I.
Sau khi Lê Thái Tông chết đột ngột ở hành cung Lệ Chi Viên, ngày 12 tháng 8 âm Lịch năm 1442, các đại thần cố mệnh là Trịnh Khả, Nguyễn Xí, Lê Thụ, Đinh Liệt, Lê Bôi tôn hoàng thái tử Lê Bang Cơ mới hơn một tuổi lên ngôi, lấy niên hiệu Thái Hòa. Năm 1422 là năm Thái Hòa thứ nhất, sử gọi là Lê Nhân Tông. Lê Bang Cơ được phong thái tử lúc 6 tháng tuổi, khi lên ngôi mới hơn một tuổi nên mẹ là Thần phi Nguyễn Thị Anh được buông rèm nhiếp chính và được tôn là Hoàng Thái hậu.
Đông Kinh tháng tư năm 1446, nắng êm dịu rải xuống khắp nơi, rải vào hoàng thành, bị các tán lá xanh che chắn nên rơi xuống mái cung điện loang lổ. Gió thổi nhẹ làm lá vàng rơi ngày một nhiều trên các mái cung điện, lá rải dầy cả các lối vào trong các cung.
Trong điện Kính Thiên đang có buổi thiết triều. Hoàng đế Lê Nhân Tông 6 tuổi đội vương miện cỡ nhỏ ngồi trên ngai vàng, áo bào cỡ nhỏ màu vàng có hai con rồng đỏ vòng quanh người của vua và trườn ra phía trước ôm lấy hình mặt trời trước ngực, tay cầm một hình nộm làm đồ chơi. Quan nội thị đứng bên cạnh sẵn sàng đỡ nếu hoàng thượng ngã xuống khỏi ngai vàng. Lê Nhân Tông tay cầm hình nộm, tay kia vỗ vào mặt nó và cười. Phía sau một bức rèm thưa nhìn thấy Hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Anh ngồi nhiếp chính. Văn võ bá quan ngồi dưới nhìn và suy nghĩ. Thái hậu nom trẻ và đẹp vì mới 26 tuổi. Từ một thiếu nữ ở phường Đông Vệ, trấn trị Thanh Hóa, con nhà thị dân bình thường, nhờ có sắc đẹp được vua Lê Thái Tông yêu mến đưa vào cung, nay cầm quyền quyết định công việc cả một triều đình hiển hách, cả một đất nước anh hùng quả không phải là một người đàn bà tầm thường. Bà ta là thái hậu thứ hai sau thái hậu Dương Văn Nga cuối thời Đinh được quyền nhiếp chính. Bà ta đã đánh bại những đối thủ con nhà đại thần quý tộc như Dương Thị Bí, Lê Thị Ngọc Dao, Ngô Thị Ngọc Giao, Bùi Quý Nhân, quả là một người đàn bà ghê gớm. Đã quyết án tru di tam tộc nhà Đại thần Nguyễn Trãi, một mưu sĩ bậc nhất trong khởi nghĩa Lam Sơn, một nhà quân sự, chính trị văn học, địa lý âm nhạc, đóng góp to lớn cho chiến thắng của nghĩa quân Lam Sơn, vào xây dựng phát triển văn hóa nước nhà. Nguyễn Thị Anh đã quyết đoán, không cần cho điều tra, xét hỏi, không cần chứng cớ, đe dọa đến mức các Đại thần cố mệnh có mặt ở Lệ Chi Viên chứng kiến nguyên nhân cái chết của vua Lê Thái Tông là do bệnh ác tính cũng im lặng không dám nói nửa lời biện hộ cho đồng lưu, đồng chí của mình, lại còn dùng cực hình để bức cung Nguyễn Thị Lộ. Thật là tàn nhẫn và độc ác. Họ lo sợ, không biết bao giờ thì đến lượt họ đây?
Bá quan văn võ vội quỳ hành lễ:
-Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.
-Thái hậu thiên thiên tuế.
Nguyễn Thị Anh cất tiếng trong trẻo nhưng hách dịch:
-Miễn lễ, các ái khanh bình thân.
-Đa tạ Hoang Thượng, đa tạ Thái hậu.
-Ai có gì tấu, bước ra.
Thiếu phó Trịnh Khắc Phục bước ra:
-Bẩm hoàng thượng, bẩm Thái hậu, thần có tấu.
-Khanh tấu đi.
-Bẩm Hoàng thượng, bẩm Hoàng Thái hậu, ở Hóa Châu phía Nam nước ta, giặc Chiêm Thành liên tục đưa quân quấy phá. Tháng 5 năm 1444 âm lịch, vua nước đó là Bí Cai xua quân vào quấy phá, triều đình đã cử Nhập nội kiểm hiệu Thái bảo Lê Bôi, Tổng quản Trịnh Khả đem 10 vạn quân đánh bại Bí Cai, Bí Cai phải chạy về nước. Tháng 4 âm lịch năm 1445, quân Chiêm Thành lại đánh vào An Dung, Hóa Châu nhưng cũng bị quân ta đánh thua. Mùa xuân năm nay (1446) Bí Cai đem quân cả nước vào Hóa Châu cướp bóc, gây tội ác. Xin Thái hậu và Hoàng thượng cử quân vào đánh dẹp.
Tuyên Từ Thái hậu nói:
-Nhập nội đô đốc bình chương Lê Thụ nghe chỉ.
-Có thần.
-Tổng quản Trịnh Khả nghe chỉ.
-Có Thần.
-Thiếu phó Trịnh Khắc Phục nghe chỉ.
-Bẩm có thần.
Ba ái khanh dẫn 30 vạn quân chinh phạt, đuổi giặc Chiêm Thành khỏi Hóa Châu, nếu cần đuổi đánh tận kinh đô Chiêm Thành để chúng không dám sang quấy nhiễu lần sau nữa.
-Chúng thần tuân chỉ.
Nguyễn Thị Anh nói tiếp:
-Đồng tri Thẩm hình viện sự Trình Chân nghe chỉ.
-Bẩm Thái hậu, bẩm hoàng thượng, có thần.
-Chuyển Vận sứ huyện Thanh Oai nghe chỉ.
-Bẩm Thái hậu, bẩm hoàng thượng, có thần.
-Hai ái khanh đi sứ sang triều Minh thông báo việc Chiêm Thành cử binh sang quấy phá để sau này họ khỏi trách ta cậy nước lớn bắt nạt nước nhỏ.
-Chúng thần tuân chỉ.
Sau mấy ngày chuẩn bị, đoàn quân viễn chinh xuất phát tiến vào Nam. Lê Thụ đi tiên phong, Trịnh Khả đi trung quân, Trịnh Khắc Phục đi hậu quân. Mười ngày sau quân Đại Việt đến Hóa Châu. Trịnh Khắc Phục nói:
-Lê Thụ và Trịnh Khả dẫn 20 vạn quân đến địa giới giữa Đại Việt và Chiêm Thành, chọn vị trí hiểm địa mai phục. Ta sẽ dẫn toàn quân đánh Bí Cai thua trận chạy về sẽ đổ ra đánh để hai tướng lập công.
Lê Thụ và Trịnh Khả nói;
-Kế hay lắm.
Rồi Trịnh Khắc Phục dẫn 10 vạn quân tiến đánh Bí Cai. Bí Cai dàn trận chờ giao chiến. Trịnh Khắc Phục dẫn quân đến, không cần dàn trận, hô to:
-Xông lên giết.
