I.

 Trong buổi thiết lần 2 ngày 20 tháng 6 năm 1460, sau khi Lê Thánh Tông ngồi xuống ngai vàng, bá quan quỳ hành lễ:

-Hoàng thượng vạn vạn tuế.

-Miễn lễ, các ái khanh bình thân.

-Tạ Hoàng thượng.

Lê Thánh Tông nói:

-Nay xử tử quan cấm binh Lê Đắc Ninh vì tiếp tay cho Lê Nghi Dân làm phản, truy phong quan Đào Biểu đã tử tiết cùng Lê Nhân Tông trong đêm chính biến tước 1 phần tư và ban 5 mẫu ruộng công để cúng tế. Nay triều đình tổ chức Quốc tang cho Lê Nhân Tông, rước bài vị vào Thái miếu, đặt thụy hiệu Lê Nhân Tông là Nhân Tông Tuyên hoàng đế. Đặt thụy hiệu cho Thái hậu Nguyễn Thị Anh là Tuyên từ hoàng Thái hậu, tha cho Lạng Sơn vương Lê Nghi Dân và thân mẫu Dương Thị Bí nhưng phải rời kinh thành về Lạng Sơn cư trú.                                                                 Các quan lại quỳ xuống:

-Hoàng thượng anh minh.

-Khanh nào có tấu.

Im lặng.

-Không có tấu, bãi triều.

  Trong buổi thiết triều ngày 1 tháng 10 âm lịch 1460, Lê Thánh Tông ban tước cho các đại thần đã tham gia lật đổ Lê Nghi Dân, phong cho Nguyễn Xí tước Qùy  quận công, Đinh Liệt tước Lân quận công, Lê Niệm chức Thái phó, Lê Thọ Vực chức Tả đốc, tham gia nghị triều, chính chương Điện tiền ty, Nguyễn Lỗi chức Đại đô đốc chưởng Hình bộ, Lê Khang tước Văn chấn hầu. Ngày 11 tháng 10 ban ruộng đất. Nguyễn Xí và Đinh Liệt mỗi người nhận 350 mẫu, Lê Lăng nhận 300 mẫu, Lê Niệm nhận 200 mẫu, Lê Nhân Thuận nhận 150 mẫu, Nguyễn Sư Hồi, Lê Nhân Khoái, Lê Thọ Vực và Nguyễn Kế  mỗi đại thần nhận 130 mẫu. Để đề phòng bọn phản nghịch ám sát vua như trường hợp Lê Nhân Tông, Lê Thánh Tông ban lệnh cho quan lại Nội mật viện cùng các cung nhân: “Từ nay về sau nếu thấy chiếu chỉ và các việc cung thì không được lén lút tiết lộ cho người ngoài và bà con thân thích”.

 Lê Thánh Tông đã quan tâm đến các đại công thần bị giết hại do bị vua nghi ngờ, do đấu tranh nội bộ, bị vu cáo. Trong buổi thiết triều năm 1464, các quan quỳ hành lễ:

-Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.

-Miễn lễ các ái khanh bình thân.
-Đa tạ Hoàng thượng.
  Lê Thánh Tông nói tiếp:

-Như các khanh đã biết, quan Hành khiển Nguyễn Trãi là một mưu sĩ bậc nhất của khởi nghĩa Lam Sơn, là một nhà văn, nhà thơ, nhà chính trị, nhà quân sự, nhà địa lý, viết thư thảo hịch tài giỏi hơn hết một thời, bị nghi ngờ có liên quan đến cái chết của phụ hoàng Lê Thái Tông năm 1442. Khi phụ hoàng mất là lúc Nguyễn Trãi được trọng dụng, đã về hưu năm 1437, năm 1439 được phụ hoàng gọi ra làm quan, phục hồi chức tước như cũ, được giao những mảng công việc giáo dục văn hóa mà Nguyễn Trãi có tài năng và rất tâm đắc. Vợ Nguyễn Trãi là Nguyễn Thị Lộ cũng được phong là Lễ nghi học sĩ, vinh hiển một thời, không lý do gì lại giết vua. Vả lại có mặt ở Lệ Chi Viên khi đó đâu chỉ có một mình Nguyễn Thị Lộ, còn có 4 viên cố mệnh đại thần như Trịnh Khả, Nguyễn Xí, Lê Thụ. Phụ hoàng bị bệnh đột quỵ, đã ngất cạnh Nguyễn Xí, Trịnh Khả khi đang xem múa hát. Nói Nguyễn Thị Lộ giết vua là không có chứng cớ. Vả lại Nguyễn Trãi do tính tình cương trực của mình đã tự chuốc lấy nhiều sự bất hòa chống đối và thù địch, kết cục ba họ bị giết thật đáng thương thay. Nay ta truyền chỉ minh oan cho quan Hành khiển Nguyễn Trãi. Ức Trai tâm thượng Quang Khuê tảo. Nay phong Nguyễn Trãi tước Tán trù bá, cho dựng bia, trên bia hãy khắc câu thơ của trẫm: "Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo”. Hàn lâm học sĩ Ngô Sĩ Liên.

-Bẩm hoàng thượng có thần.

-Khanh hãy cho viện Hàn lâm thu thập văn thơ và các tác phẩm của Nguyễn Trãi bị thất lạc qua biến cố vì đó là văn hóa của triều Lê ta và của cả Đại Việt.

-Thần tuân chỉ.

-Quan Đề đốc Lê Nhân Thuận.

-Bẩm Hoàng thượng có thần.

-Khanh hãy cho người đi khắp nơi xem khi xẩy ra tai họa năm 1442, gia đình Nguyễn Trãi những ai chạy thoát và hiện nay ở đâu. Nếu thấy cầm chiếu minh oan cho gia đình họ và nếu là con trai Nguyễn Trãi, hãy đưa về kinh đô gặp trẫm, nếu là con gái còn làm nô tỳ thì hãy cầm chiếu minh oan của trẫm đến giải thoát cho họ.

-Thần tuân chỉ.

-Nay trẫm cũng minh oan và khôi phục danh dự cho các đại thần bị giết: Truy tặng Phạm Văn Xảo bị chết năm 1431 chúc tước Thái bảo Quận công, truy tặng Lê Sát bị giết năm 1437 là Thái bảo Cảnh quốc công, Lê Ngân bị giết năm 1437, Thái phó Hoằng quốc công, Trịnh Khắc Phục bị giết năm 1451  là Thái bảo Ngọc Quận công, ban cho 10 người con trai của Trịnh Khả giữ chức tướng văn, tướng võ, danh vọng và vinh hiển lừng lẫy một thời, đấy là việc hiếm có xưa nay.

Văn võ bá quan quỳ xuống nói:

-Hoàng thượng anh minh.

-Ta cũng truy phong quận Vương Lê Tư Tề là Quận Ai Vương.

-Hoàng thượng anh minh.

Nói về Đề đốc Lê Nhân Thuận, qua một quá trình cho người đi khắp nơi điều tra những người trong gia đình Nguyễn Trãi chạy thoát trong vụ huyết án, tư liệu đó ông trao lại cho Lê Thánh Tông. Lê Thánh Tông trao lại cho Ngô Sĩ Liên hệ thống lại và trình nhà vua.

    Đêm Thăng Long, trong một ngôi nhà không lớn nhưng khang trang. Trong tường của gian giữa kê bàn thờ gia tiên, trên bàn sơn son có vài bát hương trắng bằng sứ, bên ngoài vẽ rồng phượng màu xanh uốn lượn, đặt trước các bài vị của các cụ tổ tiên họ Ngô. Hai bên đầu bàn có những lư hương bằng đồng vàng chóe đặt vàng hương để dùng. Trước bàn thờ có hai cây cột to sơn đỏ treo hai câu đối nền đen chữ Hán vàng lấp lánh. Phía dưới bàn thờ đặt một chiếc bàn màu gụ, hai bên kê hai chiếc ghế tràng kỷ hoa văn cây lá chạm trổ tinh vị, còn khảm trai lấp lánh màu trắng. Những cây nến cắm trên cột cháy tỏa sáng không chỉ gian giữa mà còn tỏa ra hai gian hai bên ánh sáng vàng rực rỡ. Ngồi ở tràng kỷ là một người đàn ông khoảng 30 tuổi đầu buộc khăn thếp đen, mặc áo dài đen. Trên bàn ngoài bộ ấm chén uống trà còn chất đầy sách vở, giấy tờ và nghiên mực. Người đàn ông khuôn mặt thư sinh, rót chén trà uống rồi lại ngồi cầm mấy tờ giấy vẻ đau buồn ưu tư. Đó là nhà sử học Ngô Sĩ Liên, Tiến sĩ-Hàn lâm học sĩ. Ngô Sĩ Liên đang ngồi đau buồn vì cái chết của Nguyễn Trãi, gia đình và họ hàng. Trong tâm tưởng của Ngô Sĩ Liên, ông đã tôn Nguyễn Trãi làm thầy. Chính Nguyễn Trãi đã lấy ông đỗ trong kỳ thi Hội đầu tiên của nhà Hậu Lê năm 1442, không chỉ thế, Ngô Sĩ Liên còn thấy được ở Ức Trai một thiên tài về quân sự, chính trị, văn học, địa lý học, về âm nhạc cung đình. Ở Nguyễn Trãi ông còn thấy là người vẹn toàn nhân trí tín. Nguyễn Trãi đã có công lao to lớn trong cuộc kháng chiến chống Minh, giải phóng dân tộc, còn góp phần giúp các vua Lê đề ra những chính sách kinh tế, xã hội văn hóa xây dựng phát triển đất nước trong thời hòa bình.

Trên những tài liệu còn sót lại trong sự kiện bi thảm, Ngô Sĩ Liên muốn viết một cái gì đó về thầy của mình, trước hết ông phải thống kê xem gia đình anh em nhà Nguyễn Trãi những ai đã không thoát, những ai đã chạy thoát để trình lên cho vua Lê Thánh Tông.

Theo sự điều tra của thám mã triều đình do vua Lê Thánh Tông phái đi các nơi, sau đó nhà vua lại trao lại cho Ngô Sĩ Liên để ông tổng hợp lại thì Nguyễn Trãi có 5 phu nhân:

Vợ cả  là phu nhân Trần Thị Thành. Bị giết trong thảm án, giỗ ngày 16-8 âm lịch 1442.

Vợ thứ 2 là Phùng Thị phu nhân, quê quán Nguyệt Áng, Thanh Trì, Hà Nội, bị giết trong ngày trong thảm án ngày 16-8-1442 (âm lịch).

Vợ 3 là Phu nhân Nguyễn Thị Lộ, quê quán xã Hải Triều, huyện Ngự Thiên (Hưng Hà, Thái Bình), bị giết trong thảm án ngày 16-8-1442 âm lịch

Vợ 4 là phu nhân Phạm Thị Mẫn, quê quán ở làng Nỗ Vệ, Thụy Phú, Phú Xuyên (Thăng Long), thoát nạn khi chạy trốn sinh ra Nguyễn Anh Vũ.

Vợ 5 là Lê Thị Phu Nhân, người làng Chi Ngãi, Cộng Hòa, Chí Linh, Hải Dương, thoát nạn.

    Như vậy vụ án ngoài họ Nguyễn thì còn liên quan đến họ Trần, bà Trần Thị Thái phu nhân của Nguyễn Phi Khanh (họ mẹ của Nguyễn Trãi), họ Nhữ, bà kế thất của Nguyễn Phi Khanh, họ Trần, bà Trần Thị Thành chính thất của Nguyễn Trãi, họ Phùng: Phùng Thị phu nhân, họ Phạm, phu nhân Phạm Thị Mẫn, thứ thất của Nguyễn Trãi.

    Nguyễn Trãi có 7  người con:

-Chính thất Trần Thị Thành sinh ra Nguyễn Khuê, Nguyễn Ứng, Nguyễn Phù (Nguyễn Hồng Quý). Nguyễn Khuê, Nguyễn Ứng bị giết.

    Nguyễn Phù chạy thoát về Phù Đàm, nay là Phù Khê, Từ Sơn, Bắc Ninh, thành một chi họ Nguyễn ở Từ Sơn.

-Bà Phùng Thị phu nhân sinh ra Nguyễn Bản, tiểu thư Nguyễn Thị Đào, không nói được từ nhỏ. Còn nhỏ nên không bị bắt làm nô tì. Nguyễn Thị Đào được một hoạn quan đem về nuôi, lớn lên bỗng nhiên lại nói được. Viên hoạn quan mất, nàng lưu lạc tại giáp phường, múa hát trong cung.

-Bà Nguyễn Thị Lộ không có con.

-Bà Phạm Thị Mẫn trên đường chạy trốn đã có mang 3 tháng, người học trò Nguyễn Trãi tên là Lê Đạt đưa đi trốn ở phía tây Thanh Hóa,  sinh ra Nguyễn Anh Vũ. Một thời gian sau, bà về Thôn Dự Quần, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, Thanh Hóa. Nguyễn Anh Vũ ra đời mang họ Phạm. Bà Lê Thị phu nhân đang có thai đã chạy thoát về thôn Hoa Dư, xã Hà Trang, huyện Hiệp Sơn (Phượng Quất, Kinh Môn, Hải Dương). Bà sinh ra Nguyễn Năng Đoán.

Những người em của Nguyễn Trãi:

Nguyễn Phi Báo, Nguyễn Phi Bằng, Nguyễn Phi Hùng, Nguyễn Phi Ly.

 Con của Nguyễn Phi Khanh với bà thứ 2 Đoàn Nhữ Hoàn:

Sinh ra Nguyễn Nhữ Soạn, Nguyễn Nhữ Trạch.

Những người em của Nguyễn Trãi bị giết: Nguyễn Phi Báo, Nguyễn Phi Bằng. Nguyễn Phi Ly.

 Thoát nạn: Nguyễn Phi Hùng đã theo cha sang Trung Quốc năm 1407. Vì lý do nào đó Nguyễn Phi Hùng đổi sang họ Ngô. Năm 1428 ông Nguyễn Phi Khanh mất, Nguyễn Phi Hùng đưa hài cốt của cha về táng ở núi Báo Đức, Chí Linh Hải Dương rồi quay lại Phúc Kiến Trung Quốc với gia đình con cái. Sau khi Nguyễn Phi Hùng mất, con là Ngô Dũng đưa gia đình về Đại Việt, cố hương. Do vụ án Lệ Chi Viên, Ngô Dũng đổi sang họ Phạm và đưa gia đình về làng Dương Liễu (Hoài Đức, Thăng Long).  Nguyễn Nhữ Trạch, Nguyễn Nhữ Soạn đã trốn về làng Bồng, xã Vĩnh Tân, Vĩnh Lộc Thanh Hóa. Từ đó hình thành hai chi họ Nguyễn ở Thanh Hóa. Chi họ Nguyễn ở làng Bồng, Vĩnh Tân, Vĩnh Lộc Thanh Hóa.. Chi họ Nguyễn Nhữ Soạn ở Cẩm Nga, Mộc Nhuận (nay là Đông Sơn, Thanh Hóa), lấy giỗ tổ là ngày mất của Nguyễn Phi Khanh. Riêng chi họ Nguyễn Nhữ Trạch sau này di lý xuống Lan Trà, xã Trúc Lâm, Tĩnh Gia Thanh Hóa, lập các chi họ Nguyễn ở đây. Chi họ Nguyễn ở Lan Trà sau đổi là Nguyễn Đình. Nay ở Cẩm Nga có từ đường tiên tổ.

  Trống điểm canh ba rồi mà Ngô Sĩ Liên vẫn chưa muốn ngủ, có lẽ ông sẽ thức suốt đêm nay với huyết án Lệ Chi Viên hai mươi năm về trước. Ông day dứt vì không đủ tư liệu về tên tuổi của 400 người trong ba họ nhà Nguyễn Trãi đã chết dưới tay đao phủ, con số 400 người hay còn nhiều hơn nữa vì vụ án liên quan đến không chỉ họ Nguyễn mà còn liên quan tới hai họ Trần (Phu nhân Trần Thị Thái, thân mẫu Nguyễn Trãi, họ của năm phu nhân của Nguyễn Trãi:Trần Thị Thành  (chính thất của Nguyễn Trãi), họ Phùng (Phùng Thị phu nhân), họ Nguyễn (Nguyễn Thị Lộ), họ Phạm ((Phạm Thị Mẫn), họ Lê (Lê Thị phu nhân), như vậy tổng cộng bảy họ bị giết và bị truy sát suốt hai mươi năm trời. Lê Thánh Tông xuống chiếu minh oan cho Nguyễn Trãi là cực kỳ quan trọng. Từ đây, con cháu của bảy họ không bị truy sát nữa, được sống tự do bình thường trên đất Đại Việt, không còn là tội đồ nữa, được lấy lại họ Nguyễn Phi của mình, được học hành thi cử, được ra làm quan. Nguyễn Trãi từ Đại công thần trở thành tội đồ nay lại trở lại là khai quốc công thần như xưa. Sự nghiệp đánh giặc của ông, sự nghiệp văn chương của ông sẽ lưu danh muôn đời".

   Ngô Sĩ Liên cũng thầm cảm ơn trời đất còn cho ông thầy kính yêu của ông còn được vài đứa con sống sót, nối dõi tông đường trong đại họa diệt tộc khủng khiếp. Thật là may mắn. Nghĩ tới đó tâm tư của ông đỡ căng thẳng. Ngô Sĩ Liên biết phải đi ngủ sớm để mai còn lên triều, trình bản tổng hợp này cho Lê Thánh Tông và nhận nhiệm vụ mới là sưu tầm các tác phẩm của Nguyễn Trãi đã bị hủy diệt hoặc bị thất lạc trong cơn đại họa.

    Sau khi nhận và đọc bản tổng hợp về những người bị giết và những người thoát nạn trong gia đình Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông xuống chiếu minh oan cho gia đình quan Hành khiển Nguyễn Trãi, truy phong tước Tán Trù bá, kết thúc vụ án Lệ Chi Viên kéo dài hai mươi năm. Nguyễn Anh Vũ là đại diện duy nhất của gia tộc ra nhận chiếu chỉ của triều đình. Nguyễn Anh Vũ được Lê Thánh Tông phong chức đồng Tri phủ Tĩnh Gia, cấp 100 mẫu ruộng gọi là miễn hoàn điền (ruộng không phải trả lại cho nhà nước khi đến hạn) mà được để lại cho con cháu đời sau thờ phụng. Vua Lê Thánh Tông cũng cho tìm trong giáo phường, đón Nguyễn Thị Đào (con gái duy nhất của Nguyễn Trãi với Phùng Thị phu nhân) vào cung và phong làm chiêu nghi.

Nguyễn Anh Vũ cho xây mộ Nguyễn Trãi tại làng Dự Quần, lấy ngày mất của Nguyễn Trãi là ngày 16 tháng 8 âm lịch làm ngày giỗ họ. Nguyễn Anh Vũ lấy hai bà vợ, sinh được bảy người con gồm: Nguyễn Tạc, Nguyễn Giám, Nguyễn Quân, Nguyễn Thiêm, Nguyễn Giáp, Nguyễn Thung, Nguyễn Châu Phương và một người con gái. Khi các con trưởng thành, Nguyễn Anh Vũ cử những người con của mình về các nơi phục hồi lại dòng họ và hương khói từ đường như ở Nhị Khê (Thăng Long), Chi Ngãi, Hải Dương; Thụy Phú (Phú Xuyên, Thăng Long) và hình thành một số chi họ Nguyễn ở Hải Anh (Hải Hậu, Nam Đinh), Xuân Đức (Mỹ Hào, Hưng Yên), Dự Quân (Xuân Lam, Tĩnh Gia, Thanh Hóa). Người vợ thứ năm của Nguyễn Trãi sống sót là Lê Thị Phu nhân người Chi Ngại (huyện Phượng Nhãn, phủ Lạng Giang, trấn Kinh Bắc, khi xẩy ra vụ án bà chạy về Thôn Hoa Dư, xã Hà Trang, Huyện Hiệp Sơn (tức Phượng Quất, Kinh Môn Hải Dương), sinh ra Nguyễn Năng Đoán. Từ đời Nguyễn Năng Đoán, phát triển thành nhiều chi họ Nguyễn ở Phượng Quất, Quế Lĩnh (Kinh Môn, Hải Dương, Triều Bến, Đông Triều, Quảng Ninh. Ngô Dũng, con Nguyễn Phi Hùng ở Dương Liễu - Hoài Đức Thăng Long, lại đổi thành họ Phạm. Đến đời thứ tư, dòng họ có cụ Phạm Phi Kiến sinh năm Giáp Tý 1564 đỗ đệ nhị giáp tiến sĩ khoa Quý Hợi Vĩnh Tộ thứ 5 (1623) đời vua Lê Thần Tông, làm quan đến Hiến sát sứ. Từ đây con cháu lại đổi thành Nguyễn Phi. Từ đó hình thành các chi Nguyễn Phi ở Dương Liễu - Hoài Đức.

