I

NGUYỄN HUỆ ĐÁNH GIẶC XIÊM LA. (1785)

Mãi tới chiều tối một ngày cuối năm năm 1784 thủy binh và bộ binh Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy mới vào đến Mỹ Tho, một vùng đất miền Đông Gia Định, cách thành Gia Định về phía nam khoảng 300 dặm. Nguyễn Huệ cho bộ binh đóng doanh trại ở ngoài thành Mỹ Tho, còn thủy binh dàn thành thế trận chiến đấu trên sông. Ngay gần doanh trại bộ binh trên bờ, Tổng hành dinh của Nguyễn Huệ là một chiếc lều vàng cao rộng nổi bật lên ngay giữa muôn trại san sát  của ba quân. Toàn cảnh miền Đông Gia Định chìm trong màn đêm, cây cối trên những miệt vườn phủ màu đen đung đưa theo gió. Gió từ các dòng sông nhỏ và sông Tiền Giang thổi về lồng lộng. Lá cờ chữ ”SOÁI” trên nóc Tổng hành dinh tung bay phần phật trong đêm.

chuquang-trung-1641830307.jpg
Tranh minh họa: Vua Quang Trung chỉ huy trận Rạch Gầm - Xoài Mút. Ảnh: Tạp chí Quốc phòng Toàn dân.

 

Trong Tổng hành dinh, Nguyễn Huệ không ngủ dù đêm đã sang canh ba. Đây không phải là lần đầu tiên ông thức khuya. Từ khi khởi nghĩa ở ấp Tây Sơn Bình Khê, Bình Định đến nay Nguyễn Huệ đã nhiều lần thức khuya trước mỗi chiến dịch tiêu diệt kẻ thù.

Lần này Trung ương Thái Đức Hoàng đế Nguyễn Nhạc giao cho Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ công việc to lớn nặng nề. Tiêu diệt toàn bộ quân xâm lược Xiêm do Nguyễn Phúc Ánh cầu viện về,  giải phóng đất đai miền Tây Gia Định đang bị quân Xiêm chiếm đóng giầy xéo..

Sự thể là sau lần đại bại năm 1784 ở trận thủy chiến Cần Giờ, Nguyễn Phúc Ánh đã sang cầu cứu vua Xiêm. Vốn ôm mộng xâm lược miền Gia Định của Đại Việt, vua Xiêm La đã cử hai tướng Chiêu Tăng và Chiêu Sương đem 4 vạn thủy quân. 300 chiến thuyền cùng với 4000 quân Nguyễn Phúc Ánh tấn công Đại Việt. Ngày 25-7-1784 thủy quân Xiêm vượt biển, đổ bộ lên Rạch Giá Kiên Giang chiếm miền Hậu Giang. Tháng 10-1784 giặc đánh chiếm Cần Thơ, Sa Đéc. Đi đến đâu quân giặc thả sức cướp bóc tàn sát nhân dân, bắt  hãm hiếp phụ nữ, đốt phá làng mạc thôn ấp. Khắp miền Tây Gia Định ngập tràn trong khói lửa tang tóc hận thù. Nhân dân miền Hậu Giang ngày đêm đỏ mắt ngóng đợi quân Tây Sơn vào tiêu diệt quân thù cứu vớt nhân dân, giải phóng miền đất cực Nam đang bị giày xéo bởi quân xâm lược và bè lũ bán nước. Nghĩ tới đó bỗng nhiên Nguyễn Huệ bừng bừng căm giận quân thù, cảm giác mà ông chưa từng có trong 14 năm làm Đại tướng, cầm quân đại phá quân Nguyễn từ năm 18 tuổi. Chưa bao giờ ông thấy quyết tâm tiêu diệt quân ngoại xâm dâng trào trong ông mạnh mẽ như vậy. Nhưng làm thế nào để tiêu diệt 4 vạn thủy binh Xiêm cùng 300 chiến thuyền? Tiêu diệt chúng ở đâu, ở sông Sa Đéc, sông Hậu hay trên sông Mỹ Tho?. Đặc biệt là sông Sa Đéc nơi hiện giờ toàn bộ thủy binh Xiêm La đang tập trung tại đó.

Bắc Bình Vương ngồi xuống chiếc ghế, ngang tầm ngực ông là chiếc bàn hình vuông màu gỗ nâu, trên bàn đặt bộ ấm chén uống nước bằng sứ màu xanh, cạnh bộ ấm chén là tấm sơ đồ toàn bộ  sông nước miền Đông và miền Tây Gia Định do những trợ lý tác chiến của ông nghiên cứu thực địa và vẽ nên. Ông chú ý tới dòng sông Mỹ Tho. Trong đầu ông xuất hiện hai phương án tác chiến. Phương án một có thể kéo thủy binh Tây Sơn vào Sa Đéc và trực tiếp giao chiến với thủy binh Xiêm. Phương án này không chắc thắng và có thắng cũng không thể tiêu diệt toàn bộ quân địch. Phương án hai là dụ thủy binh Xiêm vào trận địa mai phục ở đoạn sông Mỹ Tho từ Rạch Gầm đến Xoài Muốt để tiêu diệt. Phương án này tạo nên cách đánh bất ngờ, sử dụng được các chiến thuật mai phục, tập kích, sử dụng được thủy binh và bộ binh, pháo binh, tạo nên sức mạnh áp đảo, thế trận tiêu diệt toàn bộ quân địch.

Nguyễn Huệ uống một li nước. Sau khi đặt ly xuống bàn, ông đặt bút lông nhúng vào đĩa mực tàu khoanh một vùng rất đậm đoạn sông Rạch Gầm - Xoài Muốt trên sơ đồ. Ông đã quyết định chọn đoạn sông này làm mồ chôn xác quân Xiêm.

  Đó là ngày 20 tháng 1 năm 1785, một sáng của mùa xuân. Khắp miền Gia Định nắng sớm mai  đã chan hòa như mùa hè trên xứ sở mênh mông bát ngát đồng ruộng thẳng cánh cò bay. Những ấp thôn miệt vườn xum xuê cây lá xanh ngút ngàn, những dòng sông tuôn chảy. Tiền Giang, Hậu Giang, Mỹ Tho nước mênh mông gợn sóng. Trời trong xanh. Những đám mây trắng trên trời như những sợi tơ mong manh bị gió xua đi trôi lang thang và biến thành muôn hình thù kỳ quái.

Nhưng đó là một ngày không bình yên với thủy quân Xiêm La. Khi trời rạng sáng và vừa thức giấc,  thủy quân Xiêm đã thấy gần một trăm chiến thuyền loại nhỏ với những lá cờ đỏ dài bay phấp phới lao vào tấn công đội hình thủy quân Xiêm ở sông Sa Đéc. Khi vừa tầm bắn, những thuyền chiến đó đã nã đại bác vào chiến thuyền quân Xiêm. Quân Xiêm hoảng loạn kêu lên những tiếng Thái xa lạ. Nguyễn Phúc Ánh nói với Chiêu Tăng, Chiêu Sương qua phiên dịch:                                                                                          

-Đó là chiến thuyền của quân Tây Sơn. Có lẽ Tây Sơn đã tấn công quân ta, thưa thủy sư đô đốc.

Chiêu Tăng, Chiếu Sương vội vã ra lệnh cho chiến thuyền quân Xiêm nhổ neo dàn đội hình chiến đấu. Thuyền chiến quân Xiêm nã đại bác. Lửa khói và tiếng nổ ầm ầm mù mịt. Cậy số đông, 300 chiến thuyền  to lớn của quân Xiêm như những con quái vật lướt như bay về phía chiến thuyền Tây Sơn. Thế quân Xiêm đông đảo và hùng mạnh áp đảo chiến thuyền Tây Sơn. Đại bác nổ rầm rầm trên sông Sa đéc. Tây Sơn yếu thế lui dần về sông Mỹ Tho. Chiến thuyền quân Xiêm dàn đội hình chiến đấu hình tam giác, những thuyền nhẹ đi tiên phong, những thuyền lớn làm thành hai cạnh tam giác, cạnh đáy tam giác bảo vệ mặt sau. Đi giữa đội chiến thuyền hùng hậu là thuyền lớn sang trọng của Đô đốc Chiêu Tăng, Chiêu Sương có Nguyễn Phúc Ánh đi cùng để cố vấn cho hai tướng Xiêm. Dòng sông Mỹ Tho nổi sóng dào dạt bởi thuyền Tây Sơn tháo chạy, bởi 300 chiến thuyền quân Xiêm mở hết tốc lực  truy kích. Nhìn diễn biến đang diễn ra, Nguyễn Phúc Ánh hết sức lo sợ. Nguyễn Phúc Ánh quá biết thiên tài dùng binh của Nguyễn Huệ. Nguyễn  phúc Ánh nói với Chiêu Tăng:

-Đô Đốc cẩn thận kẻo sa vào trận địa mai phục của quân Tây Sơn. Tôi biết Huệ là kẻ dùng binh mưu lược như thần.

Chiêu Tăng, Chiêu Sương cười ha hả chế diễu Nguyễn Phúc Ánh:

-Ha..Ha.. Ông chúa nhỏ ơi, ông dát như vậy thì thua trận mất cả cơ nghiệp mấy trăm năm là phải. Tây Sơn không đến thì ta cũng đang định tấn công sang miền Đông Gia Định để hoàn thành công cuộc chinh phục. Nay tiện thể tấn công vừa là tiêu diệt Tây Sơn, vừa để hoàn thành kế hoạch đó. Ông chúa nhỏ sợ thì lui về Sa Đéc đi. Ha...Ha...Ha!

Nguyễn Phúc Ánh tức giận đỏ mặt vì bị sỉ nhục. Nhưng thân phận đang đi nhờ vả ngoại bang nên không thể to tiếng với Chiêu Tăng, Chiêu Sương. Ông biết rằng 4000 quân của ông và hàng vạn thủy quân Xiêm đang đi vào tử địa mà không làm gì được. Ánh quá hiểu sông ngòi miền Gia Định và con người Nguyễn Huệ.

Cuộc rượt đuổi kéo dài đến gần trưa, chiến thuyền quân Xiêm lọt vào một khúc sông rộng lớn của dòng sông Mỹ Tho. Chiêu Tăng hỏi Nguyễn Phúc Ánh:                                              

 -Đây là đoạn sông nào vậy?

-Dân địa phương gọi là đoạn Rạch Gầm- Xoài Muốt của sông Mỹ Tho, dài khoảng 12 dặm, cách thành Mỹ Tho của Định Tường không xa lắm. Chiêu Tăng, Chiêu Sương bấy giờ mới chú ý quan sát,  dòng sông rộng nhưng quá hiểm trở, có những dãy cù lao dài bên phải, bên trái sông xen lẫn với rừng đước, trâm bầu um tùm che khuất tầm nhìn. Nguyễn Phúc Ánh chỉ một cù lao nói:

-Thưa Đô đốc đó là cù lao Thới Sơn.

Ánh vừa dứt lời thì đại bác của quân Tây Sơn từ cù lao Thới Sơn nã đạn như mưa xuống chiến thuyền quân Xiêm. Ngay loạt đạn đầu hàng chục chiến thuyền quân Xiêm ở hậu quân và tiền quân bốc cháy. Đại bác Tây Sơn Tiếp tục dội xuống như mưa. Chiến thuyền Xiêm tiếp tục trúng đạn bốc cháy nổ tan xác, hàng trăm nghìn tên lính trúng đạn cùng những mảnh tàu vỡ tung lên trời và rơi xuống sông. Đoàn chiến thuyền Tây Sơn bị rượt đuổi bây giờ quay lại nã đại bác vào thuyền Xiêm. Phía sau quân Xiêm một đoàn chiến thuyền Tây Sơn dũng mãnh xông ra và nổ đại bác vào hậu quân Xiêm. Hàng trăm chiến thuyền bị mắc kẹt bởi thuyền đắm ngăn chặn phía trước và phía sau, khiến cho quân Xiêm không thể tiến lên cũng không thể rút lui tháo chạy. Đang khi quân Xiêm hoảng loạn thì thủy quân Tây Sơn từ các cù lao, rừng đước xông ra tấn công vào hai bên sườn dữ dội. Miền sông Mỹ Tho rung chuyển tiếng đại bác như sấm dội. Những cột lửa, những cột nước bốc cao, khói lửa mù mịt. Xác thuyền và xác lính Xiêm tiếp tục bị thiêu đốt tung lên không trung rồi rơi xuống nước làm dòng sông tắc nghẽn. Chiêu Tăng và Chiêu Sương cùng kêu lên bằng tiếng Thái hoảng loạn. Nguyễn Phúc Ánh kêu to:

-Chúng ta bị mai phục rồi.

Trong lúc hỗn loạn cả ba nhảy xuống sông bơi vào bờ. Bộ binh của Nguyễn Phúc Ánh tới kịp cứu đưa ba người chạy thoát khỏi chiến trường khủng khiếp rồi chạy về miền Hậu Giang. Chiêu Tăng, Chiêu Sương theo đường biên giới Chân Lạp chạy về nước. Nguyễn Phúc Ánh đem tàn quân chạy về Kiên Giang, trốn ra đảo Thổ Chu và sau đó sang Xiêm làm ruộng chờ thời.

Mãi tới gần tối không gian sông Rạch Gầm -Xoài Muốt mới im tiếng súng và tiếng reo hò xung trận của quân Tây Sơn. 4 vạn thủy binh Xiêm, 300 chiến thuyền hạng nặng chỉ một ngày bị quân Tây Sơn chôn vùi trên đoạn sông Mỹ Tho nổi tiếng. Chúng phải trả giá cho những tội ác mà chúng đã gây ra cho mảnh đất miền Tây Gia Định. Sử vương triều Nguyễn sau này nhận định: ”Sau trận này quân Xiêm La sợ Tây Sơn như sợ cọp”.