10 vạn quân Đại việt ào ào xông lên chém giết kịch liệt, gươm giáo chạm nhau tóe lửa, máu phun đỏ đất, thây người ngổn ngang chồng chất. 10 vạn quân Chiêm Thành phút chốc bị tiêu diệt 5 vạn, còn 5 vạn quân hoảng sợ tan rã. Bí Cai dẫn tàn quân chạy theo hướng Nam về nước. Đến giáp ranh giữa Chiêm Thành và Đại Việt, gặp con đường nhỏ, hai bên là núi và rừng rậm, cây cối um tùm. Quân Chiêm Thành cố chạy nhanh về nước vì phía sau 10 vạn quân Việt đang như bão táp đuổi theo. Thốt nhiên một phát tên lửa bắn lên trời. Giây lát, hàng vạn mũi tên từ hai bên sườn núi bắn ra xối xả. Hàng vạn quân Chiêm Thành chết, thây chẹn hết lối đi, máu tuôn như suối. Bí Cai do chạy đầu nên thoát khỏi trận địa mai phục chạy về Chiêm Thành với vài nghìn tàn quân. Quân Việt sau khi ngừng bắn tên thì ào xuống chém giết số lính còn lại rồi tiếp tục truy kích. Bí Cai lọt vào thành nhưng vài nghìn quân chưa vào hết nên không đóng được cửa thành. Hàng vạn quân Việt theo sát nút phía sau nên nhanh chóng tràn vào thành chém giết. Bí Cai bị bắt sống cùng toàn bộ triều đình, 10 vạn quân bị tiêu diệt, kinh đô Đồ Bàn thất thủ, tàn quân còn lại hạ vũ khí đầu hàng. Cháu Bí Cai là Ma Ha Quý Lai sai các đại thần là Chế Cửu, Ma Thúc dâng biểu xin thần phục Đại Việt. Ma Ha Quý Lai được đưa làm vua mới của Chiêm Thành. Bí Cai cùng các tướng và các cung nữ bị bắt đưa về Đại Việt. Sau này vua Minh Anh Tông nhà Minh cho sứ giả sang đòi Lê Nhân Tông thả Bí Cai về nước nhưng triều đình Đông Kinh tảng lờ không đáp.
Bấy giờ là tháng 7 năm Tân Mùi, Đông Kinh nóng như trút lửa, ánh nắng chói chang tỏa xuống cây cối, tỏa xuống như muốn nung nóng hoàng thành. Trời trong xanh, các tán lá cây không chút lay động vì không một ngọn gió. Những con ve sầu bám trên những cây cổ thụ kêu lên những bản nhạc nỉ non sầu não.
Hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Anh đang ngồi trong cung Trung Đức uống trà sau bữa cơm trưa. Hai thị nữ đứng hai bên luôn tay quạt, một thị nữ khác rót ra một bát nước trà sâm đặt trên bàn màu gụ. Thái hậu uống một ngụm, vừa đặt chén xuống thì có thị nữ vào báo:
-Dạ bẩm Thái hậu, có quan thái giám muốn vào gặp bẩm việc.
-Cho vào.
Viên thái giám vào quỳ hành lễ:
-Thái hậu thiên thiên tuế.
-Miễn lễ, có gì ái khanh nói đi.
-Đa tạ Thái hậu. Bẩm Thái hậu thần nghe nói hai cha con Trịnh Khả và con là Trịnh Bá Quát kết bè kết đảng có âm mưu làm phản chống lại Thái hậu và Hoàng thượng.
-Bè đảng của Trịnh Khả còn những ai nữa?
-Dạ bẩm còn Trịnh Khắc Phục và con là Trịnh Bá Giai nữa ạ.
-Có đúng không, Trịnh Khắc Phục là cháu gọi Lê Thái Tổ bằng cậu. Ta phải gọi ông ấy là bác, Lê Nhân Tông phải gọi bằng ông theo thứ bậc gia đình, sao lại làm phản?
-Dạ, thần không dám bẩm báo sai.
-Cho ngươi lui, có gì báo ngay, ta sẽ hậu thưởng.
-Đa tạ Hoàng thái hậu.
Đó là một trong những tên thái giám trung thành của Thái hậu, chuyên dò la tin tức cung đình, động tĩnh của các Đại thần để báo cho Thái hậu. Nguyễn Thị Anh suy nghĩ, tin báo thì không biết có chính xác không nhưng ta cũng đã nghe phong phanh là Trịnh Khả và Trịnh Khắc Phục hình như đã biết được gì đó về Lê Nhân Tông, có thể lại là câu chuyện Lê Bang Cơ không phải là con của Lê Thái Tông, nếu đã như vậy thì không thể không giết để trừ hậu họa, dù đó là những đứa con của chị ruột của Lê Thái Tổ, gọi Lê Thái Tổ là cậu. Ta đã giết Nguyễn Trãi, Nguyễn Thị Lộ và ba họ gần 400 người, Đã giết Đinh Phúc, Đinh Thắng cốt để bịt manh mối thì bây giờ phải giết tiếp. Nếu lộ ra thì thật là việc động trời, ngôi báu và địa vị quyền lực của ta sẽ sụp đổ, ba họ nhà ta chắc phải chết. Lê Nghi Dân (Lạng Sơn Vương), con của Lê Thái Tông và Dương Thị Bí còn đó, ai dám bảo đảm rằng các Đại thần không đem nó về thay thế Lê Nhân Tông-con ta.
Hôm sau trong điện Kính Thiên, triều đình đang thiết triều, Lê Nhân Tông 9 tuổi ngồi trên ngai vàng, hai quan nội thị đứng hai bên. Cách xa nửa trượng sau ngai vàng chếch về bên trái vua, Nguyễn Thị Anh buông rèm nhiếp chính. Bá quan văn võ như thường lệ quỳ hành lễ:
-Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.
-Thái hậu thiên thiên tuế.
-Miễn lễ các ái khanh bình thân.
-Tạ Hoàng thượng, tạ Hoàng Thái hậu.
-Ái khanh ai có tấu.
Im lặng.
Thái hậu nói:
-Không ai tấu thì ta hỏi Trịnh Khả.
-Có thần.
-Trịnh Bá Quát.
-Có thần.
-Trịnh Khắc Phục.
-Có thần.
-Trịnh Bá Giai.
-Có thần.
-Có người tố cáo các khanh kết bè kết đảng định làm phản, có đúng không?
Hai khai quốc công thần từng xông pha trận mạc, chưa hề biết run sợ mà bay giờ cũng hoảng hốt. Trịnh Khả nói:
-Muôn tâu hoàng thượng, tâu Thái hậu, đó là những điều bịa đặt. Thần đang được Thái hậu và Hoàng thượng ưu ái, sao lại làm phản được.
-Trịnh Khắc Phục nói:
-Bẩm Hoàng thượng, bẩm Thái hậu, thần bị vu oan. Thần gọi Lê Thái Tổ là cậu ruột, ngai vàng của Lê Nhân Tông cũng là của cháu thần, sao thần làm phản được.
Nguyễn Thị Anh bất chấp những lời kêu oan của bốn người, tiếng xì xào không đồng ý của bá quan văn võ, Thái hậu nói:
-0an ức gì… Bay đâu.
Tám võ sĩ bước vào. Trịnh Khả nói:
-Khoan đã, Thái hậu nói chúng tôi làm phản có chứng cớ gì không?
Thái hậu đuối lý, dùng cách trơ tráo nhất:
-Tạm thời chưa có chứng cớ nhưng các ngươi cũng không thể chối cãi. Bay đâu, tống vào ngục chờ ngày đưa ra pháp trường chém đầu.
Lê Thụ bước ra nói:
-Thần có tấu.
-Tấu đi.
Bẩm thái hậu, bẩm hoàng thượng, Trịnh Khả và Trịnh Khắc Phục là những khai quốc công thần, hiện còn là cố mệnh Đại thần, không thể chém ở pháp trường mà theo luật được chết toàn thây ở tư gia. Mong Thái hậu suy xét.
Có tiếng xì xào: Xưa giết ba họ nhà Nguyễn Trãi cũng không điều tra, không có chứng cớ, tờ nhận tội của Nguyễn Thị Lộ nghe nói đánh cho bà ta ngất rồi dí tay vào điểm chỉ văn bản được viết sẵn, rồi giết Đinh Thắng, Đinh Phúc cũng không cần chứng cớ, rồi cách chức quan đại thần Khai quốc công thần Nguyễn Xí cũng không cần chứng cớ, nay lại kết tội và giết hai Khai quốc công thần, cố mệnh đại thần cũng không cần chứng cớ. Loạn to rồi, loạn to rồi...