                                        *      *

                                            *

  Đêm nay trong căn phòng riêng của dinh thự của mình, Ngô Sĩ Liên đang ngồi nhâm nhi ly trà nóng. Trong căn phòng, những ngọn nến trên những đĩa đồng cháy leo lét soi mờ mờ nhưng cũng đủ nhìn thấy căn phòng xếp đầy sách, trên chiếc bàn gỗ gụ mà Ngô Sĩ Liên ngồi cạnh cũng đầy giấy mực, nghiên bút. Ngô Sĩ liên đang đọc lại những trang tư liệu về những chính sách kinh tế, chính trị, pháp luật, quốc phòng, văn hóa của vua Lê Thánh Tông đã ban hành và đang thực hiện để xây dựng và phát triển Đại Việt thành một quốc gia hùng cường, bách tính no ấm, quốc phòng hùng mạnh, xã hội thanh bình. Nhâm nhi xong ly nước, Ngô Sĩ Liên đọc:

“Sau khi lên ngôi, Lê Thánh Tông ban hành những chính sách mới để hoàn thiện bộ máy quan chế-hành chính nhà nước phong kiến Đại Việt. Do đó Triều Lê Thánh Tông là thời kỳ hưng thịnh bậc nhất của xã hội phong kiến. Lê Thánh Tông đã ban hành Quốc Triều Hình Luật (Luật Hồng Đức) và cải cách về mặt nhà nước. Đây là cải cách lớn nhất trong lịch sử phong kiến, mô hình nhà nước thời Lê Thánh Tông là mẫu mực cho đời sau. Mục tiêu cải cách nhà nước của Lê Thánh Tông: Củng cố hoàn thiện một bước mới nền quân chủ chuyên chế phong kiến, nhằm tập trung quyền lực tuyệt đối vào tay nhà vua theo nguyên tắc “Tôn quân quyền”, nâng cao hiệu lực của bộ máy nhà nước quan liêu. Thể hiện hiệu quả quyền lực của nhà vua. Biện pháp cải cách:

Bỏ bớt một số chức quan và cơ quan các cấp chính quyền trung gian để tập trung quyền lực vào tay nhà vua. Các cơ quan giám sát, kiểm sát lẫn nhau để loại trừ sự lạm quyền và nâng cao trách nhiệm. Không để tập trung quá nhiều quyền hành vào một cơ quan mà phân ra cho nhiều cơ quan nhằm ngăn chặn sự tiếm quyền. Lê Thánh Tông đã cải tổ bộ máy nhà nước một cách toàn diện cả ở Trung ương và địa phương, cả quan chế và thể chế, cả dân sự và quân sự. Nội dung cải cách ở Trung ương: Với các đại thần, để ngăn chặn lạm quyền, nhà vua nắm trực tiếp các cơ quan trọng yếu, Lê Thánh Tông đã bãi bỏ chức Tể tướng. Tể tướng là chức vụ chỉ sau vua mà đứng đầu trăm quan. Nay vua tự mình điều khiển trăm quan. Bãi bỏ chức Đại hành khiển, một chức vụ đứng đầu trăm quan. Bãi bỏ chức vụ Tam tư: Tư đồ, Tư khấu, Tư không. Để lại các chức vụ lương cao bổng hậu nhưng không có thực quyền như tam thái: Thái sư, Thái bảo, Thái phó, Tam thiếu: Thiếu sư, Thiếu bảo, Thiếu phó.

 Hoàn thiện hoặc lập thêm cơ quan văn phòng giúp việc cho vua: Hàn Lâm viện khởi thảo văn thư, chiếu chỉ cho nhà vua đứng đầu là quan Thừa chỉ. Đông các viện: Sửa chữa các văn bản do Hàn lâm viện khởi thảo, đứng đầu là Đông các đại học sĩ. Trung thư giám: Phụ trách việc biên chép các dự thảo văn bản của hai cơ quan trên để chính thức trình vua phê chuẩn, đứng đầu là Trung thư giám. Ba cơ quan trên có mối quan hệ với nhau. Hoàng môn tỉnh là cơ quan giữ 6 quả ấn của nhà vua dùng đóng vào các văn bản khác nhau của các công việc khác nhau, quan đứng đầu là Hoàng môn Thị lang  (Hoàng môn tỉnh). Bí thư giám là cơ quan trông coi thư viện của vua, quan đứng đầu là Bí thư giám. Củng cố cơ quan hành pháp: Lục bộ. Năm 1460 lập ra lục bộ, cơ quan trọng yếu hành pháp trực tiếp do vua nắm, giúp vua quản lý kinh tế, chính trị, xã hội, quân sự, tư pháp trong cả nước. Đứng đầu mỗi bộ là Thượng thư, giúp việc Thượng thư có tả, hữu Thị lang, tả hữu Lang trung. Trong một bộ còn có sảnh và ty. Chức năng cụ thể của mỗi bộ: Bộ Lễ: phụ trách thủ tục, lễ nghi, tế tự, tiệc tùng, thi cử, học hành, quản lý lễ nghi của quan lại, đúc ấn tín, trông coi Tư thiên giám, Thái y viện, quản lý đền chùa miếu mạo, ngoại giao. Bộ lễ có khoảng 70 người. Bộ lại: Rất quan trọng, giúp vua quản lý toàn bộ quan lại trong cả nước, xương sống của chế độ, tuyển quan lại và bổ nhiệm, thăng giáng, phong tước phẩm, khảo xét quan lại. Bộ lại khoảng 80 người. Bộ hình giúp vua trông coi hình pháp, xét xử và ngục tụng. Bộ hình có khoảng 190 người. Bộ công phụ trách sửa chữa xây dựng cung điện, đường sá cầu cống, thành thị, quản lý công xưởng thợ thuyền của xưởng nhà nước. Bộ công khoảng 50 người. Bộ binh phụ trách về quân sự, tuyển quân, huấn luyện quân đội, phụ trách quân trang quân dụng, trông coi biên ải. Bộ binh khoảng 130 người. Bộ hộ  nắm các hộ gia đình trong toàn quốc để thu thuế, binh dịch, lao dịch, quản lý về ruộng đất, quản lý kho tàng nhà nước, cân đối thu chi ngân sách nhà nước. Thành lập những cơ quan dưới bộ,

làm những việc mà bộ không làm hết. Lục tự: Thành lập năm 1466: Đại lý tự, hỗ trợ cho Bộ hình, Thái thường tự phụ trách nghi lễ, Quang lộc tự cung cấp thức ăn cho các buổi lễ, Thái bộc tự phụ trách xe ngựa cho vua, Thường bảo tự giữ việc đóng ấn vào quyển thi của thí sinh, Hồng Lô tự tổ chức các buổi xướng danh tân khoa Tiến sĩ, sắp xếp nghi lễ đón khách quí của nhà vua, tổ chức mai táng các quan đại thần                             Thành lập Thông chính ty: Truyền đạt chiếu chỉ của vua xuốngchodânvàngượclại.        Thành lập các giám: Quốc tử giám phụ trách về giáo dục. Quốc sử viện biên soạn lịch sử, Tư thiên giám trông coi thiên văn, thời tiết Thành lập Thái y viện trông coi y dược trong cả nước và chăm sóc sức khoẻ cho vua. Thành lập Tôn nhân phủ trông coi họ hàng nhà vua. Thành lập 4 sở chuyên môn trông coi nông nghiệp. Thành lập các khoa: Lại khoa, Hộ khoa, Lễ khoa, Binh khoa, Hình khoa, Công khoa. Các khoa có nhiệm vụ giám sát các Bộ.

    Năm 1446, ngoài sáu Bộ, Lê Thánh Tông còn đặt thêm sáu tự gồm:  Đại lý tự. Thái thường tự. Quang lộc tự. Thái bộc tự. Hồng lô tự. Thượng bảo tự. Ngoài ra còn có ba cơ quan giúp việc nhà vua: Ngự sử đài. Hàn lâm viện. Đông các viện. Ở ban võ, Lê Thánh Tông bỏ chức Đại tổng quản mà giao cho Ngũ phủ thống suất quân đội toàn quốc do tả, hữu Đô đốc cầm đầu. Đứng trên tất cả các cơ quan là các chức quan đứng đầu triều đình như Bình Chương tướng quốc, Tam thái, Tam thiếu. Năm 1471 Lê Thánh Tông ra chỉ dụ: “Hiệu định quan chế” định rõ trách nhiệm các chức quan, bãi bỏ chức tể tướng để tập trung quyền lực vào tay nhà vua.

Quan chế: Cửu phẩm (từ nhất phẩm đến cửu phẩm)

Tước: Vương, Công, hầu, bá. Nguồn quan lại chủ yếu do thi cử tuyển chọn. Học Nho để thi cử. Bảy tuổi học Nho, lớn lên học tứ thư, ngũ kinh. Thi hương, đỗ nhận học vị Cống sĩ. Thi hội: Cống sĩ đi thi hội đỗ nhận học vị tiến sĩ. Thi đình: Tiến sĩ đi thi đình do vua trực tiếp khảo thí đỗ nhận học vị Trạng nguyên. Đỗ Tiến sĩ và Trạng nguyên được bổ nhiệm làm quan. Nhà Lê thường sát hạch để thăng giáng quan lại: Sát hạch về học vấn, tư cách. Lương bổng của quan lại chủ yếu là cấp ruộng đất và lương. Thực hiện chế độ hồi tị nghiêm ngặt đối với quan lại, quan lại không được làm quan tại quê nhà, làm việc ở nơi khác vài năm sau lại đổi đi để tránh kết bè đảng, hư hỏng quan lại. Kết quả cải cách hành chính của Lê Thánh Tông: Xây dựng được nhà nước có hiệu quả, tập quyền đến cao độ, đưa xã hội phong kiến thời Hồng Đức là thời kỳ hưng thịnh nhất của chế độ phong kiến  Đại Việt .                                                        

Nội dung cải cách ở địa phương: Cấp đạo (xứ), chia nước thành nhiều đạo. Đạo là khu vực hành chính lớn nhất. Quyền hành ở đạo không để vào tay một người mà chia thành Tam ty nhằm ngăn chặn sự cát cứ và để chính quyền địa phương có hiệu quả hơn: Thừa Ty phụ trách hành chính, tài chính, dân sự. Đô ty trông coi việc quân. Hiến ty trông coi về tư pháp. Riêng Trung Đô có phủ doãn đứng đầu. Cấp phủ: dưới đạo là phủ do Tri phủ đứng đầu nắm toàn bộ quyền lực. Cấp huyện: dưới phủ là huyện do Tri huyện đứng đầu. Miền núi châu tương đương cấp huyện do Tri châu đứng đầu. Cả nước thời kỳ đó có 178 huyện, 50 châu. Cấp xã do xã trưởng đứng đầu, xã lớn gồm 500 hộ, xã vừa 300 hộ, xã nhỏ 100 hộ. Đặt ra tiêu chuẩn xã trưởng: Sinh đồ, người già. Anh em thân thích không cùng làm việc một xã. Lê Thánh Tông kiểm duyệt hạn chế hương ước. Tóm lại cải cách địa phương Lê Thánh Tông chú ý cấp đạo và cấp xã. Xã trưởng phải là giám sinh, sinh đồ hay “lương gia tử đệ” trên 30 tuổi, biết chữ và có hạnh kiểm.                                                                                         

Năm 1469 định bản đồ trong cả nước quy định số khu vực hành chính thuộc 12 đạo thừa tuyên. Năm 1471 mở bờ cõi phía Nam, Lê Thánh Tông cho đặt thêm Thừa tuyên Quảng Nam, có 3 phủ và 9 huyện. Bộ máy hành chính cả nước có là 2.615 người. Với 13 Phủ thừa tuyên Phủ Phụng Thiên: Tức trung tâm Thăng Long: Từ năm 1469 được đổi tên thành phủ Phụng Thiên. Gồm có 2 huyện: Quảng Đức là huyện phụ quanh kinh thành, Vĩnh Xương, sau đổi là Thọ Xương.                                                                                                    

1.Đạo Thừa Tuyên Thiên Trường/Sơn Nam

Vốn có tên là thừa tuyên Thiên Trường, năm 1469 đổi thành thừa tuyên Sơn Nam. Năm 1490 đổi làm xứ Sơn Nam. Có Phủ Thường Tín: gồm các huyện Thanh Trì  (một phần Thanh Trì, Hoàng Mai, và   Thanh Xuân), Thượng Phúc (Thường Tín và một phần Thanh Trì), Phù Vân  (Phú Nguyên, Phú Xuyên).  Phủ Ứng Thiên, gồm có các huyện: Thanh Oai (Thanh Oai và một phần Hà Đông), Chương Đức (Chương Mỹ và một phần Hà Đông), Sơn Minh (Ứng Hòa), Hoài An (phần nam  Ứng Hòa và một phần Mỹ Đức). Phủ Lý Nhân: Tương đương  Hà Nam gồm các huyện: Nam Xang (Lý Nhân và một phần Phủ Lý), Kim Bảng, Duy Tiên, Thanh Liêm (Thanh Liêm và một phần Phủ Lý), Bình Lục.  Phủ Khoái Châu: Gồm các huyện Đông Yên (Khoái Châu), Kim Động  và một phần Hưng Yên, Tiên Lữ (Tiên Lữ và một phần Hưng Yên), Thiên Thi (Ân Thi), Phù Dung (Phù Cừ). Phủ Thiên Trường (một phần  Nam Định): Gồm các huyện Tây Chân ( Nam Trực, Nam Ninh và một phần Nam Định), Giao Thủy (Giao Thủy và Xuân Trường), Mỹ Lộc (Mỹ Lộc và một phần Nam Định), Thượng Nguyên (nam  Mỹ Lộc).   Phủ Nghĩa Hưng (tức phủ Kiến Hưng thời Trần, một phần  Nam Định): Gồm các huyện Đại An (Nghĩa Hưng), Vọng Doanh (nam  Ý Yên), Thiên Bản (Vụ Bản), Ý Yên (bắc Ý Yên). Phủ Thái Bình (một phần Thái Bình): Gồm các huyện Thụy Anh (phía bắc Thái Thụy), Phụ Dực (phía đông  Quỳnh Phụ), Quỳnh Côi (phía tây Quỳnh Phụ), Đông Quan (một phần  Đông Hưng).  Phủ Tân Hưng (Long Hưng thời Trần, phía tây bắc Thái Bình): Gồm các huyện: Ngự Thiên (một phần  Hưng Hà), Duyên Hà (một phần  Hưng Hà), Thần Khê (một phần   Đông Hưng và Thái Bình), Thanh Lan (phía nam Thái Thụy). Phủ Kiến Xương (nam  Thái Bình) gồm các huyện: Thư Trì (một phần Vũ Thư và Thái Bình), Vũ Tiên (một phần các huyện  Vũ Thư và Kiến Xương), Chân Định (một phần  Kiến Xương). Phủ Trường Yên (đông  Ninh Bình) gồm các huyện: Gia Viễn (phía đông  Gia Viễn, Hoa Lư và Ninh Bình), Yên Mô (Yên Mô và Tam Điệp), Yên Khang (Yên Khánh). Phủ Thiên Quan (tây Ninh Bình) gồm các huyện Phụng Hóa (Nho Quan), Yên Hóa (tây Gia Viễn), Lạc Thổ (các huyện Lạc Sơn, Lạc Thủy, Yên Thủy và Tân Lạc, Hòa Bình).

 2. Đạo Thừa Tuyên Bắc Giang/Kinh Bắc

Thời Lê Thái Tông vốn là 2 đạo Bắc Giang thượng và Bắc Giang hạ, năm 1466 đổi là thừa tuyên Bắc Giang, năm 1469 đổi là thừa tuyên Kinh Bắc. Gồm có các phủ: Phủ Từ Sơn gồm các huyện Đông Ngàn (Từ Sơn,  Bắc Ninh và một phần  Đông  Anh, Gia Lâm và  Kim Anh của  Phúc Yên, tức là một phần Sóc Sơn), Yên Phong (Yên Phong và một phần  Bắc Ninh), Tiên Du (Tiên Du, một phần  Bắc Ninh và một phần Gia Lâm), Võ Giàng (một phần Quế Võ và một phần Bắc Ninh), Quế Dương (một phần Quế Võ).  Phủ Thuận An gồm các huyện: Gia Lâm  (Long Biên và một phần Gia Lâm), Siêu Loại (Thuận Thành ), Văn Giang (Văn Giang, Hưng Yên và Kim Lan,  Gia Lâm), Gia Định (Gia Bình ). Phủ Bắc Hà gồm các huyện: Tân Phúc (Đa Phúc, một phần Sóc Sơn), Kim Hoa (một phần Sóc Sơn), Hiệp Hòa, Yên Việt (Việt Yên).  Phủ Lạng Giang gồm các huyện Phượng Nhãn (một phần Yên Dũng ), Hữu Lũng (Hữu Lũng, Lạng Sơn), Bảo Lộc (Lạng Giang), Yên Thế (Yên Thế và Tân Yên), Lục Ngạn (Lục Ngạn và Lục Nam).

3. Đạo Thừa Tuyên Quốc Oai/ Sơn Tây

Vốn là lộ Quốc Oai thượng, trung và hạ thời Lê Thái Tổ, năm 1466 đổi là thừa tuyên Quốc Oai, năm 1469 đổi là thừa tuyên Sơn Tây, năm 1490 đổi là xứ Sơn Tây. Gồm các phủ:  Phủ Quốc Oai gồm các huyện: Từ Liêm (Cầu Giấy, một phần Tây Hồ, một phần Thanh Xuân và một phần Từ Liêm), Thạch Thất, Đan Phượng (Đan Phượng và một phần Từ Liêm), Mỹ Lương (Mỹ Đức và Lương Sơn, Hòa Bình), Phúc Lộc (Phúc Thọ và một phần Sơn Tây). Phủ Tam Đái gồm có các huyện: Yên Lãng (Phúc Yên), Yên Lạc, Bạch Hạc (Vĩnh Tường), Lập Thạch ( Lập Thạch và Sông Lô), Phù Ninh (Phù Ninh, một phần  Phú Thọ và một phần Việt Trì). Phủ Thao Giang gồm các huyện Sơn Vi (Lâm Thao), Thanh Ba, Hoa Khê (Cẩm Khê), Hạ Hòa, Tam Nông.  Phủ Đoan Hùng gồm các huyện Đông Lan (khu vực ngã ba sông Lô và sông Chảy), Tây Quan (hữu ngạn sông Lô cạnh Phù Ninh), Sơn Dương (Sơn Dương thuộc Tuyên Quang), Đương Đạo (đông bắc Sơn Dương), Tam Dương (Tam Dương và Tam Đảo, Vĩnh Phúc). Phủ Quảng Oai gồm  Ma Nghĩa  một phần Sơn Tây và một phần Ba Vì), Tân Phong (một phần  Ba Vì).

      4. Đạo Thừa Tuyên Nam Sách/Hải Dương

Vốn là lộ Nam Sách thượng và Nam Sách hạ, năm 1466 gộp vào là thừa tuyên Nam Sách, năm 1469 đổi là thừa tuyên Hải Dương. Gồm các phủ: Phủ Thượng Hồng gồm các huyện: Đường Hào (Mỹ Hào, Hưng Yên), Đường Yên (Bình Giang, Hải Dương), Cẩm Giàng (Cẩm Giàng và một phần Hải Dương), Thanh Miện, Tứ Kỳ, Vĩnh Lại (Vĩnh Bảo, Hải Phòng). Phủ Nam Sách gồm các huyện: Thanh Lâm (huyện Nam Sách và một phần Hải Dương), Chí Linh, Thanh Hà (Thanh Hà và một phần Hải Dương), Tiên Minh (Tiên Lãng, Hải Phòng). Phủ Kinh Môn gồm các huyện: Giáp Sơn (Kinh Môn), Đông Triều (Đông Triều và Uông Bí), An Lão, Nghi Dương (Kiến Thụy), Kim Thành, Thủy Đường (Thủy Nguyên), An Dương (An Dương và  Hải An).

5. Đạo Thừa Tuyên An Bang

 Thời Lê Thái Tổ là An Bang thuộc Đông Đạo, từ năm 1466 là thừa tuyên An Bang, năm 1490 gọi là xứ An Bang. Gồm có 1 phủ: Phủ Hải Đông gồm các huyện: Hoành Bồ (Hoành Bồ và một phần  Hạ Long), Yên Hưng (Quảng Yên và một phần Hạ Long), Hoa Phong (Cát Hải) và các châu: Tiên Yên, Vạn Ninh),  Vĩnh An, Vân Đồn (cù lao Lợn Lòi phía đông vịnh Bái Tử Long).

 6. Đạo Thừa Tuyên Lạng Sơn

Thời Lê Thái Tổ thuộc Bắc Đạo, năm 1466 đặt thừa tuyên Lạng Sơn, năm 1490 đổi là xứ Lạng Sơn. Chỉ có 1 phủ: Phủ Trường Khánh (Lạng Sơn) gồm các châu: Thất Nguyên (Tràng Định), Văn Uyên (Văn Lãng), Văn Lan (một phần Chi Lăng và Văn Quan), Châu Ôn (một phần Chi Lăng), Lộc Bình (Lộc Bình và Cao Lộc), An Bác (Sơn Động, Thoát Lãng).