II

QUANG TRUNG ĐẠI PHÁ QUÂN THANH (1789)

Mùa hạ năm 1788, Tử Cấm Thành ở Bắc Kinh chìm trong ánh nắng, nắng rơi trắng xóa phủ khắp đô thành, nắng rải trên những mái nhà của cung điện nguy nga tráng lệ: Đại Tiền Môn, Điện Thái Hòa, Điện Trung Hòa, Điện Bảo Hòa, Cố Cung, Thiên An Môn. Nắng cũng rải xuống Ngự Hoa Viên. Những cây cổ thụ hàng trăm năm đội những tán lá vương đầy ánh nắng. Hàng vạn nghìn cây hoa lá thấp hơn cũng mặc một màu xanh đầy nắng lung linh. Những chiếc cầu đá trắng uyển chuyển trên những dòng suối lấp lánh. Những con sư tử đá oai phong đứng canh trước thềm các cung điện càng thêm phần uy nghi quyền thế. Trong cung Bảo Hòa cực kỳ sang trọng, vàng son chói mắt với những con rồng múa may đủ kiểu trên tường, trên cửa. Bàn ghế gỗ quý khảm ngọc trai lấp lánh. Những dải lụa vàng buông phất phơ hòa với màu son của căn phòng càng tăng vẻ quý phái, vương giả. Cạnh chiếc bàn gỗ quý, hoàng đế Càn Long đang ngồi uống trà và đọc sách. Chiếc ghế có bọc da hổ mềm mại. Càn Long mặc áo màu vàng, đội mũ vải vàng, đi đôi hài màu vàng. Hai quan nội thị đứng hầu bên cạnh. Ngoài cửa, hai võ sĩ mặc quân phục đứng canh phòng. Khắp hoàng thành đâu đâu cũng có lính ngự lâm võ nghệ cao cường, khỏe mạnh cầm vũ khí đứng canh.

chuyquthanh1-1641949578.jpg

Tranh minh hịa: Cuối năm 1788, theo sự cầu viện và dẫn đường của Lê Chiêu Thống, hoàng đế nhà Thanh cử hơn 200.000 quân, kéo sang xâm lược nước ta. Nguồn: Internet.

 

  Càn Long đọc lại những trang sử cũ trong bộ sử lưu hành trong dòng họ Ái Tân Giác La, một trong dòng họ đế vương lớn của người Mãn Thanh. Người Mãn Thanh là tộc người thiểu số ở Đông Bắc Trung Quốc. Tại nơi gọi là Mãn Châu này, Hoàng Thái Cực đã lập nước và trị vì từ 1636 đến năm 1643. Vào năm 1644, vua Thuận Trị nối ngôi. Khi đó nước Trung Hoa bên trong Vạn Lý Trường Thành của người Hán đang bước vào thời kỳ loạn lạc. Triều đại nhà Minh của người Hán do Chu Nguyên Chương sáng lập sau khi đánh đổ nhà Nguyên Mông năm 1338. Nhà Minh đóng đô ở Nam Kinh, sau đó xây dựng Tử Cấm Thành và chuyển đô về Bắc Kinh. Năm 1643, nhà Minh bị cuộc khởi nghĩa nông dân Lý Tự Thành lật đổ, Trung Quốc rối ren. Lý Tự Thành vào Bắc Kinh đã giết chết cả nhà Ngô Tam Quế, một tướng giữ cửa Vạn Lý Trường Thành, còn gọi là Sơn Ải Quan. Ngô Tam Quế đã mở cửa cho quân Mãn Thanh của Thuận Trị vào Trung Hoa, tiêu diệt Lý Tự Thành, làm chủ Trung Nguyên và lập ra nhà Thanh năm 1644. Thuận Trị, vị vua đầu tiên của nhà Thanh thống trị toàn bộ Trung Hoa, đã tiếp quản Tử Cấm Thành nguy nga tráng lệ của nhà Minh. Lần thứ hai người Hoa, dân số vài trăm triệu đã bị người thiểu số vài chục triệu người thống trị. Lần thứ nhất là người Mông Cổ thống trị từ 1279 đến 1338, lần thứ hai là người Mãn Thanh từ 1644 đến nay là 1788. Từ Thuận Trị nhà Thanh đến nay đã trải qua các hoàng đế như Khang Hi (1662-1722), Ung Chính (1722-1735) và Càn Long, lên ngôi năm 1735, tại vị đã được 53 năm.

  Sớm hôm sau, Càn Long như thường lệ thiết triều ở cung Càn Thanh, bỗng có quan nội thị vào báo:

-Dạ, bẩm hoàng thượng, có sứ giả của vua Lê Chiêu Thống nước Đại Việt xin vào cầu kiến.

-Cho vào.

-Dạ.

  Sứ giả Đại Việt bước vào. Cả triều đình nhà Thanh nhìn thì người đó ngoài 50 tuổi, mang quần áo sang trọng kiểu đại thần nhà Hậu Lê. Người đó quỳ và nói:

-Dạ, hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.

-Bình thân.

-Dạ, tạ ơn hoàng thượng.

  Càn Long hỏi:

-Ngươi là sứ giả của triều Hậu Lê Đại Việt. Ngươi sang đây có việc gì chăng?

-Dạ, bẩm hoàng thượng, thần là Lê Quýnh thuộc đại thần của nhà Hậu Lê, dưới triều Lê Chiêu Thống, phụng lệnh hoàng thượng của nước thần sang Đại Thanh gặp hoàng thượng xin cầu viện.

-Cầu viện đánh ai?

-Dạ, bẩm hoàng thượng, đánh Tây Sơn ạ.

  Càn Long nói:

-Ta nghe nói nước ngươi dù còn nhà Hậu Lê nhưng mấy trăm năm nay rối ren loạn lạc. Ngươi kể qua ta nghe xem nào?

-Dạ, bẩm hoàng thượng, đúng là nước thần khoảng 200 năm nay loạn lạc. Sau khi đánh bại được nhà Minh năm 1427, năm 1428, Lê Thái Tổ xây dựng nên triều đại Hậu Lê, đất nước thanh bình được 100 năm. Năm 1527 quyền thần Mạc Đăng Dung cướp ngôi, giết vua Lê Cung Hoàng, lập ra nhà Mạc, gọi là Bắc triều. Năm 1533, đại thần nhà Lê là Nguyễn Kim, quê ở Hà Trung, Thanh Hóa chạy về miền Tây trấn này đưa Lê Trang Tông lên ngôi, lập ra nhà Lê Trung Hưng, tức là Nam triều. Nguyễn Kim phò nhà Lê Trung Hưng tiến hành nội chiến với nhà Mạc, nhưng Nguyễn Kim bị gián điệp nhà Mạc đầu độc chết. Con rể là Trịnh Kiểm tiếp tục phò Lê chống Mạc. Nhưng hai con trai của Nguyễn Kim là Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng lớn lên đòi lại quyền hành. Trịnh Kiểm đã giết chết Nguyễn Uông, Nguyễn Hoàng cả sợ phải xin vào trấn thủ Thuận Hóa năm 1545. Trịnh Kiểm chết, con là Trịnh Tùng lên thay. Năm 1592, Trịnh Tùng tiêu diệt Mạc Mậu Hợp, đánh đổ nhà Mạc, nhưng không trao chính quyền cho vua Lê mà lập ra phủ chúa nắm toàn bộ quyền hành trong nước. Vậy là Bắc Hà trong tình trạng vua Lê chúa Trịnh. Ở miền Trung, Nguyễn Hoàng và các chúa Nguyễn ra sức phát triển thế lực vào Nam. Quốc gia Chiêm Thành suy vong, đến lượt quốc gia Thủy Chân Lạp sụp đổ, đất đai hoang hóa. Các chúa Nguyễn đã đưa dân vô gia cư vào khai hoang mở đất. Đầu thế kỷ XVIII, lãnh thổ Đàng Trong đã kéo dài đến Cà Mau. Từ thế kỷ XVI, các chúa Nguyễn đã không phục tùng vua Lê, chúa Trịnh, đã lấy sông Gianh làm giới tuyến. Phía Nam sông Gianh về phía Nam gọi là Đàng Trong, còn gọi là Nam Hà, phía Bắc sông Gianh trở ra gọi là Đàng Ngoài, còn gọi là Bắc Hà. Hai bên nội chiến với nhau hàng trăm năm, các vùng Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình liên tục là những bãi chiến trường khốc liệt. Bách tính vô cùng cực khổ, chết chóc vì nạn binh đao giữa hai tập đoàn Trịnh-Nguyễn.

  Càn Long hỏi:

-Thế còn thế lực Tây Sơn ở đâu mà ra?

-Dạ, bẩm hoàng thượng, do đời sống nông dân quá khổ cực cho nên họ liên tục nổi dậy chống lại chúa Trịnh và chúa Nguyễn. Năm 1771 cuộc khởi nghĩa lớn của nông dân do ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ lãnh đạo nổ ra ở ấp Tây Sơn, Bình Định. Trong đó Nguyễn Huệ nổi lên là một nhà quân sự thiên tài, liên tục đánh bại quân đội các chúa Nguyễn và năm 1784 ông đã lật đổ nền thống trị 200 năm của các chúa Nguyễn. Con của chúa Nguyễn cuối cùng là Nguyễn Phúc Ánh đã sang cầu cứu triều đình Xiêm La can thiệp. Xiêm La cho 4 vạn quân, 300 chiến thuyền tiến vào miền Nam. Năm 1785 lực lượng này đã bị Nguyễn Huệ tiêu diệt trên sông Rạch Gầm- Xoài Muốt. Năm 1778 nhà Tây Sơn được thành lập, kinh đô Đồ Bàn, Bình Định với việc Nguyễn Nhạc xưng là Thái đức Hoàng Đế, em út được phong là Đông Định Vương Nguyễn Lữ trông coi đất miền Nam, Nguyễn Huệ được phong là Bắc Bình Vương, trông coi từ Quảng Nam đến Nam sông Gianh. Nhưng năm 1786 Nguyễn Huệ tiến quân ra Bắc lật đổ nền thống trị 200 năm của các chúa Trịnh. Khi đó vua Lê Hiển Tông triều Hậu Lê băng hà, Nguyễn Huệ đã đưa hoàng tử Lê Duy Kỳ lên ngôi, đế hiệu là Lê Chiêu Thống. Sau đó, Tây Sơn kéo quân về Phú Xuân. Dòng dõi nhà chúa Trịnh là Trịnh Bồng quay về uy hiếp triều đình Hậu Lê. Nguyễn Huệ sai tướng là Nguyễn Hữu Chỉnh ra diệt Trịnh Bồng. Nguyễn Hữu Chỉnh làm phản nhà Tây Sơn. Nguyễn Huệ sai Vũ Văn Nhậm ra diệt Nguyễn Hữu Chỉnh. Vua Lê Chiêu Thống cùng Nguyễn Hữu Chỉnh định đòi lại đất Nghệ An, mâu thuẫn với nhà Tây Sơn nên cả triều đình cũng bỏ chạy lên Bắc Ninh. Vũ Văn Nhậm lại mưu phản nhà Tây Sơn nên năm 1787 Nguyễn Huệ tự ra Bắc giết chết Vũ Văn Nhậm. Nguyễn Huệ hiện đã rút quân về Phú Xuân, chỉ để lại tướng văn thì có Ngô Thì Nhậm, tướng võ thì có Ngô Văn Sở, Ngô Văn Tuyết, Ngô Văn Dụng, Phan Văn Lân ở Thăng Long coi giữ Bắc Hà.

 Càn Long hỏi:

-Tây Sơn có mời Lê Chiêu Thống về Thăng Long tiếp tục ngồi lên ngai vàng không?

-Dạ, bẩm hoàng thượng, họ có mời nhưng hoàng thượng Lê Chiêu Thống sợ không dám về.

-Vì sao Nguyễn Huệ không ở Thăng Long mà lại về Phú Xuân?

-Dạ bẩm hoàng thượng, trong ba anh em nhà Tây Sơn thì Nguyễn Nhạc tự xưng là Trung ương Hoàng đế, cai trị từ Quảng Ngãi đến Bình Thuận, tự thỏa mãn, suốt ngày chè rượu hưởng lạc, em thứ ba là Nguyễn Lữ hèn nhát, trông coi đất miền Nam nhưng nay đã để cho Nguyễn Phúc Ánh lấy mất, còn Nguyến Lữ thì chạy trốn về Quy Nhơn, Bình Định. Đất miền Nam là từ Đồng Nai đến Cà Mau, đất đai giàu có phì nhiêu, nhiều sản vật, lúa gạo, người đông. Có miền đất đó thì lực lượng Nguyễn Phúc Ánh nay đang hùng cường và đe dọa sự sống còn của nhà Tây Sơn. Vì thế, Nguyễn Huệ về Phú Xuân, thần cho rằng chuẩn bị đánh Nguyễn Ánh. Nay thần khẩn cầu hoàng thượng, nhân cơ hội Nguyễn Huệ còn ở Phú Xuân, đem quân giúp nhà Hậu Lê chúng thần trở lại ngai vàng. Chúng thần sẽ không bao giờ quên ơn ạ.

