I.
Đông kinh mùa đông tháng 12 năm 1433 chìm trong giá rét. Trong Hoàng thành, phủ của Quận vương Lê Tư Tề cũng lạnh giá hơn. Một nồi than hồng rừng rực vỏ bằng đồng đặt giữa phòng nhưng cũng không đủ ấm, nỗi buồn của chủ nhân cung điện này càng làm cho không gian của phủ lạnh hơn. Thế là đã không đầy một tháng, Lê Tư Tề đã sa cơ lỡ vận, những tai họa không may liên tục đến với Quận vương. Đầu tiên là cái chết của Lê Thái Tổ. Sự ra đi của Lê Thái Tổ là một tổn thất to lớn của triều đình nhà Hậu Lê, cho đất nước Đại Việt và cho cả chính những người con của ông, mặc dù trước khi ra đi ông đã giáng cho Lê Tư Tề những đòn chí mạng, là xuống chiếu phế truất ông khỏi chức vụ Quốc Vương, không cho ông kế vị ngai vàng dù ông là con trai trưởng, dù ông đã trưởng thành trong chiến đấu chống ngoại xâm, tiễu trừ phản loạn trong nước, trong điều hành chính sự mỗi khi vắng Lê Thái Tổ. Giờ đây đứa em cùng cha khác mẹ Lê Nguyên Long đã ngồi trên ngài vàng khi mới 11 tuổi chưa trải qua lặn lộn nơi chiến trường 10 năm sinh tử như ông. Lại còn tháng 11 năm 1427 ông cùng Lưu Nhân Chú phải làm con tin cho quân Lam Sơn, vào sống trong nanh vuốt của quân thù trong thành Đông Quan, sống chết chỉ trong gang tấc. Năm 1428 Lê Lợi lên ngôi phong Lê Tư Tề chức Hữu Tướng quốc, tước Quốc vương. Năm 1431 Lê Tư Tề đã hai lần cầm quân đi dẹp loạn Đèo Cát Hãn ở châu Phục Lễ (Lai Châu), cả hai lần đều chiến thắng trở về. Ông biết rằng khi ngôi thái tử kế vị còn chưa định thì cuộc đấu tranh giữa các đại thần còn quyết liệt. Những người phò tá ông như Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo bị vu cáo rồi tự sát mà chết. Nguyễn Chích bị đuổi đi, Khi Lê Thái Tổ ốm nặng thì bọn Lê Sát, Lê Ngân, Lê Khôi phò tá Lê Nguyên Long chắc là đã tung tin Lê Tư Tề mắc chứng bệnh điên cuồng, giết bừa cung nữ, nói năng càn rỡ. Lê Thái Tổ ốm nặng tin theo và khi triệu Lê Khôi vào để hỏi ý kiến lần cuối cùng thì Lê Khôi vẫn bảo vệ Lê Nguyên Long. Lê Thái Tổ nghe theo và đi đến quyết định cuối cùng, đã viết một tờ sắc lời lẽ rất mạnh, như là lời mắng trách nặng nề, giáng chức Quốc vương của ông, truất quyền kế vị, chỉ còn cái tước Quận vương hữu danh vô thực. Lê Tư Tề lo nhất là từ nay trở đi ông không được yên thân. Kinh nghiệm các triều đại cho hay khi anh mà lên kế vị thì bao dung với em, nhưng em mà kế vị thì bao giờ cũng hại anh vì lo sợ bị cướp ngôi. Tâm tư đó có khi là do vua em nghĩ ra nhưng cũng có khi bị gian thần và nội cung chi phối. Lê Tư Tề không phải đợi lâu, một sáng sau bữa cơm ông đang ngồi uống trà thì có gia nhân vào báo:
-Dạ bẩm Quận vương, có sứ giả của triều đình tới.
Lê Tư Tề vội mắc triều phục, bước ra sân. Quan nội thị bước vào nói:
-Quận Vương Lê Tư Tề nghe chỉ.
Lê Tư Tề vội quỳ xuống, quan nội thị đọc:
-“Phụng thiên thừa vận, Hoàng đế chiếu viết: Nay có tin rằng Quận vương bất mãn, nói nhiều điều quái gở, tỏ ra không thuận. Nay lệnh cho các quan văn võ, đại thần và các bá quan không được tới dinh, nơi ở của Quận vương. Quận vương nếu không có người gọi thì không được vào triều. Nếu trăm quan ai tự đến nhà Quận vương thì sẽ trị tội nặng. Khâm thử. Niên hiệu Thiệu Bình năm thứ nhất, 1433.”
Lê Tư Tề không nói, giơ hai tay nhận chiếu chỉ. Khi đứng dậy ông hỏi:
-Tin tôi nói không thuận là do ai nói vậy ngài?
-Tôi nghe nói là mấy nữ tỳ giúp việc ở nhà Quận vương đến tâu với Hoàng thượng.
-Lại bọn gian thần bịa đặt như ngày xưa chúng nói với Lê Thái Tổ rằng ta giết bậy tì thiếp, ăn nói điên khùng.
-Tại hạ không rõ lắm, cáo biệt Quận vương. Quận vương bảo trọng.
Lê Tư Tề đi vào ngồi xuống bàn uống nước suy nghĩ: "Thế là từ nay trở đi thằng em đã giam lỏng ta rồi, không cho vào triều đình, không cho các quan lại bạn bè đến giao tiếp, có khác gì người bị tù tội." Một ý nghĩ chợt lóe lên trong đầu Lê Tư Tề: “Hay là ta khởi binh chống lại triều đình để thoát khỏi cảnh bức bách này? không được, làm như vậy có khác gì làm phản, vả lại gây chiến tranh chỉ làm cho bách tính lầm than chết chóc, khổ cực, đất nước vừa mới hòa bình được vài năm. Những năm trước ta còn nắm quyền Quốc vương, còn thế mạnh thì đã không tìm cách giết chết Lê Nguyên Long, khi đó giết nó thật là dễ dàng, nhưng ta đã hiền lành thương yêu nó vì nó là đứa em sớm mồ côi mẹ lúc mới 3 tuổi, ta đã quên bài học lịch sử thằng anh làm vua thì thằng em sung sướng, nhưng thằng em làm vua thì thằng anh phải chết. Lịch sử nước Tàu đày rẫy những chuyện bi thương, lịch sử nước Việt thì có nhà Tiền Lê, Lê Long Đỉnh đã giết vua anh để cướp ngôi. Nay đến lượt ông phải chứng kiến cảnh ngang trái này trong gia đình mình. Để khuây khỏa, Lê Từ Tề nghiên cứu kinh Phật ngày tháng qua đi.
5 năm trôi qua, tháng 5 năm 1438, Lê Tư Tề đang ngồi trong cung uống nước sau bữa ăn sáng thì có gia nhân vào báo:
-Bẩm Quận vương, có quan nội thị đến tuyên chiếu của Hoàng thượng.
-Cho vào.
-Dạ.
Quan nội thị bước vào tay cầm chiếu chỉ, miệng nói:
-Lê Tư Tề tiếp chỉ.
Lê Tư Tề quỳ xuống, quan nội thị đọc: “Phụng thiên thừa vận, Hoàng đế chiếu viết: Nay vì an nguy của xã tắc, của triều đình, giáng Quận vương Lê Tư Tề thành thứ dân, buộc cả nhà phải rời khỏi kinh thành ngay. Khâm thử. Niên hiệu Thiệu Bình năm thứ 5,1438”.
Lê Tư Tề choáng váng đang quỳ suýt ngã. Người gia nhân quỳ bên cạnh vội đỡ. Lê Tư Tề run rẩy cầm tờ chỉ. Cả nhà phu nhân Xuân Hoa, bốn công tử khóc lóc. Thân mẫu quận vương Trịnh Thị Ngọc Lữ buồn rầu nói trong nước mắt:
-Sao Hoàng thượng không nghĩ tới tình anh em ruột thịt, không nghĩ tới ngày con có quyền lực không mưu sát hại nó mà còn yêu quý nó. Không nghĩ công lao tình nghĩa của ta suốt bao năm trời lúc nó còn nhỏ sớm hôm vất vả chăm nó khi Phạm Thị Ngọc Trần sớm ra đi lúc nó 3 tuổi. Bây giờ nó đuổi cả nhà ra khỏi kinh thành biết đi đâu mà sống bây giờ?
Xuân Hoa phu nhân cũng khóc lóc:
-Mà cũng không nghĩ tới suốt bao năm trời thiếp cũng yêu thương và chăm sóc nó.
Lê Tư Tề chưa biết đem gia đình đi đâu thì chiều hôm đó có gia nhân vào báo:
-Dạ bẩm chủ nhân có ngài Nguyễn Thúc Câu xin vào gặp.
Lê Tư Tề nói:
-Cho vào ngay.
-Dạ.
Nguyễn Thúc Câu bước vào, chủ khách chia nhau ngồi. Sau một lượt trà, Lê Tư Tề nói:
-Đa tạ Hoằng Tín hầu đã tới thăm. Chắc ngài đã biết Hoàng thượng đã phế truất ta làm dân thường và đuổi cả nhà ra khỏi kinh thành. Ta cũng chưa biết đi tá túc phương nào, ta định về quê cũ Lam Sơn.
Nguyễn Thúc Câu đáp
-Hoàng thượng không còn tình nghĩa như vậy là do bọn gian thần và các quan phụ chính đại thần xúi dục, sợ Quận vương với uy tín của mình sẽ gây bất lợi cho ngai vàng.
-Ta thì đã đành, nhưng mẫu thân ta từ năm 1425 khi nó mới 3 tuổi tại Nghệ An, Hà Tĩnh khi Phạm Thị Ngọc Trần mất đi đã thay mẫu thân nó vất vả chăm sóc nó, trong khi một gắnh nặng khác là chăm sóc Lê Thái Tổ để ông có sức khỏe mà lãnh đạo kháng chiến. Bây giờ nó nắm quyền thì giáng ta làm thường dân, đuổi cả mẫu thân khỏi kinh thành. Mẫu thân ta từ Quốc vương Thái hậu xuống Quận Vương Thái hậu và nay thì thành thường dân.
Cả Hoằng Tín hầu và Lê Tư Tề im lặng. Một lát Lê Tư Tề nói:
-Ta muốn làm một cuộc chính biến chống lại Lê Thái Tông nhưng ngại dân tình lại khổ vì nạn binh đao. Bách tính đã khổ nhiều năm rồi, ta thật không nỡ.
Hoằng Tín hầu cả sợ, vội nói:
-Xin đại nhân lấy xã tắc và đất nước làm trọng. Vả lại như vậy đại nhân sẽ mang tội phản nghịch, tội muôn đời không thể rửa sạch được.
-Ta đã bị dồn đến mức này thì còn xá gì. Ta chỉ thương vợ con, thân mẫu và bách tính mà thôi.
Hoằng Tín hầu nói:
-Ngài nghĩ như vậy là phải. Vả lại triều đình ngày nay bọn gian thần hiểm ác rất nhiều. Đại nhân không thể đấu lại được với chúng đâu. Tôi có một nơi này đại nhân có thể đến.
Lê Tư Tề vội hỏi:
-Nơi nào?
-Phủ Lưu Tế (Mỹ Đức) gần kinh đô nhưng là nơi núi non rừng rậm. Đại nhân có thể đem cả nhà đến đó sinh sống. Nơi đó có thể chăn nuôi trồng trọt.
Lê Tư Tề nói:
-Đa tạ đại nhân.
Liền gọi:
-Bay đâu.
-Dạ.
-Làm cơm rượu lên đây ta cùng cạn ly với Hoằng Tín hầu.
-Dạ.
Cả nhà và gia nhân cùng cơm nước xong, Lê Tư Tề gọi:
-Gọi quản gia và gọi hết gia nhân lên đây.
-Dạ.
Một lát sau cả nhà và 10 gia nhân đến đông đủ. Lê Tư Tề nói:
-Ta nay bị phế làm thường dân, phải rời khỏi kinh thành, các ngươi nhận mỗi người 20 lạng bạc về quê mà sinh sống. Ta cảm tạ các ngươi đã trung thành phục vụ ta suốt nhiều năm qua.
Bọn gia nhân nghe xong khóc như mưa gió:
-Chủ nhân đừng đuổi chúng tôi, xin chủ nhân cho chúng tôi đi theo, chúng tôi sẽ phục vụ chủ nhân.
Lê Tư Tề đáp:
-Ta đa tạ các ngươi, ta nay không có bổng lộc gì để nuôi các ngươi, các ngươi theo ta chỉ nghèo khó và liên lụy mà thôi. Các ngươi nhận bạc, thu xếp về quê sinh sống. Sớm mai ta cũng đem cả nhà đi về miền nông thôn rừng núi rồi.
Bọn gia nhân vừa khóc vừa vái lạy:
-Đa tạ chủ nhân, vậy chủ nhân bảo trọng, chúng tôi xin cáo biệt.
-Các người bảo trọng.
-Đa tạ chủ nhân, chúng tôi kiếp nô tì nhưng được chủ nhân cưu mang, coi chúng tôi như con người. Chúng tôi không bao giờ quên ơn.
Bọn gia nhân khóc mà xách hành lý đi. Phủ Quận vương không còn một gia nhân nào. Sớm hôm sau, Lê Tư Tề dẫn thân mẫu, Xuân Hoa phu nhân và 4 đứa con trai, một đứa con gái lên một chiếc xe ngựa. Lê Tư Tề và Hoằng Tín Hầu mỗi người cưỡi một con ngựa hộ tống đi hai bên ra khỏi kinh thành đi về phía tây, đó là một ngày tháng 5 năm 1438. Hoằng Tín hầu dẫn cả gia đình Lê Tư Tề về phủ Lưu Tế (Mỹ Đức-Thăng Long) và cư trú ở đó. Được một năm thì gia đình ổn định về kinh tế, trồng hoa quả, trồng lúa, chăn nuôi gà lợn. Lê Tư Tề nhờ Hoằng Tín hầu dẫn tới chùa Tùng Lâm ở Bắc Lâm. Hoằng Tín hầu giới thiệu Lê Tư Tề với sư trụ trì, Nhà sư vái chào và nói:
-Xin chào Quốc vương, nghe đại danh của ngài 15 năm nay nay mới có duyên được gặp.
Lê Tư Tề cúi mình đáp:
-Đa tạ thiền sư, tôi nay không phải là Quốc vương hay Quận vương nữa, kẻ sĩ nay đã là thường dân, muốn đến nhờ thiền sư thu nạp để được đọc kinh gõ mõ sớm tối.
-Đa tạ Quốc vương đã hạ cố đến chùa chúng tôi để hành đạo, hân hạnh, hân hạnh.
-Đa tạ thiền sư đã không chê mà dung nạp.
Rồi Lê Tư Tề xuống tóc và đi tu ở đó, đổi tên là Nguyễn Hữu, ngày ngày đọc kinh niệm phật, quên đi những sự bất nhân bất nghĩa ngang trái của triều đình, của thế gian. Lê Tư Tề viêm tịch năm 1460. Khi chết triều đình Lê Thánh Tông phong ông là Quận Ai vương.
Người con gái út của Lê Tư Tề là Mai Hoa công chúa, lớn lên thường mặc trang phục đàn ông, lưng mang gươm như một kiếm khách, thầy dạy võ là một cuốn sách võ xưa công chúa giắt trong người và thường luyện tập vào buổi sáng. Công chúa xin phép bà nội và mẹ đi đây đi đó. Khi ở Nông Cống, khi về quê nội Lam Sơn, khi về Côn Sơn, khi về Hương Sơn, khi về Phủ Lưu Tế thăm bà, thăm mẹ và các em. Công chúa say mê cảnh đẹp của Hương Sơn, say dòng suối Yến với suối Giải Oan uốn quanh rừng núi. Cuối cùng công chúa lấy đạo hiệu là Tuyết Quỳnh, vào tu ở Hương Sơn, vui ngày tháng với các tiểu đồng giữa nơi non xanh nước biếc, quên đi ân oán giữa cuộc đời trần thế. Bà sống ở đây 38 năm, viêm tịch năm 56 tuổi.
Thân mẫu của Lê Tư Tề là bà Trịnh Thị Ngọc Lữ. Suốt từ khi Lê Lợi khởi binh ở Thanh Hóa rồi vào Nghệ An, rồi tiến quân ra Bắc, bà luôn bên cạnh chăm sóc cho Lê Thái Tổ, lại còn chăm sóc Lê Tư Tề, khi Lê Tư Tề trưởng thành, thành tướng của nghĩa quân, bà lại chăm sóc cho Lê Nguyên Long (Lê Thái Tông) vì mẹ đẻ của Lê Nguyên Long là bà Phạm Thị Ngọc Trần sớm qua đời ở Nghệ An năm 1425 khi Lê Nguyên Long mới 3 tuổi. Sau khi Lê Lợi lên ngôi vua năm 1428, cử Lê Tư Tề làm Quốc vương thì bà là Quốc Vương thái mẫu, khi Lê Tư Tề là Quận vương thì bà là Quận vương mẫu, năm 1438 khi Lê Từ Tề bị giáng làm thảo dân thì bà là thảo dân. Thực ra bà vẫn là phi của Lê Thái Tổ nên danh nghĩa vẫn là Thần phi nhưng trên thực tế chỉ còn là thảo dân khi bị đuổi khỏi kinh thành, sống với con và các cháu ở Phủ Lưu Tế ở Mỹ Đức (Thăng Long), tự lao động mà kiếm sống cùng con cháu.
II.
Đang là tháng 7 năm 1437, mùa hè Đông Kinh nắng như thiêu đốt. Các ngọn cây xanh vươn lên trên lâu đài, cung điện san sát đứng im vì không một làn gió thổi lay động, mây trên bầu trời trắng, hở ra những mảng trời xanh. Mây cũng không bay, nắng chan hòa mặt đất.
Trong dinh thự của phủ quan nhiếp chính Lê Sát, Lê Sát nóng gần như phát điên, hai tên hầu đua nhau quạt hai bên cho Lê Sát ngồi uống trà. Một lát sau, Lê Sát nói:
-Thôi, không quạt nữa, đi ra.
-Dạ.
Không cho quạt nữa, Lê Sát uống một ngụm trà và gục xuống bàn nhắm mắt, kệ cho mồ hôi toàn thân chảy đầm đìa. Lê Sát ôm đầu hồi tưởng lại 10 năm chinh chiến và 10 năm đắc thế của mình trên triều đình.
Lê Sát ra đời ở làng Bi Ngữ, thuộc Lôi Dương (Thọ Xuân) Thanh Hóa. Cha mẹ không nhớ ngày tháng năm sinh của ông vì chỉ là nông dân nghèo. Khi biết Lê Lợi dấy cờ khởi nghĩa chống giặc Minh, khi đó có lẽ ông đã 20 tuổi. Do có lòng yêu nước, căm thù giặc nên Lê Sát hăng hái tham gia. Từ đó cùng với nghĩa quân và các tướng lĩnh, ông trải qua các bước thăng trầm của nghĩa quân Lam Sơn. Trải qua các chiến trường khốc liệt gian khổ ở miền núi Thọ Xuân Thanh Hóa, Nghệ An và các trận đánh bao vây Đông Quan, tiêu diệt viện binh của Liễu Thăng. Lê Sát đã trải qua các trận đánh nổi tiếng như Quan Du (1420), trận Khả Lưu (1424), trận vây hãm Tây Đô Thanh Hóa (1425), Trận vây hãm Đông Quan (1427) và trận tham gia công phá thành Xương Giang. Do những chiến công đó, năm 1427, Lê Lợi phong cho ông làm Đại tư mã. Cuối năm 1427 do Vương Thông cầu cứu, vua Minh Tuyên Tông cử An viễn hầu Liễu Thăng đem 10 vạn quân từ Quảng Tây theo đường Lạng Sơn tiến vào Đông Quan, Kiềm Quốc công Mộc Thạnh đem 5 vạn quân từ Vân Nam theo đường Quy Hóa (Lào Cai) tiến xuống. Tư mã Lê Sát, Tư không Lưu Nhân Chú và các tướng đem quân mai phục ở ải Chi Lăng, giết chết Liễu Thăng ở gò Mã Yên (Quỷ Môn Quan) vào ngày 20 tháng 9 âm lịch 1427. Rắn bị mất đầu nhưng quân Minh cố tiến xuống Xương Giang. Lê Sát cùng Lưu Nhân Chú, Lê Lý, Lê Văn An, Lê Vấn, Lê Khôi tiếp tục mai phục tập kích ở Cần Trạm, Kép, tiêu diệt 4 vạn quân Minh và cuối cùng tổng công kích ở Xương Giang, tiêu diệt nốt 5 vạn quân còn lại cùng nhiều võ quan cao cấp nhà Minh như Lương Minh, Lý Khánh, bắt sống Thôi Tụ, Hoàng Phúc. Đạo quân chủ lực 10 vạn tên bị tiêu diệt thì đạo quân Mộc Thạnh khiếp sợ tháo chạy bị Trịnh Khả và các tướng đuổi đánh, tiêu diệt 2 vạn tên. Vương Thông ở Đông Quan và các thành còn lại phải mở cửa thề không bao giờ xâm lược Đại Việt và xin rút quân về nước. Chiến dịch Chi Lăng-Xương Giang mà Lê Sát có vinh dự được tham gia là một trận thắng oanh liệt, quyết định đến thắng lợi của cuộc kháng chiến 10 năm anh dũng chống Minh của quân dân Đại Việt.
Sau chiến thắng, Lê Lợi lên ngôi xưng là Lê Thái Tổ, lập ra triều đại mới: Triều Hậu Lê. Lê Thái Tổ thưởng công cho các khai quốc công thần. Lê Sát được phong là Truy tân tri hiệp trung mưu quốc công thần, Nhập nội khiểm hiệu, Tư khấu bình chương quân quốc trọng sự. Năm 1429 được ban tước Huyện thượng hầu, đứng thứ nhì trong hàng quan tước. Năm 1433 Lê Thái Tổ phong Lê Sát làm Đại tư đồ, nhận cố mệnh phụ chính giúp đỡ cho Lê Nguyên Long khi đó mới 11 tuổi lên ngôi Hoàng đế. Cuối năm 1433, Thái tử Lê Nguyên Long lên ngôi, niên hiệu Thiệu Bình, sử gọi là Lê Thái Tông. Như vậy, người ông phò tá từ hồi còn thơ bé nay đã lên ngôi Hoàng đế, Lê Sát trở thành một trong bốn cố mệnh đại thần.