 7. Đạo Thừa Tuyên Thái Nguyên/Ninh Sóc

Thời Lê Thái Tổ thuộc Bắc đạo, năm 1466 đặt thừa tuyên Thái Nguyên, năm 1469 đổi là thừa tuyên Ninh Sóc. Gồm các phủ: Phủ Phú Bình gồm các huyện Phổ Yên, Đại Từ, Tư Nông (Phú Bình), Bình Nguyên (Bình Xuyên, Vĩnh Phúc), Đồng Hỷ, Văn Lãng (Văn Lãng, Lạng Sơn), Võ Nhai, Phú Lương và châu Định Hóa. Phủ Thông Hóa ( Bắc Kạn) gồm huyện Cảm Hóa (Ngân Sơn và Na Rì) và châu Bạch Thông ( Bắc Kạn,  Bạch Thông, Chợ Đồn và Chợ Mới). Phủ Cao Bình, vốn là phủ Bắc Bình (Cao Bằng) gồm các châu: Thạch Lâm (Hòa An, Nguyên Bình và Thạch An), Quảng Uyên (Quảng Uyên và Phục Hòa), Thượng Lang (Trà Lĩnh và Trùng Khánh), Hạ Lang.

8. Đạo Thừa Tuyên Tuyên Quang

Thời Lê Thái Tổ thuộc Tây đạo, năm 1466 đặt thừa tuyên Tuyên Quang, năm 1490 đổi là xứ Tuyên Quang. Chỉ có 1 phủ:  Phủ Yên Bình gồm huyện Phúc Yên (Yên Sơn và Hàm Yên), và các châu: Vị Xuyên (Vị Xuyên, Xín Mần và Hoàng Su Phì, Bắc Quang, Quang Bình và  Hà Giang. Kèm thêm cả phần đất các động Ngưu Dương (nay là Mã Quan), Hồ Điệp, Phổ Viên thuộc châu Vị Xuyên, mà trong đó gồm có cả vùng Tụ Long, phần đất này nay thuộc các huyện Mã Quan, Ma Lật Pha, Thu Vật (Yên Bình thuộc Yên Bái), Đại Man (Chiêm Hóa), Bảo Lạc (Bảo Lạc thuộc Cao Bằng), Lục Yên ( Yên Bái).

9. Đạo Thừa Tuyên Hưng Hóa

 Thời Lê Thái Tổ là 2 lộ Gia Hưng và Quy Hóa thuộc Tây đạo, năm 1466 đặt thừa tuyên Hưng Hóa, năm 1490 đổi là xứ Hưng Hóa. Gồm các phủ: Phủ Gia Hưng gồm các huyện: Thanh Nguyên (Tân Sơn, Thanh Sơn và Thanh Thủy thuộc Phú Thọ), Phù Hoa (Phù Yên thuộc Sơn La), Mai Châu (nam Mai Châu thuộc Hòa Bình), Mộc Châu (phần còn lại của Mai Châu thuộc Hòa Bình và Mộc Châu thuộc Sơn La), Việt Châu (Yên Châu và Bắc Yên), Thuận Châu. Phủ Quy Hóa gồm các huyện: Văn Chấn ( Yên Bái), Yên Lập (Yên Lập thuộc Phú Thọ), Trấn Yên (Yên Bái), Văn Bàn ( Lào Cai), Thủy Vĩ (Lào Cai). Phủ An Tây gồm các châu: Chiêu Tấn (Lai Châu, Tam Đường và Phong Thổ, Sìn Hồ), Quỳnh Nhai ( Sơn La), Luân ( Tủa Chùa, nằm giữa Quỳnh Nhai và Tuần Giáo), Lai (Mường Lay và phía nam huyện Nậm Nhùn, huyện Sìn Hồ), châu Tuy Phụ (là khoảng phía bắc huyện Mường Tè Lai Châu), châu Khiêm (khoảng phần phía nam Mường Tè và Nậm Nhùn Lai Châu), châu Hoàng Nham (là Mường Tông, Mường Nhé, Điện Biên), châu Lễ Tuyền ( Lục Xuân châu Hồng Hà), châu Hợp Phì ( Mường Mì hay Xiềng My), huyện Kim Bình châu Hồng Hà, châu Tung Lăng ( Phù Phang), châu Quảng Lăng  Mường La, (Mường Lạp, Meng-la-xiāng Kim Bình), châu Hồng Hà.

 10. Đạo Thừa Tuyên Thanh Hóa

Thời Lê Thái Tổ thuộc đạo Hải Tây, thời Lê Thái Tông gồm 6 phủ Thiệu Thiên, Hà Trung, Tĩnh Gia, Thanh Đô, Trường Yên, Thiên Quan; năm 1466 đặt thừa tuyên Thanh Hóa; năm 1490 đổi là xứ Thanh Hóa. Gồm các phủ: Phủ Thiệu Thiên (Thiệu Hóa) gồm các huyện Thụy Nguyên, phía Bắc Thiệu Hóa, phía Bắc Thọ Xuân và phần lớn Ngọc Lặc), Vĩnh Ninh (Vĩnh Lộc), Đông Sơn ( Đông Sơn và một phần Thiệu Hóa), Lôi Dương (một phần Thọ Xuân, Triệu Sơn, Thiệu Hóa và Thường Xuân), Yên Định, Cẩm Thủy, Thạch Thành (một phần Thạch Thành), Bình Giang (tây bắc Thạch Thành). Phủ Hà Trung có các huyện: Hoằng Hóa ( Hoằng Hóa và một phần trấn trị Thanh Hóa), Thuần Hựu (Hậu Lộc), Tống Sơn (Hà Trung và Bỉm Sơn). Phủ Tĩnh Gia có các huyện: Nông Cống (phần lớn Nông Cống  một phần Triệu Sơn), Ngọc Sơn (Tĩnh Gia và một phần Nông Cống), Quảng Xương (Quảng Xương,  Sầm Sơn và một phần trấn trị Thanh Hóa). Phủ Thanh Đô có huyện Thọ Xuân (phần lớn Thường Xuân và các châu: Quan Gia (gần biên giới Lào), Tầm (tây bắc Quan Hóa ), Lang Chánh, Sầm.

11. Đạo Thừa Tuyên Nghệ An

Thời Lê Thái Tổ thuộc đạo Hải Tây, năm 1466 đặt thừa tuyên Nghệ An, năm 1490 đổi là xứ Nghệ An. Tương đương Nghệ An và Hà Tĩnh, gồm các phủ: Phủ Diễn Châu gồm các huyện Đông Thành (Diễn Châu và Yên Thành), Quỳnh Lưu ( Quỳnh Lưu, một phần Nghĩa Đàn và  Thái Hòa ).  Phủ Anh Đô gồm các huyện: Hưng Nguyên ( Hưng Nguyên và một phần Vinh), Nam Đường (Anh Sơn và Nam Đàn). Phủ Đức Quang gồm các huyện Thiên Lộc (Can Lộc, một phần Lộc Hà và một phần  Hồng Lĩnh), Chân Phúc (Nghi Lộc, Cửa Lò và một phần Vinh), Thanh Chương, Hương Sơn (Hương Sơn, Hương Khê và một phần Vũ Quang), Nghi Xuân. Phủ Hà Hoa gồm các huyện Thạch Hà (Hà Tĩnh,  một phần Lộc Hà), Kỳ Hoa (Kỳ Anh và Cẩm Xuyên). Phủ Quỳ Châu (huyện Quỳ Châu hiện nay), gồm các huyện Thúy Vân và Trung Sơn.  Phủ Trà Lân gồm 4 huyện Tương Dương (Tương Dương, Nghệ An), Kỳ Sơn (Kỳ Sơn, Nghệ An), Vĩnh Khang (một phần Tương Dương, Nghệ An), Hội Nguyên (tả ngạn sông Lam từ Thanh Chương đến cửa Rào). Phủ Ngọc Ma gồm có châu Trịnh Cao (châu gồm 12 động). Phủ Lâm An chỉ có 1 châu Quỳ Hợp gồm 12 động và 11 sách, vốn là đất Bồn Man (khoảng  Hương Khê Hà Tĩnh, đầu nguồn của sông Ngàn Sâu). Phủ Trấn Biên. Phủ Trấn Ninh: là đất Bồn Man, nhập vào Đại Việt từ thời Lê Thánh Tông, gồm 7 huyện: Quang Vinh, Minh Quảng, Cảnh Thuần, Kim Sơn Thanh Vị, Châu Lang, Trung Thuận.

12. Đạo Thừa Tuyên Thuận Hóa

Thời Lê Thái Tổ là hai lộ Tân Bình và Thuận Hóa thuộc đạo Hải Tây, năm 1466 đặt thừa tuyên Thuận Hóa, năm 1490 đổi là xứ Thuận Hóa. Gồm các phủ: Phủ Tân Bình: gồm các huyện Kiến Lộc (Quảng Ninh, Quảng Bình), Lệ Thủy, Minh Linh (Vĩnh Linh và Gio Linh thuộc Quảng Trị ) và châu Bố Chính (Quảng Trạch, Bố Trạch, Tuyên Hóa, Minh Hóa Quảng Bình).  Phủ Triệu Phong gồm các huyện Vũ Xương (Triệu Phong), Hải Lăng, Đan Điền (Quảng Điền và một phần Phong Điền), Kim Trà (Hương Trà và một phần Phong Điền), Tư Vang (Hương Thủy và Phú Lộc ), Điện Bàn (Quảng Nam). Châu Tỉnh An.

13. Đạo thừa tuyên Quảng Nam

Năm 1471, vùng đất phía Nam Thuận Hóa mới chiếm được từ Chiêm Thành được đặt thành đạo thừa tuyên thứ 13, gọi là Quảng Nam. Gồm các phủ: Thăng Hoa gồm các huyện Lê Giang (Thăng Bình), Hà Đông (Tam Kỳ), Duy Xuyên.  Phủ Tư Nghĩa gồm các huyện Nghĩa Giang (Tư Nghĩa và một phần Nghĩa Hành), Mộ Hoa (Mộ Đức và một phần Đức Phổ). Phủ Hoài Nhơn gồm các huyện Bồng Sơn (Bồng Sơn và một phần huyện Hoài Ân), Phù Ly (Phù Mỹ và Phù Cát), Tuy Viễn (An Nhơn và Tuy Phước ).                      

Năm 1490, 13 thừa tuyên lại đổi thành 13 xứ:

 1. Nam sách gồm Hải Dương, Hải Phòng, quản lĩnh 4 phủ, 18 huyện.

2.Thiên Trường (Sơn Nam) gồm Thái Bình, Nam Định, Hưng Yên, Hà Nam và 1 phần Nam Thăng Long, quản lính 11 phủ, 42 huyện

3.Quốc Oai (Sơn Tây) gồm Sơn Tây, Tây bắc Thăng Long, Vĩnh Phúc, quản lĩnh 6 phủ 22 huyện.

4.Bắc Giang, (Kinh Bắc) gồm Bắc Giang, Bắc Ninh, quản lĩnh 4 phủ, 19 huyện

5.An Bang (Quảng Ninh) quản lĩnh 1 phủ, 3 huyện.

6.Tuyên Quang gồm Tuyên Quang, Hà Giang, Quản lĩnh 1 phủ, 2 huyện, 5 châu.

7.Hưng Hóa gồm Phú Thọ, Yên Bái, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên Phủ, Sơn La, Hòa Bình, quản lĩnh 3 phủ, 4 huyện 17 châu.                                                              

 8.Lạng Sơn quản lĩnh 1 phủ 7 châu.

9.Thái Nguyên gồm Thái Nguyên, Bắc Cạn, Cao Bằng, quản lĩnh 3 phủ, 8 huyện, 7 châu.

10.Thanh Hóa gồm Thanh Hóa, Ninh Bình, quản lĩnh 4 phủ, 16 huyện, 4 châu

11.Nghệ An gồm Nghệ An, Hà Tĩnh, quản lĩnh 8 phủ, 18 huyện, 2 châu.

12.Thuận Hóa gồm Quảng Bình, Quảng Trị, thừa Thiên Huế, quản lĩnh 2 phủ, 7 huyện, 4 châu.

13.Quảng Nam gồm Bình Định Quảng Ngãi, Quảng Nam.

Tháng 6 năm 1467 ra lệnh vẽ bản đồ ở 13 Thừa tuyên, sau đó gửi lên Bộ hộ tổng hợp vẽ bản đồ Đại Việt. Ngày 5 tháng 4 âm lịch 1490 bản đồ Đại Việt Được hoàn thành gọi là bản đồ Hồng Đức gồm 13 thừa tuyên, 52 phủ, 178 huyện, 50 châu, 20 hương, 36 phường, 637 trang, 40 sách, 30 nguồn, 30 trường. Tháng 9 âm lịch 1471, Lê Thánh Tông đặt chức Giam sát ngự sử 13 đạo chuyên làm nhiệm vụ giám sát  quan lại các đạo, ngặn không cho họ nhũng lạm.

Bộ máy Nhà nước thời Lê sơ là bộ máy quan liêu, nặng nề, quan chức trong kinh và ngoài các đạo có tới 5.398 viên chức. Quan chức có nhiều đặc quyền đặc lợi, theo thứ bậc cao thấp mà cấp ruộng thế nghiệp, lộc điền, người phục dịch. Theo chức quan mà quy định trang phục, màu sắc quần áo, dân thường không được bắt chước.

Quân đội: Nhà Lê chú ý xây dựng quân đội hùng mạnh. Thời kháng chiến chống Minh, Lê Thái Tổ đã có 35 vạn quân, thực hiện chính sách “Ngụ binh, ư nông”, đầu năm 1429 Lê Thái Tổ cho 25 vạn quân về làm ruộng, chỉ để lại 10 vạn chia làm 5 phiên, cứ 4 phiên thay nhau về làm ruộng, 1 phiên ở lại thường trực. Nếu có chiến tranh mới huy động hết và nhanh chóng tập trung binh lực. Năm 1466 Lê Thánh Tông chia quân làm 2 loại: Thân binh (cấm binh) để bảo vệ kinh thành và ngoại binh để trấn giữ các xứ. Thời kỳ này cũng xây dựng chế độ tuyển quân chặt chẽ.

Cải cách phương thức tuyển quân và luyện quân. Qui chế tuyển quân chặt chẽ. Luyện tập qui chế hóa theo quân binh chủng. Phương thức tổ chức gồm quân cấm vệ ở kinh đô. Ngoại binh trấn giữ các đạo. Nhà vua trực tiếp nắm và chỉ huy quân đội. Các võ quan bị chi phối nhiều cực đa chiều, chịu sự quản lý từ nhiều phía. Không cơ quan nào nhiều quyền hành. Quân đội thời Lê Thánh Tông hùng mạnh, tổ chức chặt chẽ. Thời kỳ này quân đội khoảng 30-40 vạn. Lê Thánh Tông là nhà quân sự có tài, ban bố nhiều chính sách nhằm củng cố nâng cao sức mạnh quân đội Đại Việt. Tháng 7 âm lịch năm 1460 ông  chỉ thị cho các Tổng Quản, chỉ huy các vệ quân 5 đạo và quân các phủ trấn  phải cho quân lính luyện tập côn quyền võ bị.  Khoảng năm 1465-1470 Lê Thánh Tông ban hành chính sách tuyển quân.  Trừ các hàng chức sắc, quan lại dân đinh từ 18 tuổi trở lên đều phải đăng ký vào hộ tịch và được chia làm các hạng tráng, quân hạng, dân hạng, lão hạng, cố hạng, cùng hạng. Nhà có 4 người thì 2 người hạng dân, nhà có 5 đinh thì có 2 người bổ ngạch lính, 1 người bổ hạng quân ứng vụ. Thời Lê Thái Tổ, trừ cấm quân còn chia quân làm 5 đạo Bắc đạo, Nam đạo, Đông đạo, Tây đạo và Hải Tây Đạo. Năm 1466 Lê  Thánh Tông đổi vệ quân 5 đạo thành quân 5 phủ bao gồm Bắc quân phủ ở mạn Kinh Bắc, Lạng Sơn, Trung quân phủ cai quản vùng Thanh Hóa, Nghệ An, Đông quân phủ cai quản vùng Hải Dương, An Bang, Tây quân phủ cai quản vùng Tam Giang, Hưng Hóa, Nam quân phủ cai quản vùng Sơn Nam, Thuận Hóa, Quảng Nam. Riêng Thái Nguyên và Tuyên Quang có Quân phụng trực trấn thủ. Mỗi quân có phủ Đô đốc chỉ huy, chức quan cao nhất trong phủ này là Tả hữu đô đốc. Biên chế mỗi quân có 6 vệ, mỗi vệ có 5 đến 6 sở, mỗi sở có 20 đội, mỗi đội gồm 20 người. Cả 5 phủ đô đốc  có khoảng 7 vạn quân. Đưới Đô đốc là Tổng kỳ, Tiểu tổng kỳ, Quân lại. Với cấm quân, năm 1470 Lê Thánh Tông lập các vệ quân Kim Ngô, Cẩm y Vệ. Vệ Kim Ngô được họp từ hai ty tráng sĩ, Thần Tý, vệ Cẩm Y được họp từ hai ty binh mã, Nghi vệ, còn lập thêm bốn vệ thần Hiệu lực, bốn vệ Thần vũ, sáu điện tiền, bốn vệ tuần tượng cùng bốn vệ mã nhạn. Năm 1490 Vệ cẩm y có tới 20 ty, Vệ kim ngô có 100 ty. Năm đi đánh Chiêm Thành, Bồn Man, quân đại Việt Thủy bộ có tới 26 hoặc 30 vạn người. Cuối năm 1465, Lê Thánh Tông đặt ra phép tập trận đồ quân thủy bộ. Đối với thủy quân, ông ban các trận đồ: Trung hư, Thường sơn xà, Mãn thiên tinh, Nhạn hàng, Liên châu, Ngư đội, Tam tài, Thất môn, Yển nguyệt, cùng 32 điều quân lệnh về thủy trận. Bộ quân thì có các trận đồ: Trương cơ, Tương kích, Cơ binh, và 32 điều quân lệnh về tượng trận, 27 điều quân lệnh về mã trận, 42 điều về bộ trận dành cho quân Kinh vệ (về sau, tháng 3 âm lịch năm 1484, ông còn ban bố điều lệnh Hồng Đức quân vụ, gồm 27 điều). Mùa xuân năm 1467, Thánh Tông đi tuần nhiều nơi, tổ chức nhiều đợt diễn tập lớn cho quân đội.  Cũng trong tháng 2 âm lịch năm 1467, Lê Thánh Tông bãi chức hai Trấn điện phó tướng quân Lê Hán Đình và Nguyễn Đức. Lê Hán Đình trước làm Chuyển vận, có hành vi tham nhũng nên sợ dân hặc tội, phải cáo bệnh xin nghỉ. Sau Hán Đình cùng Thái Chúc thừa Nguyễn Đức được Chỉ huy sứ Đào Bảo tiến cử với vua, nói hai người này thạo binh pháp. Lê Hán Đình và Nguyễn Đức dâng Thánh Tông các trận đồ Trung hư, Mãn thiên tinh và Thường sơn xà... Thánh Tông hài lòng, phong cả hai làm Trấn điện phó tướng quân và sai quân 5 phủ tập theo trận đồ do hai người đề xuất. Quân sĩ tập 2 đến 3 lần nhưng không đạt hiệu quả. Thánh Tông lại cho hai người ra dạy, nhưng vẫn không được. Cuối cùng Thánh Tông tức giận, phạt đánh bằng trượng rồi sa thải cả hai.   Lê Thánh Tông còn đặt lệ tổ chức thi võ ba năm một lần ở kinh sư.  Vũ khí quân sự dưới thời Lê Thánh Tông đã có những tiến bộ vượt bậc, do vốn có các kỹ thuật và sáng chế cùng kĩ năng chế tạo vũ khí cực kì tinh xảo của Đại Việt thời nhà Hồ về vũ khí tầm xa như hỏa thương, hỏa hổ, súng thần công... hợp với số vũ khí khá tân tiến thu được trước đây trong cuộc Khởi nghĩa Lam Sơn đã tạo nên cho Đại Việt một kho vũ khí đa dạng và hùng mạnh, có thể vượt xa so với vũ khí châu Âu cùng thời về sát thương và chất lượng.

Lê Thánh Tông rất chú ý đến việc tích trữ lương thảo ở các vùng biên cương để sử dụng cho quân lương khi cần thiết. Một nghệ thuật làm lương khô thời Lê Thánh Tông  là một kỹ thuật đặc biệt của Đại Việt, đó là đồ (hấp) thóc chín và sấy khô. Loại lương khô này có thể cất giữ vài năm không bị mất phẩm chất và rất tiện cho việc vận chuyển và sử dụng trong chiến tranh, đặc biệt là dùng cho quân đội viễn chinh.