-Đúng là bụng dạ đàn bà…
Nguyễn Thị Anh nghe tiếng nhốn nháo xì xào ở dưới, biết là bá quan văn võ đang phản đối ngầm, liền nói với Lê Thụ:
-Ái khanh nói phải lắm. Bay đâu, đưa Trịnh Khả, Trịnh Khắc Phục về tư dinh cho chết toàn thây, tịch thu ruộng đất, tư dinh, tài sản sung công cho nhà nước, vợ con cho làm nô tì. Riêng Trịnh Bá Quát (con Trịnh Khả), Trịnh Bá Giai (con Trịnh Khắc Phục) không phải khai quốc công thần thì tống vào ngục chờ đem ra pháp trường xử chém. Lôi đi.
-Dạ.
Bốn người bị sáu võ sĩ lôi đi, vừa đi vừa hét:
-Mụ đàn bà đắc thế kia độc ác và không có mắt. Mày sẽ bị quả báo. Ta làm ma cũng sẽ có ngày xé xác ngươi.
Nguyễn Thị Anh tức giận quát to:
-Bãi triều.
Bá quan văn võ ra về với vẻ mặt tức giận, hốt hoảng, lo buồn. Trịnh Khả và Trịnh Khắc Phục bị đưa về tư dinh, ngoài nhà có quân canh giữ. Riêng Trịnh Bá Quát và Trịnh Bá Giai bị đưa vào nhà giam chờ ngày chém đầu. Tiếng khóc của vợ con Trịnh Khả mãi khuya vẫn chưa dừng nhưng mọi người mệt và đau buồn quá ngủ thiếp đi trước tai họa giáng xuống bất ngờ, khủng khiếp. Canh ba khi không gian vắng lặng, chỉ còn tiếng gió khua lá xào xạc, vài trận mưa đêm làm những giọt mưa rơi lộp bộp, rả rích càng thê lương. Trịnh Khả ngồi hồi tưởng lại cuộc đời chiến đấu gian khổ mười năm chống giặc Minh, hai mươi năm lăn lộn trong cái triều đình đầy sóng gió của ông…
Trịnh Khả sinh năm 1391 tại làng Giang Đông, xã Sóc Sơn, Vĩnh Hòa, nay là huyện Vĩnh Ninh, Thanh Hóa. Tổ tiên ông làm quan dưới triều đại nhà Trần, từng tham gia cuộc kháng chiến chống Nguyên-Mông xâm lược Đại Việt thế kỷ XIII. Cha Trịnh Khả là Trịnh Quyền làm Chánh tổng, sinh được 4 con trai, Trịnh Khả là con út. Một hôm ông đi chăn trâu bị một tướng nhà Minh bắt về làm nô lệ, sau đó thấy ông tướng mạo mình rồng, mắt hổ, đoán sau này ông sẽ đánh đuổi quân Minh nên tên tướng Minh định giết ông để trừ hậu họa. Trịnh Khả biết được, bỏ trốn qua sông Mã rồi trốn trong nhà bà cô thuộc xã Diễn Phúc. Quân Minh không bắt được Trịnh Khả, chúng bắt cha ông để cha ông khai ra. Trịnh Khả không ra, quân Minh giết cha ông rồi ném xác xuống sông. Trịnh Khả biết tin, đêm tối mò xác cha lên đem chôn cất. Căm thù giặc Minh, ông về Lam Sơn theo Lê Lợi khởi nghĩa chống giặc. Đó là năm 1416. Trịnh Khả là một trong 19 người tham gia hội thề Lũng Nhai. Những ngày đầu khởi nghĩa, Trịnh Khả cùng nhóm Lê Văn Linh (tướng văn) luôn mang gươm theo hầu bảo vệ Lê Lợi, được phong làm Thứ thủ đội Thiết đột. Năm 1418 giặc Minh đào mộ Lê Khoáng là thân sinh Lê Lợi. Lê Lợi sai ông và Bùi Dị đi lấy xác Lê Khoáng về. Ông cùng Bùi Dị đội cỏ lên đầu, áp sát thuyền quân Minh, lấy được hài cốt Lê Khoáng đem về.
Trịnh Khả giỏi tiếng Ai Lao, đã mang thư của Lê Lợi sang nhờ vua Ai Lao giúp vũ khí, lương thực, voi chiến. Trịnh Khả xung trận dũng mãnh ở các lộ Nghệ An-Diễn Châu, lập công to được phong chức thái giám.
Năm 1426, Trịnh Khả cùng các tướng Phạm Văn Xảo, Lý Triện, Đỗ Bị đem 2 vạn quân đánh giặc Minh ở các lộ Tây Bắc Quảng Oai, Gia Hưng, Tam Đái, Lâm Thao, Tuyên Quang, đánh giặc Minh, thu hồi đất đai, đánh quân Minh từ Vân Nam tiến xuống. Sau đó ông đánh bại quân Minh ở Ninh Kiều, đánh bại Đô ty Vân Nam là Vương An Lão, đánh quân Minh ở cầu Xa Lộc cùng Phạm Văn Xảo. Trong khi đó Lý Triện, Đinh Lễ cùng các tướng mai phục phá được 10 vạn quân của Vương Thông ở Tốt Động-Chúc Động. Khi đạo quân của Mộc Thạnh từ Vân Nam kéo sang, Trịnh Khả từ Ninh Kiều lên đón giặc ở cầu Xa Lộc, ngăn chặn không cho tiến xuống hợp với đạo quân Liễu Thăng. Lê Lợi ra lệnh cho Trịnh Khả đánh thành Tam Giang, triệt hạ căn cứ của viện binh địch khi chúng tiến xuống, ông được phong làm Thiếu úy. Sau đó Trịnh Khả vây đánh thành Đông Quan ở phía Đông. Cuối năm 1427 ông cùng Phạm Văn Xảo đuổi theo Mộc Thạnh đang tháo chạy, chém 2 vạn tên, bắt sống 1.000 tù binh. Danh tiếng của Trịnh Khả vang dội cả nước.
Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi lập ra một triều đại mới, xưng là Lê Thái Tổ, lập ra nhà Hậu Lê. Trịnh Khả được phong là Kim Tử Vinh lộc đại phu, Tả lân hổ vệ tướng quân, được ban túi Kim Ngư, nhân phù, xe thượng khinh xa đô úy.
Năm 1429, khi khắc biển công thần, Trịnh Khả được phong là Liệt hầu kiêm An phủ sứ Tuyên Quang, sau đó được phong Hành quân tổng quản xa kỵ quân sự đồng Tổng Quản, quản lĩnh các đội thiết đột (quân cấm vệ).
Năm 1429 theo yêu cầu của vua Ai Lao Cô Côn, Trịnh Khả sang giúp diệt Kha Lại làm phản. Năm 1433 Trịnh Khả được phong Bảo chính công thần gia Kim lộc đại phu Lưỡng Giang Trấn, Quan quân tướng quân, Nhập nội thiếu bảo, Tham tri quân Sự các vệ Trung đạo Hải Tây và chức Thái giám trông coi việc trong ngoài, được ban kim ngân phù. Năm 1434, vua Lê Thái Tông phong ông làm quan Tuyên úy Đại sứ trấn Lạng Sơn coi việc quân dân, lại làm Đồng Tổng quản vệ Nam Sách Hạ. Năm 1437, Lê Thái Tông bãi chức Lê Sát, gọi ông về kinh và giữ chức Tổng Quản hành quân, coi việc quân vệ xa kỵ thuộc Tây Đạo, quản lĩnh quân Thiết đột, Thánh dực hậu đội, chức Thái giám. Coi việc 6 quân ngự tiền, các đội thiết đột trung quân, được phong thêm chức Thiếu bảo, hàm tu chỉnh sự, rồi chức Thiếu úy.
