lan ở Batavia được quyền thu thuế ở xứ sở Đàng Trong.
Với một món lợi lớn như vậy, Công ty Đông Ấn Hà Lan không thể từ chối và đã hình thành nên một liên minh chống chúa Nguyễn giữa Chúa Trịnh với Công ty Đông Ấn Hà Lan vào năm 1641.
Còn hôm nay chúa Trịnh Tráng đang nóng lòng chờ hạm đội Công ty Đông Ấn Hà Lan đến để phối hợp với thủy quân chúa Trịnh cùng tấn công thủy quân chúa Nguyễn Đàng Trong. Chợt viên quan hầu cận bước vào, y vui mừng báo tin:
-Bẩm chúa, có tin vui ạ.
Trịnh Tráng đang ngồi vươn người ra phía trước hỏi:
-Tin vui gì vậy, nói nhanh?
-Bẩm chúa, hải quân Công ty Đông Ấn Hà Lan cho báo tin đã xuất phát từ Batavia đang tiến vào sông Linh Giang để phối hợp với thủy quân ta cùng tấn công thủy quân Nguyễn.
Quá vui mừng và phấn kích, Trịnh Tráng vỗ bàn:
-Tốt lắm, phen này bọn Nguyễn Phúc Lan chết không có đất mà chôn.
Sáng mùa hè, ánh nắng chan hòa khắp biển Đông Nam Á. Trời xanh cao. Vài áng mây trắng mang muôn hình kỳ quái trên không trung, gió mát rợi, biển xanh, sóng nhỏ nhấp nhô. Trên vùng biển Inđônêxia hạm tàu hùng mạnh của Công ty Đông Ấn Hà Lan đang chuẩn bị xuất phát. Thuyền trưởng kiêm hạm trưởng Pieter Baek đang đứng trên đài chỉ huy chiến hạm lớn nhất mang tên Wijdeness. Ông ta khoan khoái hít sâu vào lồng ngực làn gió biển lồng lộng mát rợi, sức lực của Pieter Baek như tràn trề bởi ông cảm thấy hạm đội của ông quả nhiên là hùng mạnh, xứng đáng với vương quốc Hà Lan lúc này đang là cường quốc bá chủ mặt biển. Chiến hạm Wijdeness của ông, mũi trước và boong sau mỗi boong đặt 4 đại bác. Ngoài ra còn nhiều súng bộ binh và các loại hỏa pháo khác. Bên phải và bên trái của Wijdeness còn hai chiến hạm nữa cũng tầm cỡ to lớn và trang bị không kém. Ngoài ra, còn có 7 chiến hạm nhỏ vừa tác chiến vừa làm nhiệm vụ bảo vệ ba chiến hạm lớn. Hạm thuyền là lực lượng hải quân mạnh nhất của Công ty Đông Ấn Hà Lan vừa buôn bán vừa cướp bóc vừa xâm lược thuộc địa. Nhờ hạm đội hùng mạnh này mà Hà Lan đang giành chiến thắng trong cuộc cạnh tranh xâm lược các vương quốc trong quần đảo Inđônêxia.
Lần này Pieter Baek lĩnh trách nhiệm đưa hạm tàu vào sông Linh Giang phối hợp với thủy quân Trịnh tiêu diệt chúa Nguyễn. Chiến thắng trong cuộc chiến này sẽ đưa lại nhiều quyền lợi cho Hà Lan trong việc mở rộng thuộc địa trên bán đảo Đông Dương và Đông Nam Á giàu có.
Đã đến giờ xuất phát, Pieter Baek lên đài chỉ huy ra lệnh cho các chiến hạm giương buồm. Buồm của các chiến hạm lớn nhỏ đồng loạt giương lên, các chiến hạm biến thành những con quái vật khổng lồ có cánh mà thân nó là những con tàu cao to, còn cánh của nó là những cánh buồm căng gió lồng lộng trên cao. Bánh lái bẻ mũi những con tàu quay về hướng tây và lướt sóng. Đi đầu là ba chiến hạm lớn. Theo sau là 7 chiến hạm nhỏ nối hàng dài hùng dũng tiến về bờ biển Đại Việt. Biển Đông một lần nữa lại nổi sóng bởi những thế lực xâm lược nước ngoài.
Gần tối, hạm tàu của Pieter Baek đã vào gần bờ biển. Pieter Baek cho là đã tới biển có sông Linh Giang nhưng ông ta lấy làm lạ không thấy một bóng dáng tàu thuyền của thủy quân Trịnh như đã hẹn ước. Pieter Baek biết là hạm tàu của ông đã đi lạc nhưng không biết nơi lạc là sông nào vì trời đã tối. Mặt biển và mặt sông bao trùm bởi bóng đêm đen kịt. Ông ta liền ra lệnh cho hạm tàu hạ buồm thả neo rồi sáng mai sẽ xác định vị trí sông Linh Giang, sẽ đưa hạm tàu vào cũng chưa muộn. Hạm đội Hà Lan bị bao vây bởi bóng đêm trên một vùng biển xa lạ nhiều huyền bí. Gió thổi mạnh, sóng đen ngòm, một cơn giông tố chợt nổi lên báo hiệu điều không lành cho số phận của đoàn chiến hạm viễn chinh.
Trận Cảng Eo (7/7/1643) là cuộc chạm trán đầu tiên giữa thủy quân nước Việt và hải quân phương Tây. Trong thời điểm mà pháo hạm của phương Tây là nỗi khiếp sợ của tất cả các triều đại phong kiến châu Á thì bỗng dưng thủy quân của 1 (nửa) nước Á Đông đã đánh tan một hạm đội Hà Lan. Nguồn: Internet.
Hoàng hôn đang lan tỏa khắp kinh thành Kim Long. Mặt trời trước khi tắt nắng hắt lên vầng sáng cuối cùng phía trời Tây vàng rực. Phố xá mờ dần dưới những tán cây đang đu đưa theo gió. Sông Hương mịt mờ sương khói. Những mái chèo đưa những con thuyền lướt vội trên dòng sông. Núi Ngự Bình màu xám nhô mình chơ vơ trên nền trời đen thẫm. Phủ chúa Nguyễn đèn đóm sáng trưng càng thêm tráng lệ soi mình xuống sông Hương lung linh huyền ảo.
Chúa Nguyễn Phúc Lan đã kết thúc buổi chầu đang định về tư dinh thì viên quan hầu cận hớt hải chạy vào báo:
-Dạ bẩm chúa xẩy ra việc lớn rồi.
Chúa Nguyễn Phúc Lan ngạc nhiên:
-Việc lớn gì mà nhà ngươi hốt hoảng vậy?
-Dạ bẩm chiến hạm Hà Lan đã vào bỏ neo ở cảng Eo Thuận An (Phú Vang) rồi ạ. Có lẽ sáng mai chúng sẽ tấn công ta.
Chúa Nguyễn Phúc Lan nổi giận dằn giọng:
-Khen thay Trịnh Tráng đã hai lần thất bại, nay lại dựa vào bọn mắt xanh mũi lõ quyết tâm tiêu diệt họ Nguyễn ta. Cho gọi Thế tử đến đây!
-Dạ.
Không lâu sau một thanh niên khoảng 23 tuổi, cao lớn khôi ngô tuấn tú bước vào. Đó là Thế tử Nguyễn Phúc Tần, con trai thứ hai của Nguyễn Phúc Lan. Thế tử cúi mình trước chúa:
-Dạ, trình phụ thân cho gọi.
-Miễn lễ. Ta vừa nhận được tin Hạm đội Công ty Đông Ấn Hà Lan gồm ba thuyền chiến lớn và 7 thuyền chiến con hộ tống đã vào cảng Eo Thuận An, không xa kinh thành Kim Long của ta. Con có cao kiến gì đối phó không? Thế tử chắp tay thưa;
-Bẩm phụ thân, theo con phải đánh ngay, nếu để các chiến hạm này phối hợp được với thủy quân Trịnh thì sẽ rất khó khăn cho ta, cũng sẽ chưa lường hết được hậu quả.