Dưới thời vua Lê Thánh Tông, nước Đại Việt tương đối yên ổn. Có vài lần ông phải điều binh đánh Bồn Man, Lão Qua quấy rối phía Tây (1460, 1467, 1469), "giặc cỏ" xâm phạm trấn An Bang-Quảng   Ninh (1467), quân của Sầm Tổ Đức, Lý Lân nước Minh (1467), quân người dân tộc thiểu số miền núi (Sơn Man) từ châu Bằng Tường bên Minh quấy nhiễu phía Bắc (1473, 1474), nhưng chỉ khi chinh phục Chiêm Thành (1471) và Bồn Man, Lão Qua (1478-80) mới dùng đến đại quân. Các chính sách quân sự của Lê Thánh Tông đã góp phần củng cố nền cai trị của triều Lê, và đưa Đại Việt trở thành cường quốc ở bán đảo Trung-Ấn.

Lê Thánh Tông còn đặc biệt quan tâm các chính sách nhằm phát triển kinh tế như: Sửa đổi luật thuế khóa, điền địa, khuyến khích nông nghiệp, mở đồn điền, kêu gọi người phiêu tán về quê, đặt ra luật quân điền chia đều ruộng đất cho mọi người. Về thuế má, Lê Thánh Tông quy định người già từ 60 tuổi trở lên và hoàng đinh (thanh thiếu niên) dưới 18 tuổi, cùng những người tàn tật và những người thuộc về tráng (hạng tòng quân) đều được miễn thuế đinh; còn lại mỗi nhân đinh phải nộp thuế đồng niên là 8 tiền. Lê Thánh Tông còn định lệ thuế đất, thuế ruộng và thuế đất bãi trồng dâu. Cả ba thứ đất này đều được chia làm ba hạng, dựa theo số mẫu mà đóng thuế. Để nắm bắt nhân khẩu, Lê Thánh Tông quy định 6 năm một lần, các quan phủ huyện phải dẫn các xã trưởng tới   Kinh sư để khai báo số hộ khẩu xã mình.

Lê Thánh Tông rất chú trọng nông nghiệp. Tiếp theo chính sách “Quân điền”, năm 1477 Lê Thánh Tông ban hành chính sách “Lộc điền”. Lộc điền là ruộng đất của nhà nước ban cấp cho quan lại cao cấp từ tứ phẩm trở lên. Lộc điền bao gồm hai loại ruộng, một phần cấp vĩnh viễn cho chủ đất, một phần cấp sử dụng không vĩnh viễn. Sau ba năm chủ đất chết, phần không vĩnh viễn phải trả lại cho nhà nước. Ví dụ một thân vương nhất phẩm được ban cấp 218 mẫu, trong đó có 18 mẫu cấp vĩnh viễn, số còn lại là cấp không vĩnh viễn. Chế độ “Lộc điền” coi như lương bổng nhà nước cấp cho quan lại. Giống như nhà Lý, nhà Lê cũng qui định người được hưởng “Lộc điền” không được biến nông dân thành nông nô nhằm chống lại việc phát sinh lãnh địa thế tập phong kiến cát cứ, bảo đảm quyền lực vĩnh viễn của trung ương, buộc tầng lớp địa chủ mới này phải lệ thuộc vào nhà nước, bảo vệ nông dân, bảo vệ lực lương sản xuất của xã hội.

          Chính sách ruộng đất của nhà Hậu Lê dù là “Quân điền “hay “Lộc điền” đều nhằm bảo vệ quyền sở hữu ruộng đất của nhà nước, mặt khác, mở rộng chế độ tư hữu ruộng đất, phục hồi phát triển nền kinh tế địa chủ, tiểu nông, chỗ dựa kinh tế xã hội của nhà Hậu Lê, giải quyết được những mâu thuẫn ruộng đất nẩy sinh nghiêm trọng gay gắt cuối đời Trần- Hồ, góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội. Song chính sách nào của một nhà nước bao giờ cũng có mặt tích cực và mặt tiêu cực. Trong tích cực đã chứa đựng yếu tố tiêu cực. Chính sách ruộng đất của nhà Hậu Lê chứa đựng mâu thuẫn và sự vận động của mâu thuẫn này sẽ dẫn nhà Lê đến suy vong vào thế kỷ XVI và sụp đổ vào thế kỷ XVIII. Lê Thánh Tông còn lập các chức quan Hà đê, khuyến nông để  chăm lo việc nông trang, thủy lợi đê điều. Ông còn ra lệnh cho Hộ bộ và các quan địa phương báo cho ông biết nơi nào có đất hoang, rồi ông dụ phủ huyện đôn đốc dân đi khai hoang, mở ruộng. Ông cũng đặt ra những quy định về quyền tư hữu ruộng đất, nghiêm trị những người cưỡng đoạt, lấn chiếm ruộng của người khác, hoặc chặt cây và tre trong ruộng của người khác. Triều đình Lê Thánh Tông quan tâm đến đời sống làng xã hơn bất kỳ một triều vua nào trước. Điều này xuất phát từ sự gia tăng số lượng quan chức ở làng xã và từ cách cai trị sâu sát của hoàng đế.     

 Để phát triển nông nghiệp, các vương triều Hậu Lê đều chăm lo xây dựng bảo vệ đê điều, phát triển hệ thống tưới tiêu nông nghiệp. Nhà Tiền Lê (Lê Đại Hành) đã tiến hành nạo vét kênh, sông, mở mang đường thuỷ tiện lợi cho giao thông và cung cấp nước tưới tiêu. Nhà Lý tiến hành xây dựng các công trình thuỷ lợi có qui mô lớn, đắp đê Cơ Xá (đê sông Hồng), cho khơi sâu thêm các sông ngòi ở vùng Thanh Hoá. Nhà Trần tiến hành đắp đê phòng lụt hàng năm với qui mô lớn. Đặt ra chức Hà đê chánh sứ, Hà đê phó sứ chịu trách nhiệm trông coi đê điều. Triều đình coi việc đê điều là việc của nhà nước. Vua Trần có khi tự trông coi việc đắp đê. Thời Hậu Lê ra sức tu bổ hệ thống đê điều đã có và đắp thêm đê mới: Đê Hồng Đức, đào nhiều sông ở Thanh Hoá được gọi là sông nhà Lê. Ngoài chức Hà đê chánh phó sứ, nhà Hậu Lê còn đặt chức “Khuyến nông sứ”. Các công xã ở các địa phương phải đảm nhận xây dựng các công trình thuỷ lợi nhỏ. Việc kiểm tra đê điều dưới thời Hậu Lê được tiến hành thường xuyên  và hết sức chặt chẽ.

Để mở rộng thêm diện tích cày cấy, các vương triều định ra chính sách khai hoang. Nhà Hậu Lê chiêu dụ nông dân phiêu tán trở về quê nhận ruộng cày cấy. Khẩn hoang là một trong những chính sách lớn của triều Hậu Lê. Dưới thời Lê Thánh Tông, dân số Đại Việt tăng trưởng mạnh mẽ. Để đáp ứng nhu cầu lương thực của một lượng dân số lớn như thế, triều đình phải đẩy mạnh khai khẩn những vùng đất hoang. Do vậy năm 1481, Lê Thánh Tông cho lập 42 sở đồn điền trong cả nước, chia thành ba bậc thượng, trung, hạ, với nguyện vọng "dùng hết tiềm lực của nghề nông, mở rộng nguồn trích trữ cho nhà nước". Giảm tô thuế những năm đói kém, giảm tô ruộng, ngừng xây dựng các công trình, ra sức sửa sang đê điều, phát thóc gạo cứu đói. Chính sách nông nghiệp của Lê Thánh Tông đã khiến cho việc canh nông trôi chảy, như các quan Lễ bộ từng mô tả: “Thời tiết thuận hòa, mùa màng bội thu, dân chúng yên vui", đặc biệt chú trọng khẩn hoang đất đai phía Nam, ven biển và miền trung du. Nhiều làng ở Hải Dương, Hưng Yên và ven biển Thanh-Nghệ đều được lập vào thế kỷ XV. Vương triều đều chú trọng khuyến nông. Vua Lê Đại Hành (Lê Hoàn) đặt ra lệ “Tịch điền”, nhà vua cầm cày cày luống đầu tiên vào ngày 1 Tết Nguyên đán để khuyến khích nông nghiệp. Nhà Lý, Trần,  nhà Hậu Lê nghiêm cấm việc giết hại trâu bò để bảo vệ sức kéo. Những năm mất mùa đói kém, vương triều đều miễn, giảm thuế  cho nông dân. Chính sách nghiêm cấm chủ đất biến nông dân thành nông nô là nhằm bảo vệ người nông dân, bảo vệ lực lượng sản xuất chính của xã hội. Tất cả những chính sách đó làm cho nông nghiệp các triều đại thế kỷ XV phát triển, thâm canh tăng năng suất lao động, muôn vật dồi dào.       

Kinh tế thủ công nghiệp: Các ngành nghề thủ công nghiệp và xây dựng ngay từ đầu thời Lê Thánh Tông đã phát triển mạnh mẽ và "đã vượt lên trên mức độ của thời Trần mạt” . Nghề in và làm giấy ở Đại Việt đạt một trình độ cao của thế giới thời bấy giờ. Số lượng sách in thời này khá đồ sộ. Đặc biệt nhất thời kỳ này là thành tựu trong công nghệ chế tạo vũ khí và đồ sắt chiếm ưu thế. Vua quan thời Hồng Đức vì ưu tiên dùng hàng quốc nội, không lệ thuộc vào đồ dùng Trung Hoa:

         Các nghề dệt lụa, ươm tơ, dệt vải, nghề mộc, nghề chạm, nghề đúc          đồng cũng phát triển. Đế đô Đông Kinh 36 phố phường sầm uất, nhộn nhịp tồn tại phát triển. Phường Yên Thái làm giấy, Phường Nghi Tàm dệt vải lụa, Phường Hà Tân nung vôi, Phường Hàng Đào nhuộm điều, Phường Ngũ Xá đúc đồng, Phường gạch và gốm sứ Bát Tràng và nhiều phường khác nữa.

Nghề luyện sắt, đúc đồng, làm đồ đá, các đồ mỹ nghệ, khắc chạm gỗ đều được duy trì và phát triển. Đồ gốm, sành, sứ thời Lê sơ phát triển đạt được độ tinh xảo và hoa văn đẹp.  Gốm sành, sứ dùng trong gia đình có chất lượng cao, nghệ thuật trang trí hoa văn trang nhã, hài hoà, khắc chạm chìm, nổi, phong phú chủng loại. Đại Việt đã sản xuất được gạch ngói tráng men, ngói sứ trắng, gạch đẹp cỡ lớn. Ở các triều đại nghề đúc tiền,  đúc chuông, công cụ sản xuất và làm đồ mỹ nghệ phát triển.  Đồ mỹ nghệ vàng, bạc đạt trình độ tinh xảo. Nhà nước nắm độc quyền đúc tiền, nghề khai thác mỏ để lấy khoáng sản phục vụ cho nghề thủ công mỹ nghệ.

Nơi sản xuất thủ công nghiệp là các làng thủ công  ở nông thôn,  lâu đời hình thành làng nghề và bí quyết nghề nghiệp chuyên sản xuất một loại sản phẩm nổi tiếng như làng Bát Tràng (Thăng Long) chuyên sản xuất đồ gốm, làng Ma Lôi (Hải Dương) chuyên làm nón Ma Lôi. Ở các đô thị cũng hình thành những phường nghề. Kinh thành Thăng Long, có phường làm nghề thủ công sản xuất hàng hoá, có phố chỉ làm và bán một loại hàng. Thăng Long thời Hậu Lê được gọi là Đông Kinh (Thanh Hoá là Tây Kinh) chia làm 36 phố phường. Ngoài hoàng thành còn có khu vực làm nghề thủ công và buôn bán. Phường Yên Thái làm giấy, phường Hàng Đào chuyên nhuộm màu điều (đỏ). Nghề khai thác mỏ sắt,  đồng, vàng, bạc thời Hậu Lê ngày càng phát đạt. Nhà nước có xưởng riêng đúc tiền, đóng tàu chiến, chế tạo vũ khí, sản xuất đồ dùng cho triều đình và quan lại. Xuất hiện những người thợ có tay nghề giỏi, lành nghề trong các xưởng nhà nước. Nhà Hậu Lê đã chú ý thống nhất đơn vị đo lường, tiền tệ, kích cỡ của các loại hàng hoá như vải, giấy trong toàn quốc để trao đổi và thu thuể cho tiện lợi.

Về thương mại, hoạt động nội thương thời Lê Thánh Tông chủ yếu là hình thức trao đổi sản phẩm giữa các địa phương. Nhờ hệ thống đường sá được xây dựng và đường sông được khơi đào, việc lưu thông hàng hoá giữa các địa phương khá thuận lợi. Đông Kinh là trung tâm buôn bán lớn nhất và sầm uất nhất. Do có ưu thế về vị trí, những người buôn bán muốn đến Đông Kinh bằng đường bộ hay đường sông đều thuận tiện. Ngoài Đông Kinh và một vài thị trấn là trung tâm buôn bán, hầu hết là các chợ nằm ở các địa phương. Quy định mở chợ mới bên cạnh chợ cũ, không được trùng với ngày họp chợ cũ,

Thủ công nghiệp phát triển tạo nên việc giao lưu buôn bán hàng hoá trong nước mở rộng. Do đó,  các vương triều chăm lo mở mang đường sá, giao thông thuỷ, bộ. Trên con đường thiên lý (đường từ Bắc vào Nam) đặt các trạm dịch cho khách bộ hành thương nhân nghỉ ngơi, ăn uống. Đường bộ đã có biển chỉ đường. Từ Thăng Long theo đường sông thuyền bè có thể tới được tận Chiêm Thành ở phía Nam, phía Bắc có thể tới được Trung Quốc. Đường thuỷ là một trong những con đường vận chuyển chủ yếu của Đại Việt trong thời gian đó. Nhà nước  còn cho mở các bến đò ở ven sông, cho đóng thuyền chở người qua lại giữa các làng và các địa phương.

Ngoài Thăng Long và các đô thị là trung tâm giao lưu kinh tế,  ở các địa phương, chợ thành nơi buôn bán, thành mạng lưới thị trường rộng lớn ở nông thôn. Chợ đã có từ thời xưa và đến triều  Hậu Lê được mở họp nhiều ở thôn quê,  miền xuôi và miền núi. Nhà Hậu Lê ban hành thể lệ lập chợ và họp chợ. Chợ trở thành nếp sinh hoạt kinh tế, văn hoá không thể thiếu được của các làng xã Việt Nam trong các thời đại. Thời Hậu Lê, ngoại thương buôn bán với nước ngoài bị hạn chế. Nhà Lê khước từ nước ngoài đến xin đặt quan hệ buôn bán. Ngoại thương chỉ được tiến hành ở Vân Đồn và một số nơi khác do nhà nước qui định.

Bên cạnh đó, đối với ngoại thương, Lê Thánh Tông thực hiện chính sách ức chế nghiêm ngặt, tiếp các thuyền buôn thì sẽ bị nghiêm trị, phạt tiền rất nặng, từ 50 quan đến 200 quan. Chính sách này có một phần lý do xuất phát từ nhu cầu tự vệ để ngăn ngừa do thám của ngoại bang và mặt khác do tư tưởng trọng nông, muốn gắn chặt người dân với đồng ruộng, không cho người dân rời đồng ruộng và quê hương đi buôn bán. Do đó ngoại thương phát triển kém”.

   Đọc đến đây, trống trên hoàng thành đã điểm canh ba, Ngô Sĩ Liên đi nghỉ mai ông còn đến Quốc sử viện làm việc                                                                      .

Tối hôm sau, sau khi nghỉ ngơi cơm nước xong, ông lại đọc về mảng pháp luật thời Lê Thánh Tông, một trong những thành tựu xuất sắc của các nhà làm luật thời Hậu Lê và của nhà vua. Văn bản pháp luật: Thời nhà Lê là đỉnh cao của chế độ phong kiến tập quyền. Cũng như các lĩnh vực khác, hoạt động lập pháp được đẩy mạnh để nhằm đáp ứng với nhu cầu phát triển của chế độ phong kiến. Thế kỷ 15 đánh dấu mốc quan trọng của lịch sử pháp quyền phong kiến Việt Nam. Năm 1428, đất nước được giải phóng khỏi ách thống trị của nhà Minh, Lê Lợi đã huy động một số đại thần soạn luật lệ về kiện tụng, về phân chia ruộng đất, một số quy định về hình phạt, về ân xá. Đến thời Lê Thái Tông (1434-1442) đã xây dựng những nguyên tắc xử các vụ án kiện cáo, định một số điều luật nghiêm cấm việc hối lộ, về những hành động giao thiệp với nước ngoài. Năm 1449 Lê Nhân Tông ban hành 14 điều luật về quyền tư hữu ruộng đất, quy định những nguyên tắc xét xử đối với các hành vi vi phạm quyền tư hữu ruộng đất.                                                                                                                            Lê Thánh Tông  đã đề ra nhiều quy định trấn áp các hành vi chống đối, làm hại đến nền an ninh quốc gia, đe doạ nền thống trị của giai cấp phong kiến, bảo vệ tôn ty trật tự, đạo đức phong kiến. Sự Quan tâm đến lập pháp của các vua nhà Lê đã mang lại những thành quả to lớn. Hệ thống văn bản pháp luật gồm các công trình tiêu biểu như: Bộ Quốc triều hình luật còn gọi là Lê triều hình luật gồm 6 quyển. Luật thư 6 quyển do Nguyễn Trãi biên soạn (1440-1442). Quốc triều luật lệ do Phan Phu Tiên biên soạn (năm 1442). Lê triều quan chế (1471). Thiên Nam dư hạ tập (1483). Hồng Đức thiện chính thư (1470-1497).Trong số đó bộ Quốc triều hình luật được ban hành dưới triều Lê Thánh Tông (1483) niên hiệu Hồng Đức là bộ luật quan trọng bậc nhất như là văn bản pháp lý chủ đạo suốt cả thời Lê (1428-1789), còn gọi là luật Hồng Đức. Quốc triều hình luật là đỉnh cao nhất của thành tựu pháp luật Việt Nam so với các triều đại trước và cả về sau này trong phạm vi chế độ phong kiến. Nguồn luật của Quốc triều hình luật là các văn bản pháp luật các đời vua Lê trước đó, đến đời Lê Thánh Tông được san định lại cho hoàn chỉnh. Về cấu trúc, Quốc triều hình luật bao gồm 6 quyển 722 điều. Phần đầu có 3 đồ biểu quy định về kích thước các hình cụ, tang phục và việc để tang. Quyển 1 gồm 2 chương: Chương Danh lệ: 49 điều. Chương Cấm vệ: 47 điều. Quyển 2 gồm 2 chương: Chương VI: Chế: 144 điều. Chương Quân chính: 43 điều. Quyển 3 gồm 3 chương: Chương Hộ hôn: 58 điều. Chương Điền sản: 59 điều. Chương Thông gian: 10 điều. Quyển 4 gồm 2 chương: Chương Đạo tặc: 54 điều. Chương  đấu tụng: 50 điều. Quyển 5 gồm 2 chương: Chương Trá nguỵ: 38 điều. Chương Tạp luật: 92 điều. Quyển 6 gồm 2 chương: Chương bộ vong: 13 điều. Chương Đoản ngục: 65 điều. 

 Quốc triều hình luật là bộ luật tổng hợp, phạm vi điều chỉnh rộng bao gồm những quy phạm pháp luật như hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình, tố tụng. Các quy phạm pháp luật đều được xây dựng dưới dạng hình sự, áp dụng chế tài hình luật. Tuy nhiên do hạn chế thời đại quy định, Quốc triều hình luật chưa phân chia thành các ngành luật rõ ràng. Căn cứ vào nội dung tạm phân như sau: Luật hình. Chương Danh lệ: Quy định những nguyên tắc chung được áp dụng khi trừng phạt. Điều 47 quy định khi xét xử phân biệt tội cố ý và tội vô ý để “tha người lầm lỡ”, không kết tội nặng, bắt tội người cố ý không kết tội nhẹ. Điều 35 quy định cần phạt nặng hơn đối với người chủ mưu khởi xướng và nhẹ hơn một bậc đối với người đồng phạm. *Kỳ 58 Luật quy định khi xét xử phải kèm tang vật để nếu kẻ phạm hai tội trở lên cùng phát hiện ra thì theo tội nặng mà định tội, nếu phạm tội nhiều

Luật quy định khi xét xử phải kèm tang vật để nếu kẻ phạm hai tội trở lên cùng phát hiện ra thì theo tội nặng mà định tội, nếu phạm tội nhiều lần thì tính gồm cả tang vật lại mà định tội. Trong chương Danh lệ, nói về việc chuộc tội bằng tiền. Người được chiếu cố là những người già trên 90 tuổi, trẻ em dưới 7 tuổi được tha miễn dù bị tội chết. Những người được xếp vào hàng bát nghị(1). Những người thuộc diện trên phạm tội (trừ tội thập ác) thì quan xét xử chỉ xác định tội trạng và hình phạt từ lưu trở xuống thì giảm một bậc. Luật quy định giảm hình phạt cho con cháu những người có công với triều đình, cho phụ nữ là vợ quan theo quan phẩm của chồng. Luật cho phép dùng tiền để chuộc tội

trừ tội thập ác. Những người thuộc diện này bao gồm họ hàng nhà vua, Hoàng hậu, người già trên 70 tuổi và trẻ em dưới 15 tuổi, người tàn tật. Những người phạm tội nhẹ mà ra tự thú cũng được tha hoặc miễn tội. Luật cũng trừng trị những kẻ bao che cho tội phạm và thưởng công cho những người tố giác.