  Càn Long nói:

-Chà, nước của các ngươi chỉ bằng một tỉnh của Đại Thanh ta mà cũng loạn lạc rối ren quá. Nhưng Nguyễn Huệ quả là tay anh hùng. Trong một thời gian không lâu mà lật đổ ba triều đại đã tồn tại 361 năm như Hậu Lê, 200 năm như Trịnh-Nguyễn, quả là tay bách chiến bách thắng. Ta muốn giúp các ngươi nhưng cũng rất khó khăn.

  Lê Quýnh nài nỉ:

-Dạ, cúi mong hoàng thượng thương tình mà cất binh cứu giúp.

-Được rồi, ta thấy ngươi cũng là bậc tôi trung. Ta sẽ bàn với triều đình xem xét. Quan nội thị đâu.

-Dạ, có thần.

-Đưa thân vương Lê Quýnh ra dịch quán nghỉ ngơi, đối xử cho tử tế.

-Dạ, thần tuân chỉ.

-Đa tạ hoàng thượng.

  Lê Quýnh và quan nội thị đi ra, Càn Long hỏi:

-Sứ giả của An Nam Quốc Vương Lê Chiêu Thống cầu viện ta đưa quân vào Đại Việt đánh Tây Sơn. Các khanh đã nghe hết rồi. Không biết ta có nên xuất quân không. Tấm gương của Lưu Cung nhà Nam Hán, của Tống Thái Tông, Tống Thần Tông, của Nguyên Thế Tổ và của Minh Tuyên Tông làm ta rất ái ngại khi xua quân vào nước đó. Các khanh có cao kiến gì không?

  Đại thần Hòa Thân bước ra tâu:

-Bẩm hoàng thượng, nước có lúc thịnh lúc suy, triều đại cũng vậy. Muốn lấy được của người thì nhằm lúc họ suy mà lấy. Chỉ có điều là có dám chớp thời cơ hay không. Như tình thế Trung Hoa năm 1644, khi nhà Minh sụp đổ, Lý Tự Thành tác oai tác quái, đức Thái Tông Thuận Trị của ta mà không nắm bắt cơ hội, kiên quyết tiến vào Trung Nguyên thì làm sao ta có cơ đồ Đại Thanh ngày nay. Như An Nam mấy trăm năm nội chiến, dân tình cơ cực chết chóc, nội tình tàn sát lẫn nhau. Đó là lúc suy, nhà Hậu Lê đã bên bờ vực diệt vong. Đây là lúc trời cho ta chiếm Đại Việt và tiến xuống làm chủ Đông Nam Á. Mong hoàng thượng đừng bỏ lỡ thơi cơ.

Tể tướng họ Lưu tấu:

-Hòa đại nhân nói sai rồi. Khai quốc đệ nhất công thần nhà Hậu Lê là Nguyễn Trãi đã viết trong “Bình Ngô Đại Cáo”sau khi đánh bại nhà Đại Minh năm 1427 rằng: “Dẫu mạnh yếu có lúc khác nhau, Mà hào kiệt không bao giờ thiếu” đó sao. Nay nhà Hậu Lê suy vong, An Nam rối loạn nhưng đã nổi lên những anh hùng bách chiến, bách thắng như Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ đó sao? Thần xin hoàng thượng không nên cất quân, can qua khổ cực cho bách tính hai nước. Có tạm thời lấy được chưa chắc lâu dài đã giữ được. Vả lại, với một tay dụng binh như thần của Nguyễn Huệ thì quân ta không thể chiến thắng được.

chlcthong1-1642001457.jpg
Tranh minh họa: quân Thanh tràn vào Thăng Long.

 

Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị tâu:

-Dạ, bẩm hoàng thượng, nước Đại Việt quả loạn lạc, rối ren, do sự đe dọa của Tây Sơn mà Lê Chiêu Thống đã hai lần rời Thăng Long lên Kinh Bắc. Tháng 7 năm 1788, bọn cận thần Lê Quýnh đã đưa hoàng thái hậu và hoàng tử đến hành doanh của thần ở Long Châu kêu khóc thản thiết xin được Đại Thanh ta giúp đỡ, lấy lại ngai vàng. Thần cho rằng trong cái khó khăn có cái thuận lợi. Lê Chiêu Thống là cháu chắt của nhà Hậu Lê. Dưới con mắt của bách tính Bắc Hà, cái ơn của Lê Thái Tổ đánh nhà Minh, giải phóng cho họ làm cho họ nhớ ơn muôn đời. Cho nên, các thế lực dù mạnh đến đâu cũng không dám lật đổ nhà Hậu Lê để lấy lòng dân như các chúa Trịnh. Ngay đến Nguyễn Huệ cũng có dám phế nhà Hậu Lê đâu. Chẳng qua Lê Chiêu Thống trót cùng Nguyễn Hữu Chỉnh có mâu thuẫn với Tây Sơn nên sợ mà bỏ chạy, tự làm mất ngai vàng. Nay ta lấy danh nghĩa “Phù Lê” thì bách tính Bắc Hà sẽ ủng hộ và ta sẽ thành công trong việc nhập Đại Việt vào với Đại Thanh ta.

Càn Long nói:

-Ta vẫn có nguyện vọng chiếm Đại Việt và Đông Nam Á và đây là thời cơ. Tôn Tổng đốc nói phải lắm. Khanh có dám chỉ huy 30 vạn quân tiến vào Thăng Long và vào Phú Xuân bắt Nguyễn Huệ không?

-Dạ, thần bất tài nhưng nếu hoàng thượng tin cậy thần xin tuân chỉ.

Càn Long nói:

-Tất cả nghe chỉ dụ:

Bá quan văn võ vội bước ra quỳ xuống. Vua Càn Long nói:

-Nay phong Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị làm Chinh Nam đại tướng quân chỉ huy 30 vạn quân huy động từ Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Quý Châu tiến đánh An Nam với danh nghĩa “Phù Lê”. Phong đề đốc Hứa Thế Hanh làm phó  nguyên soái cho chủ soái Tôn Sĩ Nghị. Thành lập hành doanh và dưới trướng Tôn Sĩ Nghị có các tướng: Tổng binh Thượng Duy Thăng, tổng binh Khánh Thành, tổng binh Trương Triều Long, tổng binh Lý Hóa Long.

-Trong 30 vạn quân, Nam chinh đại tướng quân Tôn Sĩ Nghị chỉ huy 20 vạn quân theo Ải Nam Quan  vào Lạng Sơn mà tiến xuống Thăng Long.

-Nay chỉ dụ cho đề đốc Vân-Quý là Ô Đại kinh chỉ huy quân Vân Nam-Quý Châu từ Vân Nam tràn vào ải Bạch Mã, theo đường Tuyên Quang tiến xuống.

-Nay chỉ dụ cho tri phủ Điền Châu Sầm Nghi Đống chỉ huy quân Điền Châu tràn vào Cao Bằng tiến xuống Thăng Long.

-Nay chỉ dụ cho Phúc An Khang chuyên trách việc quân lương, hậu cần cho đạo quân viễn chinh.

-Ta ở Tử Cấm Thành sẽ theo dõi sát cuộc Nam chinh của các khanh. Chúc các tướng sĩ ca khúc khải hoàn.

-Chúng thần tuân chỉ, tạ ơn hoàng thượng. Chúc hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.

-Bãi triều.

                                                    *      *

                                                        *

Cuối tháng 10 năm 1788, khắp kinh thành Thăng Long chìm trong giá lạnh. Gió lạnh thổi cắt da, cắt thịt. Cây cối, cung điện chìm trong sương giá. Những lâu đài rêu phong đọng những giọt sương. Những đà đao của những mái cung điện, lâu đài vươn lên trời xám mang hình đầu những con rồng đen. Điện Thiên An trong hoàng thành Thăng Long bây giờ vắng chủ. Hoàng đế nước Đại Việt Lê Chiêu Thống mưu chống lại nhà Tây Sơn đã bỏ cung điện, kinh thành chạy đi lưu vong cầu cứu nhà Thanh. Trong cung điện chỉ còn những tướng lĩnh nhà Tây Sơn thay mặt Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ trông coi Bắc Hà tạm thời làm quân doanh.

 Sáng nay trong một căn phòng nhỏ trong điện Thiên An, Ngô Văn Sở đang ngồi bàn cũng các tướng Phan Văn Lân, Nguyễn Văn Tuyết, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Văn Dụng. Ngô Văn Sở nói:

-Chúng ta đã mời Lê Chiêu Thống về lại ngai vàng nhưng ngài ta nhất mực không về. Theo tin tức thám mã báo về thì nhà vua đã sai thân vương đại thần là Lê Quýnh làm sứ giả sang cầu cứu Càn Long nhà Thanh đưa quân sang xâm lược nước ta.

Phan Văn Lân tức giận nói:

-Lê Thái Tổ và các vị tiên liệt của ông ta là hiển hách, oanh liệt, sao lại sinh ra một ông vua cháu chắt đớn hèn và kiên quyết phản quốc đến như vậy?

 Chợt có thám mã của trấn thủ Nguyễn Văn Hòa về báo:

-Dạ, cấp báo Đại tư mã, 20 vạn quân Thanh do tổng đốc lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị chỉ huy đã tràn vào Lạng Sơn. Thế giặc rất mạnh. Trấn thủ Lạng Sơn Phan Khải Đức đã đầu hàng giặc, quân sĩ đã bỏ chạy. Tướng Nguyễn Văn Diễm đã chạy về Kinh Bắc, hội quân cùng trấn thủ Nguyễn Văn Hòa. Mạt tướng vâng lệnh của trấn thủ Nguyễn Văn Hòa về đây cấp báo.

Lại có thám mã từ Tây Bắc về báo:

-Dạ, cấp báo, quân Thanh thuộc Vân Nam-Quý Châu do Ô Đại Kinh chỉ huy đã vượt ải Bạch Mã theo đường Tuyên Quang đang tiến về Sơn Tây.

Lại có thám mã ở miền Bắc về báo:

-Dạ, bẩm Đại tư mã, quân Thanh ở Điền Châu do tri phủ Sầm Nghi Đống chỉ huy theo đường Long Châu tràn vào Cao Bằng và đang tiến xuống Thăng Long.

Ngô Văn Sở nói:

-Vậy là 30 vạn quân Thanh đã tràn vào xâm lược nước ta. Trọng tâm của chúng là đánh chiếm Thăng Long. Các tướng quân và quân sư Ngô Thì Nhậm có cao kiến gì để chống giặc không?

 Nguyễn Văn Dụng nói:

-Mạt tướng nghĩ trong ba đạo quân đó, đạo 20 vạn của Tôn Sĩ Nghị là đạo chủ lực. Quân ta ở Bắc Hà có 6 vạn. Ta nên đem quân lên dùng chiến thuật mai phục như xưa của Lê Thái Tổ diệt đạo quân Liễu Thăng. Đạo quân Tôn Sĩ Nghị bị tiêu diệt thì hai đạo quân kia cũng rút lui.

 Ngô Thì Nhậm nói:

-Thời thế đã thay đổi và lực lượng đã khác nhau. Xưa quân Liễu Thăng có 10 vạn thì Lê Thái Tổ trong chiến dịch Chi Lăng-Xương Giang cũng phải có 10 vạn, nay ta chỉ có 6 vạn là không đủ. Xưa quân Lam Sơn chủ động, mai phục ngay ở Quỷ Môn Quan và Ải Chi Lăng, đánh dập đầu con rắn ngay từ trận đầu, nay ta bị động, để cho giặc qua ải Chi Lăng rồi rất khó đánh. Xưa quân Lam Sơn mai phục là giữ được bí mật, nay ta mai phục thì bọn Việt gian, bọn cần vương tay sai của Lê Chiêu Thống sẽ báo hết cho quân Thanh, ta sẽ sa vào vòng vây của chúng, sẽ chết 6 vạn quân vô ích. Nay chi bằng ta áp dụng chiến thuật của Trần Thái Tông, của Trần Hưng Đạo, rút lui chiến lược, bảo toàn lực lượng, làm cho địch chủ quan để nó phạm sai lầm, chờ đại quân của Bắc Bình Vương ra để phản công tiêu diệt giặc cũng chưa muộn.

Đô đốc Nguyễn Văn Tuyết nói:

-Quân sư nói phải lắm. Theo mạt tướng thì ta nên rút về phòng thủ ở Tam Điệp, thủy quân nên rút về Biện Sơn, đề phòng Tôn Sĩ Nghị không dừng ở Thăng Long mà tấn công ngay vào Nam thì ta sẽ quyết chiến với chúng ở đó. Khi đại quân của Bắc Bình Vương ra tập kết ở Tam Điệp tấn công Thăng Long cũng thuận tiện.

Ngô Văn Sở nói:

-Ta cũng tán thành kế hoạch của quân sư và của hai tướng quân. Nay ban bố mệnh lệnh:

-Bố cáo cho quân ta ở Bắc Hà nhanh chóng về hội quân ở Thăng Long để rút về Tam Điệp, thủy quân nhanh chóng rút về Biện Sơn. Trước khi rút, phải phá hủy tất cả các cầu bắc qua sông Thương, sông Lục Nam, sông Cầu, sông Đuống, sông Hồng để ngăn chặn tốc độ tiến quân của giặc, tạo điều kiện thời gian để quân ta rút về Tam Điệp. Lệnh cho trấn thủ Kinh Bắc Nguyễn Văn Hòa, Nguyễn Văn Diễm nhanh chóng phá cầu rút về Thăng Long.

Ngô Văn Sở nói:

-Tướng quân Phan Văn Lân.

-Có mạt tướng.

-Tướng quân đem 1 vạn quân đi giúp đỡ việc phá cầu, nếu cầu nào chưa phá thì phá và lệnh cho dân chài các con sông mà giặc đi qua phải dấu hết thuyền bè, không để cho giặc tận dụng.