Lê Thái Tông lên ngôi còn nhỏ nhưng sớm quyết đoán, trong 5 năm qua đã thi hành những chính sách kinh tế, chính trị, quốc phòng, văn hóa, đối ngoại mà Lê Thái Tổ đã đặt nền tảng, làm cho đất nước ngày càng phát triển no ấm thanh bình. Các bài đồng giao được hát khắp nơi:
Thời vua Thái Tổ, Thái Tông
Con dắt con bế, con bồng con mang.
Thời vua Thái Tổ Thái Tông,
Thóc lúa đầy đồng trâu chằng thèm ăn.
Đại tư mã Lê Sát từ khi làm phụ chính đến bây giờ quyền hành nghiêng cả nước, chức cao quyền lớn chỉ đứng sau vua, vì vua còn bé, trẻ nên có khi ông lấn át cả vua. Vì là một võ quan chiến trận, thời bình mới bước vào con đường chính trị nên tính tình ông nóng nẩy, cương liệt. Trong Lê Sát xuất hiện tư tưởng không coi vua ra gì, lấn át cả vua. Lê Sát không hiểu được trong quan hệ chính trị rất phức tạp và nhậy cảm, ông đứng trước việc rất khó khăn là phải xử lý các mối quan hệ vua tôi, quan hệ đồng lưu, quan hệ đồng chí ngày xưa, quan hệ gia đình. Ông hoàn toàn không thấy được mối tai hại khi xử lý sai các mối quan hệ đó. Còn một căn bệnh nữa là ai đề đạt ý kiến trái với ý định của Lê Sát, ông đều cho rằng họ đang âm mưu chống lại hoặc tước bỏ quyền lực của ông và ông tìm cách diệt trừ họ. Như Quốc vương Lê Tư Tề bị giáng xuống làm Quận vương, từ Quận vương bị giáng xuống làm thứ dân và bị đuổi khỏi kinh thành trong đó có âm mưu của ông thúc đẩy và vẽ đường cho Lê Thái Tông, với cái cớ rất thuyết phục là Lê Tư Tề trước sau cũng đe dọa quyền lực, ngai vàng của Lê Thái Tông. Âm mưu của Lê Sát đã đẩy gia đình Lê Tư Tề bây giờ xiêu dạt không biết đến phương nào, sống chết ra sao. Lê Tư Tề là quân vương của ông, là bạn chiến đấu với ông, là đồng lưu với ông. Ông đã phạm vào tội bất trung, bất nghĩa , bất nhân. Ông đã xử lý sai mối quan hệ đồng chí, 10 năm cùng gian khổ chiến đấu chống quân thù. Ông nhỏ nhen ghen ghét với khai quốc công thần Lưu Nhân Chú, ông hạ độc và Lưu Nhân Chú đã chết. Trong một phiên thiết triều, Lê Sát thấy Nhập nội Thiếu bảo Trịnh Khả không cùng cánh với mình, Lê Sát liền buộc Trịnh Khả phải ra trấn thủ Lạng Sơn.
Tháng 8 ăm lịch năm 1434, Đồng tri Bạ tịch Bắc đạo Bùi Ư Đài đề nghị vua chọn các hoàng huynh, quốc cửu, kỳ lão am hiểu điển chế cũ vào làm cố vấn cho vua, bên ngoài đặt chức sư phó chỉ huy trăm quan, thế mà Lê Sát tức giận vì như vậy Bùi Ư Đài mưu giới hạn quyền lực của ông. Lê Sát tâu xin giam Bùi Ư Đài vào ngục trị tội theo phép nước. Lê Thái Tông nói:
-Ư Đài không đáng phải xét xử như thế.
Lê Sát tâu đi tâu lại đến bốn lần, một số đại thần xu nịnh Lê Sát như Nguyễn Thiện Tích, Bùi Cầm Hổ vào hùa với Lê Sát tâu lên, bất đắc dĩ, Lê Thái Tông phải bắt lưu đày Bùi Ư Đài. Từ đó Lê Thái Tông thực sự ghét sự chuyên quyền của Lê Sát. Tháng 9 năm 1434, thấy Bùi Cẩm Hổ ngày càng bất đồng với mình, Lê Sát tâu vua Lê Thái Tông cho Hổ ra làm An phủ sứ trấn Lạng Sơn, lấy Chuyển vận sứ huyện Cổ Đằng Phan Thiên Tước về làm Thị Ngự sử.
Năm 1435 cố mệnh đại thần Lê Vấn chết, Lê Sát càng một mình quyết đoán mọi công việc, Lê Sát nói:
-Tâu Hoàng thượng, thần xin cử Nguyễn Trãi, Trình Thuấn Du cùng vài đại thần khác vào triều dạy học cho Hoàng thượng.
Lê Thái Tông cố nén giận cầm tờ tâu xem qua rồi trả lại, nhà vua không nói gì.
Thấy Lê Thái Tông yêu quý bọn hoạn quan, Lê Sát ghen ghét nói:
-Tâu Hoàng thượng, bọn này nên giết đi.
Lê Thái Tông hỏi:
-Sao phải giết?
-Muôn tâu, bọn này toàn những lời nịnh nọt không thật lòng, làm cho Hoàng Thượng sẽ không anh minh, sáng suốt nữa.
Nghe vậy Lê Thái Tông nén giận hỏi::
-Khanh bảo ai không anh minh, sáng suốt?
-Dạ, thần nhỡ lời, xin tạ tội.
Ngày 1 tháng 9 âm lịch 1435 có phiên thiết triều bàn về việc thuế, Lê Sát bước ra:
-Bẩm Hoàng thượng thần có tấu.
-Khanh tấu đi
-Dạ bẩm, đối với những người vừa có đất trồng rau vừa có đất trồng lúa, nếu là quân nhân thì cấp 5 sào đất làm bãi dâu, nếu là dân thường thì cấp 4 sào sản nghiệp, ngoài ra còn miễn thuế khóa cho họ. Người không vợ, không chồng thì không được miễn thuế.
Phan Thiên Tước bước ra:
-Thần có tấu.
-Khanh tấu đi.
-Dạ, bẩm Hoàng thượng, thần không đồng ý với ý kiến của quan Đại tư mã phụ chính. Khôngg vợ không chồng là hạng mà trong chính sách của Hoàng thượng thường chú ý đến nhất, nay ban ơn cho quân dân mà hạng đó không được dự, thế là họ không phải là dân của Hoàng thượng sao?
Lê Sát tức giận:
.-Quân dân bỏ sức làm việc đóng thuế khóa, còn hạng không vợ góa chồng kia cho nước được gì? Vả lại, khi còn Tiên đế chưa từng giảm nhẹ cho ai thì ông im lặng không nói gì, nay đã định thành lệ rồi lại nói mãi không thôi là làm sao?
Phan Thiên Tước cãi lại:
-Khi còn Tiên đế, Tước này chưa được giữ chức trách nói năng, nay chức trách phải nói, cũng muốn làm điều hay cho nước nhà, có phải mưu lợi riêng cho mình đâu.
Lê Thái Tông quyết:
-Nay trẫm miễn thuế cho cả những người cô quả, họ cũng là bách tính của trẫm.
Quyết định của Lê Thái Tông càng làm cho Lê Sát tức giận. Lê Sát không quan sát thấy rằng Lê Thái Tông dù mới 17 tuổi nhưng đã bắt đầu anh minh và có quyết đoán riêng và ngày càng ghét bỏ sự chuyên quyền của Lê Sát. Không những thế, Hoàng thượng còn quyết tâm làm tan rã bè cánh của Lê Sát. Trong một buổi thiết triều năm 1437, Lê Thái Tông nói:
-Quan nội thị đọc chiếu chỉ đi.
Bá quan văn võ vội quỳ xuống. Quan nội thị đọc:
-“ Phụng thiên thừa vận, Hoàng đế chiếu viết, nay cho Điện tiền đô kiểm điểm Lê Ê, Hữu quân tổng quản Lê Hữu ra ngoài, triệu Trịnh Khả về triều làm hành quân Tổng quản, nắm quân thiết đột (Cấm binh). Khâm thử. Niên hiệu Thiệu Bình năm thứ 5, 1438.”
Lê Sát tái mặt quát to giận giữ:
-Không được, thần là đại thần cố mệnh, thần chưa được Hoàng thượng trao đổi sự điều hành này.
Vua Lê Thái Tông nổi giận:
-Ai cho phép đại thần phụ chính hỗn láo với trẫm. Bay đâu.
Mười võ sĩ bước vào quỳ xuống:
-Dạ, bẩm Hoàng thượng.
-Bắt giam Lê Sát, giao cho bộ hình xét xử.
Võ sĩ áp sát Lê Sát, lột mũ và triều phục, còng hai tay lại. Lê Thái Tông quát:
-Tống vào đại lao chờ ngày xét xử.
Lê Văn Linh bước ra tâu:
-Dạ bẩm Hoàng thượng, tội của quan phụ chính là bất kính với Hoàng thượng nhưng chưa đến mức tước bỏ chức vụ nhốt vào đại lao.
Lê Ngân bước ra tiếp:
-Nghĩ công lao quan Đại tư mã, mấy năm nay có công phò tá Hoàng Thượng, cúi mong Hoàng thượng xử nhẹ.
Lê Thái Tông chưa nguôi giận:
-Các khanh chưa rõ tội trạng của Đại tư mã thì nghe đây: Chuyên quyền, nắm giữ việc nước, không coi trẫm ra gì, ghen ghét bậc hiền tài, giết Lưu Nhân Chú để ra oai, không nghĩ tình đồng chí, đồng lưu, truất đuổi Trịnh Khả hòng bắt người ta khuất phục, bãi chức tước của Bùi Ư Đào khiến đình thần không còn ai dám nói, đuổi Bùi Cầm Hổ ra biên giới cho gián quan đều bịt miệng, im hơi. Nguyên chỉ một tội giết đại công thần Lưu Nhân Chú đã đáng trảm chưa?
Bá quan văn võ không ai dám biện hộ cho Lê Sát một lời nào nữa, dù là người cùng vây cánh. Lê Thái Tông nói tiếp:
-Nay chiếu cố là khai quốc công thần, cố mệnh phụ chính đại thần, cách hết chức vụ cho về nhà tự xử.
-Bãi triều.
Phiên thiết triều sau, các quan quỳ xuống tung hô:
-Hoàng thượng vạn tuế, vạn tuế.
Lê Thái Tông nói:
-Miễn lễ, các khanh bình thân.
-Tạ Hoàng thượng.
-Quan nội thị tuyên chỉ:
Bá quan văn võ vội quỳ xuống lắng nghe. Quan nội thị đọc:”Phụng thiên thừa vận, Hoàng đế chiếu viết: Tội đồ Lê Sát cậy có công lớn, quyền lớn, giết hại đại thần, truy bức hãm hại trung thần, nay ban cho chết toàn thây ở tư gia. Tài sản tịch thu sung công cho nhà nước, vợ con bị bắt làm nô tỳ. Giáng con gái Lê Sát là Lê Thị Ngọc Giao là nguyên phi xuống làm thường dân, Khâm thử. Niên hiệu Thiệu Bình năm thứ 5, 1438”.
Bá quan văn võ hô vang:
-Hoàng thượng anh minh.
Lê Thái Tông nói tiếp:
-Các ái khanh nghe tiếp chỉ.
Bá quan văn võ quỳ nghe. Quan nội thị đọc: “Phụng thiên thừa vận, Hoàng đế chiếu viết: Nay dời kẻ bày mưu cho Lê Sát là tây đạo tham tri quân dân ba tỉnh Đăng Đắc ra làm An phủ sứ trấn Lạng Sơn, bắt giam vào ngục, lột bỏ chức tước và hai chữ công thần của Lê Văn Linh vì đã nghe theo Lê Sát. Nay phục chức cho Bùi Ư Đài làm Đổng tri môn hạ, Tả ngự sử, Bùi Cầm Hổ làm nghinh sử Trung thừa. Lấy y nhập nội Tư khấu bên đạo hành quân đô Tổng quản Lê Ngân chấp chính việc nước thay Lê Sát. Phong con gái Đô đốc Lê Ngân từ Chiêu nghi lên làm Huệ phi. Khâm thử, Niện hiệu Thiệu Bình năm thứ 5, 1438”.
-Hoàng thượng vạn vạn tuế, Hoàng thượng anh minh.
III.
Cả nước Đại Việt và Đông Kinh đang tiến vào mùa đông năm 1437, gió rét căm căm thổi thốc tháo, lá cây vàng úa rụng đầy đường đi. Trên bầu trời chỉ một màu xám lạnh lẽo, không một bóng chim, ánh dương nhạt nhòa tỏa ánh sáng đục mờ.
Trong cung riêng ở gần điện Kính Thiên vua Lê Thái Tông đang ngồi uống trà, vua khoác áo bông màu tía thay cho cho áo long bào, Hai lò than nóng rực làm cho căn phòng ấm áp hơn. Hai thị nữ bên ngoài mặc áo bông bên trong là áo dài xanh đang đứng hầu. Ngoài cửa, hai võ sĩ lực lưỡng mặc giáp, tay cầm giáo đứng canh. Quan nội thị đứng bên chờ sai bảo.
Lê Thái Tông vừa đặt chén xuống, thị nữ vội rót chén khác, chợt có nội thị vào báo:
-Dạ bẩm Hoàng thượng, có thám mã kinh thành vào bẩm báo.
-Cho vào ngay.
-Dạ.
Thám mã vào và quỳ hành lễ:
-Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.
-Đứng dậy có gì nói đi.
-Dạ bẩm Hoàng thượng, thần do thám nhà của quan nhiếp chính Lê Ngân thờ tượng vàng ma quỷ, bói toán đồng cốt, có hại cho triều đình.
Lê Thái Tông ngạc nhiên:
-Thật vậy sao? Hay là ngài ấy thờ Phật? Thờ Phật, thờ Nho thì nhà nước không cấm.
-Dạ bẩm Hoàng thượng, nhà quan Nhiếp chính thường lên đồng cốt múa may tà đạo trong nhà.
-Rồi, nhà ngươi lui, có gì ở kinh thành phải về báo ngay.
-Dạ, mạt tướng tuân chỉ.
Lê Thái Tông bảo quan nội thị:
-Gọi thái giám Đỗ Khuyển vào đây.
-Dạ, thần tuân chỉ.
Canh giờ sau, thái giám Đỗ Khuyển quỳ hành lễ:
-Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.
-Miễn lễ.
-Dạ, tạ ơn Hoàng thượng.
-Ta vừa nghe thám mã kinh thành về báo nhà quan Nhiếp chính Lê Ngân thờ tà đạo, lên đồng bóng, không biết có ý định gì. Khanh dẫn 50 võ sĩ tới nhà lục soát, đem chứng cớ bất chính tà đạo về đây.
-Dạ, thần tuân chỉ.
Lại nói tại phủ, quan Nhiếp chính Lê Ngân đang ngồi uống trà, có gia nhân vào báo:
-Dạ, bẩm quan Nhiếp chính, có quan Thái giám Đỗ Khuyển đem 50 võ sĩ đến truyền chỉ.
Lê Ngân hốt hoảng:
-Lạ nhỉ, truyền chỉ sao lại đem võ sĩ?
Liền vội mặc triều phục ra ngoài cửa nghênh đón. Đỗ Khuyển nói:
-Quan Nhiếp chính Lê Ngân nghe chỉ.
Lê Ngân vội quỳ. Đỗ Khuyển mở tấm lụa vàng ra đọc:
-“Phụng thiên thừa vận Hoàng đế chiếu viết: Nay nghe nói trong nhà quan Nhiếp chính Lê Ngân thờ tà đạo và nuôi đồng cốt không rõ có ý định gì. Nay lệnh cho Thái giám Đỗ Khuyển và 50 võ sĩ được quyền lục soát. Khâm thử, niên hiệu Thiệu Bình năm thứ 5, 1438”.
-Thần tuân chỉ.
Lê Ngân là võ tướng can trường nhưng nay đỡ chiếu chỉ hai tay run run, hoảng hốt, đúng là sức đã già, tấm thân mình đồng da sắt nhũn ra theo thời gian. Đỗ Khuyển ra lệnh cho 50 võ sĩ:
-Lục soát cho kỹ thu những thứ tà đạo.
-Tuân lệnh.
Bọn võ sĩ lục soát khắp phủ, chủ yếu là gian thờ phụng, thu được tượng vàng phật bà Quan Âm, một vài tượng vàng ma quái có khắc tên Lê Nhật Lệ (con gái Lê Ngân, Huệ Phi của vua Lê Thái Tông) cùng tên Lê Nguyên Long (húy của Lê Thái Tông) có ghi niên hiệu Thiệu Bình, bắt một đồng cốt, một thầy bói toán. Hôm sau Lê Ngân vào triều, bỏ mũ tạ tội. Lê Thái Tông hỏi:
-Sao khanh lại đúc tượng ma quái và khắc tên trẫm và của Huệ Phi?
-Dạ bẩm Hoàng thượng, thần đi bói thì thấy bói nói chỗ đất ở nhà thần có nhiều ma quái, oan hồn thì phải thờ Phật. Vả lại người đàn bà vợ của Lê Sát mà Hoàng thượng ban cho thần làm thiếp rất thù ghét thần, thần phải thờ phật để đề phòng tai họa.
-Sao nhà ngươi đúc tượng ma quái lại khắc tên của trẫm và của Huệ phi vào? Định hại chết trẫm chăng, ngươi đã biết tội chưa?
Lê Ngân thự sự hoảng loạn:
-Thần làm vậy là mong Huệ phi con gái thần được Hoàng thượng yêu quí hơn các cung phi khác. Mong sinh cháu trai và được Hoàng thượng phong làm Thái tử chứ thần không có ý gì khác. Mong Hoàng thượng nể tình là khai quốc công thần, có công giúp Lê Thái Tổ chống Minh trong 10 năm, công phò tá Hoàng thượng 5 năm mà nhẹ tội cho thần. Thần xin về quê được sống những ngày tàn còn lại. Xin Hoàng thượng nghĩ lại cho.
Lê Thái Tông nói:
-Nhà ngươi là đại thần giữ quyền Nhiếp chính, không thờ đạo Nho là tư tưởng chính thống của triều đình lại đi thờ ma quái. Nhưng cái tội đáng chết của nhà ngươi là khắc tên húy và niên hiệu của trẫm vào tượng ma quái và ngày ngày cho đồng cốt reo tên. Nay ban cho nhà ngươi được chết toàn thây, về nhà uống độc mà tự xử đi, giáng Huệ Phi xuống làm Tư dung. Mụ đồng Nguyễn Thị bị đày đi châu xa, phạt đánh 20 trượng. Thầy bói kiêm phù thủy Trần Văn Phương bị đồ làm lính, nuôi voi trong quân đội, phạt đánh 50 trượng. Bãi triều.
Tan chầu, Lê Ngân thất thểu đi ra và lên xe đi về phủ, Cả chiều không ăn cơm, chỉ ngồi uống nước. Ông gọi con trai lớn là Lê Nho Tông mới 17 tuổi, em của Tư dung Lê Nhật Lệ. Ông nói với con trai:
-Cha đã lỡ phạm sai lầm lớn với nhà vua, ngày mai triều đình đến tịch thu tài sản ruộng đất, con hãy gọi gia nhân và nữ tỳ đến cho họ mỗi người 10 lạng bạc cho họ về quê quán sinh sống. Con cũng chuẩn bị hành trang và một số tiền về quê nội ở Lam Sơn Lôi Dương Thanh Hóa mà sống. Con nhớ sống tốt, đừng phạm sai lầm như cha.
Lê Nho Tông quỳ khóc:
-Con xin vâng lời cha dạy bảo.
Rồi chàng bảo một gia nhân:
-Ngươi đi gọi viên tổng quản đến đây.
-Dạ, thiếu chủ.
Một lát sau, viên tổng quản khoảng 50 tuổi đến. Lê Nho Tông nói:
-Nhà ta gặp nạn lớn, ngày mai triều đình sẽ đến tịch thu nhà cửa tài sản, ông hãy chia cho mỗi gia nhân, mỗi thị tì 10 lạng bạc bảo họ về quê mà sinh sống.
Canh giờ sau tất cả gia nhân, tì nữ đến kêu khóc, họ quỳ xuống và nói với Lê Ngân:
-Chúng tôi xin ở lại chết cùng chủ nhân. Hu!Hu!Hu!!!
Lê Ngân nói:
-Các người còn trẻ chết theo ta thì có ích gì, có cứu được ta đâu, các ngươi còn cha mẹ gia đình đang chờ đợi, cầm bạc và đi đi, gia đình anh em các ngươi đang đợi.
Quản gia nói:
-Hay là chúng tôi ở lại chiều mai xong việc chúng tôi mới đi.
-Không được, chúng sẽ khám và lấy hết, các ngươi còn đồng nào mà về quê, đi đi...
Mọi người lại quỳ khóc và nói:
-Đa tạ, vĩnh biệt chủ nhân, vĩnh biệt công tử. Hu!Hu!Hu!...
Họ vừa nhận tiền, vừa khóc và ra đi.
Còn lại quản gia, Lê Ngân nói:
-Ông cũng nhận tiền và đi về đi, để đến mai là không kịp đâu.
Người quản gia đáp:
-Tôi phải ở lại cùng công tử lo hậu sự cho chủ nhân vì ngày mai họ sẽ giết chủ nhân rồi.
Lê Nho Tông nói:
-Ông chờ đến ngày mai họ đến họ sẽ lấy hết, ông về quê tay trắng, sống thế nào được. Thế này nha, ông cầm cho ông 10 lạng, cầm hộ tôi 10 lạng, xong việc tôi gặp ông lại để lấy tiền về Lam Sơn. Ông đi trước đi, vì ông mà vì cả tôi nữa.