Hệ thống hình phạt của pháp luật nhà Lê do ảnh hưởng của luật Trung Quốc nên cũng quy định 5 hình phạt chính: Ngũ hình. Trong mỗi hình phạt lại chia thành nhiều bậc, tuỳ tội nặng nhẹ mà trừng phạt khác nhau: Xuy: có 5 bậc: Đánh từ 10 đến 50 roi.Trượng: có 5 bậc: Đánh từ 60 đến 100 trượng. Đồ có 3 bậc: Đàn ông bắt làm dịch đinh (phục vụ trong làng xã hoặc trong quân đội), hoặc bắt làm tượng phường binh (phục vụ ở chuồng voi) của quân đội hoặc bắt làm chủng điền binh (phục dịch ở ruộng đồng). Đàn bà bắt làm dịch phụ (phục dịch trong làng làm vườn, hoặc nuôi tằm) hoặc bắt làm xuy thất tì (phục vụ trong nhà bếp) hoặc bắt làm trung thất tì (làm nô tì trong nhà, xay lúa, giã gạo). Lưu: chia làm 3 bậc: Đày đi châu gần, đày đi châu ngoài, đày đi châu xa. Ngoài ra còn kèm theo một số hình phạt phụ. Tử chia làm 3 hình thức: Giảo: thắt cổ cho chết, trảm: chém chết, trảm khiêu: chém và bêu đầu, lăng trì: xẻo thịt dần cho chết. Ngoài ngũ hình là hình phạt chính, luật còn quy định những hình phạt phụ khác như: Cùm, gông, thích chữ vào mặt,  phạt tiền, biếm tước (giáng chức) 5 bậc. Giáng chức và tịch thu tài sản.  Đi kèm với giáng chức, luật cũng định người có công được thưởng phẩm hàm chức tước hoặc thưởng bằng tiền. Người có công tố giác tội phạm được Nhà nước đặc biệt chú ý. Các hình phạt đánh roi, đánh trượng, pháp luật cho phép con cháu được chịu đòn thay cho bố mẹ, ông bà già.                                                                                        

Các tội danh: Không chỉ quy định lệ mà hầu hết các chương của Quốc triều hình luật đều quy định các tội danh, xếp đầu tiên là tội thập ác. Đó là 10 tội nặng nhất trong xã hội phong kiến nói chung và nhà Lê nói riêng vì nó xâm hại tới quyền lực nhà vua, đe dọa sự tồn tại của triều đình, của quốc gia, xâm hại tới tôn ty trật tự xã hội và gia đình phong kiến, xâm hại tới những mối quan hệ được nhà nước bảo vệ (Tam cương: vua - tôi, cha - con, chồng - vợ). Người phạm tội “thập ác” bị trừng phạt nặng nề thường là ở mức độ cao nhất là xử tử. Phạm các tội này người thuộc diện bát nghị cũng không được chiếu cố, không được chuộc tội bằng tiền.                 Chương Cấm vệ: “Quốc triều hình luật”  tức luật Hồng Đức

nghiêm cấm các hành vi xâm phạm đến hoàng thành, cung điện, xâm phạm đến tính mạng, tài sản của vua và của hoàng tộc, xâm phạm an ninh biên giới quốc gia. Luật quy định những người không có phận sự hết giờ chầu không được ở trong cung điện. Không được ngạo mạn hoặc đùa cợt, tuỳ tiện nói chuyện với cung nữ. Không được tiết lộ bí mật quốc gia, không được đem ruộng đất bán cho nước ngoài. Nếu phạm các tội trên, hình phạt nặng, từ đồ, lưu đến tử.

Đối với quan lại, luật Hồng Đức quy định trừng trị những

 hành vi nhận hối lộ, cố ý làm trái chiếu chỉ của vua, thiếu trách nhiệm trong khi thi hành công việc, sử dụng quyền hành để áp bức nhân dân. Khung hình phạt của các tội danh này bao gồm tất cả ngũ hình.

 Luật quy định xử phạt đối với tội trộm cướp, giết người, đánh nhau gây thương tích, lăng mạ và vu cáo người khác, gian dối giả mạo giấy tờ, ấn tín, chức vụ để mưu lợi, thông gian, cưỡng gian, phao tin đồn nhảm và tội làm nghề mê tín dị đoan.                    

Việc dùng luật dưới thời Lê Thánh Tông trở nên khắc nghiệt hơn so với các triều trước. Thời Lê Nhân Tông, năm 1448 chỉ có 42 người bị xử tử. Đến đời Lê Thánh Tông, riêng năm 1467 đã có 323 người bị hành quyết. Thánh Tông còn đặt ra hình phạt cứng rắn đối với người không tuân theo quy chế để tang cha mẹ và chồng. Thêm vào đó, ông ép những người các nước Đông Nam Á mà  sống trong lãnh thổ Đại Việt phải đổi tên và nếp sống cho giống với người Việt. Lê Thánh Tông đã lập nhà Tế sinh để chữa bệnh giúp dân. Ông còn quy định, ở địa phương nào có dịch bệnh xảy ra, các quan nơi này được phép trích tiền thuế để mua thuốc trị bệnh cho dân.                                           

Chương Quân chính: Chương này gồm những quy phạm pháp luật quy định xử phạt các tội của các tướng sĩ và binh lính. Luật quy định phạt tướng không chịu rèn luyện quân, không chống nổi giặc, tiết lộ việc quân cơ. Phạt lính khi xung trận không theo hiệu lệnh, đảo ngũ, bỏ trốn, làm mất binh khí. Các tội tuỳ theo nặng, nhẹ mà áp dụng ngũ hình từ thấp đến cao.Tóm lại hình luật là một nội dung quan trọng, chiếm phần lớn số lượng các điều khoản ghi trong “Quốc triều hình luật”.                                 

 Dân Luật: So với hình sự, các điều khoản về dân luật trong bộ “Quốc triều hình luật” có số lượng ít hơn. Tuy nhiên các quy phạm cũng đề cập đến nhiều vấn đề. Phần quan trọng nhất là những điều khoản quy định về chế độ ruộng đất, như quy định về mua bán, cầm cố và thừa kế ruộng đất. Luật quy định việc mua bán ruộng đất chỉ được thực hiện khi hai bên tự nguyện và cùng ký kết vào một văn bản hợp đồng. Với quy định trên, pháp luật nhà Lê đã tạo điều kiện cho ruộng đất tư phát triển. Ví như quy định ruộng đất bán đứt thì không được quyền đòi lại. Ruộng cầm cố có thời hạn tối đa là 30 năm. Sau 30 năm thì không được chuộc lại. Luật nghiêm cấm các hành vi chiếm đoạt và tranh giành ruộng đất, đặc biệt là cấm chiếm ruộng đất công. Tuy nhiên luật đã xử phạt tương đối nhẹ kẻ lấn chiếm đất công, tạo điều kiện cho chế độ tư nhân ruộng đất phát triển. Điều 324 quy định: “Nếu bán ruộng đất công của công xã bị đánh 60 trượng, biếm hai tư, nếu chiếm quá 1 mẫu thì đánh 80 trượng, chiếm 10 mẫu đánh 60 trượng biếm một tư”.Luật Hồng Đức là luật bảo vệ quyền tư hữu tài sản. Luật quy định khi vay nợ phải làm văn tự, nếu quá hạn mà người nợ không trả được thì phạt trượng và phải trả gấp đôi số đã vay. Chủ nợ đi bắt nợ lấy đồ vật của con nợ có giá trị quá số tiền ghi trong văn tự thì sẽ bị phạt. Luật nghiêm cấm việc xâm phạm, chiếm dụng tài sản công. Làm hỏng hay xâm phạm tài sản riêng thì phải bồi thường. Luật quy định trừng phạt tội trộm cắp, quy định mức lãi suất tối đa trong vay nợ.

 Về kế thừa tài sản: Luật Hồng Đức quy định hai hình thức kế thừa: kế thừa theo di chúc và kế thừa theo luật. Theo luật thì cha mẹ, vợ chồng con cái đều có quyền thừa kế, tuỳ theo quan hệ mà được chia theo mức độ khác nhau. Đối với đất hương hoả, thờ cúng tổ tiên, luật quy định quyền thừa kế trước hết thuộc về con trai trưởng của vợ cả, nếu không có con trai thì giao cho con gái trưởng. Luật kế thừa của Luật Hồng Đức (Quốc triều hình luật) phản ánh chế độ tư hữu phong kiến. Những điều luật này phù hợp với sự phát triển của xã hội Việt Nam khi đó, có nhiều điểm tiến bộ, nhân ái, nó bảo vệ quyền lợi cho chủ sở hữu và một số quyền của phụ nữ, một điều hiếm có của pháp luật phong kiến phương Đông cổ trung đại, vốn trọng nam và xem nhẹ vai trò phụ nữ.                   Trong chế định về kế thừa, cha mẹ là chủ của tài sản nên khi cha mẹ mất con cái mới được quyền thừa kế. Luật qui định có hai hình thức kế thừa. Kế thừa theo di chúc nếu người mất để lại di chúc. Theo đó nếu người cha chết trước thì người vợ là chủ tài sản gia đình và khi bà mất đi có quyền di chúc lại cho con cái kế thừa. Mối quan hệ giữa vợ chồng về tài sản trong Luật Hồng Đức thể hiện rõ ràng nhất trong trường hợp kế thừa không có di chúc. Luật qui định nếu người chủ tài sản mất đi mà không để lại di chúc thì phải kế thừa theo luật của nhà nước, luật qui định những ai được kế thừa, được hưởng bao nhiêu tài sản, nhất nhất phải tuân theo luật. Trong trường hợp này luật qui định có hai hạng người được thừa kế: Hạng thừa kế thứ nhất là con cái, hạng thừa kế thứ hai là cha mẹ hoặc người thừa tự (nếu cha mẹ không còn). Hạng thừa kế thứ nhất chỉ phát sinh khi cha mẹ đã chết, các con trong hạng này gồm con trai, con gái, con vợ cả, con vợ lẽ, con nuôi, con nàng hầu với chủ tài sản trong văn tự có ghi thì cũng được thừa kế. Luật qui định các con của vợ cả bằng nhau. Phần các con vợ lẽ bằng nhau nhưng ít hơn phần con vợ cả. Quan hệ kế thừa trong hạng thứ hai chỉ phát sinh khi hôn nhân không có con mà một người (vợ hoặc chồng) đã chết. Quan hệ kế thừa hạng này được luật qui định với 3 loại điền sản trong những trường hợp cụ thể: Loại phu gia điền sản tức là ruộng đất của nhà chồng cho hai vợ chồng khi xây dựng gia đình. Hai vợ chồng không có con, chồng chết trước. Luật qui định đối tượng được thừa kế trong trường hợp này là người vợ, đối tượng thứ hai là người thừa tự của chồng. Ruộng đất trong trường hợp này chia làm hai phần bằng nhau, một phần giành cho người thừa tự của chồng hoặc cha mẹ chồng, một phần giành cho người vợ. Vợ ở vậy được hưởng suốt đời, nếu tái gia, ruộng đất trên phải để lại cho nhà chồng. Thứ hai vẫn là phu gia điền sản. Hai vợ chồng có con, vợ chết trước chồng, chồng lấy vợ thứ hai, chồng chết trước vợ thứ hai. Luật xác định đối tượng thừa kế trong trường hợp này là  con của chồng với vợ thứ nhất và người được thừa kế thứ hai là vợ kế. Ruộng đất được chia làm hai phần bằng nhau, 1/2 cho con của vợ trước, vợ kế được 1/3 của phần còn lại nếu như vợ cả có 1 con, người con của vợ trước được thêm 2/3 của nửa sau. Nếu như vợ cả có 2 con trở lên thì phần của mẹ kế bằng một phần của một con. Trong trường hợp này vợ kế không đóng góp gì trong tài sản cũng được hưởng một phần. Loại phu thê điền sản (tài sản do hai vợ chồng làm ra), không có con, chồng chết trước. Đối tượng được thừa kế trong trường hợp này là vợ, thứ hai là người thừa tự của chồng hoặc bố mẹ chồng. Theo luật định ruộng đất chia hai phần bằng nhau, người vợ được 1/2, tái giá được mang theo số ruộng đất này.1/2 còn lại chia 3. Người vợ được tiếp 2/3 của nửa sau nhưng phần này nếu tái giá hoặc chết phải để lại cho nhà chồng. Người thừa tự của chồng hoặc bố mẹ chồng được 1/3 của nửa sau. Vẫn là phu thê điền sản, vợ chết trươc. Bố mẹ vợ hoặc người thừa kế của vợ được hưởng 1/3 tài sản.                     

Loại thê gia điền sản (tài sản do gia đình nhà vợ cho hai vợ chồng). Hai vợ chồng có con nhưng con đã mất, vợ mất trước chồng, cha mẹ vợ còn sống. Cha mẹ vợ được 1/3  tài sản. Nguồn tài sản vẫn là thê gia điền sản. Hai vợ chồng có con nhưng con chết, vợ chết trước chồng, cha mẹ vợ cũng đã chết. Đối tượng được thừa kế là chồng và người thừa tự của vợ. Luật qui định chia ruộng đất 3 phần bằng nhau. Chồng được 2/3 và toàn quyền sử dụng, 1/3 thuộc người thừa tự của vợ. Trong 6 trường hợp thì 3 trường  hợp chồng chết trước thì vợ được  hưởng một phần tài sản, 3 trường hợp nếu vợ chết trước thì người thừa tự của vợ hoặc cha mẹ vợ được hưởng tài sản. Như vậy theo Quốc triều hình luật những chế định hôn nhân gia đình là thể chế hóa những quan điểm của Nho giáo nhằm xây dựng gia đình phụ quyền gia trưởng lấy đó làm cơ sở cho chế độ phong kiến. Tuy nhiên bộ luật đã tính tới yếu tố thực tế của xã hội, của phong tục tập quán Việt Nam, đề cao đề cao người cha nhưng không coi thường vai trò của người mẹ, đề cao người chồng nhưng không coi thường địa vị người vợ trong gia đình, đề cao con trai nhưng không xem thường con gái. Trong gia đình nếu người cha mất thì người mẹ là chủ của tài sản và được quyết định mọi việc quan trọng trong gia đình. Điều đặc biệt của Luật Hồng Đức là chia tài sản cho con gái ngang bằng với con trai (điều 388). Không có con trai thì con gái thừa tự, như vậy khi không có con trai, con gái cũng được thừa kế hương hỏa thờ cúng cha mẹ.   

Trong 6 trường hợp kế thừa tài sản không có di chúc, tức là kế thừa theo luật định ở trên, trường hợp nào người vợ cũng được kế thừa tài sản, thậm chí cả người thừa tự của vợ. Kế thừa suốt đời hay không suốt đời, kế thừa nhiều hay ít tùy thuộc hoàn toàn vào nguồn gốc tài sản. Nếu như tài sản do hai vợ chồng làm ra người vợ được kế thừa nhiều hơn và một phần lớn được kế thừa suốt đời. Tuy nhiên những trường hợp như phu gia điền sản, người vợ vẫn được thừa kế. Kế thừa theo Luật Hồng Đức không chỉ là kế thừa tài sản, thiên về kinh tế,  bảo đảm quyền lợi cho phụ nữ, cho người vợ, đồng thời luật còn trân trọng bảo vệ tình cảm gia đình nhà vợ, gia đình nhà chồng của chàng rể, cô dâu qua cách chia thấu  tình đạt lý, tôn trọng và phù hợp với phong tục tập quán Đại Việt, bảo vệ đạo đức của con cái đối với cha mẹ, sự hòa thuận trong họ hàng thân thuộc. Luật kế thừa đã đề cao công sức của người vợ, của người phụ nữ đối với gia đình và xã hội. Quyền của phụ nữ được luật quan tâm và chú trọng. Đây là sự sáng tạo của nhà làm luật. Cho thấy pháp luật có hoàn thiện đến đâu cũng không thể thay thế hết được vai trò của phong tục tập quán từng tồn tại lâu dài và phổ biến trước khi có luật.                                                                                                                

 Trong quan hệ tài sản vợ chồng, luật Hồng Đức không chỉ tính đến tài sản chung của hai vợ chồng mà còn tính tài sản riêng của mỗi người. Pháp luật ghi nhận sự bình đẳng của người vợ trong tài sản chung của nhà chồng và bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản do vợ chồng làm ra nên khi phân chia kế thừa đã thừa nhận quyền tài sản của người phụ nữ. Người vợ còn có quyền sử dụng thu lợi trên phần di sản của chồng đã qua đời. Khi hai người còn sống vợ và chồng đều bình quyền trong quản lý tài sản. Có quyền tư hữu tài sản ngang với chồng nên đàn bà thời Hậu Lê giữ vai trò kinh tế quan trọng trong xã hội và trong gia đình. Điều này luật Trung Hoa phong kiến và luật Gia Long không có. Về điểm này luật Hồng Đức tiến bộ hơn luật châu Âu, châu Á phong kiến. Luật chú ý đến điền sản là tư liệu sản xuất quan trọng trong một xã hội kinh tế nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo nhưng luật không gạt bỏ tư liệu sinh hoạt, của cải ra ngoài thừa kế của vợ và con. Trong tất cả các điều luật về tài sản và kế thừa cho thấy chồng chết trước thì phần của vợ bao giờ cũng nhiều hơn các con, kể cả đối với con trưởng. Luật cũng đã nghiêm cấm người vợ khi tái giá hoặc người chồng vợ chết lấy vợ khác không được bán ruộng đất của gia đình do cuộc hôn nhân thứ nhất làm ra để bảo vệ tài sản cho con cái. Người thừa kế như vậy chỉ được hưởng một đời, khi chết phần ruộng đất người được kế thừa để lại cho các con của chồng, của vợ hoặc cho người thừa tự làm hương hỏa. Luật cũng qui định người phụ nữ còn được hưởng tài sản khi ly hôn do lỗi của người chồng.

Ngoài ra luật Hồng Đức đề cao vai trò của người phụ nữ  hơn so với các luật phong kiến đường thời trong khu vực và trên thế giới. Đã đề cập và bảo vệ một số quyền lợi của phụ nữ trong gia đình và trong xã hội. Trước hết là vai trò của phụ, cho phụ nữ trong gia đình có quyền quản lý tài sản cùng với chồng, khi chồng chết thì có quyền tự quản lý tài sản, có quyền thừa kế tài sản. Đó là sự khác nhau với phụ nữ Trung Quốc phong kiến. Người phụ nữ có quyền thừa kế ngang bằng với đàn ông. Khi chồng chết phụ nữ còn có quyền sở hữu đối với tài sản riêng và được hưởng một phần giá trị tài sản do hai vợ chồng gây dựng nên. Nếu ly hôn do lỗi của chồng thì tài sản riêng (gồm cả điền sản và tư trang), người vợ có quyền mang về nhà mình. Trong gia đình có việc gì quan trọng, người phụ nữ có quyền tham gia bàn bạc với chồng.

Luật Hồng Đức còn nêu lên quyền bình đẳng. Đó là quyền bình đẳng giữa vợ và chồng, quyền bình đẳng giữa nam và nữ, quyền bình đẳng dân tộc, quyền tư hữu, quyền được nhà nước bảo vệ hôn nhân, quyền được ly hôn của phụ nữ, quyền được học tập và giáo dục, quyền thuận tình kết hôn và lập gia đình. Quyền bà mẹ và trẻ em được chăm sóc và bảo vệ đặc biệt, quyền an sinh xã hội, quyền được chăm sóc sức khỏe.  Luật Hồng Đức còn mang tính nhân văn, tính nhân đạo như áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho phụ nữ phạm tội.

     Tóm lại nét đặc sắc tiến bộ nhất của luật Hồng Đức là bênh vực bảo vệ quyền lợi cho phụ nữ. Sở dĩ có điểm tiến bộ này là thời gian mà bộ luật ra đời lúc chế độ phong kiến  Đại Việt đang đạt đỉnh cao và phát triển đến thời kỳ cực thịnh về mọi mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, quân sự. Trước đó mới gần nửa thế kỷ, những chiến công chói lọi trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Minh, hoàn thành giải phóng dân tộc vẫn còn tỏa ánh hào quang rực rỡ mà công lao đóng góp to lớn của nhân dân vào cuộc kháng chiến hẳn chưa phai mờ đối với triều đại Hậu Lê. Thời Lê Sơ cũng là lúc những tư tưởng thân dân của các nhà tư tưởng vĩ đại của Việt Nam, tiêu biểu như Nguyễn Trãi đã và đang phát triển chín muồi rực rỡ. Tất cả những hoàn cảnh đó đã ảnh hưởng to lớn đến tư tưởng của Lê Thánh Tông. Bản thân Lê Thánh Tông không chỉ là vị minh quân mà còn là nhà chính trị, nhà lập pháp, nhà quân sự, nhà thơ, nhà tư tưởng lớn của Việt Nam thế kỷ XV. Lê Thánh Tông không  chỉ ngồi trên ngai vàng cai trị mà ông đã đi “vi hành” không ít để nắm tình hình thực tiễn của đất nước. Ông thở hơi thở của nhân dân, của dân tộc, của thời đại. Ông biết nhân dân muốn gì, nhân dân cần gì. Tất cả đã đúc kết trong sự nghiệp chính trị của ông. Điều đó cũng đã làm nên tư tưởng lập pháp tiến bộ của ông và bộ “Quốc triều hình luật” là đỉnh cao nhất của lịch sử lập pháp Việt Nam thời Trung Đại. Nhiều tư tưởng và kỹ thuật lập pháp của ông là đỉnh cao của tư tưởng pháp luật thế giới đương thời.

