I

Tháng 7 năm 1857, kinh đô Pari hoa lệ trải ra mênh mông dưới nắng. Các tòa nhà cao tầng nhô lên cao thấp khác nhau những khối tháp muôn hình thù, muôn màu sắc. Nhà thấp rồi nhà cao hơn và lại nhà cao hơn nữa vươn lên chạm vào những làn mây mỏng như tơ mong manh di tản trên bầu trời xanh, tạo ra muôn hình thù kỳ quái. Những đường phố cắt nhau ô bàn cờ phủ đầy bóng cây xanh với những tán lá to nhỏ như những chiếc ô thiên nhiên che nắng. Phố xá hai bên bờ soi mình xuống hai bờ sông Seine lung linh dưới nắng. Nhà thờ Đức Bà vươn tháp lên trời xanh cao nhất của mọi chiều cao. Tháp nhà thờ Xanh tơ Sa pen lơ chỉ thấp hơn chút so với tháp nhà thờ Đức Bà nhưng đỉnh tháp là khối tam giác sừng sững chạm mây. Cung điện tráng lệ của hoàng gia toát ra sự khoe khoang giàu có quyền lực nhất của Pari và của đế quốc Pháp. Trên đường phố những chiếc xe bốn bánh, hai bánh phủ gấm lụa do những con tuấn mã khỏe mạnh phi nhong nhong  trên những đường phố.

Sớm nay, trong cung điện Tuy lơ ri ơ sang trọng, vua Na pô lê ông III đang thiết triều bàn những công việc hệ trọng của quốc gia, tức là nhiệm vụ xây dựng lại đế quốc Pháp mới, gắn với việc mở rộng xâm lược thuộc địa ở châu Á, châu Phi, khẳng định vai trò của cường quốc pháp trên trường quốc tế, mở rộng thị trường thuộc địa để tăng lợi nhuận cho chủ nghĩa tư bản Pháp, để đủ sức cạnh tranh với các nước thực dân khác ở châu Âu, châu Mỹ, đặc biệt là cạnh tranh kịch liệt với nước Anh.

Hoàng thành Pari xây dựng kiểu gô tích, kiểu kiến trúc của người La Mã, lại như một pháo đài phòng thủ có thể đánh bật bất cứ cuộc tấn công nào của kẻ thù, lại là những lâu đài sang trọng thường thấy của các lãnh chúa phong kiến châu Âu. Cung điện Tuy lơ ri ơ là một cung điện rộng lớn mái vòm, trên trần có gắn hàng trăm chiếc khung đèn lớn bằng bạc, chung quanh là một vòng tròn có bát bằng pha lê cắm hàng chục ngọn nến vây quanh như những bó hoa rực rỡ tỏa ánh sáng, làm cho cung điện như một thiên hà đầy sao. Nền cung điện bên trong cao, những cột đá lộng lẫy, nền rải thảm đỏ. Ngai vàng là một chiếc ghế bành sang trọng. Phía dưới cung điện là không gian rộng dài hun hút đặt hai hàng bàn, sau bàn là những chiếc ghế bọc nhung xanh, chỗ ngồi của các đại thần của chính phủ Pháp. Toàn bộ nền cung điện cũng rực rỡ màu đỏ của thảm nhung. Dưới ánh đèn lung linh trong cung điện lộng lẫy đó, triều đình của nền đế chế II của Na pô lê ông đệ tam đang nghị sự. Na pô lê ông III ngồi trên ngai vàng và  nói:

-Thưa các quý ngài, các ngài có biết lịch sử châu Âu và lịch sử nước Pháp không? Các ngài có biết nước Pháp đang ở đâu trong trào lưu phát triển và đang cần gì để phát triển không? Các ngài hãy giở lại những trang lịch sử châu Âu thì thấy đế quốc La Mã của người La tinh tồn tại từ thế kỷ VIII Trước công nguyên đến thế kỷ IV sau công nguyên, lãnh thổ bao trùm toàn bộ châu Âu, Bắc Phi và Trung Đông. Thế kỷ IV sau công nguyên, đế quốc Tây La Mã với kinh đô là Rôma sụp đổ, vương quốc Phơ răng cổ đại của dân tộc ta đã ra đời trên đất đai hoang tàn của Tây La Mã mà người sáng lập là hoàng đế Cơ lô vít. Chế độ phong kiến Pháp trải qua các triều đại Cơ lô vít, Sác lơ ma nhơ, Ca rô lanh giêng, Ca pê xiêng. Trong lòng xã hội phong kiến Pháp đã xuất hiện nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, kèm theo đó là giai cấp tư sản ra đời đã lãnh đạo nhân dân làm cuộc cách mạng tư sản vĩ đại năm 1789-1794 lật đổ chế độ phong kiến của triều đại Buốc Bông mà trị vị là Lui XVI, đập tan cuộc can thiệp của phong kiến châu Âu đứng đầu là Áo, Phổ, Nga, Anh  để bảo vệ thành quả cách mạng. Trong các sự kiện đó nổi bật lên vai trò của bác ta là hoàng đế Na pô lê ông đệ nhất. Ngài không chỉ đập tan các cuộc can thiệp của Liên minh phong kiến châu Âu vào Pháp mà còn chinh phục hầu hết châu Âu, trừ nước Anh và nước Nga. Năm 1804, ngài lên ngôi hoàng đế lập ra nền đế chế I, đế chế của giai cấp tư sản. Năm 1815 đế chế I sụp đổ, dòng họ Buốc bông lại quay về lập lại chế độ phong kiến chuyên chế. Năm 1830, nhân dân ta đã làm cuộc cách mạng tư sản tiếp theo lật đổ dòng họ Buốc bông lần 2, đưa Lui Phi líp, vua ngân hàng lên lập nền quân chủ tháng 7. năm 1848 nhân dân ta lại làm cuộc cách mạng lật đổ Lui phi líp và đưa ta lên làm Tổng thống lập nền Cộng hòa đệ nhị. Năm 1851, ta đã chuyển từ nền Cộng hòa sang nền đế chế II mà ta là hoàng đế. Đây là nền quân chủ của giai cấp tư sản Pháp, đã đưa nước Pháp thành nước công nghiệp hiện đại sau khi hoàn thành cách mạng công nghiệp đầu thế kỷ XIX. Nền kinh tế hàng hóa phát triển rất cần thị trường không chỉ trong nước mà còn vươn ra chiếm thuộc địa thế giới để có thị trường ngoài nước, cung cấp nguyên liệu, sức lao động rẻ mạt của các nước thuộc địa. Nếu chúng ta không nhanh chân, các cường quốc châu Âu khác như Anh, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và nhiều nước khác sẽ chiếm hết những nước giàu có mà lạc hậu, chìm trong chế độ phong kiến ở châu Á, châu Phi. Các ngài đã thấy hiện nay Anh đã chiếm hết Ấn Độ, một nước vô cùng rộng lớn, giàu có ở châu Á. Nước Anh đã chiếm các nước châu Á khác, châu Đại Dương, chiếm nhiều nước ở châu Phi và đang cùng 14 nước tư bản xâu xé Trung Quốc, nước lớn nhất thế giới và giàu có. Chúng ta đang chạy đua với Anh và cũng đã xâm lược được An giê ri và một số nước ở châu Phi, đã gây chiến và xâm lược Mê hi cô, một nước ở Trung Mỹ. Chúng ta đã cùng Anh can thiệp vào Trung Quốc, xây dựng được nhiều tô giới và khu vực ảnh hưởng trong sự suy yếu bạc nhược của triều đình phong kiến Mãn Thanh. Chúng ta đang chuẩn bị xâm lược Lào, Căm bốt và Đại Nam. Nhưng ta không rõ lắm về Đại Nam. Giáo sĩ Pen lơ ranh là người truyền đạo và do thám nhiều năm ở Đông Dương, chuẩn bị cho sự xâm lược. Xin ngài hãy cho triều đình nghe qua về Đại Nam để ta có kế hoạch xâm lược cụ thể nhanh chóng và xác thực.

 Từ hàng ghế bên phải, một người cao lớn mắt xanh, rất ranh ma xảo quyệt, tóc màu vàng phủ kín vai, mặc áo tu sĩ đứng lên. Đó là giáo sĩ Pen lơ ranh, nói giọng Pa ri mềm mại rõ ràng thong thả:

-Dạ bẩm hoàng thượng, Đại Nam, còn gọi là Việt Nam có lịch sử ít nhất hơn 3000 năm nay. Họ có thời kỳ cổ đại huy hoàng là thời đại Hùng Vương, còn gọi là Văn Lang. Nhưng năm 179 Trước công Nguyên, dưới thời Âu Lạc-An Dương Vương, nhà vua trúng gian kế của Triệu Đà và mất nước. Từ đó cho đến năm 938 họ bị phong kiến Trung Quốc qua các triều đại Hán, Đông Ngô, Tấn, Tùy, Lương, Đường thống trị, áp bức, đồng hóa và bóc lột vô cùng tàn khốc hơn 1000 năm. Vào thế kỷ thứ X, nhân cơ hội phong kiến Trung Quốc suy yếu, các họ tộc Việt Khúc-Dương-Ngô đã nổi dậy giành lại tự chủ và độc lập. Năm 938, với chiến thắng trong trận thủy chiến Bạch Đăng, Ngô Quyền đã đánh bại quân Nam Hán và giành lại độc lập dân tộc, xây dựng chế độ phong kiến Việt Nam qua các triều đại hùng mạnh như Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ, Hậu Lê, Mạc, các chúa Trịnh và chúa Nguyễn, Tây Sơn. Năm 1802 Nguyễn Phúc Ánh trong cuộc nội chiến đã lật đổ nhà Tây Sơn, thiết lập vương triều Nguyễn, quốc hiệu Việt Nam, còn gọi là Đại Nam. Đó là triều đại đang thống trị Việt Nam hiện nay.

 Na pô lê ông III hỏi:

-Việt Nam là nước nhỏ hơn Trung Quốc nhiều lần, vậy Trung Quốc từ năm 938 đến nay bỏ mặc không nhìn ngó, công nhận nền độc lập của Việt Nam sao?

-Dạ bẩm hoàng thượng, Trung Quốc đã nhiều lần đem mỗi lần vài chục vạn quân sang đánh chiếm lại nhưng đều bị các triều đại Việt Nam đánh cho tơi tả. Như nhà Tiền Lê của vua Lê Đại Hành, tức Lê Hoàn đã đánh bại 10 vạn quân nhà Tống năm 980, nhà Lý do Lý Thường Kiệt lãnh đạo đã đánh bại 20 vạn quân Tống sang xâm lược lần 2 vào năm 1076-1077, nhà Trần do vua Trần Thái Tông và Trần Hưng Đạo lãnh đạo đã ba lần đánh bại cuộc xâm lăng của đế quốc Nguyên- Mông, một đế quốc hùng mạnh nhất thế giới khi đó. Cuộc xâm lược hai lần sau, vào năm 1285, 1287-1288 nhà Nguyên huy động mỗi lần 50 vạn quân với các tướng lĩnh lừng danh thế giới mà vẫn bị đánh tơi tả chạy về. Nhà Hậu Lê do Lê Lợi và Nguyễn Trãi lãnh đạo, chỉ 10 năm đã lật đổ ách thống trị của nhà Minh ở Đại Việt được thiết lập sau cuộc xâm lăng thành công do đánh bại nhà Hồ năm 1407. Đặc biệt năm 1789, nhà Mãn Thanh đưa 29 vạn quân sang xâm lược. Chỉ 5 ngày từ ngày 30 tết 1788 đến ngày 5 tết âm lịch 1789, hoàng đế Quang Trung nhà Tây Sơn trong chiến dịch Ngọc Hồi- Thăng Long đã tiêu diệt hết, chỉ còn vài nghìn tên sống sót chạy về.

Na pô lê ông III kinh hãi:

-Một đất nước giỏi giang quân sự như vậy nay ta mới nghe lần đầu, vậy thì ta làm sao mà chinh phục được xứ sở anh hùng đó?

Pen lơ ranh đáp:

-Dạ bẩm hoàng thượng, điều đó không đáng lo ngại. Khoảng 300 năm nay chế độ phong kiến Đại Nam đã suy tàn, lâm vào tình trạng tranh giành quyền lực triền miên. Nội chiến Trịnh-Mạc 100 năm vừa chấm dứt thì Việt Nam đã bước ngay vào cuộc nội chiến Trịnh-Nguyễn kéo dài 200 năm. Cuối cùng, Quang Trung Nguyễn Huệ nhà Tây Sơn đã lật đổ chúa Nguyễn ở Đàng Trong năm 1784, đánh bại cuộc xâm lăng của Xiêm La vào Đàng Trong năm 1785, lật đổ chúa Trịnh Đàng Ngoài năm 1786 và đánh bại sự xâm lược của nhà Mãn Thanh năm 1789. Nhưng thiên tài quân sự Quang Trung đột ngột từ trần vào năm 1792 khi mới 40 tuổi, tạo điều kiện cho Nguyễn Phúc Ánh, cháu chắt nhà chúa Nguyễn lật đổ nhà Tây Sơn năm 1802 và thiết lập sự thống trị của Vương triều Nguyễn ở Đại Nam cho đến nay. Nguyễn Phúc Ánh lấy kinh đô là Phú Xuân, đổi quốc hiệu từ Đại Việt thành Việt Nam, trên văn bản giấy tờ nhà nước gọi là Đại Nam. Từ đó đến nay, vương triều Nguyễn trải qua bốn đời vua: Nguyễn Phúc Ánh xưng là Gia Long hoàng đế (1802-1819), Minh Mạng hoàng đế 1819-1840, Thiệu Trị hoàng đế (1840-1847) và nay là Tự Đức hoàng đế từ 1847 cho đến nay.

Một đại thần ngồi hàng ghế đầu đứng dậy hỏi:

-Ngài Pen lơ ranh nói cuộc xâm lược của ta vào Đại Nam sẽ không đáng lo ngại. Vì sao như vậy, thưa ngài?

Pen lơ ranh nhìn đại thần vừa hỏi, thì ra đó là Thủ tướng Pháp Em min le  Sac lơ Cô sanh. Pen lơ ranh hỏi lại:

-Thưa ngài Thủ tướng, ngài định hỏi về sự suy yếu của Đại Nam về kinh tế, chính trị, quân sự phải không?

-Đúng vậy.

  Pen lơ ranh đáp:

  -Thưa hoàng thượng, thưa ngài thủ tướng, thưa các ngài bộ trưởng và các ngài trong chính phủ. Khi lật đổ nhà Tây Sơn năm 1802, Nguyễn Phúc Ánh đã thiết lập một chế độ quân chủ chuyên chế rất cực đoan. Vua là người đứng đầu cả nước nắm toàn bộ quyền lực. Để thực hiện điều này, nhà Nguyễn đã đưa ra lệ “Tứ bất” (bốn không): Không phong tể tướng, không phong vương cho hoàng thân quốc thích, hậu cung không lập hoàng hậu, thi Nho học không lấy học vị trạng nguyên. Các cơ quan trung ương trực thuộc hoàng đế gồm văn phòng và nội các làm nhiệm vụ văn phòng, Viện cơ mật gồm 4 viên đại thần được quyền bàn việc quân quốc trọng sự với nhà vua. Cơ quan hành pháp gồm 6 bộ: Bộ binh, Bộ hộ, Bộ hình, Bộ lễ, Bộ công, Bộ lại, mỗi bộ đứng đầu là một viên thượng thư. Bộ binh quản lý quân sự, hoạch định chính sách quốc phòng, kế hoạch tác chiến khi có chiến tranh, tuyển quân, huấn luyện quân đội, bổ sung, trông coi quân trang khí giới, trấn giữ biên cương, hộ giá nhà vua, tuyển dụng võ quan, ứng phó với tình hình khẩn cấp. Bộ hộ quản lý dân số, giúp vua quản lý ruộng đất, hộ khẩu, tài chính, thuế khóa, kho tàng, ngân sách nhà nước, cấp phát lương bổng cho quan lại. Bộ hình quản lý tư pháp, tâu vua sửa đổi những quy phạm không hợp, xét xử trọng án, phúc thẩm các vụ án lớn, kiểm tra việc xét xử của nha môn cả nước, kiểm tra quản lý tù nhân, truy nã tù nhân và tội phạm bỏ trốn. Bộ lễ quản lý giáo dục, thi cử, ngoại giao, nghi lễ, tế tự trong triều và lễ tân, đúc ấn tín, đôn đốc công việc của Tư thiên giám, Thái y viện. Bộ công quản lý xây dựng cung điện, nhà cửa, đường sá, thành trì, cầu cống, quản lý các công xưởng thuộc nhà nước. Bộ lại quản lý, bổ nhiệm thăng giáng quan lại, gia phong tước phẩm, quy định thuyên chuyển, lương bổng của quan lại. Các cơ quan tư pháp là Đại lý tự và Đô sát viện là cơ quan giám sát.

        Thời vua Minh Mệnh đã tiến hành một bước quan trọng về cải cách hành chính. Lần đầu tiên đơn vị hành chính của Đại Nam ở địa phương được chia thành cấp tỉnh. Miền Nam được chia thành 18 tỉnh, miền Bắc được chia thành 20 tỉnh. Trong phạm vi kinh đô ở miền Trung được gọi là phủ Thừa Thiên-Huế. Đứng đầu mỗi tỉnh là Tổng đốc phụ trách việc cai trị chung, Tuần phủ coi việc giáo hóa dân chúng, Bố chính coi về thuế khóa, tài chính. Dưới tỉnh là phủ gồm nhiều huyện đứng đầu là Tri phủ nắm toàn quyền hành chính tư pháp trong phủ. Dưới phủ là huyện gồm nhiều tổng, đứng đầu là tri huyện cũng có toàn quyền dân sự, tư pháp. Dưới huyện là tổng gồm nhiều xã, đứng đầu là chánh phó tổng. Dưới tổng là xã gồm nhiều thôn đứng đầu là chánh phó lý trưởng, giúp việc có trương tuần, khán thủ giữ trị an làng xã. Dưới xã là thôn, bản; thôn ở miền xuôi đứng đầu là hương kiểm, bản ở miền núi đứng đầu trưởng bản.

        Với bộ máy nhà nước quan lại chặt chẽ đó, vương triều Nguyễn đã ra sức bóc lột nhân dân Đại Nam tàn bạo, không thương xót. Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách quốc gia, của mọi chi tiêu của nhà nước. Chi tiêu của triều đình, của hoàng gia, lương bổng của quan lại, của võ quan và quân đội, của lễ nghi đều dựa vào thuế. Nhà Nguyễn đặt ra ba loại thuế chính: thứ nhất là thuế điền thổ, thuế đánh vào ruộng đất. Thứ hai là thuế đinh, thuế đánh vào đàn ông. Thứ ba là thuế đánh vào hoạt động công thương: thuế hầm mỏ, thuế cảng, thuế ao, hồ, đầm, ngành thủ công nghiệp sản xuất phải nộp thuế sản vật, thuế rượu, thuế thuốc phiện, thuế thuyền bè…Nông dân cả nước chịu nhiều thứ thuế phi lý và thuế rất nặng. Để hạn chế người theo đạo Gia Tô, nhà Nguyễn đánh thuế người theo đạo này nặng gấp rưỡi. Xã, thôn che giấu, chứa chấp người theo đạo thì thuế của xã, thôn đó tăng gấp đôi. Còn có thuế quan tân đánh vào giao dịch thương mại qua các cửa ải, các bến đò. Ngoài ra còn có thuế tạp dịch, bắt người lao động đi xây dựng không công các công trình nhà nước như lăng tẩm các vua, thành lũy quân sự.

       Chính sách bóc lột của nhà nước làm cho cư dân chủ yếu của Đại Nam là nông dân vô cùng đói khổ, bần cùng. Nông dân nghèo không có ruộng đất vì bị địa chủ chiếm đoạt bằng mọi cách. Ruộng đất hầu hết trong tay bọn cường hào ác bá, triều đình biết mà bất lực. Nhà nước không chăm lo công trình thủy lợi, đê các sông vỡ liên miên, đặc biệt là đê sông Hồng. Trong 50 năm từ 1802 đến 1857 đê sông Hồng vỡ 38 lần, gây lũ lụt lớn, mất mùa đói kém rộng ở miền Bắc. Năm 1806, Bắc bộ dân phiêu tán tha phương cầu thực 370 xã, năm 1826 ruộng đất bỏ hoang 12.700 mẫu, năm 1830 diện tích bỏ hoang lên1.314.927 mẫu. Thiếu đói hoành hành ở các tỉnh miền Trung. Triều đình bất lực không giải quyết được nạn đói. Trong khi đó bọn địa chủ ác bá càng giáu có. Nông dân đói khát, bị áp bức bóc lột tìm con đường làm đạo tặc, chủ yếu là khởi binh chống lại triều đình.

        Triều đình Nguyễn thi hành chính sách “Bế quan tỏa cảng”, nghiêm cấm giao thương buôn bán với nước ngoài, cấm giao thương với thương nhân phương Tây, nghiêm cấm nước ngoài đến buôn bán ở Việt Nam. Trong chỉ dụ của Minh Mệnh có ghi: Khi có tàu hàng hóa phương Tây đến “Mua hàng xong thì đuổi hết ra biển, không cho ở lại, nếu cố ở lại thì phạm tội xử chém. Nếu ai giấu diếm chứa chấp coi như thủ phạm”. Chính vì thế, thủ công nghiệp không phát triển. Các đô thị sầm uất như Hội An, Phố Hiến… đều tàn lụi, buôn bán ở Thăng Long sút kém.

       Triều đình Nguyễn ban hành hàng loạt sắc lệnh cấm đạo Thiên Chúa để đề phòng âm mưu do thám xâm lược của Pháp, để bảo vệ tư tưởng Nho gia của phong kiến. Quả thật, một thực tế là khi hướng sang phương Đông thì công cuộc truyền giáo của Hội thừa sai Pari đã gắn với việc do thám tình hình các quốc gia đó, đào tạo tay sai, chuẩn bị cho công cuộc chinh phục sau này. Bất chấp lệnh cấm, các giáo sĩ Thừa sai của Pháp vẫn lén lút truyền đạo. Cho nên nhà Nguyễn càng cấm đạo quyết liệt. Năm 1843, Minh Mệnh đã ra thông dụ gửi tất cả các quan địa phương ở địa phận biển, nếu có thuyền nước ngoài đến bỏ neo phải đến tận nơi xét hỏi, nếu có người phương Tây phải bắt giải quan. Các cố đạo đã nhờ quân đội và chính quyền Pháp giúp đỡ. Các hạm đội Pháp ở Viễn Đông được lệnh của chính quyền, tìm mọi cách bảo vệ và giúp đỡ các cố đạo. Như vụ tháng 2 năm 1843, khi nhà Nguyễn bắt các giáo sĩ, tàu Hơ roa nơ đã đến Đà Nẳng buộc nhà Nguyễn phải trả tự do cho các cố đạo Sa me son, Sác ri ê, Mi sơ, Béc nô, Đuy cơ lô xơ, Pha vin Lơ vơ cơ. Bị pháp đe dọa, nhà Nguyễn đã trả tự do cho các cố đạo. Giáo sĩ Lơ Phơ bờ rơ hai lần bị bắt. Cả hai lần đều nhờ hải quân pháp can thiệp để được nhà Nguyễn thả. Năm 1847 tưởng Lơ phơ bờ rơ  chưa được thả, hạm đội Pháp đến Đà Nẳng bắn phá, phá tan 5 tàu của nhà Nguyễn. Từ đó vua Thiệu Trị càng cấm đạo gay gắt.

       Na pô lê ông III hỏi:

      -Sức mạnh quốc phòng của Đại Nam thế nào?

     Pen lơ ranh đáp:

     -Bẩm hoàng thượng, do chính sách bế quan tỏa cảng cho nên kinh tế Việt Nam suy yếu lạc hậu, kéo theo là quốc phòng suy yếu và lạc hậu. Bộ binh là quân chủng chủ yếu của nhà Nguyễn nhưng phần lớn vũ khí là gươm, giáo như ngày xưa. mỗi một đội 50 lính mà chỉ 5 người cầm súng châm ngòi, số ít có súng hỏa mai và súng kíp. Quân đội mỗi năm chỉ được tập bắn một lần. Đại bác của quân đội Nguyễn thì nhiều nhưng phần lớn là súng đồng. Nòng không có rãnh khương tuyến nên bắn rất ít khi trúng mục tiêu. Đạn đại bác không có thuốc nổ nên bắn ra như những hòn đá, đạn không nổ. Quân đội không có ý thức giữ gìn thuốc súng nên gặp mưa là bắn không có hiệu quả. Khi đó, nhà Nguyễn có thể mua súng đạn của các nước phương Tây, hoặc thuê kỹ sư các nước ngoài, ngặt vì tài chính thiếu thốn, nhưng nổi bật là không có ý thức xây dựng quân đội hùng mạnh, không có ý thức duy tân. Tư duy bảo thủ của vua quan Nguyễn vô cùng nặng nề đã giam hãm đất nước trong vong suy yếu, lạc hậu và quốc phòng suy yếu, cùng ý thức ngạo mạn cho học thuyết Nho gia là nhất thế giới, có thể giải quyết được mọi vấn đề của đất nước. Họ đã và đang bay trên mây trên gió với học thuyết lỗi thời phi thực tế đó. Hơn nữa, họ lo canh tân đất nước sẽ đe dọa địa vị cầm quyền của họ. Đó là lý do làm cho các vua nhà Nguyễn khước từ mọi đề nghị canh tân đất nước do các sĩ phu thức thời đề xuất, kiên quyết giữ con đường thủ cựu, ra sức bảo vệ nếp cũ.

         Quân đội Nguyễn không chỉ trang bị kém mà còn thiếu ăn, thiếu mặc đến mức nhiều khi quân lính phải đi cướp của dân mà sống. Thưởng phạt không công minh. Họ đi lính nhưng gia đình họ ở quê hương bị cướp ruộng đất, bị áp bức bóc lột đói rách. Cho nên tinh thần quân đội Nguyễn vô cùng bạc nhược.

        Tóm lại, tư tưởng chính thống của nhà Nguyễn là Nho giáo đã lạc hậu lỗi thời, bộ máy quan lại của nhà Nguyễn cồng kềnh, tha hóa hủ bại, tham ô, ra sức bóc lột nông dân cùng kiệt. Nhà Nguyễn đã giam hãm Đại Nam trong vòng lạc hậu, suy yếu về quân sự, quốc phòng. Đây là thời cơ cho chúng ta chinh phục không mấy khó khăn. Mong hoàng thượng không nên chậm trễ.

        Na pô lê ông III hỏi:

      -Ngài Pen lơ ranh chỉ toàn nêu những thuận lợi khi ta đánh Đại Nam. Vậy ngài thử nêu vài khó khăn khi chiến tranh với Đại Nam?

      -Bẩm hoàng thượng, khó khăn lớn nhất là tinh thần quật cường chống ngoại xâm của dân Đại Nam. Dù là mâu thuẫn gay gắt với triều đình do bị áp bức bóc lột tàn khốc nặng nề, nhưng khi bị ngoại bang xâm lược, họ sẵn sàng gác mối thù giai cấp, sẵn sàng cùng triều đình chống giặc. Khó khăn lớn nhất là nếu triều đình nhà Nguyễn kêu gọi nhân dân chống lại chúng ta thì chúng ta rất khó mà đương đầu với cả một dân tộc 25 triệu người. Nhưng xin hoàng thượng yên tâm, nhà Nguyễn rất sợ nông dân bởi từ thời Gia Long đến thời Tự Đức đã có hàng trăm cuộc khởi nghĩa nông dân làm cho triều đình tổn thất và tốn kém nặng nề. Với tư tưởng bạc nhược hèn nhát sợ dân bên trong hơn sợ giặc ngoài, nhà Nguyễn sẽ đi vào con đường hòa nghị để dàn xếp với chúng ta. Sách lược của chúng ta là sau mỗi trận đòn chí tử dáng vào thì ta lại nghị hòa để đạt được và củng cố thành quả, cứ thế tiến đến chinh phục toàn bộ Đại Nam, buộc nhà Nguyễn ký hàng ước, làm tay sai, thừa nhận quyền bảo hộ của chúng ta trên toàn cõi Đại Nam.

Thủ tướng Pháp Em min lơ Mu tan ban cũng đứng dậy:

     -Thưa hoàng thượng, ngài giáo sĩ Pen lơ ranh nói đúng. Đại Nam đang suy yếu, lại là nước giàu có, có vị trí chiến lược quan trọng ở Đông Nam Á. Chúng ta phải xâm lược ngay kẻo bị các đế quốc khác, nhất là nước Anh chinh phục trước. Cái cớ  để đánh Đại Nam thì chúng ta cứ nói với thế giới là bảo vệ các giáo sĩ, bảo vệ việc truyền đạo Thiên Chúa, rằng Đại Nam không tiếp nhận Quốc thư của Hoàng đế Pháp, rằng Đại Nam làm nhục quốc kỳ Pháp. Thưa hoàng thượng, đã là gây chiến thì không thiếu gì lý do, không có lý do thì phải bịa ra lý do. Chân lý trong tay kẻ mạnh. Thưa hoàng thượng.

     Na pô lê ông III nói:

     -Ngài thủ tướng nói phải lắm. Nay ta quyết định tiến hành chiến tranh chinh phục Đại Nam. Ngài Pen lơ ranh cầm chỉ dụ của ta, ra lệnh cho hạm đội Viễn Đông của Pháp nổ súng gây chiến tranh chinh phục Đại Nam.

       Pen lơ ranh đáp:

      -Thần tuân chỉ.

      -Ngài Nam tước Bơ ren ni en nghe chỉ:

      -Dạ tâu hoàng thượng, có thần.

     -Ngài hãy thành lập Ủy ban Đông Dương chuyên nghiên cứu về Đại Nam, Lào, Căm bốt để hỗ trợ tình hình cho quân ta đánh Đại Nam và đánh chiếm toàn bộ Đông Dương.

     -Thần tuân chỉ.

II

     Bấy giờ là tháng 8 năm 1858. Vùng biển Nam Trung Hoa sóng triều mênh mang bát ngát. Sóng vỗ xanh rờn đưa nước từ phía Đông sang phía Tây. Sóng vỗ suốt ngày đêm vào đảo Hải Nam, một đảo cực Nam tận cùng của lãnh thổ Trung Hoa. Sóng vỗ vào bán đảo Lôi Châu tràn vào lục địa Trung Hoa rộng lớn. Sóng vỗ vào hàng trăm tàu chiến của các nước phương Tây vừa tham gia cuộc chiến tranh thuốc phiện lần 2 xâu xé Trung Quốc, giờ tập trung ở vùng biển này ăn mừng chiến thắng. Bằng súng đạn tối tân, các nước tư bản phương Tây cầm đầu là Anh và Pháp đã buộc nhà Thanh phải ký những hiệp ước bất bình đẳng, buộc Trung Quốc bồi thường cho họ nhiều triệu lạng vàng bạc, mở nhiều cửa biển cửa sông cho tàu bè các nước tự do đi lại buôn bán, cắt nhiều thành phố và đất đai cho họ lập đặc khu, tô giới và khu vực ảnh hưởng, cho Anh thuê Hồng Công 99 năm, cho Bồ Đào Nha thuê Ma Cao 99 năm. Trung Quốc đã biến thành nước nửa thuộc địa, nửa phong kiến, tức là không còn là nước độc lập hoàn toàn nữa mà đã mất đi rất nhiều quyền độc lập, kể cả về lãnh thổ. Trong số hàng chục quốc kỳ nhiều màu sắc của các nước phương Tây bay phấp phới trên đỉnh những chiến hạm chan hòa nắng gió có 14 quốc kỳ trên 14 chiến hạm của hạm đội Viễn Đông của nước Pháp. Đó là những con tàu chạy bằng máy hơi nước. Thân những con tàu bằng sắt đen sì, mõm tàu buông xuống biển những sợi xích sắt to lớn buộc neo cho tàu đứng yên tại chỗ. Trên boong tàu bốn phía đặt hàng chục đại bác hiện đại đang chĩa nòng hiên ngang sẵn sàng nhả đạn và khi xuống mục tiêu những viên đạn này nổ như sấm sét tàn phá sát thương rất lớn. Đây là những vũ khí hiện đại nhất chỉ các nước phương Tây đã công nghiệp hóa mới có được. Các nước phương Đông, châu Á như Trung Quốc, Đại Nam... còn trong tình trạng nông nghiệp thì không thể có được loại đại bác này nên rất bất lợi trong cuộc chiến tranh với phương Tây trong thời kỳ cận đại. Trên đỉnh những con tàu Pháp, những lá cờ tam tài xuất hiện trong cuộc cách mạng tư sản vĩ đại năm 1789-1794 đã từng tung bay khắp nước pháp, tung bay khắp châu Âu trong những cuộc tiến quân xâm lược của hoàng đế Na Pô lê ông I, bây giờ nó lại tung bay khắp châu Á, châu Phi để xâm lược thuộc địa, giành giật thị trường cho nền kinh tế thị trường, mong mang lại lợi nhuận to lớn cho chủ nghĩa tư bản Pháp. Đến bây giờ, mùa hè năm 1858, lá cờ ba màu tím, trắng, đỏ lại bay trên hải phận và lục địa Trung Hoa khi quân pháp cùng 14 nước Liên minh tham gia cuộc xâu xé Trung Quốc.