Năm 1443 Lê Nhân Tông còn nhỏ, Thái hậu Nguyễn Thị Anh tự coi chính sự. Trịnh Khả được phong Nhập nội trung tá lý dương, Vũ công thần, kiêm Lỗi Giang Trấn phủ quân Thượng tướng quân, cai quản việc quân các vệ Tây Đạo, tước Quận thượng hầu.
Năm 1446, sau khi đánh bại Chiêm Thành bắt vua Chiêm Bí Cai, Trịnh Khả được phong Suy trung tán dị dương Vũ tĩnh nạn công thần, Thái Nguyên trấn, phiêu kỵ thượng tướng quân, đặc tiến làm Khai phủ Nghi đồng tam ty, Nhập nội thiếu úy, kiêm hiệu Bình chương quân quốc trọng sự, ban kim phù, tước Quốc thượng hầu.
Trịnh Khả và Lê Thụ đứng đầu quan lại trong triều đình. Ông là người thẳng thắn, giữ phép công và chức phận, lấy trách nhiệm sửa lỗi lầm cho vua nhỏ. Trịnh Khả dùng luật pháp rất nghiêm khắc, đã xử án thì không thể xin nới tay.
Vậy mà hôm nay… Trịnh Khả suy nghĩ không biết vì sao Thái hậu lại ra tay với minh, vu oan và khép cho tội chết. Trịnh Khả cho rằng bởi sự dèm pha xúi dục của bọn gian thần rằng ông đã biết cái gì đó về bí mật đời tư của Thái hậu như câu chuyện đồn đại Lê Nhân Tông không phải là con Lê Thái Tông, phần nữa có thể ngày xưa có lần ông đã giúp Ngô Thị Ngọc Giao. Có lẽ cái chết của ông cũng giống với cái chết của Nguyễn Trãi, Nguyễn Thị Lộ bị Nguyễn Thị Anh vu cáo tội giết vua Lê Thái Tông, bị tru di ba họ, chết tới hơn 400 người thật là thảm thương. Ông cũng có mặt ở hành cung Lệ Chi Viên, Lê Thái Tông đang xem múa thì ngã chết trong tay năm đại thần do bạo bệnh. Cái chết của 400 người nhà Nguyễn Trãi không chỉ do Nguyễn Trãi nhân từ cứu giúp mẹ con Ngô Thị Ngọc Giao mà còn do sự hèn nhát của năm quan đại thần có mặt khi đó là Nguyễn Xí, Đinh Liệt, Lê Thụ, trong đó có ông, sợ bị liên lụy, bỏ mặc cho Nguyễn Thị Lộ bị oan và Nguyễn Thị Anh mặc sức hoành hành ngang ngược, tự sắp xếp, vu cáo, bức cung, không điều tra, không chứng cớ, chà đạp luật pháp, đẩy ba họ Nguyễn Trãi đến chỗ chết oan khuất. Trịnh Khả thấy hổ thẹn cho ông, cho tất cả những khai quốc công thần, từng xông pha trận mạc mười năm trời diệt bao vạn quân giặc, lập bao chiến công, không hề run sợ trước hàng trăm nguy hiểm mà nay thời bình run sợ trước cường quyền, chỉ cầu an cho mình và cho gia đình, bỏ mặc cho các chiến hữu, đồng lưu Trần Nguyễn Hãn, Phạm Văn Xảo, Lê Sát, Lê Ngân, Nguyễn Trãi đã chết dưỡi lưỡi dao của cường quyền, của những tính toán chính trị, tranh giành quyền lực. Và nay đến lượt ta và con trai ta cũng không ai bênh vực ta giữa triều đình. Dù không một chứng cớ nào khi kết tội, khi đuối lý, kẻ vu cáo chỉ lấy cường quyền lấn át.
Năm nay, Trịnh Khả đã 60 tuổi, chết không sao nhưng ông lo cho 22 người con, 13 con trai và 9 con gái, con trai trưởng là Trịnh Bá Quát thì cũng bị hành hình cùng ông, còn lại là Đoàn Vũ hầu Trịnh Công Lộ, Đinh công hầu Trịnh Công Đán, Thuận mỹ hầu Đô chỉ huy sứ Trịnh Công Tá, Đoan quận công Tả đô đốc Trịnh Công Khản, Trịnh Lĩnh hầu Trịnh Công Phú, Dương đường hầu Thượng thư Bộ hộ Trịnh Quý Địch, Diên Phúc Bá Trịnh Công Ngô, Thái bảo quốc công Trịnh Công Diễn, Thái phó Thọ quận công Trịnh công Hữu và 9 tiểu thư. Các con ông đều vẻ vang phú quý nhưng trên con đường hoạn lộ đầy chông gai này đâu phải không đáng lo ngại. Trịnh Khả suy nghĩ hồi tưởng miên man thì trời đã sáng. Đó là ngày 26 tháng 7 âm lịch năm Tân Mùi niên hiệu Thái Hòa năm thứ 9, 1451. Gia nhân vào báo:
-Dạ bẩm chủ nhân có người của triều đình tới.
Ông chưa nói gì thì quan nội thị bước vào nhà. Trịnh Khả quỳ tiếp chỉ. Quan nội thị nói:
-Thái hậu có khẩu dụ, cho Trịnh Khả chết toàn thây. Khâm thử.
Tên người hầu đỡ bát thuốc cho Trịnh Khả uống. Những đứa con cháu, các phu nhân và các gia nhân quỳ bên cạnh kêu khóc. Phút sau ông trào máu ra miệng mà chết. Trịnh Công Lộ và Trịnh Công Đán đỡ cha. Tiếng khóc của các phu nhân, của các con vang khắp phủ đường thảm thiết, chấn động phố phường. Dân kinh thành xót thương. Những người đi qua cổng phủ Trịnh đều quỳ xuống vái vọng vào trong phủ.
Cùng sáng hôm đó, tại pháp trường Giảng Võ đao phủ đã chém đầu Trịnh Bá Quát cùng Trịnh Bá Giai.
Trong đêm mà Trịnh Khả thức trắng để hồi tưởng và nhớ lại cuộc đời chiến đấu và tham gia triều chính của ông thì bên phủ Trịnh của Trịnh Khắc Phục, ông thức suốt đêm và hồi tưởng: Trịnh Khắc Phục sinh năm 1400, quê quán ở làng Thủy Chú, xã Xuân Thắng, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa, cha là Trịnh Nhữ Lương, mẹ là quốc trưởng công chúa Lê Ngọc Tiên, chị ruột của Lê Thái Tổ. Cao Hoàng đế là cậu ruột của Trịnh Khắc Phục.
Tháng 2 năm 1428, Lê Thái Tổ khởi nghĩa đánh giặc Minh, giải phóng đất nước. Trịnh Khắc Phục cùng 50 tướng văn võ tham gia. Trịnh Khắc Phục chỉ huy quân thiết đột, chiến đấu ở miền thượng du Thanh Hóa lập được nhiều chiến công. Có một đêm Trịnh Khắc Phục phá được 3 thành của giặc. Năm 1424 nghĩa quân tiến vào giải phóng Nghê An. Trịnh Khắc Phục chiến đấu ở chiến trường này. Khi nghĩa quân tiến ra Bắc, Trịnh Khắc Phục chiến đấu ở mặt trận Giang Bắc, đóng quân trên sông Bồ Đề và qua Đông Đạo đánh giặc. Cuối năm 1427 hai đạo viện binh 15 vạn quân Minh tiến sang chi viện cho Vương Thông, ngày 19 tháng 8 Trịnh Khắc Phục đem 1.000 quân mai phục ở ải Chi Lăng, Lạng Sơn rồi sai Trần Lựu đem quân khiêu chiến giả thua bỏ chạy, Liễu Thăng đuổi theo lọt vào ổ mai phục. Trịnh Khắc Phục và các tướng chém chết Liễu Thăng, Tổng chỉ huy đạo quân tiếp viện 10 vạn tên, mở đầu cho cuộc tập kích, phục kích, tổng công kích tiêu diệt 10 vạn và nhiều võ quan quân Minh trong chiến dịch Chi Lăng-Xương Giang. Đạo quân mộc Thạnh theo đường từ Vân Nam tiến vào khiếp sợ bỏ chạy bị ta truy kích giết 2 vạn tên, bắt sống hàng nghìn tù binh. Quân tiếp viện bị đánh bại, các thành bị vây như Đông Quan đành phải mở cửa đầu hàng, thề rút quân về nước và thề không bao giờ xâm lược Đại Việt.