-Mạt tướng tuân lệnh.

Rồi Ngô Văn Sở cho gọi lính các trấn Kinh Bắc, Thái Nguyên, Hải Dương, Sơn Tây về hội tụ ở Thăng Long và rút về Tam Điệp. Quân Tây Sơn xây dựng nhiều đồn cố thủ tạo nên hệ thống phòng thủ Tam Điệp-Biện Sơn. Ngô Thì Nhậm nói với Nguyễn Văn Tuyết:

-Đô đốc hãy chọn một con ngựa tốt phi gấp vào Phú Xuân cấp báo cho Bắc Bình Vương.

-Mạt tướng tuân lệnh.

 Ngô Văn Sở và Ngô Thì Nhậm ra tiễn Nguyễn Văn Tuyết lên đường. Nguyễn Văn Tuyết chắp tay:

-Cáo biệt quân sư và Đại tư mã, hẹn ngày gặp lại.

-Chúc đô đốc thượng lộ bình an, hẹn ngày gặp lại.

Ngô Văn Sở và Ngô Thì Nhậm đứng nhìn cho đến khi con ngựa nâu tung vó đưa Nguyễn Văn Tuyết khuất dần về hướng Nam trong gió bụi.

*     *

*

Tháng 10 năm 1788, Thăng Long chìm trong gió lạnh, bầu trời u ám. Tuy vậy, kinh thành không yên tĩnh. 20 vạn quân xâm lược Thanh đã tràn vào như một cơn dông tố hung dữ ập đến. Lều trại của 20 vạn quân Thanh san sát trải dài mênh mông suốt bờ Bắc và bờ Nam sông Hồng. Kinh thành suốt ngày đêm ồn ào tiếng của lính Thanh rượu chè say sưa, cờ bạc, cãi vã, tiếng ngựa hí, tiếng chân đi trên đường, trên phố, trên cầu phao không lúc nào dứt. Bọn lính đói khát nơi quê hương nay được thả lỏng đi nghênh ngang, thả sức cướp bóc vàng bạc châu báu, của cải, lương thực trong các gia đình, trong các cửa hiệu. Chúng uống rượu ăn cơm, ăn bánh, ăn thịt trong các cửa hàng và giết chủ hàng để quỵt tiền. Chúng bắt cóc đàn bà con gái hãm hiếp ngay trên đường phố. Tiếng khóc, tiếng kêu gào vang khắp kinh thành không ngày nào là không có. Xác bách tính Việt bị giết trôi nổi dập dềnh trên sông Hồng và sông Tô Lịch.

Tôn Sĩ Nghị đóng tổng hành dinh trong phủ chúa Trịnh ngày xưa gọi là cung Tây Long. Suốt ngày đêm Tôn Sĩ Nghị vùi đầu trong tiệc tùng, rượu chè và mỹ nhân. Lê Chiêu Thống, hoàng gia và các cận thần lại về hoàng thành. Lê Chiêu Thống bảo nội quán:

-Ngươi sang mời Tôn tướng quân và các tướng Thanh vào hoàng thành dự tiệc ta chiêu đãi nhân ngày ta trở lại Thăng Long.

-Dạ, thần tuân chỉ.

Nội quan đi một hồi rồi về báo:

-Dạ bẩm hoàng thương, Tôn tổng đốc nói rằng phải đích thân hoàng thượng sang mời ngài ta mới đến.

Lê Chiêu Thống đành phải lên kiệu đến cung Tây Long mời Tôn Sĩ Nghị và các tướng nhà Thanh. Dự tiệc có cả những bọn cô trung như Phạm Quý Thích, Phạm Đan Phụng... Trong tiệc, cả bọn, kể cả Lê Chiêu Thống hết lời ca tụng và xu nịnh một cách vô sĩ đối với tướng giặc Tôn Sĩ Nghị và các tướng nhà Thanh. Tôn Sĩ Nghị và bọn tướng giặc tỏ ra ngạo mạn, không coi ai ra gì. Nghị mượn rượu và nói:

-Mai đến điện Kính Thiên, ta sẽ phong Lê Chiêu Thống làm An Nam Quốc Vương. Tuy vậy, hàng ngày có công việc gì Lê Chiêu Thống phải đến cung Tây Long nghe ta truyền bảo, chứ không phải quen cái thói sai quan nội hầu đến là xong đâu. Ha!ha!ha!...

 Nghị cười và tu rượu hàng bát lớn, thức ăn văng cả ra ngoài. Thế mà hầu hết bọn Việt gian cũng cười phụ họa, lấy lòng. Trong bọn cô trung mù quáng, có một vài người còn biết liêm sĩ cho vua, cúi mặt thở dài. Phạm Quý Thích, cận thần của Lê Chiêu Thống e dè cạn bát với Tôn Sĩ Nghị và hỏi:

-Dạ bẩm nguyên soái tổng đốc, bao giờ thì ngài có thể xuất quân vào Nam để bắt Nguyễn Huệ ạ.

Tôn Sĩ Nghị đặt bát và vênh váo đáp:

-Bao giờ thì đó là việc của bản nguyên soái, ngài là một cận thần tép riu, cớ gì phải xía vào. Nhưng bản nguyên soái nói cho ngài biết, việc bắt Nguyễn Hụê bây giờ còn dễ hơn việc thò tay vào túi áo lấy đồ vật. Giặc gầy mà ta béo, cứ thả cho nó béo lên rồi bắt cũng chưa muộn. Ha!ha!ha!

Bùi Huy Bích và những bầy tôi của Lê Chiêu Thống hiểu Nguyễn Huệ, nghe Tôn Sĩ Nghị nói vậy thì thất vọng, ngao ngán lắc đầu.

Sau hôm đó, ở điện Kính Thiên, Tôn Sĩ Nghị đọc chiếu của vua Càn Long phong Lê Chiêu Thống làm An Nam Quốc Vương. Nhưng thân phận của Lê Chiêu Thống không có gì thay đổi, hàng ngày vẫn phải đến cung Tây Long chầu chực để Tôn Sĩ Nghị có gì sai bảo, bất chấp mưa phùn gió bấc rét tê tái. Mấy cụ già ngồi uống nước trà ở quán trước cung Tây Long đã thuộc cái kiệu màu vàng của Lê Chiêu Thống đi vào đi ra cung Tây Long. Mấy ông già ngao ngán lắc đầu:                                                                        

-Không hiểu cái năm 1786 khi ra Thăng Long, làm sao mà Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ lại lập một kẻ hèn nhát, bất tài, phản quốc này lên ngôi nhỉ? Tài như Long Nhương Tướng quân mà còn nhầm lẫn chăng?

chuytuyet1-1642090139.jpg
Tranh minh họa Đô đốc Nguyễn Văn Tuyết cùng các tướng lĩnh Tây Sơn. Nguồn: Internet

 

-Cái này trách ai bây giờ. Khi hoàng gia đề cử Lê Duy Kỳ, Nguyễn Huệ đâu có biết hết các hoàng tử của Lê Hiển Tông, ngài sắp đồng ý thì Ngọc Hân công chúa can ngăn. Bắc Bình Vương định thôi, không lập Lê Duy Kỳ nữa thì cả hoàng gia oán trách công chúa. Công chúa đành buông xuôi và nói với Nguyễn Huệ cứ lập Lê Duy Kỳ, nếu không công chúa đang bị hoàng gia trách cứ. Do đó, Lê Duy Kỳ lên ngôi là Lê Chiêu Thống.

-Rét thế này mà ngày nào cũng đến chầu chực ở cung Tây Long. Trong các đời vua chúa của Đại Việt, chưa có vị vua nào mà lại đớn hèn và nhục nhã đến như vậy.

-Ngoài thì hèn với giặc nhưng trong thì ác với dân. Nghe nói dựa vào quân Thanh mà về nên ra sức trả tư thù tư oán, nhất là đối với những người đã cộng tác với Tây Sơn hoặc dính dáng đến Tây Sơn.

-Nghe nói có một thiếu phụ là hoàng tộc có chồng theo Tây Sơn, đang mang bầu, Lê Chiêu Thống sai mổ bụng lấy thai nhi ra và giết chết.

-Lại nghe nói có ba người trong hoàng tộc xưa không đồng ý việc ông ta lên ngôi, Lê Chiêu Thống đã chặt chân và ném ba người ra chợ.

-Thật là khủng khiếp, báo thù báo oán ngày nào cũng diễn ra. Đại Việt chúng ta mạt vận rồi?

-Ngày nào cũng có người bị giết, không Lê Chiêu Thống thì cũng đám cần vương tay sai của ông ta.

-Bây giờ thế lực cần vương theo Lê Chiêu Thống rất mạnh, chúng đã chia nhau nắm chính quyền toàn bộ Bắc Hà rồi.

-Bách tính kinh thành không chỉ khổ vì Lê Chiêu Thống và bọn cần vương mà còn khổ nhất là nạn quậy phá cướp bóc, hãm hiếp giết người man rợ của quân Thanh.

-20 vạn quân Thanh này các cụ để ý mà xem, không phải là quân Bát Kỳ người Mãn Châu đâu mà là những đạo quân toàn người Hán ở Lưỡng Quảng, Quý Châu và Vân Nam, toàn bọn lưu manh đói khát, được vào kinh thành ta chúng ra sức cướp của giết người, hãm hiếp bắt cóc phụ nữ  không kiêng sợ ai.

-Nghe nói ngày nào cũng có nhiều vụ cướp bóc giết người ngoài chợ.

-Các cụ nhìn mà xem, xác dân kinh thành ta trôi nổi vật vờ kín đặc cả các dòng sông Hồng, sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu.

-Ngày nào lính Thanh cũng bắt đàn bà con gái hãm hiếp giữa ban ngày ngay trên đường phố.

-Kinh thành của ta đã trải qua nhiều thảm họa, nhưng lần này là thảm họa nhất vì bọn vua quan Việt gian theo giặc và đồng lõa với chúng.

-Không biết ai là người cứu bách tính, đất nước và kinh thành đây?

-Chỉ còn cầu mong cho quân Tây Sơn của Bắc Bình Vương sớm ra thì may ra thoát được thảm họa này.

-Thôi thì cũng đành lòng nhắm mắt mà chờ đợi vậy.

                                                     *      *

                                                         *

Trong tổng hành dinh của quân Thanh ở cung Tây Long, một hôm Trần Nguyên Nhiếp, mưu sĩ của Tôn Sĩ Nghị nói:

-Bẩm nguyên soái, chúng ta sang đây thực chất là muốn sáp nhập Đại Việt vào bản đồ của đế quốc Đại Thanh nhưng dưới danh nghĩa “Phù Lê”, vì vậy, quân lính cũng phải tỏ ra có chút nhân nghĩa với bách tính, không xâm phạm cướp bóc giết chóc. Nay ngày nào mạt tướng cũng nghe báo về quân ta cướp bóc, chém giết hãm hiếp. Tôi đã đi thị sát rồi. Xác dân kinh thành Đại Việt trôi nổi chật cứng sông Hông, sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu.

Tôn Sĩ Nghị nói:

-Ta cũng nghe thám mã báo những việc như vậy hàng ngày. Ta đã ra điều luật quân kỷ chỉnh đốn nhưng không dẹp được.

Trần Nguyên Nhiếp nói:

-Nếu dừng lại ở kinh thành nhiều ngày, binh lính nhàn rỗi, cướp phá, vơ vét, hưởng lạc, chém giết lan tràn, vi phạm quân luật, e đến khi lâm trận sẽ thất bại.Vả lại đến bây giờ danh nghĩa “Phù Lê” không còn đánh lừa được ai nữa.

Tôn Sĩ Nghị nói:

-Ta định sớm tiến quân nhưng đã trót dừng lại, vả lại Tết Nguyên Đán đã đến nơi, cứ cho tướng sĩ ăn tết, dứt khoát ngày 6 tháng giêng sẽ xuất quân vào Phú Xuân. Kế hoạch này là không thay đổi.

Trần Nguyên Nhiếp khuyên:

-Vậy thì nguyên soái phải bố trí thế phòng thủ dù là tạm thời. Nhất là phía Nam và Tây Thăng Long là những mặt mà quân Tây Sơn sẽ tấn công vào.

-Quân sư nói phải lắm.

Liền gọi:

-Người đâu.

-Dạ.

-Cho gọi tất cả các tướng lĩnh đến tổng hành dinh nhận nhiệm vụ.

-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.

 Khi các tướng đã đến đầy đủ, Tôn Sĩ Nghị nói:

-Ta định tiến quân vào Phú Xuân bắt Nguyễn Huệ nhưng đã trót dừng lại vì công việc chấn chỉnh phục hưng cho Lê Chiêu Thống tại Thăng Long và Bắc Hà. Nay định xuất quân nhưng ngặt ngày vì Tết Nguyên Đán đã đến, dừng thêm vài ngày cho tướng sĩ ăn Tết, ngày 6 Kỷ Dậu sẽ xuất quân đánh Tây Sơn. Tuy nhiên, từ nay đến mùng 6 không thể không phòng thủ. Nay ta bố trí để bảo vệ tổng hành dinh ở Thăng Long như sau:

-Đạo 5 vạn quân Điền Châu do tri phủ Sầm Nghi Đống chỉ huy đóng ở Khương Thượng, bảo vệ mặt Tây Thăng Long.

-Đạo quân Vân Nam-Quý Châu 5 vạn do Đề đốc Ô Đại Kinh chỉ huy đóng giữ Sơn Tây chi phối cho các mặt trận ở Thăng Long.