Lê Ngân nói:
-Nho Tông nói đúng đấy, ông cầm tiền đi đi kẻo về quê hai bàn tay trắng quá khổ.
Người quản gia quỳ xuống và khóc nói:
-Đa tạ, đa tạ chủ nhân, cáo biệt chủ nhân. Tôi sẽ nhớ chủ nhân suốt đời và đốt hương thờ phụng người. Tạm biệt công tử, hẹn gặp lại. Hu!Hu! Hu!...
Người quản gia nhận tiền, đem cả tiền cho Lê Nho Tông, nói quê quán cho công tử biết mà sau tìm đến và khóc mà cáo biệt.
Xong mọi việc, tối hôm đó phủ quan Nhiếp chính vắng tanh. Lê Ngân ngồi hồi tưởng lại chặng đường 10 năm gian khổ cùng Lê Thái Tổ khởi nghĩa đánh giặc Minh.
Lê Ngân sinh ở xã Đầm Di, huyện Lôi Dương (Thọ Xuân) Thanh Hóa. Năm 1418 ông theo Lê Lợi tham gia khởi nghĩa Lam Sơn chống giặc Minh. Ngày 9 tháng Giêng năm Mậu Tuất 1418, tại Lạc Thủy, Lê Ngân cùng Lê Thạch, Đinh Bồ, Lê Lý làm tiên phong đánh cuộc bao vây càn quét của 20 vạn quân Minh do Mã Kỳ chỉ huy, tiêu diệt 3.000 tên giặc, thu hàng nghìn quân trang vũ khí.
Tháng 12 năm 1424, Lê Ngân cùng Lê Sát, Lê Vấn, Lưu Nhân Chú, Lê Lễ, Lê Văn An, Lê Bôi, Lê Chiến, Lê Tuy Kiều đánh tan quân Minh ở Khả Lưu (Nghệ An), bắt sống Đô đốc Chu Kiệt, chém chết Đô Ty Hoàng Thành, bắt sống hàng nghìn tù binh, thu được vật tư khí giới thuyền bè không sao kể xiết. Sau trận này quân Minh tháo chạy vào thành Nghệ An cố thủ.
Tháng 7 năm Ất Tỵ 1425, nghĩa quân giải phóng hết Nghệ An (trừ thành Nghệ An). Lê Lợi và Nguyễn Trãi cho rằng cần phải giải phóng Tân Bình- Thuận Hóa để mở rộng vùng giải phóng, để khi tấn công ra miền Bắc, giặc Minh không thể mở mặt trận thứ hai đánh nghĩa quân từ phía Nam. Lê Lợi sai Tư đồ Trần Nguyên Hãn, Thượng tướng Lê Nỗ, Lê Đa Bồ đem 1 vạn quân và 1 thớt voi đánh Tân Bình-Thuận Hóa. Trần Nguyên Hãn đánh bại quân Minh ở sông Chính nhưng lực lượng quân Minh Đông, Lê Lợi sai Lê Ngân, Lê Bôi, Lê Văn An đem 70 thuyền và 1 vạn thủy binh vượt biển tiến vào tiếp viện. Hai đạo quân của Trần Nguyễn Hãn và của Lê Ngân phối hợp. Quân Minh thua trận phải rút vào thành Tân Bình cố thủ. Tân Bình-Thuận Hóa được giải phóng, nối liền với vùng giải phóng Hà Tĩnh- Nghệ An.
Năm Bính Ngọ, Lê Lợi cho quân tiến ra giải phóng Thanh Hóa và tiến quân ra giải phóng miền Bắc. Lê Ngân, Lê Văn An, Lê Bôi, Lê Điền, Lê Lĩnh, Lê Văn Linh, Bùi Quốc Hưng được lệnh bao vây thành Nghệ An. Tháng giêng năm Đinh Mùi 1427, Lê Ngân đánh chiếm thành Nghệ An, bắt viên tướng Thái Phúc và kéo quân ra Đông Quan.
Năm 1428, Lê Ngân được phong Suy trung tán trị Hiệp mưu công thần, nhập nội Tư mã, tham dự triều chính. Tháng 5 năm thứ hai Thuận Thiên 1429, Lê Lợi ban biển ngạch công thần cho 93 viên tướng, Lê Ngân được phong tước Á Thượng hầu, đứng hàng thứ 2, tước này chỉ ban cho mỗi Lê Ngân.
Năm Thuận Thiên thứ 2, Lê Ngân cùng 6 vị trọng thần mang kim sách lập Quốc vương: “ Ngày 7 sai Nhập nội kiểm hiệu bình chương Lê Vấn, Nhập nội Đại tư mã Lê Ngân, Nhập nội Thiếu phó Lê Văn Linh mang kim sách lập Hữu tướng quốc, Khai quốc công thần Lê Tư Tề làm Quốc vương, giúp coi việc nước”. Ngày 22 tháng 8 năm 1433, vua Lê Thái Tổ băng hà, Thái tử Lê Nguyên Long kế vị mới 11 tuổi , tức Lê Thái Tông, niên hiệu Thiệu Bình.
Năm 1434, dưới triều vua Lê Thái Tông, Lê Ngân làm chức Tư khấu Đô tổng quản hành quân Bắc Đạo, cùng Đại tư đồ Lê Sát làm phụ chính.
Năm 1437 vua Lê Thái Tông đã lớn tuổi, quyết đoán được mọi công việc. Lê Văn Linh gỡ tội cho Lê Sát, vua không nghe, cách chức một loạt đại thần, bãi chức Lê Sát và cho chết tại gia, ban cho Lê Ngân giữ chức Nhập nội Tư Khấu Bắc đạo hành quân, làm nhập nội đại đô đốc Quy Hóa, Trấn phiêu kỵ Đai Thượng tướng quân đặc tiến Khai phủ nghi đồng tam ty thượng trụ quốc, tước Huyện thượng hầu và ban cho chế văn.
Tháng 7 năm 1437, Chiêu nghi Lê Nhật Lệ, con gái của Đại Đô đốc Lê Ngân được làm Huệ Phi, phế bỏ chính phi của Lê Thị Ngọc Giao, con gái Lê Sát.
Quyền cao chức trong tuột đỉnh như vậy nhưng Ông lại nghe lời thầy bói, thờ tà đạo đồng bóng trong nhà. Thì cha nào chả thương con, chả vì con. Ông chỉ muốn nhà vua sủng ái con gái của mình hơn các cung phi khác. Nhưng ông không hiểu được trong triều đình có bao nhiêu lực lượng đấu tranh với nhau, tìm cách hãm hại nhau, từ trong hậu cung, cho đến nội cung cho đến triều đình bao nhiêu kẻ nhìn ông, bao nhiêu kẻ nhìn con gái ông dưới con mắt căm thù ghen ghét. Ông đã quên bài học của Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo, đến như đại quý tộc như Quốc vương Lê Tư Tề. Ông thường chê Lê Sát không biết mình, không biết vua, lộng quyền đến nổi hại mình, hại nhà, nhưng giờ đây ông thấy ông ngu ngốc không kém gì Lê Sát, lại chết bởi một tay lão thầy bói dở hơi điên khùng.
Trời đã chuyển canh năm, gần sáng, ông kêu lên: “Ta đã làm hại ta rồi, làm hại cả đời con gái và con trai của ta rồi. Than ôi!!!
Lê Nho Tông thấy cha thức suốt đêm liền ra an ủi cha:
-Cha ngủ đi cha, cha đã thức trắng đêm rồi.
Lê Ngân nói:
-Con cũng không ngủ à? Sau khi cha mất, con hãy đem thi hài về táng ở quê nhà, trong khu mộ tổ nhà ta. Sau này con cố liên hệ với chị của con nhưng là sau này, còn bây giờ thì không được. Trong cung không được ra ngoài, cũng không được liên hệ với bên ngoài dù là với người nhà, nhất là trong tình hình khó khăn ngày nay của chị con.
-Con xin tuân lời dặn của cha.
Trời vừa sáng đã thấy quân triều đình do Giám quan Đỗ Khuyển kéo đến. Đỗ Khuyển nói:
-Tội đồ Lê Ngân nghe khẩu dụ:
Lê Ngân và Lê Nho Tông quỳ xuống, Đỗ Khuyển nói:
-Hoàng thượng khẩu dụ Lê Ngân phải uống hết bát thuốc này. Thứ hai tài sản nhà cửa ruộng đất bị sung công.
Lê Ngân nói:
-Thần tuân chỉ.
Một người lính đưa cho Lê Ngân bát thuốc. Lê Nho Tông bò lại gần cha khóc nói:
-Cha, Cha không được uống.
Võ sĩ giữ Lê Nho Tông lại. Lê Ngân nâng bát thuốc lên cao và nói:
-Vĩnh biệt Hoàng thượng, Hoàng thượng bảo trọng, thần đi trước đây.
Lê Ngân dốc cạn bát thuốc vào mồm trong tiếng gào khóc của Lê Nho Tông. Vài khắc sau ông ứa máu ở miệng ngã ra và chết, năm đó ông khoảng gần 50 tuổi.
Đỗ Khuyển nói:
-Nhà cửa không còn là của công tử nữa, mời công tử ra ngoài để chúng tôi niêm phong còn về kịp báo tin cho Hoàng thượng.
Lê Tông Nho lấy hết nghị lực đứng dậy, lấy chiếc tay nải để bên cạnh, lại đỡ cha dậy và cõng. Hai võ sĩ lại giúp chàng và hỏi:
-Đưa ra đâu?
Lê Nho Tông ngẹn ngào không nói được chỉ tay ra ngõ. Hai võ sĩ khênh thi hài Lê Ngân ra ngõ, Lê Nho Tông chỉ tay vào chiếc xe ngựa bên đường, hai người lính đặt thi hài Lê Ngân vào xe ngựa. Lê Nho Tông lấy chiếc chăn màu nâu đắp cho cha, buông vải che của xe màu nâu xuống. Lê Nho Tông đứng nhìn lại lần cuối phủ đường nhà ở, nơi ghi dấu biết bao kỷ niệm thời thơ ấu của chàng với chị Lê Nhật Lệ (Lê Tu Dung), với cha, với quản gia với các gia nhân. Chàng gạt lệ, lên xe và nói trong nước mắt:
-Vĩnh biệt phủ đường thân yêu, Đông Kinh thân yêu, Tạm biệt chị yêu.
-Ta về nhà thôi cha.
Rồi chàng ra cương cho ngựa chạy, bắt đầu cuộc hành trình hơn 300 dặm về quê nhà Lam Sơn, Thọ Xuân Thanh Hóa. Ra khỏi Đông Kinh, một xe, một con ngựa màu nâu, một thi hài của một đại công thần nay là tội đồ, một chàng thanh niên ôm nỗi đau buồn đi vào gió bụi phong trần trên con đường thiên lý.
IV.
Mùa xuân năm 1441, Đông Kinh chìm trong sắc nắng vàng, tuy gió lạnh vẫn còn thổi se sắt. Những tán lá cây cổ thụ đã bắt đầu đâm chồi nẩy lộc mới, Những đàn chim đã bắt đầu bay từ phương Nam trở lại cố hương phương Bắc sau một thời kỳ dài đi tránh rét. Hồng Giang vẫn cuồn cuộn đưa nước đầy phù sa màu hồng ra Lục Đầu Giang. Các cung điện hoàng thành vươn những đầu đao uy nghiêm lên trời trong và chìm trong nắng. Trống đã vang lên gọi các quan văn võ vào thiết triều. Trong điện Kính Thiên, Hoàng đế Lê Thái Tông đã là một thanh niên 18 tuổi tuấn tú khôi ngô ngồi trên ngai vàng. Bá quan văn võ quỳ xuống hô to:
-Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.
-Miễn lễ, các ái khanh bình thân.
-Tạ ơn hoàng thượng.
-Ai có gì tấu không?
Thái bảo trang Quận công Bùi Quốc Hưng bước ra:
-Dạ bẩm hoàng thượng, thần có tấu.
-Khanh tấu đi.
-Dạ bảm Hoàng thượng, theo tin báo về, thổ quan tên là Thượng Nghiễm ở Mường Muỗi (Thuận Châu-Gia Hưng) lại nổi loạn lần 2 chống lại triều đình, xin Hoàng thượng cử quân sĩ và tướng lĩnh lên Tây Bắc dẹp loạn.
Lê Thái Tông ngạc nhiên:
-Hả, tháng 3 năm 1440, tên này làm loạn, ta đã thân chinh lên đánh dẹp, Thượng Nghiễm đã tạ tội xin quy phục triều đình, nay lại cả gan làm loạn nữa sao? Ta lại phải thân chính khó nhọc một lần nữa rồi.
Đình thượng hầu Lê Hiến bước ra tâu:
-Dạ Hoàng thượng, thần có tấu.
-Ái khanh nói đi.
-Bẩm Hoàng thượng, năm ngoái Hoàng thượng đã thân chinh đánh giặc Thượng Nghiễm ở Thuận Châu rất là khó nhọc cho long thể, lần này Hoàng thượng cử một thượng tướng có tài đi là được.
Lê Thái Tông đáp:
-Mấy năm nay vùng Tây Bắc bị quấy nhiễu không ngừng, tháng 8 năm 1437, quân Ai Lao cấu kết với tù trưởng làm loạn Châu Mã Giang và Châu Mộc, bị quân ta đánh chém chết tù tưởng Man Nữu cùng 20 lính, bắt sống 20 lính, vua Ai Lao đã cử sứ giả sang xin chuộc lại tù binh và hứa xin giữ hòa hiếu, ta đã đồng ý và cho tù binh về nước với hy vọng đem lại hòa bình cho biên giới. Thế nhưng năm 1439, tướng Ai Lao là Nữu Hoa đem 3 vạn quân cấu kết với tù trưởng họ Cầm ở châu Phục Lễ (Lai Châu) nổi loạn, ta đã thân chinh mang quân đi đánh dẹp Hà Tông Lai. Ngày 19 tháng 1 âm lịch năm đó, ta bắt được con của Tông Lai là Tông Mậu, sau đó chém được Tông Lai, từ đó một vùng Tây Bắc mới tắt binh đao khói lửa. Ta và các khanh phải ghi nhớ lời của Lê Thái Tổ: Phải làm cho ơn đức triều đình thấm xuống vùng xa xôi với các dân tộc thiểu số. Đức Lê Thái Tổ đã nhiều lần thân chinh tới Cao Bằng, tới Thuận Châu, tới châu Phục Lễ. Ở đâu sau khi dẹp loạn xong, Người cũng đem chính sách quân điền thi hành, đem no ấm cho bách tính vùng xa xôi, từ đó ổn định biên cương, không cho ngoại bang xâm lấn vì lòng dân đã hướng về triều đình. Vậy nên ta phải thân chinh lần nữa để bách tính thấy triều đình luôn quan tâm, gần gủi họ.
Ngừng một lát Lê Thái Tông nói tiếp:
-Quốc công Lê Liễu nghe lệnh.
Lê Liễu bước ra:
-Bẩm Hoàng thượng, có thần.
-Ái khanh đem 1 vạn quân đi tiên phong lên Mường Muỗi (Thuận Châu) phá giặc.
-Thần tuân chỉ.
-Thái phó Mục Quận công Lê Lôi nghe chỉ.
-Dạ bẩm Hoàng thượng, có thần.
-Khanh đem 1 vạn quân đi hậu quân lên Mường Muỗi phá giặc.
-Thần tuân chỉ.
-Thái úy Quận công Lưu Trung.
-Bẩm Hoàng thượng có thần.
-Thái úy đại tri phủ Lê Luân nghe chỉ. -
Dạ, bẩm Hoàng thượng có thần.
-Hai khanh đem 2 vạn quân cùng trẫm đi trung quân tiến về Mường Muỗi dẹp loạn.
-Chúng thần tuân chỉ.
-Á hầu Hành khiển Nguyễn Trãi nghe chỉ.
-Bẩm Hoàng thượng có thần.
-Khanh hãy cùng Lương Đăng soạn lại nhạc cung đình, vẽ lại mẫu lễ phục cho các quan văn võ, mẫu xe ngựa dùng cho lễ nghi của các cấp quan trong triều đình, khi nào trẫm ở Mường Muỗi về hai khanh trình để trẫm quyết định.
Hoạn quan Lương Đăng và Nguyễn Trãi cùng đáp:
-Chúng thần tuân chỉ.
-Thứ hai Nguyễn Trãi phải cùng một số văn thần chuẩn bị kỳ thi hội vào đầu năm 1442 để lấy Tiến sĩ, Trạng nguyên từ khi triều ta thành lập cho đến nay.
-Thần tuân chỉ.
- Bãi triều.
Sớm hôm sau, ba vạn quân do Lê Thái Tông thống lĩnh bắt đầu hành quân Lên Mường Muỗi. Lê Liễu đi tiên phong, Lê Lôi đi hậu quân, Lưu Trung, Lê Luân đi trung quân cùng Lê Thái Tông. Nhà vua đi trên một chiếc xe có che lụa vàng do hai con ngựa to khỏe màu trắng kéo, trên xe có lọng vàng, trên lọng vàng có lá cờ vàng có chữ soái lớn màu đỏ. Ba quân đi, cờ vàng bay phấp phới, bụi cuốn mù mịt. Tháng ba nắng rực rỡ, đồi núi quanh co uốn lượn hiểm trở, cây rừng trên đồi núi xanh ngát. Đường lên miền Tây Bắc đúng là hùng vĩ nhưng quanh co hiểm trở xa xôi. Đâu đây có tiếng nai kêu, có tiếng tắc kè kêu tếch về, tếch về tiếng vang xa mang tác. Đâu đó, tiếng chảy của những dòng suối, của những thác nước phát ra tiếng nhạc rì rào muôn thuở. Tiếng mõ trâu khua lóc cóc. Những mái nhà màu xám chênh vênh trên những ven đồi tỏa làn khói bếp như sương.
Hành quân được hai ngày, Lê Thái Tông ra lệnh:
-Cho toàn quân nghỉ ngơi ăn uống lấy sức, sáng hôm sau hành quân đánh phiến loạn. Canh phòng cẩn mật đề phòng bị tập kích.
-Tuân lệnh Hoàng thượng.
Toàn quân dừng lại theo đội ngũ hành quân đề phòng bị cướp trại. Mỗi người lính tự đem lương khô là bánh chưng, giò bò, giò lợn, gạo đồ chín để ăn. Sáng hôm sau khi hành quân Lê Thái Tông gọi các tướng Lê Liễu, Lê Lôi, Lưu Trung, Lê Luân và dặn:
-Đạo tiên phong Lê Liễu cho 1.000 quân đi do thám xem có mai phục không, dặn binh sĩ có mai phục thì nằm xuống, ta sẽ đem quân đánh vòng ngoài, các ngươi bên trong đánh ra giặc sẽ chết. Nhớ đem theo cờ soái, xe màu vàng để giặc tưởng xe của ta để chúng tấn công.
Lê Liễu đáp:
-Thần tuân lệnh.
Lê Thái Tông nói tiếp:
-Còn địch không mai phục mà dàn trận thì ta và Lê Lôi sẽ đánh mặt trước, Lê Luân và Lưu Trung tập hậu phía sau.
-Chúng thần tuân chỉ.
-Còn nữa, nếu giặc cố thủ trong doanh trại thì ta đánh mặt trước, Lê Liễu đánh sau lưng, Lê Lôi và Lưu Trung đánh hai hướng còn lại.
-Thần tuân chỉ.
Toàn quân xuất phát theo sự phân công, 1.000 quân đi trước có xe ngựa kéo che vải vàng, trên cao là lọng vàng và cờ vàng có chữ soái màu đỏ, đại quân vẫn theo trật từ tiên phong, trung quân và hậu quân, cờ vàng bay phấp phới, bụi cuốn mù trời. Đi hai dặm nữa thì thám mã về báo:
-Dạ bẩm Hoàng thượng, đã đi qua địa thế hiểm yếu rồi mà không có mai phục.
-Tiếp tục hành quân.
-Tuân lệnh Hoàng thượng.
Đi được hai dặm nữa lại có thám mã về báo:
-Dạ bẩm Hoàng thượng, cách nửa dặm nữa thì tới doanh trại giặc.
Lê Thái Tông suy nghĩ và gọi các tướng ra lệnh:
-Giặc không mai phục và không dàn trận vì quân ít, không tinh nhuệ. Vậy chúng sẽ chờ ta trong đêm nay cướp doanh trại của chúng, còn chúng thì mai phục bên ngoài để bao vây tiêu diệt quân ta. Tướng Lê Liễu nghe lệnh:
-Dạ có thần.
-Tướng quân đem 2.000 quân đêm nay canh ba xông vào trại giặc, nếu trại trống không thì nằm xuống tránh tên đạn, chờ chúng tiến vào thì vùng dậy chiến đấu. Ta sẽ đem quân bên ngoài bao vây, trong đánh ra ngoài đánh vào, giặc Nghiễm phải chết.
-Tuân lệnh Hoàng thượng.
Canh ba núi rừng chìm trong bóng tối mênh mông, Lê Liễu cho 2.000 quân phá cổng xông vào trại giặc. Doanh trại trống không. Một phát tên có lửa bắn lên trời. Lê Liễu hô to:
-Nằm xuống.
Tất cả quân vừa nằm xuống thì những trận mưa tên từ chung quanh bắn vào xối xả. Lê Liễu bắn tên lửa sáng lên cao. Bên ngoài Lê Thái Tông ra lệnh:
-Theo đội hình bao vây xông vào giết giặc.
Ba vạn quân phá rào xông vào từ bốn phía. Trước đó quân giặc Thượng Nghiễm đã lao xuống định tiêu diệt quân Lê Liễu đã lọt vào trại nhưng đã nằm xuống tránh tên, khi giặc lại gần Lê Liễu hô to:
-Đứng dậy giết giặc.