Đất nước được giải phóng, Trịnh Khắc Phục vâng mệnh Lê Thái Tổ lên biên giới cùng nhà Minh dựng cột đồng phân định biên giới hai nước. Trịnh Khắc Phục được phong tước Tả Kim Ngô vệ Thôi Trung tá lý Dương vũ Công thần, được ban Quốc Tính, sau được phong Bình Chương quân Quốc Binh Bộ thượng thư, Nhập nội hành khiển, tước Sơn ngọc hầu.
Năm 1433 Lê Thái Tổ băng hà, Lê Thái Tông kế vị. Vua còn bé nên nhiếp chính Lê Sát nắm hết quyền. Lê Sát có tư thù với Lưu Nhân Chú, anh em cùng mẹ với Trịnh Khắc Phục, nên Lê Sát bãi chức Nam đạo hành khiển của Trịnh Khắc Phục, giáng làm Đại tông chính.
Tháng 6 năm 1437, Lê Thái Tông giết tư mã Lê Sát, nắm lại quyền hành, phong Trịnh Khắc Phục làm Bắc đạo quân dân vệ tịch.
Vậy mà nay Thái hậu đẩy ông và đứa con đầu Trịnh Bá Giai vào chỗ chết vì tội làm phản mà không có bằng chứng. Ông là con ruột của chị Lê Thái Tổ. Trong quan hệ gia đình, Lê Thái Tông phải gọi ông là huynh, Lê Nhân Tông phải gọi ông là ông bác. Thái hậu cũng phải gọi ông là huynh, vậy mà không nghĩ tình anh em gia đình, nghe lời bọn gian thần, bọn hoạn quan mà giết hại trung thần. Ông có nghe đồn đại Lê Nhân Tông không phải là con của Lê Thái Tông. Dù đó có là thật thì ông cũng không bao giờ nói ra với ai. Có thể Nguyễn Thị Anh giết ông và Trịnh Khả để bịt mối nguy hiểm này. Vu cáo cho ông và Trịnh Khả tội làm phản thì thật là độc ác. Tối hôm 25 tháng 7 các con, cháu, các phu nhân đều về đầy đủ, khi nghe tin ông và phò mã đô úy Trịnh Bá Giai bị xử tử thì cả nhà khóc lóc thảm thương vang cả phủ đường. Trịnh Khắc Phục có 8 con trai và 6 tiểu thư, trưởng nam là Trịnh Bá Giai được phong là Phò mã đô úy vì lấy An Nam công chúa, thứ hai là Trịnh Trọng Ngạn, thứ ba là Trịnh Trọng Phong, thứ tư là Trịnh Phúc Thông, thứ 5 là Trịnh Phúc Tùng, thứ 6 là Trịnh Đại Hưng, thứ 7 là Trịnh Như Sơn, thứ 8 là Trịnh Quý Nham.
Cũng vào buổi sáng ngày 26 tháng 7 năm Tân Mùi 1451, niên hiệu Thái Hòa thứ 9, Thái hậu Nguyễn Thị Anh sai đem cho Trịnh Khắc Phục bát thuốc độc. Cả nhà kêu khóc. Ông uống xong bát thuốc thì ứa máu ở miệng mà chết. Trịnh Trọng Ngạn, Trịnh Trọng Phong đỡ cha. Sau đó đưa ông và cả nhà lên xe ngựa trở lại cố hương, Lam Sơn Thọ Xuân Thanh Hóa vì nhà và tài sản đã đã bị niêm phong để tịch thu cho nhà nước. Ba chiếc xe do ngựa kéo tung gió bụi đường trường trong cảnh đau xót thương cảm của dân kinh thành Đông Kinh. Cùng ngày đó ở pháp trường Giảng Võ, Trịnh Bá Giai cũng bị đao phủ chém đầu cùng Trịnh Bá Quát.
II.
Tháng 11 năm 1453, gió lạnh mùa đông thổi thốc tháo khắp Đông Kinh, khắp hoàng thành. Gió len lỏi qua từng hành lang tường thành cung điện. Lá vàng rơi lả tả xuống các mái cung điện. Hàng trăm đà đao màu xám nhô lên trời xám. Trong Điện kính Thiên hôm nay đang có phiên thiết triều. Bá quan văn võ trang phục triều phục bên trong nhưng bên ngoài phải mặc áo bông. Ngồi trên ngai vàng là hoàng đế Lê Nhân Tông đã 12 tuổi nhưng Thái hậu Nguyễn Thị Anh vẫn buông rèm nhiếp chính ngồi sau. Bá quan văn võ quỳ hành lễ:
-Hoàng thượng vạn vạn tuế.
-Thái hậu thiên thiên tuế.
Thái hậu nói
-Miễn lễ, các ái khanh bình thân.
-Đa tạ Hoàng thượng, đa tạ hoàng Thái hậu.
Hoàng Thái hậu nói:
-Hoàng thượng lên ngôi từ năm hơn một tuổi vì Tiên đế sớm băng hà, từ đó đến nay đã 11 năm. 11 năm nay ta buông rèm nhiếp chính, nhờ các ái khanh giúp đỡ, thiên hạ thái bình vì tuân theo phép nước từ thời cao Tổ Hoàng đế. Nay Hoàng Thượng đã đến tuổi trưởng thành, ta trả lại quyền cho Hoàng thượng để ta trở về hậu cung, không màng chính sự. Mong các ái khanh tiếp tục giúp rập Hoàng thượng để xã tắc vững bền, thiên hạ thái bình mãi mãi.
Các đại thần quỳ xuông hô to:
-Thái hậu anh minh, Thái hậu thiên thiên tuế.
- Đa tạ các khanh, miễn lễ.
Rồi Thái hậu đứng dậy, hai thị nữ dìu ra khỏi điện. Sau khi Thái hậu đi rồi, Hoàng đế Lê Nhân Tông nói:
-Các ái khanh đứng dậy đi.
-Đa tạ Hoàng thượng.
Lê Nhân Tông nói tiếp:
-Nay tự mình chấp chính, ta đổi niên hiệu Thái Hòa thành Diên Ninh. Năm 1454 là năm Diên Ninh thứ nhất. Lệnh đại xá thiên hạ.
Bá quan văn võ nói:
-Hoàng thượng anh minh.
Lê Nhân Tông nói tiếp:
-Trẫm cũng tuyên chỉ nay tăng chức một bậc cho các công thần đã hy sinh thời khởi nghĩa Lam Sơn như Đinh Lễ, Lý Triện đã đánh thắng 10 vạn quân Minh ở Tốt Đông-Chúc Động, tiêu diệt 6 vạn quân trong số 10 vạn, lập nên chiến công lừng lẫy nhưng đã hy sinh ở Đông Quan năm 1427.
-Hoàng thượng anh minh.
-Về thi cử để lựa chọn nhân tài, trước đây kỳ thi năm 1448 dự thi khoảng 750 sĩ tử, lấy đỗ 27 người, tiếp đó là thi đình lấy được 3 đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ như Nguyễn Nghiêu Tư, Trịnh Thiết Tùng, Chu Thiên Uy, 12 đệ nhị Tiến sĩ xuất thân và 12 đệ tam giáp Tiến sĩ xuất thân. Triều Đình sẽ tổ chức thi Hội tiếp để lựa chọn nhân tài cho triều đình, cho đất nước vào năm 1452. Bộ lễ phải chuẩn bị và thông báo cho thiên hạ biết để các sĩ tử về thi.