-Ta ra lệnh tăng cường phòng thủ Nam Thăng Long, sẽ là hướng tấn công chính của quân Tây Sơn nếu chúng muốn vào kinh thành. Đồn chính là đồn Ngọc Hồi, Thanh Trì, cách Thăng Long 40 dặm, chắn ngang đường thiên lý nên đây là cứ điểm quan trọng bậc nhất. Vì thế, ta tăng cường ở đây 7 vạn quân do phó nguyên soái, đề đốc HứaThế Hanh chỉ huy. Giúp sức có các tổng binh Thượng Duy Thăng, tổng binh Khánh Thành, Tổng binh Trương Triều Long, tổng binh Lý Hóa Long. Các tướng phải cho xây dựng đồn trại kiên cố nhiều lớp, ngày đêm lo phòng thủ, không được lơ là.

-Phó soái Hứa Thế Hanh còn phải cho xây dựng một loạt các đồn lũy phía Nam Ngọc Hồi như đồn Hà Hồi, Thường Tín, đồn Nhật Tảo, Duy Tiên, Hà Nam, đồn Nguyệt Quyết, Thanh Liêm, Hà Nam. Riêng có đồn Gián Khẩu, Ninh Bình là đồn tiền tiêu cho nên điều tướng nhà Lê Hoàng Phùng Tứ đem quân từ Sơn Tây về đóng giữ.

-Ngoài ra người Hoa ở Đại Việt đã tập hợp được 1 vạn quân hỗ trợ chúng ta.

-Trận tuyến phòng thủ này đã che chắn được hết những hướng cần bảo vệ của Thăng Long, nhất là ở phía Nam, toàn quân tinh nhuệ và các tướng soái lỗi lạc. Ta tin nếu quân Tây Sơn tấn công sẽ bị tiêu diệt ngay ở các phòng tuyến này mà không cần 20 vạn quân của tổng hành dinh.

-Hoàng thượng Càn Long rất quan tâm đến cuộc viễn chinh này, đã cử thượng thư Phúc An Khang thiết lập 70 đồn quân lương lớn từ hai con đường Vân Nam và Quảng Tây tới Thăng Long. Riêng chặng đường từ ải Nam Quan đến Thăng Long có đến 18 kho quân lương.

Ngừng một lát, Tôn Sĩ Nghị hỏi:

-Các tướng quân có cao kiến gì không?

-Chúng mạt tướng tuân lệnh.

                                               *        *

                                                    *

Phú Xuân đang là mùa đông nên không khí se lạnh, mây bốn bề bay mờ ảo trên trời, Núi Ngự Bình, núi Bân xanh xám quện sương khói soi bóng xuống sông Hương mơ màng. Vài con thuyền xuôi ngược thong thả trên sông. Khách bộ hành trên bộ ngựa xe tấp nập. Phủ Đan Dương của Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ nằm xa sông Hương, sâu vào miền đồi núi. Mái ngói lâu đài, dinh thự núp dưới những tán lá cây xanh. Gió khẽ đưa lá vàng rơi xào xạc.

Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ đang ngồi làm việc thì có tùy tướng vào báo:

-Dạ, bẩm Bắc Bình Vương, có đô đốc Nguyễn Văn Tuyết từ Biện Sơn về cấp báo.

-Cho vào.

-Dạ.

 Đô đốc Nguyễn Văn Tuyết bước vào, quần áo đầy bụi đường trường. Nguyễn Huệ đứng dậy ra đón. Nguyễn Văn Tuyết khoanh tay cúi đầu:

-Dạ, mạt tướng xin chào Bắc Bình Vương.

Nguyễn Huệ nói:

-Miễn lễ, tướng quân vượt xa hàng nghìn dặm vào đây chắc có việc hệ trọng quốc gia?

-Dạ, đúng vậy, mạt tướng xuất phát từ Biện Sơn hôm 20 tháng 11, hôm nay đã là ngày 24 rồi, dọc đường vào các dịch quán trên đường thiên lý, mạt tướng đã phải thay 4 con ngựa.

Sau khi Nguyễn Văn Tuyết ngồi và uống hết hai bát nước, Nguyễn Huệ hỏi:

-Có việc gì hệ trọng vậy?

-Dạ, bẩm Bắc Bình Vương, do Lê Chiêu Thống cầu viện, dưới danh nghĩa “Phù Lê”, Càn Long nhà Thanh đã cho 30 vạn quân do tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị làm thống soái vào xâm lược nước ta. Riêng đạo quân 20 vạn do Tôn Sĩ Nghị chỉ huy đã chiếm Thăng Long, còn một số đạo khác, mỗi đạo khoảng 5 vạn quân đã vào Hải Dương, Sơn Tây. Quân ta ở Bắc Hà và Thăng Long đã lùi về phòng tuyến Tam Điệp-Biện Sơn. Bắc Hà lâm nguy. Mong Bắc Bình Vương đem quân ra phá giặc. Việc vô cùng hệ trọng và cấp bách.

Nghe Nguyễn Văn Tuyết nói, Nguyễn Huệ ngồi lặng đi một lúc rồi nói:

-Chúng nêu chiêu bài “Phù Lê” chỉ là cái cớ lừa bịp bách tính Bắc Hà. Thực ra Càn Long đã nuôi mộng xâm lược nước ta từ lâu, nay mới có cớ để thực hiện.

Rồi gọi:

-Người đâu.

-Dạ.

-Làm cơm rượu ta cùng ăn với đô đốc.

-Dạ.

Nguyễn Huệ nói với Nguyễn Văn Tuyết:

-Vất vả cho đô đốc quá. Bây giờ chúng ta cùng ăn cơm trưa. Ăn xong đô đốc nghỉ ngơi, chiều họp các tướng lĩnh tại đây để bàn việc đánh quân Thanh.

-Dạ, đa tạ Bắc Bình Vương, mạt tướng tuân lệnh.

Chiều hôm đó trong cung Đan Dương, Nguyễn Huệ ngồi ghế chủ, bên dưới là các tướng Trần Văn Kỷ, Nguyễn Tằng Long, Đặng Xuân Bảo, Nguyễn Văn Lộc, Nguyễn Văn Tuyết, Đặng Tiến Đông, Vũ Văn Dũng, Phan Khải Đức, Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân, Bùi Hữu Hiếu, Bùi Đắc Tuyên, Trần Văn Kỷ. Nguyễn Huệ nói:

-Do Lê Chiêu Thống cầu viện, Càn Long nhà Thanh cử 30 vạn quân do Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị chỉ huy đã vào Thăng Long và Bắc Hà. Quân ta ở Thăng Long và Bắc Hà do Ngô Văn Sở chỉ huy đã rút về phòng tuyến Tam Điệp-Biện Sơn. Đô đốc Nguyễn Văn Tuyết đã đi bốn ngày bốn đêm về Phú Xuân cấp báo. Nay đô đốc nói thêm tình hình để các tướng rõ hơn.

chuyhdqt1-1642176931.jpeg

 

-Dạ, bẩm Bắc Bình Vương, thưa các tướng quân, ngày 28 tháng 10 năm 1788, do Lê Chiêu Thống cầu viện, 30 vạn quân Thanh đã vào Đại Việt dưới danh nghĩa “Phù Lê”, trong đó 20 vạn quân do Tôn Sĩ Nghị chỉ huy đã tiến vào ải Nam Quan, theo đường Lạng Sơn, Bắc Giang, 22 tháng 11 mới tới  Thăng Long. Từ ải Nam Quan đến Thăng Long chỉ 300 dặm mà giặc đi mất 22 ngày. Đi chậm như vậy vì quân ta đã phá hết cầu trên các sông Thương, sông Lục Nam, sông Cầu, sông Đuống, sông Hồng, dân chài dấu hết thuyền bè trên các con sông này. Quân ta ở Bắc Hà chỉ 6 vạn, lúc đầu định đem quân lên chặn giặc nhưng sức không đủ, quân sư Ngô Thì Nhậm bàn lùi về phòng tuyến Tam Điệp-Biện Sơn, chờ đại quân và Bắc Bình Vương ra sẽ quyết ra định.

Tướng Đặng Xuân Bảo hỏi:

-Ngoài đạo quân của Tôn Sĩ Nghị vào Thăng Long, còn có đạo nào khác không?

-Thưa Bắc Bình Vương và các tướng quân, ngoài đạo 20 vạn quân vào Thăng Long, còn có 5 vạn quân Điền Châu do tri phủ Sầm Nghi Đống đóng ở Khương Thượng bảo vệ mặt Tây Thăng Long, còn đạo quân Vân Nam-Quý Châu khoảng 5 vạn quân do Ô Đại Kinh chỉ huy đóng ở Sơn Tây.

Tướng Nguyễn Văn Lộc hỏi:

-Cách bố phòng của Tôn Sĩ Nghị ở Thăng Long như thế nào?

-Thưa Bắc Bình Vương và các tướng quân, 20 vạn quân ở Thăng Long thì 10 vạn quân đóng ở bờ Bắc sông Hồng, 10 vạn quân đóng ở bờ Nam ngay trong kinh thành, gần cung Tây Long cũng là tổng hành dinh của Tôn Sĩ Nghị. Hai bên đi lại bằng cầu phao bắc trên sông Hồng. Đạo quân 5 vạn của Sầm Nghi Đống đóng ở Khương Thượng, phía Tây Thăng Long, cách cung Tây Long khoảng 8 dặm. Tôn Sĩ Nghị còn lập một hệ thống phòng thủ Nam Thăng Long. Nếu tính từ phía Nam thì đồn đầu tiên là đồn Gián Khẩu ở Ninh Bình, đồn này do tướng Hoàng Phùng Tứ, tướng của Lê Chiêu thống đóng giữ, tiếp theo là đồn Nguyệt Quyết, đồn Nhật Tảo, đồn Hà Hồi, mạnh nhất là đồn Ngọc Hồi, cách Thăng Long 40 dặm, đồn này khoảng 7 vạn quân do Hứa Thế Hanh, Phó soái cuộc Nam chinh chỉ huy, dưới trướng có 4 tổng binh là Khánh Thành, Trương Triều Long, Lý Hóa Long và Thượng Duy Thăng.

Đặng Tiến Đông hỏi:

-Quân Thanh vào nước ta với khẩu hiệu “Phù Lê”, vậy thái độ của bách tính Bắc Hà và Thăng Long đối với quân Thanh và Lê Chiêu Thống như thế nào?

-Dạ, thưa Bắc Bình Vương và các tướng quân, Tôn Sĩ Nghị thả lỏng cho quân Thanh, không ngày nào là không cướp bóc, giết chóc, hãm hiếp. Xác dân kinh thành trôi nổi đầy sông Hồng, Sông Kim Ngưu, sông Tô Lịch. Lê Chiêu Thống thì ra sức trả tư thù tư oán rất tàn bạo, nhất là thân nhân những người cộng tác với quân ta. Hàng ngày Lê Chiêu Thống phải đến doanh trại của Tôn Sĩ Nghị ở  Cung Tây Long để nghe sai bảo. Thăng Long lâm vào tình trạng vô cùng bi thảm. Bách tính vô cùng căm thù quân cướp nước và bè lũ bán nước, ngày đêm mong ngóng ngọn cờ của Bắc Bình Vương ra cứu họ.

Nguyễn Huệ nói:

-Hiện nay tình hình ở miền Gia Định cũng rất nguy ngập. Nguyễn Phúc Ánh phản công và Đông Định Vương Nguyễn Lữ hèn nhát đã bỏ chạy về Quy Nhơn. Nguyễn Phúc Ánh đã chiếm lại hầu hết Gia Định là mối nguy lớn của nhà Tây Sơn. Đó là miền chiến lược cực kỳ quan trọng về địa thế, về của cải, lúa gạo, về sức người. Ta đã chuẩn bị kế hoạch và quân lực chu đáo, chuẩn bị Nam tiến tiêu diệt Nguyễn Ánh.

Ngừng một lúc, Nguyễn Huệ hỏi:

-Đô đốc có biết bao giờ Tôn Sĩ Nghị rời Thăng Long tiến quân vào Nam không?

-Dạ, bẩm Bắc Bình Vương, tin chắc chắn của thám mã báo về thì ngày 6 Kỷ Dậu, Nghị sẽ xuất quân.

Nguyễn Huệ nói:

-Thôi được, ngày mai ta sẽ xuất quân ra Bắc tiêu diệt quân Thanh rồi quay lại đánh Nguyễn Phúc Ánh cũng chưa muộn. Trần Quang Diệu và Bùi Hữu Hiếu đâu.

-Dạ.

-Hai tướng quân đi trước ra Nghệ An tuyển gấp lấy khoảng từ 3 đến 5 vạn quân.

-Dạ, chúng thần tuân lệnh.

Hai tướng đi ra. Trần Văn Kỷ nói:

-Thưa Bắc Bình Vương, Lê Chiêu Thống tự bỏ ngai vàng mà đi phản quốc, như vậy nhà Hậu Lê đã kết thúc. Đại Việt không thể một ngày không có vua. Kính mong Bắc Bình Vương lên ngôi hoàng đế để chính thống rõ ràng mà hiệu triệu thiên hạ, thứ hai tự nhận lấy trách nhiệm nặng nề cứu nước, thứ ba là để đoàn kết, thống nhất bách tính và ba quân có sức mạnh mà đánh giặc. Kính mong Bắc Bình Vương suy xét.

Các tướng đồng thanh nói:

-Trần quân sư nói phải lắm, kính mong Bắc Bình Vương lên ngôi hoàng đế để đáp ứng lòng mong mỏi của bách tính, của ba quân, của trời đất để hoàn thành việc cứu nước.