2.000 quân vùng dậy. Vừa khi đó 3 vạn quân do Lê Thái Tông chỉ huy cũng vừa phá cổng tràn vào. Quân giặc bị bao vây, trong đánh ra ngoài đánh vào vỡ trận rối loạn và bị giết gần hết. Trong trại chất chồng đầu rơi máu chảy thây người, 1 vạn phản quân bị giết sau một canh giờ hỗn chiến. Thượng Nghiễm vội vàng mở đường máu trốn thoát. Quân triều đình bắt được tướng Ai Lao là Đạo Mông, bắt được hai con của Thượng Nghiễm là Sinh Tượng và Chàng Đồng. Sáng hôm sau vua Lê Thái Tông đang ngồi trong hành dinh thì có thãm mã vào báo:
- Dạ bẩm Hoàng thượng, có tên Thượng Nghiễm cầm đầu phản loạn muốn xin vào đầu hàng và quy thuận triều đình.
- Cho vào.
- Dạ.
Thượng Nghiễm mặt mày hốc hác, tiều tụy tự trói mình đi vào, khi thấy Lê Thái Tông thì quỳ và lê gối lại gần gục đầu vái lạy:
-Tâu Hoàng thượng, thần biết tội, xin Hoàng thượng tha mạng cho thần và hai con của thần.
Lê Thái Tông nói gay gắt:
-Ta đã tha cho người lần thứ nhất làm phản năm ngoái rồi, nay còn gì mà nói.
Thượng Nghiễm lại rập đầu:
-Xin Hoàng thượng tha mạng, lần này thần thề một lòng trung thành với Hoàng thượng, với triêu đình, nếu còn hai lòng thì xin trời tru đất diệt.
Lê Thái Tông gọi:
-Người đâu.
-Dạ.
-Cỡi trói cho ngài tù trưởng đứng dậy đi.
Sau khi được cỡi trói, Thượng Nghiễm cúi đầu vái tạ:
-Tạ ơn Hoàng thượng không giết, tạ ơn Hoàng thượng tái sinh.
Lê Thái Tông nói:
-Ta tha cho ngươi lần này là lần cuối cùng, không có lần thứ ba. Ngươi đừng cậy đường xa núi hiểm không coi triều đình ra gì. Phải nhớ ơn ta tha mạng mà trung thành. Rõ chưa?
-Thần đa tạ Hoàng thượng, thần đã rõ.
-Ngươi hãy lấy nhân nghĩa mà trông coi bách tính. Hãy coi bách tính ở Mường Muỗi như con em, được dân tình yêu mến kính trọng là hạnh phúc, chứ không phải là hám danh lợi quyền lực rồi mưu phản thì chỉ có con đường chết. Rõ chưa?
-Thần đã rõ, đa tạ Hoàng thượng.
Lê Thái Tông gọi:
-Bay đâu.
-Dạ.
-Thả hết số tù binh vợ và hai con của Thượng Nghiễm, tên người Lào Đạo Mông và vợ con của hắn.
-Dạ, tuân lệnh Hoàng thượng.
Một canh giờ sau, 100 lính của Thượng Nghiêm cùng vợ con của hắn, có cả Đạo Mông được tha. Đám người quỳ rạp cảm tạ:
-Đa tạ Hoàng thượng không giết, đa tạ Hoàng thượng tha mạng.
Lê Thái Tông nói:
-Các ngươi trở về nhà đi. Ta đã bảo Thượng Nghiễm chia ruộng đất cho dân bản, cho các ngươi cày cấy sản xuất mà sinh sống, đừng bao giờ theo kẻ ác mà làm phản triều đình.
-Tạ ơn Hoàng Thượng, chúng thảo dân xin cáo biệt. Hoàng thượng bảo trọng.
Lê Thái Tông lên xe ngựa và kéo quân trở về. 100 người bị bắt được tha và dân bản vài nghìn người đi theo sau khóc lóc đưa tiễn;
-Cáo biệt Hoàng thượng, Hu!Hu!Hu!...
Đoàn quân đi đã xa, trong làn gió bụi phía sau nhà vua vẫn trông thấy họ quỳ theo vái vọng. Lê Thái Tông và quân sĩ nghĩ chân tại Động La, Thẩm Bảo Ké, một hang động tự nhiên ở châu Mường La. Vua và các tướng sĩ cùng đi thăm và đọc lại bài thơ vua đề tựa năm 1440 khi đi đánh dẹp Thượng Nghiễm phản loạn lần thứ nhất tại Mường Muỗi-Thuận Châu Sơn La. Sương gió một năm làm cho bài thơ càng rõ nét trên vách đá. Tựa bài thơ có 14 dòng, mỗi dòng 10 chữ với 140 chữ Hán gọi là “Quế lâm ngự chế” khắc trên một vách đá ở ngay cửa hang động: Dịch nghĩa: Tướng Thuận Châu là Thượng Nghiễm phản nghịch, vong ơn bội nghĩa, đem quân theo người Ai Lao làm phản. Thân chinh điều khiển 6 quân tới trị nó. Thượng Nghiễm kế cùng lực tận, dâng voi xin hàng, bèn tha tội cho nó, rồi đem quân trở về để lại một bài thơ rằng:
Nghĩ tới người xa đêm khổ tâm
Thổ tù sao lại dám quen thân.
Thế gian đã có anh hùng chúa
Thiên hạ ai tha kẻ ngịch thần
Đường sá khó khăn đừng cậy hiểm
Hang cùng đã ấm áp hơi xuân
Yên được dân lành, nhơ nhớp hết
Dân xa được ngỏ tấm lòng nhân.
Canh Thân 1440 ngày lành giữa tháng 3.
V.
Đông Kinh tháng 11 năm 1441, gió mùa đông lạnh thốc thổi, mái cung điện của hoàng thành Thăng Long lá vàng rụng đầy, tạo nên một màu vàng úa trên mái ngói rêu phong. Tại cung Thị Triều, đông đủ văn võ bá quan đang tề tựu chuẩn bị vào điện Kính Thiên thiết triều. Một hồi trống vang lên, các quan văn võ lên bậc bước vào điện. Trước cửa điện, hai con rồng đá màu xám vươn cổ lên, oai phong như chào đón các quan. Các quan đứng lặng chờ đợi giữa cung điện rộng lớn đầy rồng đang leo lên những cây cột sơn đỏ. Rồng từ hai tay ngai của ngai vàng lấp lánh uy nghi. Quạn nội thị trên điện hô to:
-Hoàng thượng giá đáo.
Từ cửa trái của điện, hoàng đế Lê Thái Tông trong trang phục long bào vàng, đội vương miện bước ra. Lên ngôi từ năm 11 tuổi, vua nay đã 19 tuổi. Ba năm nay sau khi giết Nhiếp chính vương Lê Sát và Lê Ngân, vua tự mình trông coi việc triều chính, việc nước, tiếp tục thi hành những chính sách kinh tế văn hóa, chính trị quốc phòng của Tiên Đế Lê Thái Tổ. Về kinh tế, tiếp tục chính sách quân điền, phát triển nông nghiệp, thủ công nghiệp và buôn bán trong nước. Các phường trong kinh đô phát triển mạnh, hai bên bờ sông Tô Lịch buôn bán tấp nập, suốt ngày đêm thuyền bè xe ngựa chở hàng hóa, mua bán tấp nập, nhộn nhịp, khắp Đại Việt được mùa do nông dân có ruộng tư của mình, tự mình chăm sóc, còn nhận thêm ruộng của công xã cày cấy nên một năm hai vụ chiêm mùa bội thu no ấm. Nhà vua cũng đã cho xây dựng quân đội hùng mạnh với nhiều binh chủng tinh nhuệ, gia tăng bảo vệ các vùng biên giới và Tây Bắc xa xôi, đã dẹp tan được các cuộc phản loạn của các tù trưởng. Có nhiều lần vua trẻ thân chinh đi dẹp loạn và thắng lợi trở về. Trông thấy Lê Thái Tông ra, các quan vội quỳ hành lễ:
-Hoàng thượng vạn vạn tuế, vạn tuế.
-Miễn lễ, các ái khanh bình thân.
-Tạ Hoàng thượng.
Lê Thái Tông nói tiếp:
-Nay giáng Lê Nghi Dân từ Hoàng thái tử xuống làm Lạng Sơn vương vì mẹ là Quý phi Dương Thị Bí do thấy con làm thái tử nên kiêu ngạo đã bị giáng làm Chiêu nghi nhưng vẫn chứng nào tật ấy, không coi ai ra gì, nay giáng Dương Thị Bí làm thứ dân và bị đày vào lãnh cung.
-Nay phong Hoàng tử Lê Khắc Xương, con của Bùi Quý nhân làm Gia Tân Bình vương.
-Nay phong Nguyễn Thị Anh làm Thần phi, phong con của Nguyễn Thị Anh là Hoàng tử Lê Bang Cơ mới 6 tháng tuổi làm Hoàng Thái tử. Quan nội thị đọc chiếu chỉ.
-Thần tuân chỉ.
Quan nội thị đọc: “ Đặt Thái tử để vững gốc rễ, lập con đích để chính danh phận. Đó là mưu xa của xã tắc, kế lớn của quốc gia. Hoàng tử Bang Cơ thể chất vàng ngọc, tư thái anh minh, vừa có uy vang của bậc quân vương, lại đúng danh phận là con đích tôn quý. Nay sai Nhập nội Đại đô đốc Lê Liệt (Đinh Liệt) mang sắc mệnh lập làm hoàng Thái tử. Giúp Thái tử có Thái phó Hiển khánh vương Lê Khả (Trịnh Khả), Lê Thụ, Lê Liệt. Niên hiệu Thiệu bình năm thứ 8, 1441. Khâm thử”.
Bá quan văn võ hô to:
-Hoàng thượng anh minh.
Tháng 12 năm 1441, những làn gió lạnh thổi khắp kinh đô Thăng Long và hoàng thành. Hậu cung của các phi tần cung nữ cũng chìm trong giá rét. Cung Trường Lạc đứng trung tâm giữa các cung Vĩnh Ninh, Thiên Đức, Thọ Am Cung, cung Khánh Phương thì đỡ gió lạnh hơn. Trong cung cửa sổ đóng kín mít, các cửa còn che những tấm lụa màu hồng. Có hai lò sưởi bằng đồng to như hai cái chậu đốt than cháy hồng rực, tỏa ra khắp gian phòng lộng lẫy sang trọng, những ngọn nến cắm trên những giá đỡ tròn to bằng cái bát ở các tường tỏa ánh sáng vàng rực rỡ. Ánh sáng làm căn phòng sáng lung linh, hắt bóng những bàn ghế khảm trai sang trọng.
Thần phi Nguyễn Thị Anh bận nhung lụa bên trong, bên ngoài mặc chiếc áo bông bọc nhung. Nom Thần phi thật kiều diễm, đúng là hương trời sắc nước. Bộ tóc dầy đen nhánh búi cao ôm lấy khuôn mặt bầu trái xoan xinh đẹp, nước da trắng như trứng gà bóc, lông mày ôm lấy đôi mắt to trong sáng lúng liếng khôn ngoan. Đôi môi đỏ mọng làn môi như một cánh hoa sắp nở. Chiếc áo lụa bông ôm lấy thân hình lưng ong thắt đáy của Thần phi càng thêm mềm mại tạo dáng sang trọng quý phái và huyền diệu. Sớm nay, Thần phi đang ngồi uống trà sâm sau bữa ăn sáng, hai thị nữ đứng hầu hai bên rót ra chén trà nóng dâng lên và lùi ra xa đứng cúi đầu chờ sai bảo. Một thị nữ bước vào báo:
-Dạ, chúc Thần phi có niềm vui lớn ạ.
-Tin vui gì vậy.
-Dạ, thị nữ nghe sáng nay trong buổi thiết triều, Hoàng thượng đã xuống chiếu phế truất Chiêu nghi Dương Thị Bí làm thường dân và đày vào lãnh cung, phế truất ngôi vị Thái tử của con bà ta là Lê Nghi Dân làm Lạng Sơn vương.
-Thật vậy sao?
-Dạ thật, nhưng tin đáng mừng hơn là Hoàng thượng xuống chiếu phong Bang Cơ nhà ta làm Thái tử, kế vị ngai vàng và do đó quý phi được phong là Thần phi ạ.
Thần phi Nguyễn Thị Anh đặt chén nước xuống vui mừng:
-Thật vậy sao. Thật là tin vui lớn, con ta mới 6 tháng tuổi đã được làm hoàng thái tử. Còn ta mới được đón vào cung chưa đầy năm đã được nhanh chóng làm Thần phi. Đa tạ hoàng thượng, đa tạ trời đất, bõ công ta ngày đêm lo lắng tính toán để làm sao giành được ngôi thái tử cho Bang nhi của ta.
- Nhưng người tính không bằng trời tính, may mắn này của Bang nhi và của ta phần lớn cũng do khách quan. Cuộc đấu tranh trong hậu cung để được Hoàng thượng sủng ái, để hoàng tử được làm thái tử quả là một trận chiến quyết liệt đòi hỏi không chỉ độc ác tàn bạo mà còn cả mưu trí, còn dựa vào sự chuyển biến thuận lợi trong hậu cung. Nguyễn Thị Anh suy nghĩ: Hoàng thượng Lê Thái Tông có 5 vợ chính thức sắc phong và 3 hoàng tử. Thứ nhất là Dương Thị Bí xinh đẹp, được phong Hoàng quý phi và con là Lê Nghi Dân được phong là Hoàng Thái tử. Người vợ thứ hai là Ngô Thị Ngọc Giao, cũng rất kiều diễm nhưng mới về nên được phong là Tiệp dư, người vợ ba là Lê Ngọc Dao, con Lê Sát nhưng sau khi Lê Sát bị giết chết thì Lê Ngọc Dao từ hàng quý phi bị giáng làm thường dân, người vợ thứ tư là Lê Nhật Lệ, con gái đại thần Lê Ngân nhưng sau khi Lê Ngân bị giết thì con gái bị phế xuống làm Tu dung. Còn người vợ thứ 5 là ta...Nguyễn Thị Anh cho đời mình thật là quá may mắn. Trong một lần du xuân ở Lam Kinh để xem phong cảnh với tình nhân Lê Nguyên Sơn, ngẫu nhiên nàng gặp vua Lê Thái Tông. Có lẽ Lê Thái Tông bị sắc đẹp của nàng thôi miên, nhà vua đứng lại hỏi chuyện nàng. Nàng cũng nhìn nhà vua như bị hớp hồn, không ngờ nhà vua quá trẻ, đẹp một cách oai phong dũng lược, còn phú quý vinh hoa thì khỏi phải bàn, nàng còn choáng lộn bởi nét vàng son quyền qúy của triều đình. Nhà vua hỏi:
-Ta định đón nàng vào cung, nàng có thuận không?
Nguyễn Thị Anh vội quỳ:
-Hoàng thượng đã thương thần thiếp xin vâng mệnh.
-Nhà nàng ở đâu, dẫn ta về thưa chuyện với cha mẹ nàng.
-Dạ bẩm Hoàng thượng nhà thần thiếp ở phường Đông Vệ, trấn trị Thanh Hóa.
Nguyễn Thị Anh đưa vua Lê Thái Tông về phương Đông Vệ. Lê Thái Tông thấy đó là một gia đình buôn bán nghèo. Sau khi thưa chuyện với bố mẹ Nguyễn Thị Anh, Lê Thái Tông đưa nàng về hậu cung. Nguyễn Thị Anh bỏ lại người tình ở quê nhà, chỉ mang theo đứa con đã ba tháng trong bụng với tình nhân ở quê nhà, đó là một bí mật không ai biết. Cho nên về được 7 tháng nàng đã sinh ra Lê Bang Cơ. Bí mật này có lẽ chỉ có Đinh Phúc và Đinh Thắng là hai hoạn quan chuyên ghi ngày giờ thị tẩm của cung phi với hoàng thượng để sau này đối chiếu khi sinh đẻ xem có trùng khớp với ngày Hoàng thượng gặp lần đầu hay không.
Dù đã đạt được những thành quả to lớn bước đầu nhưng Nguyễn Thị Anh nghĩ rằng cuộc đấu tranh để giữ ngôi thái tử cho Bang Cơ vẫn còn tiếp diễn, cần phải triệt hạ những cung phi sắp sinh con trai, thứ hai là thủ tiêu tất cả những ai có khả năng rò rỉ tin nàng về hậu cung mới 7 tháng đã sinh Bang Cơ. Trong các hoàng tử ngoài Lê Nghi đã đã bị phế còn một người nữa là Lê Khắc Xương, con của Bùi Quý Nhân, nhưng Lê Khắc Xương không đáng sợ vì hai mẹ con Bùi Quý nhân không được nhà vua sủng ái, cho nên hai mẹ con sống giữ gìn không tranh giành với ai. Có thể phải tìm cách giết hai hoạn quan Đinh Thắng, Đinh Phúc khi hai người này chưa tiết lộ với ai, nhưng hiện nay thì chưa có thời cơ, ta chưa có quyền lực gì.
Nguyễn Thị Anh đang vui mừng thì lại có thị nữ vào báo:
-Dạ, thị nữ có việc cần bẩm báo với Thần phi.
-Việc gì nói ngay.
-Dạ thị nữ dò la công việc của hậu cung theo lời dặn của Thần phi, đã biết được Tiệp dư Ngô Thị Ngọc Giao đã có mang 8 tháng rồi ạ.
-Hả, con trai hay con gái?
-Dạ, thái y nói là con trai ạ. Và nghe nói khi Tiệp dư có thai có ánh hào quang chiếu khắp phòng, hình như tiên trên trời đầu thai ạ.
-Hả.
Cổ họng Nguyễn Thị Anh ngẹn lại vì tức giận, hai mắt long lên sòng sọc. Hai con mắt đẹp khi long lên không còn đẹp nữa mà nom rất tàn ác, nham hiểm. Thần phi nghĩ: Dù sao ngôi thái tử của Bang Cơ đã định nhưng vẫn bị đe dọa. Trong cuộc đấu tranh ở cung đình và hậu cung có gì là chắc chắn đâu. Riêng triều Lê tồn tại mới 13 năm mà hai thái tử đã bị phế truất là Lê Tư Tề, Lê Nghi Dân, biết đâu mai đến lượt Lê Bang Cơ của ta. Không được, ta phải tiêu diệt bằng được đứa con của Tiệp dư Ngô Thị Ngọc Giao chưa ra đời của ả để diệt trừ hậu họa bị cạnh tranh, liền gọi:
-Người đâu.
Thị nữ bước vào quỳ:
-Dạ, Thần phi.
-Đi báo cho Đinh Thắng và Đinh Phúc đến đây.
-Dạ.
Một canh giờ, hai hoạn quan đến quỳ hành lễ:
-Thần phi thiên thiên tuế.
-Miễn lễ, đứng dậy đi.
-Ai gia có việc nhờ hai khanh, ngày mai hoàng thượng sẽ lệnh đem sổ ghi ngày tháng Hoàng thượng gặp Ngô Thị Ngọc Giao thì nói rằng đã quá 10 tháng rồi, rõ chưa.
-Dạ, rõ.
-Bay đâu.
-Dạ.
-Thưởng cho hai nội quan.
-Tuân lệnh.
Thị nữ trao cho Đinh Thắng và Đinh Phúc mỗi người một gói vàng. Hai người nhận và nói:
-Đa tạ Thần phi, chúng thần cáo lui.
Sáng hôm sau, Thần phi cùng một thị nữ đến cung của Lê Thái Tông. Thấy Lê Thái Tông đang ngồi uống tra sau bữa ăn sáng vội quỳ hành lễ:
-Thần thiếp cúi chào Hoàng thượng, Hoàng thượng vạn tuế, vạn tuế.
-Ái phi đứng dậy đi, người nhà miễn lễ.
-Đa tạ Hoàng thượng.
Lê Thái Tông ngắm nhìn Nguyễn Thị Anh. Nàng mới sinh con được 6 tháng mà trông lại đẹp hơn xưa nhiều, thảo nào người đời có câu: “Gái một con trông mòn con mắt”. Lê Thái Tông hỏi:
-Nàng đến thăm ta hay có việc gì không?
-Dạ bẩm thần Thiếp đến thăm hoàng thượng và có việc gấp cần báo.
-Việc gì gấp vậy?
-Dạ bẩm hoàng thượng, thần thiếp nghe nói Tiệp dư Ngô Thị Ngọc Giao có thai 10 tháng rồi mà không sinh. Như vậy thai nhi đó là ma quái đến để làm hại Hoàng thượng, làm hại Bang Cơ, làm hại thần thiếp và triều đình nhà Lê.
Lê Thái Tông hốt hoảng:
-Hả, có thai 10 tháng mà chưa sinh, thật vậy sao?
-Nếu không tin Hoàng thượng cho gọi Đinh Phúc và Đinh Thắng đến hỏi thì biết thời gian Hoàng thượng gặp Tiệp dư.
Lê Thái Tông bảo quan nội thị:
-Người đâu.
-Dạ, Hoàng thượng.
-Khanh đi gọi Đinh Phúc và Đinh Thắng đến gặp ta, bảo đem cả sổ sách ghi ngày ta gặp Ngô Thị Ngọc Giao.
-Thần tuân chỉ.
Một lát sau Đinh Phúc và Đinh Thắng tới, quỳ hành lễ:
-Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.
-Miễn lễ, đứng dậy đi.
-Tạ Hoàng thượng.
-Hai khanh giở sổ ghi chép xem trẫm gặp Tiệp dư Ngô Thị Ngọc Giao được bao lâu rồi.
-Đinh Phúc và Đinh Thắng mỗi người giở một sổ, lát sau hai người cùng bẩm:
-Dạ bẩm Hoàng thượng, được hơn 10 tháng rồi ạ.
-Thái y nói vì sao 10 tháng chưa sinh?
-Dạ, thái ý nói cái thai nom rất khủng khiếp ạ, sẽ sinh ra con quỷ đáng sợ ạ.
-Cho lui.
-Đa tạ, thần xin cáo lui.
Hai nội quan đi rồi, Nguyễn Thị Anh nói:
-Dạ, như vậy là thần thiếp nói không sai. Đêm qua thần thiếp còn mơ thấy thần báo mộng Hoàng tử do Tiệp dư sinh ra sẽ gây ra tai họa khủng khiếp, thần thiếp mơ thấy toàn máu là máu. Thần thiếp vô cùng sợ hãi. Mong Hoàng thượng anh minh, lo liệu cho cơ đồ nhà Lê ta.