Chúa Nguyễn Phúc Lan khen:
-Con nói chí phải, mà theo ta phải đánh ngay đêm nay khi chúng còn chưa đến được sông Linh Giang với quân Trịnh. Ta sẽ điều động 50 pháo thuyền nhỏ lợi dụng đêm tối bất ngờ tấn công. 30 chiến thuyền của ta sẽ tấn công ba chiến hạm lớn. 20 chiến thuyền nhỏ do con chỉ huy sẽ tấn công 7 chiến hạm nhỏ khiến chúng bị phân tán hỏa lực không cứu ứng bảo vệ được nhau.
-Thế tử bái phục:
-Thật là một chiến thuật hoàn hảo.
Bình minh của một ngày mới trên cửa biển Thuận An bắt đâu. Những ánh sáng đỏ lừ hiện lên chân trời phía đông báo hiệu xa giá của vị chúa tể thái dương đang hiện lên. Nhưng trời còn chưa sáng hẳn. Màn đen pha sáng của thời khắc giao thời thời gian làm mặt biển, đất trời và không gian mờ ảo. Gió ban mai thổi vi vu mát rượi. Nước triều buổi sáng rút ra làm cho những chiến hạm Hà Lan rời xa bờ cảng Eo đến hai dặm.
Pieter Baek thường dậy sớm. Ông ta lên boong chiến hạm đi bài thể dục buổi sáng như thường lệ. Thốt nhiên ông ta cảm thấy sóng dưới các con tàu xô dồn dập mạnh mẽ. Rồi ông nhìn thấy 50 chiến hạm đen đặc đang lao như bay vào khu vực của chiến hạm Hà Lan. Pieter Baek kêu lên:
-Thôi chết rồi thủy quân Nguyễn đang tấn công!
Pieter Baek không kịp mặc quân phục, vội lên đài chỉ huy ra lệnh cho các chiến hạm Hà Lan nhổ neo căng buồm vào vị trí chiến đấu .
Trong khi thủy quân Hà Lan hốt hoảng trong tư thế không sẵn sàng chiến đấu thì đại bác từ các chiến thuyền quân Nguyễn bắn như mưa vào các chiến thuyền Hà Lan. 5 chiếc thuyền con của Hà Lan trúng đạn bốc cháy và chìm ngay, khói bốc mù mịt, chớp lửa sáng lòe. Chiến hạm Hà Lan bắt đầu bắn trả nhưng chiến hạm quân Nguyễn đã đến quá gần thành ra đạn pháo quân Hà Lan chỉ nổ phía sau lưng chiến thuyền quân Nguyễn.
Pháo của Hà Lan mất tác dụng. 30 chiến thuyền quân Nguyễn vây chặt ba chiến hạm lớn của Hà Lan, còn 20 chiến hạm của quân Nguyễn vây chặt 4 chiến thuyền con. Thủy binh Nguyễn đông như kiến cỏ nhảy lên chiến thuyền Hà Lan hò la chém giết. Thủy quân Hà Lan kẻ rơi đầu, kẻ bị đâm lòi ruột, kẻ bị chặt đôi người, máu chảy đầy mặt boong, xác rơi đầy biển. Chiến hạm chỉ huy của Pieter Baek bị chặt bánh lái, quay tròn tại chỗ, các cột buồm bị chặt đổ ngổn ngang, mặt boong đầy xác chết và máu. Trong tình thế bất ngờ, u mê và hoảng loạn, Pieter Baek tìm đến cái chết mà bọn cướp biển thường dùng khi đến bước đường cùng. Ông ta cầm lửa châm vào kho thuốc súng trên tàu. Một tiếng nổ khủng khiếp vang lên rung động mặt biển cửa Eo, một núi lửa bốc cao, cả con tàu tan xác đỏ rực bay lên rồi rơi lả tả chìm xuống sóng biển đen ngòm. 200 lính Hà Lan và cả lính Nguyễn chết và thi hài biến thành những mảnh nhỏ vùi xuống biển Đông. 4 chiến hạm con của Hà Lan cũng đã bị tiêu diệt. Hai chiến hạm lớn bỏ chạy, được một hải lý thì một trong hai chiếc đâm vào đá ngầm tan xác. Một chiếc kinh hồn bạt vía chạy ra biển Đông thoát chết.
Trời sáng rõ, nắng chan hòa trên biển. Cảng biển cửa Eo còn khói lửa nghi ngút, vương vãi mảnh những con tàu, xác lính Hà Lan. Hạm đội Hà Lan khét tiếng một thời bị xóa sổ tại cửa Eo, hai chiến hạm lớn, 7 chiến hạm nhỏ, 800 thủy thủ vùi mình dưới nước trong cuộc chiến.
-Chúng ta đã chiến thắng! ! !
-Chúng ta đã chiến thắng ! ! !
Thủy quân Nguyễn trên các chiến thuyền nhảy múa reo hò vang động. Tiếng reo hò như một điệp khúc của biển vang xa sâu thẳm trong thời gian và trong không gian.
Giữa quang cảnh các chiến hạm tưng bừng, binh sĩ nhìn thấy một lá cờ soái đỏ tươi trên chiến hạm của chúa Nguyễn Phúc Lan và Thế tử Nguyễn Phúc Tần. Mặt Chúa và Thế tử đen xạm vì khói súng, áo chiến bào nhuộm đỏ máu quân Hà Lan trong cuộc chiến dữ dội. Quân sĩ cảm phục tung hô như sấm:
-Thiên tuế! Thiên tuế!
Trên boong chiến thuyền, chúa Nguyễn Phúc Lan và Thế tử Nguyễn Phúc Tần tươi cười vẫy quân sĩ. Chúa ra lệnh: - Cử ca khúc khải hoàn và phong thưởng cho tướng sĩ trong trận thủy chiến cửa Eo.
Khúc khải hoàn vang lên. Đoàn chiến thuyền oai phong hùng dũng lướt sóng trở về kinh thành Kim Long.
Sau trận thủy chiến cảng cửa Eo năm 1643, các chiến hạm Hà Lan sau đó đều tránh xa hạm thuyền quân Nguyễn, không bao giờ dám chạm trán nữa. Và cuộc tấn công sau đó của quân Trịnh vào Đàng Trong cũng hoàn toàn thất bại.
VII
Một ngày tháng 2 năm 1648, ánh nắng của mùa xuân trăng trắng mơ màng rải xuống vùng Thuận Hóa muôn hình muôn vẻ sơn thủy hữu tình lung linh. Thủ Phủ của chúa Nguyễn được chúa Nguyễn Phúc Lan dời từ Phước Yên ra làng Kim Long nổi bật lên trong không gian trời đất thật huy hoàng tráng lệ. Khu dinh thự lầu son gác tía tưởng như cung thần tiên ở hạ giới nằm ở tả ngạn sông Hương. Trước mặt phủ là sông Hương mơ mộng, trời nước như dải lụa trải từ núi Ngự Bình uốn lượn về xuôi. Các dòng sông chi nhánh của Hương Giang là sông Bạch Yến lững lờ trôi. Phía sau là phủ Kim Long.
Trước mặt phủ còn có sông con là sông Kim Long trôi xuôi về hướng Đông- Bắc, chếch về Đông- Nam là làng Phú Xuân tươi xanh. Phía Tây phủ không xa là làng Hà Khê có chùa Thiên Mụ với tháp Phước Duyên cao 7 tầng, hơn 5 trượng sớm chiều buông những hồi chuông ngân nga thánh thót vang vọng khắp miền. Phía hữu ngạn sông Hương đối diện với phủ là đồi Long Thọ tạo nên một cảnh quan đối xứng với vương phủ, một cấu tạo thiên nhiên hữu tình và phong thủy may mắn cho phủ chúa. Toàn bộ phong cảnh núi non sông nước làng mạc xanh tươi như một bức tranh tiên cảnh. Kim Long quả là kinh thành trù phú, ”Tứ thủy triều kiến”, tấp nập xinh tươi huy hoàng hơn so với Phước Yên trong thời dĩ vãng.