Nguyễn Huệ nói:

-Ta là dân áo vải không thiết gì ngai vàng ngôi vị, nhưng thời thế bắt buộc, thuận theo mệnh trời, ngày mai ta sẽ lên ngôi hoàng đế để đáp ứng lòng mong muốn của bách tính, của ba quân, của đất nước.

Rồi gọi:

-Bùi Đắc Tuyên đâu.

-Dạ, có thần.

Thái sư chuẩn bị đàn để ngày mai ta sẽ làm lễ tế trời đất, thánh thần, đăng quang hoàng đế ở núi Bân.

-Thần tuân mệnh.

Ngày 25 tháng 11 năm 1788 là một ngày mùa đông đẹp trời. Trời trắng trong, mây chói lòa bởi ánh nắng mặt trời. Núi Ngự Bình, núi Bân vươn mình lên không gian nắng gió. Sông Hương như giải lụa lớn trải từ Tây sang Đông. Cờ đỏ rợp trời, trống vang dậy đất. Trên đàn Nam Giao hương lửa bập bùng. Nguyễn Huệ đội khăn vàng, áo bào vàng, đi giầy vàng, cắm hương vào những lư hương bằng đồng sáng chói, khấu đầu vái lạy trời đất, thánh thần nước Nam. Sau đó tuyên bố:

-Ta, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ thể theo mệnh trời, lòng dân và các tướng sĩ, nay bố cáo lên ngôi hoàng đế Đại Việt, đế hiệu là Quang Trung để gánh trách nhiệm diệt trừ giặc ngoại xâm và nội phản, một lòng cứu dân, cứu nước. Sau lời bố cáo thì vua Quang Trung đọc chiếu lên ngôi.

Các tướng lĩnh và 5 vạn quân quỳ xuống trước hoàng đế Quang Trung, trên là lá cờ đỏ có hình tròn màu vàng tượng trưng cho mặt trời, biểu tượng cho đế hiệu Quang Trung, trung tâm của ánh sáng và tung hô:

-Chúc mừng hoàng thượng, hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế…

-Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế…

Tiếng hô vang vọng chấn động núi Bân, núi Ngự Bình, chấn động non sông Phú Xuân và Đại Việt. Những lá cờ dài màu đỏ tung bay rợp trời, tiếng trống vang lừng bốn cõi như lay động cả đất trời.

 Sớm hôm sau, ngày 23 tháng 11 năm 1788, kinh thành Phú Xuân và cung Đan Dương tấp nập lạ thường. Hoàng đế Quang Trung đội mũ đâu mâu màu vàng, áo bào vàng, áo giáp vàng, đi hài vàng, ngồi trên mình con voi to như trái núi, có quản tượng là người Thượng Tây Nguyên. Trên đầu Quang Trung có che chiếc lọng vàng. Trên lọng vàng có lá cờ lớn màu đỏ ở giữa in hình mặt trời, dưới hình mặt trời có chữ “SOÁI” tung bay phấp phới. Các tướng lĩnh cưỡi ngựa đứng hai bên voi của Quang Trung. Trước mặt vua Quang Trung là 5 vạn quân tinh nhuệ, phần lớn là người Quảng Nam, Quảng Ngãi, Thuận Hóa. 5 vạn quân quân phục nâu, có nẹp đỏ, mũ nhọn có bông gù đỏ, áo giáp sắt đen. Vũ khí quân Tây Sơn là gươm, đại đao, dao ngắn, ống đồng phun lửa gọi là hỏa hổ, tạc đạn, cung tên. Đứng trước vua Quang Trung là bộ binh, tiếp đến kỵ binh, sau kỵ binh là tượng binh khoảng 200 thớt voi. Tượng binh tải vũ khí hạng nặng là đại bác. Mỗi người lính ngoài mang vũ khí còn phải mang lương thực khô cho mình để ăn dọc đường, thường là bánh đa và dò bò, dò lợn. Kèm theo 5 vạn quân thì có khoảng 2 vạn chiếc cáng tre trúc để dùng trong việc hành quân. Hàng vạn lá cờ đỏ dài bay trên đầu đại quân phấp phới, đỏ rực cả bầu trời Phú Xuân. Tiếng trống dứt, đại quân im lặng. Quang Trung nói:

-30 vạn quân Thanh đã vào xâm lược Bắc Hà và Thăng Long, các ngươi đã biết hay chưa?

-Tiếng đáp vang trời đất:

-Dạ, bẩm hoàng thượng, biết.

-Các ngươi có muốn đánh đuổi chúng đi không?

-Đánh, đánh, đánh…

-Vậy thì tướng sĩ ba quân hãy theo ta và xem ta đánh cho chúng không còn một mảnh giáp nguyên lành.

-Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế…

Tiếng hô vang làm trời đất như chao đảo.

-Ta hạ lệnh xuất phát, tiến ra Thăng Long, đánh giặc cứu nước.

-Chúng thần tuân lệnh.

-Xuất phát!

200 con voi, hàng vạn kỵ binh và 5 vạn bộ binh rùng rùng chuyển động. Đại quân làm một động tác quay ngược đội hình. Tượng binh đứng cuối bây giờ đi đầu, tiếp đó đến kỵ binh và sau cùng là bộ binh. Quang Trung cưỡi voi đi trung quân, sau tượng binh và trước kỵ binh. Đô đốc Đặng Tiến Đông, Vũ Văn Dũng đi tiên phong, quân sư Trần Văn Kỷ, Nguyễn Văn Tuyết, Đặng Xuân Bảo đi trung quân cùng Quang Trung, Nguyễn Văn Lộc, Hám Hổ Hầu, Nguyễn Tằng Long đi hậu quân. Trong sân quảng trường cung Đan Dương, ra tiễn vua Quang Trung và đại quân có hoàng hậu Phạm Thị Liên, dắt theo hoàng tử Nguyễn Quang Toản, hoàng hậu Lê Ngọc Hân trên tay bế công chúa Nguyễn Thị Ngọc mới 3 tuổi và dắt hoàng tử Nguyễn Văn Đức mới 6 tuổi, còn có cung phi Trần Thị Quy, thứ phi Nguyễn Thị Bích và đông đảo hoàng gia, còn có nữ tướng Bùi Thị Xuân và thái sư Bùi Đắc Tuyên, những người được cử trọng trách phòng thủ Phú Xuân khi vua Quang Trung ra Bắc. Trên đường từ Đan Dương ra Phú Xuân bách tính già, trẻ, trai, gái đông nghìn nghịt dài hai ba dặm đem rượu, nước, bánh trái, hoa quả ra úy lạo tiễn đưa chật đường. Người ta chứng kiến cảnh hành quân kỳ lạ của quân Tây Sơn, để đuổi kịp tượng binh và kỵ binh, bộ binh Tây Sơn cứ một người nằm lên một chiếc cáng và hai ngươi khênh và chạy. Một thiếu niên đứng cạnh hỏi cụ già:

-Ông ơi, cho cháu hỏi, sao họ lại khênh nhau chạy vậy ông?

-Họ thay nhau nằm cáng khênh chạy để bảo đảm ai cũng được nằm nghỉ, ai cũng phải khênh, lại bảo đảm tốc độ hành quân cho đi kịp voi và ngựa.

-Ông ơi ông, vậy họ ăn vào lúc nào và ăn bằng gì?

-Với lương khô là bánh đa và dò lợn, dò bò, quân Tây Sơn không phải dừng lại để nấu nướng, ăn uống mà nằm ăn ngay trên cáng, trên mình voi, trên mình ngựa để bảo đảm tốc độ hành quân thần tốc.

-Thích quá nhỉ, cháu cũng muốn vào quân đội Tây Sơn để được cáng chạy, được ăn bánh đa và giò. Ngon quá.

-Thế còn voi và ngựa không được ăn à ông?

-Cháu không thấy những bao bì trên lưng ngựa và voi à. Đó là thóc và cỏ cho chúng ăn. Khi dừng lại để chờ bộ binh thì chúng tranh thủ ăn và uống.

Đang khi đó, một đám thanh thiếu niên thích thú reo lên:

-A, những chú voi mang ống đồng đẹp quá.

-Ông ơi ông, những con voi mang những ống đồng làm gì vậy ông?

Ông già vút râu đáp:

-Những ống đồng đó là những khẩu đại bác và ống phun ra lửa để diệt giặc.

-A, những chú voi, chú ngựa thích quá, đáng yêu quá, sướng quá, được đi ra Bắc diệt giặc.

Nghệ An mùa đông năm 1788 cũng chìm trong giá rét, nắng mùa đông nhàn nhạt rải xuống muôn cây và làng xóm. Sông Lam nước trong xanh lạnh lẽo uốn lượn tuôn nước về Đông. Hai bên bờ sông xóm làng chạy quanh co  soi bóng xuống dòng sông. Vài con thuyền trôi lững lơ vô định. Núi Hồng Lĩnh vừa sáng sớm nên sương còn bao phủ như vành khăn trắng xóa. Trong căn phòng sang trọng của trấn trị trấn Nghệ An, ba người vừa ăn sáng xong đang ngồi uống trà và bàn việc nước. Ngồi một bên bàn là quan trấn thủ Nguyễn Văn Thận, được phong là Thận Trực Hầu. Hai người ngồi đối diện là Trần Quang Diệu và Bùi Hữu Hiếu, hai người nhận lệnh vua Quang Trung ra Nghệ An trước để tuyển quân, chờ đại quân từ Phú Xuân ra nhập vào cùng Bắc tiến. Khi ba người xong một tuần trà, Trần Quang Diệu nói:

-Đa tạ sự giúp đỡ của quan trấn thủ, “Cáo Thị” gửi ra cho bách tính có mấy ngày mà thanh niên trấn này đã nô nức tòng quân, con số đã lên tới 3 vạn. So với chỉ tiêu Bắc Bình Vương giao cho thì vừa đủ.

chuyqt1-1642258498.jpg
Tranh minh họa: Hàng vạn chiến binh áo vải cờ đào của nghĩa quân Tây Sơn đã tiến hành cuộc hành quân thần tốc ra kinh thành Thăng Long đánh tan 29 vạn quân Thanh xâm lược. Nguồn: Internet.

 

Bùi Hữu Hiếu nói:

-Bắc Bình Vương còn định ra Thanh Hóa tuyển quân tiếp cho đủ quân số 10 vạn.

 Chợt có thám mã về báo:

-Bẩm quan trấn thủ, tin từ Phú Xuân đưa ra, Bắc Bình Vương đã lên ngôi hoàng đế, đế hiệu là Quang Trung ngày 22 tháng 11, ngày 23 hoàng đế đã thống lĩnh 5 vạn quân có cả bộ binh, kỵ binh và tượng binh đang nhanh chóng tiến ra Nghệ An.

Trần Quang Diệu và Bùi Hữu Hiếu:

-Xin chúc mừng quan trấn thủ được nghênh tiếp xa giá hoàng thượng.

Nguyễn Văn Thận chắp tay đáp lễ:

-Không dám, không dám, đa tạ hai tướng quân. Nếu hoàng thượng đi từ 23, nay đã là ngày 29, đại quân sắp đến Nghệ An rồi.

Bùi Hữu Hiếu nói:

-Nếu hôm nay mà đại quân đã ra đến đây thì một người lính bộ binh trung bình một ngày đi 200 dặm, quả là thần tốc, thần tốc.

Trần Quang Diệu nói:

-Không thể gọi là đi mà là nằm trên cáng khênh nhau mà chạy.

Vừa khi đó, thám mã về báo:

-Dạ, bẩm quan trấn thủ, đại quân của hoàng đế Quang Trung đã vượt cầu Bến Thủy, đang tiến vào Nghệ An ạ.

Nguyễn Văn Thận ra lệnh cho các quan trong trấn cùng Trần Quang Diệu, Bùi Hữu Hiếu đem quân bản bộ địa phương ra ngoài thành đón hoàng đế Quang Trung và đại quân. Không chỉ quan lại, hào trưởng mà bách tính Nghệ An nghe tin đại quân Tây Sơn tiến ra đã đem rượu, quà bánh, hoa quả, nước ra đứng suốt mấy dặm đường đông đúc để chào đón úy lạo. Tới gần giờ Ngọ thì thấy bụi cuốn mù mịt, đất sông Lam núi Hồng như rung lên bởi bước chân của voi, ngựa và 5 vạn bộ binh đang tiến vào trấn trị Nghệ An. Toàn bộ vùng trời đỏ rực màu cờ đỏ, đỏ rực màu quân phục. Lạ nhất là trên lưng mỗi con voi to như trái núi di động đặt những ống đồng vàng óng. Bộ binh thì oai phong gươm giáo loang loáng sáng rực dưới ánh nắng mặt trời. Kỵ binh thì hàng vạn con ngựa màu nâu và đen hùng dũng cao to hý vang the thé. Hoàng đế Quang Trung đội mũ vàng, áo bào và áo giáp màu vàng ngồi trên lưng voi dưới lá cờ đỏ in hình mặt trời vàng có chữ “Soái” lớn. Khi Quang Trung tiến lại gần bách tính, quan lại thì đội tiên phong dừng lại. Quang Trung xuống voi đi lại thì quan trấn thủ, quan viên của trấn, quân địa phương và bách tính quỳ xuống hô to:

-Kính chào hoàng thượng, hoàng thượng vạn tuế,vạn tuế…

-Hoàng thượng vạn vạn tuế…

Vua Quang Trung nói:

-Miễn lễ, bình thân.

-Tạ ơn hoàng thượng.