            Chiếc pháo hạm lớn nhất, oai phong nhất, đặt nhiều đại bác, sang trọng nhất là pháo hạm chỉ huy của hạm đội Viễn Đông của Pháp. Đô đốc Sác lơ Ri gôn Đơ giơ nu di đang ngồi trong phòng chỉ huy của tàu uống rượu Săm pa nhơ. Từng chai rượu được chính tay Đơ giơ nui rót ra cốc pha lê trong suốt. Rượu màu hồng chảy vào cốc tỏa ra hương thơm. Đơ Giơ nu di đang hứng khởi nên uống hết cốc này đến cốc khác. Lý do hứng khởi của Đơ giơ nu di là liên quân Anh- Pháp đã thắng lợi lớn trong cuộc chiến tranh thuốc phiện lần thứ hai với Trung Quốc nổ ra từ ngày 20 -5-1858. Trung Quốc là một nước lớn đông dân nhất thế giới, ước tính khoảng 700 triệu dân với diện tích 9,6 triệu km2 giàu có sung túc. Nhưng cũng như các nước châu Á khác, dưới sự thống trị của chế độ phong kiến, đặc biệt là chế độ phong kiến ngoại tộc Mãn Thanh đã giam hãm Trung Quốc trong tình trạng vô cùng lạc hậu và yếu kém. Ngày 20-5-1858, Liên quân tấn công vào Quảng Châu, sau trận chiến chủ yếu ở pháo đài Đại Cô Bảo, pháo đài để bảo vệ Thiên Tân, tháng 6 năm 1858 trận Đại Cô Bảo lần hai, Trung Quốc thất bại, phải ký hiệp ước bất bình đẳng lần hai là Hiệp ước Thiên Tân ký với Anh, Pháp, Nga, Mỹ... (Hiệp ước bất bình đẳng lần 1 là hiệp ước Nam Kinh Trung Quốc ký với Anh-Pháp). Nội dung Hiệp ước Thiên Tân quy định Trung Quốc tiếp tục mở thêm mười một hải cảng cho tàu bè các nước liên minh vào buôn bán. Đó là các cửa biển Ngươn Trang, Đàm Thủy, Hán Khẩu, Nam Kinh... Các nước Anh, Pháp, Nga, Mỹ... có quyền thành lập cơ quan công sứ (Đại sứ quán) ở Bắc Kinh, kinh đô của Trung Quốc nên đã đóng kín từ trước đến nay, nay buộc phải mở cửa. Tất cả tàu bè nước ngoài được đi lại tự do trên sông Dương Tử (Trường Giang). Người nước ngoài được tự do đi lại trên đất Trung Quốc. Trung Quốc phải trả bồi thường chiến phí 4 triệu lạng bạc cho Anh và 2 triệu lạng cho Pháp. Sác lơ Đơ giơ nu di vừa nhấm nháp rượu, miệng thả ra những làn khói cuồn cuộn từ điếu xì gà mua từ quần đảo Ca ri bê Trung Mỹ. Điều ước Thiên Tân chưa phải là mốc cuối cùng của chiến tranh thuốc phiện. Nhưng với Hiệp ước Thiên Tân, quyền lợi của nước Pháp ở Trung Quốc đã được bảo đảm. Pháp được chia một phần quyền lợi béo bở chỉ sau Anh ở Trung Quốc. Nhưng với đà suy yếu hèn nhát của phong kiến nhà Thanh, liên quân còn cướp đoạt được nhiều quyền lợi hơn nữa bằng vũ lực, bằng nhiều hiệp ước bất bình đẳng nữa. Trung Quốc và các nước châu Á phải biết chúng ta không chỉ là quân đội hiện đại bậc nhất thế giới, của cường quốc công nghiệp, mà còn là những tên lái buôn, những tên thực dân, những tên cướp biển tham lam và hung bạo, không hề sợ chết, không hề biết thỏa mãn.Ha! Ha! Ha!

         Có tiếng gõ cửa phòng. Đơ giơ nu di nói:

         -Vào đi.

Một người cao to, vai mang quân hàm đại tá bước vào. Thì ra đó là đại tá Rây no.

-Chào Đô đốc.

-Chào đại tá. Có việc gì vậy?

         -Dạ, bẩm Đô đốc, có giáo sĩ Pen lơ ranh từ Pa ri sang, đem theo chỉ dụ của hoàng thượng cho Đô đốc.

-Cho ông ta vào.

-Dạ.

Giáo sĩ Pen lơ ranh bước vào. Đơ giơ nu di đứng dậy:

-Xin chào đức cha.

Pen lơ ranh đáp khúm núm:

-Xin chào Đô đốc.

-Mời đức cha ngồi.

         Đơ giơ nu di rót thêm hai chén rượu nữa, một cho Pen lơ ranh, một cho Rây no:

-Mời đức cha, mời đại tá.

-Cảm ơn, mời Đô đốc.

Ba người dốc cạn 3 cốc rượu săm pa nhơ. Đơ giơ nu di vừa rót tiếp rượu vào ba cốc vừa hỏi:

-Đức cha vừa ở Pa ri sang. Hoàng thượng có chỉ dụ gì mới cho hạm đội Viễn Đông không? Thưa cha.

Pen lơ ranh chỉ chờ câu hỏi này liền đáp:

-Thưa Đô đốc, nội các dưới sự chủ tọa của hoàng thượng đã họp bàn về việc tiến đánh chinh phục Đại Nam. Hoàng thượng đã khẩu dụ cho Đô đốc rằng phải tổ chức tiến đánh Đại Nam càng nhanh càng tốt. Thứ nhất là nhà nước vương triều Nguyễn hiện nay rất bạc nhược, hèn nhát và suy yếu. Thứ hai là Đại Nam là một nước giàu có, nhân công rẻ mạt, lại có vị trí chiến lược quan trọng ở Đông Nam Á và châu Á, có vùng hải phận rộng lớn, từ bắc tiến xuống, từ ngoài biển tiến vào khu vực Đông Dương và Nam Á, từ Thái bình Dương qua Ấn Độ Dương đều phải qua Đại Nam. Chiếm được Đại Nam là củng cố vị trí của Pháp ở miền Nam Trung Hoa. Hơn nữa trong cuộc đấu tranh giữa các cường quốc châu Âu trên con đường thôn tính thuộc địa, ta không chiếm nhanh thì Đại Nam sẽ rơi vào tay của kẻ khác mà đáng lo ngại nhất là vương quốc Anh.

Đại tá Rây no nói:

-Vậy chúng ta phải nhanh chóng tiến đánh Đại Nam đi. Theo chỗ tôi biết, quân Anh có thể từ My an ma tiến đánh Đông Dương, chiếm Đại Nam. Như vậy toàn bộ bán đảo Trung Ấn và Đông Dương, những vị trí giàu có, quan trọng về chiến lược sẽ thuộc về Anh quốc, chúng ta sẽ bị hất cẳng khỏi Đông Dương và Đông Nam Á.

Đơ giơ nu di nói:

-Cha và đại tá nói phải lắm, vả lại có chỉ dụ của hoàng thượng nên ta phải khẩn trương đánh Đại Nam. Hiềm vì lực lượng của ta quá ít. Ta có đọc qua lịch sử Đại Nam, biết được đó là một dân tộc bất khuất, ương ngạnh, đã từng đánh bại nhiều cuộc xâm lược to lớn của Trung Hoa, kể cả đế quốc hùng mạnh nhất thế giới thế kỷ XIII là Nguyên-Mông. Ngày nay dân số Đại Nam khoảng 30 triệu. Nếu triều đình của họ quyết chiến, kêu gọi toàn dân chống lại thì cuộc chinh phục của chúng ta sẽ thất bại.

  Pen lơ ranh hào hứng nói:

-Đô đốc đừng lo, Đại Nam ngày nay là thời điểm suy yếu nhất trong lịch sử phong kiến. Triều đình thì bảo thủ, vẫn theo tư tưởng của Khổng Tử-Nho gia hàng nghìn năm trước với những lý thuyết viễn vông trên mây trên gió, không gắn gì với cuộc sống hiện thực, không giải quyết được những vấn đề đất nước đang đặt ra. Họ giam hãm đất nước trong vòng suy yếu lạc hậu để bảo vệ quyền lợi ích kỷ của giai cấp họ. Thực hiện chính sách đối ngoại “bế quan tỏa cảng”, giam hãm đất nước trong vòng lạc hậu. Quan lại kết với bọn cường hào ác bá, thả sức bọc lột nông dân và cướp đoạt ruộng đất của họ. Sưu thuế rất nặng. chúng thu thuế theo phương châm định mức chi của triều đình để đánh thuế, bất chấp hoàn cảnh thực tế bần cùng đói khát của nông dân. Nhà nước không chăm sóc thủy lợi đê điều. Đê Văn Giang vỡ liên tục đến mức đồng bằng phì nhiêu Hải Dương-Hưng Yên biến thành rừng lau sậy mênh mông, dân cư chết đói hoặc phiêu tán hết. Quan lại tham nhũng, tha hóa, chỉ lo vinh thân phì gia. Vì thế, nông dân Đại Nam đã liên tục khởi nghĩa chống lại triều đình. Trong lịch sử Việt Nam, chưa có một triều đại nào vừa mới thành lập đã bị nông dân chống lại quyết liệt như vậy. Chính trị, tư tưởng, kinh tế đã suy sụp  thì quốc phòng quân đội cũng lạc hậu suy yếu. Quân đội Đại Nam trang bị chủ yếu là giáo, mác, 3 người lính mới có một khẩu hỏa mai. Đại bác thì đạn không nhồi thuốc cho nên bắn ra không nổ, không có sức công phá và sát thương, như ta ném quả tạ gang. Vả lại đại bác cũng chỉ đặt trên thành lũy hoặc trên chiến thuyền, không di chuyển cơ động chiến đấu được. Tinh thần binh lính thì sa sút vì cuộc sống binh lính và gia đình họ quá cực khổ. Tướng lĩnh ngày nay không có tướng tài, quan lại hèn nhát, kể cả tướng lĩnh võ quan. Đô đốc lo nếu như triều đình Nguyễn kêu gọi nhân dân chiến đấu thì đúng là ta khó khăn nhưng điều này không thể xảy ra vì nhà Nguyễn sợ nông dân hơn là sợ giặc bên ngoài. Cho nên, khi chiến tranh nổ ra, những kẻ chạy theo ta, giúp ta sẽ là bọn quan lại chứ không ai khác. Thời nào cũng có bọn Việt gian. Đó là lực lượng cộng tác đắc lực của chúng ta mà thiếu họ công cuộc chinh phục sẽ không thành công. Mong ngài Đô đốc yên tâm.

Đơ giơ nu di gật gù:

-Đức cha nói có phần đúng. Ta cho rằng trình độ mọi mặt của Đại Nam hiện nay chắc tương đương phong kiến Trung Quốc. Qua các trận đánh trong chiến tranh thuốc phiện lần 2, ta thấy đại bác của nhà thanh bắn thì kêu to nhưng đạn bay xuống không nổ để công phá và sát thương mà như những cục sắt. Đó là những chiếc máy bắn đá thì đúng hơn cho nên Liên quân bị tổn thất rất ít, chỉ ai đạn trúng đập vào người mới tử thương, người bên cạnh không việc gì. Ha!Ha!Ha!...

-Ha!Ha!Ha!...

  Cả bọn cười ha hả.

chls01-1-1653659698.jpg
Liên quân Pháp - Tây Ban Nha tấn công Đà Nẵng năm 1858. Nguồn: baotanglichsu.vn

 

  Đại tá Lan da rốt nói:

-Đại bác của Đại Nam chắc cũng như vậy. Ha! Ha! Ha!...

  Đô đốc Đơ giơ nu di nói để kết luận:

-Thế thì ta bắt tay vào chuẩn bị. Để khắc phục quá ít về quân số, ta mượn thêm của Tây Ban Nha vài trăm lính cùng với quân ta, cố gắng lấy 3.000 quân và 14 tàu chiến. Về chiến lược, chúng ta phải đánh nhanh thắng nhanh. Muốn vậy, trước tiên chúng ta phải đánh Đà Nẵng vì Đà Nẵng là một hải cảng quan trọng, sâu rộng thuận tiện cho tàu chiến vào ra. Đà Nẵng nằm trên trục Bắc-Nam- Đông -Tây có thể sang Lào và Căm bốt. Đà Nẵng chỉ cách kinh đô nhà Nguyễn là Huế 100 km, thuận lợi cho chiến lược đánh nhanh thắng nhanh. Từ Đà Nẵng tấn công vào Huế qua đèo Hải Vân buộc nhà Nguyễn ký hàng ước công nhận nền bảo hộ của nước Pháp mà không cần phải tốn công sức đánh chiếm Bắc Kỳ và Nam Kỳ. Từ Huế chúng ta sẽ làm chủ cả ba miền của Đại Nam. Gần hải cảng này là vựa lúa của đồng bằng Quảng Nam, Quảng ngãi có thể nuôi quân. Đà Nẵng có nhiều giáo sĩ và giáo dân. Họ có thể hỗ trợ giúp đỡ chúng ta. Tham gia chiến dịch này, tôi điều động đại tá Rây nô, đại tá Phôn Côn, đại tá Đa rốt, đại tá Ốt xa rít, thiếu tá Gi be ri và đại tá Lan da rốt người của hạm đội Viễn Đông Tây Ban Nha chỉ huy 450 lính sang liên minh với chúng ta cùng tấn công Đại Nam. Đức cha Pen lơ ranh làm hướng đạo dẫn đường.

  Sáu sĩ quan cấp tá có tên đứng dậy dập chân nghiêm:

-Chúng tôi xin tuân lệnh Đô đốc.

 Đơ giơ nu di nói tiếp:

-Các ngài được 5 ngày chuẩn bị cho 14 chiến hạm và 3.000 quân, rõ chưa?

  Tất cả đều đáp:

-Tuân lệnh Đô đốc.

5 ngày sau, sáng 29-8-1858, 2.250 lính Pháp, 450 lính Tây ban nha, 14 tàu chiến, mỗi tàu gắn 50 đại bác hiện đại nhất thời đó có sức công phá lớn do soái hạm Nơ me xi có tốc độ cao tập trung tại vùng biển phía tây đảo Hải Nam Trung Quốc. Sóng biển mênh mông bát ngát, bầu trời mùa thu xanh trong. Cờ tam tài của Pháp, cờ của vương quốc Tây Ban Nha bay phấp phới trên đỉnh những con tàu. Đơ Giơ nu di ra lệnh cho tàu của Tây Ban Nha do đại tá Lan da rốt chỉ huy đi kỳ hạm, các tàu khác theo sau. Soái hạm Nơ me xi của Đơ giơ nu di đi giữa, 6 chiến hạm đi sau cùng hộ vệ. Cả đoàn tàu theo hướng nam mà hành trình. Mũi tàu đi theo 180 độ của kim la bàn. Sóng vỗ vào mạn những con tàu sắt như những con quái vật trắng xóa. Tốc độ tàu 12 hải lý giờ. Hành trình được một ngày một đêm thì Đơ giơ nu di hạ lệnh:

-Bẻ lái 90 độ kinh tây.

-Tuân lệnh, 90 độ kinh tây.

  Trên bản đồ hàng hải, đoàn tàu viễn chinh đang chạy vào cảng Đà Nẵng của Đại Nam. Đoàn tàu hành trình nửa ngày nữa thì quân viễn chính đã nhìn thấy đất liền. Hoàng hôn đang xuống. Toàn bộ vùng đất liền và vùng biển nhuộm một màu tím pha lẫn màu vàng, màu tối sẫm. Đó là buổi hoàng hôn chiều tối 31-8-1858. Pen lơ ranh chỉ cho Đơ giơ nu di:

-Núi trước mặt là bán đảo Sơn Trà, từ bán đảo đi vào được Đà Nẵng. Nối cửa biển là con sông lớn gọi là sông Hàn mà tàu chiến có thể theo sông thọc vào nội địa.

  Đơ giơ nu di nói:

-Cảm ơn đức cha.

  Rồi y nhìn xuống bản đồ, phác qua sự bố trí binh lực, các mũi tấn công để hôm sau khai hỏa mở màn cuộc tấn công đánh chiếm Đại Nam. Đơ giơ nu di ra lệnh:

-Đại tá Rây no, thiếu tá Gi be ry nghe lệnh.

-Thuộc cấp nghe lệnh.

-Hai ngài chỉ huy ba tàu chiến, 1.000 thủy binh có nhiệm vụ tập trung hỏa lực bắn vào các đồn trên bán đảo Sơn Trà, yểm trợ cho bộ phận 2, bộ phận của đại tá Phôn côn tiến đánh đồn cửa sông Đà Nẵng

-Tuân lệnh Đô đốc.

-Đại tá Phôn côn, đại tá Lan da rốt, đại tá Ốt xa rít nghe lệnh.

-Chúng tôi đợi lệnh thưa Đô đốc.

-Khi có hỏa lực của đại tá Rây nô yểm trợ, các ngài hãy tấn công vào cửa sông Đà Nẵng đánh chiếm đồn Đông và đồn Tây và tiến sâu vào nội địa.

-Tuân lệnh Đô đốc.


                                      *   *
                                         *

   Đó là ngày 31-8-1858, Đà Nẵng chìm trong nắng cuối hạ đầu thu mơn man gió biển. Dinh Tổng đốc Nam-Ngãi là tòa thành kiến trúc kiểu vô băng vươn lên bề thế trong không gian. Sóng biển vẫn hát lên lời ca của thủy triều muôn thuở. Bán đảo Sơn Trà xanh tươi cây lá soi bóng xuống sông Hàn. Những đám mây trắng trôi lang thang trên bầu trời vô định. Trong dinh, tổng đốc Trần Hoằng đang ngồi uống trà sau bữa ăn sáng. Chợt có viên tuần phủ vào báo:

-Dạ bẩm Tổng đốc, hôm kia 14 tàu chiến Pháp và Tây Ban Nha đã vào gần bán đảo Sơn Trà. Ngài đã có kế hoạch đối phó gì chưa?

  Trần Hoằng uống thêm một chén trà nữa rồi chậm rãi đáp:

-Ta đã viết tấu gửi về triều đình rồi nhưng chắc chúng chỉ vào quậy phá một hồi rồi đi như mấy lần trước chứ không dám tấn công lên bờ đâu. Vả lại tại đây ta có 2.000 quân, vừa rồi hoàng thượng lại cho tăng viện thêm 2000 quân nữa. Sợ gì cái bọn mắt xanh mũi lõ chứ.

  Trần Hoằng vừa dứt lời thì một tên lính tay cầm phong thư hốt hoảng chạy vào báo:

-Dạ bẩm Tổng đốc, tướng Pháp Đơ giơ nu di gửi tối hậu thư ạ.

  Trần Hoằng run rẩy xé phong thư. Thư viết bằng chữ Hán. Tối hậu thư viết: “ Bản Đô đốc chỉ huy 14 pháo hạm, 3.000 quân của liên quân Pháp và Tây Ban Nha đến hỏi tội triều đình Đại Nam vô cớ tàn sát giáo dân và bắt giam những giáo sĩ người Pháp. Nay thế trận của Liên quân đã dàn sẵn ngoài biển gần bán đảo Sơn Trà. Bản Đô đốc hẹn cho ngài 2 giờ nữa phải mở cửa thành đón tiếp Liên quân. Nếu chậm trễ bản Đô đốc sẽ nổ súng”. Đô đốc chỉ huy Liên quân Pháp Tây Ban Nha: Sác lơ Đơ giơ nu di.

  Thực ra đây không phải là việc bất ngờ. Chiều 31-8-1858, Trần Hoằng đã được báo về tàu của Pháp đã vào cửa biển Đà Nẵng nhưng Tổng đốc vẫn án binh bất động, không thị sát phòng tuyến, không lường trước khả năng và tình thế để ứng phó. Cho nên, khi nhận được tối hậu thư, Trần Hoằng choáng váng. Việc mà Tổng đốc nghĩ tới là ra thị sát xem quân pháp hành động ra sao để còn tìm cách đem gia đình, của cải thoát thân. Trần Hoằng, đề đốc, tuần phủ, án sát, bố chánh vừa ra khỏi dinh thì đã nghe đại bác nổ rầm rầm. Đạn dưới biển từ 14 pháo hạm của Pháp tuôn ra đỏ rực nối đuôi nhau như sao sa. Bán đảo Sơn Trà trúng đạn bốc lên từng quầng lửa và bốc cháy dưới tiếng gầm của đạn trái phá. Trần Hoằng và các quan tỉnh Nam-Ngãi chưa bao giờ chứng kiến một trận pháo kích điên cuồng dữ dội như vậy. Với tư cách là chỉ huy cao nhất của mặt trận Đà Nẵng nhưng Tổng đốc bất lực, không biết ra mệnh lệnh gì cho quân, dân, chỉ đứng nhìn và run sợ, trông cậy vào sự cầm cự chiến đấu của binh lính các đồn. Ở các đồn phòng thủ, đại bác của quân Việt cũng bắn ra nhưng do kỹ thuật lạc hậu, thao tác bắn phức tạp nên tốc độ bắn rất chậm, đạn rơi xuống không nổ, không sát thương được quân địch. Pháo quân Pháp áp đảo quân Việt và chỉ hai giờ tấn công, thám mã về báo:

-Dạ bẩm Tổng đốc.

-Có gì nói mau.

-Dạ, đồn Đông và đồn Tây bán đảo Sơn Trà đã thất thủ. Quân Pháp đã chiếm được bán đảo Sơn Trà rồi ạ.

-Hả…

  Sau tiếng kêu của Trần Hoằng thì hàng loạt đạn đại bác như sấm sét của quân Pháp dội xuống cửa sông Đà Nẵng. Trước vũ khí hiện đại và áp đảo của quân Pháp, quân Việt trên bán đảo Sơn Trà và các đồn ở cửa sông Đà Nẵng bị tổn thất quá lớn, vừa đánh vừa rút lui về lập phòng tuyến Lưu Trì trước huyện Hòa Vang để ngăn cản giặc không cho chúng tiến vào nội địa. Kết thúc trận chiến ngày 1-9-1858, quân Pháp đã chiếm được bán đảo Sơn Trà, chiếm hai đồn An Hải và Điền Hải.

  Cùng trong lúc đó, tại điện Cần Chánh ở kinh đô Huế, vua Tự Đức đang họp Hội đồng cơ mật và với các đại thần. Tự Đức nói:

-Quân Pháp đã gây hấn xâm lược ở Đà Nẵng. Nếu Đà Nẵng thất thủ thì kinh thành Huế bị đe dọa nghiêm trọng. Các ái khanh có kế sách gì để cứu Đà Nẵng không?

  Tôn Thất Thuyết nói:

-Tâu hoàng thượng, thần cho rằng nên phái Hữu quân Đô thống Lê Đình Lý và Tham trị Bộ hộ Phạm Khắc Thận đem 2000 quân tiếp ứng.

Ngự sử Phan Đình Phùng tâu:

-Bẩm hoàng thượng, thần cho rằng phải cách chức Trần Hoằng vì đã án binh bất động, thân mang trọng trách mà không có mưu lược chống ngoại xâm. Thứ nữa, hoàng thượng nên cử Tham tri nội các Nguyễn Duy chỉ huy quân thứ Quảng Nam, đưa Đào Trí thay Tổng đốc Nam-Ngãi để chống giặc.

Tự Đức nói:

-Chuẩn tấu. Quan nội giám đâu.

-Dạ, có thần.

-Truyền chỉ, cử các tướng lĩnh và thay đổi nhân sự như Hội đồng cơ mật đã bàn, đem thêm 2000 quân chi viện cho Đà Nẵng.

-Thần tuân chỉ.

  Vài ngày sau, quan nội giám lại vào tâu với Tự Đức:

-Bẩm hoàng thượng, thám mã từ mặt trận về báo, từ bán đảo Sơn Trà, quân pháp tiến sâu vào nội địa, dùng đại bác phá được phòng tuyến quân ta ở xã Mỹ Thị và tràn vào chiếm xã Cẩm Lê. Hữu quân Đô thống Lê Đình Lý trúng đạn đại bác trọng thương và đã hy sinh. Tướng Hồ Đức Tứ trấn giữ đồn Hóa Khê mà án binh bất động, không cứu viện cho tướng Lê Đình Lý.

  Tự Đức nổi giận:

-Truyền khẩu dụ của trẫm, bắt Hồ Đức Tứ về kinh trị tội, cử thống chế Chu Đức Minh làm Tổng đốc quân vụ thay Lê Đình Lý. Điều gấp Nguyễn Tri Phương đang là kinh lược sứ Nam Bộ về Đà Nẵng làm Tổng thống quân vụ Quảng Nam, tổng chỉ huy chống giặc. Đồng thời cử thêm Phạm Thế Hiển làm tham tán, võ tướng Võ Duy Ninh gấp rút cùng Nguyễn Tri Phương tìm phương lược chống ngoại xâm.

-Thần tuân chỉ.

  Trong bản doanh của Tổng thống quân vụ Quảng Nam, ngồi ở ghế chủ soái là Nguyễn Tri Phương, ngồi bàn dưới liền kề là tổng đốc Nam-Ngãi Đào Trí, chỉ huy quân thứ Quảng Nam Nguyễn Duy, tham tri Bộ lễ Nguyễn Khắc Thận, Tổng đốc quân vụ Thống chế Chu Phúc Minh, Tham tán Phạm Thế Hiển, Tham tri Bộ lại Võ Duy Ninh. Sáu người ngồi đối diện trên hai ghế tràng kỷ, giữa là chiếc bàn màu nâu gỗ gụ. Sau một lượt trà, Nguyễn Tri Phương nói:

-Đại bác, súng cầm tay của quân Pháp được sản xuất bằng những máy móc công nghiệp hiện đại nên hỏa lực rất mạnh. Trong khi đó đại bác của ta sản xuất thủ công nên rất lạc hậu, khi bắn phải nhồi thuốc châm lửa nên tốc độ rất chậm, đạn bắn không xa, đạn rơi xuống chỉ như ném đá, lại không chính xác, làm sát thương không đáng kể quân giặc, đó là chưa kể gặp trời mưa, thuốc súng ẩm còn không bắn được. Vì vậy ta có phương lược như thế này để chống giặc...

  Nguyễn Tri Phương dừng lại uống một li trà rồi nói tiếp:

-Để tránh hỏa lực mạnh của địch, ta chủ trương không đánh chính diện mà phục kích để tiêu diệt sinh lực địch. Thứ hai là di dân thực hiện vườn không nhà trống để giặc không thể cướp được lương thực. Thứ ba, giặc mạnh là do nhờ đại bác dưới tàu chiến yểm trợ. Nay giặc tiến sâu vào nội địa, không được tàu chiến đại bác yểm trợ nữa, sức mạnh hỏa lực của Pháp đã giảm, cho nên ta chủ trương xây lũy dài từ Hải Châu tới Phúc Ninh, Thanh Gian, ngăn không cho giặc vào sâu hơn nữa, giam chân giặc phía ngoài, kéo dài thời gian chiến sự, giặc hết lương thực sẽ thất bại.

  Tất cả đều gật gù:

-Tổng thống quân vụ nói phải lắm.

  Nguyễn Tri Phương nói:

-Các ngài đã tán thành thì về bắt tay vào việc di dân khỏi vùng chiến sự, thứ hai là đắp chiến lũy, thứ ba là đánh phục kích để tiêu hao giặc. Ai không hoàn thành phận sự, chém.

  Sáu tướng lĩnh đồng thanh đáp:

-Chúng thuộc hạ tuân lệnh Tổng thống quân vụ.

  Hai tháng sau, tại mặt trận giáp nhau giữa quân Pháp và quân Việt, một phòng tuyến bằng đất nện chắc chắn mọc lên, ngăn không cho quân Pháp tiến sâu vào đất liền. Quân Pháp đã nhiều lần mở những cuộc phản kích nhằm phá vỡ phòng tuyến  nhưng bất lực vì phòng tuyến xa biển, tàu chiến và đại bác không thể hỗ trợ được cho bộ binh Pháp. Đã thế, dân cư trong vùng Pháp chiếm đóng hai tháng nay đã di tản hết, làng mạc chỉ còn vườn không nhà trống. Quân Pháp lâm vào tình trạng đói khát vì không cướp được lương thực. Đang là cuối hè đầu thu nhưng miền Trung khí hậu khắc nghiệt, cái nóng như thiêu đốt hành hạ quân Pháp. Đã thế quân Việt thường xuyên tập kích tiêu hao quân Pháp. Năm tháng sau khi đặt chân đến Đà Nẵng, đạo quân 3.000 tên Pháp và Tây ban nha chỉ còn lại 1.500 tên. Trong số 1.500 chỉ còn lại 1000 tên là cầm được súng nên không đủ sức mở một cuộc phản kích lớn phá bức chiến lũy đất của quân Đại Nam.

  Trên vùng biển Đà Nẵng, 14 tàu chiến của quân viễn chinh nằm bất lực không thể hỗ trợ cho bộ binh tác chiến vì mặt trận tiến quân vào đất liền.

  Ngày 1-2-1859, trong căn phòng rộng và sang trọng của tàu đô đốc hạm, Đơ giơ nu di họp cùng những gương mặt quen thuộc là các đại tá Rây no, đại tá Phôn côn, đại tá La da rốt, đại tá  Ốt xa rít, thiếu tá Gi be ri và Giám mục Pen lơ ranh. Đơ giơ nu di nói:

-Ta rất buồn thông báo cho đức cha Pen lơ ranh và các ngài biết rằng cuộc tấn công vào Đà Nẵng của ta đến đây thất bại, nếu kéo dài thêm cuộc chiến thì 1.500 lính còn lại sẽ bị tiêu diệt hết vì đói khát, vì bị phục kích, vì bị đau ốm và khí hậu khắc nghiệt. Đức cha và các ngài có cao kiến gì không?

  Sau thông báo của Đơ giơ nu di, những tên thực dân khét tiếng chỉ biết im lặng uống rượu. Pen lơ ranh phá tan bầu không khí im lặng:

-Hay là ta nên đem pháo hạm và quân đội ra tấn công Bắc Kỳ, ở đấy có nhiều giáo sĩ và giáo dân, họ có thể giúp sức.

  Đơ giơ nu di cố nén cơn giận:

-Thưa cha, cha đã nói trước hoàng thượng, trước Chính phủ Pháp, trước chúng ta rằng nếu tấn công Đà Nẵng, các giáo sĩ và giáo dân sẽ ủng hộ chúng ta. Năm tháng nay quân ta đói khát chết chóc, có giáo sĩ, giáo dân người Việt nào giúp đỡ đoàn quân viễn chinh đâu? Theo chỗ ta biết thì người Việt có thể theo tôn giáo này, tôn giáo kia nhưng họ có một mẫu số chung là cùng chung một lòng vì tổ quốc của họ. Cho nên tấn công ra Bắc Kỳ không thể hy vọng các giáo sĩ và giáo dân người Việt ủng hộ. Ngay cả nông dân Đại Nam rất căm thù nhà Nguyễn nhưng họ cũng không vì thế là theo chúng ta. Họ sẽ quyết liệt hy sinh chiến đấu với chúng ta vì đất nước của họ.

  Pen lơ ranh cúi đầu im lặng. Thực ra ông ta cũng không hiểu hết giáo dân người Việt. Có thể họ kính Chúa nhưng điều đó không làm giảm đi lòng yêu nước của họ. Có thể ở họ yêu Chúa và yêu nước là một. Đơ giơ nu di phá tan bầu không khí nặng nề:

-Bây giờ ta quyết định một cuộc phiêu lưu mới. Đại tá Phôn Côn ở lại chỉ huy mặt trận Đà Nẵng. Ta sẽ đem một phần tàu chiến và một phần binh lính tiến đánh Gia Định.

  Tất cả đều ngạc nhiên:

-Hả? Mở mặt trận Gia Định?