Thượng thư Bộ lễ bước ra:
-Thần tuân chỉ.
-Tiến sĩ Phan Phu Tiên.
-Dạ bẩm Hoàng thượng có thần.
-Khanh chuẩn bị để viết tiếp bộ Đại Việt sử ký mà Lê Văn Hưu đã viết đời Trần, bộ Quốc sử này cũng mang tên là bộ Đại Việt sử ký, viết bắt đầu từ đời Trần Thái Tông cho đến khi Lê Thái Tổ Cao Hoàng đế đánh bại quân Minh xâm lược.
-Hạ thần tuân chỉ.
Lê Nhân Tông nói Tiếp:
-Nay ta tuyên chỉ khuyến khích sản xuất, miễn giảm thuế khóa cho bách tính. Các quan các trấn, lộ, phủ, huyện phải chăm sóc, coi bách tính như con, khuyên bảo họ chăm lo làm ruộng, các quan xử án phải công bằng, có trộm cướp phải hết sức lùng bắt trừng trị để giữ cuộc sống thanh bình cho bách tính.
-Hoàng thượng anh minh.
-Trẫm cũng tuyên chỉ cứu giúp những kẻ không vợ, không chồng, mồ côi cô đơn và biểu dương những người chồng nghĩa khí.
-Hoàng thượng anh minh.
Lê Nhân Tông gọi:
-Nhập nội Tư đồ bình chương Lê Hiêu.
-Bẩm Hoàng thượng, có thần.
-Bình chương sự Lê Lựu.
Lê Lựu bước ra:
-Bẩm Hoàng thượng, có thần.
-Các khanh phải trông coi giữ vững thành trì, ngày đêm tuần phòng nghiêm ngặt cho đúng phép để bảo vệ bình yên cho Hoàng thành.
Lê Hiêu và Lê Lựu cúi đầu đáp:
-Chúng thần tuân chỉ.
-Ta tuyên chỉ cho quan coi lăng tẩm ở Lam Kinh phải làm việc cho thành kính để tỏ lòng nhớ công ơn các bậc Tiên đế tổ tiên.
Bá quan văn võ đáp:
Hoàng thượng anh minh, chúng thần tuân chỉ.
Bãi triều.
Tạ hoàng thượng.
Tháng 10 năm Kỷ Mão 1459 khắp nơi chìm trong bóng tối. Gió mùa đông rét buốt khua xào xạc. Gió rét nên các cung điện của Hoàng thành đóng cửa sớm. Trong cung của Lạng Sơn Vương Lê Nghi Dân đã đóng cửa, chỉ còn những ngọn đèn leo lét tỏa ánh sáng. Sau bữa ăn tối, Lê Nghi Dân ngồi xuống chiếc bàn con, gia nhân bê lên một ấm trà nóng vừa pha, đặt xuống bàn và lặng đứng bên cạnh chờ sai bảo. Lê Nghi Dân vừa uống trà vừa suy nghĩ lại chặng đường hai mươi năm qua của mình…
Lê Nghi Dân sinh tháng 10 năm 1439 tại Đông Kinh, là con trưởng của Lê Thái Tông, mẹ là Vương phi Dương Thị Bí người Thanh Hóa. Bấy giờ trong số các phi tần, Dương Thị Bí rất được Lê Thái Tông sủng ái, cho nên ngày 21 tháng 3 Canh Thân, niên hiệu Đại Bảo năm thứ nhất, Lê Thái Tông lập Lê Nghi Dân làm Hoàng thái tử. Nhưng từ khi một phi tần khác là Nguyễn Thị Anh, người Bố Vệ, trấn Thanh Hóa được đón vào cung, Lê Thái Tông quay ra sủng ái Nguyễn Thị Anh, Dương Thị Bí mẹ của Lê Nghi Dân bị giáng xuống làm chiêu nghi, sau đó lại giáng xuống làm thứ dân, còn Lê Nghi Dân cũng bị mất ngôi Thái tử, bị giáng xuống là Lạng Sơn Vương. Mùng 9 tháng 5 năm Tân Dậu 1441, Thần phi Nguyễn Thị Anh sinh ra Hoàng tử Bang cơ. Tháng 11 năm đó, Lê Thái Tông lập Bang Cơ làm thái tử. Lê Nghi Dân còn một người em nữa là con của Bùi Quý nhân, tên hoàng tử đó là Lê Khắc Xương được phong là Tân Bình Vương.
Ngày 4 tháng 8 năm Nhâm Tuất, Lê Thái Tông đột ngột qua đời ở hành cung Lệ chi Viên (Gia Bình, Bắc Ninh) khi mới 20 tuổi không rõ lý do. Khi đó Lạng Sơn Vương mới 3 tuổi. Các đại thần cố mệnh Trịnh Khả, Nguyễn Xí, Lê thụ, Đinh Liệt, Lê Bôi tôn thái tử Lê Bang Cơ khi đó mới hơn một tuổi lên ngôi hoàng đế. Thần phi Nguyễn Thị Anh được tôn làm Hoàng thái hậu ngồi sau rèm nhiếp chính, giúp vua nhỏ trị nước.
Lớn lên, Lê Nghi Dân nghe thiên hạ đồn đại Nguyễn Thị Anh là một người đàn bà đẹp nhưng tàn ác. Nghe nói phụ hoàng Lê Thái Tông còn một cung phi xinh đẹp, nết na nữa là Tiệp dư Ngô Thị Ngọc Giao cũng đang có thai đồng thời với Bang Cơ. Sợ Ngô Thị Ngọc Giao sinh con trai sẽ tranh đoạt ngôi thái tử của con mình, đã bày trò vu cáo Ngô Thị Ngọc Giao rằng đó là cái thai ma quái vì đã 10 tháng rồi mà chưa được sinh ra. Phụ hoàng Lê Thái Tông nghe theo, định cho voi giày chết Tiệp dư, may có vợ chồng Nguyễn Trãi đến xin đem giam vào chùa Huy Văn. Lê Thái Tông nghe theo. Khi Ngô Thị Ngọc Giao sinh ra hoàng tử, Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ đã đem bà và Hoàng tử Lê Tư Thành ra tận An Bang xa xôi trốn tránh mới thoát nạn. Lê Nghi Dân cũng nghe đồn đại Lê Bang Cơ không phải là con của phụ hoàng Lê Thái Tông vì Thần Phi Nguyễn Thị Anh vào cung mới được 7 tháng đã sinh ra. Khi có quyền lực, Thái hậu Nguyễn Thị Anh kiên quyết giết đi những người mà bà ta cho là mong manh biết về sự việc này. Nguyễn Trãi bị Nguyễn Thị Anh nghi ngờ đầu tiên, lại thêm việc ông cứu Ngô Thị Ngọc Giao nên bà ta buộc các đại thần có mặt ở hành cung Lệ Chi Viên im lặng chấp nhận cho bà ta vu cáo Nguyễn Trãi cùng Nguyễn Thị Lộ giết vua và Nguyễn Trãi chịu án thảm khốc tru di tam tộc, khoảng 400 người đã bị đầu rơi máu chảy, vụ huyết án tàn khốc nhất trong lịch sử các vương triều Đại Việt mà từ trước đến lúc đó chưa hề có. Tiếp theo Nguyễn Trãi thì hai hoạn quan Đinh Thắng và Đinh Phúc bị giết vì hai người này nắm sổ sách nghi chép ngày tháng hợp hôn của phụ hoàng với bà ta. Tiếp theo hai hoạn quan là hai khai quốc công thần, hai đại thần cố mệnh là Trịnh Khả và con là Trịnh Bá Quát, Trịnh Khắc Phục và con là Trịnh Bá Giai, chắc hai đại thần đã biết phong phanh gì đó về chuyện này nên bị vu cáo là kết bè đảng làm phản. Sự giết chóc kinh hoàng của Nguyễn Thị Anh làm cho Lê Nghi Dân càng lớn lên càng sợ hãi. Bây giờ sau một đêm thức dậy thấy được ánh mặt trời ban mai thì Lạng Sơn Vương mới biết mình còn sống. Lạng Sơn Vương lo sợ cho tính mạng của mình, cho Tân Bình Vương Lê Khắc Xương và cho Lê Tư Thành. Bây giờ hai mẹ con Ngô Thị Ngọc Giao không biết đang trốn tránh phương nào không chỉ gian khổ mà còn đầy hiểm nguy.