Lê Thánh Tông nói:
-Nàng về cung đi, để ta suy nghĩ xem làm thế nào.
-Tạ hoàng thượng, thần thiếp cáo lui.
Khi còn một mình Lê Thái Tông ngồi nhớ lại và suy nghĩ: Ngô Thị Ngọc Giao là con nhà quý tộc tử tế. Nàng là người làng Động Bàng, Yên Định, Trấn Thanh Hóa. Ông nội là Lê Kính, là gia tướng của Lê Khoáng, cha của Lê Thái Tổ, chức Thái phó triều Tiên đế. Cha của Ngô Thị Ngọc Giao là Ngô Từ, tham gia khởi nghĩa Lam Sơn, chuyên vận tải cung cấp quân lương cho nghĩa quân nên được phong chức Thái bảo. Ngô Thị Ngọc Giao có chị gái là Ngô Thị Ngọc Xuân là phi tần của Lê Thái Tông nên nàng hay vào cung thăm chị. Lê Thái Tông bắt gặp, say mê sắc đẹp của nàng, lấy vào cung làm vợ thứ 5. Năm 1440 Ngô Thị Ngọc Giao vào ở cung Khánh Phương. Đó là con nhà quý tộc, có học thức, hiền lành tử tế, sao lại mang quái thai để tiêu diệt triều đình nhà Lê ta được?
-Người đâu.
-Dạ.
-Cho gọi Tiệp dư Ngô Thị Ngọc Giao ở cung Khánh Phương đến đây.
-Dạ.
Một lát sau, Ngô Thị Ngọc Giao đến quỳ hành lễ nhưng rất mệt nhọc khó khăn:
-Thần thiếp xin kính chào Hoàng thượng, hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.
-Đứng dậy đi, nàng có thai được mấy tháng rồi.
-Dạ, đa tạ hoàng thượng quan tâm, Thần thiếp mang long thai được 8 tháng rồi ạ. Hoàng thượng và thần thiếp sắp có tin mừng. Hoàng thượng sắp có thêm một hoàng tử nữa ạ.
Lê Thái Tông có vẻ giận dữ:
-Tin mừng gì, nàng đã mang thai 10 tháng rồi mà không đẻ, đại phu nói thai của nàng trông dữ tợn, là một quái thai sinh ra một con quỷ để làm hại triều Lê ta và hại bá tính.
Ngô Thị Ngọc Giao cả sợ quỳ xuống khóc lóc:
- Không phải, không có, thiếp mới mang thai được 8 tháng nên chưa sinh. Nó sẽ là một Hoàng tử đẹp và anh minh. Xin Hoàng thượng tha cho con của thần thiếp. Hu!Hu!Hu!...
Lê Thái Tông gọi:
-Bayđâu.
-Dạ.
-Gọi hai võ sĩ đến đây.
Một lát hai võ sĩ bước vào và nói:
-Dạ, Hoàng thượng.
Lê Thái Tông ra lệnh:
-Hai ngươi hãy đem ả này ra pháp trường Giảng Võ cho voi giày chết.
-Dạ, tuân lệnh Hoàng thượng.
Hai võ sĩ xốc nách lôi Ngô Thị Ngọc Giao đi. Ngô Thị Ngọc Giao gào khóc.
-Không được, xin Hoàng thượng tha cho con thiếp, nó có tội tình gì đâu. Hu!Hu!Hu!
Vừa khi đó trên con đường chạy qua cửa cung có một chiếc xe ngựa phủ rèm xanh chạy qua. Đi hộ tống chiếc xe khoảng 10 binh sĩ và gia tướng. Đó là xe của quan Đại thần Hành khiển Nguyễn Trãi. Trên xe có Nguyễn Trãi và vợ là Nguyễn Thị Lộ. Hai người nghe tiếng kêu khóc thê thảm, vội vén rèm lên xem thì thấy Tiệp dư Ngô Thị Ngọc Giao đang gào khóc và bị các võ sĩ đẩy lên xe tử tù, đi trước là một con voi có người quản tượng ngồi trên. Đi sau xe tù là kiệu của Lê Thái Tông và quân cấm vệ hàng trăm người. Nguyễn Thị Lộ hỏi một người dân ở gần xe của hai người:
-Ngài có biết đang xẩy ra việc gì không? Sao lại đẩy Tiệp dư của nhà vua lên xe tử tù?
-Dạ bẩm quý bà, nghe nói Hoàng thượng Lê Thái Tông xử Tiệp dư Ngô Thị Ngọc Giao bị tội voi giày vì đã mang quái thai nên 10 tháng mà không đẻ. Cả kinh Thành đang nháo nhác đến pháp trường Giảng Võ để xem hành hình.
Nguyễn Thị Lộ nói với Nguyễn Trãi:
-Bẩm tướng công, Ngô Thị Ngọc Giao là bạn của thiếp, không lẽ thấy chết mà không cứu, hơn nữa đây là chuyện vô lý, chắc Giao bị kẻ nào trong hậu cung vu cáo hãm hại.
Nguyễn Trãi nói:
-Ta hãy đi theo ra pháp trường Giảng võ.
Khi đến nơi người vây kín vòng trong vòng ngoài khu đất rộng của pháp trường Giảng Võ. Ở giữa bãi đất trống, Ngô Thị Ngọc Giao bị trói đang quỳ dưới đất, cách 10 trượng là một con voi to như trái núi, trên lưng có người lính quản tượng đứng chờ lệnh hành hình. Ở bàn kê trên một nền cao, Lê Thái Tông đang ngồi chờ giờ ngọ thì ra lệnh hành hình. Lính tráng quân phục gươm giáo tua tủa đứng vây quanh pháp trường và quanh nhà vua. Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ bước lên nền cao tiến lại gần vua. Lính tráng giơ giáo ngăn lại. Vua Lê Thái Tông trông thấy Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ liền bảo lính:
-Cho vào.
Hai người lính thu giáo. Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ bước vào quỳ hành lễ:
-Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế,
Miễn lễ. Sao hai Ái khanh lại vào đây.
Nguyễn Trãi chắp tay:
-Dạ bẩm Hoàng thượng, thần nghe nói Hoàng thượng hành hình Tiệp dư Ngô Thị Ngọc Giao vì một lời nói vô căn cứ. Họ muốn diệt trừ đi một hoàng tử của ngài, còn lý do vì sao thì Hoàng thượng phải tìm hiểu. Họ còn muốn đẩy Hoàng thượng đến chỗ bất nghĩa vô cớ giết vợ con. Không thể người lại sinh ra qủy, nó là huyết thống dòng máu của Hoàng thượng, sao lại là ma quỷ. Tiệp dư Ngọc Giao không có tội và tội không đáng chết. Nay mong Hoàng thượng tỉnh ngộ kẻo tài anh minh sáng suốt, đức lớn nhân nghĩa sẽ tiêu tan, thiên hạ sẽ không phục thì Hoàng Thượng cai trị làm sao đây.
Nguyễn Thị Lộ, người văn hay lễ nghi giỏi giang được Lê Thái Tông phong làm Lễ nghi học sĩ, chuyên dạy bảo lễ nghi, văn học cho các phi tần cung nữ trong cung, người được Lê Thái Tông vô cùng kính trọng bởi tài đức cũng quỳ xuống và nói:
-Xin Hoàng thượng tha cho Ngô Thị Ngọc Giao tội chết, giáng xuống tội lưu hoặc giam ở một nơi ngoài hoàng thành dù là sinh ra hoàng tử ngỗ ngược cũng không ở trong cung bận tâm tới Hoàng thượng. Biết đâu Tiệp dư sẽ sinh ra một hoàng tử tuấn tú anh tài thì hoàng thượng cũng không ân hận vì đã giết con.
Lê Thái Tông nghe nói như sực tỉnh khỏi cơn ác mộng đập bàn kêu lên:
-Suýt nữa ta phạm một tội ác tầy trời muôn đời không rửa sạch được, mê tín mù quáng, giết vợ con, bất nhân bất nghĩa.
Nhà vua xuống chỉ:
-Nay tha tội bị voi giày cho Tiệp dư Ngô Thị Ngọc Giao nhưng bị tội lưu đày nơi xa, giao cho vợ chồng quan Hành khiển Nguyễn Trãi thi hành án, đem Ngô Thị Ngọc Giao ra khỏi Hoàng thành.
Hàng nghìn bách tính kinh thành vây quanh pháp trường quỳ xuống hô to:
-Hoàng thượng anh minh, Hoàng thượng anh minh.
Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ cũng quỳ xuống:
-Đa tạ Hoàng Thượng, Hoàng thượng anh minh, thần tuân chỉ.
Võ sĩ mở trói cho Ngô Thị Ngọc Giao. Nguyễn Thị Lộ, Ngô Thị Ngọc Xuân (chị gái của Ngô Thị Ngọc Giao) lại đỡ Ngô Thị Ngọc Giao. Ngô Thị Ngọc Xuân, Ngô Thị Ngọc Giao, nữ sĩ Ngô Chi Lan vội quỳ vái Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ:
-Đa tạ đại nhân đã cứu muội muội của chúng tôi. Đa tạ, đa tạ...
Nguyễn Thị Lộ đỡ hai người dậy và nói:
-Đứng dậy đi, xin đừng làm vậy.
Nguyễn Thị Lộ cùng Ngô Thị Ngọc Xuân đỡ Ngô Thị Ngọc Giao lên xe, Khi còn ba người, Nguyễn Thị Lộ nói với Nguyễn Trãi:
-Ta bí mật đem Tiệp dư đến chùa Huy Văn, cách hoàng thành 4 dặm.
Nguyễn Trãi nói:
-Phu nhân cứ thế mà làm đi. Phải cho người canh phòng. Khi Tiệp dư sinh mẹ tròn con vuông thì bí mật đem ra An Bang kẻo bọn muốn giết Tiệp dư dò la được tin tức.
-Đa tạ tướng công, đa tạ.
Tiệp dư Ngô thị Ngọc Giao đến sống ở chùa Huy Văn và ngày 20 tháng 7 năm 1442 bà sinh hoàng tử. Đó là Hoàng tử Lê Tư Thành. Sau này để bảo đảm an toàn cho Tiệp dư và hoàng tử, Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ bí mật đem hai mẹ con ra miền An Bang. Lê Tư Thành lớn lên. Năm 1442 Lê Thái Tông chết đột ngột và Lê bang Cơ lên ngôi lúc 1 tuổi, là Lê Nhân Tông, mẹ là thái hậu Thần Phi Nguyễn Thị Anh nhiếp chính. Năm 1459, Lê Nhân Tông và Thái hậu Nguyễn Thị Anh bị Lê Nghi Dân là con cùng cha khác mẹ với Lê Nhân Tông giết chết. Lê Nghi Dân (con của Dương Thị Bí) lên ngôi xưng là Thiên Hưng đế, được một năm thì năm 1460 bị các đại thần lật đổ giết chết và đưa Lê Tư Thành lên ngôi là Lê Thánh Tông (1460-1497). Đây là vị hoàng đế anh minh tài giỏi bậc nhất trong các hoàng đế Đại Việt của nền quân chủ phong kiến.
Lại nói trong hậu cung Trường Lạc, Thần phi Nguyễn Thị Anh đang uống trà sâm buổi sáng thì thị nữ vào báo:
-Dạ bẩm Thần phi, Hoàng thượng đã đem Tiệp dư Ngô Thị Ngọc Giao cho voi dày nhưng lại đổi thành tội giam, không giết nữa ạ.
Thần phi tức giận:
-Sao Hoàng thượng lại đổi ý như vậy?
-Dạ bẩm, có quan Hành kiển Nguyễn Trãi và vợ là Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ vào tận pháp trường can ngăn ạ.
Thần phi tức giận mắt long lên sòng sọc:
-Nguyễn Trãi, Nguyễn Thị Lộ, các ngươi phá hỏng việc lớn của ta, ta không nuốt trôi mối hận này.
Im lặng một lát Nguyễn Thị Anh hỏi:
-Thế hoàng thượng đưa Ngô Thị Ngọc Giao đi giam ở đâu?
-Dạ Hoàng thượng giao cho Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ tùy ý xử lý, không rõ rõ đưa Tiệp dư đi đâu.
Thần phi đập bàn:
-Đi bảo Đinh Thắng và Đinh Phúc truy lùng cho ra nơi Nguyễn Trãi dấu Ngô Thị Ngọc Giao ở đâu.
-Dạ, tuân lệnh Thần phi.
Nguyễn Trãi biết rằng cứu được mẹ con Ngô Thị Ngọc Giao nhưng như vậy ông đã mua thù chuốc oán sâu sắc với thế lực nào đó muốn giết Ngô Thị Ngọc Giao. Thế lực nào? Nguyễn Trãi suy nghĩ lao lung và ông nghĩ kẻ giết Tiệp dư và Hoàng tử phải được cái lợi rất lớn. Phải rồi hoàng tử có thể trở thành thái tử khi thái tử kia bị phế. Phải rồi, kẻ bày kế giết hoàng tử phải đang là thái tử, sợ thời cuộc biến đổi sẽ bị phế vị trí như là Lê Tư Tề, như là Lê Nghi Dân. Hai vụ phế truất Thái tử của nhà Lê đã khiến kẻ đang ở vị trí thái tử run sợ, phải tìm cách trừ bỏ đối thủ cạnh tranh với mình. Thái tử Lê Bang Cơ mới có 6 tháng tuổi, kẻ chủ mưu là thân mẫu của nó là Thần phi Nguyễn Thị Anh với bọn tay chân gian thần.
Vậy qua sự kiện vì nhân nghĩa, vì lẽ phải này, Nguyễn Trãi đang đối mặt với một thế lực cực kỳ tàn ác, ích kỷ, xảo quyệt, Thần phi Nguyễn Thị Anh và bọn gian thần, kể cả những kẻ không bị gọi là gian thần nhưng cũng im hơi lặng tiếng trước thế lực hung bạo để được thăng quan tiến chức, giữ vững quyền lợi và địa vị của mình. Gương những người bạn chiến đấu của ông như Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo, Lê Ngân bị vu cáo và giết hại đã để cho Nguyễn Trãi bao nhiêu dày vò đau xót. Có lúc ông đã chán ghét cung đình, nơi diễn ra cuộc đấu tranh bè phái tranh giành, đôi khi không còn tình đồng chí, đồng lưu. Năm 1437 ông đã đệ đơn xin về hưu trí. Lê Thái Tông đã đồng ý nhưng rồi năm 1439 lại mời ông ra. Không phải là ông tham quan tham chức vụ quyền lực mà chí của ông là muốn đem chút tài năng lúc sức lực đã gần kiệt tàn để làm cái gì đó vì dân vì nước, làm cho dân được sống ở thời kỳ thịnh trị, để lôi kéo Hoàng thượng còn trẻ khỏi sa vào những trò bất lương mà bọn gian thần bày ra và cuối cùng thành hôn quân, đưa triều đại vào con đường tha hóa và diệt vong. Nhưng như vậy để cứu mẹ con Ngô Thị Ngọc Giao, ông đã bị lôi cuốn vào vòng xoáy đấu tranh bè phái mà ông không muốn. Ông còn nghe nói Lê Bang Cơ không phải là con của Lê Thái Tông vì Nguyễn Thị Anh vào hậu cung được 7 tháng thì đã sinh ra thái tử. Nguyễn Trãi tự hỏi nếu như vậy có thể dùng sự kiện này để phản công lại phe của Nguyễn Thị Anh hay không. Một là để tiêu diệt phe đối thủ, hai là bảo vệ ngôi chính thống của nhà Lê, không sa vào vết xe đổ của nhà Trần khi Dương Nhật Lễ lên nối ngôi. Nhưng vấn đề là Lê Thái Tông có nghe hay không, vì lúc này là lúc Hoàng thượng đang mê đắm Nguyễn Thị Anh hơn lúc nào hết, khó có thể thuyết phục được nhà vua. Còn căn cứ vào sổ ghi ngày tháng Lê Thái Tông gặp Nguyễn Thị Anh khi về cung thì hai hoạn quan Đinh Thắng và Đinh Phúc có chịu đem ra đối chất làm chứng không. Có lẽ là không, vì hai người này đã bị Nguyễn Thị Anh khống chế, mua chuộc, thậm chí còn làm chứng cho Thần phi chứng minh Ngô Thị Ngọc Giao đã có thai 10 tháng mà không sinh với Lê Thái Tông, vậy thì hai hoạn quan này sao lại chịu ra làm chứng cho Nguyễn Trãi. Vả lại khi Bang Cơ được phong làm thái tử thì phe cánh của Thần phi Nguyễn Thị Anh rất mạnh, các quan văn võ đã hoặc đang tìm cách ngã về phe Thần phi, một thế lực sẽ là Hoàng Thái hậu trong tương lai. Sau đó Nguyễn Trãi lại nghĩ rằng có lẽ Lê Thái Tông đã biết điều đó nhưng cho qua, không truy cứu, vả lại vua nào chả mang họ Lê, miễn là sau này Lê Bang Cơ là một vị vua tài giỏi anh minh thì bách tính và nước Đại Việt được nhờ cậy. Việc ông cứu Ngô Thị Ngọc Giao là một việc bất đắc dĩ, không thể không làm, một là cứu hai sinh mạng con người bị vô cớ mà chết, hai là lôi vua ra khỏi vòng u mê. Và như vậy ông biết rằng ông đã tuyên chiến với phe Nguyễn Thị Anh, phe mạnh nhất của triều đình hiện nay. Tai họa đang đến gần nhưng đến như thế nào, đến vào lúc nào? Một thiên tài và một mưu sĩ bậc nhất của khởi nghĩa Lam Sơn, của triều đình, của Đại Việt thời đó mà cũng bó tay không thể dự báo được, không thể giải mã được.
VI.
Tháng 8 năm 1442, dù có những trận mưa bão nhưng tiết trời đã tiến sâu vào mùa thu. Nắng đỡ gay gắt, đỡ chói chang hơn so với tháng 7, bầu trời xanh hơn, lá vàng rụng nhiều hơn để vào tiết đông. Cây cỏ thu mình vào tích lũy sinh lực để bước vào mùa đông. Sớm nay ngày 1 tháng 8 âm lịch niên hiệu Đại Bảo năm thứ tư, vua Lê Thái Tông đi tuần du Đông đạo. Đi trước là 5.000 quân thiết kỵ (cấm vệ), đi sau cũng chừng ấy cẩm y vệ, quân phục màu nâu, gươm giáo sáng lòa, cờ vàng bay phấp phới. Đi giữa hàng quân là xe ngựa phủ lụa vàng, trên che lọng vàng, trên lọng vàng là lá cờ vàng thêu chữ Lê đỏ chói. Lê Thái Tông ngồi trên xe, rèm xe được vén lên để nhà vua ngắm phong cảnh dọc đường. Hai bên đường làng xóm phủ tre, nhãn, mít và nhiều cây khác xanh rờn uốn lượn giữa những cánh đồng vụ mùa lúa xanh mơn mởn. Những dẫy đồi núi Chí Linh Hồng Châu với những dãy núi non trùng điệp của vùng Đông Bắc-An Bang tưởng như kéo dài vô tận. Trên con đường ngắn rãi đá vào thao trường Chí Linh, quan Tổng quản Đông Đạo Lê Bật ra đón nhà vua. Xe của vua đi giữa hai hàng quân của Đông Đạo, quân phục nâu, gươm giáo sáng lòe đứng nghiêm trang tề chỉnh. Các quan viên Đông Đạo đã quỳ hai bên chờ đón vua. Lê Thái Tông bước xuống xe. Quan Tổng trấn Đông Đạo cùng các quan viên hô to:
-Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.
Lê Thái Tông tiến lại gần và nói:
-Miễn lễ, các ái khanh bình thân.
-Tạ hoàng thượng.
Các quan viên Đông Đạo dẫn Lê Thái Tông và các đại thần đi cùng như Đinh Liệt, Lê Bôi, Lê Thụ, Trịnh Khả, Nguyễn Xí đi vào thao trường.
Thao trường là bãi đất rộng mênh mông chung quanh có vây tường gạch cao hai trượng. Nơi đây là bãi cho quân đội miền Đông đạo luyện tập về chiến kỹ thuật chiến đấu. Lê Thái Tông, các đại thần, quanTổng đốc Đông Đạo lên đài cao có che vải đỏ, hướng nhìn xuống thao trường. Một vạn quân ngự lâm đứng dàn quanh đài. Sau khi an tọa, viên Tổng đốc Đông đạo nói:
-Xin kính mời Hoàng thượng xem duyệt binh quân đội miền Đông Đạo.
Lê Thái Tông nói:
-Khanh cho tiến hành đi.
-Dạ, tuân lệnh Hoàng Thượng.
Quan Tổng đốc bảo quan Đề đốc chỉ huy quân sự của đạo:
-Đề đốc cho tiến hành duyệt binh để Hoàng thượng duyệt.
-Dạ, tuân lệnh Tổng đốc.
Viên Đề đốc hô to:
-Toàn quân múa kiếm và các vũ khí khác.
Viên Đề đốc dứt lời, 3 vạn quân cầm kiếm múa những bài kiếm xung trận trong chiến đấu. Trống thúc vang dồn dập. Trong những bộ quân phục màu nâu khỏe mạnh, những thanh niên trai tráng múa những bài võ chiến đấu trên sa trường đẹp mắt. Gươm giáo sáng lóa ánh mặt trời phản chiếu, tỏa ra những ánh hào quang như chớp. Thế của ba quân như rồng bay hổ cuốn, như gió bão sấm chớp. Canh giờ sau múa xong, 3 vạn quân lại vào hàng ngũ chỉnh tề. Lê Thái Tông nói:
-Tốt, quân Đông đạo luyện tập khá lắm.
Viên Tổng đốc đứng dậy cúi mình đáp:
-Đa tạ Hoàng thượng đã khen.
Rồi nói với viên Đề đốc.
-Nói cho ba quân biết Hoàng thượng khen ngợi toàn quân Đông đạo luyện tập tốt.