Trong dinh Tiết chế, cạnh phủ Diên Khánh, phủ Ấn Quang, chúa Thượng Vương Nguyễn Phúc Lan kế vị cha là Nguyễn Phúc Nguyên năm 1635 khi phủ còn ở Phước Yên. Nguyễn Phúc Lan thấy rằng ông đã đúng đắn khi dời phủ ra Kim Long năm 1636.
Nguyễn Phúc Lan bỗng nhớ lại cha và mẹ. Cha là Sãi Vương Nguyễn Phúc Nguyên là một vị chúa tài năng đức độ, biết sử dụng hiền tài để phát triển đất nước. Chính Sãi Vương đã trọng dụng Đào Duy Từ, một nhà chính trị, quân sự văn hóa toàn tài. Lũy Thầy do Đào Duy Từ thiết kế, chỉ huy xây dựng quả là bức tường thành vững chắc, ngăn chặn và đánh bại nhiều cuộc tấn công của quân Trịnh vốn thiện chiến hùng mạnh, bảo vệ Đàng Trong. Đào Duy Từ còn là nhà văn hóa nghệ thuật, nhà cải cách tổ chức hành chính tài ba. Ông xứng đáng được bách tính Đàng Trong tôn là bậc thầy. Nguyễn Phúc Lan còn nhớ tới mẹ. Mẹ của chúa là Mạc Thị Giai, con gái của danh tướng nhà Mạc là Mạc Kính Điển. Có lẽ sau khi ông ngoại Mạc Kính Điển qua đời, nhà Mạc không còn danh tướng nữa mới bị Trịnh Tùng đánh bại. Có lẽ cha và mẹ đã gặp nhau và nên nghĩa phu thê thời kỳ ông nội là Nguyễn Hoàng ra phò nhà Lê Trung Hưng ngoài Bắc.
Nguyễn Phúc Lan bị cắt dòng suy nghĩ bởi một tùy tướng bước vào:
-Dạ bẩm chúa công, có thám mã xin vào gặp.
-Cho vào ngay.
-Dạ.
Thám mã vào:
-Kính chào chúa công.
Nguyễn Phúc Lan sốt ruột hỏi ngay:
-Miễn lễ, có gì nói ngay. Chiến sự giữa quân ta và quân Trịnh ở lũy Thầy thế nào rồi?
-Dạ, bẩm chúa công, 7 vạn quân Trịnh và 200 chiến thuyền do Đại đô đốc Trịnh là Tiến Quận Công Lê Văn Hiếu Chỉ huy đang tấn công chiến lũy Trấn Ninh và lũy Trường Dục. Đã diễn ra 7 trận tấn công trong 7 ngày rồi ạ. Đã 7 ngày trên chiến lũy không lúc nào ngớt tiếng hò reo, tiếng súng thần công và tạc đạn, thây người chồng chất. Quân Trịnh vẫn không phá được chiến lũy ạ.
Vừa khi đó có tùy tướng vào báo:
-Dạ bẩm chúa công, có tùy tướng của tướng Trương Phúc Phấn từ lũy Thầy về ạ.
-Cho vào ngay.
-Dạ.
Một võ quan bước vào, người đầy cát bụi, mệt mỏi:
-Dạ, kính chào chúa công.
-Miễn lễ, ngồi đi. Người đâu, đưa nước cho thám quan và tướng quân.
-Đa tạ chúa công.
Viên tuỳ tướng đưa một phong thư cho Nguyễn Phúc Lan:
-Dạ bẩm chúa công, đây là thư khẩn cấp của tướng quân Trương Phúc Phấn.
Nguyễn Phúc Lan vội cầm thư bóc và đọc. Thư viết: ”Thần là mạt tướng Trương Phúc Phấn vâng mệnh chúa công bảo vệ lũy Đồng Hới, con trai mạt tướng là Trương Phúc Hùng chỉ huy bảo vệ lũy Trường Dục. Đã 7 ngày đêm, 7 vạn quân Trịnh không dồn lên tấn công một lúc như những lần trước, lần này chúng chia nhau thành từng đợt, từng tốp thay nhau suốt ngày tấn công. Chiến thuật này làm chúng ít thương vong nhưng quân ta thì mỏi mệt, tốn đạn dược và hy sinh nhiều. Trên chiến lũy, cai đội Trương Triều Lương và Trương Triều Nghi cùng hàng nghìn quân ta đã hy sinh. Đạn đại bác, tạc đạn, tên cung nỏ và lương thực sắp hết. Mong chúa công cho tiếp viện, nếu không chiến lũy sẽ nguy ngập. Mạt tướng Trương Phúc Phấn kính thư”.
Nguyễn Phúc Lan gọi:
-Người đâu.
-Dạ.
-Dẫn quan thám mã và tướng quân đây đi ăn uống nghỉ ngơi.
-Dạ.
-Đa tạ chúa công.
-Người đâu.
-Dạ.
-Cho gọi thế tử Nguyễn Phúc Tần, tướng quân Nguyễn Hữu Tiến , tướng quân Nguyễn Hữu Dật vào đây.
-Dạ.
Vài khắc sau thế tử Nguyễn Phúc Tần và các đại tướng Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Tiến bước vào:
-Kính chào thân phụ.
-Kính chào chúa công.
-Miễn lễ, ngồi đi.
-Đa tạ chúa công.
Ba người ngồi vào ghế tràng kỷ gỗ lim khảm trai cực kỳ tinh xảo, một lượt trà xong, Nguyễn Phúc Lan nói:
-Đây là thư của tướng quân Trương Phúc Phấn từ lũy Thầy gửi về. Hiện nay, 7 vạn bộ binh và 200 chiến thuyền của quân Trịnh do Đại đô đốc Lê Văn Hiến thống lĩnh đã tấn công lũy Thầy trong 10 ngày nay. Các tướng xem thư của tướng quân Trương Phúc Phấn gửi về đi.
Sau khi xem thư xong, Nguyễn Phúc Tần hỏi:
-Tùy tướng đưa thư đâu, thưa phụ thân?
-Ta cho đi ăn cơm và nghỉ ngơi, chắc đang dưới nhà ăn.
-Cho mời lên đây con muốn trực tiếp hỏi thêm tình hình chiến sự.
Nguyễn Phúc Lan gọi:
-Người đâu.
-Dạ.
-Cho gọi tuỳ tướng vừa từ Nhật Lệ về đưa thư lên đây gặp ta.
-Dạ.
Một lát sau viên tùy tướng bước vào:
-Kính chào chúa công, chào các tướng quân.
-Miễn lễ, tướng quân ngồi đi.
-Đa tạ chúa công.
Sau một lần trà, Nguyễn Phúc Tần hỏi viên tùy tướng:
-Tên tướng quân là gì?
-Dạ, bẩm thế tử, mạt tướng tên là Trương Phúc Phu.
-Quân Trịnh dùng chiến thuật gì mà chiến lũy nguy cấp?
-Dạ bẩm, chúng chia thành từng tốp đào hào tiến vào làm pháo của ta mất hiệu quả mà chúng thì ít thiệt hại.
Nguyễn Phúc Tần nói:
-Chúng thật khôn ngoan, tránh hỏa pháo thì chỉ có đào hào là hiệu quả nhất.
Nguyễn Phúc Tần hỏi thêm:
-Chúng tấn công ban ngày hay ban đêm?
-Dạ, chúng chỉ tấn công ban ngày, ban đêm chúng về trại ăn uống nghỉ ngơi. Chúng quyết đánh lâu dài ạ.
-Doanh trại chúng ở đâu?
-Dạ, phía bắc doanh trại là sông Cẩm La, phía đông là biển có thuyền chiến bảo vệ. Chiến lũy Đồng Hới của ta cách doanh trại của địch 6 dặm về phía Nam.