  Đơ giơ nu di nói:

-Phải, ta đã tính toán kỹ rồi, miền Gia Định nhiều sông ngòi thuận lợi cho tàu chiến và đại bác của ta phát huy hiệu quả, Gia Định nhiều thóc gạo, lo gì quân ta bị đói dù chiến tranh lâu dài. Hơn nữa lực lượng quân sự của nhà Nguyễn ở Gia Định yếu, chỉ cố thủ trong các thành trì mà cố thủ trong các thành chỉ làm mồi ngon cho đại bác của ta. Ha! Ha! Ha!...

  Ngừng lại để uống thêm một cốc rượu, Đơ giơ nu di nói tiếp:

-Chiếm Gia Định, chúng ta cắt đứt nguồn lúa gạo lương thực của triều đình nhà Nguyễn, đẩy chúng đã khó khăn càng khó khăn hơn. Chúng ta sẽ làm chủ lưu vực sông Mê Công, từ đó chúng ta có thể đánh chiếm Bắc Kỳ, Lào và Căm bốt. Trước mắt ở đó chúng ta vừa đánh vừa phòng thủ, vừa hành binh vừa lưu thông hàng hóa.

  Pen lơ ranh nói:

-Xin Đô đốc nghĩ lại, tấn công Bắc Kỳ vẫn có khả năng chiến thắng nhiều hơn.

-Thưa cha, ý ta đã quyết, chúng ta, những tên thực dân đồng thời là những tên cướp biển. Chúng ta phải phiêu lưu mạo hiểm thì mới thành công được. Các ngài mau về chuẩn bị.

-Dạ, tuân lệnh Đô đốc.

  Cả bọn đứng dậy. Đơ giơ nu di nâng cốc:

-Chúc chúng ta thành công.

-Chúc Đô đốc và hạm đội Viễn Đông lừng danh thành công.

  Đơ giơ nu di yêu cầu quân Pháp ở đảo Hải Nam tăng viện. Đơ giơ nu di để lại cho Phôn côn 1.000 lính, 6 tàu chiến giữ Đà Nẵng. Ngày 9-2-1859, Đơ giơ nu di đem 1.000 quân, 8 pháo hạm tiến về hướng Nam. Một tai họa chiến tranh mới cho Đại Nam đang vạch vẽ ghê rợn trên bầu trời. Bầu trời u ám, sóng biển vang lên tiếng gào thét căm hờn.

III

  Trời đã sang xuân. Biển phương Nam vẫn ngày đêm gầm gào sóng gió, sóng xô mạnh suốt ngày đêm vào mạn tàu của đoàn quân viễn chinh Pháp, bọt sóng tung trắng xóa, những con tàu lắc lư nghiêng ngửa. Những con tàu sắt vẫn hung hãn đè sóng biển tiến tới phương Nam.

  Đơ giơ nu di đứng trên đài chỉ huy, bên cạnh có đại tá Rây no, đại tá Tây Ban Nha La da rốt, thiếu tá Gi be ri. Tất cả hạm tàu đã sẵn sàng chiến đấu. Rây no hỏi Đơ giơ nu di:

-Thưa Đô đốc, chúng ta đang ở vùng biển nào rồi ạ?

  Đơ giơ nu di liếc vào hải đồ rồi nói:

-Chúng đang hành trình trên vùng biển Vũng Tàu, Bà Rịa.

Đại tá Rây no lại hỏi:

-Thưa Đô đốc, còn cách cửa biển Cần Giờ bao xa?

  Đơ giơ nu di đáp:

-Khoảng 20 hải lý nữa.

-Vậy sắp đến rồi. Theo tôi, Đô đốc nên cho bắn vài loạt đại bác vào bờ để thử lại súng đạn, để sẵn sàng chiến đấu và để thị uy, dọa nạt quân dân Gia Định một phen.

-Đại tá nói phải lắm.

  Rồi từ đài chỉ huy, Đơ giơ nu di ra lệnh:

-Chú ý, tám pháo hạm đồng loạt nổ một loạt đại bác vào Vũng Tàu-Bà Rịa.

-Rõ, nổ một loạt đại bác vào Vũng Tàu-Bà Rịa.

  Tám pháo hạm đồng loạt nổ vang như sấm, đạn sáng rực như những tia chớp bay vào làng mạc ven bờ biển Vũng Tàu-Bà Rịa. một vùng ven biển đang yên lặng thanh bình bị một cơn bão lửa ập xuống. Một số nóc nhà bốc cháy. Các sĩ quan và binh lính Pháp trông thấy những bóng người hoảng loạn chạy tới, chạy lui. Bọn sĩ quan và binh lính nhìn thấy cảnh đó chúng khoái chí cười lên man rợ:

-Ha!Ha!Ha!...

-Ha!Ha! Ha!...

Đơ giơ nu di ra lệnh tiếp:

-Chuẩn bị sãn sàng chiến đấu, đánh tan hạm đội của Đại Nam nếu chúng đón ta ở cửa biển Cần Giờ, cản đường chúng ta vào thành Gia Định.

  Trời biển phương Nam vẫn một màu nắng gió và nước mênh mông. Đơ giơ nu di ra lệnh cho hạm tàu rẽ về hướng tây, la bàn chỉ mũi tàu đi 90 độ. Làng mạc ven biển đã hiện ra xanh ngát. Sác lơ Đơ giơ nu di dự đoán hạm đội Đại Nam sẽ đón đầu và chặn đánh đoàn tàu Pháp ở cửa biển để bảo vệ thành Gia Định. Nhưng cửa biển Cần Giờ vắng lặng, không một chiếc tàu thuyền. Đơ giơ nu di chột dạ lo lắng. Hay là Tổng đốc Gia Định Võ Duy Ninh chờ cho tàu của Pháp vào sâu rồi mới đánh hỏa công. Nếu như vậy thì đoàn tàu Pháp sẽ lâm nguy. Nghĩ vậy Đơ giơ nu di ra lệnh:

-Bốn chiến hạm đi trước dò đường xem có mai phục không, vừa đi vừa dọn đường bắn phá các đồn hai bên sông Cần Giờ, nếu gặp vật liệu chuẩn bị đánh hỏa công thì dừng lại, bắn cháy bè hỏa công, gió từ phía đông thổi vào sẽ đưa bè lửa ngược lại vào thành Gia Định, quân Đại Nam sẽ tự thiêu đốt mình.

  Rây no hỏi:

-Thưa Đô đốc, nếu gặp bè lửa phía sau lưng ta thì làm thế nào ạ?

-Ồ, quá dễ, trong trường hợp này, ngài hãy cho tàu chạy thẳng vào thành Gia Định, bắn phá thành và nhảy lên bờ mà đánh chiếm thành, chúng tôi sẽ tiếp viện phía sau.

-Rõ, tuân lệnh Đô đốc.

  Rây no dẫn đầu 4 pháo hạm đi tiên phong, hai tàu một cặp đi song song, vừa đi vừa bắn phá những chướng ngại vật quân Việt đặt trên sông. Từ đài chỉ huy qua vô tuyến điện, Đơ giơ nu di nhận được báo cáo của Rây no:

-Báo cáo Đô đốc, quân ta đã triệt phá được 12 đồn của quân Việt hai bên bờ sông mà không thấy có bè chuẩn bị đánh hỏa công.

-Vậy thì tốt, tiến thẳng vào thành Gia Định.

-Rõ, tuân lệnh Đô đốc.

  Chiều 15 -2-1859, bốn tàu của Rây no gặp ụ Hữu Bình, đồn Vàm Cỏ tả ngạn sông và đồn Giác Ngư hữu ngạn sông bảo vệ cho thành Gia Định. Thấy thuyền nhỏ và chất cháy của quân Việt nhằm đánh hỏa công, Rây no ra lệnh:

-Bắn vào thuyền chất cháy của quân Việt.

-Rõ, thưa đại tá.

Đại bác Pháp nã đạn vào, dàn hỏa công của quân Việt bốc cháy dữ dội như bão lửa nhưng lại trôi về thành Gia Định theo hướng gió đông thổi vào, phía trước tàu của quân pháp. Đồn Vàm Cỏ và đồn Giác Ngư bắn đại bác vào tàu Pháp nhưng đạn chỉ như những hòn đá rơi xuống sông mà không nổ. Tàu chiến Pháp không hề hấn gì, nã đại bác cấp tập vào hai đồn. Đồn Vàm Cỏ và đồn Giác Ngư bốc cháy. Đồn tan nát và hàng trăm binh lính Việt hy sinh. Lửa các bè hỏa công trôi dạt vào gần thành Gia Định cháy suốt đêm, sáng hôm sau mới tắt.

  Đêm 5 tháng 2 năm 1859, Tổng đốc Gia Định Võ Duy Ninh cùng thuộc cấp và binh lính thức suốt đêm để lo phòng thủ Gia Định, chống đỡ quân Pháp. Võ Duy Ninh quê quán Quảng Ngãi, đỗ cử nhân. Vua Tự Đức thấy có tài năng nên bổ nhiệm Tham trị Bộ lễ, cùng tham gia phòng thủ Đà Nẵng với Nguyễn Tri Phương, mới nhậm chức Tổng đốc Gia Định-Biên Hòa được hai hôm thì quân Pháp đánh Gia Định. Võ Duy Ninh đã chỉ huy quân ác chiến với quân pháp suốt một chiều. Đêm xuống dần, bóng đêm bao phủ mịt mùng. Thành Gia Định cũng chìm trong bóng tối. Trong dinh Tổng đốc, Võ Duy Ninh ngồi ghế chủ, bàn kê dọc dưới ngồi hai hàng ghế là Án sát Lê Từ, cử nhân Trần Trí, Lãnh binh Tôn Thất Năng. Bốn người đã cạn nhiều ấm trà nóng. Những ngọn đèn dầu lạc cắm trên những chiếc lư đồng trên tường tỏa ánh sáng vàng vọt. Cả bốn người còn đang đăm chiêu nghĩ kế chống Pháp, giữ thành. Chợt có lính vào báo:

-Dạ cấp báo Tổng đốc, sau khi triệt hạ đồn Vàm Cỏ và đồn Giác Ngư là hai đồn then chốt bảo vệ thành Gia Định, tám tàu quân pháp đã tiến vào sông gần thành, các bè hỏa công của ta đã bị giặc bắn cháy đang trôi dạt và cháy âm ỉ ở sông hào ngoài thành của ta.

-Võ Duy Ninh nói:

-Rồi cho ngươi lui, có gì phải nhanh chóng cấp báo.

-Dạ, thưa Tổng đốc.

  Võ Duy Ninh nói tiếp:

-Sáng mai tắt lửa, tàu chiến Pháp sẽ vào sông giáp cổng thành, các vị có cao kiến gì để giữ thành không?

  Án sát Lê Từ nói:

-Theo tại hạ thì cho đại bác trên mặt thành bắn xuống tàu Pháp, mặt khác cho bộ binh ra ngoài thành quyết chiến với giặc khi chúng đổ bộ lên bờ đánh thành.

  Bố Chánh Vũ Trực nói:

-Tổng đốc nên viết thư cho người đem ra ngoài kêu gọi các đội quân bên ngoài và tổng đốc các tỉnh lân cận đem quân về hợp sức chống Pháp ở Gia Định, trong đánh ra, ngoài đánh vào chắc tiêu diệt được quân Pháp.

Võ Duy Ninh  nói;

-Ngài nói phải lắm. Bay đâu.

-Dạ thưa Tổng đốc.

-Đem giấy mực ra đây.

  Có giấy mực, Võ Duy Ninh viết thư cho tổng đốc các tỉnh Định Tường, Biên Hòa và quân Nguyễn đang đóng ở đồn Chí Hòa về cứu thành Gia Định. Viết xong thư, Võ Duy Ninh ra lệnh:

-Lãnh binh Tôn Thất Năng.

-Có thuộc tướng.

-Lãnh binh đem thư đến đồn Chí Hòa bảo tướng Tôn Thất Hiệp đem quân gấp đến cứu thành Gia Định.

-Dạ, tuân lệnh Tổng đốc.

-Gọi hai viên đội vào đây.

-Dạ.

  Hai viên đội đến, Võ Duy Ninh nói:

-Hai ngài nghe lệnh. Ngài đây đem thư cho Tổng đốc Long - Tường Trương Văn Uyển, còn ngài đem thư cho Tổng đốc Biên Hòa bảo đem quân nhanh chóng đến cứu Gia Định.

-Dạ, tuân lệnh.

-Đề đốc Trần Trí

-Có thuộc tướng.

-Cả thành Gia Định có 2000 binh lính, ngài đem 1000 quân ra ngoài thành đánh quân Pháp đổ bộ lên chiếm thành.

-Thuộc tướng tuân lệnh.

-Án sát Lê Từ nghe lệnh.

-Có thuộc tướng.

-Ngài lên mặt thành chỉ huy pháo binh bắn vào tàu Pháp khi chúng đến gần thành.

-Thuốc cấp tuân lệnh.

-Còn ta sẽ chỉ huy 1000 quân còn lại bảo vệ thành.

  Chờ cho các bè lửa có hỏa công tắt hẳn, con đường sông vào Gia Định đã được mở, Đơ giơ nu di ra lệnh:

-Các tàu nã pháo vào thành.

-Rõ tuân lệnh Đô đốc.

  Đoạn sông Cần Giờ sát với phía đông thành Gia Định hàng loạt tiếng nổ vang lên, những viên đạn lửa như bắp chuối lao vào thành. Thành Gia Định chìm trong bão lửa. Phút chốc tường thành phía đông bị phá tan hoang. Pháo quân Việt trên mặt thành bắn xuống nhưng đạn rơi xuống không nổ, không sát thương được tàu và quân Pháp. Đơ giơ nu di ra lệnh:

-Ngừng pháo kích, lệnh cho lính thủy đánh bộ xông lên chiếm thành.

-Dạ, tuân lệnh Đô đốc.

  Quân Pháp tràn lên. 1000 quân của Trần Trí chỉ huy bên ngoài thành đã hy sinh gần hết do hỏa lực đại bác của Pháp. Quân Pháp tràn vào thành. 1000 quân còn lại do Võ Duy Ninh chỉ huy đánh giáp lá cà với Pháp. Tiếng pháo lại gầm lên như sấm rền, tiếng reo hò kinh thiên động địa, tiếng gươm súng chạm nhau tóe lửa, tiếng súng tay của Pháp, tiếng súng hỏa mai của quân Việt nghe như pháo, quân Việt dùng gươm giáo chém giặc, quân Pháp dung lưỡi lê đâm, thây người gục đổ, thành Gia Định máu chảy chan hòa. Tổng Đốc Võ Duy Ninh đang đốc chiến thì bị trúng đạn vào ngực gục xuống, ngất xỉu. Sau 4 giờ giao chiến quân Pháp hoàn toàn làm chủ thành Gia Định. 10 giờ sáng ngày 17-2-1859, Án sát Lê Từ cõng Tổng đốc Võ Duy Ninh chạy về thôn Phước Lý, tổng Phước Lộc, huyện Tân Bình. Đề đốc Trần Trí, bố chánh Vũ Trực, Lãnh binh Tôn Thất Năng chạy về ụ Tây Thới, nhờ sự yểm trợ của quân ứng nghĩa Lê Huy và Trần Thiệu Chính mới thoát. Khi tháo chạy, các quan chức đã bỏ lại thành Gia Định 200 khẩu đại bác, 1 hải phòng hạm, 7 chiến thuyền, 25.000 kg thuốc nổ, tiền bạc trị giá 130.000 fơ răng cs, gạo thóc đủ nuôi 8000 quân trong 1 năm.

  Tại huyện Tân Bình, khi tỉnh lại, Tổng đốc Võ Duy Ninh hỏi người lính cận vệ:

-Thành Gia Định còn hay mất?

  Người lính thực tình trả lời:

-Dạ, thưa Tổng đốc, thành Gia Định đã mất vào tay giặc rồi ạ.

-Triều đình có cho quân cứu viện không?

-Dạ, hoàng thượng có cử Thượng thư Bộ hộ Tôn Thất Hiệp đem 15.000 quân nhưng đến Biên Hòa thì dừng lại, không cứu viện cho Gia Định và án binh bất động, không tấn công Pháp.

-Còn tổng đốc các tỉnh lân cận?

-Dạ, chỉ có Tổng đốc Long-Tường Trương Văn Uyển đem quân đến đồn Lão Sầm, gần chùa Mai Sơn nhưng bị quân Pháp bao vây. Trong trận này Trương Văn Uyển bị thương phải rút về Vĩnh Long. Còn các tỉnh khác không thấy động binh cứu Gia Định ạ.

  Võ Duy Ninh nói với người lính cũng như đang nói với mình:

-Cái gã Thượng thư Tôn Thất Hiệp này, binh lực trong tay gấp bảy lần quân Pháp mà án binh bất động, không chịu tấn công đánh Pháp, cứu Gia Định, tổng đốc các tỉnh không thấy cái nguy là mất Gia Định sẽ mất toàn bộ miền Đông và miền Tây. Triều đình thì tập trung hết quân chủ lực ở Đà Nẵng, rất coi thường thành Gia Định. Lương thực đủ ăn cho 1 vạn quân trong 1 năm mà thành chỉ có 2000 quân, trang bị thì lạc hậu. Chúng ta trở thành tội đồ của lịch sử dân tộc rồi, than ôi!!!

  Bất ngờ Võ Duy Ninh giật phắt thanh gươm người lính mang bên người cắt vào cổ mà tự sát. Đó là ngày 17-2 -1859, Võ Duy Ninh khi đó mới 55 tuổi. Đó là tướng lĩnh cao cấp đầu tiên của Đại Nam hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược.

Trong thành Gia Định, Sác lơ Đơ giơ nu di đang họp cùng các sĩ quan bàn về việc mở rộng chiến tranh khắp Gia Định và chờ đợi sự phản ứng của triều đình Huế để hành động, chợt có lính vào báo:

-Bẩm Đô đốc, Thượng thư Bộ hộ nhà Nguyễn Tôn Thất Hiệp đem 15.000 quân đã tiến đến Biên Hòa.

  Lại có lính vào báo:

-Dạ bẩm Đô đốc, Tổng đốc Long-Tường Trương Văn Uyển đang tập trung lực lượng ở Vĩnh Long để tấn công Gia Định.

  Rây No nói:

-Tin tức các nơi báo về chắc Đô đốc đã biết, không cần lệnh của Triều đình, dân Gia Định đã tổ chức quân ứng nghĩa khắp nơi, đã ngày đêm phục kích, tập kích, bao vây tấn công quân ta khắp Gia Định. Vùng quanh thành Gia Định dân cư đã di tản hết, không chịu hợp tác với chúng ta.

  Đơ giơ nu di nói:

-Phải thừa nhận cuộc chiến tranh này khó khăn hơn nhiều so với cuộc chiến tranh với Trung Hoa. Chúng ta chỉ có 1000 người, đóng ở thành Gia Định thì lọt vào cô đảo giữa 10 triệu dân của đồng bằng Cửu Long. Nếu bị bao vây thì chúng ta chỉ có con đường chết. Lương thực thì đủ ăn một năm nhưng súng đạn sẽ hết. Đại bác thì dưới tàu, không thể kéo lên mặt thành phòng thủ. Cho nên, để chờ thời cơ, ta chủ trương rút xuống tàu và đốt thành Gia Định, không để cho quân Đại Nam sử dụng lại thành trì kiên cố này để đánh ta.

  Đại tá Lan da rốt nói:

-Thật đáng tiếc nhưng đúng như Đô đốc nói, không có cách nào khác.

  Đơ giơ nu di nói:

-Trước khi đốt thành nên chuyển vận nhiều lương thực vừa với trọng tải của tám tàu, đem đi những tác phẩm có gía trị nghệ thuật, nhất là vàng bạc và tiền nong.

-Rõ, tuân lệnh Đô đốc.

-Ngài đại tá Phôn côn.

-Có thuộc hạ, thưa Đô đốc.

-Ngài hãy cho đặt ở 4 tường thành mấy chục ổ thuốc nổ phá tung các tường thành và từ đó đốt cháy toàn bộ thành Gia Định.

-Tuân lệnh, thưa Đô đốc.

  Ngày 8 tháng 3 năm 1859, từ thành Gia Định vang lên những tiếng nổ rung chuyển mặt đất, bốn tường thành biến thành cát bụi bay lên trời. Toàn bộ bên trong thành bốc cháy chìm trong biển lửa. Lửa thiêu cháy các dinh thự, doanh trại, kho tàng. Kho chứa thóc gạo bốc cháy hai năm mà khói vẫn nghi ngút, mưa gió không thể nào dập tắt được. Việc cháy thành Gia Định là một vết thương rỉ máu lâu đời trong lòng nhân dân Gia Định và nhân dân Nam Kỳ lục tỉnh. Quân Pháp còn đốt phá, cướp bóc nhiều khu phố thương mại và thôn xóm đông dân cư.

IV

Bấy giờ là tháng 2 năm 1861, đang là mùa xuân nhưng miền đất Gia Định nói riêng và Lục tỉnh Nam Kỳ nói chung không mát mẻ và gió se lạnh như miền Bắc. Tuy vậy, trời không nắng chói chang như mùa khô nên cây cối ra nhiều lá non, đua nhau xanh tốt vươn lên dưới bầu trời xanh. Những rặng trâm bầu bát ngát bao quanh, uốn lượn quanh những thôn ấp mênh mông, những đồng lúa bát ngát, những kênh rạch chằng chịt bắt nguồn từ những sông Đồng Nai, sông Tiền Giang, Hậu Giang, trở thành chi nhánh bủa vây khắp thôn ấp, tạo nên những kênh rạch chằng chịt, làm cho những chiếc ghe thuyền giao lưu dễ dàng, đi lại khắp bốn phương trời của xứ sở miền Đông và miền Tây. Trong cảnh sắc xanh tươi của miền Đông, nổi bật lên một công trình phòng thủ đắp bằng đất sét, đá và rơm, nhiều tầng nhiều lớp, kéo dài từ Lầu Kiệu chạy dài đến Phú Thọ. Cư dân miền Gia Định gọi công trình này là Đại Đồn, hay là Đại Đồn Chí Hòa.

   Chỉ huy Đại Đồn Chí Hòa là Đông các Đại học sĩ, Tráng liệt bá, Gia  Định quân thứ, Tổng Thống quân vụ Đại thần Nguyễn Tri Phương. Ông được bổ nhiệm chức vụ này vào tháng 7 năm 1860. Bộ hộ Thượng thư Tôn Thất Hiệp làm Tham tán, tán lý Nguyễn Duy, em ruột Nguyễn Tri Phương, Tham tán Đại thần Phạm Thế Hiển. Các Đại thần dưới sự chỉ huy của Nguyễn Tri Phương ở Đại Đồn cùng chống Pháp.

  Bước đầu xây dựng Đại Đồn là công lao của Tống Phúc Hiệp nhằm ngăn chặn quân Pháp tràn lên chiếm bắc Sài Gòn. Sau khi trở thành Tổng thống quân thứ Gia Định, Nguyễn Tri Phương thấy rằng Đại Đồn có vị trí chiến lược quan trọng trong kháng chiến chống Pháp. Đại Đồn có thể khống chế, cắt Sài Gòn ra làm hai khu vực, không cho Pháp nhận nguồn tiếp tế lương thực từ đồng bằng Cửu Long. Quân Việt từ đồn điền Mỹ Tho, Gò Công dễ vận chuyển lương thực tới Đại đồn và tác chiến. Phía Bắc của Phú Thọ-Chí Hòa giáp kề Mười Tám Thôn Vườn Trầu, địa thế hiểm địa, đông người, giàu nghĩa khí. Cho nên làng Thuận Kiều của Mười Tám Thôn Vườn Trầu được xây dựng thành căn cứ thứ hai của Đại Đồn. Công trình được xây từ tháng 8 năm 1860, đến tháng 2 năm 1861 thì hoàn thành. Chiến lũy nằm tại làng Chí Hòa nên gọi là Đại Đồn Chí Hòa.

  Đại Đồn Chí Hòa dài 3.000m, rộng 1.000m, chia làm 5 khu bằng nhau, ngăn cách bởi bờ rào gỗ, có cửa. Tường đồn được xây bằng đất sét trộn với đá ong, cao 3,5m, dầy 2m, có nhiều lỗ châu mai để bắn ra. Mặt trên của tường và mặt ngoài của tường trồng nhiều cây gai dầy đặc. Bên ngoài đồn nhiều lớp rào tre, nhiều mô đất, nhiều ao nước và vô số hố chông. Trên tường của đồn đặt 150 khẩu đại bác bắn bằng đạn gang.

  Bên phải của Đại Đồn về phía chùa Cây Mai và bên trái là rạch Thị Nghè có đắp mỗi bên là một chiến lũy dài, lấy đồn tả và đồn hữu làm điểm tựa được gọi là Đồn Tiền đối diện với chùa Cây Mai 400m, Pháp gọi là đồn Mo coi (Redoute). Sau lưng Đồn Tiền theo đường cái phía Tây là 5 đồn mở rộng hết đất của làng Thanh Hòa và làng Phú Thọ. Đàng sau Đại Đồn là nhiều đồn nhỏ yểm trợ như đồn Thanh Tương, đồn Thuận Kiều, đồn Rạch Tra.

  Hậu đồn có hai đồn tả và hữu, cách nhau vài chục mét nằm trên đất làng Tân Sơn Nhì. Sau đồn có kho chứa quân lương, quân khí.

  Phía đông của Đại Đồn có con đường đi Bắc Hải. Toàn bộ Đại Đồn nằm dọc phía Nam đường Thiên lý phía Tây, đối diện là con sông Nhiêu Lộc.

  Đại Đồn có khoảng 20.000 quân thường trực, 10.000 quân dân dũng.

  Mặt yếu của Đại Đồn là hai bên hông và mặt tiền đều ngó ra sông Sài Gòn, đối với quân Pháp có tàu chiến nên dễ đánh trước mặt, đánh xuyên hông, đánh bọc hậu. Nguyễn Tri Phương chủ trương vừa công vừa thủ nhưng không hơn gì việc án binh bất động của Tôn Thất Hiệp, không công kích quân Pháp ngay mà tập trung 30.000 người xây dựng Đại Đồn hơn một năm nhằm bao vây quân Pháp, không cho chúng đánh rộng ra hơn nữa. Xây Đại Đồn một năm, chỉ vài ngày là mất, đây là chủ trương phòng thủ tai hại của Nguyễn Tri Phương và của quan chức triều đình Nguyễn.

  Trong Tổng hành dinh của Đại Đồn, Nguyễn Tri Phương đang chủ tọa cuộc họp với các tướng lĩnh để bàn cách bảo vệ Đại Đồn nếu quân Pháp tấn công. Nguyễn Tri Phương ngồi ghế chủ soái nhìn xuống. Ngồi dưới là Tán lý Nguyễn Duy, Tham tán đại thần Phạm Thế Hiển, Tham tán Tống Phúc Hiệp, Đề đốc Trương Công Định. Sau một lượt trà, Nguyễn Tri Phương nói:

-Qua một năm, với công sức của 3 vạn quân dân xây dựng, đến nay Đại Đồn đã hoàn tất. Hi vọng với Đại Đồn ta thực hiện được vừa thủ vừa công. Thủ là bao vây chặt quân Pháp, không cho chúng mở rộng địa bàn chiếm đóng, công là nếu chúng tấn công vào Đại Đồn ta sẽ tiêu diệt chúng. Đại Đồn sẽ là mồ chôn quân xâm lược. Nay các tướng nghe lệnh:

-Tán lý quân vụ Nguyễn Duy.

-Có thuộc tướng.

-Ngài hãy chỉ huy đồn hữu chuẩn bị chống giặc.

-Thuộc tướng tuân lệnh.

-Đại thần Tôn Thất Hiệp.

-Có thuộc tướng.

-Ngài hãy chỉ huy đồn tả chống giặc.

-Thuộc tướng tuân lệnh.

-Tham tán đại thần Phạm Thế Hiển.

-Có thuộc tướng.

Ngài hãy chỉ huy đồn trung  chống giặc.

-Thuộc tướng tuân lệnh.

-Đề đốc Trương Công Định.

-Có thuộc tướng:

-Ngài hãy chỉ huy mặt trận phía Bắc chống giặc.

-Thuộc tướng tuân lệnh.

-Lãnh binh Nguyễn Trung Trực.

-Có thuộc tướng.

-Tướng quân hãy chỉ huy đồn Hậu chống giặc.

-Thuộc tướng tuân lệnh.

-Còn ta sẽ chỉ huy chung toàn bộ Đại Đồn. Chúng ta sẽ bảo vệ Đại Đồn để ngăn không cho giặc đánh rộng ra.

  Thấy nét mặt của các tướng có vẻ đăm chiêu lo lắng, Nguyễn Tri Phương nói:

-Ta biết các ngài lo lắng cho những trận đánh sắp tới. Quân giặc có vũ khí hiện đại, sức công phá  mạnh và sát thương lớn, pháo chúng lại cơ động đặt trên những tàu chiến. Pháo của chúng ta nhỏ hơn, phải vừa bắn vừa nhồi thuốc nên tốc độ chậm, đầu đạn không nhồi thuốc nên trúng mục tiêu không nổ, không có sức công phá và sát thương lớn. Vũ khí bộ binh cũng lạc hậu. Đây là nhược điểm mà ta không thể khắc phục ngay được. Chúng ta chỉ có một tấm lòng kiên trung vì nước mà thôi.

Trương Công Định  nói:

-Ta có thế mạnh của ta. Giặc vài nghìn tên, dân ta chỉ riêng Nam Kỳ lục tỉnh đã gần chục triệu. Sau khi thành Gia Định thất thủ, các đội quân ứng nghĩa của bách tính nổi lên khắp nơi làm cho giặc khốn đốn, đến mức chúng không ở được trong thành Gia Định, phải đốt thành xuống tàu ở cho an thân. Thuộc tướng nghĩ nên kêu gọi nhân dân nổi dậy, tiến hành chiến tranh du kích khắp nơi làm cho quân giặc sa lầy thì chúng ta mới chiến thắng được. Đại bác quân pháp dù mạnh đến đâu cũng không bắn hết mọi nơi được. Không có các đội quân ứng nghĩa trợ giúp, thành lũy kiên cố của chúng ta cũng sẽ bị công phá.

  Nguyễn Tri Phương nói:

-Đề đốc nói có cái phải của ngài nhưng ta là quan quân của triều đình, không thể đi ngược lại ý chỉ của hoàng thượng, của triều đình là “Thủ để hòa nghị”. Có cố thủ thắng lợi thì mới đàm phán thắng lợi buộc Pháp phải rút quân khỏi nước ta. Trong hòa nghị, chúng ta chủ trương cho chúng tự do thông thương, tự do truyền đạo là được.

  Trương Công Định nói:

-Thưa Tổng thống quân vụ, nếu cố thủ không được thì làm sao ạ?

  Nguyễn Tri Phương buồn rầu nói:

-Phát động bách tính lập các đội quân ứng nghĩa là một chủ trương lớn phải được từ triều đình ban xuống cho phép. Chúng ta chỉ biết làm theo phận sự thôi.

 Cả năm người im lặng. Cả bốn vị đại thần, kể cả Nguyễn Tri Phương cũng không dám trả lời câu hỏi của Trương Công Định: Nếu cố thủ không được thì làm sao? Nhưng câu trả lời thì đã có là mất nước. Nhưng phát động bách tính nổi dậy là trái chủ trương của Tự Đức, là bất trung. Các quan lại của thời đại này đang gặp mâu thuẫn lớn trong lý thuyết, trong mối quan hệ trung với vua là trung với nước. Triều đình và quan lại không hiểu được nguyên nhân sâu xa mà Pháp xâm lược Đại Nam. Họ chỉ cho rằng nguyên nhân chính là do triều đình Đại Nam bắt giáo sĩ, cấm truyền đạo Thiên Chúa giáo, cấm thông thương. Họ không hiểu được dã tâm của thực dân Pháp là kiên quyết xâm lược Đại Nam để làm thuộc địa, thị trường. Lý thuyết Nho gia lạc hậu, bảo thủ đã làm cho họ không nhìn thấy được sự chuyển biến to lớn của thế giới, sự chuyển biến đó đang tác động to lớn đến Đại Nam. Từ đó dẫn tới những chủ trương quân sự và đối ngoại sai lầm: “ Thủ để hòa” và khi thủ không được thì nhân nhượng từng bước trong đàm phán dẫn tới mất nước. Từ nhân nhượng kẻ thù đến đầu hàng chỉ cần một bước.