Sau lời truyền đạt của viên Đề đốc, ba quân hô vang khắp thao trường:
-Đa tạ Hoàng thượng, Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.
Sau đó viên đề đốc ra lệnh cho quân sĩ thao diễn cưỡi ngựa bắn cung, Tiếp đến hai võ tướng võ nghệ cao cường ra tỉ thí với nhau. Đến giờ ngọ thì cuộc duyệt binh của Lê Thái Tông kết thúc. Lê Thái Tông nói với quan Tổng đốc Đông đạo:
-Ái khanh truyền đạt lời khen ngợi của trẫm đến tất cả các binh sĩ, tướng lĩnh miền Đông Đạo. Chúc tướng sĩ rèn luyện tốt để bảo vệ nước nhà.
-Thần tuân chỉ.
Qua chiếc loa lớn, viên Tổng đốc truyền đạt lời khen của Lê Thái Tông đến tướng sĩ. Toàn thao trường lại vang lên tiếng hô như sấm:
-Đa tạ Hoàng thượng, chúc Hoàng thượng vạn tuế vạn vạn tuế.
Sau bữa cơm trưa, Lê Thái Tông nghỉ trong phủ đường quan Tổng Đốc, chiều tiếp tục đàm đạo về tình hình kinh tế, văn hóa, chính trị xứ Đông với quan viên Đông Đạo. Cơm chiều xong vua nghỉ tối tại phủ đường. Sớm hôm sau Lê Thái Tông và các đại thần ăn sáng rồi đi ra sân để về kinh thì thấy một chiếc xe phủ lụa xanh do hai tuấn mã kéo đi vào, theo xe có vài người lính và gia nhân. Lính gác phủ đường ngăn lại thì trên xe bước xuống một đại thần quan văn. Mọi người nhìn ra thì đó là quan Hành khiển Nguyễn Trãi. Nguyễn Trãi thấy Lê Thái Tông vội tiến lại gần quỳ và hành lễ:
-Kính chào hoàng thượng, Hoàng thượng vạn tuế vạn vạn tuế.
Lê Thái Tông nói:
-Miễn lễ, ái khanh đứng dậy đi.
-Đa tạ Hoàng thượng.
Nguyễn Trãi đứng dậy và chắp tay chào Tổng đốc Đông Đạo Lê Bật, các đại thần Đinh Liệt, Lê Bôi,Trịnh Khả, Nguyễn Xí, Lê Thụ:
-Kính chào các đại nhân.
Mọi người chắp tay:
-Đa tạ, kính chào quan Hành Khiển.
Lê Thái Tông hỏi:
-Sao ái khanh lại đến đây, có việc gì chăng?
Nguyễn Trãi chắp tay đáp:
-Dạ bẩm hoàng thượng, nghe nói xa giá về Đông đạo, thần đến chào Hoàng thượng, nhân tiện kính mời Hoàng Thượng và các đại thần quá bộ vào Côn Sơn thăm tệ xá của thần.
-Lê Thái Tông nói:
-Khanh nói trẫm mới nhớ ra, nhà Khanh là ở Côn Sơn, tư dinh của quan Tư đồ Trần Nguyên Đán. Nghe nói Côn Sơn cảnh đẹp có tiếng. Ta sẽ ghé qua thăm.
Nguyễn Trãi đáp:
-Đa tạ Hoàng thượng.
Vua tôi khởi hành đến Côn Sơn, cách Chí Linh khoảng 4 dặm đường, đi qua một con đường rừng râm mát, đến một thung lũng rộng thì đến dinh thự của Nguyễn Trãi. Quân cấm vệ dàn ra đứng vòng trong vòng ngoài. Nguyễn Trãi mời vua và 5 quan đại thần vào gian khách. Đó là gian giữa của một tòa nhà gỗ rộng lớn. Mỗi cây cột lim to hai người ôm. Gian giữa đặt bàn thờ gia tiên, có 4 bàn thờ gỗ gụ đặt liền nhau. Bàn trong cùng to nhất và cao nhất đặt bài vị sơn son thếp vàng óng ánh. Các bàn được đặt bát hương sứ màu trắng có vẽ rồng phượng quấn quanh màu xanh. Cạnh các bát hương đặt những lư hương bằng đồng vàng óng ánh có cắm những bó hương chưa đốt, những đĩa đồng tròn cắm đốt nến khi thờ cúng. Phía trước bàn thờ gian giữa kê một chiếc bàn hình chữ nhật màu gụ rộng lớn khảm hoa văn và ngọc trai. Hai bên bàn kê hai chiếc tràng kỷ cũng gỗ gụ dài bằng chiếc bàn, cũng khắc hoa lá tinh xảo và khảm hoa văn sáng bóng, tinh vi đẹp mắt. Nguyễn Trãi kính cẩn mời Lê Thái Tông ngồi ghế chủ đặt ở đầu bàn bên trong, các đại thần chia nhau ngồi hai bên. Vua Lê Thái Tông ngồi nhìn ra bên ngoài. Ngoài nhà là cái sân rộng, bốn cạnh của sân lát đá cây lá xanh tươi, hoa cúc bên các hàng rào vàng thắm. Phía không xa một cái hồ rộng nước mênh mông sóng gợn trong xanh.
Nguyễn Trãi gọi gia nhân pha trà. Một lát gia nhân đem lên các chén sứ màu nâu và một cái ấm. Gia nhân rót ra bảy chén nước. Nước trà xanh tỏa mùi thơm nức. Nguyễn Trãi kính cẩn mời Hoàng thượng và mời các đại thần. Vua Lê Thái Tông bê nước uống một ngụm và nói:
-Trà xanh nên ngon. Các ái khanh uống đi.
Cả sáu người bê chén và nói:
-Kính mời Hoàng thượng.
Đặt chén xuống Lê Thái Tông hỏi Nguyễn Trãi:
-Ái khanh ở chính khu đất ngày xưa quan Tư đồ Trần Nguyên Đán ở à?
-Dạ bẩm Hoàng thượng, đúng vậy ạ.
-Trẫm nghe nói ngày xưa quan Tư đồ giúp Trần Nghệ Tông diệt Dương Nhật Lễ, khôi phục ngai vàng chính thống nhà Trần, xong việc đưa Trần Nghệ Tông lên ngôi thì ngài xin về ở ẩn. Trần Nghệ Tông đã có vài lần xa giá đến đây nhờ ngài tư vấn về việc triều chính.
Nguyễn Trãi đáp:
-Dạ bẩm Hoàng thượng đúng như vậy ạ.
Thế còn cụ Nguyễn Phi Khanh và Nguyễn Phi Hùng bị quân Minh bắt năm 1407 có khỏe không, nay ở châu nào bên Trung Quốc?
-Dạ bẩm Hoàng thượng, phụ thân Nguyễn Phi Khanh của thần mất ở Trung Quốc, năm 1428, đệ thần là Nguyễn Phi Hùng đã đem di cốt về mai táng ở Côn Sơn này rồi ạ. Còn đệ của thần là Nguyễn Phi Hùng cũng đã mất bên Trung Quốc, có người con đầu đem gia đình về sống Chí Linh này ạ.
Cả bảy người trầm ngâm uống trà tiếp. Chợt Lê Thái Tông hỏi:
-Ta quên mất. Còn Lễ nghi nữ học sĩ Nguyễn Thị Lộ đâu?
-Dạ, bà ấy đang ở nhà dưới.
Lê Thái Tông lại hỏi:
-Khanh có mấy phu nhân, được mấy công tử và tiểu thư thì gọi hết ra đây cho trẫm gặp mặt.
-Dạ, tuân lệnh hoàng thượng.
Nguyễn Trãi gọi:
-Người đâu.
Một gia nhân xuất hiện:
-Dạ.
-Đi mời tất cả các phu nhân và các công tử, tiểu thư ra chào Hoàng thượng và các đại nhân.
-Dạ.
Một lát sau từ cửa ngách của nhà khách đi ra năm phu nhân, bảy công tử và một tiểu thư còn nhỏ. Các phu nhân và các công tử, tiểu thư tiến lại gần bàn uống trà, quỳ xuống và đồng thanh nói:
-Kính chào Hoàng thượng, Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.
Lê Thái Tông nói:
-Miễn lễ, các phu nhân và các công tử tiểu thư đứng cả dậy đi.
-Đa tạ Hoàng thượng. Kính chào các đại nhân.
Năm Đại thần đáp:
-Kính chào các phu nhân, các công tử và tiểu thư.
-Đa tạ các đại nhân.
Các phu nhân, công tử, tiểu thư chưa kịp đứng dậy thì Nguyễn Trãi bước ra nói:
-Bẩm Hoàng thượng, thưa các đại nhân, đây là phu nhân thứ nhất Trần Thị Thành, thứ hai là Phùng phu nhân, thứ ba là phu nhân Nguyễn Thị Lộ đã được gặp Hoàng thượng vào năm 1439 và được hoàng thượng phong làm Lễ nghị học sĩ, chuyên việc trông coi, giáo dục dạy lễ nghi cho các cung nữ, thị tì trong cung, phu nhân thứ tư là Phạm Thị Mẫn. Còn đây là con trai của thần: Nguyễn Khuê, Nguyễn Ứng, Nguyễn Phù do phu nhân Trần Thị Thành sinh ra, đây là con trai của thần Nguyễn Tích, tiểu thư bé Nguyễn Thị Trà do phu nhân Phùng Thị sinh ra, Thần cũng sắp có thêm hai con nữa, không rõ là con trai hay con gái do phu nhân Phạm Thị Mẫn và Lê Thị Phu nhân vài tháng nữa các cháu mới ra đời.
Lê Thái Tông nói:
-Chúc mừng quan Hành khiển đông con cháu. Vậy Quan hành Khiển gặp phu nhân Nguyễn Thị Lộ vào lúc nào?
-Dạ bẩm Hoàng thượng, trước khi thần tham gia khởi nghĩa Lam Sơn, khoảng năm 1415 ở Tây Hồ. Năm nay phu nhân của thần khoảng hơn 50 tuổi.
-Lê Thái Tông khen:
-Phu nhân khá lắm, văn hay chữ đẹp, lễ nghi phép tắc tinh thông, xứng đáng là Lễ nghi học sĩ dạy dỗ phép tắc lễ nghi trong cung.
-Đa tạ Hoàng thượng.
Lê Thái Tông và các đại thần quan sát thấy năm phu nhân tuổi cũng đã lục tuần, xấp xỉ bằng Nguyễn Trãi. Riêng phu nhân Nguyễn Thị Lộ mới khoảng 50 tuổi. Phu nhân này thì Lê Thái Tông không lạ gì. Chính vua đã phong cho bà chức Lễ nghi Học sĩ khi Nguyễn Trãi đưa vào gặp nhà vua năm 1439 khi Nguyễn Trãi được gọi ra làm quan lần thứ hai. Lễ nghi Học sĩ có nhiệm vụ huấn luyện bảo ban cho các cung nữ lễ nghi phép tắc. Nguyễn Thị Lộ vốn người đẹp, văn chương hay, múa hát giỏi, biết mọi lễ nghi phép tắc cung đình. Lê Thái Tông đã chọn đúng người để giao nhiệm vụ khó khăn này cho bà. Từ khi có bà, các cung nữ của cung đình đi vào nề nếp đúng lễ nghi phép tắc, phát huy được tài năng múa hát, làm tốt công việc hầu hạ phục dịch trong cung. Lê Thái Tông nói:
-Tốt quá, chúc các phu nhân, các công tử và tiểu thư sức khỏe.
Các phu nhân và các công tử lại quỳ hành lễ:
-Đa tạ Hoàng thượng, Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.
-Miễn lễ, đứng dậy cả đi.
-Đa tạ Hoàng thượng.
Khi các phu nhân và các công tử, tiểu thứ đã đi vào nhà, Lê Thái Tông nói:
-Ái khanh cho trẫm ra ngoài ngắm cảnh đẹp Côn Sơn một chút.
-Thần tuân chỉ, kính mời hoàng thượng.
Vua Lê Thái Tông và các đại thần bước ra ngoài sân. Không khí mùa thu se lạnh làm mọi người khoan khoái, dễ chịu. Nhà vua nói:
-Phong cảnh ở đây như cảnh thần tiên, đúng là nơi cho cư sĩ ở ẩn thanh thản tâm hồn.
Nguyễn Trãi nói:
-Bẩm hoàng thượng, thưa các đại nhân, nhà thần ở dưới chân núi Ngũ Nhạc, tựa lưng vào núi Tổ Sơ. Hai bên nhà là dãy núi Ngũ Nhạc và Kỳ Lân. Xa xa qua hồ nước đẹp kia là núi Trúc Thôn, núi Phượng Hoàng, núi An Lạc từ gần đến xa. Xa hơn nữa là chùa Côn Sơn (chùa Hun), nơi có dấu tích của vua Đinh Tiên Hoàng. Mùa đông Đinh Tiên Hoàng đến đó rét lạnh nên đốt gỗ làm than sưởi như hun khói nên dân gian gọi là chùa Hun. Chùa Côn Sơn là nơi tu luyện của sư Thiền Quang, tổ thứ ba của phái Trúc Lâm. Xa nữa có đền Kiếp Bạc tọa lạc tại một thung lũng có dãy núi Rồng, là nơi xưa Hưng Đạo Đại Vương đóng quân thời đánh giặc Nguyên-Mông.
Theo tay chỉ của Nguyễn Trãi, vua Lê Thái Tông và các đại thần thấy núi cao núi thấp gối nhau kéo dài quanh co, một màu xanh bị sương giăng tỏa trắng xóa. Mặt hồ như mặt gương mênh mông. Hoa cỏ màu xanh màu vàng, màu tím chen lẫn nhau. Tiếng chuông chùa đâu đây vang lên vọng lại du dương, đánh thức từ bi trên trần thế. Một vài thác nước như lụa trắng vắt qua các đỉnh núi mà trôi theo thời gian. Vài đàn chim cò vạc bay lượn đi về phương nam tránh rét.
Lê Thái Tông nói:
-Phong cảnh đẹp quá, thanh bình quá, yên tĩnh quá. Xưa cụ Trần Nguyên Đán khéo tìm nơi về ẩn mình, tránh xa cuộc thế loạn ly cuối nhà Trần.
Sáu đại thần đều đáp:
- Hoàng thượng anh minh.
Nguyễn Trãi nói:
-Cũng đã trưa rồi, kính mời Hoàng thượng và năm đại nhân về nhà dùng với thần chén rượu nhạt. Riêng về quân ngự lâm, thần cũng đã cho chuẩn bị cơm nước rồi, ngựa cũng đã được gia nhân của thần chăm nom rồi, xin Hoàng thượng yên tâm.
Vua Lê Thái Tông nói:
-Đa tạ quan Hành khiển, ngài chu đáo quá.
Vua và các đại thần về lại phòng khách sớm nay ngồi uống trà. Các gia nhân tấp nập bê các mâm thức ăn, rượu, bát đũa và cốc chén. Nguyễn Trãi sắp bát đũa, chén và rót rượu cho Lê Thái Tông và các đại thần. Lê Thái Tông nói:
-Ăn cơm ở ngoài kinh thành bao giờ cũng thấy ngon. Dạo trẫm thân chinh đi dẹp loạn ở vùng Tây Bắc, ăn lương khô, uống rượu đựng trong bầu làm bằng da bò khô mà vẫn thấy ngon.
Cơm nước xong khi chuẩn bị về kinh đô, vua Lê Thái Tông nói:
- Khi trên đường về kinh đô ta sẽ ghé qua hành cung Lệ Chi Viên. Ở đó có bọn cung nữ và nữ tì. Khanh hãy để cho phu nhân Nguyễn Thị Lộ cùng đi để lên bảo ban dạy dỗ bọn đó cho chúng phục vụ cho tốt.
Nguyễn Trãi đáp:
-Thần tuân chỉ.
Nguyễn Trãi gọi Nguyễn Thị Lộ và dặn:
-Hoàng thượng muốn phu nhân cùng đi với đoàn để lên hành cung Lệ Chi Viên (Gia Bình, Bắc Ninh) để dạy bảo cho các nữ tỳ và cung nữ ở hành cung đó.
Nguyễn Thị Lộ đáp:
-Đa tạ Hoàng thượng, đó là chức trách Lễ nghi học sĩ của thần phải làm.
Quá giờ Ngọ, đoàn xa giá của vua Lê Thái Tông bắt đầu rời nhà Nguyễn Trãi ở Côn Sơn đi về hướng tây bắc. 5.000 quân đi trước, giữa là xa giá của nhà vua. Sau là 5 xe của 5 viên đại thần và xe của Nguyễn Thị Lộ. Tiếp theo là 5.000 cấm quân nữa đi hậu quân. Xế chiều đoàn xa giá tiến vào Lệ Chi Viên. Lệ Chi Viên nằm ở phía tây làng Đại Lai, xã Đại Lai, huyện Gia Bình, trấn Bắc Ninh. Tương truyền khi xưa là trại trồng vải của nhà ông Điểm, sau bị nhà nước phong kiến sung công, biến thành nơi nghỉ của vua quan thời Lý, Trần đến nhà Hậu Lê khi vua quan các triều đại này đi kinh lý xứ Kinh Bắc và vùng Đông Bắc. Cung điện của nhà Lý không còn theo thời gian và biến cố, chỉ còn cung Ly Sơn của nhà Trần, cung Yên Hà của nhà Hậu Lê, thành nơi nghỉ chân của vua quan nhà Hậu Lê.
Ăn cơm chiều xong, vua và năm đại thần từ cung Yên Hà ngắm cảnh chiều của Lệ Chi Viên. Mặt trời đã chếch hẳn về phía tây chỉ còn ló ra đỏ rực trước khi lặn hẳn, hắt lên những ánh hoàng hôn màu tím lên phong cảnh đồng bằng của Bắc Ninh. Xa xa là núi Tam Đảo mờ dần trong bóng tối, phía đông là Côn Sơn Khiếp Bạc xa mờ, một vùng đông bắc núi non cũng trùng điệp mênh mang buồn xa vắng. Thốt nhiên một cơn lốc mạnh xoáy qua, lá cờ vàng của nhà vua cắm dưới sân đổ gục rơi xuống đất. Hai con ngựa đen kéo xe của vua lồng lên gào thét. Mọi người kinh hãi. Vua Lê Thái Tông nói:
-Thôi chúng ta đi đến cung xem các cung nữ múa hát.
-Tuân lệnh Hoàng thượng.
Mọi người đến thì bà Nguyễn Thị Lộ đã tranh thủ chỉ định bài múa hát tối nay để phục vụ Hoàng thượng và các đại thần. Các cung nữ đã trong bộ xiêm y màu xanh đỏ lộng lẫy, son phấn xinh đẹp được Lễ nghi Học sĩ dàn đội hình sẵn sàng biểu diễn. Khi nhà vua và các đại thần đến, bà Nguyễn Thị Lộ và các cung nữ quỳ xuống hô to:
-Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.
Nhà vua nói:
-Miễn lễ, cho biểu diễn đi.
-Tạ Hoàng thượng, tuân lệnh hoàng thượng.
Các cung nữ múa bài “Tiên nữ hái đào ở vườn đào Vương Mẫu”. 20 cung nữ theo điệu nhạc du dương, dưới ánh đèn nến lung linh huyền ảo di chuyển ngửa nghiêng mềm dẻo, khoe những thân hình mềm mại nở nang cực kỳ lộng lẫy xinh đẹp. Tất cả làm cho cung Lệ Chi Viên như cung đình ở Thăng Long. Vua Lê Thái Tông ngồi giữa hai đại thần Nguyễn Xí và Lê Thụ, thốt nhiên nhà vua nói với Lê Thụ:
-Ta mệt quá, gọi thái y nhanh.
Và nhà vua gục xuống vai Lê Thụ. Lê Thụ hoảng hốt cả sợ:
-Đi gọi thái y mau. Hoàng thượng ngất xỉu rồi.
Nhạc tắt đi và đám múa dừng lại, cả hội trường nhốn nháo, hỗn loạn, Bốn cấm vệ quân vội bế Lê Thái Tông về phòng đặt nằm xuống giường. Vừa khi đó thái y vào, ngồi xuống và cầm tay vua bắt mạch. Thái y lắc đầu:
-Mạch quá yếu, rất nguy.
Chợt Lê Thái Tông mở mắt ra nói thều thào:
-Gọi năm đại thần cùng đi vào đây.
-Dạ, chúng thần đã đủ ạ.
Lê Thái Tông lướt qua, hình ảnh năm đại thần Nguyễn Xí, Đinh Liệt, Lê Bôi, Lê Thụ, Trịnh Khả mờ mờ ảo ảo lượt qua mắt nhà vua. Lê Thái Tông dồn hết sức nói thều thào:
-Ta nay số mệnh ngắn, sắp đi về với tiên đế, ta phong năm ái khanh thành đại thần cố mệnh nhiếp chính về kinh phò tá Thái tử Lê Bang Cơ lên nối ngôi. Các khanh hãy hết sức phò trợ thái tử vì sự nghiệp của Tiên Đế, vì xã tắc của nhà Lê. Năm đại thần cúi đầu:
-Chúng thần tuân chỉ, Hoàng thượng anh minh.
Năm đại thần im lặng chờ đợi nhưng vua Lê Thái Tông vẫn im lặng, đầu vẹo sang một bên, thái y nói:
-Nhà vua đã băng hà rồi.
Ngoài cung vang lên tiếng khóc của các cung nữ. Nguyễn Xí hỏi thái y:
-Hoàng thượng sao lại ra đi đột ngột vậy, vì bệnh gì thưa thái y:
Thái y đáp:
-Hoàng thượng ra đi đột ngột có thể vì căn bệnh ở tim hoặc ở não mà không dự đoán trước được, cho dù Tuệ Tĩnh có sống lại cũng đành bó tay thôi.
Lê Bôi hỏi:
-Có dấu tích gì Hoàng thượng băng hà do ngộ độc thức ăn hay bị trúng độc không?