Lê Nghi Dân suy nghĩ rộng hơn: Ngôi báu là do Thái Tổ Cao Hoàng Đế gian khổ trong mười năm nay mới giành lại được, nay lại lọt vào tay Lê Nhân Tông chắc chắn không phải là con của phụ hoàng mà hiện nay đang nằm trong tay của một người đàn bà tầm thường ở Đông Vệ. Triều đình nhà Hậu Lê đứng trước tình cảnh như triều đình nhà Trần thời Dương Nhật Lễ lọt vào cung và lên ngai vàng. Mẹ Dương Nhật Lễ là một kép hát xinh đẹp, một Quý tộc nhà Trần mê sắc đẹp và điệu múa của nàng đã ép lấy nàng ta về, không biết rằng nàng ta đã có thai với chồng cũng là kép hát. Lớn lên lên ngôi, Dương Nhật Lễ liền ra tay giết các quý tộc nhà Trần, giết cả Thái hoàng thái hậu, người kiên quyết đưa Dương Nhật Lễ lên ngôi vì nhầm là cháu nội của mình. Dương Nhật Lễ định đổi triều đình nhà Trần thành triều đình họ Dương. May có Trần Nghệ Tông (Trần Phủ) ra tay đảo chính lật đổ Dương Nhật Lễ, khôi phục lại ngôi vị nhà Trần.
Hành động và tấm gương của Trần Nghệ Tông đã làm cho Lê Nghi Dân cảm phục và kiên quyết noi theo. Lê Nghi Dân đi đến quyết định để cứu mình, cứu ngai vàng nhà Lê là phải hành động như Trần Nghệ Tông: Làm chính biến lật đổ Lê Nhân Tông và Nguyễn Thị Anh. Lê Nghi Dân nghĩ muốn làm được việc khó khăn đó thì phải có lực lượng, cho nên suốt một năm nay Lạng Sơn Vương dùng vàng bạc, hứa hẹn tước vị, chức vụ cho chỉ huy quân cấm vệ là Lê Đắc Ninh và Hoằng Dục để làm nội ứng. Hai người này đã thu nhận được 300 quân cấm vệ. Cũng dùng tiền bạc và chức vụ, Lạng Sơn Vương đã kết giao với nhiều tay kiếm khách như Phạm Đôn, Phan Ban, Trần Lăng, Ngô Trang... Theo kế hoạch được thống nhất, đêm khuya nay sẽ hành động.
Lê Nghi Dân nghe trống đã điểm canh ba, vội mặc quân phục và áo giáp cẩm vệ, mang vũ khí đi vào hành cung của vua Lê Nhân Tông. Giờ đó theo quy ước là giờ tuần phòng của Lê Đắc Ninh. 300 quân của Lê Nghi Dân mặc cẩm y vệ do Phạm Đôn, Phan Ban, Trần Lăng, Ngô Trang dẫn đầu, im lặng trong bóng đêm tiến vào. Lê Đắc Ninh và Hoằng Dục bí mật mở cánh cổng lớn cung nơi ở của Lê Nhân Tông. Lê Nghi Dân và các thủ hạ tiến vào, đạp cửa phòng của vua xông vào. Dưới ánh đèn le lói, trên chiếc giường sơn son thếp vàng, trong lớp chăn bông bọc lụa đỏ ấm áp Lê Nhân Tông đang ngủ say. Lê Nghi Dân dùng dao nhọn cực sắc đâm vào cổ Lê Nhân Tông, một dòng máu phun mạnh ra đỏ cả một góc gường. Lê Nghi Dân cẩn thận soi đèn một lần nữa xem có đúng là Lê Nhân Tông không, khi tin chắc là đúng, Lê Nghi Dân nói nhỏ với Phạm Đôn:
-Đi sang cung Thái hậu giết Nguyễn Thị Anh.
-Dạ.
Cũng nhờ quân cấm binh mở hậu cung, đêm đó, gần sáng, bọn Phạm Đôn, Phan Ban và bọn lính mới vào được phòng Thái hậu. Nguyễn Thị Anh thức dậy hoảng sợ định kêu thì Phạm Đôn đã bịt miệng và nói đủ cho Thái hậu nghe:
-Đêm nay chúng ta đến để báo thù cho Nguyễn Trãi và 400 người ba họ của ngài, cho hai hoạn quan Đinh Thắng và Đinh Phúc, cho Trịnh Khả, Trịnh Bá Quát, Trịnh Khắc Phục và Trịnh Bá Giai và biết bao nhiêu người vô tội bị bà giết hại. Bà có biết đạo trời là gieo gió gặt bão, ác giả ác báo không. Từ một đứa con gái con nhà thường dân vất vưởng ở Cầu Bố Thanh Hóa, may được làm Thần phi, Thái hậu, không cảm ơn trời đất, triều đình lại ra tay giết hại các khai quốc công thần đã hy sinh xương máu, góp phần giải phóng đất nước, giành lại ngai vàng cho bà, cho con bà. Lê Nhân Tông con bà đã bị ta giết chết, bà hãy xuống suối vàng để gặp nhau.
Nói xong Phạm Đôn cứa một nhát dao cực mạnh vào cổ của Nguyễn Thị Anh, máu đỏ phun ra đầm đìa, Phạm Đôn xô cái xác xuống giường rồi cả bọn đi ra.
Vậy là Lê Nhân Tông hưởng thọ được 18 tuổi, ở ngôi được 17 năm, Nguyễn Thị Anh thọ được 38 tuổi.
II.Đông Kinh tháng 6 năm 1460, đêm mùa hè oi bức, hoàng thành chìm trong ánh lửa lập lòe của đèn nến. Trong dinh của Nguyễn Xí tối nay có mặt Huân Hựu đại thần Thái phó bình chương quân quốc trọng sự Á Quan Hầu Nguyễn Xí, Đinh Liệt, Nhập nội kiểm hiệu Bình chương quân quốc trong sự Á thượng hầu Lê Lăng, Tư mã tham dự triều chính Đinh thượng hầu Lê Niệm (cháu Lê Lai), Tổng trí Ngự tiền hậu quân Á hầu Lê Nhân Thuận, Tổng tri Ngự tiền trung quân quan nội hầu Lê Nhân Khoái, Tổng tri ngự tiền Thiện trạo doanh quân Quan phúc hầu Trịnh Văn Sái, Thiêm tri bắc Đạo quân dân bạ tịch Trịnh Đạc, Điện tiền Đô ty chỉ huy Nguyễn Đức Trung, Thiết đột tả quân Đại Đội trưởng Nguyễn Yên, Nhập nội Đại hành khiển Lê Vĩnh Trường, Điện tiền Ty chỉ huy Lê Yên, Lê Giải. Sau một lượt trà, Á hầu Nguyễn Xí nói:
-Các ngươi ra ngoài hết, đóng cửa lại không cho ai vào.
-Dạ, chủ nhân.