Nguyyễn Phúc Tần nghe xong, vẽ qua doanh trại và địa thế mà quân Trịnh trú ngụ ban đêm. Thế tử cầm bút chỉ vào tấm sơ đồ vừa vẽ:
-Tâu phụ vương, Tần nhi nghĩ chúng ta sẽ đem quân đến cứu nhưng đại quân không vào chiến lũy. Ở đó đã có quân của tướng Trương Phúc Phấn và Trương Phúc Hùng, có thể trụ được 10 ngày nữa. Hoạt động thường nhật quen thuộc của quân Trịnh là ban ngày đánh, ban đêm về doanh trại nghỉ ngơi. Cho nên ta nhân cơ hội bao vây tấn công vào doanh trại của địch mà tiêu diệt.
Nguyễn Phúc Lan nói:
-Thế tử nói cụ thể rõ hơn.
-Sau khi quân chi viện vượt qua Nhật Lệ, canh ba, 3 vạn quân do tướng Nguyễn Hữu Dật bí mật theo sông Cẩm La là một nhánh của sông Linh Giang tấn công phía Bắc doanh trại địch. Tướng Nguyễn Hữu Tiến chỉ huy 100 con voi tấn công từ phía Tây, theo sau là 3 vạn quân do Tần nhi chỉ huy, Trương Phúc Phấn mở cửa lũy phối hợp tấn công phía Nam.
Nguyễn Hữu Tiến hỏi:
-Nhưng làm sao giữ được bí mật áp sát doanh trại địch mà không bị phát hiện?
-Vụ này giao cho 200 quân đặc biệt tinh nhuệ, mang quân phục Trịnh, ban đem trà trộn vào giết hết lính canh và lính đi tuần của địch quanh doanh trại, sau đó bắn tín hiệu cho quân ta áp gần để tấn công.
Nguyễn Phúc Lan nói:
-Kế hay, cứ thế mà thực hiện. Các tướng nghe lệnh:
-Tướng quân Nguyễn Hữu Dật.
-Dạ, có mạt tướng.
-Tướng quân đem 3 vạn quân bí mật ven theo sông Cẩm La đánh vào phía Bắc doanh trại quân Trịnh.
-Mạt tướng tuân lệnh.
-Tướng quân Nguyễn Hữu Tiến.
-Dạ, có mạt tướng.
-Tướng quân đem 10 thớt voi tấn công vào doanh trại địch từ phía Tây.
-Mạt tướng tuân lệnh.
-Thế tử Nguyễn Phúc Tần.
-Có Tần nhi.
-Thế tử đem 3 vạn quân theo sau voi chiến tấn công phía Tây doanh trại địch.
-Tần nhi tuân lệnh.
-Tướng quân Trương Phúc Phụ:
-Có mạt tướng.
-Tướng quân cầm thư này ra nói với Trương Phúc Phấn và Trương Phúc Hùng, nếu thấy pháo hiệu từ doanh trại quân Trịnh bắn lên thì mở của chiến lũy tấn công từ phía Nam vào doanh trại địch.
-Mạt tướng tuân lệnh.
-Tướng quân Trương Phúc Tấn,
-Có mạt tướng.
-Tướng quân chọn 200 lính đặc biệt tinh nhuệ mặc quân phục Trịnh, đêm xuống trà trộn vào doanh trại, canh ba giết hết lính canh và lính tuần tra, xong việc bắn tín hiệu cho đại quân tấn công doanh trại địch.
-Mạt tướng tuân lệnh.
Chúa Nguyễn Phúc Lan nói thêm:
-Ta sẽ lĩnh 2 vạn quân đến huyện Đăng Xương thống lĩnh toàn bộ trận đánh và chi viện cho các hướng. Các tướng về chuẩn bị, đêm nay xuất phát.
-Tuân lệnh chúa công.
* *
*
Đêm xuống rất nhanh và bóng đen bao trùm toàn bộ khu vực miền Trung Bắc Nhật Lệ và Nam sông Linh Giang. Lửa khói của tạc đạn, tiếng gầm của thần công, tiếng reo hò của binh sĩ bây giờ im bặt, nhường chỗ cho một không gian yên tĩnh. Bóng đồi núi của dãy Hoành Sơn đen sì phía Tây xa xa. Dòng Linh Giang, dòng Nhật Lệ vẫn lững lờ đưa nước ra biển Đông. Sóng biển Đông reo những bản nhạc muôn thuở không nguôi, rì rào vỗ dào dạt vào bờ. Đã 10 ngày nay, 200 chiến thuyền của quân Trịnh ban ngày tác chiến ở cửa Nhật Lệ, ban đêm về cửa sông Linh Giang che chắn cho doanh trại của quân Trịnh từ phía biển đề phòng thủy quân Nguyễn đánh úp.
Phía trong bờ trong bóng đêm vẫn nhìn thấy doanh trại lều vải của 7 vạn quân Trịnh trải dài suốt từ cửa sông Linh Giang kéo dài 2 dặm về phía Tây. Phía Bắc doanh trại dựa vào hào chắn thiên nhiên là bờ sông Cẩm La, Phía Nam và phía Tây dễ bị tấn công nhất thì đã có chiến lũy bằng gỗ cao 1 trượng dựng lên một cách tạm bợ. Đại Đô đốc Tiến Quận Công Lê Văn Hiểu của quân Trịnh cho rằng trong tình thế nguy nan của các chiến lũy sắp sụp đổ, quân Nguyễn khó mà mở cuộc cướp trại ban đêm, vả lại đã có lính gác và lính đi tuần luân phiên nhau nghiêm ngặt sẵn sàng báo động cho 7 vạn lính thiện chiến đầy đủ khí giới đánh trả, bóp nát bất cứ lực lượng nào của quân Nguyễn. Quân Trịnh sau một ngày đào hào chiến đấu mỏi mệt, sau những trận rượu say sưa thì lăn ra ngủ, không còn biết trời đất là gì, phó mặc sinh mạng cho bọn lính gác và tuần tra. Đêm đó, chung quanh doanh trại đội tuần tra vẫn đi như thường lệ, họ gặp một đội tuần tra khác và được mời uống rượu. Cả những người lính gác cũng được đội tuần tra mời uống rượu. Uống xong thì cả lính gác và lính tuần tra gục xuống không còn biết gì nữa vì trong rượu có thuốc mê. Quanh doanh trại chỉ còn 200 lính đặc nhiệm của quân Nguyễn. Họ bắn một phát tên châm lửa lên trời. Lập tức từ phía Tây trong đêm 100 con voi như 100 trái núi di động, theo sau voi là 3 vạn quân Nguyễn do thế tử Nguyễn Phúc Tần lao về phía doanh trại quân Trịnh. Trong bóng đêm từ bờ sông Cẩm La, 3 vạn quân Nguyễn do Tướng Nguyễn Hữu Dật đổ bộ lên bờ đánh vào doanh trại Trịnh từ phía Bắc. Trương Phúc Phấn, Trương Phúc Hùng mở cửa chiến lũy đem quân đánh vào phía Nam doanh trại địch. Khi tới nơi, 100 con voi phá tan chiên lũy gỗ xông vào doanh trại gầm thét, lính Nguyễn từ trên mình voi bắn cung, ném tạc đạn, ba phía Tây, Bắc, Nam hàng vạn quân Nguyễn cũng xông vào chém giết. Tiếng đạn nổ, lửa cháy, tiếng reo hò của quân Nguyễn, tiếng kêu thất thanh hoảng loạn của quân Trịnh vang vọng trời đất, xác quân Trịnh tung lên trời do tạc đạn, hoặc bị lửa thiêu cháy, hoặc bị đâm chém chết. Hàng vạn quân Trịnh không kịp chống cự chạy ra biển mong tìm đất sống, trèo lên các thuyền chiến ở cửa sông Linh Giang mong thoát chết, bỏ lại doanh trại cháy như núi lửa và hàng vạn xác đồng đội. Thây chất thành núi, máu đầm đìa tràn cả xuống dòng Cẩm La đỏ ngầu dưới ánh lửa. Đại đô đốc Lê Văn Hiểu trên chiến thuyền biết là doanh trại bị quân Nguyễn cướp, ra lệnh cho chiến thuyền vào gần bờ vớt quân sĩ lên. Phía bờ biển tiếng tạc đạn, gươm, giáo của quân Nguyễn vẫn đuổi theo chém giết rợn người. Lửa vẫn cháy, đạn vẫn nổ, thây lính vẫn đổ gục, tiếng hò reo vang động cả cửa biển sông Linh Giang và Nhật Lệ. Sự khủng khiếp đó của quân Trịnh kéo dài từ canh ba đến mờ sáng. 3 vạn quân Trịnh bị tiêu diệt, một vạn quân và 60 tùy tướng phải đầu hàng và bị bắt. 3 vạn quân chạy thoát lên các chiến thuyền. Sợ bị thủy quân Nguyễn truy kích, Lê Văn Hiểu cho thuyền chạy một mạch ra đến sông Lam. Lửa ở sông Cẩm La cháy suốt nửa ngày hôm sau mới tắt.