    Những tư tưởng tiến bộ nhân văn của luật Hồng Đức  còn nguyên giá trị cho các triều đại học tập khi xây dựng luật, đó là luật pháp là công cụ bảo vệ nhân dân lao động, bảo vệ quyền lợi phụ nữ, bảo vệ độc lập dân tộc, kiên quyết chống tham nhũng, cửa quyền, xây dựng một xã hội bình đẳng, pháp quyền, nhân văn.                                                                                                                                                        Luật hôn nhân gia đình. Luật nhà Lê tập trung bảo vệ chế độ gia tộc phụ quyền, đề cao vai trò của người đàn ông, người cha, người chồng, con trưởng, vợ cả. Luật thừa nhận chế độ Luật hôn nhân gia đình nhà Lê tập trung bảo về chế độgia tộc phụ quyền, đề cao vai trò của người đàn ông, người cha, người chồng, con trưởng, vợ cả. Luật thừa nhận chế độ hôn nhân không tự do, điều 314 quy định: Luật Luật hôn nhân gia đình “Hôn nhân chỉ được coi là hợp pháp khi có sự đồng ý của hai bên cha mẹ, có sự trao đồ sính lễ với sự chứng kiến của họ hàng hai bên, và cuộc hôn nhân đó không được vi phạm một trong những điều cấm đoán như hai người là họ hàng thân thích, khi có tang cha mẹ bên vợ hoặc chồng, khi cha, mẹ bị giam cầm tù tội, quan lại lấy người hát xướng, học trò lấy vợ goá của thầy học”. Luật thừa nhận chế độ nhiều vợ. Luật không đề cập đến quyền tự do quyết định của hai bên nam nữ, đối tượng tạo nên cuộc hôn nhân. Trong gia đình, cha, chồng là người quyết định cao nhất. Luật không quy định xử phạt nếu chồng đánh vợ. Chỉ khi đánh vợ bị thương mới bị xử rất nhẹ, nhẹ hơn đánh người khác gấp 3 lần. Đàn ông được quyền bỏ vợ nếu vợ phạm các điều thất xuất: Không có con, không thờ phụng bố mẹ chồng, dâm đãng, lắm lời, trộm cắp, ghen tuông và ác tật.

Trong khi đó, phụ nữ có quá nhiều nghĩa vụ, luật xử phạt phụ nữ khi không chung thủy với chồng, phụ nữ đánh chồng bị đày ra ngoài châu xa, điền sản phải trả lại cho chồng. Phụ nữ phải phục tùng chồng. Chồng chết để tang 3 năm mới được tái giá, không được tự tiện bỏ nhà chồng đi nơi khác. Luật thừa nhận chế độ đàn ông có nhiều vợ nên có một số điều khoản phân biệt vị trí cao thấp sang hèn giữa vợ cả và vợ lẽ, giữa thê và thiếp.

Nhưng khác với các bộ luật phong kiến trước đó, Luật Hồng Đức đã chú ý bảo vệ quyền lợi cho người phụ nữ. Trong hôn nhân, luật đề cao tín nghĩa, không cho phép bội ước sau khi đã kết hôn. Như điều 307 cho phép vợ có quyền trình đơn xin bỏ chồng nếu 5 tháng (có con là 1 năm) bị chồng bỏ rơi. Quy định này nhằm ngăn chặn sự thiếu trách nhiệm của chồng đối với vợ, giúp cho phụ nữ tự giải phóng mình khi bị phản bội. Luật cho phép con gái được hưởng quyền thừa kế cùng với con trai. Trong trường hợp không có con trai, con gái trưởng được giao đất hương hoả để thờ bố mẹ, tổ tiên. Trong gia đình, người vợ được ít nhiều quyền sở hữu tài sản. Khi ly hôn, luật cho người vợ có quyền sở hữu tài sản riêng của mình và được chia tài sản chung của hai vợ chồng nếu như cuộc ly hôn do lỗi ở người chồng. Khi chồng chết, vợ có quyền thừa kế tài sản. Đó là những điều tiến bộ đáng được đánh giá cao của “Luật Hồng Đức” trong hoàn cảnh của chế độ phong kiến. Trong gia đình, luật quy định cha mẹ có quyền và nghĩa vụ giáo dưỡng, nuôi dạy con cái. Con cái có nghĩa vụ vâng lời cha mẹ và phụng dưỡng cha mẹ lúc tuổi già. Phải để tang ông bà, cha mẹ trong 3 năm, có thể chịu tội thay cho ông bà, cha mẹ. Luật quy định nếu nuôi con nuôi phải ghi rõ đứa con đó có được chia tài sản hay không. Nếu không có di chúc, khi đưa xử theo luật, con đẻ được hai phần, con nuôi được một phần tài sản.

Quốc triều hình luật” là bộ luật đầu tiên có quy định chặt chẽ về thủ tục tố tụng. Điều này chứng minh cho sự phát triển của luật phong kiến và nhà nước phong kiến. Luật quy định các cấp xét xử đối với từng                                                                              “Quốc triều hình luật” là bộ luật đầu tiên có quy định chặt chẽ về thủ tục tố tụng. Điều này chứng minh cho sự phát triển của luật phong kiến và Nhà nước phong kiến. Luật quy định các cấp xét xử đối với từng loại việc. Việc rất nhỏ kiện ở xã quan. Việc nhỏ và vừa kiện ở quan phủ. Việc lớn mới đưa lên kinh đô. Xử ở cấp đầu tiên, người khiếu kiện không thoả mãn, được phép kêu kiện lên cấp trên. Luật quy định thời hạn đưa vụ việc ra xét xử: Quan để án quá một tháng không xét thì bị giáng chức, quá 3 tháng bãi chức, quá 5 tháng phạt đồ. Luật quy định quan khi xét hỏi phải thấu tình đạt lý, khi định tội phải đúng luật. Khi xét xử nếu thấy chứng cớ còn nghi ngờ phải tạm dừng để xem xét điều tra cho rõ ràng. Quan lại có trách nhiệm phải đích thân tiến hành việc khám xét. Tang vật thu được phải bảo vệ cận thận, không được biến tang vật thành của riêng. Khi tiến hành bắt người phải có chứng cớ. Quan quân coi ngục không được sách nhiễu phạm nhân. Phạm nhân phải được giam giữ nơi quy định và được chăm sóc khi bị bệnh. Không được tra tấn người già trên 70 tuổi và trẻ em dưới 15 tuổi. Phụ nữ đang mang thai được hoãn thi hành án. Pháp luật trừng trị quan lại khi xét xử ăn hối lộ và gian dối.  Luật tố tụng của “Quốc triều hình luật” chặt chẽ và thể hiện sự tiến bộ, nhân ái. Luật này có tác dụng ngăn chặn sự tuỳ tiện và thiếu công bằng trong xét xử, buộc những người “cầm cân nẩy mực” phải có trách nhiệm với những quy định như trên, pháp chế được bảo đảm luật được đề cao trong hoạt động của Nhà nước. Ngoài ra, “Quốc triều hình luật” còn có quy định về tài chính-thuế khoá, về chế độ lao dịch, về quản lý hộ khẩu, về một số chính sách với dân tộc thiếu số.

Tóm lại, nhà Lê đã chú trọng quan tâm đến hoạt động lập pháp, xây dựng pháp luật để đáp ứng nhu cầu phát triển của Nhà nước, của chế độ. Pháp luật nhà Lê cũng mang bản chất giai cấp phong kiến. Nội dung của các điều luật nhằm bảo vệ quyền lợi kinh tế, chính trị, địa vị xã hội của địa chủ phong kiến. Luật trừng trị nặng tội xâm phạm tất cả những quan hệ xã hội mà nó bảo vệ như đặc quyền của vua, của hoàng tộc, bảo vệ cơ sở kinh tế, nền tảng tư tưởng của nó là Nho giáo, bảo vệ chế độ đẳng cấp là cơ sở xã hội của chế độ, bảo vệ chế độ gia đình phụ quyền. Để bảo vệ được các quan hệ đó, luật sử dụng hình phạt nặng nề. Nhưng “Quốc triều hình luật” có những yếu tố tiến bộ. Luật đã nêu những quy phạm bảo vệ quyền lợi của người dân, của tầng lớp dưới, của nô tỳ, những người cô đơn, tật nguyền, góa bụa, bảo vệ phụ nữ, bảo vệ các dân tộc thiểu số. Luật đã có những quy định nhằm ngăn chặn hạn chế sự uy hiếp, lộng hành nhũng nhiễu của quan lại, cường hào địa phương, một xu hướng hủ bại thường xuất hiện ở bộ máy nhà nước. Luật có nhiều quy định bảo vệ sản xuất nông nghiệp (như quy định bảo vệ trâu bò). Có những điều tiến bộ đó là do trong khi kế thừa pháp luật Trung Hoa, kế thừa “Hình luật” đời Lý, đời Trần để soạn “Quốc triều hình luật” nhà Lê đã có sự sáng tạo cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Có thể nói xu hướng hưng thịnh của chế độ phong kiến nhà Lê, lòng nhân ái của các vị vua lỗi lạc như Lê Thánh Tông và quần thần của một triều đại đang lên cũng là yếu tố làm cho luật Hồng Đức mang yếu tố tiến bộ. Vì có sự tiến bộ đó “Quốc triều hình luật” không chỉ phát huy tác dụng ở triều Lê mà còn là cơ sở pháp luật chủ yếu cho các triều đại sau. Tháng 10 âm lịch năm 1462 Lê Thánh Tông cho các quan văn, võ ở độ tuổi 65 và các thư lại, giám sinh ở độ tuổi 60 được đệ đơn với Lại bộ để xin trí sĩ. Ông còn bãi bỏ luật cha truyền con nối của các gia đình có công.

Tháng 6 âm lịch năm 1466, Lê Thánh Tông ban quy chế về màu áo các quan văn võ: Quan từ nhất phẩm đến tam phẩm phải mặc áo hồng; quan tứ phẩm và ngũ phẩm thì mặc áo màu lục; các viên chức còn lại đều mặc áo xanh. Bỏ lệ quốc tính, cho lại họ cũ.

Mùa thu năm 1471, vua Thánh Tông ban bố Hoàng triều quan chế, khẳng định rằng: "Đất đai bờ cõi ngày nay so với trước kia khác nhau nhiều lắm, không thể không thân hành nắm quyền chế tác, làm trọn đạo biến thông", cho nên phải thay đổi, mở rộng bộ máy quan lại, hành chính. Các cải tổ

của Lê Thánh Tông đã giúp bộ máy chính quyền được mở rộng đáng kể theo, tổng sổ quan văn, võ phục vụ dưới thời Thánh Tông có đến 5.370 người, gồm 2.755 quan triều đình và 2.645 quan địa phương. Thay dần võ quan bằng nho sĩ học hành.                  

Lê Thánh Tông đã đề cao ý kiến của các quan, nhiều sáng tạo về hành chính của ông có xuất phát từ sự gợi ý của quan lại. Ông đã ra nhiều chỉ dụ yêu cầu triều thần phải trung thực và thẳng thắn khi trình bày quan điểm với hoàng đế, không được nói nước đôi, hai nghĩa. Ông còn đặt phép tắc về việc bàn luận của quan viên: Khi có thánh chỉ xuống, thì theo thứ tự, Lục khoa và Ngự sử đài bàn bạc trước, sau đó đến Lục bộ, Lục tự rồi tới lượt công, hầu, bá, đô đốc năm phủ. Các quan đều phải trình bày rõ ý kiến của mình, không được giữ im lặng, trốn tránh hoặc a dua theo người khác. Quan nào vi phạm luật lệ này sẽ bị ngự sử trách hỏi rồi tâu lên vua. Tháng 12 âm lịch năm 1467, ông đặt ra ấn "Thiên Nam Hoàng đế chi bảo", thể hiện ý muốn của ông coi Đại Việt là một Thiên triều phía Nam độc lập, có đầy đủ những gì Thiên triều phía Bắc (nhà Minh-Trung Quốc) có, và có sức mạnh chính trị, văn hiến không thua kém Bắc quốc. Năm 1485, Lê Thánh Tông xử tử Thái tử Thiếu bảo Ngự sử đài Đô ngự sử Trần Phong vì ông này phê phán nhà vua áp dụng quan chế triều Minh, và khi làm kinh diên cho Nhân Tông thì "yêu quý Lệ Đức (Lê Nghi Dân), rất khinh miệt ta (Thánh Tông)".  Lời chỉ trích Lê Thánh Tông được gán cho Trần Phong chỉ mang tính nông cạn, có thể bộc lộ sự hoài niệm về các triều đại bất ổn của Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông.

Tháng 3 âm lịch năm 1493, vua Lê Thánh Tông đặt lệ về thứ tự đứng chầu của đình thần: Đối với các quan cùng phẩm, thì người lớn tuổi và làm việc lâu năm đứng trước, người trẻ và làm việc chưa lâu đứng sau. Với các chức quan cai quản thì: "Người phẩm thấp mà chức cao, như tam phẩm làm Đô đốc thì đứng vào ban nhị phẩm; thất, bát phẩm làm Lang trung thì đứng vào ban lục phẩm. Nếu phẩm cao mà chức thấp, như nhị phẩm làm Vệ quan thì đứng vào ban tam phẩm; tứ, ngũ phẩm làm Viên ngoại lang thì đứng vào ban lục phẩm; còn lại cứ theo thế mà suy ra".                                                                                       

Lê Thánh Tông nổi tiếng là vị hoàng đế quản lý quan lại hết sức chặt chẽ. Hàng ngày ông đều hội kiến với các tướng lĩnh cao cấp nhất của mình. Ngoài ra, sau mỗi buổi thiết triều, ông thường gặp riêng các quan đứng đầu Lục bộ và Ngũ phủ để bàn bạc. Hoàng đế cũng dõi theo sát sao hành xử của hàng ngàn viên quan lớn nhỏ trong triều đình. Ngay từ khi mới lên ngôi, ông đã tạo ra một cảm giác kết nối sâu sắc giữa mình với các đại thần qua việc khen ngợi hoặc sỉ vả từng cá nhân, mỗi lời khen chê của ông đều thể hiện ông nắm rõ tiểu sử và sự nghiệp của họ. Có lần hoàng đế ban mứt trái cây cho các đại thần để bày tỏ sự cảm kích đồng thời cổ vũ họ làm việc chăm hơn nữa. Ông cũng ban hành hàng loạt sắc lệnh, cảnh báo và nghiêm cấm các quan văn võ không được tham ô, hối lộ, gian dối, biếng nhác, trễ nải, bóc lột sức quân và dân để vỗ béo bản thân, thu thuế chậm chạp, không hoàn tất công việc đúng kỳ hạn, sống phóng đãng, chìm đắm tửu sắc, thông dâm với vợ người, gia đạo không nghiêm, cưới người đàn bà ở nơi mình trấn nhậm, mặc triều phục không đúng quy chế, lễ lạt quá đà, nhổ trầu, vứt bã trầu lung tung trong sân điện… Thừa tuyên sứ các xứ Bắc đạo Lê Công Khác đã bị giáng chức xuống một bậc vào cuối năm 1467 vì nơi ông này trấn nhậm có nhiều sâu bọ phá hoại mùa màng mà "không biết tâu lên trước, chỉ ngồi nhìn tai họa của dân". Ngay cả khi Nguyễn Xí cùng con là Nguyễn Sư Hồi nhận 80 lạng bạc do Ngô Tây hối lộ, Thánh Tông sai Tư lễ giám Nguyễn Áng đến bắt cha con Nguyễn Xí phải nộp lại 80 lạng bạc đó. Trong một trường hợp khác, tháng 12 âm lịch năm 1467, nhà vua mở khoa thi Hoành từ bắt 30 quan chức phải thi. Khâm hình viện Lang trung Vũ Hữu và Viên ngoại lang Nguyễn Đình Khoa cáo bệnh không dự thi. Lê Thánh Tông thấy lạ, dò hỏi thì biết hai người này chỉ ưa ăn hối lộ. Mặt khác Thánh Tông cũng tỏ ra rộng rãi trong việc cho phép các quan bị xử phạt, giáng chức hay cách chức có cơ hội lần hai để chuộc lại lỗi lầm. Khi được các đại thần giới thiệu người có thể bổ dụng, nhà vua đích thân xem xét, chắt lọc cẩn thận rồi mới chọn ra người xứng đáng trong số các ứng cử viên. Ông còn dụ các quan ở Lục bộ, Lục khoa và Ngự sử đài nếu giới thiệu đúng người thì sẽ được thưởng, còn mà sai người thì bị phạt tiền. Tháng 12 âm lịch năm 1467, Lễ bộ Tả Thị lang Lương Như Hộc giới thiệu Trần Quý Huyên. Lê Thánh Tông chê Trần Quý Huyên không đủ tài, bắt Lương Như Hộc giam vào ngục và thu hồi văn bằng của Quý Huyên. Triều đình cứ 3 năm phải xét duyệt quan lại một lần, những viên chức được giao việc xét duyệt mà không hoàn thành đúng kỳ hạn đều bị phạt tiền. Đối với các quan trấn nhậm ở vùng núi xa xôi, nhà vua cho phép họ được về đồng bằng nhận chức mới sau 6 năm nếu họ làm tốt công việc. Nếu làm không tốt thì phải ở lại. Tuy nhiên, quan lại coi giữ những vùng biên giới nhạy cảm thường phải đổi việc chỉ sau một thời gian ngắn để tránh họ ở lâu quên mất cảnh giác”.

Ngô Sĩ Liên vừa đọc vừa sửa chữa. Đêm đã khuya, trống đã điểm canh ba. Ông uống thêm một ngụm nước nóng nữa rồi đi nghỉ trong sự mệt mỏi của công việc nghiên cứu đánh giá một sự nghiệp của một vị vua anh minh vĩ đại. Hôm sau, sau khi ăn sáng, Ngô Sĩ Liên lại ngồi uống trà và đọc tiếp về quy định tước hiệu của Lê Thánh  Tông: “Tháng 9 năm 1471, Lê Thánh Tông ban bố về quy định về phong tước cho tôn thất quan lại, Hoàng tử hoặc con cả của Hoàng tử  được phong tước vương.

Đối với hoàng tử lấy chữ trong tên phủ mà đặt hiệu như Kiến Hưng lấy từ tên phủ Kiến Hưng, với con trưởng của hoàng tử và thân vương thì lấy tên huyện làm hiệu, ví dụ Hải Lăng vương là lấy từ tên huyện Hải Lăng, các con thứ của hoàng tử và thân vương thì được giữ tước công lấy mỹ từ làm tên hiệu, ví dụ như Triệu Khang Công. Con trưởng của tự thân vương có tước công thì được mang tước hầu cũng dùng mỹ từ làm tên hiệu, ví dụ như Vĩnh Kiễn hầu. Tước bá giành cho hoàng thái tôn, các con thứ của tôn thất có tước công, con trưởng của thân công chúa, tước tử được đặt tương đương cho chánh nhất phẩm, giành cho con thứ của năm công chúa, con trưởng của tôn thất trong tước hầu, tước bá, tước nam, tương đương với tòng nhất phẩm, giành cho con trưởng của thân công chúa được truy tặng, con thứ của tôn thất mang tước hầu tước bá, cả ba tước này đều lấy tên hiệu theo mỹ từ, ví dụ Tĩnh Cung Bá, Kiến Xương Tử, Quảng Trạch Nam.  Lê Thánh Tông còn đặt lệ cho các công thần được phong tước: Quốc công, quận công, hầu, bá. Những người không có công lao thì không phong các tước đó. Người có tước hiệu quốc công, quận công thì lấy một chữ trong tên phủ, huyện để vinh hiệu, ví dụ như Tĩnh Quốc công Lê Niệm, Phủ Quốc công Lê Thọ Vực, người mang tước hầu tước bá thì lấy cả hai chữ của xã để đặt tên hiệu ví dụ như Nam Xương Hầu đặt theo tên xã Nam Xương, Tước Diên Hà bá đặt theo tên xã Diên Hà.                                                          

Bên cạnh việc xây dựng thiết chế mới, Lê Thánh Tông rất chú trọng việc mở mang giáo dục, bồi dưỡng nhân tài, nhằm xây dựng và mở rộng một đội ngũ quan lại gốc bình dân thấm nhuần kinh điển Nho học, đồng thời hạn chế sự ảnh hưởng của tầng lớp quý tộc, võ tướng trong triều. Triều đình thời Lê Thánh Tông có Hàn Lâm viện, Đông Các viện, Quốc Sử viện, Quốc Tử Giám, nhà Thái học là những cơ quan chuyên phụ trách văn hóa-giáo dục trong nước. Tháng 3 âm lịch năm 1467, vua Lê Thánh Tông thấy học sinh Quốc Tử Giám đa số học Kinh Thi, Kinh Thư, ít chịu học Kinh Lễ, Kinh Dịch và Kinh Xuân Thu, nên ông đặt chức Ngũ kinh bác sĩ, mỗi người hiểu biết chuyên về một kinh để giảng dạy ở Quốc Tử Giám. Ngoài ra, ông còn đặt chức Giáo tập bác sĩ ở các vệ quân, và chức Huấn đạo chuyên dạy Nho học ở các phủ. Tháng 10 âm lịch năm 1484, Lê Thánh Tông cho sửa sang, mở rộng Văn Miếu-Quốc Tử Giám; chi tiết được ghi lại: "Vua làm điện Đại Thành ở Văn Miếu cùng nhà đông vu, tây vu, điện Canh phục, kho chứa ván in và đồ tế lễ, nhà Minh luân, giảng đường đông tây, nhà bia đông tây, phòng học của sinh viên, và các cửa, xung quanh xây tường bao".  Ông còn ra lệnh cho các phủ hàng năm phải làm lễ tế ở Văn miếu của địa phương mình vào các ngày thượng tuần tháng 2, tháng 8 (âm lịch).                                   