Bọn gia nhân lui ra hết, Nguyễn Xí nói:
-Nay Lạng Sơn vương Lê Nghi Dân rất vô đạo, đem bọn vô lại Phạm Đồn, Phan Ban... lợi dụng ban đêm, được bọn chỉ huy cấm binh phản bội mở cổng vào trong cung cấm giết chết vua và Quốc mẫu Hoàng thái hậu, tội ác không gì lớn bằng. Chúng ta là những bề tôi huân cựu, mắt thấy việc đó, đáng lẽ phải chết cho xã tắc, mà giờ lại ở dưới trướng của kẻ bội nghịch, đứng trong triều của kẻ cướp ngôi giết vua, là tội nhân của muôn đời, đâu còn mặt mũi nào mà trông thấy tiên đế dưới suối vàng nữa.
Á Thượng hầu Lê Lăng nói:
-Chính vì thế chúng tôi hôm nay tụ hội về đây để rửa hận cho Lê Nhân Tông, cho Quốc Mẫu Thái hậu. Xin nghe theo lời chỉ dạy của ngài Á hầu.
Các đại thần đều đồng thanh:
-Phải rồi, Á hầu có kế sách gì hay chúng tôi xin nghe theo.
Nguyễn Xí nói:
-Các ngài dạy quá lời, không dám dạy bảo nhưng có kế sách này các ngài xem thế nào. Ngày 18 tháng 6 (Tân Hợi 1460), có cuộc thiết triều buổi sớm, khi tan chầu chưa kịp đóng cửa điện Tường Quang thì ta hành động, bất ngờ giết hết tay chân của Lê Nghi Dân, khống chế 100 quân cấm vệ trung thành của vương, bắt sống Lê Nghi Dân thì việc chắc thành công.
-Các đại thần gật gù:
-Kế sách hay, phát huy yếu tố bất ngờ, Lê Nghi Dân chắc không kịp trở tay.
Nguyễn Xí nói:
-Nếu các đại thần đã đồng ý thì xin uống chung một bát rượu, thề không hai lòng.
Mười ba đại thần bê bát rượu lần lượt uống cạn và đồng thanh nói:
-Vì nghiệp lớn, nếu chúng tôi hai lòng thì trời tru đất diệt.
Ngày 18 tháng 6 năm Tân Hợi nóng như trút lửa xuống Hoàng thành Thăng Long, Điện Tường Quang có buổi chầu nhưng tan sớm, các quan đổ ra cổng điện để về. Bên trong sân Trần Lăng ra lệnh vội mở cổng điện, hơn 500 lính mặc quân phục cấm vệ quân đang tụ hội ở ngoài cửa Sùng Vũ do Lê Niệm chỉ huy bỗng nhiên nhanh chóng lao vào chém giết, 100 lính cấm vệ quân của Thiên Hưng đế chống cự nhưng bị giết gần hết. Trong sân điện Tường Quang Nguyễn Xí và Lê Lăng khống chế Phạm Đồn và Phan Ban bất ngờ đâm chết hai tướng thân cận của Lê Nghi Dân. Các đại thần hoảng hốt nhốn nháo thì Lê Nhân Thuận và Nguyễn Đức Trung đã nhanh chóng khống chế Thiên Hưng đế vừa bước ra, tướng lĩnh và lính bảo vệ đã bị giết hoặc bị phe đảo chính khống chế nên không ai cứu, Lê Nghi Dân bị bắt. Các đại thần đang nhốn nháo hỗn loạn chạy tứ tung thì Nguyễn Xí nói:
-Các đại thần đứng lại, đừng sợ hãi, nghe tôi nói.
Các đại thần bình tĩnh đứng lại, Nguyễn Xí nói tiếp:
-Hôm nay 13 Đại công thần đã làm chính biến thành công, lật đổ Lê Nghi Dân Lạng Sơn vương đã vô đạo giết chết vua Lê Nhân Tông và Quốc mẫu Thái hậu. Các đại thần hãy quay lại Điện Tường Quang thiết triều khẩn cấp. Ai không nghe lời đừng trách các đại thần làm chính biến.
Các quan lại quay vào điện để thiết triều. Ngai vàng bỏ trống. Nguyễn Xí đứng cạnh ngai vàng nói:
-Lạng Sơn Vương Lê Nghi Dân tuy là con trưởng của tiên đế Lê Thái Tông nhưng đã phản nghịch, gây biến loạn, giết chết vua Lê Nhân Tông, giết chết Quốc mẫu Thái hậu, trong cai trị chỉ dùng bọn kiếm khách Phạm Đồn và Phan Ban, dùng bọn phản nghịch, bọn hoạn quan, đã giết hại bốn khai quốc công thần là Đỗ Bí, Lê Thụ, Lê Ngang, Lê Ê. Nay phế truất làm Lê Đức Hầu, bị trục xuất khỏi kinh thành, trở lại Lạng Sơn.
-Võ sĩ đâu.
-Đuổi Lê Nghi Dân khỏi kinh hành.
-Tuân lệnh tướng quân.
Lê Nghi Dân bị trục xuất trở lại Lạng Sơn nhưng cuối năm 1460 do ưu tư nhiều, ông lâm bệnh mà mất cuối năm 1460, thọ 22 tuổi.
Lê Nghi Dân đi rồi, Nguyễn Xí nói tiếp:
-Nước một ngày không thể không có vua, 13 quan đại thần làm chính biến đã bàn nên lập Gia Vương Lê Tư Thành hay Cung Vương Lê Khắc Xương làm vua. 13 quan đại thần làm chính biến đều nhất trí đưa Gia Vương Lê Tư Thành lên ngôi trị vì đất nước. Vì ngôi trời khó khăn, thần khí rất trọng, nếu không phải là bậc đại đức thì sao có thể làm nổi. Nay Gia vương thiên tư sáng suốt, hùng tài đại lược hơn hẳn mọi người, các vương không ai so được, lòng người đều theo, đã biết ý trời đã quyết. Bá quan van võ thấy thế nào?
Bá quan văn võ đồng thanh đáp:
-Nhất trí như lời Thái úy.
Nguyễn Xí gọi:
-Đinh Thượng hầu Lê Niệm đâu.
Lê Niệm bước ra:
-Tướng quân.
-Quan nội thị đâu.
-Dạ, tướng quân.
Nguyễn Xí nói:
-Hai ái khanh đem 100 lính cấm vệ đến tư dinh đón gia Vương Lê Tư Thành về đây.
-Tuân lệnh tướng quân.
Canh giờ sau Gia Vương Lê Tư Thành được đưa vào, bước lên điện, đứng cạnh ngai vàng. Quan nội thị đem áo long bào và mũ miện ra cho Lê Tư Thành mặc, xong trang phục, quan nội thị đỡ Gia vương ngồi vào ngai vàng. Bá quan văn võ trông Hoàng thượng mới thật uy nghi rực rỡ, đúng là dáng thiên tử. Quan nội thị nói:
-Lê Nghi Dân làm phản đã bị lật đổ, kính mời Gia vương lên ngôi hoàng đế, kế nghiệp lớn của tổ tiên.
Bá quan văn võ vội quỳ xuống hô vang:
-Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.
Gia vương nói:
-Miễn lễ, các ái khanh bình thân.
-Tạ Hoàng thượng.
-Bá quan văn võ nghe tuyên chỉ:
Bá quan văn võ lại quỳ. Gia Vương nói:
-Ta nay đăng quang Hoàng đế, lấy niên hiệu là Quang Thuận, năm nay là năm Quang Thuận thứ nhất (1460), lệnh đại xá thiên hạ.
Bá quan văn võ chúc mừng:
-Chúc mừng hoàng thượng, Hoàng thượng vạn vạn tuế.
Vậy là Gia vương Lê Tư Thành, con của Lê Thái Tông với Tiệp dư Ngô Thị Ngọc Giao lên ngôi năm 18 tuổi, Lịch sử gọi vua thứ 5 của nhà Hậu Lê là Lê Thánh Tông, cai trị 37 năm (1460-1497), mở ra một chương mới trong lịch sử của nhà Hậu Lê.