Vua Quang Trung hạ lệnh các tướng cho quân hạ trại, ăn uống nghỉ ngơi, rồi cùng Nguyễn Văn Thận, Trần Xuân Kỷ, Trần Quang Diệu, Bùi Hữu Hiếu và quan viên, tướng lĩnh đi vào thành Nghệ An. Sau bữa tiệc quan trấn thủ cùng quan viên Nghệ An chiêu đãi mừng Bắc Bình Vương lên ngôi hoàng đế, nhà  vua hỏi Trần Quang Diệu và Bùi Hữu Hiếu:

-Hai tướng quân đã tuyển được bao nhiêu quân rồi?

-Dạ, bẩm hoàn thượng, tính đến hôm nay đã được 3 vạn rồi ạ.

-Thôi được, ngay hôm nay hai tướng quân ra trấn Thanh Hóa tuyển thêm 3 vạn quân nữa. Thanh Hóa là quê hương của tướng quân Bùi Hữu Hiếu chắc là thuận lợi.

-Dạ, chúng thần tuân lệnh.

Quang Trung quay lại nói với Nguyễn Văn Thận:

-Quan trấn thủ làm cho hai việc gấp.

-Dạ.

-Làm thêm cho 1 vạn chiếc cáng tre hoặc trúc cho 3 vạn lính mới Nghệ An khênh nhau để hành quân ra Thanh Hóa và ra Tam Điệp. Thứ hai làm thêm cho 10 vạn cái bánh đa, 10 vạn cái dò bò hoặc dò lợn bổ sung lương khô cho quân đội.

-Dạ, thần tuân chỉ.

-Với tư cách trấn thủ, khanh lên núi Thiên Nhận mời cho được La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp xuống đây giúp hoàng đế Quang Trung kế chống giặc cứu nước.

-Dạ, thần tuân chỉ.

Hôm sau, Nguyễn Văn Thận cùng tùy tướng đi lên núi Thiên Nhận mời La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp. La Sơn Phu Tử tên là Nguyễn Thiếp, quê quán làng Mật Thôn, xã Nguyệt Ao, huyện La Sơn, Trấn Nghệ An. Ông sinh năm Quý Mão (1723). Năm Quý Hợi (1743) thi đậu Giải Nguyên. Sau khi thi đậu, Nguyễn Thiếp làm huấn đạo ở Anh Đô nhưng thời cuộc hỗn loạn, ông từ chức đi ở ẩn tại núi Thiên Nhận để xa rời cuộc thế đảo điên, lấy hiệu là “Lạp Phong Xử Sĩ”. Ông là người học rộng biết nhiều, nổi tiếng trong thiên hạ và trong giới hàn lâm học sĩ Nho gia. Lần ra Bắc giết Vũ Văn Nhậm, Quang Trung đã mời và được gặp La Sơn Phu Tử. Quang Trung rất kính phục tài phân tích thời cuộc chính trị, kiến thức uyên bác sâu sắc và xác đáng của ông.

Nguyễn Văn Thận đi từ sớm thì chiều trở về cùng La Sơn Phu Tử. Vua Quang Trung ra đón:

-Xin kính chào tiên sinh.

La Sơn Phu Tử chắp tay:

-Xin kính chào hoàng thượng.

-Không dám, mời tiên sinh ngồi.

Trong sảnh đường của quan trấn thủ Nghệ An, chủ khách chia nhau an tọa. Quang Trung nhìn La Sơn Phu Tử thấy ông không già hơn xưa bao nhiêu. Vẫn là một ông già mái tóc bạc phơ, vận quần và áo dài màu trắng, đi giầy màu nâu, da đỏ thắm hồng hào, nom đúng là một cư sĩ, lại như một tiên ông. La Sơn Phu Tử nhìn Quang Trung vẫn oai phong lẫm liệt, dáng dấp đế vương như xưa. Quang Trung hỏi:

-Tiên sinh có được khỏe mạnh không? Đã gần một năm rồi lại được hân hạnh gặp tiên sinh.

La Sơn Phu Tử đáp:

-Dạ, đa tạ hoàng thượng, lão phu vẫn khỏe, chúc mừng hoàng thượng đăng quang.

Quang Trung đáp:

-Đa tạ tiên sinh. Trẫm là dân áo vải không có chí làm vua. Nhưng nay Lê Chiêu Thống tự bỏ nước, tự bỏ ngai vàng mà đi, tự kết thúc nhà Hậu Lê, cầu viện ngoại bang để 30 vạn quân Thanh vào chiếm Thăng Long, vào chiếm Bắc Hà. Cả nước và bách tính không biết trông cậy vào ai. Trẫm bất đắc dĩ phải lên ngôi hoàng đế để lấy danh chính ngôn thuận mà hiệu lệnh thiên hạ đánh giặc cứu nước. Nay ra quân nhưng quân ta ít, giặc thì đông, thế rất lớn. Xin tiên sinh chỉ giáo làm thế nào để thắng giặc, đặng cứu dân cứu nước.

La Sơn Phu Tử đặt ly trà xuống và nói:

-Mưu lược dụng binh như thần thì hoàng thượng đã nổi danh thiên hạ qua các trận chiến lật đổ chúa Nguyễn, đánh bại Xiêm La, lật đổ chúa Trịnh. Nay ra quân đánh quân Thanh, hoàng thượng đã có mưu lược. Lão phu chỉ nói rằng tính từ 30 Tết đến mùng 5 Tết, hoàng thượng phải phá được giặc, nếu quá ngày đó mà không phá được thì rất khó khăn, diễn biến khó lường.

Vua Quang Trung cả mừng nói:

-Tiên sinh nói chính hợp với trù liệu, dự tính của trẫm.

Hôm sau, sau bữa cơm rượu sáng, La Sơn Phu Tử nói:

-Xin cáo biệt hoàng thượng.

Quang Trung chắp tay đáp lễ:

-Xin đa tạ tiên sinh đã hạ cố, hẹn ngày gặp lại.

Nguyễn Văn Thận cùng tùy tùng lại đưa La Sơn Phu Tử về lại Thiên Nhận Sơn.

Trấn trị Thanh Hóa từ Tư Phố làng Giàng xưa nay đã chuyển về Thọ Hạc nằm  trên con đường thiên lý Bắc-Nam thật là thuận tiện, cách về phía Đông 18 dặm là biển Sầm Sơn thuộc biển Đông và núi Trường Lệ, phía Nam là các vùng Đông Sơn, Quảng Xương, Tĩnh Gia giáp với trấn Nghệ An. Vùng Đông Sơn có núi Văn Trinh. Trên núi có hình người đàn bà bằng đá được gọi là nàng Vọng Phu bế con đứng dưới nắng mưa muôn thuở chờ chồng với mái tóc dài, với đôi mắt buồn thê lương nhìn xa xăm ngóng đợi. Phía Bắc Thọ Hạc là sông Mã phi nước như ngựa về Đông. Hai bên bờ Nam-Bắc sông Mã, hai mõm núi đá nhô ra giống như hai hàm con rồng và có chiếc cầu phao gọi là cầu Hàm Rồng. Phía Tây của Thọ Hạc là vùng làng Giàng, đi lên xa nữa là vùng núi Nưa, núi Cửu Noãn, dưới Cửu Noãn là bình địa xưa là thành của vua Ngô Xương Xí.

chutrung-1-1642349708.jpg
Tranh minh họa: Hàng vạn chiến binh áo vải cờ đào của nghĩa quân Tây Sơn đã tiến hành cuộc hành quân thần tốc ra kinh thành Thăng Long đánh tan 29 vạn quân Thanh xâm lược. nguồn: Internet.

 

Chỉ mới chưa đầy 10 ngày mà trấn Thanh Hóa đã ba lần nhộn nhịp tưng bừng, xáo trộn cuộc sống ở thôn quê tĩnh lặng nghèo khó. Lần thứ nhất là đô đốc nhà Tây Sơn Trần Quang Diệu và Bùi Hữu Hiếu về tuyển quân để ra Bắc giải phóng Thăng Long. Nghe nói đô đốc Bùi Hữu Hiếu quê ở Nông Cống trấn Thanh Hóa, gia nhập quân Tây Sơn, nay phụng chỉ vua Quang Trung về tuyển quân. Trai tráng khắp nơi trong trấn sau khi nhận được “Bố Cáo” đã kéo về Thọ Hạc đầu quân đông như kiến cỏ. Những người trúng tuyển vui như tết, vào quán uống rượu chia tay với người thân, bạn bè. Rượu vào, họ liên miệng đọc câu ca không biết có từ khi nào:

        “Anh đi theo chúa Tây Sơn

Em về cày cuốc mà thương mẹ già”.

Lần thứ hai Thọ Hạc lại tưng bừng vì được đón xa giá của hoàng đế Quang Trung trên đường tiến ra Tam Điệp. Ra đón hoàng đế Quang Trung có trấn thủ Thanh Hóa Nguyễn Quang Bàn, hoàng tử của nhà vua, các quan chức của trấn, các tướng lĩnh như Thái phó Trần Quang Diệu, Đô đốc Bùi Hữu Hiếu. Lần thứ ba là được xem vua Quang Trung duyệt binh để xuất phát ra giải phóng Thăng Long. Dưới gió mùa đông lạnh giá, mới sáng ra mà bốn ngã đường Đông Tây Nam Bắc của Thọ Hạc đã chật cứng người. Già trẻ trai gái trong những bộ quần áo bông chống rét đứng chật chung quanh khu quảng trường Thọ Hạc. Trên các ngã đường, người vẫn nườm nợp kéo về. Trời rét nhưng không mưa, ánh nắng chan hòa không gian trời đất. Mây bay trắng xóa. Những đàn chim tung cánh trên trời về phương Nam tránh rét.

Khi mặt trời đã lên một con sào, những hồi trống vang dội như sấm. Người ta nói quân Tây Sơn chỉ dùng duy nhất một loại nhạc hiệu là trống lớn. Từ phía Tây, theo tiếng trống âm vang, 200 thớt voi như 200 trái núi di động hùng dũng bước ra. Trên lưng voi những người quản tượng mặc trang phục người Thượng ở xứ Tây Nguyên xa xôi, màu thổ cẩm xanh đỏ trắng đen vàng, nước da ngăm đen khỏe mạnh. Trên lưng mỗi con voi còn có ba người lính mang những đại bác, tạc đạn, ống phun lửa gọi là hỏa hổ, cung tên, dao ngắn, lương khô, nước uống. 200 thớt voi dừng lại cuốn những chiếc vòi như những con trăn lên trời rồi lại hạ xuống như múa. Sau 200 con voi là 3 vạn kỵ binh, quân phục nâu nẹp đỏ, đầu đội mũ nhọn có bông gù đỏ, áo giáp sắt, lưng mang cung tên, lương thực, tạc đạn, tay cầm gươm. Họ ngồi trên lưng những con ngựa nâu, đen cao lớn lực lưỡng, yên cương bằng da nạm bạc lóng lánh. Kỵ binh quân Tây Sơn thật là khí thế dũng mãnh. Tiếp theo kỵ binh là 10 vạn bộ binh quân phục nâu có nẹp đỏ, áo giáp sắt, mũ nhọn sắt có bông gù đỏ, lưng mang cung tên, lương thực, tạc đạn, dao ngắn, tay cầm giáo mác, kiếm, gươm, đại đao. Tất cả đứng dưới những lá cờ màu đỏ dài, trên có viết chữ “Tây Sơn” thành ra trên toàn bộ khu quảng trường rộng mệnh mông có nhiều màu sắc nhưng nổi bật là màu đỏ rực không gian và bầu trời.

Lại một hồi trống nổi lên như sấm, từ phía Tây một con voi lớn nhất trong 200 con voi tiến ra. Trên lưng voi che lọng vàng, trên lọng vàng là lá cờ đỏ lớn in hình tròn màu vàng có in chữ “Soái”. Người ngồi trên lưng voi đội mũ đâu mâu vàng, áo chiến bào và giáp trụ vàng, đi hài vàng. Khi con voi đã ra giữa và trước đại quân, ba quân và bách tính hô vang dội:

-Hoàng thượng vạn vạn tuế, vạn tuế…

-Hoàng thượng vạn vạn tuế…

Tiếng hô vang làm chấn động vùng Thọ Hạc và trấn Thanh Hóa. Bách tính khi đó mới biết người ngồi trên mình voi là hoàng đế Quang Trung. Lại một làn sóng hô vang động rung chuyển không gian:

-Hoàng thượng vạn, vạn tuế…

-Vạn tuế…

Hai hàng kỵ binh hộ tống vua Quang Trung dàn ra hai bên voi. Một đại tướng phất cờ hiệu. Tiếng trống im bặt và hàng chục vạn con người cũng im lặng đợi chờ. Trên mình voi, vua Quang Trung dùng loa nói sang sảng, vang rền:

-30 vạn quân Thanh đã vào xâm lược, chiếm Bắc Hà và Thănqg Long, bách tính đã biết, đại quân và các tướng lĩnh đã biết. Bớ tướng sĩ và ba quân, muốn giải phóng Bắc Hà, giải phóng Thăng Long hãy cùng ta tiến ra Bắc, đánh một trận cho 30 vạn quân giặc tan xác.

-Đánh cho để dài tóc

Đánh cho để răng đen

Đánh cho chúng không còn một bánh xe quay về

Đánh cho chúng không còn một mảnh giáp trở lại

Đánh cho sử tri biết nước Nam anh hùng là có chủ. Vua Quang Trung dứt lời, 10 vạn quân hô vang:

-Đánh…

-Đánh…

-Đánh…

Tiếng hô làm chấn động, trời đất như nghiêng ngửa, mặt trời như lay động, vũ trụ thiên hà như rung lên. Voi đưa Quang Trung về trung quân, sau đội tượng binh. Một hồi trống vang lên như sấm. Có tiếng hô:

-Xuất phát.