Sau chiến thắng Cẩm La, chúa Nguyễn Phúc Lan phong tước vị cho các tướng lĩnh. Cha con Trương Phúc Phấn, Trương Phúc Hùng đã kiên trì chỉ huy chiến đấu, bảo vệ được lũy Thầy cho đến phút chót được phong tước hầu. Toàn bộ binh sĩ tham gia trận đánh đều được thưởng một bậc phụ cấp, gia đình được thưởng ruộng đất. Với tù binh, 60 tướng lĩnh được Nguyễn Phúc Lan cho về miền Bắc, 1 vạn quân Trịnh cho vào khai hoang lập nghiệp ở phía Nam, cho sống thành từng ấp, cứ 50 người tạo thành một ấp, cấp gạo cho nửa năm ăn để khai hoang, buộc nhà giàu phải cho họ vay thóc để họ lập nghiệp buổi ban đầu. Bấy giờ mở đất khai hoang vào phía Nam là một chính sách lớn của các chúa Nguyễn. Nhờ thế dân Nghệ An bị bắt vào Nam khai hoang mở cõi ngày càng đông đảo. Nhưng đây là chiến công cuối cùng của chúa Nguyễn Phúc Lan. Tháng 3 năm 1648, chúa mất trong khi đang đi kinh lý trên chiến thuyền gần phá Tam Giang về Thuận Hóa, thọ 48 tuổi, ở ngôi chúa được 13 năm (1635-1648), chôn ở Lăng Vĩnh Diên, gò Lốc Hùng, Chiêm Sơn, Quảng Nam.
VIII
Qua chiến thắng lớn năm 1648 ở Cẩm La, sau khi ngồi vào ghế chủ nhân ở phủ Kim Long, chúa Nguyễn Phúc Tần trong một buổi thiết triều tháng 4 năm 1655 đã nói với triều đình:
-Qua trận chiến năm 1648, với chiến thuật đào hào tiến vào để tránh pháo và tên đạn, lũy Thầy của chúng ta có thể bị đe dọa, các tướng quân có kế sách gì không?
Tướng Trương Phúc Phấn nói:
-Dạ bẩm chúa công, để bảo vệ lũy Thầy chúng ta phải chiếm Nghệ An để mở rộng đất đai, thêm nhân tài vật lực cho nước nhà, đồng thời để ngăn chặn quân Trịnh từ xa, đó là cách bảo vệ lũy Thầy hiệu quả nhất.
Tướng Nguyễn Hữu Dật cũng nói:
-Bẩm chúa công, thần tán thành kế sách của Quân Tiến Hầu Trương Phúc Phấn. Chúng ta phải mở chiến dịch đánh lấy Nghệ An, ít nhất là từ Nam sông Lam nối liền lãnh thổ từ đó đến sông Nhật Lệ.
Nguyễn Phúc Tần nói:
-Các đại thần nói chính hợp ý ta. Các đại tướng nghe lệnh:
-Quân Công Nguyễn Hữu Dật.
-Có mạt tướng.
-Tướng quân đem 3 vạn quân tiến đánh chiếm Bắc Bố Chính và tiến ra đánh chiếm Nghệ An.
-Mạt tướng tuân lệnh.
-Đại tướng Nguyễn Hữu Tiến.
-Có mạt tướng.
-Tướng quân đem 3 vạn quân cùng phối hợp với tướng quân Nguyễn Hữu Dật.
-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.
-Đô Đốc Thân Vương Nguyễn Phúc Vinh.
-Có thần.
-Thân Vương thống lĩnh thủy binh gồm 200 chiến thuyền cùng 3 vạn thủy binh đi đường biển chi viện và phối hợp với hai đạo bộ binh đánh chiếm Bắc Bố Chính và Nghệ An.
-Thần tuân chỉ.
Tháng 4 năm 1655, khi bình minh đỏ ối ở trời Đông, sông Linh Giang còn chưa sáng tỏ thì đã rung lên bởi bước chân của 6 vạn quân Nguyễn qua cầu phao sang bờ Bắc. Cờ xí rợp trời, quân đi như gió lốc. Canh giờ sau thì 6 vạn quân ào ạt xông lên đánh Ba Đồn, căn cứ tiền tiêu của quân Trịnh bờ Bắc sông Linh Giang. Tạc đạn và súng hỏa mai của quân Nguyễn thi nhau ném vào chiến lũy, xác quân Trịnh tung lên và gục xuống. Thành Ba Đồn thất thủ, tướng Trịnh Phạm Tất Toàn kéo cờ trắng đầu hàng. Quân Nguyễn đi như gió lốc, ngày hôm sau ra đến Hoành Sơn và tiến đánh quân Trịnh ở Nam Nghệ An, quân Trịnh tan vỡ dưới làn mưa tạc đạn và súng hỏa mai. Tướng Trịnh Lê Hữu Đức mở cổng sau tháo chạy ra Bắc. Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Hữu Dật cho quân vừa ăn lương khô vừa truy kích quân Trịnh ra Hà Trung. Lê Văn Hiểu và Lê Hữu Đức không dám chống cự, tiếp tục tháo chạy về An Trường thuộc Nghệ An.
Một sáng mùa hè tại kinh đô Thăng Long, trong phủ chúa Trịnh, Trịnh Tráng ngồi trong phủ Tiết chế. Chợt có tùy tướng vào báo:
-Dạ bẩm chúa công, có tin cấp báo.
-Có tin gì nói ngay.
-Dạ bẩm chúa công, quân Nguyễn vượt sông Linh Giang tấn công ra Bắc, Ba Đồn đã mất, tướng Phạm Tất Toàn đã đầu hàng, tiếp đó chiến lũy Hoành Sơn cũng mất, tướng Lê Hữu Đức đã tháo chạy. Đồn Hà Trung cũng mất, Đại đô đốc Lê Văn Hiểu và tướng Lê Hữu Đức thua trận đã rút chạy về An Trường.
Trịnh Tráng tức giận đập bàn:
-Hả, sao lại như vậy được? Lê Văn Hiểu là Tiến Quận Công, là lão tướng cơ mà sao lại thua nhanh như vậy? Quân Nguyễn lực lượng bao nhiêu? Do ai chỉ huy?
-Dạ, cả hai đạo quân khoảng 6 vạn, do Nguyễn Hữu Dật và Nguyễn Hữu Tiến chỉ huy ạ. Còn một đạo thủy binh 200 chiến thuyền do thân Vương Nguyễn Phúc Vinh, chú của Nguyễn Phúc Tần chỉ huy ạ.
Trịnh Tráng gọi:
-Người đâu?
-Dạ.
-Cho gọi đại tướng Trịnh Thượng vào đây.
-Dạ, tuân lệnh chúa công.
Trịnh Thượng bước vào:
-Dạ, kính chào chúa công, thần có mặt.