*      *

*

  Cùng thời gian đó, tháng 2 năm 1861, những con tàu sắt hung tợn của quân Pháp đã đậu hai năm trên sông Sài Gòn. Sóng vẫn muôn lớp xua vào các mạn tàu, những lá cờ (tam tài), mà trên mỗi lá có màu trắng ở giữa, liền bên trong là màu tím, bên ngoài là màu đỏ bạc màu tung bay theo gió. Trong căn phòng sang trọng của Đô đốc hạm, có cuộc họp các sĩ quan cao cấp của Pháp ở Viễn Đông, khởi động lại cuộc xâm lăng Đại Nam sau gần hai năm ngừng chiến. Chủ tọa cuộc họp là  Sác Lơ Lê ô na , người mới được Na pô lê ông III giao cho chỉ huy toàn bộ quân Pháp ở Viễn Đông thay cho Sác lơ Đơ giơ nu di ra Đà Nẵng và đã về nước. Dự họp có thiếu tướng Đơ vát soa nơ Gi ti ê, đại tá Tây ban nha Rốt lan xa, đại úy Foóc nan đe (Tây ban nha), trung úy hải quân Lê ô pôn Pan lu, đại úy hải quân Vin le, trung tá Cơ ru zát, chuẩn úy Lơ se bơ le, thượng sĩ Do ly. Họ ngồi quanh một chiếc bàn vuông rộng màu nâu. Trên bàn, nhà bếp của tàu đã rót vào tám cốc thủy tinh đầy rượu săm pa nhơ tỏa mùi thơm sóng sánh. Sác lơ Lê ô na đứng dậy nâng cốc và nói:

-Xin mời các ngài nâng cốc chúc mừng chiến thắng của liên quân Anh- Pháp trong cuộc chiến tranh thuốc phiện lần 2 với Trung Quốc.

  Các sĩ quan cũng đứng dậy chạm cốc. Tiếng thủy tinh chạm nhẹ nhau phát ra âm thanh leng keng:

-Chúc chiến thắng của chúng ta trong cuộc chinh phục Trung Hoa, chúc Đô đốc được hoàng thượng Na pô lê ông III bổ nhiệm, chúc chiến thắng của chúng ta trong công cuộc chinh phục Đại Nam.

  Tất cả dốc cạn rượu vào mồm và ngồi xuống. Rượu vào làm cho những tên thực dân cướp biển mặt đỏ au, mũi như dài hơn, mắt như xanh hơn. Sác lơ Le ô na nói tiếp:

-Các ngài đã biết, cuộc chinh phục Đại Nam phải ngừng trệ lại là do cuộc chiến tranh thuốc phiện lần 2, chúng ta phải mang quân sang Trung Quốc phối hợp với Anh. Chiến thắng của ta và của Anh buộc nhà Mãn Thanh phải ký điều ước Bắc Kinh năm 1860, Trung Quốc phải mở nhiều cửa biển cho chúng ta thông thương, nhượng nhiều đất cho chúng ta làm tô giới, đặc khu, khu vực ảnh hưởng, bồi thường cho liên quân nhiều triệu lạng bạc chiến phí. Đặc biệt, liên quân được một phen tràn vào Bắc Kinh giàu có, thả cửa cướp bóc, vơ vét không biết bao nhiêu vàng bạc, các đồ quý gia là di sản văn hóa của Trung Hoa, đặc biệt là cướp phá vườn Viên Minh, vườn quốc gia bậc nhất giàu có của hoàng đế Mãn Thanh.

  Ngừng một lát, Lê ô na Sác lơ nói tiếp:

-Hôm nay chúng ta họp để bàn về tiếp tục công cuộc chinh phục Đại Nam làm thuộc địa. Các ngài biết rằng khi rút lực lượng tham gia chiến tranh thuốc phiện ở Trung Quốc, ở đây ta chỉ còn có 800 người. Khi đó chính ta muốn rút khỏi Đại Nam. May mà có ngài Đô đốc Sác lơ Đơ giơ nu di biện hộ và bộ trưởng hải quân Pháp Lau bát can ngăn, chính phủ Pháp mới cho ít quân đó ở lại Đại Nam. Ta nói như vậy để thấy triều đình Huế đã bỏ qua một cơ hội hiếm có để tiêu diệt chúng ta. Như vậy là vua Tự Đức và các tướng lĩnh, quan chức Đại Nam không hiểu tình hình thế giới và thời cuộc. Họ không hiểu nguyên nhân thực sự ta đánh Đại Nam. Họ chỉ tin vào cái cớ mà ta nêu lên để phát động chiến tranh là do nhà Nguyễn cấm đạo, bắt giáo sĩ, cấm thông thương. Cho nên họ chủ trương sai lầm là “Thủ để hòa”. Họ kiên trì "thủ"”đến mức khi lực lượng của chúng ta rất mỏng hai năm vừa qua mà họ cũng không tấn công. Họ không dám phát động cho các đội ứng nghĩa đánh chúng ta. Trong số các quan lại và tướng lĩnh nhà Nguyễn hiện nay, Nguyễn Tri Phương là ngươi xuất sắc nhất. Ở Đà Nẵng chiến thuật của ông đã chiến thắng Sác lơ Đơ giơ nu di. Nhưng vào Gia Định ông vẫn phải theo chủ trương “Thủ để hòa'’của Tự Đức. Ông dốc ba vạn người xây Đại Đồn kiên cố để “thủ”. Tư tưởng thủ của Nguyễn Tri Phương đã triệt tiêu ý chí tấn công của ông ta. Trong hai năm qua khi chúng ta chỉ có 800 người thì Nguyễn Tri Phương vẫn thủ. Tư tưởng thủ để hòa đã làm cho Nguyễn Tri Phương và các tướng lĩnh Đại Nam không cần biết tình hình của địch mà chỉ ngồi trong thành chờ địch đến mà thôi. Sự mù quáng của họ là sự may mắn cho quân Pháp. Hai năm qua, ta chỉ có 800 binh lính ở giữa một đất nước thù địch với 10 triệu dân ở Nam Kỳ lục tỉnh mà vẫn sống yên ổn. Đó là điều kỳ lạ nhất của cuộc chiến tranh này.

  Sác lơ Lê ô na ngừng lại uống một cốc rượu và nói tiếp:

-Để tiếp tục cuộc thôn tính Đại Nam, việc trước tiên là ta phải đánh Đại Đồn Chí Hòa do trực tiếp Nguyễn Tri Phương là Tổng thống quân thứ Gia Định chỉ huy. Đại Đồn có tiếng là kiên cố nhưng các ngài đừng ngại. Theo tin tình báo, Đại Đồn có khoảng 3 vạn quân, trên thành có đặt 150 khẩu thần công. Nhưng qua trận thành Gia Định, các ngài đã thấy thần công của Đại Nam lạc hậu, đạn không nhồi thuốc nên rơi vào mục tiêu không nổ, không có sức sát thương. Bộ binh của Đại Đồn trang bị vẫn lạc hậu như ở Gia Định. Có điều lưu ý ở đây là lính Đại Nam chiến đấu cực kỳ dũng cảm, gan dạ, họ coi cái chết trong chiến đấu là chuyện bình thường, là hy sinh cho vua, cho nước, cho dân, nếu họ được trang bị hiện đại và tốt như quân Pháp, họ sẽ là đội quân vô địch. Cái yếu lớn nhất của Đại Đồn là gần nhiều sông, đại bác trên các tàu chiến của ta sẽ phát huy hiệu quả và chúng ta sẽ chiến thắng. Hiện nay chúng ta có 50 chiến thuyền, 4.000 tay súng, so với quân của Nguyễn Tri Phương là gần 3 vạn. Lực lượng ta ít hơn nhưng trang bị hiện đại, ngoài pháo trên tàu chiến ta còn có pháo do ngựa kéo di động. Bộ binh của ta ai cũng có súng trường bắn nhanh, đầu súng có gắn lưỡi lê, hơn hẳn bộ binh Đại Nam phần lớn còn trang bị giáo gươm, vài người mới có một súng hỏa mai, bắn chậm và sát thương kém. Cho nên quân ta dù ít vẫn chiến thắng. Nào, mời các ngài nâng cốc, chúc cho sự khởi động cuộc thôn tính Đại Nam thắng lợi. Đại Đồn sẽ bị san phẳng.

  Cả bọn lại đứng dậy nâng cốc dốc rượu vào mồm, rượu đỏ như màu máu của cuộc chiến tranh mà chúng đang gây ra. Khi cả bọn đã đặt cốc xuống, Sác lơ Lê ô na ra lệnh:

-Đại úy hải quân Vin le.

-Có thuộc cấp.

-Đại úy chỉ huy các chiến hạm dọc sông Sài Gòn, bao vây nã pháo vào Đại Đồn khi được lệnh.

-Thuộc cấp tuân lệnh.

-Trung tá Cơ ron zat.

-Có thuộc cấp.

-Trung tá chỉ huy bộ binh có pháo binh do ngựa kéo yểm trợ tấn công phía Tây Đại Đồn.

-Thuộc cấp tuân lệnh.

-Đại tá Rốt lan xa.

-Có thuộc cấp.

Đại tá cùng đại úy Phoóc nan de chỉ huy bộ binh bố trí dọc sông Đồng Nai chặn quân Đại Nam không cho chạy về Biên Hòa.

-Thuộc cấp tuân lệnh.

-Thiếu tướng Đơ Vat soa nơ.

-Có thuộc cấp.

-Ngài sẽ cùng ta chỉ huy hệ thống pháo binh từ các chùa Cây Mai, chùa Kiếng Phước, chùa Hiển Trung, chùa Khải Trường đồng loạt tấn công phía Nam và Đông Nam của Đại Đồn, trước tiên là tiêu diệt Đồn Tả, Đồn Hữu  của Đồn Tiền, sau đó đánh thẳng vào Đồn Giữa của Đại Đồn.

- Thuộc cấp tuân lệnh.

-Chuẩn úy Lơ be bơ le và thượng sĩ Do ly.

-Có thuộc cấp.

-Chuẩn úy cùng thượng sĩ Do ly làm nhiệm vụ thông tin liên lạc, báo cáo tình hình chiến sự các hướng cho tổng hành dinh của ta.

-Thuộc cấp tuân lệnh.

  Rượu lại được viên đầu bếp của tàu rót ra. Cả bọn lại nâng cốc:

-Chúc các ngài chiến thắng.

-Chúc Đô đốc chiến thắng.

  Như vậy, quân Pháp đã hình thành một thế trận bao vây tiêu diệt Đại Đồn mà không để cho quân Đại Nam có lối thoát. Ngoài bộ binh thì ở phía Nam Đại Đồn, có đại bác do ngựa kéo từ hệ thống các chùa bắn vào phối hợp với pháo hạm ở các sông Rạch Cát, sông Bến Nghé, sông Sài Gòn thì Đại Đồn còn bị bao vây bởi pháo binh.

  4 giờ sáng ngày 24 tháng 2 năm 1861, khi miền Gia Định còn chìm trong giấc ngủ thì Sác lơ Lê ô na ra lệnh tấn công Đại Đồn. Đại bác từ hệ thống các chùa và trên các chiến hạm trên các sông Rạch Cát, Bến Nghé, Thị Nghè đồng loạt bắn vào Đại Đồn từ hướng Nam và hướng Đông. Tiếng nổ vang rền như sấm sét. Hàng trăm viên đạn đỏ lừ bay như chớp. Đại Đồn chìm trong lửa khói và tiếng nổ. Đại bác của quân Đại Nam trên các thành cũng bắn ra dữ dội. Hai bên đấu pháo nhau 4 giờ cho đến sáng. Sáng hôm sau ngày 25-2-1861, Sác lơ ra lệnh:

-Bắn 500 quả đại bác yểm trợ cho bộ binh tiến vào.

- Thiếu tướng  Đơ Vat soa nơ dẫn bộ binh và pháo hạng nhẹ do ngựa kéo vừa đi vừa bắn tiến vào Đại Đồn

-Tuân lệnh Đô đốc.

  Pháo do ngựa kéo nhả đạn. Dưới những làn đạn như hàng trăm tia chớp bay trên đầu, bộ binh Pháp cũng vừa tiến vừa bắn vào Đồn Hữu và Đồn Tả. Đạn đại bác phá tung, đốt cháy mọi thứ, Đại Đồn chìm ngập trong khói lửa. Xác quân Đại Nam bị trúng đạn pháo bay lên không trung rồi rơi xuống, máu thịt đẩm đìa trong lửa đạn. Dù vậy, quân Đại Nam không hề sợ hãi, vẫn bám trụ kiên cường bắn trả. Đại bác và súng quân Đại Nam bắn không xa, rơi xuống không nổ nên hiệu quả không cao. Dù vậy thiếu tướng Đơ Vát soa nơ, đại tá Rốt lan xa bị trúng đạn trọng thương, rất nhiều lính Pháp cũng chết ngã gục. Sác lơ Lê ô na thân chinh thay Vác soa nơ chỉ huy tiếp tục nã đại bác và thúc quân vào chiếm Đồn Hữu và Đồn Tả. Quân Pháp tiếp tục bị chết vì trúng hầm chông, đạn từ các lỗ châu mai. Tham tán Tôn Thất Hiệp ra lệnh:

-Cho tượng binh ra ứng chiến.

100 con voi chiến lao ra xông vào quân Pháp dưới làn đạn pháo hoặc súng trường. Voi bị bắn chết hoặc bị thương quay đầu chạy vào. Núp sau những mảnh tường bị phá, quân Pháp ném lựu đạn rồi xông vào dùng lưỡi lê và súng trường giáp chiến. Quân Đại Nam dùng súng hỏa mai, gươm, dao đánh giáp lá cà với quân Pháp. Trận chiến khốc liệt, thây đổ máu tuôn. Quân Pháp ưu thế vũ khí nên đánh bật quân Đại Nam khỏi tiền Đồn. Quân Đại Nam không tháo chạy mà bình tĩnh vừa đánh vừa rút vào Đồn Giữa. Hai bên giành dật từng khu vực một. Máu đổ làm ướt sũng các nền đất. Tại Đồn Giữa, Nguyễn Tri Phương nhận được báo cáo:

-Dạ, bẩm Tổng thống quân vụ, quân ta 1.000 người đã hy sinh, trong đó có tán lý quân vụ Nguyễn Duy đã anh dũng tử trận.

  Người lính vừa dứt lời thì một phát đạn đại bác như ánh chớp lao vào. Người lính bay lên trong chớp lửa. Nguyễn Tri Phượng cũng bị trúng một vệ mảnh đạn vào bụng, máu phun ra đầm đìa. Lính hộ vệ vội xé áo băng tạm vết thương cầm máu. Nguyễn Tri Phương ra lệnh:

-Cho đại quân bỏ Đại Đồn rút về Thuận Kiều.

  Được lệnh rút nhưng quân Đại Nam không tháo chạy mà vừa đi vừa bắn, dựa vào các bờ tường của thành và đi về các đồn khác và tiếp tục chiến đấu. Lá cờ vàng của đất nước vẫn tiếp tục tung bay kiêu hùng trong gió và trong đạn lửa theo bước chân của quân Đại Nam rút về Thuận Kiều. Sác lơ Lê ô na ra lệnh:

-Đại tá Cơ ru zat chỉ huy quận bộ tiến đánh Thuận Kiều.

-Thuộc cấp tuân lệnh.

  Tại Thuận Kiều, quân Đại Nam chống trả kịch liệt. Cơ ru zat bị bắn trọng thương. Quân Đại Nam rút về Biên Hòa. Đại Đồn hoàn toàn thất thủ. Đó là ngày 28 tháng 2 năm 1861. Những người lính Đại Nam không rút kịp hoặc bị thương bị Sác lơ Lê ô na ra lệnh giết hết. Cuộc đánh chiếm Đại Đồn kết thúc bằng một cuộc thảm sát của quân Pháp với quân Đại Nam. Trong cảnh tượng chiến trường đổ nát máu lửa, thi hài lính Đại Nam với lính Pháp ngổn ngang. Sác lơ Lê ô na quan sát, lòng dạ sắt đá của tên thực dân cướp biển, tên phiêu lưu xâm lược không một chút động lòng. Hắn hỏi sĩ quan tham mưu thuộc cấp:

-Quân ta thiệt hại bao nhiêu?

-Dạ thưa Đô đốc, bên ta thiếu tướng Vát soa nơ bị thương vào cánh tay, đại tá Rốt lan xa bị đạn vào bắp chân, đại tá Cơ ron zat bị thương vào ngực, chuẩn úy Lơ se bơ le và thượng sĩ Do ly đều bị thương nặng. Trung tá hải quân lục chiến  Tơ sơ tac dơ bị thương và chết ở bệnh viện dã chiến.

  Đêm đó Sác lơ Lê ô na ngồi viết báo cáo gửi chính phủ Pháp. Viết xong, y tu một cốc rượu vang và đọc lại, báo cáo viết: “Trong trận Đại Đồn chúng ta đã chiến thắng nhưng có thiệt hại. Phía ta 19 người chết, trong đó có 1 sĩ quan cấp tá, 2/3 trong  số 4.000 lính bị thương, trong đó có 5  sĩ quan. Về phía quân Việt 1.000 lính chết và bị thương. Trong hàng tướng lĩnh tử trận có Tham tán Phạm Thế Hiển, Tham tán lang trung Nguyễn Duy, em Nguyễn Tri Phương, Tán tương Tôn Thất Trĩ. Tổng thống quân thứ Gia Định Nguyễn Tri Phương bị trọng thương vào bụng. Chúng ta đã chiếm được Đại Đồn, lấy được 2.000 súng bắn đá lửa, 2.000 kg thuốc súng, 150 súng thần công các cỡ và nhiều lương thực.

  Dù kém về vũ khí nhưng quân Đại Nam chiến đấu vô cùng gan dạ, dũng cảm và bình tĩnh. Khi Nguyễn Tri Phương ra lệnh rút khỏi Đại Đồn, họ không tháo chạy như ta thường thấy ở những đội quân bại trận mà rút từ từ, vừa rút vừa đánh. Lá quốc kỳ màu vàng của Đại Nam không bao giờ đổ gục mà liên tục bay cao theo bước chân của họ. Binh lính Đại Nam không bại trận mà chế độ phong kiến bảo thủ lạc hậu với đường lối quân sự sai lầm “thủ để hòa" mới là kẻ bại trận".

  Sau khi chiếm Đại Đồn vài ngày, một hôm Sác lơ Lê ô na đang ngồi trong bản doanh thì có tình báo về báo:

-Dạ bẩm Đô đốc, triều đình Huế cử tướng Nguyễn Bá Nghi đem 4.000 quân chi viện cho Đại Đồn nhưng Đại Đồn đã thất thủ nên tướng Nghi đang đóng quân ở Biên Hòa.

  Sác lơ Lê ô na chưa kịp đáp thì một tình báo khác lại vào báo:

-Dạ bẩm Đô đốc, một tướng của Trương Bá Nghi xin vào gặp.

-Cho vào.

  Một người mặc võ phục quân Đại Nam bước vào. Người đó cúi chào Sác lơ Lê ô na. Sác lơ lê ô na gật đầu chào lại và nói gì đó với người phiên dịch. Người phiên dịch dịch lại:

-Ngài Đô đốc hỏi ngài đại diện cho ngài Trương Bá Nghi đến đây có việc gì?

-Thưa Đô đốc, tôi là Nguyễn Chiến, đại diện cho ngài Trương Bá Nghi đến truyền đạt rằng triều đình Huế muốn đàm phán nghị hòa với phía Chính phủ Pháp.

  Sác lơ Lê on na nói:

-Ta sẵn sàng đàm phán nghị hòa với triều đình Huế.

-Đa tạ ngài Đô đốc, tôi sẽ nói lại với tướng Trương Bá Nghi ý muốn của ngài. Tạm biệt.

  Lãnh binh Nguyễn Chiến về, Trương Bá Nghi vội hỏi:

-Ý của quân Pháp thế nào?

Nguyễn Chiến đáp:

-Người Pháp đồng ý ngồi đàm phán với triều đình ta.

  Trương Bá Nghi viết một bức thư về cho Tự Đức. Tự Đức mở thư đọc. Thư viết: “Bẩm tấu hoàng thượng, việc nước ta ngày nay trừ một chước hòa thì không có chước nào khác. Hòa thì không ổn nhưng trông mong khôi phục về sau. Cúi mong hoàng thượng suy xét”.

  Những sự kiện mất thành Gia Định, mất Đại Đồn và sau đó mất toàn bộ miền Gia Định cùng với bức thư của Trương Bá Nghi đã tạo ra một bước ngoặt nguy hiểm về đường lối của triều đình Huế. Từ chủ trương “Thủ để hòa”thì sau 1861, Tự Đức chuyển sang chủ trương hoàn toàn hòa nghị để mong bảo vệ đất nước.

  Sau trận Đại Đồn, Tự Đức giáng chức Nguyễn Tri Phương xuống Tham trị Bộ lễ nhưng sau đó lai phục chức là Binh bộ Thượng thư.

V

Tháng 3 năm 1861, sau chiến thắng Đại Đồn, quân Pháp chia nhau chiếm giữ những mảnh đất mới chiếm ở trung tâm và Bắc Gia Định. Vài chục chiếc tàu chiến, trong đó có Đô đốc hạm là Tổng hành dinh của quân viễn chinh Pháp vẫn đậu giữa sông Sài Gòn. Buổi sáng tháng ba, nắng phương Nam chan hòa, mây trắng bay lang thang trên bầu trời, nắng rải xuống ấp thôn, kinh rạch tạo một màu xanh mênh mông bát ngát.

  Trong căn phòng rộng, sang trọng của tàu Đô đốc hạm, Đô đốc Sác lơ Lê ô na đang họp các sĩ quan, những cốc thủy tinh hình quả trám to, rượu săm pa nhơ được rót gần tràn sóng sánh. Sác lơ Lê ô na nói:

-Xin các ngài nâng cốc chúc mừng chiến thắng của ta ở Đại Đồn, quét sạch được một cứ điểm mạnh của Đại Nam ở miền Nam.

  Cả bọn đứng dậy chạm cốc với Sác lơ Lê ô na. Đó là chuẩn Đề đốc Pa gơ, Đại úy hải quân Buốc đanh, trung tá hải quân Đơ nô, trung úy úy Mao ly ni (Tây ban nha). Tất cả gần như đồng thanh nói:

-Xin chúc mừng Đô đốc, chúc mừng chiến thắng của chúng ta.

  Rồi tất cả nghiêng cốc dốc cạn vào những cái mồm tham lam mép đầy râu ria. Khi tất cả đặt cốc xuống bàn và ngồi xuống, Sác lơ lê ô na nói:

-Chúng ta phải tiếp tục cuộc chiến để mở rộng đất đai chiếm đóng, tiêu diệt lực lượng của triều đình Đại Nam. Cố gắng một thời gian ngắn nhất chúng ta có thể làm chủ Nam Kỳ lục tỉnh. Chiến dịch sắp tới ta dự định đánh chiếm Biên Hòa, thứ hai là đánh chiếm Định Tường mà trọng tâm là thành phố Mỹ Tho trên bờ Tiền Giang. Nhưng ta không đủ lực lượng cùng một lúc đánh hai nơi. Các ngài cho biết nên đánh chiếm nơi nào trước?

  Chuẩn Đề đốc Pa gơ nói:

-Thưa ngài Đô đốc, ta có thể đánh chiếm Định Tường trước vì đây là một tỉnh giàu lúa gạo của miền Nam. Chiếm Định Tường là cắt đứt nguồn gạo quan trọng của triều đình Huế và các nơi khác của Đại Nam.

  Đại úy Buốc Đanh tiếp lời:

-Ta tán thành ý kiến của ngài chuẩn Đề đốc Pa gơ. Chiếm được Định Tường là chiếm được vị trí then chốt trong hệ thông giao thông đường thủy của đồng bằng Cửu Long, từ đó có thể đi Căm Bốt. Chiếm Định Tường ta có thể tiêu diệt được những đội quân ứng nghĩa, tự nổi dậy đánh Pháp của dân chúng miền Nam đã làm chúng ta nhiều trận khốn đốn, vì Định Tường là trung tâm của những cuộc kháng chiến lớn như của Trương Công Định, Nguyễn Trung Trực…

  Sác lơ Lê ô na nói:

-Hai ngài nói phải lắm. Trung úy Mao li ni nhận lệnh.

  Mao li ni đứng dậy làm động tác dập chân nghiêm và nói:

-Có thuộc cấp.

-Trung úy dẫn một tàu đi dò đường xem cách bố phòng của quân Đại Nam, xem quân ta tiến công đường nào thì thuận tiện để công phá thành Mỹ Tho.

-Thuộc cấp tuân lệnh.

  Trong cái mênh mông bát ngát của thôn ấp kênh rạch miền Nam thì Định Tường là trung tâm nối giữa miền Đông và miền Tây, nối Gia Định với Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Trấn trị Định Tường là thành phố Mỹ Tho nằm trên bờ sông Mỹ Tho, từ Mỹ Tho đi ra sông Tiền Giang, từ đó đi được tới tất cả các tỉnh miền Tây và đi sang Cam Bốt. Sáng nay, trong dinh của Tổng đốc Định Tường, Tổng đốc Nguyễn Công Nhàn cũng đang ngồi nghị sự với tuần phủ Nguyễn Hữu Thành, án sát Huỳnh Đắc Đạt, Phó đề đốc Đặng Đức. Tổng đốc Nguyễn Công Nhàn nhấp một ly nước trà, đặt chén xuống bàn và nói:

-Đại Đồn Chí Hòa do Thượng thư Bộ hình Tôn Thất Hiệp đặt nền móng khởi công. Tiếp đến khi Tổng thống quân thứ Gia Định Nguyễn Tri Phương vào, đã huy động 3 vạn quân và dân xây dựng trong một năm mà chỉ cầm cự được vài ngày thì thất thủ. Không biết sau Gia Định và Đại Đồn, giặc sẽ tấn công Định Tường của ta hay nơi nào khác?

  Nguyễn Công Nhàn vừa dứt lời thì có người lính vào báo:

-Dạ, thưa Tổng đốc, quân ta đã nhìn thấy một tàu chiến của Pháp tiến vào sông Bảo Định (kênh Trạm) và sau đó rẽ vào kênh Thường Mai.

  Nguyễn Công Nhàn hỏi:

-Dọc đường đi nó có bắn phá không?

-Dạ thưa không.

Nguyễn Công Nhàn nói:

-Nó chỉ đi một tàu mà không bắn phá thì đây là tàu do thám dò đường. Thôi chết rồi, chúng chuẩn bị đánh chiếm Định Tường của ta rồi. Các ngài có cao kiến gì để chống giặc không?

Phó Đề đốc Đặng Đức nói:

-Xin Tổng đốc đừng lo, dọc Kênh Trạm, thuộc tướng đã cho bố trí nhiều đồn hai bên bờ phòng thủ. Dưới kênh quân ta đã xây dựng các đập chắn kiên cố chặn ngang kênh ngăn chặn tàu chiến. Tất cả có chín đập, bên bờ đập còn có cọc tre, dưới nước cạnh đập còn có chín thuyền đất chìm xuống bảo vệ. Những con đập này có thể ngăn tàu chiến Pháp, không thể tiến lại gần tầm bắn bắn vào thành Mỹ Tho.

 Nguyễn Công Nhàn hơi yên tâm nói:

-Đề đốc xây nhiều đập như vậy may ra chặn được tàu chiến không cho chúng bắn vào Mỹ Tho. Đề đốc Đặng Đức nghe lệnh:

-Có thuộc tướng.

-Đề đốc xuống sông Bảo Định (Kênh Trạm) chỉ huy đốc chiến, toàn quyền thi hành mọi biện pháp để phòng thủ Mỹ Tho.

-Thuộc tướng tuân lệnh.

ch11-1-1654183127.jpg
Thiên Hộ Dương tên thật Võ Duy Dương lập căn cứ chống Pháp ở Gò Tháp, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp vào những năm 1864- 1866.

 

Trong khi đó, tại tàu Đô đốc, Sác lơ Lê ô na đang ngồi chờ trung  úy Mao li ni trở về. Mao li ni trở về và báo:

-Bẩm Đô đốc, thuộc hạ đã đi thám thính và dò được đường vào trấn trị Mỹ Tho, chỉ có một con đường cho tàu chiến đi được là theo sông Bảo Định, còn gọi là Kênh Trạm nhưng mà…

-Nhưng mà sao?

-Nhưng mà dọc sông Bảo Định quân Việt đã xây dựng nhiều đập chắn trên sông, phải đến chín con đập, trên bờ còn nhiều đồn do lính Việt canh giữ. Còn một đường nữa vào được thành Mỹ Tho là kênh Thường Mai nhưng tàu chiến to khó mà đi được.

  Sác lơ Lê ô na nói:

- Chúng ta đành phải đi theo sông Bảo Định mà tiến vào thôi. Phải phá tan chín con đập đó mà tiến.

-Trung tá Buốc Đanh.

-Có thuộc cấp.

-Trung úy Mao li ni sẽ dẫn đường, Trung tá chỉ huy 200 lính Pháp, 20 lính Tây ban nha đánh chiếm thành Mỹ Tho. Phối hợp với trung tá có pháo hạm La min, La lác men lơ và 5 tiểu pháo hạm. Trung tá và trung úy phải hoàn thành nhiệm vụ bằng bất cứ giá nào.

-Rõ, thuộc cấp tuân lệnh.

  Ngày 1 tháng 4 năm 1861, quân Pháp bắt đầu tiến vào sông Bảo Định, nã pháo vào hai đồn quân Đại Nam hai bờ sông. Hai đồn tan nát. Ngày 3 tháng 4, quân Pháp phá sáu đập chắn ngang sông, triệt phá một đồn của quân Việt. Ngày 4 tháng 4, đội quân đánh chiếm Định Tường được lực lượng của Pháp từ Sài Gòn tăng viện. Tàu Ê so do đại úy Đe van tơ rê chỉ huy, chở 200 lính do đại úy La  phông mơ và A di rê cầm đầu, 100 lính thủy đánh bộ, hai cỗ đại pháo bốn nòng, hai súng cối và nhiều đạn dược do đại úy Am lơ đơ rơ Đuy Sa na phôn chỉ huy, 50 lính công binh do đại úy Bô vet cầm đầu, có thiếu úy Ma tin và thiếu úy A mi rôn phụ tá.

  Sau khi mặt trận Mỹ Tho được tăng viện, Sác nơ Lê ô na ra lệnh:

-Truyền lệnh của bản Đô đốc, Trung tá hải quân Buốc Đanh trao lại quyền chỉ huy mặt trận cho đại tá hải quân Lơ cu ri on Ben ki li ô.

-Lệnh cho đội quân của trung tá hải quân Đuy vô xơ cũng tới tham gia tiến đánh Mỹ Tho.

-Lệnh cho trung úy bộ binh Guy Hô ở Thủ Dầu Một cùng xuống tham gia chiến đấu.

  Sau khi thống lĩnh một đội quân mạnh, ngày 5 tháng 4 đại tá Ben ki li ô ra lệnh:

-Tấn công phá đập thứ bảy trên sông Bảo Định.

-Tuân lệnh.

  Tàu chiến Pháp vừa nã đại bác lên bờ sông vừa lao vào bắn phá đập thứ bảy. Quân Việt từ hai bờ sông bắn xối xả vào tàu Pháp. Tàu Pháp bắn đại bác lên bờ dữ dội. Quân Đại Nam hy sinh nhiều bởi lửa đạn khốc liệt của đại bác Pháp. Đại tá Ben ki li ô ra lệnh:

-Dùng xuồng máy có đại bác nhẹ tấn công phá đập thứ tám.

-Tuân lệnh.

Những chiếc xuồng máy gắn đại bác cỡ nhỏ vừa bắn vừa lao vào gần đập thứ tám. Đại bác hai bên bắn nhau kịch liệt nhưng vì đại bác quân Đại Nam sát thương kém, không gây nhiều tổn hại cho quân Pháp. Ngược lại quân Việt hy sinh gần hết và phải rút lui. Quân Pháp do đó phá được đập thứ tám.

  Sáng ngày 7 tháng 4, Be ki li ô ra lệnh:

-Tiêu diệt đồn quân Việt trên bờ và đập thứ chín.

-Tuân lệnh.