Thái y đáp:
-Dạ bẩm tướng quân hoàn toàn không có. Mồm không ứa máu. Tôi đã khám kỹ rồi, Hoàng thượng mất do lao lực nhiều ngày, làm việc quá sức dẫn tới bạo bệnh.
-Đa tạ đại phu.
-Không dám.
Sau khi đại phu ra rồi, Đinh Liệt nói với bốn đại thần:
-Bây giờ phải bí mật, không được tung tin Hoàng thượng đã băng hà, bí mật đưa long thể về cung, lập thái tử lên ngôi rồi hãy phát tang.
Cả năm đại thần nhất trí:
-Cứ như vậy mà làm đi.
Rồi năm đại thần mặc áo long bào cho vua, đội vương miện, lính cấm vệ đưa thi hài ra xe ngựa, buông rèm vàng xuống, che lọng vàng, dương cờ vàng lên, giữ nguyên đội hình như cũ, im lặng đi về Đông Kinh.
Mãi trưa đoàn xa giá mới về đến hoàng thành. Năm đại thần bảo lính ngự lâm đem xe của nhà vua vào tận hành cung, bế thi hài vua đặt vào long sàng, đắp chăn lại. Sau đó năm đại thần vào gặp Thần phi Nguyễn Thị Anh để báo tang và bàn việc lập thái tử lên ngôi.
Thần phi Nguyễn Thị Anh đang ngồi trong cung uống trà sâm sau bữa ăn trưa thì có thị nữ vào báo:
-Dạ bẩm nương nương, có năm đại thần vừa ở Đông Đạo về muốn vào gặp nương nương.
-Cho mời vào.
Khi năm đại thần bước vào, Nguyễn Thị Anh nhìn thì ra đó là Đinh Liệt, Lê Bôi, Trịnh Khả, Nguyễn Xí, Lê Thụ. Năm đại thần chắp tay:
-Nương nương thiên tuế.
-Miễn lễ, ban ngồi.
-Đa tạ nương nương.
-Các ái khanh đi với Hoàng thượng về Đông Đạo duyệt binh về rồi à, Hoàng thượng có khỏe không?
Cả năm đại thần vội quỳ xuống:
-Chúng thần có tội với thần phi, Hoàng thượng đã đột ngột băng hà ở hành cung Lệ Chi Viên đêm qua rồi ạ.
-Hả, vì sao lại băng hà đột ngột? Đứng dậy đi và nói rõ ràng xem nào? Năm đại thần đứng dậy, Lê Thụ kể lại toàn bộ sự việc từ khi duyệt binh xong, sáng hôm qua vào thăm nhà Nguyễn Trãi ở Côn Sơn, xế chiều thì xa giá đi về hành cung Lệ Chi Viên, ăn cơm chiều xong, tối đang xem ca múa do cung nữ ở hành cung biểu diễn thì Hoàng Thượng ngất xỉu, đem về cung thì băng hà, thái y đến nhưng không cứu được. Thái y nói đó là bạo bệnh do lao lực lâu ngày, làm việc quá sức, gây tổn thương não và tim nên băng hà đột ngột.
Thần phi Nguyễn Thị Anh hỏi:
-Có dấu vết triệu chứng bất thường Hoàng thượng bị đầu độc không?
Bẩm Thần phi, thái y nói hoàn toàn không có dấu vết bị đầu độc.
-Trước khi chết Hoàng thượng có nói gì không?
-Hoàng thượng có nói giao cho chúng tôi làm đại thần cố mệnh, nhận di chiếu đưa Thái tử Bang Cơ lên ngôi kế vị.
-Ngay chiều hôm nay phải đưa thái tử lên ngôi.
-Xin tuân lệnh của Thần phi.
-Các khanh nói xa giá có rẽ qua côn Sơn, Nguyễn Trãi có đi theo không?
-Dạ, không nhưng theo lệnh của Hoàng thượng, phu nhân của Nguyễn Trãi là Nguyễn Thị Lộ đi theo để bảo ban cho cung nữ ở hành cung Lệ Chi Viên tiếp đón Hoàng thượng vì phu nhân là Lễ nghi học sĩ.
Bỗng nhiên đôi mắt của Nguyễn Thị Anh mở long lanh độc ác nhìn năm đại thần:
-Các khanh đi với Hoàng thượng mà Hoàng thượng chết đột ngột trong tay các khanh, các khanh nói bị bạo bệnh là xong sao? Các ông có biết tội của các ông là bị tru di tam tộc không?
Năm đại thần cả sợ:
-Bẩm thần phi, chúng tôi bị oan, chúng tôi không có?
-Các ông có muốn thoát tội không?
-Dạ, muốn, muốn, thưa Thần Phi.
Nguyễn Thị Anh gằn dọng:
-Vậy thì phải tìm người thay thế, đó là Nguyễn Thị Lộ và Nguyễn Trãi.
-Dạ bẩm thần phi, nhưng mà…
Nguyễn Thị Anh ngắt lời:
-Nhưng mà cái gì, các ông có muốn bị liên đới vào vụ này không?
-Dạ, bẩm Thần phi, không muốn.
-Vậy muốn thoát tội phải nói là Nguyễn Thị Lộ đã giết vua và tru di tam tộc nhà Nguyễn Trãi.
Cả năm đại thần cuối cùng do bị Thần phi bức ép đành nói:
-Thần phi anh minh. Chiều nay ở triều đình chúng tôi sẽ nói Nguyễn Thị Lộ giết vua, tru di tam tộc nhà Nguyễn Trãi.
Nguyễn Thị Anh hỏi:
-Nguyễn Thị Lộ về biệt thự ở kinh thành hay về Côn Sơn rồi?
LêBôiđáp:
-Thưa Thần phi, Nguyễn Thị Lộ đi cùng chúng thần về kinh thành.
-Tốt. Quan nội thị đâu:
-Dạ Thần phi.
-Ra lệnh cho quan chỉ huy quân cấm vệ đến tư dinh nhà Nguyễn Trãi trong Hoàng thành bắt Nguyễn Thị Lộ tống giam vào đại lao vì tội giết vua.
-Dạ, tuân lệnh thần phi.
-Khoan đã, Đại thần Trịnh Khả.
-Có thần.
-Khanh hãy viết một tờ nhận tội của Nguyễn Thị Lộ đưa cho quân đi bắt và dùng vũ lực buộc Nguyễn Thị Lộ điểm chỉ vào.
-Tuân lệnh Thần phi.
Trịnh Khả viết xong, Nguyễn Thị Anh cầm và đưa cho nội quan:
-Đưa cho chỉ huy ngự lâm đi bắt Nguyễn Thị Lộ và buộc ả điểm chỉ vào tờ nhận tội này.
-Dạ, tuân lệnh Thần phi.
Nguyễn Thị Anh gọi tiếp:
-Người đâu.
Một thị nữ bước vào:
-Dạ, Thần phi.
-Đi gọi đề đốc chỉ huy cấm quân đến đây.
-Dạ, tuân lệnh Thần phi.
Một lát Đề đốc chỉ huy cấm quân đến:
-Tham kiến Thần phi.
-Khanh hãy đem 5.000 cấm quân về nhà Nguyễn Trãi ở Côn Sơn vây bắt cả nhà và truy tìm ba họ nhà ông ta đem về kinh chờ thi hành án tru di tam tộc vì tội giết Hoàng thượng. Rõ chưa?
-Thần tuân lệnh Thần phi.
- Năm đại thần nên nhớ chiều nay thiết triều có mấy việc, một là tung tin Nguyễn Thị Lộ giết Hoàng thượng, kết án tru di tam tộc nhà Nguyễn Trãi. Thứ hai đưa Thái tử Lê Bang cơ lên ngôi. Thứ ba thái tử mới hơn một tuổi cho nên ta là Hoàng Thái hậu nhiếp chính, thứ tư năm ái khanh sẽ là những đại thần cố mệnh, rõ chưa?
Năm đại thần đáp:
-Thái hậu anh minh, chúng thần tuân lệnh.
Các đại thần đi ra rồi, Thần phi Nguyễn Thị Anh còn ngồi nhâm nhi chén trà sâm, sao chén trà chiều nay ngon lành như vậy? Thần phi ngồi sung sướng nghĩ về mưu cơ hại Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ mà ta vắt óc khổ công tìm tòi mấy năm nay bỗng nhiên cơ may đã đến do cái chết đột ngột của Lê Thái Tông. Nguyễn Trãi ơi là Nguyễn Trãi, đúng là người tính không bằng trời tính. Ai bắt nhà ngươi lại cứu mẹ con Ngô Thị Ngọc Giao, bây giờ ai cứu ngươi, bây giờ nhà ngươi có biết Lê Bang Cơ không phải là con của Lê Thái Tông cũng không thể làm gì ta nữa rồi, ba họ nhà ngươi sắp xuống suối vàng rồi, xuống đó người nói cho ai nghe đây. Một người mưu sĩ bậc nhất của Lam Sơn, tài năng nổi tiếng thiên hạ mà nay phải chết vì ta, một người đàn bà vô học nhưng ta đã chiến thắng vì ta có sắc đẹp và ta tàn bạo độc ác thiên hạ không ai bằng. Ha!Ha!Ha!...Bang Cơ không phải là con Lê Thái Tông, là con của ta với tình nhân ban đầu là Lê Nguyên Sơn. Có sao đâu chứ. Con của chúng ta chiều nay là Hoàng Đế Đại Việt, là Hoàng đế của nhà Lê mà. Có sao đâu chứ. Nó cũng mang họ Lê mà. Tình nhân ban đầu của ta ơi, chiều nay ta đã Thái hậu nhiếp chính của vương triều rồi. Ha!Ha!Ha!
Trưa hôm đó có thị nữ vào báo:
-Dạ bẩm thần phi, có chỉ huy quan cấm vệ muốn vào gặp.
-Cho vào ngay.
-Dạ.
Vừa trông thấy viên chỉ huy cấm vệ, người được giao đi bắt Nguyễn Thị Lộ, Nguyễn Thị Anh vội hỏi:
-Công việc ta giao cho ngươi xong chưa?
-Dạ, bẩm thần phi, thần đã bắt Nguyễn Thị Lộ ở tư dinh và tống giam vào ngục rồi ạ.
Thế ả có nhận tội không?
-Dạ, bà ta kiên quyết không nhận tội dù bị đánh và tra tấn rất đau đớn. Chỉ khi bà ta đau đớn ngất đi thần mới dí mực vào tay và cho điểm chỉ vào tờ khai do Thần phi đưa ạ.
-Ái khanh làm tốt lắm. Nay mai ta sẽ phong lên Đề đốc tướng quân.
Viên chỉ huy quỳ lạy:
-Đa tạ Thần phi.
Chiều hôm đó, trống lớn ở điện Kính Thiên rung lên báo thiết triều khẩn cấp. Văn võ bá quan không biết chuyện gì xẩy ra, vội vã áo mũ lên triều. Khi thiết triều ngai vàng bỏ trống. Mọi người đang ngạc nhiên thì quan nội thị thông báo:
-Nay thông báo cho bá quan văn võ trong triều đình và bách tính được biết, Hoàng đế Lê Thái Tông đi duyệt võ ở Chí Linh, vào nhà Nguyễn Trãi ở Côn Sơn, tối hôm qua về hành cung Lệ Chi Viên thì bị Nguyễn Thị Lộ, vợ Nguyễn Trãi đầu độc và nhà vua đã băng hà khi mới tròn 20 tuổi.
Các quan ồ lên:
-Sao lại như vậy, có chuyện đó sao. Bà ấy và Nguyễn Trãi sao lại giết vua, giết vua làm gì, Nguyễn Trãi và bà ấy đang được Hoàng thượng quý mến trọng dụng mà.
Quan nội thị nói tiếp:
-Nước một ngày không thể không có vua. Trước khi băng hà, Hoàng thượng đã gọi năm quan đại thần có mặt khi đó là Nguyễn Xí, Lê Bôi, Trịnh Khả, Lê Thụ, Lê Lôi đến di mệnh là đưa Hoàng Thái tử Bang Cơ lên kế vị ngai vàng. Mọi người nghe chỉ.
Bá quan văn võ vội quỳ xuống. Quan nội thị đọc:
“ Phụng thiên thừa vận, Hoàng đế chiếu viết, nay chẳng may tiên đế băng hà lúc trẻ tuổi, khi trẫm quá nhỏ nhưng nước một ngày không thể không có vua. Nay trẫm Hoàng thái tử Lê Bang Cơ vì nước, tuân theo mệnh trời, ý muốn của trăm họ lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu là Thái Hòa. Năm 1442 ngày 6 tháng 8 âm lịch là năm Thái Hòa thứ nhất. Lấy Thần phi Nguyễn Thị Anh là Hoàng Thái hậu buông rèm nhiếp chính, lấy năm đại thần là Đinh Lễ, Lê Bôi, Trịnh Khả, Nguyễn Xí, Lê Thụ làm cố mệnh Đại thần. Nay đại xá thiên hạ” Khâm thử. Niên hiệu Thái Hòa năm thứ nhất, 1442”.
Quan nội thị đọc xong, hai thị nữ dìu Nguyễn Thị Anh bế Lê Bang Cơ mới hơn một tuổi ngồi lên ngai vàng. Nguyễn Thị Anh mặc áo vàng, đội vương miện Hoàng Thái hậu, Lê Bang Cơ được mặc chiếc áo bào vàng trẻ con có hai con rồng uốn lượn, đầu cũng châu vào hình tròn đỏ tượng trưng cho mặt trời trước ngực, đầu đội một chiếc vương miện bé. Nguyễn Thị Ạnh bế Lê Bang Cơ ngồi nhìn xuống. Bá quan văn võ vội quỳ hành lễ:
Hoàng thượng vạn vạn tuế, Thái hậu thiên thiên tuế.
Nguyễn Thị Anh nói:
-Miễn Lễ, các ái khanh bình thân.
-Tạ Hoàng thượng, tạ Hoàng Thái hậu.
Khi bá quan văn võ đã đứng dậy, Thái hậu Nguyễn Thị Anh nói:
-Nay để rửa nỗi oan khuất cho Tiên đế Lê Thái Tông, chiểu theo luật mưu hại Hoàng đế, ta thay mặt Hoàng thượng quyết định tru di tam tộc nhà Nguyễn Trãi. Nguyễn Thị Lộ trực tiếp giết Tiên đế trưa này đã bị bắt vào nhà lao và đã nhận tội. Đây là tờ nhận tội của Nguyễn Thị Lộ.
Quan nội thị hãy đọc tờ nhận tội cho bá quan văn võ nghe:
-Tôi là Nguyễn Thị Lộ, Lễ nghi học sĩ, phu nhân thứ tư của quan Hành Khiển Nguyễn Trãi. Tôi đã nghe theo Nguyễn Trãi mà đầu độc giết chết Hoàng thượng Lê Thái Tông ở Lệ Chi Viên. Lý do là vì Nguyễn Trãi có tư thù với Hoàng thượng Lê Thái Tông. Đông Kinh ngày 6 thángg 8 âm lịch 1442. Người khai: Lễ nghi Học sĩ Nguyễn Thị Lộ”.
Nguyễn Thị Anh nói tiếp:
-Như vậy nhân chứng vật chứng đã đầy đủ về sự mưu sát Hoàng thượng Lê Thái Tông ngày 4 tháng 8 âm lịch 1442 ở hành cung Lệ Chi Viên của Nguyễn Thị Lộ, Nguyễn Trãi là gián tiếp âm mưu xui dục giết vua. Nay chiểu theo luật, ta quyết định tru di tam tộc nhà Nguyễn Trãi, rửa hận cho Tiên đế rồi sau đó phát tang để Tiên đế mĩm cười vui lòng nơi chín suối. Nguyễn Thị Lộ đã bị bắt giam vào ngục và đã nhận tội. Ta đã ra lệnh cho Đề đốc chỉ huy quân cấm vệ đem 5.000 quân về Côn Sơn bắt cả nhà và ba họ Nguyễn Trãi về kinh thành ngay đêm nay để hai hôm nữa hành quyết tại pháp trường Giảng Võ. Bãi triều.
Như vậy Lê Bang Cơ lên ngôi, sử gọi là Lê Nhân Tông khi mới hơn một tuổi. Ngày lên ngôi của Lê Nhân Tông cũng là ngày mở đầu cho huyết án Lệ Chi Viên tàn khốc.
Chiều 6 tháng 8 âm lịch, 10 quân cấm vệ bắt Nguyễn Thị Lộ tra tấn bức cung cho bà ngất xỉu và một tên lính cầm ngón tay của bà điểm chỉ vào tờ nhận tội giả do Nguyễn Thị Anh tạo ra. Cùng lúc đó 5.000 quân cấm vệ do Đề đốc chỉ huy được lệnh về Côn Sơn bắt cả nhà và ba họ nhà Nguyễn Trãi. Một người học trò của Nguyễn Trãi ở Đông Kinh là Lê Đạt đã sớm biết tin vua Lê Thái Tông đã chết đột ngột ở hành cung Lệ Chi Viên, phu nhân Nguyễn Thị Lộ bị bắt giam, triều đình kết tội Nguyễn Thị Lộ giết vua và tru di tam tộc nhà Nguyễn Trãi. Người học trò cả sợ, trưa hôm đó liền phi ngựa một mạch từ Đông Kinh về Côn Sơn để báo tin cho Nguyễn Trãi. Nguyễn Trãi thất kinh liền bảo gia nhân:
-Nó kết tội như vậy để giết cả nhà ta và ba họ nhà ta, Ngươi đi báo cho các phu nhân, các công tử nhanh chóng trốn khỏi nhà, đi càng xa càng tốt. Quân triều đình sắp đến bắt rồi đấy, nhanh lên:
-Dạ.
Người gia nhân vừa đi các phòng thông báo thì từ xa đã nghe tiếng ngựa hý quân đi, cát bụi mù mịt. Cả nhà vừa khóc vừa tán loạn. Người học trò chỉ kịp dẫn phu nhân Phạm Thị Mẫn đang mang thai chạy khỏi nhà, chạy khỏi Côn Sơn, vừa khóc vừa chạy về hướng Nam. Vừa lúc đó 5.000 quân cấm vệ ập đến không đọc chiếu chỉ như thông lệ, bao vây nhà và xông vào bắt bớ. Chúng xích tay Nguyễn Trãi và những người trong nhà lôi đi, chủ yếu là các con và các phu nhân của Nguyễn Trãi. Trong cơn tán loạn, Nguyễn Trãi cũng không thể biết được những ai chạy thoát, những người vợ, người con nào bị bắt. Gia nhân cũng sợ hãi chạy tán loạn hết ra ngoài. Sau khi đã thấy hết người, Đề đốc chỉ huy ra lệnh:
-Niêm phong trang viên lại, chờ xử lý sau.
-Tuân lệnh tướng quân.
-Giải hết tù nhân về Đông Kinh nhốt vào đại lao chờ Hoàng thượng và Thái hậu xử lý.
-Tuân lệnh Đề đốc.
Qua mấy ngày truy sát, quân triều đình đã bắt được hàng trăm người thuộc gia đình, gia tộc và ba họ nhà Nguyễn Trãi. Chúng nhốt riêng mỗi người mỗi nơi, vì thế Nguyễn Trãi không thể biết được gia đình, gia tộc những ai bị bắt, những ai chạy thoát. Nguyễn Trãi cho rằng gia đình, gia tộc của ông trốn thoát không nhiều vì Nguyễn Thị Anh ra tay rất nhanh chóng và bất ngờ. Năm nay, ông đã linh tính thấy tai họa sẽ đến nhưng không thể biết được nó đến nhanh lại là đại họa. Tính tình nhân nghĩa của ông và của phu nhân Nguyễn Thị Lộ cứu mẹ con Ngô Thị Ngọc Giao vô tình đã gây nên thảm họa cho gia đình và cho ba họ. Trong nhà tù, Nguyễn Trãi nhớ lại mười năm trời lăn lộn trên chiến trường cứu nước và mười năm lăn lộn với công việc của triều đình và kết cục thật là bi thảm.
Nguyễn Trãi sinh năm 1380, hiệu là Ức Trai, người làng Nhị Khê, huyện Thường Tín, Thăng Long. Cha là Nguyễn Phi Khanh, con rể quan Tư Đồ nhà Trần là Trần Nguyên Đán, mẹ là Trần Thị Thái, trưởng nữ của Chương Quốc thượng hầu Trần Nguyên Đán. Nguyễn Phi Khanh và bà Trần Thị Thái có 5 người con theo thứ tự là Nguyễn Trãi, Nguyễn Phi Báo, Nguyễn Phi Ly, Nguyễn Phi Bằng và Nguyễn Phi Hùng. Bà Trần Thị Thái mất sớm khi Nguyễn Trãi và các em còn nhỏ. Nguyễn Phi Khanh ở gửi rể nhà ông Trần Nguyên Đán nên mấy anh em cùng ở và lớn lên ở nhà ông ngoại. Năm 1390 Trần Nguyên Đán mất. Nguyễn Phi Khanh phải một mình nuôi các con.
Năm 1400 Hồ Quý Ly phế truất vua cuối cùng của nhà Trần là Trần Thiếu Đế, cũng là cháu ngoại của Hồ Quý Ly, lật đổ nhà Trần, lập ra nhà Hồ. Năm 1400 nhà Hồ mở khoa thi Nho học, Nguyễn Trãi thi đỗ Thái học sinh được phong làm Ngự sử đài Chính chưởng. Nguyễn Phi Khanh trước đó thi đỗ Tiến sĩ nhà Trần, năm 1401 Hồ Hán Thương (vua Nhà Hồ) lấy làm Hàn lâm Viện học sĩ. Vậy là hai cha con làm quan cho nhà Hồ.