Trịnh Tráng nói:
-Nay các tướng Phạm Văn Toàn, Lê Hữu Đức, kể cả lão tướng Lê Văn Hiểu đã thua trận làm mất toàn bộ Bắc Bố Chính và Nam Nghệ An rồi. Tướng quân hãy đem 7 vạn bộ binh vào lấy lại, thứ hai là mang sắc chỉ triệu hồi các tướng bại trận về kinh trị tội.
-Thần tuân lệnh.
-Tướng quân Bùi Thế Đạt
-Dạ, có mạt tướng.
-Tướng quân đi cùng Trịnh Thượng thu hồi Bắc Bố Chính và Nam Nghệ An.
-Mạt tướng tuân lệnh.
Trịnh Thượng và Bùi Thế Đạt vào Bắc sông Lam tiếp nhận quân đội. Lê Hữu Đức, Lê Văn Hiểu bị triệu về Thăng Long. Dọc đường Lê Văn Hiểu do vết thương tái phát mà chết. Lê Hữu Đức về Thăng long bị giáng chức.
Trịnh Thượng đem quân tới Kỳ Hoa, Thủy quân do Bùi Thế Đạt tiến đến biển Kỳ La. Thấy quân Trịnh mạnh, Nguyễn Hữu Tiến cho phao tin quân Nguyễn rút về Nam sông Linh Giang. Bùi Thế Đạt bàn với Trịnh Thượng:
-Tướng quân hãy đem quân đuổi theo quân Nguyễn chiếm lại Bắc sông Linh Giang, mạt tướng đem thủy binh đánh Nhật Lệ.
Trịnh Thượng nói:
-Nguyễn Hữu Tiến và Nguyễn Hữu Dật là những lão tướng, danh tướng của nhà Nguyễn, cuộc rút lui này chắc là có âm mưu mai phục tiêu diệt quân ta. Đô đốc nên thận trọng.
Đêm Trịnh Thượng đang trong tổng hành dinh thì thám mã về báo:
-Bẩm tướng quân, quân Nguyễn đông như kiến cỏ đang tiến vào Lạc Xuyên, gần doanh trại quân ta.
Trịnh Thượng nói:
-Tiến nhanh vậy sao? Báo động toàn quân dàn trận chiến đấu.
Trịnh Thượng dứt lời, toàn quân đang nhốn nháo thì tạc đạn, súng hỏa mai và tên đạn bắn vào doanh trại như mưa. Trịnh Thượng chỉ kịp lên ngựa chạy về hướng Bắc. Quân Trịnh tan vỡ chạy theo sau. Quân Nguyễn truy kích đến An Trường thì dừng lại.
Tại cửa sông Lam, những chiến thuyền của Trịnh đang nêu đậu. Trong trời biển đen ngòm, từng đợt sóng vỗ rì rầm vào mạn thuyền ca bản trường ca rì rào vô tận. Tên lính gác đứng trên boong thuyền ngủ gà ngủ gật, chợt giật mình choàng dậy thì thấy những bóng đen trên biển như những con cá mập đang lao tới. Những khẩu đại bác nổ như sấm rót đạn vào chiến thuyền quân Trịnh. Sau những tiếng nổ tóe lửa, các tàu và thủy binh Trịnh tung lên trời. Thủy binh Trịnh thức dậy hốt hoảng ném tạc đạn và bắn trả. Cửa biển sông Lam như bão lửa và sấm sét. Thủy binh Trịnh vỡ trận tháo chạy ra Bắc, bỏ lại 50 chiến thuyền và xác 1 vạn thủy binh cháy và chìm trong lửa khói.
Sau trận thắng của bộ binh và thủy binh, quân Nguyễn đã lấy được 7 huyện phía Nam sông Lam là huyện Kỳ Hoa, Nghi Hà, Thiêm Lộc, Nghi Xuân, La Sơn, Hương Sơn, Thanh Chương.
Trong phủ Tiết chế ở Thăng Long, Trịnh Tráng được tin cấp báo đã mất 7 huyện ở phía Nam Nghệ An rất tức giạn và gọi:
-Người đâu.
-Dạ.
-Cho gọi thế tử Trịnh Tạc và thân vương Trịnh Toàn vào đây.
-Dạ.
Trịnh Tạc là thế tử, còn Trịnh Toàn là con út của Trịnh Tráng bước vào:
-Nhi Thần kính chào phụ thân.
Trịnh Tráng nói:
-Trịnh Tạc này.
-Dạ, phụ thân.
-Ta định cử con vào mặt trận Nghệ An nhưng tin lại vừa báo mặt trận Cao Bằng cũng rất cần con để tiêu diệt bằng được tàn dư nhà Mạc là Mạc Kính Vũ.
-Dạ, con vâng lệnh phụ thân.
-Còn Trịnh Toàn.
-Dạ, phụ thân.
-Trịnh Thượng là đứa bất tài đã làm mất 7 huyện Nam Nghệ An vào tay quân Nguyễn, ta cử con vào triệu hồi Trịnh Thượng về kinh, con hãy thống lĩnh quân đội lấy bằng được Nam Nghệ An và đẩy quân Nguyễn về Nam sông Linh Giang.
-Dạ, con xin vâng lệnh phụ thân.
Trịnh Toàn vào thống lĩnh vào lúc quân Trịnh liên tiếp thất bại.Thân Văn Quang và Uẩn Văn Liên đã bỏ chạy khỏi Tiệp Vũ, Đào Quang Nhiêu liên tiếp thua trận rút về An Trường, thủy binh do Vũ Văn Thiêm chỉ huy thất bại cũng rút về Cửa Lò. Trịnh Toàn triệu các tướng về tổng hành dinh ở An Trường và ra lệnh:
-Tướng Đào Quang Nhiêu nghe lệnh.
-Dạ, có mạt tướng.
-Tướng quân cùng với tướng Dương Hồ đem 3 vạn quân đến đóng giữ Hương Bộc.
-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.
-Tướng Vũ Văn Thiêm nghe lệnh.
-Dạ, có mạt tướng.
-Tướng quân đem thủy binh đánh thủy binh Nguyễn lấy lại cửa biển sông Lam.
-Mạt tướng tuân lệnh.
Trịnh Toàn nói tiếp:
-Ta sẽ đem 5 vạn quân đón đánh địch ở Đại Nại.
Trong tổng hành dinh của quân Nguyễn, nhìn cách bố trí binh lực của Trịnh Toàn, Nguyễn Hữu Dật nói với Nguyễn Hữu Tiến:
-Cách bố trí binh lực và thế trận của Trịnh Toàn là nhằm tạo thế hợp vây quân ta ở Đại Nại từ hướng Bắc và hướng Nam để tiêu diệt.
Nguyễn Hữu Tiến hỏi:
-Theo tướng quân để phá thế trận của Trịnh Toàn thì phải làm thế nào?
Nguyễn Hữu Dật đáp:
-Tướng quân hãy đem 3 vạn quân đánh Hương Bộc, ta đem 4 vạn quân đánh Trịnh Toàn ở Đại Nại.
Nguyễn Hữu Tiến nói:
-Cứ như vậy đi.
Nguyễn Hữu Dật tính giờ lành và nói:
-Ngày hôm nay mọi giờ đều rất xấu, tướng quân phải cẩn thận.
-Đa tạ tướng quân, mạt tướng sẽ chú ý.
Nguyễn Hữu Dật dẫn quân đi đánh Đại Nại. Đi được vài dặm thì gặp một đoạn đường rất rậm rạp hiểm trở. Tùy tướng của Nguyễn Hữu Dật nói:
-Đoạn đường hiểm trở, tướng quân phải đề phòng có mai phục.
Nguyễn Hữu Dật nói:
-Tướng quân nói phải lắm. Người đâu.
-Dạ.
-Cử 100 thám mã đi tiên phong, mang cờ hiệu của ta đi trước, gặp mai phục thì quay về báo.
-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.