  Quân Việt bị tổn thất nặng và đập thứ chín nhanh chóng bị phá hủy, nhưng tại đoạn sông này bảy tên pháp bị tử trận. Sáng ngày 9 tháng 4, Pháp dồn đại bác bắn vào phía sau đồn cuối cùng của quân Đại Nam trên sông Bảo Định, trong khi đó Ben ki li ô cho hạm đội bắn phá mặt trước của đồn. Pháo hạm số 18 của Pháp bị ba quả đạn của quân Đại Nam bắn lên boong. Trung tá Buốc Đanh chỉ huy tàu thiệt mạng. Sáng ngày 10 tháng 4, Ben ki li ô cho tập trung bốn đại bác cấp tập bắn vào đồn. Quân Đại Nam núng thế phải rút lui. Con sông Bảo Định, đường vào Mỹ Tho do quân Pháp hoàn toàn làm chủ.

  Tại phòng chỉ huy ở tàu Đô đốc trên sông Sài Gòn, Sác lơ Lê ô na chăm chú theo dõi chiến sự trên bản đồ. Hắn quyết định mở một mũi tấn công thứ hai cho chắc thắng và nhanh chóng chiếm Định Tường. Sác lơ Lê ô na ra lệnh:

-Truyền lệnh của ta cho chuẩn đề đốc Pa gơ chỉ huy ba pháo hạm Fu sec, Ly li và Rốc tấn công theo đường biển vào Mỹ Tho.

-Tuân lệnh.

Ngày 10 tháng 4, Pa gơ dẫn ba chiến hạm từ Biên Hòa, men theo bờ biển tiến vào Cửa Tiểu sông Tiền, phá các đập chắn sóng ở Vàm Cửa Tiểu, Vàm Kỳ Hôn. Gặp các đồn của Quân Đại Nam, Pa gơ ra lệnh:

-Nã đại bác, tiêu diệt đồn.
-Tuân lệnh.

  Ngày 12 tháng 4, các đồn bảo vệ đập của quân Đại Nam bị tiêu diệt. Quân Pháp hai mũi tiến công cùng tiến đánh thành Mỹ Tho.

  Trong thành Mỹ tho, Tổng đốc Nguyễn Công Nhàn đang tập trung theo dõi mặt trận phía sông Bảo Định thì thuộc hạ về báo:

-Dạ bẩm Tổng đốc, tất cả các đập từ số một đến số chín ngăn tàu Pháp trên sông Bảo Định đã bị phá, tất cả các đồn trên bờ đã bị đại bác quân Pháp triệt hạ.

  Nguyễn Công Nhàn hoảng sợ kêu lên:

-Hả, sao lại như vậy?

  Lại có thuộc hạ về báo:

-Dạ, bẩm Tổng đốc, quân Pháp đã tiến sát thành đang chuẩn bị bắn đại bác vào thành.

  Lại có thám mã về báo:

-Dạ, bẩm Tổng đốc, một mũi tấn công thứ hai của Pháp gồm ba tàu chiến từ biển vào, phá đập và đã vào Vàm Cửa Tiểu và Vàm Kỳ Hôn.

  Nguyễn Công Nhàn cả sợ:

-Hả, Thành Mỹ Tho đã nằm dưới tầm đại bác của giặc từ hai mặt sao? Mở cổng thành phía sau nhanh.

  Cổng thành phía sau mở, Nguyễn Công Nhàn hoảng hốt cùng gia quyến chạy về Kiên Đăng, phủ Kiều An, Định Tường. Án sát Huỳnh Mẫn Đạt cũng bỏ trốn. Tuần phủ Nguyễn Hữu Thành biết không thể giữ được thành, nói với Phó Đề đốc Đặng Đức:

-Đại bác của Pháp sẽ bắn vỡ thành, ta có cố thủ cũng không chống cự được, ý Phó Đề đốc thế nào?

  Đặng Đức nói:

-Ta đành phải bỏ thành mà đi thôi.

-Nhưng còn trách nhiệm với triều đình?

-Người chịu trách nhiệm cao nhất là Tổng đốc đã bỏ chạy rồi, ta còn chờ gì nữa.

-Vậy thì chạy nhưng không thể để toàn bộ kho tàng, của cải cho giặc được, chi bằng đốt hết đi.

-Phải, đốt hết.

  Rồi Nguyễn Hữu Thành ra lệnh đốt toàn bộ dinh thự, kho tàng. Lửa khói bốc cao báo hiệu thảm họa đã trút xuống Định Tường, cư dân xôn xao hoảng loạn. Thành và Đức thu gom giấy tờ rồi chạy về Vĩnh Long.

  Tại Vĩnh Long, Tổng đốc Trương Văn Uyển đang ngồi trong dinh thự uống trà sau buổi ăn sáng thì có phụ tá vào báo:

-Dạ bẩm Tổng đốc, trấn trị Mỹ Tho, thủ phủ của tỉnh Định Tường đang bị quân Pháp tấn công, tình hình rất nguy ngập.

-Chuẩn bị binh mã để ta đi cứu Mỹ Tho.

-Dạ, tuân lệnh.

  Trương Văn Uyển sai Án sát Nguyễn Duy Quang, Lãnh binh Tôn Thất Tuấn đem 1000 quân từ Vĩnh Long đến Định Tường, giữa đường gặp thám mã về báo:

-Dạ bẩm Án sát, thành Mỹ Tho đã bị Pháp chiếm rồi. Tổng đốc Nguyễn Công Nhàn, Án sát Huỳnh Mẫn Đạt bỏ chạy, Tuần phủ Nguyễn Hữu Thành, Phó Đề đốc Đặng Đức đã đốt thành trì, kho tàng, dinh thự và chạy về Vĩnh Long rồi ạ.

  Án sát Nguyễn Duy Quang thất kinh:

-Thành Mỹ Tho thất thủ, Vĩnh Long của ta cũng nguy ngập đến nơi rồi. Đành cho quân quay về thôi.

  Đô đốc Sác lơ Lê ô na đang ngồi trong phòng của chiến hạm chỉ huy uống rượu săm pa nhơ mừng chiến thắng Mỹ Tho thì có sĩ quan tùy tùng vào báo:

-Dạ, bẩm đô đốc, nhân dân Nam kỳ đã nổi dậy chống lại chúng ta kịch liệt, gây cho chúng ta nhiều thiệt hại.

Sác lơ Lê ô na hỏi:

-Cụ thể hơn xem nào?

-Dạ, đó là đội quân của Trương Công Định, người đã từng chiến đấu ở Đại Đồn với Nguyễn Tri Phương, nay có 6.000 quân hoạt động và làm chủ Gò Công Tây.

-Ai nữa?

-Dạ, quân ứng nghĩa của Đỗ Trình Thoại hoạt động ở Tân Hòa, Phủ Câu hoạt động ở vùng Rạch Chanh, Mỹ Tho, Võ Duy Dương hoạt động ở tây bắc Định Tường, Nguyễn Trung Trực hoạt động ở vùng sông Vàm Cỏ, Quản Tu, người đã bắn chết trung tá Buốc Đanh trên sông Bảo Định.

-Quân ta đối phó thế nào?

-Quân ta ở Định Tường chỉ còn đóng được ở ba đồn là Gia Thạnh, Chợ Gạo và Gò Công thôi ạ.

  Tháng 10 năm 1861, do không đàn áp được những cuộc nổi dậy của nhân dân Nam Kỳ, Sác lơ Lê o na gửi thư cho Bộ trưởng hải quân Pháp đơn xin từ chức Tổng chỉ huy quân đội viễn Pháp ở Viễn Đông. Đô đốc L. Bô na sang thay, mang theo lệnh của Bộ trưởng hải quân Pháp: “Bằng giá nào cũng phải giữ vững Gia Định. Ở đó chúng ta có thể ở lại lâu dài”.

  Trong tình hình nguy ngập của đất nước, triều đình Tự Đức không phối hợp với nhân dân cứu nước mà vẫn một mực ôm ảo vọng nghị hòa. Tự Đức không có một kế hoạch nào có hiệu quả cứu nước, chỉ biết hạ lệnh cho ba tỉnh Bình Thuận, Khánh Hòa, Bình Định, mỗi tỉnh đem 500 quân vào hỗ trợ cho Biên Hòa, Vĩnh Long, An Giang. Đó là một hành động bị động, hành động cho có hành động. Con đường duy nhất để cứu nước là phát động nhân dân đứng dậy đánh giặc, nhưng triều đình sợ nhân dân hơn sợ giặc. Đường lối quân sự không có, đường lối chính trị và đối ngoại của triều đình đang nghiêng về phe chủ hòa để đầu hàng, bán nước.

VI

Mùa xuân năm 1861, toàn xứ miền Đông Nam Bộ nói chung và Biên Hòa nói riêng chìm trong màu xanh của bạt ngàn cây lá. Dòng sông Đồng Nai vẫn cuồn cuộn đổ nước về Đông. Những cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi phơi mình dưới nắng sương mà trường thọ. Những ngôi chùa cổ kính chìm trong mây trắng trên đỉnh núi Chứa Chan, tiếng chuông chùa mỗi chiều vang vọng lan xa trong nỗi buồn nhân thế.

  Chìm trong sắc xanh của cây lá, thành Biên Hòa vuông vức vươn lên mang sắc màu nâu đỏ của đá ong xây tường. Trong thành, tại dinh của quan đầu tỉnh, trong căn phòng rộng, Tuần phủ Nguyễn Đức Hoàn đang ngồi đàm đạo với quan Án sát Lê Khắc Cần. Sau khi hai người cạn một ly trà, Tuần phủ Nguyễn Đức Hoàn nói:

-Theo tin báo về là Đại Đồn Chí Hòa đã thất thủ, Tổng thống quân vụ Gia Định Nguyễn Tri Phương bị trọng thương và đã lui quân. Tình hình Biên Hòa của ta thật là nguy ngập, nay mai quân giặc sẽ tấn công thành. Án sát có kế gì hay để phòng thủ không?

  Lê Khắc Cần đáp:

-Bẩm Tuần phủ, năm 1837, vua Minh Mệnh đã cho xây lại thành kiểu vô băng của Pháp, chất liệu bằng đá ong đỏ, chu vi rộng lớn, khoảng 1.645m, thành dầy 4,2m, tường cao, chung quanh có hào rộng  6,96m. Thành dầy kiên cố có thể chống lại được cuộc tấn công của Pháp.

  Nguyễn Đức Hoàn nói:

-Kiên cố sao cho bằng Đại Đồn của Nguyễn Tri Phương mà cũng thất thủ. Đại bác quân Pháp quá lợi hại. Tôi cũng đã ra lệnh đặt thêm hàng chục khẩu thần công lên mặt thành, Án sát đã hoàn thành chưa?

-Dạ, đã hoàn thành, bốn mặt thành đã đặt 100 khẩu rồi ạ.

-Để ngăn tàu chiến Pháp, không cho chúng tiến lại gần vừa tầm bắn đại bác vào thành, tôi đã ra lệnh xây dựng đập dưới sông Đồng Nai, không biết đã hoàn thành chưa?

-Dạ, bẩm Tuần phủ, chúng ta đã huy động quân và dân xây dựng một cản gỗ và một đê cản bằng đá chặn tàu Pháp từ sông Bến Nghé vào sông Đồng Nai. Bên ngoài cản còn có nhiều thuyền con chở đầy thuốc nổ sẵn sàng đánh chìm tàu giặc bằng hỏa công. Trên bờ các sông còn có các đồn đặt thần công để nhả đạn vào tàu Pháp.

  Tuần phủ Nguyễn Đức Hoàn hài lòng:

-Vậy là tốt, chúng ta phải chặn giặc từ xa, không cho tàu chúng lại gần bắn đại bác vào thành, hạn chế hỏa lực của chúng.

  Hai quan đầu tỉnh lại uống tiếp một lượt trà nữa.

  Trong khi đó, trong Tổng hành dinh của Pháp tại Sài Gòn, tướng Bô na đang họp với thiếu tá Com tơ, trung tá Đô me nếch Đi e gô, đại tá Lơ bơ ri và chủ tỉnh Rô nom me xơ. Những cốc rượu săm pa nhơ đỏ như máu được rót ra. Bô na vừa uống rượu vừa bàn việc đánh chiếm Biên Hòa với các thuộc cấp. Bo na nói:

-Trong các nơi cần tác chiến, một là đánh chiếm Biên Hòa, thứ hai là đánh chiếm các tỉnh miền Tây như Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên, ta quyết định đánh Biên Hòa trước để làm chủ toàn bộ miền Đông thẳng xuống Bà Rịa-Vũng Tàu, mở ra con đường thủy lớn từ biển vào sông Đồng Nai của chúng ta, thứ hai là chặn được quân Đại Nam từ Huế vào, bảo đảm an toàn cho Sài Gòn-Gia Định, là Tổng hành dinh, chỗ đứng chân quan trọng của chúng ta.

  Bô na vừa nói tới đó thì tình báo về báo:

-Dạ, bẩm Đô đốc, hai toán thám báo của ta, một toán đến sông Đồng Nai, một toán đến Suối Sâu, huyện Vĩnh Cửu đã bị quân Đại Nam đánh phải tháo chạy.

  Lại một tình báo khác về báo:

-Dạ bẩm Đô đốc, đội do thám của ta đi đến ấp Bình Chuẩn thì bị Đề đốc Đại Nam là Lê Quang Tiến đánh nên đành tháo chạy.

  Bô na tức giận:

-Thuộc cấp đâu.

-Dạ.

-Đem tối hậu thư này đến cho Tuần phủ Biên Hòa là Nguyễn Đức Hoàn ngay lập tức phải mở cửa thành đầu hàng.

-Dạ, thuộc cấp tuân lệnh.

Bô na ra lệnh tiếp:

-Thiếu tá Com tơ.

-Có thuộc cấp.

-Thiếu tá chỉ huy bộ binh Tây ban nha, đem theo pháo binh tiến theo đường bộ đánh vào phía nam thành Biên Hòa.

-Thuộc cấp tuân lệnh.

-Trung tá Đô me nếch Di e gô

-Có thuộc cấp.

-Trung tá hãy chỉ huy một đại đội thủy quân lục chiến Tây ban nha và một đại đội kỵ binh Pháp, đem theo hai đại bác bốn nòng đánh vào phía đông thành Biên Hòa.

-Thuộc cấp tuân lệnh.

-Đại tá Lơ bơ ri.

-Có thuộc cấp.

-Đại tá chỉ huy hai đại đội thủy quân lục chiến tấn công từ phía bắc vào thành Biên Hòa.

-Thuộc cấp tuân lệnh.

-Chủ tỉnh Re nô mơ.

-Có thuộc cấp.

-Ngài hãy dẫn quân theo đường Gò Công Trảo Trảo (Thủ Đức) đánh vào thành Biên Hòa.

-Thuộc cấp tuân lệnh.

Tổng cộng các đạo quân của Pháp chỉ có 1.000 lính Pháp và Tây ban nha, ưu thế của quân Pháp là đại bác đặt trên các tàu chiến có hỏa lực rất mạnh.

Ngày 14-2-1861, tiền quân Pháp là đạo quân của thiếu tá Com tơ đã chiếm được Gò Công Trảo Trảo (Thủ Đức). Ngày hôm sau, đội quân này đã phối hợp với quân của trung tá Đô me nếch Di e gô tấn công đồn Mỹ Hòa trên bờ sông Đồng Nai. Hai bên bắn nhau kịch liệt, tiếng nổ dữ dội. Quân Đại Nam núng thế, bỏ đồn rút qua sông.

Trong khi đó, đoàn tàu chiến do trung tá Ha ren chỉ huy theo sông Đồng Nai tấn công thành. Trên đài chỉ huy, Ha ren dùng ống nhòm quan sát thấy một bức tường gỗ cản trên sông. Ha ren ra lệnh:

-Bắn Đại bác phá cản.

-Tuân lệnh.

Từ trên các boong của các tàu chiến, các khẩu đại bác khạc ra lửa trong tiếng nổ vang rền. Những quả đạn rơi vào cản gỗ. Cản gỗ bốc cháy và bị phá tan. Đoàn tàu chiến Pháp tiến tiếp và gặp con đập lớn xây bằng đá ong. Ha ren lại ra lệnh dùng đại bác bắn vào đập, rồi bắn vào các thuyền có thuốc nổ của quân Việt, đập bị phá tan hoang, cả một dải sông chìm trong đạn lửa. Chờ nửa ngày sau khi khói lửa đã tắt, Ha ren ra lệnh:

-Tiến vào bắn thẳng vào trước mặt thành Biên Hòa, phối hợp với ba cánh quân khác của quân ta.

-Tuân lệnh.

Đoàn tàu chiến Pháp hung hăng rẽ sóng sông Đồng Nai tiến vào, khi đã vừa tầm bắn liền nã đại bác dữ dội vào thành Biên Hòa, bên ngoài, ba đạo quân Pháp bao vây thành. Quân Đại Nam trên mặt thành chống cự quyết liệt, nã đại bác vào quân Pháp. Tuần phủ Nguyễn Đức Hoàn, Án sát Lê Khắc Cần lên mặt thành đốc chiến. Đại bác Pháp làm quân Việt thương vong vô kể, máu chảy, thịt nát, xương tan. Lại đang lúc nước sông lên cao, tàu chiến Pháp được nâng lên nã đạn vào thành càng hiệu quả, khói lửa mù mịt. Quân Việt gan dạ cầm cự được một ngày, khi thấy thành vỡ và thương vong quá lớn, Tuần phủ Nguyễn Đức Hoàn ra lệnh:

-Rút quân về đồn Hồ Nhĩ.

-Tuân lệnh.

Ngày 17-2-1861 thành Biên Hòa lọt vào tay quân Pháp.

Sau khi Biên Hòa thất thủ, Trương Bá Nghi đem quân về Bình Thuận. Từ Huế, Nguyễn Tri Phương đem vài nghìn quân vào cứu thành Biên Hòa nhưng gần đến nơi thì thành đã mất. Nguyễn Tri Phương và Trương Bá Nghi đóng quân ở Bình Thuận, án binh bất động, không một kế sách gì đánh Pháp, cũng không tiến quân giúp các đội quân ứng nghĩa của nhân dân đang đánh Pháp kịch liệt. Hành động của Phương và Nghi đã làm cho Pháp rảnh tay và ngày 28-12-1861, Pháp chiếm Long Thành, ngày 7-1-1862 theo sông Đồng Nai, Pháp đánh chiếm Bà Rịa-Vũng Tàu. Ba tỉnh miền Đông hoàn toàn rơi vào tay Pháp.

VII

Tháng 3 năm 1862, miền Tây và cả Nam Bộ đang là mùa xuân, một màu xanh bao phủ thôn ấp miệt vườn. Sông Tiền, sông Hậu vẫn cuồn cuộn đưa nước về Đông. Màu xanh vẫn như xưa nhưng toàn miền Nam không yên bình bởi khói lửa chiến tranh do bọn xâm lược Pháp mang tới đang cháy khắp nơi. Quan quân triều đình thua trận, mất thành tháo chạy, ba tỉnh miền Đông đã mất vào tay Pháp. Lòng dân như lửa đốt lo cho vận mệnh nước nhà. Các đội quân ứng nghĩa ngày càng nhiều và nổi dậy chống  Pháp khắp nơi.

  Trong dinh Tổng đốc Vĩnh Long, Tổng đốc Trương Văn Uyển đang ngồi uống trà sau bữa ăn sáng, chợt có người lính hốt hoảng chạy vào báo:

-Dạ bẩm Tổng đốc, hơn chục tàu chiến Pháp đang từ Định Tường kéo sang bắn phá Vĩnh Long chúng ta.

Trương Văn Uyển hốt hoảng:

-Chúng bắn phá ở đâu?

-Dạ chúng đang bắn phá đồn Vĩnh Tùng do Lãnh binh Tôn Thất Tuấn, Nguyễn Thái, Lê Đình Cửu chỉ huy. Chúng cũng bắn phá đồn Thanh Mỹ do Lãnh binh Hà Lực, Ngô Thành, Trương Văn Thành trấn giữ. Quân ta và quân Pháp đang bắn nhau kịch liệt.

Trương Văn Uyển nói:

-Theo dõi chặt tình hình, có gì nhanh chóng báo cho ta nghe.

-Dạ, tuân lệnh Tổng đốc.

Hai ngày sau, thám mã lại về báo:

-Dạ, bẩm Tổng đốc, hai đồn Vĩnh Tùng và Thanh Mỹ đã mất, toàn bộ các Lãnh binh và binh sĩ ở hai đồn đã hy sinh.

Trương Văn Uyển ra lệnh:

-Phát lệnh cho tướng sĩ trong thành chuẩn bị chiến đấu.

-Dạ, tuân lệnh.

Ngày 20-3-1862, Trương Văn Uyển nghe đại bác nổ ầm bên ngoài, thuộc hạ chạy vào báo:

-Dạ, bẩm Tổng đốc, nguy cấp rồi, tàu chiến quân Pháp đã áp sát và đang nã pháo tấn công thành Vĩnh Long.

Trương Văn Uyển cùng các tùy thuộc lên mặt thành đốc chiến. Tổng đốc ra lệnh:

-Bắn vào tàu Pháp.

-Tuân lệnh.

Đại bác trên mặt thành đồng loạt nã đạn xuống tàu Pháp. Quân Đại Nam chống cự kịch liệt trên các kênh rạch và trên mặt thành. Tới sáng 23-3-1862, các ụ đại bác trên thành bị đại bác Pháp tiêu diệt, sức đề kháng của quân Việt yếu dần. Tổng đốc Trương Văn Uyển ra lệnh:

-Đốt tất cả dinh thự, kho tàng, không để lọt vào tay quân giặc.

-Tuân lệnh.

Sau Thành Gia Định, Định Tường, Đại Đồn, Biên Hòa, đến lượt thành Vĩnh Long bốc cháy ngùn ngụt, dinh thự, kho tàng quân lương, doanh trại bị lửa thiêu trụi, lửa khói sáng rực suốt một vùng rộng lớn Tiền Giang và cả Hậu Giang. Nhìn thành trì chìm trong lửa, nhân dân miền Tây kêu lên đau xót:

-Vĩnh Long thất thủ rồi, than ôi!!!

Tổng đốc Trương Văn Uyển cùng tùy thuộc sau đó chạy về Duy Minh. Quân Pháp tràn vào thành vẫn còn thu được 68 đại bác chưa cháy hết.

Được tin Vĩnh Long thất thủ, Tự Đức kinh hoàng vội họp với các đại thần bàn việc đối phó với giặc. Khi đó triều đình chia làm hai luồng ý kiến khác nhau của phái chủ hòa và phái chủ chiến. Nhưng phái chủ hòa chiếm ưu thế. Phan Thanh Giản nói:

-Tâu hoàng thượng, nay chỉ có thể thương thuyết với Pháp để chuộc lại các tỉnh đã mất.

Tôn Thất Thuyết nói:

-Tâu hoàng thượng, dã tâm của Pháp là chiếm bằng được nước ta, thương thuyết chúng khó mà trả lại đất. Vũ khí chúng tuy mạnh nhưng quân số không nhiều, nếu phối hợp chiến đấu giữa quan quân triều đình với những đội quân ứng nghĩa của bách tính thì có thể tiêu diệt được quân pháp.

Lâm Duy Hiệp nói:

-Tâu hoàng thượng, thần nghĩ nên nghị hòa với pháp, nếu không chuộc được các tỉnh đã mất thì cũng ngăn không cho Pháp đánh chiếm các tỉnh khác như An Giang và Hà Tiên.

Vốn chìm đắm mê muội trong học thuyết hủ Nho lạc hậu, phi thực tiễn, không đủ năng lực phân tích tình hình chính trị  thế giới và trong nước, lại thêm ám ảnh nỗi sợ hãi nông dân hơn sợ giặc, Tự Đức nghiêng về phe chủ hòa. Tự Đức nói:

-Thôi thì hãy nghị hòa với Pháp may ra thì chuộc lại một số tỉnh đã mất.

Tôn Thất Thuyết nói:

-Tâu hoàng thượng…

Tự Đức gạt đi:

-Thôi, ý ta đã quyết. Phan Thanh Giản.

Phan Thanh Giản vội quỳ:

-Tâu hoàng thượng, có thần:

-Khanh hãy viết thư cho tướng Pháp đề nghị giảng hòa. Nếu Pháp đồng ý thì khanh và Lâm Duy Hiệp tự lo liệu cuộc đàm phán.

-Thần tuân chỉ.

Trong khi đó, tại Tổng hành dinh quân Pháp ở Sài Gòn, Bonard đang ngồi lo lắng cho chiến cuộc ở miền Nam. Khi Pháp đánh chiếm các thành thì các thành thất thủ dưới tầm đại bác mạnh của Pháp, nhiều quan lại hèn nhát bỏ chạy. Trong khi đó, những đạo quân ứng nghĩa của dân chúng tự đứng dậy đánh pháp ngày càng lan rộng khắp nơi, ngày càng mạnh mẽ, họ dùng chiến thuật du kích tiêu hao, tiêu diệt quân Pháp mà không một đại bác nào có thể tiêu diệt hết được. Hơn nữa, họ lại thông thuộc địa hình sông nước, họ được sự ủng hộ của hàng triệu nhân dân. Vài nghìn quân Pháp chắc chắn sẽ bị tiêu diệt trong biển cả chiến tranh của dân Việt. Những đội quân này đã làm cho Đô đốc Sác lơ Đơ giơ nu di, kẻ đã dày dạn trong cuộc xâm lược Trung Quốc, kẻ đã hạ thành Gia Định mà cuối cùng bất lực, bị triệu hồi về Pháp. Bo na lo nhất là nếu triều đình Huế kêu gọi toàn dân đứng dậy đánh Pháp, quân triều đình kết hợp với những đội quân ứng nghĩa thì công cuộc chinh phục Đại Nam có khả năng thất bại và tương lai của y sẽ giống như của Sác lơ Đơ giơ nu di. Y đang cầm chai săm pa nhơ tu một ngụm thì có lính vào báo:

-Dạ, bẩm Đô đốc, có sứ thần của triều đình Tự Đức là đại thần Phan Thanh Giản tới xin được nghị hòa với chúng ta.

Bô na mừng rỡ:

-Lạy Chúa, thực là Chúa giúp con và giúp quân viễn chinh Pháp trong cuộc chinh phục này. Cho ông ta vào ngay.

-Dạ, thuộc cấp tuân lệnh.

 Phan Thanh Giàn và Lâm Duy Hiệp mặc triều phục Đại Nam bước vào. Năm sĩ quan pháp quân hàm quân hiệu vàng chóe trên quân phục màu xám, khác xa với quân phục võ tướng Đại Nam mà lần đầu tiên Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp trông thấy. Cuộc hòa đàm do Trương Vĩnh Ký (1837-1896), một người Việt ở phủ Hoàng An, tỉnh Vĩnh Long (Chợ Lách, Bến Tre), theo công giáo, được Pháp đưa sang châu Âu đào tạo khi còn niên thiếu, thông thạo hơn 20 ngoại ngữ, người duy nhất của xứ Đông Dương ăn lương của Hội đồng bác học thế giới làm phiên dịch. Bô na qua phiện dịch mời Phan Thanh Giản, Lâm Duy Hiệp và phái bộ của triều đình Huế ngồi. Trên bàn đã rót săm pa nhơ đầy vào bảy cốc thủy tinh. Rượu màu đỏ sóng sánh bốc mùi thơm nức. Bô na nói:

-Xin mời hai đại thần Phan-Lâm và tùy tùng, xin mời các ngài sĩ quan của quân đội viễn chinh Pháp nâng cốc mừng cuộc hội ngộ của chúng ta với hai ngài chánh phó sứ của triều đình Đại Nam.

-Xin mời…

-Xin mời…

Mọi người đứng dậy cạn ly, đặt cốc xuống bàn và ngồi xuống. Bô na nói:

-Nghe nói hoàng đế Tự Đức cử hai ngài tới gặp chúng tôi là để hòa đàm chấm dứt chiến tranh?

Phan Thanh Giản nói:

-Đúng vậy, vâng theo ý chỉ của hoàng thượng Tự Đức, chúng tôi tới đây xin các ngài trả lại các tỉnh mà các ngài đã chiếm đóng.

 Bô na hỏi:

-Đáp lại điều kiện các ngài đòi hỏi, chúng tôi được gì?

Lâm Duy Hiệp đáp:

-Các ngài sẽ được tự do truyền đạo Thiên Chúa khắp Đại Nam, các giáo sĩ được tự do đi lại, không bị bắt, không bị kết tội như trước đây.

Bô na suy nghĩ: “Hiện nay quân Pháp đang gặp khó khăn, thậm chí nguy ngập bởi các đội quân ứng nghĩa. Sứ thần của triều đình đến đàm phán là vô tình đang cứu quân đội Pháp. Cần phải có một hiệp định để buộc triều đình quay lưng lại với những đội quân ứng nghĩa, vô hình chung đứng về phía Pháp bởi ràng buộc của hiệp định, chính triều đình lại giúp Pháp đánh tan các đội quân ứng nghĩa bằng các chỉ dụ của vua, vì ở Đại Việt, chống lại chỉ dụ của vua là phản nghịch”. Nghĩ như vậy nên La Bo na nói:

-Thôi được, trả lại tất cả các tỉnh cho các ngài thì không được, nhưng chúng tôi sẽ trả lại cho các ngài tỉnh Vĩnh Long. Thứ hai chúng tôi sẽ không đánh chiếm các vùng còn lại như là An Giang, Hà Tiên và các tỉnh Nam Trung Bộ. Bù lại, các ngài thứ nhất, phải để cho chúng tôi quyền bảo hộ ở ba tỉnh miền Đông vì chúng tôi cũng phải có chỗ đứng chân, thứ hai các ngài phải ra lệnh cho các đội quân ứng nghĩa chấm dứt hoạt động. Nếu không đáp ứng những điều kiện đó, chúng tôi sẽ tấn công An Giang, Hà Tiên và Nam Trung Bộ.

Lâm Duy Hiệp và Phan Thanh Giản quá bất ngờ khi được trả lại Vĩnh Long, các tỉnh khác lại không bị Pháp tấn công, sẽ vĩnh viễn không mất. Quá choáng ngợp trước kết quả của đàm phán, Lâm Duy Hiệp hứng khởi nói:

-Quân ứng nghĩa là thần dân của triều đình, họ sẽ tuân theo chỉ dụ của triều đình mà không đánh Pháp nữa.

Phan Thanh Giản nói thêm:

-Chỉ mong các ngài giữ lời hứa, trả lại Vĩnh Long và không đánh chiếm An Giang, Hà Tiên và các tỉnh Nam Trung Bộ.

La Bo na đập bàn nói gay gắt:

-Các ngài xem thường danh dự và chữ ký của chúng tôi chăng?

Phan Thanh Giản vội nói:

-Không dám, không dám.

 Bô na dịu giọng:

-Không sao, không sao, tôi biết các ngài rất tin tưởng và tôn trọng chúng tôi thì mới tới đây đàm phán. Người đâu:

-Dạ.

-Đem giấy mực ra đây.

-Dạ.

Khi có giấy mực, Bô na nói:

-Ngài Lâm Duy Hiệp cùng với ngài đại tá Le bơ  ri thảo ra bản hòa ước, sớm mai tại đây xin các ngài có mặt để chứng kiến sự ký kết của hai bên vào văn bản.

Lâm Duy Hiệp nói:

-Thôi, chúng tôi tin cậy ở các ngài, cứ theo nội dung của nghị sự chiều nay, ngài đại tá Le bơ ri cứ thế mà chấp bút.

 Bô na rót rượu ra đầy các cốc và nói:

-Cảm ơn các ngài đã tin cậy chúng tôi. Nào xin mời các ngài nâng cốc chúc cuộc hòa đàm thành công tốt đẹp.

Sớm hôm sau, ngày 5 tháng 6 năm 1862, tại căn phòng của con tàu Pháp, hai ông chánh sứ Phan Thanh Giản và Phó sứ Lâm Duy Hiêp cùng Đô đốc Bo na đặt bút ký vào văn bản cái gọi là Hòa ước Nhâm Thân (1862). Đó là hiệp ước bất bình đẳng đầu tiên, mở đầu cho quá trình đầu hàng bán nước của nhà Nguyễn. Ký xong, hai ông Giản và Hiệp phấn khởi mà không biết rằng đã trúng vào quỷ kế gian tà của tên thực dân cáo già  Bô na. Hiệp định đã cắt đứt ba tỉnh miền Đông cho Pháp, thừa nhận người phương Tây được tự do truyền bá đạo Thiên chúa giáo. Người Pháp được tự tự do buôn bán ở Nam kỳ, tự do đi lại trên các con sông ở xứ này, kể cả các lưu vực các sông. Đại Nam phải mở các cửa biển Đà Nẵng, Ba Lát, Quảng Yên. Hoàng đế Đại Nam phải bồi thường chiến phí 4 triệu Piaste, 72 % của 4 triệu Piaste được trả bằng bạc. Triều đình Huế bước đầu mất chủ quyền ngoại giao. Triều đình Huế phải cùng Pháp đàn áp quân “nổi loạn” (quân khởi nghĩa chống pháp). Triều đình đã cứu nguy cho Pháp, đã đứng về phía quân Pháp để chống lại phong trào kháng chiến của nhân dân đang làm cho quân Pháp nguy khốn. Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp đã trở thành tội đồ không thể tha thứ được của lịch sử dân tộc.