Năm 1407 giặc Minh đánh bại nhà Hồ, chiếm nước Đại Ngu (Đại Việt). Nguyễn Phi Khanh và Nguyễn Phi Hùng bị giặc Minh bắt sang Trung Quốc. Đại Ngu trở thành thuộc địa của nhà Minh. Tướng giặc Trương Phụ ép Nguyễn Phi Khanh viết thư gọi Nguyễn Trãi ra hàng. Để cứu cha và em, Nguyễn Trãi ra hàng nhưng không hợp tác với quân Minh. Trương Phụ muốn đem ông ra giết nhưng thượng thư Hoàng Phúc thấy mặt mũi Nguyễn Trãi khác thường nên can ngăn và đem giam lỏng ở Đông Quan (Thăng Long), sau đó ông trốn khỏi Đông Quan và trải qua thập niên phiêu dạt nơi chân trời góc biển. Có lần phiêu dạt sang Trung Quốc, có lần ở ẩn ở Côn Sơn. Nguyễn Trãi thấy cần tìm một chân chúa để chống Minh, giải phóng đất nước. Một đêm ngủ ở lầu Trấn Vũ, Nguyễn Trãi mơ thấy thần đến báo, ông liền đi vào Lam Sơn gặp Lê Lợi và tham gia khởi . Trong thời gian phiêu dạt, ông đã hình thành tư tưởng về khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng dân tộc. Chính trong thời gian lưu lạc, ở ẩn ở Chí Linh, ông đã gặp cô bán chiếu xinh đẹp Nguyễn Thị Lộ. Khi đó ông đọc bài thơ để làm quen:
Nàng ở đâu ta bán chiếu gon
Hỏi chăng chiếu ấy hết hay còn
Xuân xanh chừng độ bao nhiêu tuổi
Đã có chồng chưa được mấy con?
Không ngờ cô gái bán chiếu trẻ tuổi, xinh đẹp họa lại:
Thiếp ở Tây Hồ bán chiếu gon
Cớ sao ông hỏi hết hay còn
Xuân xanh chừng độ trăng tròn lẻ
Chồng thì chưa có hỏi chi con.
Nguyễn Trãi yêu mến ngay người con gái tuổi trẻ, giỏi văn thơ, ông liền đón Nguyễn Thị Lộ về làm thiếp. Khi ông tham gia khởi nghĩa Lam Sơn, Nguyễn Thị Lộ sống với những phu nhân của Nguyễn Trãi trước đó ở Côn Sơn.
Năm 1420 tại Lỗi Giang (Lôi Dương) Thanh Hóa, Nguyễn Trãi gặp Lê Lợi và trao cho Bình Định Vương “Bình Ngô Sách” trong đó ông nêu lên 3 phương pháp để đánh giặc Minh: Đánh vào lòng người (công tâm), đánh vào thành lũy, đánh vào quân địch. Ông là tướng văn nên Lê Lợi cho ông ở trong màn trướng cạnh vua, mười năm bày mưu kế cho Bình Định Vương đánh giặc. Ngay bấy giờ Lê Lợi đã phong Nguyễn Trãi làm Tuyên phong Đại phu Thừa chỉ Hàn lâm viện. Ngay buổi đầu gặp nhau từ đó trở đi, ông cùng Lê lợi ngày đêm bàn mưu kế đánh giặc.
Để tuyên truyền thanh thế cho nghĩa quân Lam Sơn, Nguyễn Trãi bày cho Lê Lợi trộn nước cơm với mật mía làm mực viết vào lá cây tám chữ : “ Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần”. Sâu và kiến khoét theo vết nước cơm và mật trên lá tạo thành chữ. Lá rụng trôi theo dòng nước đi khắp nơi, bách tính nhặt được coi đó là thông báo của trời, theo về Lam Sơn khởi nghĩa ngày một thêm đông, tin vào thắng lợi cuối cùng của khởi nghĩa vì đó là ý của trời.
Suốt mười năm kháng chiến, Lê Lợi khi ở miền núi Thanh Hóa, lúc nhiều lắm cũng chỉ có 2.000 người chống với 20 vạn quân Minh bao vây càn quét. Nguyễn Trãi khuyên Lê Lợi chỉ có thể dùng chiến thuật phục kích, mai phục mà đánh quân Minh, buộc chúng phải đánh theo cách đánh của ta, không đánh theo cách đánh của chúng là dàn trận để hỗn chiến. Do đó nghĩa quân dù ít đã đánh thắng quân Minh nhiều trận, tiêu diệt hàng vạn tên địch. Quân Minh dù ở thế chủ động nhưng dần dần lâm vào thế bị động, khiếp sợ lối đánh của nghĩa quân. Thanh thế của nghĩa quân càng thêm vang dội.
Khi đó tướng quân Nguyễn Chích, một thủ lĩnh đã khởi nghĩa ở Nông Cống chống Minh trước cả khởi nghĩa Lam Sơn, năm 1424 ông về với Lam Sơn và khuyên Lê Lợi nên tiến quân vào Nghệ An để mở rộng thế và lực của nghĩa quân. Nghĩa quân giải phóng toàn bộ Nghệ An, quân Minh co vào thành Nghệ An cố thủ. Nguyễn Trãi khuyên Lê Lợi nên tiến vào giải phóng Tân Bình-Thuận Hóa ở phía Nam, phần để mở rộng vùng giải phóng, phần để khi nghĩa quân tiến ra Bắc, không bị giặc đánh tập hậu phía sau. Lê Lợi sai Trần Nguyên Hãn và một số tướng lĩnh khác vào đánhTân Bình-Thuận Hóa, giải phóng được vùng đất này. Quân Minh thua trận phải rút vào thành Tân Bình cố thủ. Thừa thắng nghĩa quân tiến ra giải phóng Thanh Hóa. Quân giặc ở đây thất bại chạy vào thành Tây Đô cố thủ. Như vậy, từ cuộc khởi nghĩa ở địa phương miền thượng du Thanh Hóa, bây giờ khởi nghĩa đã phát triển thành cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, làm chủ toàn bộ miền Trung, quân số đã lên đến 25 vạn người. Nguyễn Trãi bàn với Lê Lợi cho quân ra giải phóng miền Bắc, không cần tập trung quân đánh các thành, chỉ cần cho đủ lực lượng bao vây các thành. Miền Bắc được giải phóng thì các thành bị vây phải đầu hàng. Tại các vùng giải phóng, nghe theo kế Nguyễn Trãi, Lê Lợi đã cho xây dựng chính quyền các cấp của nhà Lê, chia ruộng đất cho nông dân, sau này là chính sách quân điền, thủ tiêu tất cả những chính sách thuộc địa tàn bạo của giặc Minh. Nông dân phấn khởi tham gia khởi nghĩa đưa quân số nghĩa quân năm 1426 lên đến 30 vạn người.
Với thế và lực đó năm 1426, Lê Lợi phái 3 đạo quân, mỗi đạo 2 vạn quân tiến ra đánh Đông Quan và giải phóng miền Bắc. Năm đó vua Minh cử Sơn Thành Hầu Vương Thông mang 5 vạn quân sang cứu viện và thay chức Tổng Binh của Trần Trí. Đến Đông Quan, Vương Thông nhập với 5 vạn có sẵn và đem 10 vạn quân ra phản công tiêu diệt quân Lam Sơn ở phía Tây Đông Quan. Quân Lam Sơn đánh thắng quân Minh một trận lớn ở Ninh Kiều, sau đó mai phục, tiêu diệt 5 vạn quân Minh và nhiều võ quan cao cấp do Vương Thông chỉ huy ở Tốt Động-Chúc Động (Chương Mỹ-Hà Tây), Vương Thông bị thương nặng phải đem tàn quân 5 vạn chạy về cố thủ ở Đông Quan. Quân Lam Sơn bao vây thành Đông Quan.
Từ khi khởi nghĩa cho đến khi nghĩa quân bao vây Đông Quan, Nguyễn Trãi không ngừng viết thư cho quân Minh, vạch rõ tính chất phi nghĩa của cuộc chiến tranh mà quân Minh đang tiến hành ở Đại Việt, kêu gọi quân Minh về với chính nghĩa, mở cửa thành đầu hàng và rút quân về nước để tỏ rõ tình hữu hảo giữa hai dân tộc Việt-Trung. Nhiều thành đã nghe theo và mở cửa thành đầu hàng.
Cuối năm 1427, khi nhận được thư xin cứu viện của Tổng binh Vương Thông, vua Minh Tuyên Tông cử 15 vạn quân tiến sang. Đạo thứ nhất gồm 10 vạn quân do một tướng trẻ là An Viễn hầu Liễu Thăng chỉ huy từ Quảng Tây tiến vào Quỷ Môn Quan ải Chi Lăng Lạng Sơn tiến xuống. Đạo thứ hai gồm 5 vạn quân do Kiềm Quốc công Mộc Thạnh, một tướng già chỉ huy từ Vân Nam tiến vào Lào Cai. Quân Lam Sơn phải đối mặt với 3 khối quân: Thứ nhất đạo 10 vạn của Liễu Thăng, thứ hai đạo 5 vạn quân của Mộc Thạnh, thứ ba, các đạo quân Minh ở các thành và ở Đông Quan đang bị vây: Tây Đô, Cổ Lộng, Chí Linh, Xương Giang (Bắc Giang), Tam Giang (Phú Thọ) tổng cộng còn đến 10 vạn quân. Bây giờ đánh khối quân nào? Nguyễn Trãi bày kế cho Lê Lợi tập trung quân đánh tan đạo quân của Liễu Thăng. Đạo quân này mà bị tiêu diệt thì đạo quân Mộc Thạnh không đánh cũng sẽ tháo chạy, quân ở các thành cũng mở cửa ra hàng vì quân cứu viện không còn. Lê Lợi nghe theo, tập trung quân đánh tan đạo quân của Liễu Thăng. Liễu Thăng bị phục binh quân ta giết chết tại gò Mã Yên, ải Chi Lăng cùng 1 vạn quân. 9 vạn quân còn lại cố tiến vào, bị quân ta phục kích tiêu diệt ở các trận Kép, Cần Trạm, cuối cùng 5 vạn quân còn lại và nhiều võ quan cao cấp bị ta tổng công kích tiêu diệt toàn bộ ở Xương Giang. Đó là chiến dịch Chi Lăng -Xương Giang nổi tiếng trong lịch sử chống ngoại xâm. Đạo quân 5 vạn tên của Mộc Thạnh nghe tin đạo quân Liễu Thăng bị tiêu diệt hoảng loạn tháo chạy về nước, bị các tướng Lam Sơn đuổi đánh, diệt 2 vạn tên ở Đan Xá-Lãnh Câu.
Nguyễn Trãi là mưu sĩ, là quan văn, nhưng khi đó thành Xương Giang bị quân ta vây đánh trong 6 tháng mà không hạ được, đó là thành nằm trên đường tiến quân của địch nên phải tiêu diệt bằng được, không để cho đạo quân Liễu Thăng tiếp quản, có thành trì kiên cố để chống lại quân ta. Nguyễn Trãi xin Lê Lợi ra chỉ huy đánh thành Xương Giang. Ông đã cho huy động thêm quân, điều các khẩu thần công ở các thành mà ta đã chiếm được, đào hầm ngầm. Thành Xương Giang bị súng thần cộng bắn vào như sấm sét, quân Lam Sơn đông gấp bội từ bốn bên đánh vào, từ dưới đất đánh lên. Thành Xương Giang thất thủ, quân Minh còn lại phải đầu hàng. Do đó khi 5 vạn tàn quân của Liễu Thăng do Hoàng Phúc và Thôi Tụ tiến xuống, phải đóng quân ở cánh đồng không hào lũy bị quân ta tổng công kích tiêu diệt.
Sau các chiến thắng của quân Lam Sơn, viện binh không còn, Vương Thông đành phải thực bụng đầu hàng. Lê Lợi cho quân Minh ở các thành bị vây kéo ra Đông Quan hội quân với Vương Thông, thề không bao giờ xâm lược Đại Việt nữa, Lê Lợi cấp lương ăn nước uống cho 15 vạn quân Minh và tha cho về nước. Ngày 4 tháng 12 âm lịch 1427 đất nước sạch bóng quân thù. Năm 1428 Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế, lập ra một triều đại mới, Nhà Hậu Lê. Lê Lợi lấy niên hiệu Thuận Thiên, sử gọi là Lê Thái Tổ. Lê Thái Tổ phong thưởng cho các tướng lĩnh. Tháng 2 năm Thuận Thiên thứ nhất 1428 phong thưởng cho 211 công thần, đợt 2 vào tháng 5 năm Thuận Thiên thứ 2 (1429) gồm 93 người được phong thưởng, trong đó có Nguyễn Trãi, được phong tước Quan Phục Hầu và sau đó là Á hầu.
Nguyễn Trãi nhớ lại ngày ông được Lê Thái Tổ giao cho viết “ Bình Ngô đại cáo”. Có lẽ trong cuộc đời viết thơ văn của ông, chưa bao giờ ông lại phóng bút viết hào sảng, hào hùng như áng văn chương này, khi phách của một dân tộc vừa chiến thắng quân ngoại xâm, giành lại giang sơn gấm vóc sau mười năm gian khổ hy sinh của toàn dân, toàn quân . “Bình Ngô đại cáo” được thiên hạ gọi là bản hùng văn thiên cổ, bản “Tuyên ngôn độc lập” thứ hai sau bài thơ '‘Thần" của Lý Thường Kiệt thời Lý đánh giặc Tống (1076-1077).
Năm 1433 Lê Thái Tổ mất khi mới 49 tuổi, con thứ là Lê Nguyên Long lên nối ngôi, sử gọi là Lê Thái Tông, Niên hiệu Thiệu Bình. Nguyễn Trãi được lệnh soạn bia Vĩnh Lăng trên mộ Lê Thái Tổ ở Lam Sơn, Thọ Xuân, Thanh Hóa. Ngày 3 tháng 12 năm 1434, Lê Thái Tông bổ nhiệm 156 quan chức lớn nhỏ, trong đó có Nguyễn Trãi. Do bất đồng với hoạn quan Lương Đăng trong việc định ra lễ, nhạc, trang phục của triều đình, cuối năm 1437 Nguyễn Trãi xin về nghỉ ở Côn Sơn, định xa lánh cung đình đầy hiểm nguy. Năm 1439 vua Lê Thái Tông lại mời ông trở lại triều đình. Với ý muốn đem tài văn- chính trị ra giúp vua, xây dựng một xã hội vì bách tính, vì xã tắc nên ông lại ra, giữ các chức vụ Vinh Lộc đại phu, Nhập nội Hành Khiển Môn hạ sảnh Tả ty hữu gián nghị đại phu kiêm Hàn lâm viện Thừa chỉ Học sĩ tri tam Quân sự. Tháng 3 năm 1442, ông được chỉ định chấm thị hội, lựa chọn những nhân tài thực sự cho đất nước. Ra làm quan lần hai, tính tình ông vẫn cương trực như xưa là chướng ngại vật của bọn gian thần cả quan văn và quan võ, tham ô hủ bại, cả bọn hoạn quan xu nịnh làm hỏng nhà vua và triều đình. Ông không muốn tham dự vào những chuyện hậu cung nhưng ông và Nguyễn Thị Lộ do nhân nghĩa, thương người đã cứu giúp mẹ con Ngô Thị Ngọc Giao, do đó đã mua thù chuốc oán với Thần phi Nguyễn Thị Anh. Nguyễn Trãi cũng nghe đồn đại rằng Lê Bang Cơ không phải là con của Lê Thái Tông vì Lê Thái Tông đón Nguyễn Thị Anh về được 7 tháng thì sinh Lê Bang Cơ. Nguyễn Trãi đắn đo không biết có nên nói chuyện đó cho Lê Thái Tông hay không? Nói chưa chắc nhà vua sẽ nghe. Vị vua này tuy là anh minh nhưng có nhược điểm là say mê nhan sắc, chứng cớ duy nhất là sổ ghi chép của hai hoạn quan Đinh Thắng và Đinh Phúc, nhưng hai hoạn quan này có chịu đem sổ ra làm chứng không khi không có lệnh của vua Lê Thái Tông. Trên con đường xây dựng một xã hội công bằng, nhân nghĩa, vì bách tính, Nguyễn Trãi biết rằng tai họa chính trị có thể ập xuống đầu ông bất cứ lúc nào. Nhưng đại họa tru di tam tộc thì không bao giờ dự báo được nhất là do cái chết đột ngột của Lê Thái Tông. Nguyễn Trãi cũng không lường được sự tàn bạo của Nguyễn Thị Anh, đã ép và đe dọa năm quan đại thần có mặt ở Lệ Chi Viên buộc họ phải câm lặng không dám nói lên sự thật, có lẽ do lo sợ cho gia đình mình nên thái y khám cho Lê Thái Tông đêm đó cũng không dám lên tiếng. Nguyễn Thị Anh đã dùng quyền lực để trả thù, để ép gia đình ông và ba họ nhà ông vào con đường chết. Ông không ra tay với Nguyễn Thị Anh trước khi ông có thể, như vậy ông đã đặt lòng nhân ái không đúng chỗ. Ông chết cũng không sao. Năm nay ông đã 62 tuổi (1380-1442), nhưng ông thương các phu nhân, các con ông, những người trong họ hàng nhà ông đã vì ông mà chết oan uổng. Không biết có ai chạy thoát được không. Chỉ có phu nhân Phạm Thị Mẫn đang mang thai đứa con thứ bảy của ông được người học trò đưa ra khỏi nhà trước khi quân triều đình đến. Ông tạ ơn người học trò, ơn của trò thầy không bao giờ báo đáp được nữa. Than ôi!!!
Nguyễn Trãi đau xót thở dài, đau xót cho mình và cho thời cuộc, khi các thế lực tàn ác mà thắng thế nắm quyền thì thật tai họa cho bách tính, cho các bậc trung thần. Điều nữa làm ông lo lắng là qua thảm họa này, các trước tác của ông sẽ bị hủy diệt. Ông chỉ còn nhớ được các tác phẩm là Bình Ngô đại cáo, Quốc âm thi tập (Thơ chữ Nôm), Quân trung từ mệnh tập, Dư địa chí, Ức Trai thi tập... Nó không phải là những đứa con tinh thần của riêng ông mà là di sản, là văn hóa của dân tộc.
Ngày 10 tháng 8 âm lịch năm 1442 (Nhâm Tuất), sau khi chuẩn bị xong, triều đình Đông Kinh làm lễ và rước linh cữu vua Lê Thái Tông về Hựu Lăng Lam Kinh Thọ Xuân, Thanh Hóa mai táng, bên tả Vĩnh Lăng-Lăng Lê Thái Tổ. Lê Thái Tông hưởng Thọ 20 tuổi, ở ngôi 9 năm. Văn bia do Hàn lâm viện Thị độc học sĩ Nguyễn Thiên Tích soạn. Triều đình dâng miếu hiệu là Thái Tông, Thụy Hiệu Kế Thiên thế Đạo Hiển đức thánh công Khâm Minh văn tư Anh Duệ, Nhan Triết chiêu Kiến Trung Văn Hoàng Đế.
Lịch sử Thăng Long đã chứng kiến nhiều sự kiện bi thảm trong quá trình tồn tại của mình. Mùa thu ngày 16 tháng 8 âm lịch 1442, kinh thành lại chứng kiến một sự kiện giết hại đại công thần-trung thần bi thảm nhất: Tru di ba họ nhà Nguyễn Trãi với tội danh oan khuất mà không được minh oan, không được điều tra, bị cường quyền áp đặt. Trời hôm đó đã đến giờ ngọ rồi mà vãn còn u tối. Tại Pháp trường Giảng Võ, 400 người nhà trong gia đình và họ hàng nhà Nguyễn Trãi bị trói và bắt quỳ xuống bên cạnh những khúc gỗ tròn to cắm sâu vào đất cao bằng cánh tay, 400 võ sĩ cẩm dao to bản cực sắc đứng cạnh. Trên nền cao, một viên quan có lẽ là Thượng thư Bộ hình ngồi chủ trì buổi hành hình. Chung quanh nền cao của pháp trường, lính tráng cầm giáo dài sáng loáng đứng dày đặc. Dưới thấp dân chúng Thăng Long ra chứng kiến cảnh đau lòng nhất trong cuộc đời của họ. Khi đã đến giờ Ngọ, viên quan chủ trì đứng dậy cầm thẻ bài và hô:
-Đã đến giờ Ngọ, trảm. Viên quan hô và ném thẻ bài xuống, 400 tên đao phủ ngậm rượu phun vào rửa dao của mình, đè tội nhân kê đầu vào khúc gỗ và vung dao bổ xuống, 400 cái đầu rơi xuống, máu phun lên đỏ ối cả bầu trời. Nhân dân kinh thành gào khóc. Cùng lúc đó trời bỗng nhiên nổ sấm chớp rồi mưa như trút nước. Một cụ già nói:
-Trời cũng căm thù nổi giận cho sự tàn ác của Hoàng Thái hậu và khóc than cho Nguyễn Trãi và ba họ của ông.
Một cụ khác nói:
-Biết đến bao giờ có một ông vua anh minh rửa nỗi oan này cho đại công thần Nguyễn Trãi và ba họ của ông? Tàn ác quá, than ôi!!!
Bên cạnh hai cụ già có đến hàng vạn bách tính Thăng Long quỳ xuống kêu khóc. Họ lầm rầm cầu khấn Thiên lôi hãy đánh vào cung Trường Lạc, giết chết mụ thái hậu Nguyễn Thị Anh dã man, tàn ác.
Đối với người dân Thăng Long và Đại Việt, ngày 16 tháng 8 năm 1442 là ngày đau xót mãi không bao giờ nguôi. Họ chịu nỗi đau oan khuất nhất trong lịch sử!!! Dân tình gọi ngày đau xót đó là ngày “Huyết án Lệ Chi Viên !!!”.
Sau ngày hành quyết ghê rợn đó, Thái hậu Nguyễn Thị Anh gần như phát điên, đêm nào cũng mơ thấy những giấc mơ rùng rợn. Bà ta mơ lai lịch của Lê Nhân Tông bị lộ và bị trừng phạt khủng khiếp. Thức dậy, Thái hậu cho người bắt và giết hai hoạn quan là Đinh Phúc và Đinh Thắng, hai viên quan này mới là người đã ghi chép ngày Nguyễn Thị Anh gặp hợp hôn với Lê Thái Tông. Nguyễn Thị Anh cho rằng những ai bị nghi ngờ biết điều bí mật này sẽ phải giết dù đó là khai quốc công thần.