Trong đêm, 100 thám mã dương cờ dóng trống đi. Quân mai phục thấy cờ mang chữ ”Soái” thì bắn tên và ném tạc đạn như mưa. 100 thám mã nằm rạp xuống ngựa quay đầu chạy trở lại. Quân Trịnh lao ra chém giết, quân Nguyễn xông lên cứu thám mã. Đạn nổ tên bay, Nguyễn Hữu Dật ra lệnh vừa đánh vừa rút. Quân Trịnh cũng dừng lại không dám truy kích.
Cánh quân của Nguyễn Hữu Tiến đang hành quân đến Hương Bộc, chợt có thám mã về báo:
-Dạ bẩm tướng quân, đạo quân của tướng Nguyến Hữu Dật bị quân Trịnh mai phục, đã giao chiến và đang rút lui.
Nghe vậy Nguyễn Hữu Tiến ra lệnh:
-Rút lui nhanh.
Nguyễn Hữu Tiến và Nguyễn Hữu Dật hội quân. Nguyễn Hữu Tiến nói:
-Quân Trịnh vừa chiến thắng sẽ chủ quan không phòng bị, đêm nay ta đến cướp trại chắc thắng lớn.
Nguyễn Hữu Dật nói:
-Tướng quân nói phải lắm.
Quân sĩ cơm nước xong, Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Tiến ra lệnh cho ngựa tháo nhạc, hạ cờ, không chiêng trống, buộc khăn trắng vào cánh tay mỗi người lính để ban đêm phận biệt rồi âm thầm bí mật kéo quân đến Tam Lộng. Quả nhiên quân lính Trịnh cơm rượu say sưa, phó mặc toàn quân cho vài trăm lên lính gác và tuần tiễu. Nguyễn Hữu Dật cho lính đặc nhiệm bò vào. Lính gác Trịnh hỏi:
-Ai?
-May mù à. Chúng ta là đội tuần tra.
-Xin lỗi tối quá không thấy gì, đại nhân tha tội.
Chưa dứt lời tất cả lính gác đã bị giết. Quân Nguyễn bắn tín hiệu, hai đạo quân xông vào doanh trại Trịnh ném tạc đạn rồi từ hai hướng Bắc- Nam xông vào chém giết. Quân Trịnh hoảng loạn thức dậy tháo chạy. Lửa cháy, đạn nổ, tên bay, gươm giáo khua khô khốc, tiếng reo hò với tiếng la hét kinh thiên động địa. Quân Trịnh đại bại. Trịnh Toàn dẫn tàn quân rút về An Trường.
Trong khi đó, Thăng Long có biến. Trịnh Tráng ốm nặng, Trịnh Tạc lên tạm giữ quyền chúa. Những kẻ xu nịnh gian thần liền nói với Trịnh Tạc:
-Dạ, bẩm chúa công.
-Có việc gì?
-Thần nghe nói Trịnh Toàn ở Nghệ An rất được lòng quân sĩ và bách tính. Xin chúa công chú ý.
-Thật sao?
-Dạ, đúng là như vậy ạ.
-Theo ngài thì đó là điều đáng mừng hay đáng ngại?
-Dạ, đáng lo ạ.
-Vì sao đáng lo?
-Dạ, ngôi thế tử của chúa công và sau này là của đại công tử Trịnh Căn chắc bị đe dọa.
-Ngươi có cách gì đề phòng hậu họa không?
-Trước mắt cho Trịnh Căn vào Nghệ An giám sát Trịnh Toàn nhưng đừng để Trịnh Toàn biết mà chạy sang nhà Nguyễn thì gay go.
-Nhà ngươi nói phải lắm, sau này ta sẽ phong thưởng cho ngươi.
-Dạ, đa tạ chúa công.
Trịnh Tạc gọi:
-Người đâu?
-Dạ, bẩm chúa công.
-Cho gọi Trịnh Căn vào đây.
-Dạ.
Trịnh Căn vào:
-Phụ thân cho gọi Căn nhi?
-Thám mã về báo uy tín của chú con là Trịnh Toàn rất lớn ở Nghệ An, con hãy vào để ý và giám sát dò la tin tức xem có đúng như vậy không?
-Vì sao phải làm vậy thưa phụ thân?
-Nếu chú con mà tài giỏi uy tín lớn thì ngôi chúa của ta, ngôi thế tử của con sẽ bị đe dọa, có khi là mất. Rõ chưa?
-Dạ, con rõ, tạm biệt thân phụ, mai con lên đường vào Nghệ An. Phụ thân bảo trọng.
-Ừ, hãy bảo trọng.
-Đa tạ phụ thân.
Tháng 4 năm 1657, Trịnh Tráng qua đời, ở ngôi chúa 34 năm (1623-1667), thọ bao nhiêu tuổi không rõ. Con trưởng là Tây Định Vương Trịnh Tạc nối ngôi, lập Trịnh Căn làm thế tử. Việc đầu tiên của Trịnh Tạc là phải trừ khử em út Trịnh Toàn mà theo tin đồn đang có uy tín trong quân đội. Theo thám mã thì Trịnh Toàn rất trung thành, khi chúa Nguyễn chiêu dụ mà Trịnh Toàn từ chối không theo, uy tín Trịnh Toàn càng lớn. Trịnh Tạc nghe tin càng quyết tâm giết em để đề phòng mối họa.
Trịnh Tạc cho con là Trịnh Căn vào thay Trịnh Toàn thống lĩnh quân đội ở Nghệ An, triệu hồi Trịnh Toàn về kinh. Trong phủ Tiết chế, Trịnh Tạc hỏi Trịnh Toàn:
-Tại sao đệ không chịu về kinh để chịu tang thân phụ?
Trịnh Toàn đáp:
-Việc quân khẩn cấp, quân Nguyễn liên tục tấn công, đệ sao dám bỏ về.
-Tại sao đệ không để cho Đào Quang Nhiêu thay thế mà về?
-Đệ là thống lĩnh sao lại tự tiện bỏ mặt trận khi không có sắc chỉ?
Trịnh Tạc đập bàn:
-Đó là tội bất hiếu. Bất hiếu trong Quốc triều hình luật là xử tội chết. Bay đâu?
-Dạ.
-Đem TrịnhToàn giam vào ngục, ngày mai giờ ngọ xử trảm.
-Dạ, tuân lệnh chúa công.
Trịnh Toàn mắng:
-Phụ thân vừa nằm xuống, huynh đã tàn sát anh em. Huynh sợ ta cướp ngôi chúa của huynh ư? Đệ đây không thèm. Huynh sẽ chết không có đất mà chôn.
Ngày Trịnh Toàn bị xử tử, trời bỗng nhiên mưa gió sấm chớp ghê rợn. Cả triều đình và bách tính kinh thành ai cũng thương xót cho Trịnh Toàn, một người tài năng đức độ bị giết một cách vô cớ.
Tháng 6 năm 1657, trời đất vô cùng nóng nực. Ngoài nắng, Nghệ An không biết từ khi nào còn chịu những cơn gió như lửa từ Trường Sơn thổi qua làm không khí hầm hập như ngồi trong nồi đun. Trịnh Căn ngồi trong tổng hành dinh liên tục uống nước, hai bên có hai người lính thay nhau quạt. Chợt có thám mã về báo:
-Dạ, bẩm Tiết chế.
-Có việc gì nói mau.
-Dạ bẩm, tướng quân Hoàng Thể Giao của ta vượt sông Lam đánh tướng Nguyễn Tống Hữu Đại ở Thanh Chương. Quân ta đã thất bại. Hoàng Thể Giao đã lui quân về Bắc sông Lam ạ.
Lại có thám mã về báo:
-Dạ, bẩm Tiết chế, quân ta đã chiến thắng quân Nguyễn ở Hương Sơn ạ.
Tháng 7 năm 1658 lại có thám mã về báo cho Trịnh Căn:
-Dạ, bẩm Tiết chế, quân ta do Nguyễn Hữu Tá chỉ huy đánh quân Nguyễn. Quân ta đã bại trận ở Hưng Nguyên ạ.