Để tiếp tục đánh lừa triều đình Huế, ngày 25 tháng 5 năm 1862,  Bô na trả lại tỉnh Vĩnh Long cho Đại Nam, gây thêm sự tin tưởng mù quáng vào quân xâm lược của triều đình Tự Đức. Triều đình đã gọi những người khởi nghĩa cứu nước là quân “Phiến loạn” và ra lệnh đàn áp, tiếp tay và cứu nguy cho Pháp xâm lược.

Không lâu sau đó, chính phủ Pháp cử La gơ ran Đuy re thay  Bô na làm tư lệnh quân viễn chinh Pháp ở Viễn Đông. Một ngày tháng 8 năm 1864, La gơ ran Đuy re ngồi trong Tổng hành dinh ở Sài Sòn. Y vừa tu xong cốc rượu săm pa nhơ thì một thuộc cấp bước vào:

-Dạ, báo cáo Đô đốc, quân ta bên Căm Bốt thắng lớn, đã buộc triều đình Nô rô đôm ký hàng ước. Căm Bốt thành xứ bảo hộ của ta.

La gơ ran Đuy re tỏ vẻ vui mừng:

-Lạy Chúa tôi, tuyệt vời quá.

Lại một thuộc cấp bước vào, tay cầm bức điện:

-Dạ bẩm Đô đốc, có chỉ thị của Bộ trưởng Bộ hải quân Pháp.

La gơ ran Đuy re mở điện đọc. Bức điện viết: “Chúng ta đã làm chủ Căm Bốt. Đô đốc phải nhanh chóng đánh chiếm ba tỉnh miền Tây của miền Nam Đại Nam để thông thương lãnh thổ Nam Kỳ với Căm Bốt. Hơn nữa cũng là thực hiện chỉ dụ của hoàng đế Na pô lê ông III là nhanh chóng chiếm toàn bộ Đại Nam làm thuộc địa”.

La gơ ran Đuy re nói với tên sĩ quan thuộc cấp:

-Báo cho các sĩ quan chuẩn bị lực lượng gồm 16 tàu chiến, 1.200 lính Pháp, 400 lính Việt tập trung ở Mỹ Tho để tiến đánh Vĩnh Long.

-Tuân lệnh Đô đốc.

Sáng 20 tháng 8 năm 1864, Kinh lược sứ triều đình là Phan Thanh Giản đang ngồi uống trà ở thành Vĩnh Long thì có thám mã về báo:

-Dạ, bẩm Kinh lược sứ, 16 tàu chiến Pháp, hàng nghìn lính Pháp và Việt đã bao vây thành và gửi tối hậu thư cho ngài.

Phan Thanh Giản thất kinh, vội bóc tối hậu thư ra đọc. Thư viết: “Ta, Đô đốc La gơ ran Đuy re, Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp yêu cầu ngài nộp thành ngay tức khắc. Nếu không, quân Pháp sẽ nổ súng”.

Sau một phút suy nghĩ, Phan Thanh Giản ra lệnh:

-Mở cổng thành cho quân Pháp, nếu không dân chúng và binh lính bị tàn sát vô ích.

-Dạ, tuân lệnh Kinh lược sứ.

Bốn cổng thành Vĩnh Long được mở toang, quân Pháp tràn vào không tốn một viên đạn. La gơ ran Đuy re nói với Phan Thanh Giản:

-Ngài là người biết điều và thương dân, thương lính. Nay ngài hãy viết thư khuyên tổng đốc các tỉnh An Giang và Hà Tiên hạ khí giới và nộp thành trì cho bản Đô đốc để khỏi tốn xương máu của dân Đại Nam.

Phan Thanh Giản đáp:

-Ta sẽ viết thư khuyên họ. Nhưng khi vào được các thành, ngài không được tàn sát binh lính và quấy nhiễu nhân dân.

-Ngài viết đi. Bản Đô đốc sẽ làm như vậy.

Sau khi viết thư và cho người đưa tới Tổng đốc An Giang và Hà Tiên, khuyên họ mở cổng thành đầu hàng giặc, Phan Thanh Giản tuyệt thực mười bảy ngày, dặn ba con là Phan Liêm, Phan Tôn và Phan Hương về quê cày ruộng làm ăn, không được nhận quan chức gì của Pháp. Phan Liêm (1833-1896), Phan Tôn (1837-1893) và Phan Hương cùng khóc:

-Chúng con xin vâng lời cha.

Phan Thanh Giản hỏi ba con:

-Tình hình An Giang và Hà Tiên thế nào rồi?

Phan Tôn nói:

-Thưa cha, 21-6-1867, quân Pháp chiếm An Giang và 24-6-1867 chúng lấy Hà Tiên.

Phan Thanh Giản ứa nước mắt nói:

-Vậy là Nam kỳ Lục tỉnh đã mất vào tay Pháp. Tất cả là tại cha. Tại cha đã ký hòa ước Nhâm Tuất 1862 làm mất ba tỉnh miền Đông. Tại cha đã làm mất Vĩnh Long và khuyên hai tỉnh An Giang và Hà Tiên đầu hàng. Tại cha đã quá tin tưởng vào lời hứa, chữ ký của quân xâm lược lang sói. Cha còn mặt mũi nào mà áo mũ xênh xang giữa cái triều đình hèn nhát này nữa. Cha còn mặt mũi nào sống trên cõi đời này nữa khi trên cờ của những đội quân ứng nghĩa chống Pháp đều ghi "Phan- Lâm mãi quốc, triều đình khí dân”. Cha đã là tội đồ của lịch sử dân tộc.

Nói rồi Phan Thanh Giản cầm tay ba con, nhìn Trần Phu nhân (Trần Thị Hoạch), ứa nước mắt. Ngày 4 tháng 8 năm 1867 Phan Thanh Giản uống thuốc độc tự vẫn sau mười bảy ngày tuyệt thực, thọ 71 tuổi.

VIII

Tháng 5 năm 1875, phủ Thống đốc Sài Gòn tráng lệ vươn lên dưới bóng cây cối xanh tươi của miền Gia Định. Trời chưa vào tiết nóng bức nhưng nắng đã rải khắp không gian loang lổ. Từ sông Sài Gòn đưa những ngọn gió nhè nhẹ khắp nơi, gió vào trong không gian vườn của phủ khiến cây lá rung lên xào xạc.

  Thống đốc Vích to Ô gi sơ tê đang ngồi thoải mái trên chiếc ghế bành êm dịu, trước mặt là chiếc bàn rộng bóng loáng màu sơn nâu. Vích to Ô gi sơ tê khoan khoái nhâm nhi cốc rượu vang. Không khoan khoái sao được, sau 16 năm lăn lộn với chiến trường Đại Nam, cận kề giữa sống và chết, cuối cùng tháng 11 năm 1874, Ô gi sơ tê cũng được Chính phủ Cộng hòa Pháp bổ nhiệm làm Thống đốc thứ 17 của Nam Kỳ, cho đến nay Ô gi sơ tê đã ngồi vào chiếc ghế nóng này được 7 tháng. Quả thực từ thời Thống đốc thứ nhất năm 1859 đến nay, dân chúng Nam Kỳ không thừa nhận nền thống trị của Pháp nên liên tục nổi dậy chống lại, mặc dù triều đình Huế đã ký hòa ước năm 1862, thừa nhận ba tỉnh Nam kỳ thuộc Pháp và ra lệnh bãi binh. Từ đó cho đến nay xung đột chiến tranh liên miên, thiệt hại không biết bao nhiêu sinh mạng của người Việt và người Pháp. Tuy nhiên, với vũ khí hiện đại, tàu chiến, đại bác, súng bộ binh bắn nhanh và nhiều vũ khí khác, các đời thống đốc đã đàn áp tàn bạo, hầu hết các cuộc khởi nghĩa lớn đã bị dập tắt, hầu hết các thủ lĩnh, không chịu đầu hàng, giữ tròn khí tiết, một lòng vì dân vì nước đã bị Pháp giết. Tuy vậy, Ô gi sơ tê vẫn phải đọc lại báo cáo tình hình chiến sự từ 1859 cho đến nay để đối phó với thực trạng hiện tại đã và sẽ diễn ra. Ô gi sơ tê  gọi:

-Lính đâu.

Người sĩ quan tùy tùng bước vào:

-Dạ, thưa Thống đốc.

-Đem bản báo cáo tình hình chiến sự từ 1859 đến nay của Phòng Tham mưu phủ Thống đốc đến đây.

-Dạ, tuân lệnh.

Người lính đưa báo cáo đến. Ô gi sơ tê rót thêm một cốc rượu nữa vừa nhâm nhi vừa mở tập tài liệu và đọc chậm. Tài liệu viết:  "Từ năm 1859 đến tháng 4 năm 1875, từ khi Pháp bắt đầu đánh thành Gia Định cho đến nay, đã đàn áp những cuộc khởi nghĩa lớn, chủ yếu là do những võ quan, trí thức của triều đình không tuân lệnh bãi binh của chính phủ Đại Nam, đứng về phía dân chúng, kiến quyết chống lại công cuộc chinh phục Nam Kỳ của người Pháp:

-Thứ nhất, cuộc khởi nghĩa của Trương Công Định. Trương Công Định sinh năm 1820 tại làng Tư Cung, phủ Bình Sơn, Quảng Ngãi. Cha là Lãnh bị Trương Cầm, từng là Hữu thủy vệ úy ở Gia Định dưới thời vua Thiệu Trị (tại vị 1840-1847). Năm 1844, Trương Công Định theo cha vào Nam, kết duyên với bà Lê Thị Thưởng, con gái một hào phú ở Tân Hòa, Gò Công. Năm 1850, hưởng ứng chính sách khai hoang lập đồn điền của Nguyễn Tri Phương, Trương Công Định chiêu mộ dân lập đồn điền ở Gia Thuận, Gò Công. Vì vậy ông được triều đình bổ nhiệm chức Quản cơ, hàm lục bát phẩm. Năm 1859, Pháp đánh thành Gia Định, Trương Công Định đem quân của mình chống Pháp ở Cây Mai, Thị Nghè. Năm 1861, Trương Công Định đem quân cùng Nguyễn Tri Phương phòng thủ Đại Đồn Chí Hòa. Sau khi Đại Đồn thất thủ, Trương Công Định đem quân về Gò Công cùng Lưu Tiến Thiên, Lê Quang Quyền dấy binh giữ vùng Gia Định, Định Tường. Nghĩa quân Trương Công Định đã đánh Pháp trên một vùng rộng lớn Gò Công, Tân An, Mỹ Tho, Chợ Lớn, Sài Gòn, Đồng Tháp Mười, kéo dài đến biên giới Cam pu chia. Năm 1861, lực lượng của nghĩa quân lên tới 6.000 người, chia thành 18 cơ quân, thu được nhiều súng ống của Pháp và chế tạo thêm. Nghĩa quân Trương Công Định đã nhiều phen làm cho Pháp khốn đốn. Triều đình phong ông là Quản cơ, Phó Lãnh binh Gia Định.

  Tháng 7 năm 1862, Triều đình ký hòa ước với Pháp nên ra lệnh cho các thủ lĩnh chống Pháp phải bãi binh, điều Trương Công Định ra Phú Yên. Ông kháng chỉ và ở lại kháng chiến với nhân dân. Trương Công Định cũng từ chối thư dụ hàng của tướng Pháp Bô na, cũng từ chối chiếu bãi binh của Tự Đức do Phan Thanh Giản đem vào. Trương Công Định lui về Gò Công, xưng là Trung thiên tướng quân, dân chúng tôn ông là Bình Tây đại nguyên soái, xây dựng Gò Công thành bản doanh chống Pháp.

  Ngày 16 tháng 2 năm 1862, Trương Công Định ra lệnh cho nghĩa quân tấn công Pháp ở ba tỉnh miền Đông, đẩy Pháp vào thế bị động lúng túng.

  Tháng 2 năm 1863, Pháp tăng quân, vũ khí chiếm lại Biên Hòa, Chợ Lớn, bao vây Gò Công. Ngày 26 tháng 2 năm 1863 Pháp chiếm Gò Công. Trương Công Định rút về Biên Hòa. Tháng 9 năm 1863, tướng La gơ ran di rơ thay Bô na mở cuộc càn quét, bắt được vợ con Trương Công Định. Ngày 19 tháng 8 năm 1864, Pháp nhờ tên Việt gian Huỳnh Công Tấn phản bội dẫn đường đánh bất ngờ bản doanh của nghĩa quân ở Đầm Lá Tối Trời, Trương Công Định Bị thương vào xương sống và tự sát. Năm đó ông 44 tuổi.

  Cuộc khởi nghĩa lớn thứ hai là của Nguyễn Trung Trực, tên thật là Nguyễn Văn Lịch, sinh năm 1838 tại thôn Bính Nhựt, tổng Cửu Cư Hạ, huyện Cửu An (Bến Lức), tỉnh Gia Định. Quê ông vốn ở huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định, ông nội là Nguyễn Văn Đạo, cha là ông Nguyễn Văn Phùng, mẹ là bà Lê Kim Hồng. Do chiến tranh chúa Nguyễn với Tây Sơn, gia đình ông Nguyễn Văn Đạo di chuyển vào Gia Định, sống bằng nghề chài lưới lưu vực sông Vàm Cỏ. Lớn lên, Nguyễn Trung Trực được học võ tại Định Tường. Năm 1859, ông đoạt giải quán quân võ tại Cai Tài, Phủ Tân An, các võ sinh đều tôn Nguyễn Trung Trực làm thủ lĩnh tham gia đánh Pháp.

  Tháng 2 năm 1859, Pháp đánh Gia Định, Nguyễn Trung Trực chiêu mộ một số nghĩa quân tham gia bảo vệ Đại Đồn Chí Hòa với Nguyễn Tri Phương. Sau Đó Nguyễn Trung Trực lui về Tân An. Ngày 10 Tháng 3 năm 1860 về thành Kỳ Hòa cùng chiến đấu với Trương Công Định, được phong là Quyền Sung quản Binh đạo. Sau khi thành Kỳ Hòa thất thủ, ông lui về Tân An. Ngày 12 tháng 4 năm 1861 thành Mỹ Tho (Định Tường ) thất thủ. Quân Pháp cho tàu chiến chạy trên các sông kiểm soát và làm đồn di động. Một tàu chiến Pháp mang tên Ét pê răng (Hi vọng) đậu án ngữ trên vàm Nhật Tảo (huyện Tân Trụ, Long An). Sáng 10 tháng 12 năm 1861, Nguyễn Trung Trực cùng Phó quản binh đạo Nguyễn Khắc Nhượng, Võ Văn Quang, Quản toán Nguyễn Hòe, hương thôn Hồ Quang Chiêu giả làm đoàn thuyền thương lái chở thóc, tiếp cận và đốt cháy tàu Hi vọng, diệt 45 lính.

Sau vụ đốt cháy tàu Pháp, Nguyễn Trung Trực đánh Pháp trên các địa bàn Gia Định, Biên Hòa, Định Tường. Hòa ước 1862, ba tỉnh miền Đông rơi vào tay Pháp, Nguyễn Trung Trực vẫn phối hợp với Trương Công Định đánh Pháp. Kỷ niệm ba năm ngày chiến thắng Nhật Tảo, tiêu diệt tàu Ết pê răng vào  ngày 10 tháng 12 năm 1864, Nguyễn Trung Trực tổ chức lễ tế nghĩa sĩ ở Cần Giuộc, Long An, đọc văn tế của Nguyễn Đình Chiểu nhằm tố cáo tội ác của bọn xâm lăng đối với miền Nam.

 Nguyễn Trung Trực không theo lệnh của triều đình bãi binh, không rút ra Bình Thuận, năm 1864, ông lập căn cứ ở Sân Chim, huyện An Biên, căn cứ thứ hai ở Hòn Chông, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang đánh Pháp. Tại đây ông mới đổi tên từ Nguyễn Văn Lịch thành Nguyễn Trung Trực. Ngày 16 tháng 6 năm 1868, lúc 4 giờ sáng, Nguyễn Trung Trực bất ngờ đánh úp đồn Kiên Giang do trung úy Sô téc nơ (chủ tỉnh Kiên Giang) chỉ huy, diệt 5 sĩ quan Pháp, 67 lính, thu 100 súng cùng đạn dược và làm chủ đồn 5 ngày. Pháp coi đây là sự kiện bi thảm của quân đội viễn chinh.

  Ngày 21 tháng 6 năm 1868, quân pháp do thiếu tá hải quân A. Lê ô na Ô sác, đại úy Đi muy ra tanh, trung úy hải quân Ri sác, trung úy Ta ra đê, Trần Bá Lộc, Tổng đốc Phương mang binh từ Mỹ Tho sang phản công, Nguyễn Trung Trực lui quân ra Phú Quốc lập căn cứ mới chống Pháp. Pháp dùng thủ đoạn đánh vào dân để uy hiếp Nguyễn Trung Trực, giết 700 người tại Rạch Giá để trả thù, bắt 500 người, trong đó có mẹ, vợ con Nguyễn Trung Trực, mỗi ngày bắn vài người cho đến khi ông ra hàng mới thôi. Đứa con nhỏ của ông vừa ra đời, Pháp không cho bú mẹ và nó đã chết vì đói. Trước tình hình đó, Nguyễn Trung Trực quyết định nộp mình để cứu dân. Ngày 19 tháng 9 năm 1868, Pháp bắt được Nguyễn Trung Trực. Pháp giam ông ở Khám lớn Sài Gòn. Ngày 27 tháng 10 năm 1868, Nguyễn Trung Trực bị hành quyết, thọ 30 tuổi, để lại câu nói nổi tiếng: "Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì người Nam mới hết chống người Tây”.

chnghuuhuan-1654523392.jpg
Tượng đài Anh hùng dân tộc Thủ Khoa Huân ở TP. Mỹ Tho (Tiền Giang) - một sĩ phu yêu nước, thương dân và là một lãnh tụ khởi nghĩa chống quân Pháp xâm lược vào nửa cuối thế kỷ XIX. Nguồn: Internet.

 

 Thứ ba, cuộc khởi nghĩa của Trương Quyền. Trương Quyền là con của Trương Công Định và bà Lê Thị Thưởng, sinh năm 1844 tại làng Gia Thuận, huyện Tân hòa, Phủ Hòa Thanh (Gò Công), tỉnh Gia Định. Từ hồi trẻ, Trương Quyền tinh thông võ nghệ, có chí khí, dũng cảm. Năm 1859, Trương Công Định khởi nghĩa chống Pháp, Trương Quyền khi đó 17 tuổi đã theo cha ra trận. Ngày 20 tháng 8 năm 1864, trong trận đánh quân Pháp tấn công vào căn cứ Đầm Lá Tối Trời, căn cứ thất thủ, Trương Công Định bị thương vào xương sống và tự sát tại Ao Dinh (Gò Công). Trương Quyền dẫn quân đến Đồng Tháp Mười và Tây Ninh, liên kết với Võ Duy Dương (Thiên Hộ Dương), Phan Chỉnh, Pô Kum Pô thủ lĩnh Căm pu chia chống Pháp. Trương Quyền trẻ tuổi song biết cầm quân nên đánh nhiều trận nổi tiếng như trận Rạch Vịnh (sông Vịnh, một nhánh của sông Vàm Cỏ Đông), Trà Vang (Tây Ninh), Thuận Kiều (Chợ Lớn), Củ Chi, Hóc Môn, Tràng Bảng, Tân An, U Đông gây được thanh thế lớn cho nghĩa quân. Trương Quyền được gọi là "Nhị lang Quân”(Cậu Hai). Trận Tây Ninh ngày 7 tháng 6 năm 1866, giết chết chủ tỉnh Lác cơ lu xơ, sĩ quan phụ tá cùng 11 lính Pháp. Pháp điều binh lên và ngày 14 tháng 6 năm 1886 đụng độ lớn ở Rạch Vịnh. Thiếu tá Mác se tử trận, quan ba Pi nô và La sa gơ bị giết. Trận Rạch Vịnh làm chấn động quân Pháp. Nghĩa quân kiểm soát Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây, từ Xvâyriêng đến Tràng Bảng (Tây Ninh). Pháp phải huy động một lực lượng lớn càn quét Tây Ninh, bao vây sự tiếp tế lương thực, tấn công Trà Vang, tấn công Rạch Vịnh. Nghĩa quân rời căn cứ. Pu kum pô đem quân về Cam pu chia. Tháng 7 năm 1866 Pu kum pô bị bắt và ngày 3 tháng 12 năm 1867 bị chém đầu.

Tháng 6 năm 1867, Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây là Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Nghĩa quân càng khó khăn, Trương Quyền rút vào rừng sâu Suối Giây. Sau đó, Trương Quyền cho nghĩa quân về với Phan Tôn, Phan Liêm là hai con Phan Thanh

 Giản chống Pháp. Còn Trương Quyền đi đâu, mất năm nào không rõ.

Thứ tư, Cuộc khởi nghĩa của Võ Duy Dương (Thiên Hộ Dương). Võ Duy Dương sinh năm 1827 tại thôn Cù Lâm Nam, huyện An Nhơn, Bình Định. Năm 1857 hưởng ứng chính sách phát triển đồn điền của Nguyễn Tri Phương, ông vượt biển vào định cư ở đất Ba Giồng, Đồng Tháp và trở thành hào phú ở địa phương.

  Tháng 2 năm 1859, Pháp đánh Gia Định, Võ Duy Dương cùng Nguyễn Hữu Huân kéo về Gia Định đánh Pháp. Năm 1860, được triều đình phong là Chánh bát phẩm Thiên Hộ. Tháng 5 năm 1861, Khâm phái Quân vụ Đỗ Thúc Tĩnh vào Nam Kỳ chiêu mộ nghĩa dũng chống Pháp. Thiên Hộ Dương chiêu mộ được 1.000 lính đóng ở Bình Cách. Ông liên hệ với các thủ lĩnh như Trương Công Định ở Gò Công, Trần Xuân Hòa ở Thuộc Nhiêu, Đỗ Thúc Tĩnh ở Mỹ Quý. Trong hành dinh của Thiên Hộ Dương có các thủ lĩnh như Nguyễn Tấn Kiều (Đốc binh Kiều), Nguyễn Văn Cẩn (Lãnh binh Cẩn), Thống binh Trần Kỳ Phong, Lãnh binh Dương Thương Chấn, Thống Đa, Quản La. Ngày 14 tháng 4 năm 1866, Pháp huy động 1.000 quân thủy bộ, tàu chiến, đại bác tấn công theo ba hướng Cần Lố, Cái Nứa và Bắc Chiêng, diễn ra một trận chiến ác liệt, đồn Trung của nghĩa quân thất thủ. Thiên Hộ Dương rút khỏi Đồng Tháp, đem quân phối hợp với Trương Quyền, A cha xoa đánh với Pháp nhiều trận. Tháng 10 năm 1866, Thiên Hộ Dương định vượt biển ra Huế, nhưng đi đến Cần Giờ bị cướp biển hạ sát, khi đó ông 39 tuổi.

  Thứ 5, cuộc khởi nghĩa của hai anh Phan Liêm và Phan Tôn. Phan Liêm còn có tên là Phan Thanh Liêm, sinh năm 1833 tại làng Bảo Trạch, Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Bố là Phan Thanh Giản, mẹ là Trần Thị Hoạch, em là Phan Tôn, sinh năm 1837. Sau khi Phan Thanh Giản tự sát chết, Phan Thanh Liêm cùng em Phan Tôn dấy binh chống Pháp ở Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Sa Đéc (Đồng Tháp). Đêm ngày 9 rạng ngày 10 tháng 11 năm 1864, nghĩa quân tấn công chợ Hương Điểm, làm chủ tỉnh Pháp Sam po bị thương, lấy đi nhiều tài liệu, súng đạn, trong đó có một đại bác. Tướng Phan Tòng của nghĩa quân hy sinh trong trận này. Sáng 12, Pháp cho ba pháo thuyền đến đánh. Nghĩa quân dùng cọc, chướng ngại vật chặn đánh tàu Pháp, thây người và vật liệu la liệt trên bùn nước. Đêm 15, nghĩa quân tấn công tàu Pháp ở Ba Tri và dọc sông Hàm Luông, Bến Tre. Tôn Thọ Tường và Tổng đốc Phương là bạn với Phan Thanh Giản dụ hàng nhưng Phan Thanh Liêm, Phan Tôn không nghe. Bị rượt đuổi, hai ông dùng thuyền vượt biển ra Huế và được Tự Đức trọng dụng. Hai ông đã theo Nguyễn Tri Phương ra Bắc phòng thủ Hà Nội.

  Thứ 6, Khởi nghĩa Nguyễn Hữu Huân. Nguyễn Hữu Huân sinh năm 1830 tại làng Tịnh Hà, Huyện Kiến Hoa (huyện Chợ Gạo), tỉnh Định Tường. Năm 1852 thi hương đỗ đầu nên được gọi là Thủ Khoa Huân, được bổ nhiệm giáo thụ phủ Kiên An. Tháng 5 năm 1859 giữ chức Phó Quản đạo, khởi binh chống Pháp, Thủ Khoa Huân hoạt động từ Tân An đến Mỹ Tho. Tháng 6 năm 1862, Thủ Khoa Huân hội nhập quân với Trương Công Định. Ngày 5 tháng 2 năm 1863, căn cứ Tân Hòa của Trương Công Định bị thất thủ, Nguyễn Hữu Huân lui về Bình Cách, Tân An lãnh đạo nghĩa quân ở Định Tường. Quân Pháp tấn công Bình Cách, Thủ Khoa Huân rút về Thuộc Nhiêu, Cai Lậy, Tiền Giang. Tháng 6 năm 1863, quân Pháp càn quét Thuộc Nhiêu. Năm 1864, ông lui về An Giang phối hợp với Thiên hộ Dương, đánh Pháp ở An Giang, sau lại chuyển về Thất Sơn, An Giang. Năm 1862, ông bị Tổng đốc An Giang Nguyễn Khắc Thận bắt nộp cho Pháp. Pháp dụ dỗ đầu hàng không được, ngày 22 tháng 8 năm 1864, ông bị kết án 10 năm tù, bị đày đi Cay en nơ, một thuộc địa Pháp ở Nam Mỹ.

  Sau 5 năm tù, ngày 4 tháng 2 năm 1869, ông nhận lệnh ân xá về quản thúc tại nhà bạn thời thơ ấu là Đỗ Hữu Phương bảo lãnh cho ông.

  Tháng 3 năm 1872, Nguyễn Hữu Huân trốn về Mỹ Tho, cùng Âu Dương Lân dấy binh đánh Pháp. Đây là cuộc khởi nghĩa lần ba của Nguyễn Hữu Huân, địa bàn hoạt động từ Mỹ Tho đến Mỹ Quý, Cai Lậy. Năm 1874, Pháp nhờ Trần Bá Lộc dẫn đường đã đánh vào Bình Cách. Nguyễn Hữu Huân chạy thoát về Chợ Gạo. Tháng 3 năm 1875, Nguyễn Hữu Huân về Tân An và bị bắt do Đốc binh Hương chỉ điểm”.

  Thống đốc Vích to Ô gi sơ tê đọc xong bản báo cáo, rót thêm một cốc rượu, uống và đang mông lung suy nghĩ. Chợt có sĩ quan tùy tùng vào báo:

-Dạ bẩm Thống đốc.

-Có việc gì?

-Dạ, Thủ Khoa Huân bị bắt, tỉnh trưởng Mỹ Tho Đơ gen lăng giơ chiêu dụ hàng nhưng không được, ngày 19 tháng 5 năm 1875, đã cho hành quyết ông ở quê rồi ạ. Ông làm hai câu liễn tuyệt mệnh đây ạ.

-Thủ Khoa Huân thọ bao nhiêu tuổi?

-Dạ, ngài ấy sinh năm 1830, vậy là thọ 45 tuổi ạ.

  Thống đốc Vích to  Ô gi sơ tê cầm và đọc bút tích của Nguyễn Hữu Huân:

  "Việc lớn không thành, báo chúa cũng đành liều một chết.

 Lòng ngay tỏ miệng đời luống để luận trăm năm.”

Thống đốc đọc xong bút tích của Thủ Khoa Huân cùng với bản báo cáo chiến sự từ 1859 đến nay, ông ta cảm phục tinh thần bất khuất của những võ quan, văn thân, sĩ phu, chí sĩ yêu nước và dân chúng Đại Nam. Ông ta hiểu rằng nước Pháp có thắng lợi hiện nay cũng chỉ là tạm thời. Một dân tộc bất khuất như vậy không bao giờ chịu mất nước, không bao giờ chịu khuất phục ngoại bang.

IX

Tháng 11 năm 1872, thành Hà Nội chìm trong giá rét, chìm trong cây lá bị gió đưa xào xạc. Mây trên bầu trời u ám. Sông Hồng như muôn thuở, cuồn cuộn đưa nước màu hồng về xuôi. Những con thuyền trôi trên sông tưởng như vô định, thỏa mãn cuộc sống giang hồ sông nước, nay đây mai đó.

Một sáng, trong điện Kính Thiên, Kinh lược Đại thần Nguyễn Tri Phương đang ngồi uống trà và bàn quốc sự với Tổng đốc Hà Nội Bùi Thức Kiên, Khâm sai Phan Đình Bình, lãnh binh Nguyễn Đăng Nghiễm, Phan Tôn, Phan Liêm là hai con trai của Phan Thanh Giản và phò mã Nguyễn Tri Lâm (con thứ hai của Nguyễn Tri Phương).

Sau một lượt trà, Nguyễn Tri Phương đặt chén xuống và nói:

-Các vị đã biết, nước Đại Nam ta đang bị giặc Pháp xâm lược. Nam Kỳ Lục tỉnh đã mất vào tay Pháp. Ở Miền Bắc, tay chân của chúng cũng đang hoành hành, bất chấp chủ quyền của Vương quốc Đại Nam. Cụ thể là tên lái buôn thực dân Giăng Đuy puy, dù không được phép của triều đình ta vẫn ngang nhiên cho tàu chạy theo sông Hồng tới Vân Nam. Hắn còn láo xược đòi dược đóng quân bên bờ sông Hồng, đòi có nhượng địa, đặc khu tại Hà Nội, đòi được cấp than đá đưa sang Vân Nam. Lính Pháp và bọn thổ phỉ dưới quyền của Giăng Đuy Puy còn ngang nhiên bắt cóc lính và những người dân xuống tàu của chúng để đòi tiền chuộc. Ta đã yêu cầu Giăng Đuy puy tới làm việc nhưng hắn ngang nhiên láo xược khước từ. Các vị có cao kiến gì để đối phó với Giăng Đuy puy không?

chquan-phap-jpg-1654611275.gif
Quân Pháp tấn công Thành Hà Nội lần thứ nhất năm 1873. Nguồn: baotanglichsu.vn

 

Phò mã Nguyễn Tri Lâm tức giận nói:

-Thưa cha, con nghĩ là nên điều tàu và binh lính đánh dẹp nó đi để trừng trị tội ngang nhiên xem thường luật pháp và chủ quyền của Đại Nam ta.

Quan Tổng đốc Hà Nội Bùi Thúc Kiên nói:

-Bẩm khâm sai Đại thần, hạ quan nghĩ rằng không nên tấn công Giăng Đuy puy, quân Pháp ở Nam Kỳ sẽ lấy cớ phát động chiến tranh xâm lược miền Bắc.

Lãnh binh Nguyễn Đăng Nghiễm nói:

-Hạ quan nghĩ nên tấu việc này về triều đình, đề nghị triều đình thương thuyết với Thống đốc Nam kỳ bắt Giăng Đuy Puy rời khỏi miền Bắc.

Nguyễn Tri Phương nói:

-Các vị nên nhớ rằng sớm muộn quân Pháp sẽ đánh chiếm miền Bắc để chiếm trọn nước ta mà trước tiên là đánh thành Hà Nội. Giăng Đuy puy sẽ là ngòi nổ, chúng sẽ lợi dụng rắc rối này để gây chiến, Giăng Đuy puy chỉ là con cờ của Thống đốc Nam Kỳ và của bọn xâm lược mà thôi. Vấn đề cấp bách là khi Pháp đánh, ta có giữ được thành Hà Nội hay không?