Lê Thánh Tông còn ban hành rất nhiều cải cách nhằm phát triển chế độ khoa cử tuyển quan kiểu Nho giáo. Tháng 4 âm lịch năm 1462, Lê Thánh Tông đặt lệ bảo kết thi Hương, quy định rằng: Người muốn dự thi, dù là bình dân hay quân lính, đều phải đi khai tên và căn cước ở đạo của mình trong thượng tuần tháng 8. Sau đó, quan coi đạo sẽ cùng xã trưởng làm giấy cam kết về đạo đức của người ứng thí, ai được cam kết là có đức độ, trong sạch thì mới được vào thi. Những người bất hiếu, bất mục, bất nghĩa, loạn luân, điêu toa thì học rộng, giỏi văn chương đến mấy cũng không được đi thi. Đối với người làm nghề xướng ca, người từng tham gia, thông đồng với các nhóm phản loạn và ngoại bang thì bản thân họ và con cháu đều bị cấm thi. Ai được dự thi thì phải nộp giấy thông thân cước, ghi chính xác nơi ở (phủ, huyện, xã), tuổi tác, lý lịch của cha mẹ và của bản thân, tên quyển kinh mà mình chuyên học.  Người nào đỗ 3 trong 4 kỳ thi Hương thì gọi là Sinh đồ, đến khoa thi Hương sau phải vào thi lại; còn người đỗ cả bốn kỳ được gọi là Hương cống, được phép vào thi Hội. Riêng người làm quan thì không đỗ Hương cống cũng vẫn được thi. Tháng 2 âm lịch năm 1463, ông mở khoa thi Hội, có đến hơn 4.400 người dự thi, trong đó hơn 40 người trúng tiến sĩ. Ngày 16 tháng 12 âm lịch, nhà vua cho thi Đình để xếp loại các tiến sĩ, ông tự ra đề văn sách hỏi về đạo trị nước của đế vương. Các tiến sĩ từ Lương Thế Vinh trở xuống được đỗ cập đệ và xuất thân theo các thứ bậc khác nhau. Năm 1466, Lê Thánh Tông mở khoa thi Hội thứ hai, đây được xem là khoa đầu tiên làm đúng theo quy chế 3 năm một lần thi. Khoa này có 1.100 người dự thi, 27 người trúng cách. Ngày 12 tháng 3 âm lịch, nhà vua tổ chức thi Đình. Ông đích thân đến cửa điện Kính Thiên, ra đề văn sách về "đế vương trị thiên hạ", lấy đỗ 8 đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (đứng đầu là Dương Châu) và 19 đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân (đứng đầu là Nguyễn Nhân Thiếp), không lấy tiến sĩ cập đệ (tam khôi). Cũng từ khoa thi 1466 bắt đầu có lệ: "Ngày 26 làm lễ xướng danh, ban cho ân mệnh. Quan Lễ bộ rước bảng vàng ra treo ngoài cửa Đông Hoa để tỏ sự vinh quang, lại ban cho áo mũ, yến tiệc. Mồng 3 tháng 3 nhuận, các Tiến sĩ được vinh quy". Thời Quang Thuận đã đặt thể lệ: Người đậu cả bốn kỳ thi hương và sau đó thi Hội đỗ thì được phong Tiến sĩ, người chỉ đậu 3 kỳ hương thì được nhận các chức thuộc lại, tá nhị, giáo chức ở các nha môn, người thi không đậu thì cho làm tăng quảng sinh ở Quốc Tử Giám. Các tiến sĩ sẽ được bổ vào các chức quan chính chức ở huyện, chỉ khi thiếu tiến sĩ thì mới dùng đến người đậu 3 kỳ thi. Đến năm Hồng Đức, Thánh Tông còn ban lệ cho phép con cháu quan lại  chỉ đỗ 1 đến kỳ 3 thi hương được học Quốc Tử Giám. Nhận định: "Đấy là đãi ngộ nhà gia thế hơn nhà bạch đinh, có ý nghĩa đời cổ cho việc bồi dưỡng và tiến thân tất phải ở nhà quốc học". Nghiêm khắc xử lý gian lận trong thi cử.

Lê ThánhTông trị vì Đại Việt 38 năm và dưới thời ông Nho học trở nên chiếm ưu thế, ông đã ra lệnh soạn nhiều tác phẩm có giá trị văn hóa, xã hội. Các bia tiến sĩ ở Văn Miếu-Quốc Tử Giám được bắt đầu dựng vào thời đại của ông không chỉ có ý nghĩa về lĩnh vực giáo dục, mà chúng thực sự là các công trình văn hóa nghệ thuật đặc sắc, lưu lại tới muôn đời sau, trở thành di sản văn hóa dân tộc. Việc biên soạn lịch sử được Lê Thánh Tông ý thức hơn hết, với tư cách là những công cụ để nối liền đạo thống; khôi phục xây dựng kho tư liệu sử liệu dân tộc sau giai đoạn bị triệt tiêu văn hóa, sách vở thời thuộc Minh. Nhà vua kén chọn sử quan rất cẩn thận; thời bấy giờ có nhóm sử quan Lê Nghĩa được ca ngợi vì chép sử rất ngay thẳng, Thánh Tông có lần muốn xem quốc sử nhưng Lê Nghĩa không cho xem. Một sử quan có vai trò nổi bật khác vào thời Hồng Đức là Triều liệt đại phu kiêm Quốc Tử Giám Tư nghiệp kiêm Sử quan tu soạn Ngô Sĩ Liên. Chính Ngô Sĩ Liên là người vào tháng 1 âm lịch năm 1479 đã được Lê Thánh Tông giao việc biên soạn một bộ quốc sử mới mang tên Đại Việt sử ký toàn thư, gồm 15 quyển, chép từ thời Hồng Bàng đến khi Lê Thái Tổ đánh đuổi người Minh về nước năm 1428.  Lê Thánh Tông còn sai Ngô Sĩ Liên chép sử về 3 triều vua đầu của nhà Lê (Thái Tổ, Thái Tông và Nhân Tông nhà Lê) gọi là Tam triều bản kỷ. Ngoài ra, Thánh Tông đã nhiều lần ra chiếu sưu tầm tư liệu, sách vở và dã sử trong dân gian. Vào năm 1483 Lê Thánh Tông chủ biên bộ sách Thiên Nam dư hạ tập, sai các văn thần như Đỗ Nhuận, Nguyễn Trực biên soạn. Sách được biên soạn theo loại sách hội yếu, thông điển, gồm 100 quyển ghi chép đầy đủ các chế độ, luật lệ, văn thư, điển lệ, các giấy tờ văn thư hành chính (chiếu, dụ, cáo, sắc)”.

Đọc xong Ngô Sĩ Liên thấy vô cùng hào hứng phấn khởi khi thấy đất nước Đại Việt thật là may mắn đã có vị vua anh minh đề ra được chính sách toàn diện để phát triển đất nước và ra sức lãnh đạo thực hiện bằng được những quyết sách có lợi cho quốc gia. Trên thực tế Đại Việt đang là tầm cao nhất của chế độ phong kiến từ Ngô Vương cho đến ngày nay. Ông hào hứng còn là vì những tư liệu cho bộ sử vĩ đại mà Lê Thánh Tông giao cho ông và Quốc sử quán đã tương đối đầy đủ, nhất là thời Lê Sơ của nhà Hậu Lê. Trong giấc ngủ, ông mơ thấy bộ: “Đại Việt sử ký toàn thư " và bộ “Tam Triều bản kỷ” đang ở trong tầm tay và cùng ông hành trình theo dòng lịch sử hùng tráng của dân tộc.

III.

Mùa đông tháng 10 năm 1470, gió lạnh thổi tràn lan khắp kinh thành, bầu trời u ám, lá vàng bị gió bấc thổi mạnh lìa cành rơi lả tả. Trong điện Kính Thiên, Lê Thánh Tông đang thiết triều. Bá quan văn võ quỳ hành lễ:

-Hoàng thượng vạn vạn tuế.

-Miễn lễ các ái khanh bình thân

-Tạ Hoàng thượng.

-Thái sư Lân quận công Đinh Liệt đâu?:

-Bẩm Hoàng thượng có thần.                                                  

-Vừa rồi trẫm cử khanh làm Khâm sai đại thần đi kinh lý các xứ miền Đông, tình hình quan lại chấp pháp, nông nghiệp, sản xuất hàng hóa thủ công nghiêp buôn bán có phát triển không, đời sống bách tính như thế nào sau khi thực thi những chính sách hành chính, kinh tế của trẫm?

  Đinh Liệt nói:

-Dạ bẩm Hoàng thượng, qua 10 năm thi hành chính sách hành chính và kinh tế của Hoàng thượng, chính sách quân điền có từ thời Thái Tổ Cao Hoàng đến nay càng được thực hiện triệt để nên nhà nông dân nào cũng có ruộng đất, các ruộng đất bỏ hoang đã được khai phá, cho nên nông thôn khắp nước năm nào cũng được mùa, nông dân no ấm. Các chợ cũ và mới hoạt động cho dân cư trao đổi sản phẩm. Đời sống làng xóm vui tươi thanh bình, không có trộm cướp, nhiều nơi đêm ngủ không cần đóng cửa. Bách tính no ấm nên sinh sản nhiều, dân số tăng nhanh. Quan lại các cấp chưa có dấu hiệu tham nhũng, áp bức lê dân. Việc chia nhỏ đất nước thành 13 đạo thừa tuyên làm vừa tầm quản lý của quan lại các cấp cho nên  nền hành chính chặt chẽ, pháp luật được thực thi nghiêm minh, nhất là việc hoàng thượng cho ban hành bộ luật mới '‘Quốc Triều hình luật” mang lại sự thuận tiện, chặt chẽ, chính xác cho việc thi hành luật.

   Đinh Liệt vừa dứt lời thì  có quan nội thị vào báo:

-Dạ bẩm hoàng thượng, có người của tướng trấn thủ Hóa Châu Phạm Văn Hiến đem thư về cấp báo.

  -Cho vào ngay.

  -Dạ.

Quan nội thị đi ra thì một bộ tướng của Trấn thủ  Phạm Văn Hiến bước vào:

-Dạ bẩm Hoàng thượng. Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.

-Miễn lễ có gì nói ngay đi.

-Tạ Hoàng thượng, dạ có thư của ngài Phạm Văn Hiến khẩn cấp gửi Hoàng thượng ạ.

Viên Đô tướng bộ dạng rất mệt mỏi đứng dậy trao thư cho quan nội thị. Nội thị cầm thư đưa cho Lê Thánh Tông. Lê Thánh Tông bóc thư ra đọc. Thư viết: “Dạ bẩm Hoàng thượng, vua Chiêm Thành là Trà Toàn vô cớ đem 10 vạn quân tiến đánh Hóa Châu và đang vây đánh thành. Quân ta ra sức chống cự nhưng tình hình rất nguy cấp. Mong Hoàng thượng cho quân cứu viện, nếu không thành Hóa Châu nguy mất. Nay kính thư. Tướng trấn thủ Hóa Châu Phạm Văn Hiến kính thư.”.

Lê Thánh Tông đưa thư và bảo quan nội thị:

-Khanh đọc cho cả triều đình nghe đi.

-Thần tuân chỉ.

  Quan nội thị đọc xong thư, cả triều đình im lặng. Một đại thần lên tiếng:

-Thần xin tấu.

-Tấu đi.

-Dạ bẩm Hoàng thượng, mấy năm năm nay Chiêm Thành vô cớ luôn tấn công quấy nhiễu Đại Việt ta. Thời Lê Nhân Tông thì Bí Cai, nay lại đến Trà Toàn.

Có tiếng một đại thần khác:

-Bẩm Hoàng thượng, nghe nói Trà Toàn là một đứa hung bạo, dối thần ngược dân, rất ngạo mạn kiêu căng, không sửa lễ tiến cống, còn lăng nhục sứ thần của triều đình và vô cớ tiến đánh Hóa Châu của ta.

Lại một đại thần khác:

-Bẩm Hoàng thượng, nghe nói trước khi tiến đánh Đại Việt nó đã cầu viện nhà Minh. Có nhà Minh chống lưng nên Trà Toàn to gan như vậy.

  Lê Thánh Tông gọi:

-Người đâu.

-Dạ, bẩm Hoàng thượng.

-Do tướng Hóa Châu chạy ngựa ra đây hơn 1.700 dặm, người ngựa đã mệt mỏi, hãy đem về dịch quán lo cơm nước và nghỉ ngơi cho Tướng quân.

-Dạ, tuân lệnh Hoàng thượng.

Đô tướng Hóa Châu cúi đầu chắp tay:

-Dạ, đa tạ Hoàng thượng, tiểu tướng xin cáo lui.

 Lê Thánh Tông gọi:

-Đại thần Nguyễn Đình Mỹ đâu.

-Dạ bẩm Hoàng thượng có thần.

-Ái khanh và Quách Đình đi sứ nhà Minh, đem việc Chiêm Thành vô cớ đánh Hóa Châu của Đại Việt cho nhà Minh biết kẻo sau này họ lại bảo vô cớ tấn công Chiêm Thành, nước lớn bắt nạt nước nhỏ.

-Chúng thần tuân chỉ.

Lê Thánh Tông lại gọi:

-Thượng thư Bộ lễ đâu.

-Dạ bẩm Hoàng thượng có thần.

-Khanh thu xếp một đoàn sứ bộ và lễ vật đi cùng với Quách Đình Báo và Nguyễn Đình Mỹ, ngày mai phải xuất hành.

-Thần tuân chỉ.

-Binh bộ Thượng thư đâu.

-Dạ bẩm Hoàng thượng có thần.

-Nay ta đã chia dân binh ở các Thừa tuyên làm nhiều hạng nên điều động nhập ngũ rất nhanh, ái khanh gửi hỏa tốc công văn cho phủ Thiên Trường, Thanh Hóa và Nghệ An huy động thêm 10 vạn quân và lương thực để ta trực tiếp chinh phạt Chiêm Thành. Đây là thư của ta gửi Tuyên sứ ba phủ trên. Hẹn cho khanh ngày 6 tháng 11 phải huy động xong, nay đã là ngày 16 tháng 10 rồi.

-Thần tuân chỉ.

-Ai còn tấu.

Im lặng.

-Không còn tấu, bãi triều.

Trong buổi thiết triều ngày 6 tháng 11 âm lịch 1470 trước khi ra trận, Lê Thánh Tông nói:

-Đây là chiếu đánh Chiêm Thành công bố cho toàn thể bách tính Đại Việt biết tội ác của Trà Toàn, cho dân chúng biết công khai và rõ ràng về lý do xuất quân. Thái sư Tân Quận công Đinh Liệt.

-Bẩm hoàng thượng có thần.

-Thái bảo Kỳ Quận Công Lê Niệm.

-Bẩm hoàng thượng có thần.

-Nay lệnh cho hai khanh dẫn 10 vạn bộ binh xuất phát trước vào đánh Trà Toàn giải vây gấp cho Hóa Châu.

-Chúng thần tuân chỉ.

-Thái tử Lê Tranh.

-Dạ có Tranh nhi.

-Khi ta thân chinh, con ở nhà cùng các đại thần coi sóc triều chính.

-Hài nhi tuân chỉ.

-10 ngày sau, ta sẽ đem 16 vạn quân theo đường thủy đổ bộ vào Chiêm Thành. Đinh Liệt và Lê Niệm giải vây xong Hóa Châu thì nhớ truy kích quân Chiêm cùng ta đánh đến kinh đô Đồ Bàn.

-Lê Niệm và Đinh Liệt cùng đáp:

-Chúng thần tuân chỉ.

Mùa đông gió mùa đông bắc thổi mạnh, biển đen ngòm tung từng đợt sóng. Sóng vỗ vào 1.000 chiến thuyền của thủy quân Đại Việt chở 16 vạn thủy binh do Lê Thánh Tông chì huy đang đè sóng tiến vào Nam viễn chinh đánh Chiêm Thành. Gió thổi những cánh buồm căng ra đưa đoàn chiến thuyền lướt sóng như bay. Trên từng thuyền chật cứng thủy binh quân phục màu nâu, gươm giáo sáng lòa. 1.000 chiến thuyền của đại quân hành quân theo hàng ba, cờ vàng rợp trời, mái chèo phụ sức đẩy với cánh buồm rào rào khua nước làm chấn động biển gần. Làng mạc của Đại Việt ven bờ biển tạo màu  xanh vô tận từ Bắc xuống Nam, uốn lượn quanh co như bức tranh thủy mạc. Thuyền của Lê Thánh Tông màu vàng, trên có vọng lâu che lọng vàng, bên trên lọng vàng có lá cờ lớn màu vàng viết chữ soái màu đỏ.

  Khoảng 10 ngày sau, chiến thuyền của Đại Việt đã đến bờ biển Chiêm Thành, vùng mà sau này gọi là Quảng Ngãi, càng vào biển phía nam sóng càng lồng lên dữ dội, mạnh mẽ gầm gào. Lê Thánh Tông nói với thám mã:                                

-Ngươi chạy ngựa ra Hóa Châu xem tình hình cứu viện như thế nào và nhắc lại nếu quân Chiêm Thành bại trận rút lui thì truy kích phối hợp cùng thủy quân đã vào, đánh vào tận Đồ Bàn.

-Dạ, mạt tướng tuân lệnh hoàng thượng.

Lê Thánh Tông gọi tướng Nguyễn Xí.

-Dạ bẩm hoàng thượng có thần:

-Tướng quân dẫn 8 vạn quân lên bộ tìm chỗ hiểm yếu mai phục chờ diệt quân Chiêm Thành thua trận chạy về mà tiêu diệt, lập công.

-Dạ thần tuân lệnh.

-Còn ta sẽ đem chiến thuyền vào Thi Nại đổ bộ lên đánh Đồ Bàn nhân lúc quân Chiêm không còn quân để phòng thủ vì Trà Toàn đã đem quân gần hết ra Hóa Châu.

-Hoàng thượng anh minh.

  Lại nói Trà Toàn cậy quân đông đang công phá thành Hóa Châu rất quyết liệt vì Hóa Châu bị vây lâu ngày đang rất nguy cấp. Chợt có thám mã về báo cho Trà Toàn:

-Dạ bẩm Hoàng thượng, 10 vạn quân Đại Việt đang từ Quảng Trị tiến vào rất nhanh, sắp đến thành Hóa Châu rồi ạ.

Trà Toại là em Trà Toàn nói:

-Bẩm Hoàng thượng, phải rút nhanh, nếu không trong thành đánh ra ngoài thành đánh vào thì quân ta nguy to.

  Trà Toàn ngạo mạn nói:

-Quân Đại Việt 10 vạn nhưng hành quân đã hơn 1.700 dặm mỏi mệt, quân ta cũng 10 vạn nhàn rỗi, sung sức thì sợ gì, còn quân trong thành bị vậy 1 tháng đói khát đã kiệt sức, có gì mà phải sợ.

  Rồi Trà Toàn hạ lệnh:

-Đánh thành nhanh, phải chiếm được thành trước khi quân Đại Việt tới.

-Tuân lệnh hoàng thượng.