Lại một thám mã khác:
-Dạ bẩm Tiết chế, Quân ta bị quân Nguyễn đánh bại ở Nghi Xuân ạ.
Trịnh Căn tức giận gọi:
-Bay đâu.
-Dạ.
-Cho gọi tướng quân Hoàng Thể Giao, Lê Thì Hiến vào đây.
-Dạ.
Hai tướng bước vào:
-Kính chào Tiết chế.
-Ngồi đi.
-Đa tạ Tiết chế.
Sau một lượt trà, Trịnh Căn nói:
-Thám mã báo về, quân ta thua rồi lại được, được rồi lại thua, ta không chịu nổi cảnh dằng co, chiến tranh kéo dài, nay ta quyết dùng toàn lực đẩy quân Nguyễn về sông Nhật Lệ.
Hoàng Thể Giao hỏi:
-Tiết chế có kế sách gì hay không?
-Giặc đã 5 năm trời ở Nghệ An. Nay là tháng 9 năm 1660, ta quyết giải phóng Nghệ An và Bố Chính. Tướng Hoàng Thể Giao, tướng Lê Thì Hiến nghe lệnh. Hai tướng đem 6 vạn quân vượt sông Lam đánh vào Lân Sơn.
-Mạt tướng tuân lệnh.
Hoàng Thể Giao và Lê Thì Hiến đem 6 vạn quân tấn công Lân Sơn. Trên thành cờ quân Nguyễn bay phấp phới. Quân Trịnh ào ạt xông lên. Kỳ lạ là trên thành không có sự kháng cự nào. Quân Trịnh phá cổng thành vào thì chỉ thấy trong thành trống không. Bỗng nhiên một phát pháo hiệu bắn lên, bốn phía thành tràn ngập quân Nguyễn bao vây lại quân Trịnh. Quân Nguyễn dương loa kêu gọi Hoàng Thể Giao và Lê Thì Hiến hạ vũ khí đầu hàng. Nguyễn Hữu Tiến nói với Nguyễn Hữu Dật:
-Tiêu diệt chúng đi thôi, để lâu quân cứu viện của chúng đến, trong chúng đánh ra, ngoài chúng đánh vào thì quân ta nguy to.
Nguyễn Hữu Tiến vừa dứt lời thì phía sau quân Nguyễn có ba phát pháo hiệu bắn lên. Nguyễn Hữu Tiến và Nguyễn Hữu Dật còn đang ngạc nhiên thì 7 vạn quân Trịnh đã bao vây vòng ngoài. Quân Trịnh trong thành mở cổng đánh ra. Quân Nguyễn bị kẹt vào giữa. Tạc đạn, súng hỏa mai sáng rực bắn xối xả. Hàng vạn quân hai bên gục xuống. Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Tiến cùng đám tùy tướng mở đường máu phá vòng vây mà chạy. 3 vạn quân Nguyễn đã nằm lại trên chiến trường Lân Sơn, Nam sông Lam Nghệ An. Đó là tháng 9 năm 1660. Sau trận đó, quân Nguyễn đuối sức lùi về Nghi Xuân, không còn đủ sức dằng co với quân Trịnh, bị Hoàng Thể Giao và Nguyễn Năng Thiệu đánh bại ở Thiên Lộc, Lê Thì Hiến đánh bại ở Nghi Xuân. Quân Trịnh lấy lại được 7 huyện Nam Nghệ An mà bị quân Nguyễn chiếm từ năm 1655. Trịnh Căn dốc lực truy kích quân Nguyễn và giao chiến một trận lớn ở Hoành Sơn. Mỗi bên chết 2 vạn lính. Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Tiến rút quân về Nhật Lệ. Trịnh Căn nói với Đào Quang Nhiêu:
-Tướng quân hãy trấn thủ Nghệ An kiêm trấn thủ Bắc Bố Chính, kiên quyết không cho quân Nguyễn đánh ra Bắc như 5 năm trước đây. Rõ chưa?
Đào Quang Nhiêu đáp:
-Dạ, đa tạ Tiết chế, mạt tướng tuân lệnh.
Trên bờ Bắc sông Linh Giang, Đào Quang Nhiêu đi tiễn thế tử Trịnh Căn về Bắc. Bầu trời xam xám, sông Linh Giang vẫn cuồn cuộn tuôn nước về Đông. Quân Trịnh đi trong ánh tinh kỳ phấp phới. Đào Quang Nhiêu và binh sĩ nhìn mãi cho đến khi bóng cờ xa lắc mờ dần, chỉ còn lại dải đất Bắc sông Linh Giang xơ xác điêu tàn trong máu lửa những cuộc chiến, chiến tranh không biết bao giờ mới chấm dứt, những người lính không biết bao giờ mới được đi dưới bóng cờ về lại quê cha đất tổ, xum họp với cha mẹ, vợ con, gia đình?
Sau chiến thắng năm 1660, tháng 1 năm 1661, Trịnh Tạc cử 7 vạn bộ binh, 300 chiến thuyền do Trịnh Căn làm thống lĩnh cùng các tướng Hoàng Thể Giao, Lê Thì Hiến vượt sông Linh Giang tấn công Lũy Thầy. Phía quân Nguyễn do lão tướng Nguyễn Hữu Dật ra sức phòng thủ. Hai bên đánh nhau 3 tháng trời, chết hàng nghìn quân, cuối cùng do hết lương thực, đạn dược vũ khí, Trịnh Căn phải rút về Thăng Long.
Năm 1672, Trịnh Tạc lại sai Trịnh Căn chỉ huy thủy binh với 200 chiến thuyền, Lê Thì Hiến chỉ huy 6 vạn bộ binh tiến đánh lũy Thầy. Bên quân Nguyễn lúc này Nguyễn Hữu Tiến đã mất. Chúa Nguyễn Phúc Tần cử con Nguyễn Hữu Tiến là Nguyễn Hữu Hiệp làm thống lĩnh cùng các tướng Nguyễn Mỹ Đức, Cao Tương, Nguyễn Hữu Dật ra chống cự. Quân Trịnh xông lên, hàng nghìn quân chết dưới đạn súng thần công, tạc đạn, cung tên, máy bắn đá mà không công phá được lũy Thầy. Đang khi đó thám mã đến báo cho Trịnh Căn:
-Bẩm thế tử, thân phụ của người ốm nặng, mời thế tử về Thăng Long ngay ạ.
Trịnh Căn ra lệnh:
-Hai tướng Lê Thì Hiến và Lê Sĩ Triệt nghe lệnh.
-Dạ có mạt tướng.
-Hai tướng ở lại trân thủ Bắc Bố Chính, không để quân Nguyễn đánh ra . Rõ chưa?
-Đa tạ thế tử, mạt tướng tuân lệnh.
Sau hơn 55 năm chiến tranh đã làm cho hai bên kiệt quệ, chết chóc. Suốt một dải từ sông Nhật Lệ đến Nghệ An là chiến trường máu lửa, bách tính chết chóc khổ cực, đói khát, kinh tế tiêu điều, cả Đàng Trong và Đàng Ngoài đều kiệt quệ, không thể tiếp tục chiến tranh được nữa. Cuối cùng hai bên phải lấy sông Linh Giang làm giới tuyến chia đôi đất nước. Bắc sông Linh Giang trở ra gọi là Đàng Ngoài (Bắc Hà), Nam sông Linh Giang trở vào gọi là Đàng Trong (Nam Hà). Đây là cuộc chia cắt đất nước lâu dài nhất trong lịch sử. Nếu tính từ 1558 lúc Nguyễn Hoàng vào Nam đến năm 1786, lúc Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ ra Bắc lật đổ nhà Trịnh thì chia cắt kéo dài 228 năm, nếu tính từ 1627 khi nhà Trịnh mở cuộc tấn công vào Đàng Trong lần thứ nhất đến 1786 thì cuộc phân ly đất nước dài 159 năm.