Nguyễn Tri Phương ngừng lại uống một ly nước và nói tiếp:

-Thành Hà Nội là thành lũy kiên cố do vua Gia Long xây dựng đã 70 năm rồi. Ta đã kiểm tra lại, hiện nay ta có 3.000 lính nhưng trang bị quá lạc hậu và thiếu thốn. Đa số chỉ có gươm giáo, một số có súng hỏa mai nhưng đã lâu không được tập luyện để sử dụng. Trên thành có hàng chục khẩu thần công nhưng lạc hậu, bắn phải nhồi thuốc nên tốc độ chiến đấu rất chậm, đạn rơi xuống không nổ do đó sát thương không hiệu quả. Trong khi đó, đại bác Pháp rơi xuống đạn nổ có sức công phá thành trì và sát thương quân lính đối phương rất dữ dội. Qua việc mất thành Gia Định, Đại Đồn, Biên Hòa, Mỹ Tho, ta cho rằng ta không thể giữ được thành Hà Nội trước sự công phá của đại bác hiện đại của chúng. Không giữ được thành nhưng chúng ta vẫn phải ngồi cố thủ chờ chúng đến đánh, bỏ chạy rút lui là hèn nhát, đầu hàng thì mang tội, thôi thì đành chiến đấu để sát thân thành nhân. Về vụ Giăng Đuy puy, ta cho quân đánh dẹp nó thì quân Pháp ở Nam kỳ sẽ lấy cớ đánh ra Hà Nội, triều đình ta báo vào Nam thì chúng cũng lấy cớ đó ra Hà Nội. Thôi thì cứ báo cho triều đình biết rồi tùy triều đình xử lý.

Nguyễn Tri Phương gọi:

-Khâm sai Phan Đình Bình.

-Có hạ quan.

-Ngài đi gấp về Huế tâu việc gây rắc rối của Giăng Đuy puy với triều đình để triều đình biết.

-Dạ, hạ quan tuân lệnh quan Kinh lược sứ.

Sau khi chiếm được Nam Kỳ lục tỉnh, Pháp thiết lập đơn vị hành chính Nam Kỳ thuộc Pháp, lập ra bộ máy cai trị do Thống đốc đứng đầu, họ gọi là xứ thuộc địa, tức là lãnh thổ của Pháp kéo dài tới Nam Kỳ.

Một sáng tháng 10 năm 1873, Nam Kỳ ngập trong nắng gió. Phủ Thống đốc Nam kỳ kiến trúc kiểu châu Âu tráng lệ nhô lên trong màu xanh cây lá. Trong phủ, Thống đốc Nam Kỳ Đơ đúp re đang ngồi họp bàn với Soái phủ Phơ răng xoa Gác ni e, Hăng ri vi e và nhiều sĩ quan cấp dưới:

-Thưa các ngài, hôm qua ta vừa làm việc với sứ thần của triều đình Đại Nam là Khâm sai Phan Đình Bình về vụ Giăng Đuy puy ở ngoài Bắc, gây sự với chính  quyền Nguyễn trên sông Hồng và Hà Nội. Triều đình Huế không dám trấn áp Giăng Đuy puy mà nhờ ta can thiệp, cử người ra Bắc thương lượng. Sau khi được nhà Nguyễn bồi thường thì bắt buộc Giăng Đuy puy phải về Nam Kỳ hoặc sang biển Trung Hoa. Các ngài tính vụ này giải quyết thế nào?

Đơ đúp re cầm cốc rượu săm pa nhơ và nói:

-Nào, mời các ngài vừa uống vừa bàn chuyện Bắc Kỳ.

Cả bọn nâng cốc chạm và cạn ly. Tiếng cốc chạm nhau leng keng. Gác ni e nói:

-Mục đích của chúng ta không chỉ chiếm Nam Kỳ lục tỉnh mà là chiếm toàn bộ Đại Nam, bước sắp tới là phải chiếm Bắc Kỳ. Nhưng chúng ta chưa có lý do để tiến ra Bắc một cách hợp pháp. Nay triều đình Huế mời ta ra giải quyết vụ Giăng Đuy puy, ta sẽ nhân cơ hội đánh chiếm thành Hà Nội khiến nhà Nguyễn trở tay không kịp. Từ Hà Nội, ta sẽ đánh chiếm các tỉnh khác lân cận, sẽ nhanh chóng làm chủ miền Bắc.

Đơ đup re nói:

-Sở dĩ chín năm nay chúng ta án binh bất động, chưa đánh Bắc Kỳ vì tình hình nước ta trong những năm đó nhiều biến động. Năm 1870 chiến tranh Pháp-Phổ bùng nổ, nước Pháp bại trận, hoàng đế Na pô lê ông đệ tam cùng 10 vạn quân phải đầu hàng quân Phổ ở Xơ đăng, nền đế chế đệ nhị sụp đổ, hoàng đế Na pô lê ông III bị bắt, đất nước hỗn loạn. Nhân cơ hội đó, công nhân Pari đã nổi dậy và thiết lập chính quyền của họ là Hội đồng công xã, còn gọi là Công xã Pari. Chính phủ Pháp do thủ tướng Chi e đứng đầu, 72 ngày sau mới phản công chiếm lại Pari, tàn sát không biết bao nhiêu người mà kể, Pari tắm trong máu của người lao động. Sau Công xã Pari, hiện nay chính phủ Pháp cũng rất khó khăn do sức ép của quân Phổ, chưa thể chi viện cho chúng ta được, vả lại ta đánh Bắc Kỳ, quân Trung Quốc nhà Thanh sẽ can thiệp.

Hăng ri vi e nói:

-Từ khi ta đánh chiếm Nam Kỳ đến nay, quan lại võ tướng nhà Nguyễn cứ nghe đại bác của ta phần lớn là bỏ chạy, không bỏ chạy thì đầu hàng, chỉ còn số ít anh dũng chiến đấu cốt để bảo toàn danh dự, khí tiết thì cũng đều hy sinh hết. Cho nên không cần chính quốc chi viện chúng ta vẫn có thể lấy được Bắc Kỳ và cả Đại Nam. Còn Trung Quốc thì cũng đang bị Liên quân do Anh- Pháp cầm đầu xâu xé, đánh cho tơi bời trong các cuộc chiến tranh thuốc phiện, còn sức đâu mà cứu Đại Nam. Vả lại, cho dù nhà Thanh có can thiệp vẫn bị chúng ta đánh bại. Quân đội và triều đình nhà Thanh cũng lạc hậu và bạc nhược không kém gì nhà Nguyễn của Đại Nam.

Đơ đúp re nói:

-Các ngài nói cũng có lý. Nay cử Soái phủ Gác ni e đem lực lượng ra đánh Hà Nội và miền Bắc Đại Nam. Chúng ta hãy nâng cốc chúc ngài Soái phủ thắng lợi.

Đơ đuy re cầm cốc đứng dậy, cả bọn cùng đứng theo, rượu chảy vào mồm bọn thực dân cướp biển nghe ừng ực. Uống xong cả bọn mặt đỏ phừng phừng dữ tợn, dâng lên sát khí của bọn cướp biển hung tàn, tham lam.

Bốn chiến hạm do Phơ răng xoa Gác ni e chỉ huy hành trình ba ngày ba đêm trên biển gần của Đại Nam từ Sài Gòn ra biển Bắc. Ngày 23 tháng 10 năm 1873, bốn chiến hạm vào cửa biển Hải Phòng, theo đường sông Cấm vào sông Kinh Thầy, tiến vào Hải Dương. Trên đài chỉ huy, Gác ni e nói với sĩ quan thuộc cấp:

-Ngài hãy chuyển bức thư này cho Giăng Đuy puy bảo hắn đem tàu thuyền binh sĩ hội quân với ta đánh Hà Nội.

-Dạ, thuộc cấp tuân lệnh.

Khi đó thuyền buôn và tàu chiến cướp biển của Giăng Đuy puy đang tập kết ở bến Lục Đầu Giang. Giăng Đuy puy đang ngồi trong lâu thuyền uống rượu. Hắn nâng cốc thủy tinh tu cạn một hơi hết cốc săm pa nhơ hảo hạng. Hắn đạng lo nghĩ vì nhận được tin Thống đốc Nam Kỳ sai Soái phủ Gác ni e ra buộc hắn phải thương lượng với Nguyễn Tri Phương. Sau khi hắn được đền bù thì phải rời sông Hồng về biển Trung Hoa hoặc là về Nam Kỳ. Nếu mà như vậy thì vận may của hắn đã hết. Ở đây hắn vừa buôn bán, vừa bắt cóc người để đòi tiền chuộc. Quan lại địa phương ươn hèn khiếp sợ người Pháp không dám làm gì hắn. Còn đang lo nghĩ thì có tên thuộc hạ vào báo:

-Dạ, bẩm có người của Soái phủ Gác ni e đem thư đến.

Giăng Đuy puy vội nhổm dậy:

-Cho vào ngay.

-Dạ.

Một lát, tên tùy tùng dẫn vào một tên lính Pháp:

-Dạ bẩm, Soái phủ Gác ni e có thư gửi ngài.

Giăng Đuy puy vội bóc thư ra đọc. Thư viết: “Ta vâng lệnh của Thống đốc Nam Kỳ ra đây không phải là trục xuất ngài mà là đánh chiếm thành Hà Nội và đánh chiếm Bắc Kỳ của Đại Nam. Ngài hãy chờ ta đến, đem binh thuyền lực lượng phối hợp với ta cùng hành động”.

Soái phủ Gác ni e ký tên.

Giăng Đuy puy đọc xong thư, mừng rỡ nói với tên thuộc cấp:

-Thu xếp cho ngài thượng sĩ đây ăn uống nghỉ ngơi tử tế.

-Dạ, tuân lệnh.

Giăng Đuy puy lại nói với tên thượng sĩ:

-Ăn uống nghỉ ngơi xong, ngài về nói với Soái phủ Gác ni e rằng ta sẵn sàng hợp tác, ta chờ ngài Soái phủ tại Lục Đầu Giang này để cùng tiến về Hà Nội.

-Dạ, ta tuân lệnh.

Sau khi đoàn tàu của Gác ni e vào Lục Đầu Giang, Giăng Đuy puy ra đón, mở tiệc thết đãi và nói:

-Toàn bộ chiến thuyền và thuyên buôn của ta gồm tám chiếc, binh lính thủy thủ của ta sẽ đặt dưới quyền chỉ huy điều động của Soái phủ để đánh Hà Nội.

Tu một cốc rượu to xong, Giăng Đuy puy nói tiếp:

-Ta còn cung cấp cho ngài một vật quý để ngài dùng vào tác chiến.

Gác ni e đặt cốc xuống hỏi:

-Vật gì quý giá vậy?

Giăng Đuy puy trải rộng tờ giấy ra, đó là bản đồ vẽ vùng đồng bằng Bắc Bộ với những đường sông, đượng bộ có thể tiến vào thành Hà Nội và tiến vào trấn trị các tỉnh. Gác ni e xem xong cười ha hả:

-Ngài Giăng Đuy puy khá lắm, ngài không chỉ là lái buôn, cướp biển mà còn là nhà quân sự. Đã là nhà quân sự thì phải thông thạo bản đồ để tác chiến. Bản đồ của ngài quả là quý hơn vàng bạc. Ha!Ha!Ha!...Nào, nâng cốc chúc mừng sự hợp tác của chúng ta. Chúc mừng chiến thắng của chúng ta.

Cả bọn lại nốc cạn những cốc săm pa nhơ rồi lại rót đầy cốc, lại uống tiếp…

Hôm sau, Gác ni e nói với Giăng Đuy puy:

-Muốn đánh được thành Hà Nội không chỉ cần liều lĩnh, can đảm mà còn cần có lực lượng mạnh để dọa nạt và áp đảo. Cho tàu Mang hào của ngài ra truyền lệnh của ta điều 5 tàu và 60 lính còn ở sông Cấm về hết đây cùng đánh Hà Nội.

Giăng Đuy puy nói:

-Tuân lệnh.

Đang khi đó có lính do thám về báo:

-Dạ, bẩm Soái phủ, đại úy Ét spi nô le, chỉ huy tàu do Thống đốc Nam Kỳ tăng viện cho ngài đã vào sông Cấm, đang tiến vào Lục Đầu Giang.

-Tốt.

Lại có do thám về báo:

-Dạ, bẩm Soái phủ, Tàu Mang hào của Giăng Đuy puy từ Hải Phòng về, cùng đi có tàu Đơ cơ rec do thuyền phó Ba in và hai chuẩn úy hải quân Pa ranh và Hô  tơ phơ le.

-Tốt quá.

Lại có do thám về báo:

-Dạ bẩm Soái phủ, chiến thuyền Sơ coóc pi ông từ Hồng Công tăng viện đang từ sông Cấm tiến về đây.

-Tốt, lực lượng đã đủ mạnh, ta có thể gây chiến được rồi.

Gác ni e ra lệnh:

-Tất  cả tiến về Hà Nội chuẩn bị đánh thành và bắt hoặc giết Nguyễn Tri Phương.

Hai mươi ngày sau, trong tổng hành dinh là điện Kính Thiên, Gác ni e và các sĩ quan tề tựu đông đủ. Gác ni e sai rót đầy rượu săm pa nhơ vào các cốc và đứng dậy nói:

-Xin các ngài nâng cốc để chúc mừng chiến thắng của chúng ta. Chỉ 20 ngày với số quân ít ỏi, chúng ta đã chiếm trọn bốn tỉnh của miền Bắc Đại Nam. Điều đáng nói ở đây là quan lại các tỉnh cứ nghe tiếng đại bác của ta là bỏ thành tháo chạy. Thú vị nhất là chỉ mình ngài Hô tơ phơ le và bảy người lính đã chiếm được Ninh Bình chỉ vài giờ trong một buổi sáng.

chanh-1-o-1654697242.jpg
Di tích thành Cửa Bắc- nơi diễn ra trận đánh giữa quân nhà Nguyễn do Tổng đốc Hoàng Diệu chỉ huy với quân Pháp trong trận thành Hà Nội lần thứ 2 (4/1882). Nguồn: baotanglichsu.vn

 

Cả bọn đứng dậy nâng cốc:

-Chúc mừng chiến thắng nhanh chóng của chúng ta. Ha!Ha!Ha!…

Chúng dốc rượu vào mồm cạn đến đáy cốc. Hô tơ phơ le nói:

-Kỳ lạ là sức chống cự của quân Đại Nam không đáng kể, lý do là quan lại hèn nhát bỏ chạy trước thì binh lính phải tan vỡ mà chạy theo. Chúng ta sẽ chiếm được Đại Nam làm thuộc địa chỉ  nay mai thôi. Ha!Ha!Ha!..

*    *

 *

Vào một sáng tháng 12 năm 1873, Hà Nội chìm trong giá rét của một mùa đông lạnh giá. Trong điện Kính Thiên, Gác ni e và các sĩ quan Pháp đang ngồi hội đàm với Trần Đình Túc, đại diện của triều đình Huế. Cho đến bây giờ triều đình Huế vẫn kiên quyết theo đuổi chủ trương nghị hòa để mong Pháp trả lại thành Hà Nội và các tỉnh đã bị chiếm và mong Pháp ngừng xâm lược Đại Nam. Triều đình Huế và phái chủ hòa đang chơi trò con cừu xin con hổ đang đói đừng ăn thịt mình. Gác ni e và các sĩ quan nâng cốc:

-Xin chào ngài Trần Đình Túc, đại diện của hoàng đế Đại Nam. Xin các vị nâng cốc chúc mừng cuộc hội ngộ Việt- Pháp.

Gác ni e, các sĩ quan cùng Trần Đình Túc đứng dậy. Trần Đình Túc nói:

-Xin thay mặt phái đoàn của triều đình Đại Nam cảm tạ sự tiếp đón của các ngài, đặc biệt là ngài Soái phủ Gác ni e.

Từng người trong bọn dốc cạn rượu, vừa đặt chén xuống thì tình báo của Gác ni e hốt hoảng vào báo:

-Dạ bẩm Soái phủ, quân Cờ đen của tướng người Hoa Lưu Vĩnh Phúc và quân triều đình đang tiến đánh phía Tây thành Hà Nội.

Gác ni e đập bàn quát Trần Đình Túc:

-Các ông ra đây thương nghị tại sao lại còn cho binh sĩ tới gây chiến. Định dùng mưu kế với bản soái chăng?

Trần Đình Túc cả sợ:

-Dạ bẩm quan Soái phủ, chắc đó là quân của Tổng thống quân thứ Tam Tuyên Hoàng Kế Viêm, quân của Đề đốc người Hoa Lưu Vĩnh Phúc, quân của Tham tán quân vụ Tam Tuyên Tôn Thất Thuyết tự hành động, chúng tôi và triều đình hoàn toàn không biết.

Gác ni e ra lệnh:

-Ngài Ba in Đơ xô gi e rơ cùng 30 binh sĩ giữ cửa thành phía Bắc.

-Thuộc cấp tuân lệnh.

-Ngài Đa gô rơ me cùng 30 binh sĩ giữ cửa thành phía Nam.

-Thuộc cấp tuân lệnh.

-Ngài Bô ni phay.

-Có thuộc cấp.

-Ngài cùng 40 binh sĩ giữ của thành phía Đông.

-Thuộc cấp tuân lệnh.

-Còn lại theo ta lên mặt thành phía Tây.

Gác ni e cùng các tùy tùng và binh sĩ lên mặt thành phía Tây quan sát, thấy có khoảng 600 lính Cờ Đen đang chuẩn bị đánh vào thành. Xa xa còn trông thấy thấp thoáng bóng cờ màu vàng của quân Đại Nam. Gác ni e ra lệnh cho trọng pháo:

-Nhằm vào quân Cờ Đen bắn.

Trọng pháo trên mặt thành gầm lên khạc đạn lửa vào quân Cờ Đen. Đạn rơi xuống nổ tung như sấm, khói lửa mịt mù. Quân Cờ Đen hoảng loạn bỏ chạy. Gác ni e ra lệnh:

-Mở cổng thành phía Tây cho bản soái truy kích.

-Tuân lệnh.

Cổng thành mở. Gác ni e cùng 20 lính với súng trường bộ binh cầm tay, lại đẩy thêm một khẩu pháo loại nhỏ lao ra vừa bắn vừa truy kích quân Cờ Đen. Gác ni e không ngờ y đang xông vào trận địa phục kích của quân Cờ Đen ở Cầu Giấy, cách thành Hà Nội về phía Tây khoảng 5km. Khi qua chiếc cầu bắc qua sông Tô Lịch, Gác ni e vấp vào một vật gì đó ngã lăn ra đường, chưa kịp vùng dậy đã bị quân mai phục của Lưu Đoàn, em Lưu Vĩnh Phúc đổ ra dùng gươm đâm chết Gác ni e cùng ba sĩ quan tùy tùng và một lính Pháp. Những tên còn sống sót hoảng sợ tháo chạy về thành Hà Nội đóng cửa cố thủ. Quân Cờ Đen chặt thủ cấp của Gác ni e, ba sĩ quan và một lính đi bêu khắp đường phố Hà nội từ ngày 21-12-1873 đến ngày 5-1-1874. Ba in Đơ cô ky ri thay Gác ni e chỉ huy quân Pháp ở Bắc Kỳ.

X

Mùa hè năm 1882, toàn châu thổ sông Hồng và Hà Nội ngập chìm trong nắng, cây xanh rợp bóng phủ xuống những mái nhà, những đường phố. Sông Hồng tải phù sa cuồn cuộn chảy về Đông. Những cánh đồng vàng mơ màu vàng của lúa. Làng quê sắp vào vụ gặt hái thu hoạch tháng năm.

Trong thành Hà Nội, ở điện Kính Thiên, Tổng đốc Hoàng Diệu đang ngồi đàm đạo cùng Tuần phủ Hoàng Hữu Xung, Đề đốc Lê Văn Trinh, Bố chánh Phan Văn Tuyên, Án sát Tôn Thất Bá và Lãnh binh Lê Trực. Trên chiếc bàn dài gỗ lim khảm ngọc trai đặt bộ ấm trà. Các võ quan ngồi trên hai hàng ghế tràng kỷ  cũng bằng gỗ lim và khảm trai. Tổng đốc Hoàng Diệu nói:

-Mời các ngài dùng trà cho nóng.

-Dạ, đa tạ quan Tổng đốc. Kính mời.

Mọi người bê chén và uống từng ngụm nhỏ. Sau khi các võ quan đặt chén, Hoàng Diệu nói:

-Sau trận giặc Pháp đánh Hà Nội năm 1873, đặc biệt sau trận Cầu Giấy, quân Cờ Đen giết chết tướng giặc Gác ni e, quân Pháp đã bỏ Hà Nội rút về Hải Phòng và đang trù tính rút toàn bộ khỏi miền Bắc thì triều đình lại cử Chánh sứ đại thần Lê Tuấn và Phó sứ đại thần Nguyễn Văn Tường ra thương thuyết với đại diện của Pôn Lui Đúp pe, Thống đốc Nam Kỳ.

Tuần phủ Hoàng Hữu Xung hỏi:

-Nghe nói theo hòa ước năm 1874 đã ký trong cuộc hòa đàm đó, ta còn thiệt thòi hơn cả hòa ước năm 1862.

Hoàng Diệu đáp:

-Quả đúng như vậy, hòa ước ký ngày 15 tháng 3 năm 1784 (Giáp Tuất), tại dinh Thống đốc Nam kỳ, Sài Gòn, được ký giữa phó Đề đốc Pháp là Đúp pe và các đại thần của ta là Lê Tuấn, Nguyễn Văn Tường. Ta công nhận chủ quyền vĩnh viễn của Pháp ở Nam Kỳ lục tỉnh, Đại Nam lệ thuộc Pháp về chủ quyền ngoại giao. Ta mở cửa cho pháp tự do thông thương trên tất cả các cửa biển và trên sông Hồng, các cha cố Pháp được quyền tự do truyền bá đạo Thiên Chúa. Pháp được đóng 100 quân ở đồn Thủy (trong thành Hà Nội) và trên bờ Nam sông Hồng. Đó là hai mũi dao chính đe dọa trực tiếp thành Hà Nội. Đây là hiệp ước bất bình đẳng thứ hai, Pháp được nhiều quyền lợi hơn so với hiệp ước năm 1862. Công dân Pháp trên đất Đại Nam được hưởng nhiều quyền lợi, trong đó có quyền lãnh sự tài phán, tức là họ phạm tội trên đất Đại Nam nhưng ta không được xét xử mà phải giao cho Pháp.

Sau lời của Hoàng Diệu, các võ quan im lặng, buồn rầu, lo lắng cho vận nước. Có tiếng thở dài. Một số võ quan im lặng uống trà cho nguôi cơn giận đang sục sôi trong lòng. Bố chánh Phan Văn Tuyên hỏi:

-Thưa Tổng đốc, thế nào giặc cũng tấn công Hà Nội lần nữa. Để chuẩn bị chiến đấu ta phải báo cáo triều đình để xin tăng viện vũ khí và binh lính.

Hoàng Diệu nói:

-Ta và các ngài được triều đình cử đến đây từ năm 1880. Hai năm qua ta đã ba lần dâng sớ xin triều đình chi viện để củng cố thành lũy đánh giặc. Nhưng đáng tiếc hoàng thượng trả lời…

Đề đốc Lê Văn Trinh hỏi:

-Hoàng thượng trả lời sao? Thưa Tổng đốc.

-Hoàng thượng chỉ dụ rằng chủ trương của triều đình trước sau như một là dùng hòa nghị thương lượng để ngăn ngừa chiến tranh, khả dĩ có thể ngăn chặn Pháp mở rộng xâm lược, khả dĩ có thể chuộc lại Nam Kỳ lục tỉnh, khả dĩ có thể bảo vệ được đất nước. Cho nên không được tăng vũ khí, không được tăng binh lính để Pháp nghi ngờ và phật ý, để pháp kiếm cớ gây hấn.

Án sát Tôn Thất Bá thở dài:

-Cái chủ trương này thành công ở đâu chả thấy, chỉ thấy làm mất ba tỉnh miền Đông và sau đó mất luôn ba tỉnh miền Tây. Đến hòa ước 1874 thì thừa nhận Nam Kỳ lục tỉnh là thuộc địa vĩnh viễn của Pháp, mở tất cả các cửa biển miền Bắc và sông Hồng cho Pháp buôn bán, lại mất luôn chủ quyền ngoại giao, muốn đặt quan hệ với một nước nào đó phải thông qua Pháp, lại cho giặc đóng quân ngay ở Đồn Thủy, Nam sông Hồng  để uy hiếp Hà Nội, uy hiếp miền Bắc.

Hoàng Diệu nói:

-Nhiệm vụ nặng nề của chúng ta là bảo vệ thành Hà Nội. Ngài Lãnh binh Lê Trực hãy nói thêm cho các ngài đây rõ lực lượng để bảo vệ thành Hà Nội.

Lãnh binh Lê Trực đáp:

-Dạ thưa Tổng đốc, thành Hà Nội xây dựng theo bản vẽ của kỹ sư người Pháp từng phục vụ cho Tiên đế Gia Long. Mỗi bức tường thành dài 1.200m, tường thành đắp bằng đất sét, ngoài ốp một lớp gạch lớn và chắc chắn. Trên mặt thành có 49 khẩu thần công nhưng đã rỉ không thể bắn được. Về quân lực giữ thành có 108 lính thu thuế, 151 lính bảo vệ tường thành (pháo binh), 1.574 lính phụ binh, 442 lính vệ binh, 500 lính giám thành, 632 lính chạy trạm. Tất cả trang bị giáo mác và súng hỏa mai.

Hoàng Diệu buồn rầu:

-Như vậy thần công không sử dụng được, cho dù có sử dụng được thì sát thương cũng không cao vì đạn không nhồi thuốc, trúng mục tiêu không nổ, vũ khí bộ binh thiếu thốn lạc hậu. Trong khi đó các ngài đã biết, đại bác Pháp cực kỳ mạnh, bắn xa, chính xác, đạn rơi xuống nổ tán phá và sát thương lớn. Các ngài đã biết ở thành Gia Định, Đại Đồn Chí Hòa, thành Mỹ Tho, thành Biên Hòa, thành Hà Nội năm 1873, quân ta đông, chiến đấu rất anh dũng nhưng vẫn thất thủ vì đại bác hỏa lực giặc rất mạnh. Bộ binh của ta đông nhưng trang bị lạc hậu. Bộ binh của Pháp ít nhưng súng trường cầm tay bắn cũng rất nhanh và chính xác. Thành Hà Nội nay lại có nguy cơ thất thủ như năm 1873. Các ngài có cao kiến gì không?

Đề đốc Lê Văn Trinh nói:

-Ta có thể liên kết với quân các tỉnh chung quanh Hà Nội, như quân miền Tây Bắc của Tổng thống quân vụ Hoàng Kế Viêm, quân của Tham tán Tam Tuyên Tôn Thất Thuyết, quân Cờ Đen của Đề đốc Lưu Vĩnh Phúc cùng đánh Pháp khi chúng tấn công Hà Nội.

Hoàng Diệu nói;

-Ta đã đề đạt như Đề đốc nói rồi nhưng hoàng thượng bác bỏ, còn quở trách ta đem binh ra dọa giặc, làm sai chủ trương của triều đình là nghị hòa để cứu nước.

chgarnier1-1654785743.jpg

Francis Garnier bị quân Cờ đen đâm chết ở Cầu Giấy (Hà Nội) ngày 21 tháng 12 năm 1873. Nguồn: vi.wikipedia.org/

 

Các võ quan lại thở dài, không khí trầm hẳn xuống. Tuần phủ Hoàng Hữu Xung nói:

-Hoàng thượng không cho tổ chức phòng thủ, sợ mất lòng giặc Pháp thì lấy gì mà bảo vệ thành Hà Nội đây?

Hoàng Diệu nói:

-Đó là chủ trương của hoàng thượng không thể đảo ngược được, không thể làm trái được, nhưng đã là là văn thân, sĩ phu thì chỉ một lòng vì dân vì nước, có chết cũng cam lòng. Các ngài có dám cùng ta uống máu ăn thề, quyết sống chết với thành Hà Nội không?

Tất cả đồng thanh đáp:

Chúng tôi sẵn sàng cùng Tổng đốc sống chết với thành Hà Nội.

Hoàng Diệu gọi:

-Bay đâu.

-Dạ.

-Đem vào đây một chậu rượu và 7 con dao ngắn.

-Dạ, tuân lệnh Tổng đốc.

Khi chậu rượu và dao đã được đặt lên bàn, Hoàng Diệu cùng các võ quan cầm dao cắt vào cùi tay. Máu từ các cánh tay chảy vào chậu rượu. Chậu rượu phút chốc thành màu đỏ tươi. Tất cả buông dao, cầm chén, múc rượu, chạm chén uống và nói:

-Chúng tôi thề cùng sống chết với thành Hà Nội. Xin thề.

                            *       *

                               *

Tháng 2 năm 1882, Nam Kỳ lục tỉnh chìm trong nắng gió, cây cối xanh tươi. Phủ Thống đốc Nam kỳ ở Sài Gòn nhô lên sừng sững soi bóng xuống sông Cần Giờ. Trong căn phòng sang trọng kiến trúc kiểu Pháp choáng lộn, Thống đốc Nam kỳ Sác lơ  Vi le đang ngồi bàn việc với các sĩ quan tùy tùng, Trong đó có Hăng ri Vi e rơ, trên bàn là những cốc thủy tinh mà bọn chúng vừa cạn rượu săm pa nhơ. Sác lơ Vi le nói:

-Công cuộc chinh phục Đại Nam làm thuộc địa đã kéo dài 24 năm, từ năm 1858, nay đã là năm 1882 mà chưa hoàn thành. Kéo dài như vậy một phần do sự chống lại quyết liệt của dân chúng Đại Nam, chứ lực lượng triều đình Tự Đức quan lại không đáng kể. Thậm chí Tự Đức còn kiên quết thi hành một chủ trương hòa nghị ngây thơ và mù quáng. Chủ trương này đã nhiều lần cứu chúng ta mỗi khi chúng ta nguy khốn, tuyệt vọng. Như khi chúng ta bị dân chúng Vĩnh Long đánh dữ dội thì triều đình lại ký Hòa ước 1862, giúp chúng ta thoát khỏi cơn nguy biến và còn đạt được nhiều quyền lợi. Rồi khi Gác ni e bị giết ở Hà Nội, chúng ta đang hoang mang định rút khỏi Bắc Kỳ thì triều đình lại thương thuyết ký hòa ước 1874, mang lại cho chúng ta nhiều lợi thế thuận lợi cho việc đánh chiếm Bắc Kỳ trong nay mai. Nhưng chiến tranh kéo dài còn vì tình hình nước Pháp suốt 20 năm đó không thuận lợi. Nước ta đã bại trận trong cuộc chiến tranh Pháp-Phổ năm 1870, phải nhượng hai tỉnh An dát và Lo ren cho Phổ. Rồi giai cấp công nhân Pari đã nổi dậy giành chính quyền ở Pa ri, thành lập công xã Pa ri gây chấn động nước Pháp và châu Âu. Chính phủ Pháp phải chạy về Véc xây. Nó thực sự là cuộc nội chiến đẫm máu trong nội bộ nước Pháp. Những năm 70-80, nền Cộng hòa thứ ba của Pháp cũng chưa vững chắc. Cho đến nay, tình hình chính trị của nước Pháp tương đối ổn định, chúng ta mới có thể tiếp tục cuộc chinh phục Đại Nam. Vả lại nay Đô đốc Dô rơ Gru béc ly lên làm Bộ trưởng bộ hải quân Pháp thì kế hoạch xâm lược Bắc Kỳ mới được chính thức chấp thuận.

Sác lơ Vi le dừng lại, cầm cốc săm pa nhơ uống một hơi rồi nói tiếp:

-Nay để hoàn thành việc thôn tính Bắc Kỳ và sau đó là làm chủ hoàn toàn Đại Nam, trung tá Hăng ri Vi e rơ nghe lệnh:

-Có thuộc cấp.

-Trung tá được chỉ huy toàn bộ quân Pháp ở Bắc Kỳ, được toàn quyền hành động để đem về chiến thắng.

-Thuộc cấp tuân lệnh Thống đốc. Thuộc cấp sẽ hoàn thành nhiệm vụ mà Thống đốc và nước Pháp giao phó.

Thống đốc Sác lơ  Vi le đứng dậy cầm cốc và nói:

-Các ngài hãy cùng tôi nâng cốc chúc mừng ngài trung tá Hăng ri Vi e rơ được cử làm tư lệnh quân Pháp ở Bắc Kỳ và chúc ngài đem về thắng lợi cho nước Pháp.