Quân Trà Toàn đông như kiến cỏ lại xông lên, dùng thang bắc trèo lên thành, dùng voi húc vào cổng thành. Quân Việt trên thành bắn tên ném đá xuống nhưng rất thưa thớt vì đá và đạn đã gần hết, dầu lửa đốt đổ xuống cũng đã kiệt quệ. Khả năng chỉ một ngày nữa là thành thất thủ. Đang khi đó thám mã báo cho Trà Toàn:

-Bẩm Hoàng thượng, 10 vạn quân Đại Việt đã đến ngoài thành.

  Trà Toàn hốt hoảng:

-Hả, sao nhanh vậy?

Lại có thám mã về báo:

-Dạ, bẩm Hoàng thượng, 16 vạn quân Đại Việt đi đường biển do chính vua Lê Thánh Tông chỉ huy đã vào cửa biến Tấn Áp và Cựu Tọa, gần cửa biển Sa kỳ, đang tiến đánh kinh đô Đồ Bàn ạ.

  Trà Toàn thực sự hoảng loạn:

-Rút chạy nhanh về cứu kinh đô Đồ Bàn.

10 vạn quân Chiêm Thành ngừng tấn công thành Hóa Châu, bộ binh, kỵ binh, tượng binh chạy cuống cuồng về hướng Nam. Trà Toàn cưỡi trên lưng con voi to như trái núi đi giữa, trên đầu voi có quản tượng, trên đầu Trà Toàn có che lọng trắng, trên lọng có lá cờ cũng màu trắng ghi chữ soái màu đen bằng chữ Chiêm Thành.

  Phạm Văn Hiến trấn thủ Hóa Châu đang đứng trên mặt thành đốc chiến, chợt thấy quân Chiêm Thành đột nhiên tháo chạy, cũng thấy bụi từ xa tung lên mù mịt, tiếng người ngựa chuyển rung từ phía bắc vọng tới. Một lát thì quân sĩ và Phạm Văn Hiến trông thấy cờ quạt của quân Đại Việt rợp trời. Phạm Văn Hiến và quân sĩ vui mừng reo lên:

-Quân ta đến rồi.

-Quân cứu viện đến rồi.

-Mở cổng thành đón đại quân nhanh.

-Dạ, tuân lệnh.

  Cửa thành mở, Phạm Văn Hiến cùng quan viên của trấn ra đón đại quân, đón Đinh Liệt và Lê Niệm. Đinh Liệt hạ lệnh cho toàn quân:

-Dừng lại ăn lương khô, uống nước, cho ngựa ăn uống và hành quân gấp truy kích quân giặc đến Đồ Bàn theo lệnh của Hoàng Thượng.

Ba quân dạ ran:

-Tuân lệnh chủ tướng.

Phan Văn Hiến chắp tay:

-Kính chào hai lão tướng quân, vất vả cho hai lão tướng quá.

Đinh Liệt nói:

-Xin chào quan Tổng trấn, khen cho quân Hóa Châu dũng cảm kiên cường, cố thủ được gần 10 ngày trời trước sự tấn công của 10 vạn quân giặc.

Lê Niệm chắp tay chào và nói:

-Đó cũng nhờ vào tài chỉ huy của Tổng Trấn.

-Không dám, không dám. Đó cũng nhờ hai tướng quân cứu viện kịp thời, hôm nay tên đạn, đá ném, dầu cháy đã hết, nếu hôm nay hai tướng quân không đến, thành Hóa Châu chắc không còn. Thay mặt bách tính Hóa Châu, cảm tạ hai tướng quân và ba quân tướng sĩ.

-Mời hai tướng quân vào thành uống nước nghỉ ngơi.

-Đa tạ quan Tổng Trấn, chúng tôi  ăn chút lương khô vào bụng rồi còn dẫn ba quân truy kích giặc đến Đồ Bàn theo lệnh của Hoàng thượng. Hoàng thượng dẫn 16 vạn thủy binh đã vào đến Sa Kỳ và đang tiến vào Thi Nại đánh kinh đô Đồ Bàn.

  Lính cận vệ mở bánh chưng và giò bò ra dâng lên cho hai tướng. Đinh Liệt nói:

-Cho ngựa của chúng ta ăn uống đi.

-Dạ, tuân lệnh.

Phạm Văn Hiến bảo một tùy tướng:

-Chạy nhanh vào thanh lấy một vò rượu ngon ra đây nhanh lên.

-Dạ.

Đinh Liệt và Lê Niệm ăn xong, ba quân vừa ăn xong thì bình rượu cũng vừa được đem ra. Phạm Văn Hiến rót đầy ba bát và nói:

-Chúc Hoàng thượng chiến thắng, chúc hai tướng quân chiến thắng.

-Đa tạ, đa tạ Tổng trấn.

Ba người bê ba bát rượu uống cạn. Đinh Liệt, Lê Niệm đặt bát xuống và nói:

-Đa tạ, đa tạ, xin cáo biệt.

-Cáo biệt hai tướng quân.

Đinh Liệt và Lê Niệm lên ngựa cùng ba quân tiếp tục hành quân thần tốc vào Đồ Bàn, truy kích quân Trà Toàn đang tháo chạy.

   Lại nói quân Chiêm Thành chạy gần đến cửa biển Tấn Áp và Cửu Tọa gặp con đường nhỏ, hai bên cây cối đường núi rậm rạp. 10 vạn quân Chiêm Thành đang trên đà chạy không thể dừng lại vì phía sau 10 vạn quân Việt đang truy kích tới. Thốt nhiên có một phát tên lửa bắn lên trời. Hai bên rừng cây, tên đạn dội vào quân Chiêm như mưa. Hàng vạn quân Chiêm ngã xuống chồng chất, máu tuôn như suối. Ngay tức khắc ba vạn quân Trà Toàn bị tiêu diệt. Tiếng người chạy, tiếng ngựa phi, tiếng voi gầm hoảng loạn rung chuyển một vùng trời đất. 8 vạn quân Đại Việt tràn xuống chém giết. Quân Trà Toàn còn 7 vạn nhưng mất kỷ luật chiến đấu trở thành một cuộc tháo chạy hỗn loạn, chạy đến núi Mạc Nô lại bị quân của Lê Hy Cát đón đánh, thây đổ chết hàng ba dặm đường, máu phun đỏ đường đất, quân Chiêm đạp lên xác đồng đội mà chạy, phía sau 10 vạn quân Việt vẫn đang truy đuổi ráo riết. Trà Toàn liều chết cố chạy về Đồ Bàn cố thủ. Mãi tới gần tối, Trà Toàn và quân Chiêm mới trông thấy thành Đồ Bàn nhưng khi lại gần thì trên thành những lá cờ Đại việt đã cắm từ khi nào tung bay phấp phới. Thì ra khi vào Thi Nại, tướng Nguyễn Đức Trung vâng lệnh Lê Thánh Tông đem 5 vạn quân đổ bộ lên đánh chiếm Đồ Bàn trước khi quân Chiêm về. Kinh Đô Chiêm Thành thất thủ nhanh chóng vì không có quân bảo vệ. Tất cả quân đội đã theo Trà Toàn ra Hóa Châu chinh chiến. Trà Toàn không có thành trì, đành cố thủ tạm bợ bên ngoài. Đạo quân Đại Việt từ Bắc đánh vào, đạo quân trong thành đánh ra. 5 vạn quân Chiêm Thành còn lại phải đầu hàng, Trà Toàn và toàn bộ triều đình Chiêm bị bắt sống.

  Vua Lê Thánh Tông đi sau với 500 chiến thuyền và 5 vạn quân tiến vào Thi Nại. Vua tới nơi thì có thám mã về báo:

-Dạ, bẩm Hoàng thượng, quân ta đã hạ được kinh đô Đồ Bàn, vua Chiêm Thành là Trà Toàn và toàn bộ triều đình đã bị bắt sống.

  Ngay tối hôm đó, Đinh Liệt và Lê Niệm đem quân đến đón Lê Thánh Tông lên Đồ Bàn. Tháng 3 năm 1471 âm lịch, vua Lê Thánh Tông kéo quân về nước, đem theo Trà Toàn nhưng Trà Toàn về đến Nghệ An bị bệnh mà chết. Sau chiến tranh, Lê Thánh Tông lập thêm Thừa tuyên Quảng Nam là vệ Thăng Hoa là đất của Chiêm Thành. Em Trà Toàn là Trà Thuận chạy trốn vào Bình Thuận lập triều đình mới và sang cầu cứu nhà Minh xin phong vương. Tháng 11 âm lịch, Lê Thánh Tông sai Lê Niệm đem 5 vạn quân vào đánh Trà Thuận. Trà Thuận bị bắt giải về Đông kinh Đại Việt. Vua Minh Hiến Tông sai sứ sang bảo Lê Thánh Tông trả lại Thừa Tuyên Quảng Nam cho Chiêm Thành nhưng vua Lê Thánh Tông không nghe. Sau cuộc chinh phạt của Hồng Đức, lãnh thổ Chiêm Thành còn lại từ Phú Yên (phía Bắc) đến Ninh Thuận (phía Nam) nhưng suy yếu. Từ đó không quấy phá Đại Việt nữa.

Tháng 8 mùa thu năm 1479, trong cung Viên Hà, vua Lê Thánh Tông đang ngồi uống trà sau bữa ăn sáng thì có quan nội thị vào báo:

-Dạ bẩm Hoàng thượng, có thám mã từ biên cương Tây về bẩm báo việc khẩn cấp.

-Cho vào ngay.

-Dạ.

Thám mã vào quỳ hành lễ:

-Hoàng thượng vạn vạn tuế.

-Miễn lễ, đứng dậy có gì nói đi.

-Dạ bẩm hoàng thượng, tù trưởng Bồ Man là Cầm Công cấu kết với vua Lão Qua (Lào) động binh đang đánh chiếm châu Quỳ Hợp của ta ạ.

-Ta biết rồi, ngươi đi ăn uống và nghỉ ngơi đi.

-Dạ, đa tạ Hoàng thượng.

  Người thám mã cúi chào đi ra. Lê Thánh Tông rót thêm một ly trà nữa, vừa uống, vừa suy nghĩ: Các đời vua Lão Qua sao không biết suy nghĩ cho bách tính, rất nhiều lần vô cớ quậy phá ở biên cương phía tây Đại Việt. Khi Lê Thái Tổ đánh giặc Minh, vua Lão Qua đã đưa 9 vạn quân, 100 thớt voi sang phối hợp với giặc Minh đánh úp quân Lam Sơn. Năm 1441 lại giúp và xui dục Thổ ty châu Mường Muỗi (Thuận Châu, Sơn La) là Thượng Nghiễm phản loạn thời Lê Thái Tông, đến năm 1467 niên hiệu Quang Thuận năm thứ 7 lại cấu kết với Phụ đạo Thuận Châu là Ngưu Hồng, Cầm Đồng chiếm động Cự Lộng, làm loạn vùng Tây Bắc. Ta đã sai Tổng binh Khuất Đá làm Đô tướng cùng Tổng binh Nguyễn Đồng và Tán lý quân vụ Nghiêm Nhân Thọ phối hợp với quân đồn trú trấn Mường Muỗi đánh và bắt được Cầm Đồng đem về Đông Kinh. Tháng 3 âm Lịch năm 1467, quân Ai Lao lại xâm phạm biên giới bị thổ binh phủ An Tây (Sơn La) là Hiệu Úy Hoàng Liễu đánh bại. Tháng 8 năm 1478 và tháng 8 năm 1479 quân Lão Qua lại giúp thủ lĩnh Bồn Man là Cầm Cộng quấy nhiễu Quỳ Hợp Đại Việt...

  Sớm hôm sau, Lê Thánh Tông thiết triều ở điện Kính Thiên, khi bá quan văn võ hành lễ xong, Lê Thánh Tông nói:

-Nay tù trưởng Bồn Man là Cầm Công cấu kết với quân Lão Qua gây biến loạn ở châu Quỳ Hợp. Nay ta xuống chiếu chinh phạt Lão Qua. Quan nội thị tuyên chiếu.

-Thần tuân chỉ.

Quan nội thị đọc: “Nước Lão Qua kia, giáp với cõi tây. Đương khi Thánh Tổ dẹp giặc Ngô cuồng bạo đã nhằm sơ hở đánh úp quân ta, đến lúc thần vũ giết tên Nghiễm hung tàn lại giúp kẻ gian dấy binh đánh chiếm Thuận Châu, kiêu ngạo muôn bề, lại sang cướp châu Lang Chánh, sang quấy phủ An Tây (Sơn La), nhà nó còn độc hơn loài ong bọ… sứ của nó sang thông thì ta hậu đãi cho về, quan của ta giao thiệp nó lại bắt bỏ ngục. Nay trẫm tự cầm cờ mao trắng điều khiển, tự cầm lưỡi búa vàng chỉ huy đánh dẹp đất man, truy bắt bọn giặc mà đời trước không trói bắt được, kế tục ông cha, làm xong công việc mà người xưa chưa thể làm xong. Để cơ đồ lâu dài đến muôn đời được mở mang, để sĩ nhục to lớn của trăm vua được rửa sạch.”.

  Quan nội thị đọc xong, Lê Thánh Tông gọi:

-Phò mã Đô úy Đông quân đô đốc phủ sự Đoan Vũ hầu Trịnh Công Lộ.

- Bẩm hoàng thượng có thần.

-Đô đốc Đồng tri Lê Vĩnh.

-Dạ bẩm Hoàng thượng có thần.

-Tổng binh Nguyễn Lộng.

-Dạ, bẩm Hoàng thượng có thần.

-Đô đốc Trịnh Công Lộ mang ấn chinh di tướng quân, Đô đốc Lê Vĩnh là Chinh di phó tướng cùng Tổng binh Nguyễn Lộng chỉ huy cánh quân chính tinh nhuệ phía Bắc của 5 vệ Minh Nghị, Quảng Vũ, Ngọc Kiềm, Anh Đức và Phấn Uy thuộc Đông quân đô đốc phủ, quân số gồm 2 vạn người theo đường phủ An Tây (Lai Châu) đánh thẳng vào kinh đô LuôngPra bang.

-Chúng thần tuân chỉ.

     Lê Thánh Tông gọi tiếp:

-Du kỵ phó tướng quân Lê Lộng.

-Bẩm Hoàng thượng có thần.

-Thổ binh tham tướng Đinh Thế Nghiêu.

-Dạ bẩm Hoàng thượng có thần.

-Hai tướng đem binh theo đường Mường Muỗi (Thuận Châu) nhưng vẫn dưới sự chỉ huy của Trịnh Công Lộ có nhiệm vụ yểm trợ cho cánh quân này đãnh Lão Qua, đồng thời chặn đánh tàn quân của địch.

-Chúng thần tuân chỉ.

-Thảo tặc phó tướng quân Lê Nhân Hiếu.

-Dạ bẩm Hoàng thượng, có thần.

-Tướng quân chỉ huy cánh quân phía Bắc theo đường phủ Thanh Đô (Thọ Xuân, Thanh Hóa) đánh vào Lão Qua tại Hủa Phăn, vu hồi đánh vào Bồn Man.

-Dạ, bẩm Hoàng thượng, thần tuân chỉ.

-Chinh Tây tướng quân Lê Thọ Vực.

-Dạ bẩm Hoàng thượng có thần.

-Tướng quân dẫn cánh quân trung tâm đi theo đường chính phủ Trà Lân (Thừa tuyên Nghệ An), chỉ huy các doanh du kích trực tiếp tấn công Bôn Man (Xiêng Khoảng) rồi từ đó đánh sang Lão Qua.

-Dạ bẩm Hoàng thượng thần tuân chỉ.

-Trấn lỗ tướng quân Lê Đình Ngạn.

-Bẩm Hoàng thượng có thần.

-Tướng quân chỉ huy cánh quân phía nam theo đường phủ Ngọc Ma (Con Cuông, Thanh Chương tây nam Nghệ An, Hương Sơn Hà Tĩnh) ngược lên theo hướng tây bắc đánh Bồn Man rồi đánh Lão Qua.

-Thần tuân chỉ.

-Ta sẽ dẫn theo 5 vạn quân đi sau yểm trợ cho các cánh quân. Chuẩn bị sáng ngày kia các đạo quân Tây chinh xuất phát.

-Chúng thần tuân chỉ.

-Ai có tấu?

Im lặng.

-Không có tấu, bãi triều.

Tháng 11 năm 1479, các đạo quân chinh Tây từ Đông Kinh xuất phát. Theo hướng hành quân tấn công mà Lê Thánh Tông đã vạch ra cho các tướng, quân Đại Việt tấn công Lão Qua và Bồn Man trên ba mặt trận: mặt trận phía Bắc, mặt trận Trung và mặt trận Nam Lão Qua. Trên ba mặt trận, do ưu thế về quân số và kỹ thuật tác chiến, quân Đại Việt đã chiến thắng, tiêu diệt và bắt sống hàng nghìn quân địch, các tướng Lão Qua bại trận tháo chạy hoặc bị bắt. Đạo quân phía Bắc qua Tây An (Lai Châu) nhanh chóng đánh bại quân Lão Qua và tiến vào thủ đô LuôngPra bang. Vua Lão Qua là  Xaiyna Chakhaphát đem gia quyến tháo chạy khỏi thủ đô. Đô đốc Trịnh Công Lộ đón Lê Thánh Tông vào LuôngPrabang. Quân Đại Việt truy kích quân Lão Qua tới sông Kim Sa, giáp Miến Điện. Quân Đại Việt toàn thắng. Đạo quân Phía Bắc rút quân trở về. Tháng 12 âm lịch năm 1479 vua Lê Thánh Tông về tới Đông Kinh.

  Ở phía miền Trung Lão Qua, phản nghịch Cầm Cộng thoát chết lại nổi loạn. Lê Thánh Tông lại đem 30 vạn quân đi dẹp, sai Kỳ Quận công Lê Niệm đi tiên phong. Thành trì của Cầm Cộng thất thủ, Cầm Cộng bỏ chạy và ốm chết. Nhà vua cho Cầm Đông, họ hàng nhà Cầm Cộng lên làm Tuyên úy Đại sứ, đặt lại quan cai trị, từ đây Bồn Man hoàn toàn thần phục Đại Việt. Tháng 1 âm lịch năm 1480 xa giá vua về tới Đông Kinh, hoàn thành công cuộc Tây chinh.

     Tháng 11 năm 1496 niên hiệu Hồng Đức thứ 27, sau bữa    ăn sáng Lê Thánh Tông ngồi trong điện Kim Loan uống trà. Đã nhiều bữa ông ăn không ngon. Nhà vua gọi:

-Bay đâu.

--Dạ, Hoàng thượng.

-Hôm nay cháo sâm nấu thế nào mà ta ăn không được?

-Dạ, tội này là của hạ thần không bảo ban dạy bảo bọn nhà bếp cẩn thận ạ.

-Đứng dậy đi, có lẽ ta mệt mỏi, ăn không được. Đem trà lên đây.

-Dạ.

Quan nội thị gọi:

-Đem trà nóng lên đây.

Có trà, quan nội thị rót ra chén:

-Kính mời hoàng thượng.

Lê Thánh Tông bê chén uống xong và nói:

-Ta ốm thật rồi, trà này mọi sáng ta uống ngon, nay cũng không ngon nữa.

Quan nội thị nói;

-Dạ, thần gọi thái y đến thăm bệnh cho Hoàng thượng.

-Bay đâu.

-Dạ.

-Đi gọi thái y đến đây.

-Dạ.

Canh giờ sau quan thái y bước vào quỳ hành lễ:

-Hoàng thượng vạn vạn tuế.

-Miễn lễ

-Đa tạ Hoàng thượng.

Quan nội thị nói:

-Để thần dìu Hoàng thượng lại giường để thái y khám bệnh.

Lê Thánh Tông nói:

-Không cần đâu, ta ngồi đây thái y hãy khám cho trẫm đi.

-Thần tuân lệnh.

Thái y bắt mạch sau đó nói:

-Mạch của Hoàng thượng yếu do lao lực quá sức mệt mỏi vì việc nước quá nhiều. Thần kê thang thuốc bồi dưỡng sức khỏe nhưng Hoàng thượng phải nghỉ ngơi nhiều mới có hiệu quả.

Lê Thánh Tông nói:

-Đa tạ, nhưng việc nước quá nhiều ta nghỉ ngơi thế nào được. Với ta nghỉ ngơi nhiều lại ốm thêm.

Sau đó Lê Thánh Tông uống thuốc nhưng vẫn lên thiết triều xét đoán chính sự. Đến ngày 9 tháng 1 âm lịch năm 1497 bệnh nhà vua bắt đầu nặng khiến ông không ăn uống được nữa. Nhà vua ngồi trên ghế ngai và nói với quan nội chính:

-Khanh đi báo cho các chính phi và các hoàng tử, công chúa đến đây.

-Dạ, tuân lệnh Hoàng thượng.

Canh giờ sau gia đình Lê Thánh Tông từ tất cả các cung lần lượt đến, tất cả quỳ xuống khóc lóc:

-Xin Hoàng thượng khỏe mạnh.

-Xin phụ hoàng khỏe mạnh.

-Xin phụ hoàng đứng bỏ chúng con. Hu!Hu!Hu!...

-Xin Hoàng thượng đừng bỏ thần thiếp. Hu!Hu!Hu!...