Cả bọn thực dân cướp biển chạm cốc. Tiếng cốc chạm nhau rung lên báo hiệu máu của dân chúng Đại Nam lại sắp chảy.

 Ngày 26 tháng 3 năm 1882, Hăng Ri Vi e rơ rời Sài Gòn cùng 250 lính và hai chiến hạm Đơ ra Xơ và Pa sơ van chở theo hai đại đội lính thủy đánh bộ do thiếu tá Sa nu chỉ huy, cùng một số lính người Việt. Theo sau là 5 tàu sà lúp máy hơi nước. Mỗi tên lính mang theo 200 viên đạn súng trường.

Ngày 2 tháng 4 năm 1882 đoàn tàu chiến, sà lúp và quân Pháp đến Hải Phòng. Ngày 3 tháng 4, từ Hải Phòng chúng tiến lên đóng ở đồn Thủy Hà Nội. Ngày 15 tháng 4 Hăng ri Vi e rơ gọi tên sĩ quan tùy thuộc và nói:

-Ngài hãy đưa tối hậu thư này cho Hoàng Diệu.

-Thuộc cấp tuân lệnh.

Thư được chuyển vào thành. Tổng đốc Hoàng Diệu bóc thư đọc. Thư viết: "Bản chức ra lệnh cho ngài, Tổng đốc thành Hà Nội, 8 giờ sáng hôm nay quân trong thành phải hạ vũ khí, các quan lại phải đến đồn Thủy trình diện. Nếu không, bản chức sẽ nổ súng chiếm thành”.

Hoàng Diệu tức giận xé nát tối hậu thư ném xuống đất và nói:

-Thằng cướp biển láo xược.

Rồi ra lệnh:                                                                 

-Theo vị trí đã phân công, các võ quan và binh sĩ về vị trí chiến đấu, quyết tử cho thành Hà Nội.

-Tuân lệnh Tổng đốc.

8 giờ 15, không thấy Hoàng Diệu trả lời, Hăng ri Vi e rơ ra lệnh:

-Các pháo hạm nhằm thành Hà Nội bắn.

  Pháo hạm Fan Phơ ra rơ, Su rơ pơ ri sơ, Mác si e và Các bin nơ từ sông Hồng bắn dữ dội vào thành. Trong thành, Hoàng Diệu cùng Lãnh binh Hồ Văn Phong phụ trách phòng thủ. Đề đốc Lê Văn Trinh chỉ huy phòng giữ cửa Đông, Lãnh binh Lê Trực chỉ huy giữ cửa Tây, Lãnh binh Nguyễn Đình Đường chỉ huy phòng giữ cửa Nam. Súng đại bác trên thành không sử dụng được. Quân giữ thành chỉ còn súng hỏa mai ít ỏi bắn xuống nên không ngăn được quân Pháp. Đại bác Pháp làm 49 lính Việt tử trận, 20 lính bị thương, làm thành cửa Nam bị phá hủy. Quân Pháp tràn vào thành dùng súng trường, lưỡi lê tàn sát quân Việt. Tại cửa Đông và cửa Nam, Lê Văn Trinh, Nguyễn Đình Đường phải bỏ thành tháo chạy. Tổng đốc Hoàng Diệu biết thành đã mất, liền đi vào tẩm cung viết thư cho Tự Đức. Thư viết rằng: "Thành Hà Nội thất thủ vì hoàng thượng ngăn không cho tổ chức phòng vệ, ngăn không cho đặt đại bác mới thay cho đại bác đã rỉ, ngăn không cho trang bị lại bộ binh sợ mất lòng quân Pháp. Nay thành đã mất nhưng thần đã làm tròn bổn phận với đất nước, thần lấy cái chết để phơi bày khí tiết của mình.  Xin bái biệt hoàng thượng, Hoàng thượng bảo trọng".              

 Viết thư xong, Hoàng Diệu nhờ người lính thân cận của mình:

-Ngươi là tâm phúc với ta, nay ngươi đem thư này chuyển cho hoàng thượng, ta dưới suối vàng sẽ phù độ cho ngươi.

Người lính khóc:

-Tổng đốc, xin ngài đừng chết.

-Xin cáo biệt.

Nói rồi Hoàng Diệu đi ra trước cổng Võ miếu treo cổ tự vẫn. Hoàng Diệu thọ 53 tuổi (1829-1882).

Thành Hà Nội thất thủ không chỉ do trang bị vũ khí không có gì mà còn do chiến đấu đơn độc. Các cánh quân của Hoàng Kế Viêm ở Sơn Tây, Lưu Vĩnh Phúc ở phủ Hoài, quân của Trương Công Đán ở Bắc Ninh. Ba cánh quân cách thành Hà Nội không xa nhưng đều án binh bất động. Đó là điều kỳ lạ không thể hiểu nổi.

Trong điện Kính Thiên, Hăng ri Vi e rơ cùng các sĩ quan đang tụ họp bàn việc mở rộng xâm lược Bắc Kỳ. Trên bàn la liệt những cốc pha lê tràn đầy rượu. Người hầu bàn đã nhiều lần rót ra, các sĩ quan lại cạn. Hăng Ri Vi e rơ tu một hơi cạn, đặt cốc xuống và nói:

-Chúng ta tuy lấy được thành Hà Nội nhưng thu phục toàn bộ Bắc Kỳ không phải dễ. Các ngài có biết không, hiện nay quân ta chỉ vài nghìn mà phải đương đầu với các đạo quân của triều đình Nguyễn khoảng 2 vạn người, chủ yếu là quân của Lưu Vĩnh Phúc, quân của Hoàng Kế Viêm. Họ bất chấp Hòa ước 1874 và những Chỉ dụ mới đây của Tự Đức là không được gây chiến tranh với quân Pháp.

Tuy nhiên bất chấp hoàn cảnh khó khăn do ít quân, ta vẫn chủ trương chiếm một tỉnh gần Hà Nội nhưng thông ra biển để ta có cửa ngõ ra vào, thông với bên ngoài và với thuộc địa Nam Kỳ. Cho nên ngày 26 tháng 3 năm 1883, ta đã đem các pháo thuyền Pơ lu vi ê, Fan pha ra rơ, Ha se, Y a la gan, Ca ra bi mơ, Si rô ri bơ và tàu chuyển vận loại nhỏ như Ki ang Nam, To canh, Oa boa và Xơ ghe manh vào sông Vị Hoàng, bắn phá thành Nam Định. Kết quả đập tan 6.200 quân Việt, 600 lính quân Cờ Đen, dù quân Việt chống trả rất quyết liệt. 11giờ ngày 26-3, ta đã chiếm thành Nam Định. Đề đốc Lê Văn Điểm, Án sát Hồ Bá Ân tử trận. Ta đang ở Nam Định thì tình báo báo về quân Việt đang tấn công Hà Nội. Ta phải giao lại quyền chỉ huy cho thiếu tá  Ba den và tức tốc trở về Hà Nội ngày 2  tháng 4.

Thiếu tá Đuy puy đứng dậy nói:

-Các ngài còn chờ gì nữa, mau nâng cốc chúc mừng chiến thắng của Đô đốc Hăng ri Vi e rơ ở Nam Định.

Các sĩ quan đứng dậy, hàng loạt câu chúc mừng bằng tiếng Pháp tuôn ra:

-Cạn cốc. Chúc mừng Đô đốc.

-Chúc mừng.

-Cảm ơn các ngài.

Bọn thực dân cướp biển lại cạn chén, tiếng chạm nhau của cốc thủy tinh vang lên rùng rợn. Bọn người vừa đặt cốc xuống, chợt có sĩ quan tùy tùng vào báo:

-Dạ bẩm Đô đốc, quan Cờ Đen và quân Đại Nam có cáo thị khiêu chiến. Xin trình Đô đốc.

Hăng ri Vi e rơ cầm tờ giấy to có viết chữ Hán và chữ Pháp. Hăng ri Vi e rơ đọc: “Thằng giặc mắt xanh mũi lõ, sao mày nhát gan cứ trốn ru rú trong thành, mày có gan thì hãy ra đây giáp chiến với chúng ta một trận”.

ch14-1654868842.png
Hăng ri Vi e rơ trong trận Cầu Giấy (Hà Nội) năm 1883. Nguồn: hinhanhlichsu.org

 

Hăng ri Vi e rơ tức giận đạp bàn:

-Bọn vong quốc Cờ Đen quả là láo xược. Ta sẽ dạy cho chúng mày một bài học bằng đại bác.

Đại úy Ben  Đơ la Xô ki rê hỏi:

-Thưa Đô đốc, quân Cờ Đen là quân nào mà ngài lại gọi chúng là vong quốc.

-Các ngài đã biết rằng năm 1644 khi nhà Minh bên Trung Quốc sụp đổ thì người Mãn Châu, một tộc người thiểu số ở Đông Bắc Trung Quốc, nhờ Ngô Tam Quế mở cửa Sơn Hải Quan ở Vạn Lý Trường Thành, vào chiếm Trung Nguyên và lập nên nhà Mãn Thanh thống trị Trung Quốc, thống trị người Hán. Người Hán, dưới sự lãnh đạo của Hồng Tú Toàn đã nổi dậy năm 1851, đánh chiếm 18 tỉnh Trung Quốc, lập ra Thái Bình Thiên Quốc, nhưng bị nhà Thanh đàn áp tan rã vào năm 1864. Một trong số tàn dư của Thái Bình Thiên Quốc là quân Cờ Đen do Lưu Vĩnh Phúc, em là Lưu Đoàn chỉ huy chạy sang Đại Nam và được vua Tự Đức thu nhận, phong Lưu Vĩnh Phúc là Đề đốc. Đây là lực lượng chống ta mạnh nhất ở Bắc Kỳ.

Tu một cốc rượu nữa, Hăng ri Vi e rơ ra lệnh:

-Đại úy Dắc gin.

-Có thuộc cấp.

Ngài hãy chỉ huy canh phòng thành Hà Nội cho cẩn mật.

-Thuộc cấp tuân lệnh.

-Ngài Béc to Đơ vin le.

-Có thuộc cấp.

-Ngài hãy cùng ta ra ngoài thành tiêu diệt quân Cờ Đen đáng ghét.

-Thuộc cấp tuân lệnh.

Lúc 16 giờ ngày 19 tháng 5 năm 1883, quân Pháp giao chiến với quân Cờ Đen ở mạn Cầu Giấy. Qua mấy phút giao tranh, quân Pháp chiếm Cầu Giấy và đã lọt vào trận địa mai phục của quân Cờ Đen ở khu vực làng Hạ, bên trái Cầu Giấy. Quân Pháp đang truy kích thì một khẩu đại bác bị rơi xuống ruộng lúa bên đường. Hăng ri Vi e rơ quát:

-Kéo lên, không để lọt đại bác vào tay quân Cờ Đen.

-Dạ, tuân lệnh Đô đốc.

Quân pháp đang xúm vào kéo đại bác lên thì quân Cờ Đen từ bốn phía mai phục bắn dữ dội vào lính đang kéo đại bác . Hăng ri Vi e rơ và Dắc gi trúng đạn chết ngay tại chỗ. Quân Pháp hoảng loạn tháo chạy về thành Hà Nội. Quân Cờ Đen xông tới chặt đầu Hăng ri Vi e rơ và đại úy Dắc gin làm chiến lợi phẩm và truy kích quân Pháp. 21 giờ 30 phút, quân Pháp rút hết vào thành Hà Nội.

*      *

*

Sau khi Hăng ri Vi e rơ chết, Thống đốc Nam Kỳ cử tướng A lếch xan đơ rơ Ơ ghe nơ Bu mét thay, chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Bắc Kỳ. Hôm nay trong thành Hà Nội, A lếch xan đơ rơ đang họp bàn chiến sự Bắc Kỳ với các sĩ quan thuộc cấp. Người cao to là Đô đốc Cuốc bê, Tướng Bu ét và Phơ ran xôi Ju ét Hác măng, Tổng ủy viên hội đồng dân sự Bắc Kỳ. A Lếch xan đơ rơ Bu mét nói:

-Cái chết của Đô đốc Hăng ri Vi e rơ ngày 1 tháng 5 năm 1883 đã kích thích sự trỗi dậy của quân dân Đại Nam ở Bắc Kỳ, quân ta lâm vào tình trạng bấp bênh. Tháng 6 năm 1883, ở Bắc Kỳ, ta chỉ có một số trại lính nhỏ ở Hải Phòng, Hà Nội, Nam Định, Hòn Gai và bị cô lập một cách rất đáng sợ. May mà triều đình Huế vẫn ra lệnh án binh bất động, không phát động dân chúng đứng dậy kháng chiến, nếu không, chúng ta sẽ vô cùng nguy ngập. Nay chúng ta đã thoát được thế hiểm nghèo, đã được tăng viện, đã thành lập được Quân đoàn viễn chinh Bắc Kỳ.

A lếch xan đơ rơ nâng cốc săm pa nhơ uống, đặt cốc xuống và nói tiếp:

-Sau khi được Pari tăng viện, ngài tiểu đoàn trưởng Béc to Vin le đã đánh bại quân của phò mã Hoàng Kế Viêm ở Gia Quất (Gia Lâm) từ 27 đến 28 tháng 2 năm 1883. Tháng 6 năm 1883, bản chức đã dập tắt được các cuộc bạo loạn của dân chúng ở  Nam Định và Hà Nội. Ngày 19 tháng 7 năm 1883, ngài tiểu đoàn trưởng Pi e rơ Ba den đã phá tan cuộc bao vây Nam Định của Hoàng Kế Viêm, tấn công quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc. Nay bản chức ra lệnh tập trung lực lượng tấn công vào phòng tuyến phủ Hoài của Hoàng Kế Viêm và Lưu Vĩnh Phúc để làm chủ Bắc Kỳ. Để tiến hành chiến dịch này, ta có trong tay 4.500 quân. Tướng Bô nét nghe lệnh.

-Có thuộc cấp.

-Ngài hãy đem quân từ Hà Nội đánh lên Sơn Tây, phá vỡ phòng tuyến phủ Hoài của Lưu Vĩnh Phúc.

-Thuộc cấp tuân lệnh.

-Đại tá Bi sót nghe lệnh:

-Có thuộc cấp.

-Đại tá hãy chỉ huy đội quân cánh phải tiến dọc theo sông Hồng đánh lên Chèm.

-Thuộc cấp tuân lệnh.

-Trung tá Pôn Cơ rôn na tơ nghe lệnh.

-Có thuộc cấp.

-Trung tá hãy chỉ huy đạo quân trung tâm từ Hà Nội đánh lên Cổ Nhuế.

-Thuộc cấp tuân lệnh.

-Ngài Rê vin lông nghe lệnh.

-Có thuộc cấp.

-Đại úy hãy chỉ huy cánh trái từ Cầu Giấy đi Sơn Tây, tấn công lỵ sở của phủ Hoài Đức ở làng Dịch Vọng Hà Nội là đại bản doanh của Lưu Vĩnh Phúc. Đại úy phải kéo theo đại bác hạng nhỏ vì xa sông, pháo dưới tàu không thể yểm trợ được.

Trận tấn công này Pháp gọi là trận phủ Hoài. Pháp có 2.500 quân lính thủy đánh bộ, 450 quân Cờ Vàng, nhiều khẩu đội pháo, 6 tàu chiến. Phía Đại Nam Hoàng Kế Viêm, Lưu Vĩnh Phúc có 3.000 quân Việt và quân Cờ Đen.

Ngày 15 thang 8 năm 1883, tướng  Bu ét  chỉ huy 2.000 quân Pháp, 450 quân Cờ Vàng, 14 đại bác chia làm ba đạo, có hạm đội Bắc Kỳ yểm trợ theo đường sông Hồng tấn công phòng tuyến phủ Hoài. Cùng khi đó, đạo quân do đại tá Bi sót chỉ huy cùng 6 hạm tàu Phi vi ê, Lê ô pát, Fan phơ la rơ, Ê cơ lai, Mu gi e phông và Tơ rom bơ theo dọc sông Hồng đánh lên Chèm. Đạo quân trung tâm do Pôn Cô rôn na tơ chỉ huy qua làng Yên Thái đánh tới Cổ Nhuế (làng Nội). Đạo cánh trái do Rơ vin lôn chỉ huy theo đường Cầu Giấy-Sơn Tây đánh phủ Hoài Đức của Lưu Vĩnh Phúc ở Dịch Vọng. Cuộc chiến diễn ra quyết liệt, đại bác nổ rầm trời trên bờ. Các tàu chiến của Pháp dưới sông Hồng phụt lửa nhả đạn như sấm sét. Cánh trái của Rê vin lôn bị cánh phải quân Cờ Đen đánh cho tơi tả phải tháo chạy. Quân Cờ Đen truy kích nhưng bị pháo của tiểu đoàn Se van li ê từ làng Vọng bắn chặn. Quân Cờ Đen tổn thất nặng nề khi truy kích. Cánh phải của Bi sót chiếm được làng Chèm nhưng bị quân Cờ Đen chặn lại. Quân Pháp và quân Cờ Đen giao chiến dưới trời mưa gió tầm tả. Ngày 5 tháng 7, đê sông Hồng vỡ. Phủ Hoài Đức và Hà Nội ngập trong nước. Trận lụt đã gây thiệt hại cho quân Cờ Đen, phải bỏ chiến lũy sông Đáy, bỏ lại vũ khí, thiết bị chiến tranh và thương binh. Kết quả trận chiến, quân Pháp chết 17, bị thương 62 tên. Quân Cờ Đen và quân Việt 300 người hy sinh, 800 người bị thương. Trận phủ Hoài, Pháp đã phá tan kế hoạch bao vây Hà Nội của Hoàng kế Viêm và Lưu Vĩnh Phúc.

XI

Tháng 7 năm 1883, trấn trị Hải Phòng nắng như đổ lửa chói chang, bầu trời như xanh cao hơn, gió thổi lồng lộng. Hoa phượng nở đỏ cành như thắp lửa trên khắp trấn thành. Sông Cấm vẫn một màu xanh xám tuôn nước ra cửa Nam Triệu. Trấn trị soi mình xuống dòng sông như soi gương. Bên bờ phía Bắc, làng mạc xanh tươi cây cối uốn lượn như tranh. Những chiếc thuyền đánh cá, thuyền vận tải mải mê ngược xuôi đi về trên sông nước.

Hôm nay 30 tháng 7, trại lính của quân Pháp được canh phòng cẩn mật hơn ngày thường vì có sự kiện đặc biệt. Hội đồng chiến tranh của Pháp ở Bắc Kỳ có Hội nghị quân sự đặc biệt do Hác măng, Tổng ủy viên hội đồng dân sự Bắc Kỳ triệu tập. Trong một căn phòng không lớn lắm, Hác măng đang ngồi cùng với Cuốc bê, tướng Bu ét và Phơ ran côi Du le hác. Trên bàn bốn chiếc cốc lớn đã đầy rượu săm pa nhơ màu hồng lấp lánh trong vỏ thủy tinh. Sau khi cả bốn cạn cốc, Hác măng nói:

-Đây là hội nghị quan trọng trong công cuộc chinh phục Đại Nam. Theo các ngài chúng ta phải làm gì để sớm kết thúc chiến tranh thắng lợi vì cuộc chiến tranh này đã kéo dài từ 1858 đến nay đã 25 năm rồi, hao người tốn của. Từ năm 1881 đến 1883, nước ta đã tốn 334 triệu France. Cũng may là triều đình Huế thi hành chủ trương hòa nghị, không quyết chiến, lại còn nhiều lần cứu chúng ta khỏi sa lầy, nguy ngập, cho chúng ta rất nhiều quyền lợi trong các hiệp ước bất bình đẳng. Cuộc chiến kéo dài do tình hình nước ta không ổn định và nhiều biến cố, không chi viện cho ta được nhiều lực lượng. Cuộc chiến kéo dài và tổn thất chủ yếu là do sự phản kháng quyết liệt của dân chúng, một số quan lại, tướng lĩnh của Đại Nam. Nay cam go nhất vẫn là cuộc chiến ở Bắc Kỳ. Các ngài có cao kiến gì không?

Đô đốc Cuốc bê nói:

Ta cho rằng trước mắt phải tiêu diệt bằng được quân Cờ Đen Lưu Vĩnh Phúc và quân Việt của tướng Hoàng Kế Viêm. Đây là hai lực lượng chủ chốt nhất chống chúng ta ở miền Bắc.

Tướng Bu e tiếp lời Cuốc bê:

-Ta tán thành chủ trương của ngài Cuốc bê. Ta thêm vào một điểm trong kế hoạch này là dùng vũ lực buộc triều đình Huế công nhận quyền bảo hộ của ta ở Bắc Kỳ. Khi đã có hiệp ước như vậy sẽ là cơ sở pháp lý để chúng ta chiếm Bắc Kỳ. Quân Hoàng Kế Viêm và Lưu vĩnh Phúc cũng sẽ bị dẹp đi vì nếu chống lại chúng ta thì họ đã chống lại hiệp ước, chống lại triều đình của họ. Họ không còn danh chính ngôn thuận pháp lý để chống lại chúng ta được nữa. Điều này chúng ta đã có kinh nghiệm ở Nam Kỳ lục tỉnh. Khi ký được hiệp ước 1862 với Huế thì đã đặt Trương Công Định, Nguyễn Trung Trực và tất cả những quân ứng nghĩa của dân chúng Nam Kỳ vào thế chống Pháp là chống lại triều đình của họ, và triều đình Huế vô hình chung lại giúp ta dập tắt phong trào của dân chúng Nam Kỳ.

Hác măng reo lên sung sướng:

-Thật là một chủ trương hay, một mũi tên trúng hai đích như người Việt và người Tàu thường nói. Ngài Cuốc bê nghe lệnh:

-Có thuộc cấp.

-Ngài hãy dẫn bốn tàu chiến thuộc lực lượng hải quân duyên hải Bắc Kỳ, tấn công vào cửa Thuận An, buộc triều đình Huế ký hàng ước, chấp nhận sự bảo hộ của Pháp trên toàn cõi Đại Nam.

-Thuộc cấp tuân lệnh.

Hác măng đứng dậy nâng cốc:

-Chúc ngài Cuốc bê hoàn thành sứ mệnh, có trong tay được một bản hàng ước của triều đình Huế.

-Đa tạ, chúc chúng ta chiến thắng ở Huế và ở Bắc Kỳ.

Bốn tên cướp biển và thực dân cạn cốc trong những tham vọng điên cuồng. Đang khi đó một sĩ quan tình báo vào báo:

-Dạ bẩm, có tin khẩn cấp ạ.

-Tin gì nói mau.

-Dạ bẩm, vua Tự Đức nước Đại Nam lên ngôi năm 1847, trị vì được 35 năm, đã chết hôm 19 tháng 7 năm 1883.

Hác măng sửng sốt:

-Hả, chết rồi sao? Ai kế vị?

-Dạ, Tự Đức di chiếu lại cho con là Cung Tông lên ngôi ngày 20 tháng 7, đế hiệu là Dục Đức nhưng chỉ được 3 ngày thì nhà vua bị Phụ chính Tôn Thất Thuyết và Phó Phụ chính là Nguyễn Văn Tường phế truất, giam lại không cho ăn và chết đói.

Hác măng lại hỏi:

-Nay ai kế vị:

-Dạ, nay là Hiệp Hòa, con của vua Thiệu Trị, lên ngôi ngày 30 tháng 7. Hiệp Hòa sinh năm 1847, nay nhà vua đã 36 tuổi rồi ạ.

Hác măng nói:

-Tự Đức là vị vua chủ hòa đã tạo nhiều thuận lợi cho công cuộc chinh phục Đại Nam của ta. Nay ông ta mất đi, phải chủ chiến do Tôn Thất Thuyết cầm đầu sẽ mạnh lên, phái chủ hòa sẽ yếu đi. Có lẽ vua Dục Đức có chủ trương thân Pháp nên bị phái chủ chiến truất ngôi và giết. Ta phải đánh Huế nhanh để có được hiệp ước bảo hộ, nếu không phái chủ chiến mạnh lên, ta sẽ rất khó khăn.

Cả bọn đồng thanh:

-Ngài nói phải lắm, phải cấp tốc đánh Thuận An, buộc Huế ký hiệp ước thừa nhận quyền bảo hộ của ta trên Đại Nam ngay.

Tháng Tám là tháng mà biển Đông từ xưa đến nay không yên tỉnh. Không bão táp thì mùa này sóng vẫn cuồn cuộn như ngựa lồng hết đợt này đến đợt khác. Biển cả dâng lên mênh mông một màu nước xám. Gió mùa thổi mạnh, mây bay vùn vụt trên trời u ám. Vịnh Hạ Long trong những ngày này cũng không yên tĩnh. Các pháo hạm của quân viễn chinh Pháp đang tấp nập chuẩn bị cho cuộc hành trình tấn công cửa biển Thuận An. Đô đốc Cuốc bê đứng trên đài chỉ huy, cờ tam tài tung bay theo gió phần phật. Trên các boong của những con tàu, những khẩu đại bác hung dữ đặt giữa tàu, mũi trước và sau chĩa nòng lên trời đen sì sẵn sàng nhả đạn. Trên vọng lâu cao nhất của đài chỉ huy, Cuốc bê ra lệnh:

-Xuất phát.

Tiếng từ các con tàu đáp lại:

-Rõ, xuất phát.

Các tàu nhả khói, chân vịt xoáy sóng cuộn lên, đoàn tàu đi hàng dọc tiến thẳng về phía Nam. Đi đầu là chiến hạm Hăm ta lăng tơ, tiếp đó là các chiến hạm Sa tô Rơ nu, An Nam mít, Bơ rắc, còn có hai hộ tống hạm là Lai nơ và La vi po rê. Đi sau có ba tàu chiến đổ bộ là Bay a ta lan tơ và Re a dơ chở hai đại đội thủy binh Pháp, một đại đội lính Việt do các đại úy Mông ni ô, Sô rơ và Ban đi qua chỉ huy. Hai đội trọng pháo cùng 100 phu Việt do đại úy hải pháo Lu xơ chỉ huy. Tổng cộng lực lượng đánh Thuận An của Pháp gồm 1.000 lính, nhiều tàu chiến và trọng pháo.

Ngày 18 tháng 8 năm 1883 tàu chiến Pháp bỏ neo ở ngoài biển Thuận An. 8 giờ sáng Cuốc bê ra lệnh:

-Đổ bộ lên bờ, đánh đồn Trấn Hải.

-Tuân lệnh.

Quân Pháp đổ bộ lên bờ, dưới tàu đại bác bắn dữ dội vào thành lũy. Quân Việt trên thành cũng bắn thần công ra như sấm sét, nhưng đại bác quân Việt hoặc là không trúng đích, hoặc là không sát thương được nhiều. Ngược lại quân Việt bị đạn đại bác Pháp sát hại vô kể. Các chiến lũy và đồn bị san bằng. Hai đồn ở đảo Cây Dừa quân Việt đánh trả quyết liệt. Mãi tới ngày 21 tháng 8, hai đồn cũng bị đại bác phá tan. Quân Pháp hoàn thành việc đánh chiếm cửa biển Thuận An. Các quan chỉ huy các đồn như Lê Sĩ, Lê Chuẩn hy sinh, Lê Hoành, Trần Thức Nhẫn nhảy xuống sông tuẫn tiết. Trong trận này quân Đại Nam 1.000 người hy sinh và bị thương, phía Pháp 12 lính bị thương.

Quan thương thuyết của triều đình Huế là Lại bộ Thượng thư Nguyễn Trọng Hợp và Trần Đình Túc cho người xuống tàu Pháp gặp Cuốc bê. Cuốc bê đang ngồi trong phòng tàu chỉ huy thì có lính vào báo:

-Dạ, bẩm Đô đốc, có người của triều đình Huế đến muốn gặp.

-Cho vào.

Sứ giả của triều đình vào nói:

-Quan đại diện cho triều đình ở Thuận An Nguyễn Trọng Hợp đề nghị ngừng bắn để hai bên thương thuyết.

Cuốc bê nói:

-Ngài về nói với ông ta rằng muốn có một cuộc ngừng bắn, quan quân triều đình phải rút khỏi tất cả các đồn và thành trì phòng thủ cửa biển Thuận An, thứ hai, phải rút tất cả các đồn từ cửa biển dọc con đường dẫn đến kinh thành Huế.                

 Nguyễn Trọng Hợp và Trần Đình Túc không còn cách gì khác, cho sứ giả đến nói với Cuốc bê chấp nhận tất cả các điều kiện. Sứ giả đi rồi, Nguyễn Trọng hợp ngửa mặt lên trời kêu rằng:
-Cửa kinh thành đã rộng mở cho loài lang sói xông vào. Than ôi nước đã mất rồi!!!

Trong khi đó Hội đồng phụ chánh cùng vua Hiệp Hòa đang họp ở điện Cần Chánh. Chợt có quan thái giám vào báo:

-Da bẩm hoàng thượng, có Trần Đình Túc từ Thuận An về xin gặp.

Hiệp Hòa nói:

-Cho vào.

Trần Đình Túc vào quỳ lạy và nói:

-Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.

Hiệp Hòa nói:

-Miễn lễ, đứng dậy đi. Tình hình Thuận An thế nào?

-Dạ bẩm quân ta chiến đấu dũng cảm nhưng đại bác của giặc quá mạnh, tất cả các đồn Trấn Hải, đồn ở đảo Cây Dừa chỉ một ngày là tan nát, thất thủ. Giặc buộc chúng ta phải phá hủy hết các đồn ở Thuận An, các đồn từ Thuận An theo con đường đến kinh thành Huế. Cửa ngõ bảo vệ kinh thành đã bị mở toang rồi ạ.

Tất cả Hội đồng Phụ chính bàng hoàng ngồi im lặng. Hiệp Hòa hỏi tiếp:

-Còn gì nữa? Khanh về đây ngoài bẩm báo việc bại trận, còn việc nữa?

-Dạ, bẩm còn một việc là Hác măng đưa đến cho ta một bản hòa ước nói rằng ta phải chấp nhận thì mới có hòa bình, nếu không chúng sẽ tấn công kinh thành Huế.

Trần Đình Túc dâng văn bản lên, Hiệp Hòa cầm và đưa cho Tôn Thất Thuyết:

-Quan Phụ chính xem những điều kiện mà chúng đưa ra ta có chấp nhận được không?

Tôn Thất Thuyết xem xong tức giận đập bàn quát:
-Quá láo xược, chấp nhận hòa ước này coi như đầu hàng quân xâm lược, coi như trao độc lập của Đại Nam cho Pháp, coi như mất nước.

Vua Hiệp Hòa buồn rầu nói:

-Nhưng không ký thì giặc sẽ đánh kinh thành Huế. Chúng ta hoàn toàn không chống đỡ lại được.

Quan Phó Phụ chính Nguyễn Văn Tường nói:

-Hoàng thượng nói đúng, lực lượng của chúng ta tan nát hết, chưa tập trung lại được. Cứ ký hòa ước để ta có thời gian tổ chức, tập trung lại lực lượng rồi sẽ tính sau.

Vua Hiệp Hòa nhìn Tôn Thất Thuyết, người phụ chính đầy quyền lực, cũng là người đứng đầu phe chủ chiến từ sau khi vua Tự Đức, Dục Đức qua đời. Nhưng Tôn Thất Thuyết im lặng. Hiệp Hòa hiểu rằng bản thân phe chủ chiến của Tôn Thất Thuyết cũng chưa đủ lực lượng vào lúc này để xoay chuyển tình thế, để bảo vệ kinh thành. Hiêp Hòa nói với Trần Đình Túc:

-Khanh đem văn bản về Thuận An cùng Nguyễn Trọng Hợp và Hác măng ký vào để trở thành hiệp ước. Coi như từ nay Pháp-Việt sẽ có một nền hòa bình lâu dài.

Và ngày 25 tháng 8 năm 1883, trên tàu Đô đốc ngoài cửa Thuận An, đại diện triều đình Huế Nguyễn Trọng Hợp, Trần Đình Túc và đại diện của Pháp Hác măng đã ký vào văn bản do Hác măng viết. Văn bản trở thành hiệp ước Hác măng, trong đó triều đình Huế thừa nhận nền bảo hộ của Pháp trên toàn cõi Đại Nam. Pháp đặt tòa Khâm sứ Trung Kỳ tại Huế. Mọi công việc của Triều đình Huế, của Đại Nam do Khâm sứ Pháp quyết định. Quân đội triều đình ở Bắc Kỳ phải rút về Trung Kỳ. Đại Nam mất nước, trở thành một mắt xích trong hệ thống thuộc địa của Pháp ở Đông Dương và trên thế giới.