200 con voi bắt đầu chuyển động đi về phương Bắc như bay. Tiếp theo là 2 vạn kỵ binh rùng rùng chuyển động. Sau kỵ binh là 10 vạn bộ binh 2 người cáng một chạy như bay theo tượng binh và kỵ binh. Cờ đỏ rợp trời đất tung bay theo gió, di động theo bước đi của đại quân trông như thiên hà màu đỏ đang trôi đi. Tiếng chân voi, ngựa, người làm rung chuyển mặt đất. Ra tiễn hoàng đế Qung Trung có trấn thủ Thanh Hóa Nguyễn Quang Bàn và các quan chức. Trong lịch sử của mình, Thọ Hạc và trấn Thanh Hóa chưa bao giờ được chứng kiến cảnh duyệt binh ra trận hoành tráng như vậy. Một cụ già nói:

-Cả đời lão phu chưa bao giờ thấy cảnh tượng hoành tráng trời rung đất chuyển như vậy.

Một bà mẹ ngẩng cao đầu và reo lên:

-Con trai tôi, thằng Mộc nhà tôi, nó mới nhập ngũ mà được đi cạnh vua Quang Trung. Hay quá.

Một cụ già đứng cạnh nói:

-Tất cả thanh niên mới nhập ngũ đều được đặt dưới quyền chỉ huy của vua Quang Trung để đạt hiệu quả chiến đấu.

Một cụ già khác:

-Hay quá, đúng là một vị hoàng đế tài giỏi, anh minh, bách chiến bách thắng.

-Chứ sao nữa, ngài khi mới 20 tuổi đã cầm quân lật đổ chúa Nguyễn, đánh bại 5 vạn quân Xiêm La trong một ngày, lật đổ chúa Trịnh, làm chấn động Đại Việt, làm các thế lực sâu dân mọt nước khiếp đảm.

-Phen này 30 vạn quân Thanh chết không có đất mà chôn.

-Trong hàng ngũ tướng lĩnh của vua Quang Trung, nghe nói có một tướng người trấn Thanh Hóa ta, tên là Bùi Hữu Hiếu.

-Đúng rồi, ông chả phụng mệnh vua Quang Trung về quê tuyển quân là gì.

-Hình như ông ở huyện Nông Cống, đã làm tới chức Đô đốc.

Cứ như vậy, bách tính Thanh Hóa kể mãi những câu chuyện về vua Quang Trung và quân Tây Sơn không dứt.

*      *

*

Tam Điệp, những dãy núi đồi đất và núi đá vôi chắn ngang con đường thiên lý từ Thanh Hóa ra Ninh Bình vươn lên dưới trời mùa đông xam xám. Cây cối một màu sương lá vàng rơi lả tả, lá xanh khua rung xào xạc theo gió. Bên dốc phía Nam của Tam Điệp về phía Thanh Hóa, doanh trại của 6 vạn quân Tây Sơn trải dài theo sườn núi. Trong tổng hành dinh trên đỉnh đồi, Ngô Văn Sở đang ngồi cùng các tướng Ngô Thì Nhậm, Phan Văn Lân, Nguyễn Văn Dụng, Nguyễn Văn Diễm và Nguyễn Văn Hòa đang ngồi uống trà sau bữa ăn sáng. Chợt có thám mã về báo:

-Dạ, bẩm đại tư mã và quân sư, hoàng thượng và đại quân từ Thanh Hóa tiến ra chỉ còn cách Tam Điệp bốn dặm thôi ạ.

Ngô Văn Sở nói:

-Nổi trống tập hợp toàn quân và các tướng lĩnh ra đón hoàng thượng và đại quân.

-Dạ, tuân lệnh.

Trống cái vang lên như sấm khắp đồi núi Tam Điệp-Biện Sơn. Ngô Văn Sở cho 6 vạn quân tập trung trên bãi rộng Đồng Giao cùng các tướng chuẩn bị đón vua Quang Trung và đại quân. Đã nghe thấy ngựa hí, tiếng voi gầm và bước chân đi chuyển rung mặt đất, bụi cuốn mù mịt, cờ đỏ rợp trời. Khi đến gần, tượng binh rẽ ra hai bên. Đại quân dừng bước. Vua quang Trung cùng hai hàng kỵ binh hộ tống đi lên trước. Ngô Văn Sở, Ngô Thì Nhậm, các tướng cùng 6 vạn quân quỳ xuống hành lễ. Vua Quang Trung xuống voi đi bộ lại gần. Tiếng 6 vạn quân và các tướng Tây Sơn ở Tam Điệp vang lên:

-Kính chào hoàng thượng, hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế…

-Vạn tuế, vạn vạn tuế…

Vua Quang Trung đỡ Ngô Văn Sở, Ngô Thì Nhậm dậy và nói:

-Miễn lễ, bình thân, các khanh đứng cả dậy đi.

-Tạ ơn hoàng thượng.

Vua Quang Trung nói với Vũ Văn Dũng:

-Đại đô đốc cho quân cắm trại, nghỉ ngơi, ăn uống.

-Dạ, thần tuân chỉ.

Ngô Văn Sở dẫn vua Quang Trung cùng các tướng vào tổng hành dinh. Khi vua ngồi ghế chủ và các tướng an tọa, Ngô Văn Sở, Ngô Thì Nhậm, Phan Văn Lân, Nguyễn Văn Dụng, Nguyễn Văn Diễm, Nguyễn Văn Hòa, Nguyễn Văn Tuyết quỳ xuống rập đầu nói:

-Xin hoàng thượng trị tội, chúng thần không chống nổi giặc đã làm mất Bắc Hà và Thăng Long.

chuy-quang-trung-danh-tran-1642438167.jpg
Tranh minh họa về vua Quang Trung chỉ huy đánh trận. Nguồn: Internet

 

Vua Quang Trung nói:

-Trong tình thế giặc mạnh như vậy, nếu ra ngăn chặn thì 6 vạn quân sẽ bị tiêu diệt hết. Rút lui về Tam Điệp là nước cờ hay. Một là bảo toàn lực lượng, thứ hai là làm cho Tôn Sĩ Nghị kiêu căng mà phạm sai lầm trong chiến lược, tạo thời cơ cho ta nay mai phản công mà đuổi chúng khỏi Thăng Long và Bắc Hà. Các khanh chỉ có công mà không có tội. Đứng dậy cả đi.

-Tạ ơn hoàng thượng.

Trong suốt 10 ngày ở Tam Điệp, trừ những lúc cơm rượu cùng các tướng lĩnh, vua Quang Trung ngày đêm trong phòng với ngọn bút trong tay ngồi bên sơ đồ của Bắc Hà và của Thăng Long, nghiên cứu cách bố phòng của quân Thanh, những sơ hở của chúng và từ đó hình thành một kế hoạch vừa tấn công vừa bao vây vừa bất ngờ để đánh bại 30 vạn quân Thanh chỉ trong 5 ngày. Và cuối cùng Quang Trung cũng đã hình thành được một kế hoạch táo bạo mà trong 20 năm cầm quân chưa từng có. Ngoài ra, vua Quang Trung còn trực tiếp ra lệnh cho các tướng chỉ huy các trại hàng ngày cho quân sĩ luyện tập chiến thuật, kỹ thuật chiến đấu, nhất là với 5 vạn tân binh mới tuyển từ Nghệ An-Thanh Hóa. Đến 29 tháng 12 năm 1788, vua Quang Trung cho triệu tập các tướng lĩnh cao cấp đến tổng hành dinh và lần lượt ra lệnh:

-Bắt đầu từ tối mai, chúng ta bắt đầu tấn công, trong ngày mùng 5 Tết chúng ta phải tiêu diệt được quân Thanh và phải vào được Thăng Long vì ngày mùng 6 tháng giêng quân Thanh bắt đầu xuất phát tiến quân vào Nam. Nếu ngày mùng 5 ta không tiêu diệt được quân Thanh thì sẽ mất cơ hội, diễn biến sẽ khó khăn khôn lường. Nay ra lệnh:

-Đạo chủ lực do ta trực tiếp chỉ huy gồm 5 vạn bộ binh, hầu hết là tân binh mới nhập ngũ từ Thanh Nghệ, 100 thớt voi, 1 vạn kỵ binh, có nhiệm vụ đánh phá tất cả các đồn thuộc tuyến phòng thủ Nam Thăng Long. Đi tiên phong đạo này gồm đại tư mã Ngô Văn Sở, nội Hầu Phan Văn Lân, Đi trung quân gồm Đại đô đốc Vũ Văn Dũng, Thái phó Trần Quang Diệu, quân sư Trần Văn Kỷ, đi hậu quân đốc chiến có Hám Hổ Hầu, Nguyễn Tằng Long.

Bảy tướng có tên ở trên đều bước ra quỳ xuống:

-Chúng thần tuân chỉ.

Vua Quang Trung nói thêm:

-Đại tư mã Ngô Văn Sở:

Dạ, có thần.

-Đại tư mã chuẩn bị thêm 20 tấm ván dày, cao từ chân vượt quá đầu người một chút, trát bùn có rơm dày vào. Ta sẽ dùng đến.

-Dạ, thần tuân chỉ.

Vua Quang Trung ra lệnh tiếp:

-Đạo thứ hai do đô đốc Đặng Tiến Đông chỉ huy cùng đi có đô đốc Bùi Hữu Hiếu gồm 5 vạn bộ binh, khoảng 50 thớt voi, 500 kỵ binh. Đạo này phải hành quân bí mật đánh vào đồn Khương Thượng của Sầm Nghi Đống, sau đó tấn công nhanh chóng vào cung Tây Long, tổng hành dinh của Tôn Sĩ Nghị.

Đặng Tiến Đông và Bùi Hữu Hiếu bước ra quỳ xuống:

-Chúng thần tuân chỉ.

Vua Quang trung nói thêm:

-Đô đốc Đăng Tiến Đông nhớ dứt khoat sáng ngày mùng 5 phải diệt xong đồn Khương Thượng, Nam Đồng và xông thẳng vào cung Tây Long, không cần chờ lệnh ta.

\-Dạ, thần tuân lệnh.

-Đạo thứ ba do đô đốc Đặng Xuân Bảo chỉ huy gồm kỵ binh và tượng binh có nhiệm vụ chặn đánh và tiêu diệt tàn quân quân Thanh ở Ngọc Hồi tháo chạy ra hướng Bắc.

-Dạ, thần tuân chỉ.

Đạo thứ tư do đô đốc Nguyễn Văn Tuyết chỉ huy gồm 3 vạn quân, có nhiệm vụ tiêu diệt đạo quân Thanh ở Hải Dương, sau đó lên Lục Đầu Giang mai phục chặn đánh quân Thanh ở Thăng Long tháo chạy về Bắc Giang và Lạng Sơn.

Nguyễn Văn Tuyết bước ra quỳ và nhận lệnh

-Hạ thần tuân chỉ.

-Đạo thứ 5 do đô đốc Nguyễn Văn Lộc chỉ huy gồm 4 vạn quân, dùng thủy binh lên Lục Đầu Giang có nhiệm vụ chặn đánh quân Thanh từ Thăng Long tháo chạy qua Bắc Giang và Lạng Sơn.

Đô đốc Nguyễn Văn Lộc bước ra quỳ và nói:

-Hạ thần tuân chỉ.

Vua Quang Trung nói thêm:

-Đô đốc Nguyễn Văn Tuyết và đô đốc Nguyễn Văn Lộc phải nắm chắc tin tức của thám mã từ Thăng Long. Nếu Tôn Sĩ Nghị tháo chạy thì phục binh tiêu diệt, còn nó không tháo chạy mà cố thủ ở Thăng Long thì phải tấn công mặt Bắc Thăng Long, còn ta sẽ tấn công mặt Nam, rõ chưa.

-Dạ, bẩm hoàng thượng, chúng thần đã rõ.

Vua Quang Trung ra lệnh:

-Chiều mai 30 Tết, cho quân sĩ ăn Tết tạm thời, tối mai sẽ bắt đầu tấn công, trưa mùng 5 đại quân sẽ ăn Tết chính thức ở Thăng Long. Các tướng lĩnh và ba quân nhớ lấy lời ta xem có đúng không.

-Tạ ơn hoàng thượng, chúng thần tuân chỉ và ghi nhớ.

*       *

*

Đêm 30 tháng 12 năm 1788, các đạo quân Tây Sơn rời Tam Điệp, vượt sông Gián Khẩu Ninh Bình hành quân về các hướng đã được vua Quang Trung phân công. Đạo chủ lực gồm 5 vạn quân, 100 thớt voi, 1 vạn kỵ binh tiến lên hướng Bắc. Vài canh giờ sau đã có thám mã về báo:

-Dạ, bẩm hoàng thượng, đạo 2 vạn quân của Lê Chiêu thống do Hoàng Phùng Tứ chỉ huy giữ đồn tiền tiêu Gián Khẩu đã bỏ chạy nhưng bị phục binh của quân ta bắt hết, không thoát tên nào. Vậy là đồn Gián Khẩu đã bị tiêu diệt ạ.

Lại có thám mã về báo:

-Dạ bẩm hoàng thượng, quân ta đã tiêu diệt đồn giặc trên bờ sông Nguyệt Quyết Nam Hà ạ.

Ngày thứ hai của cuộc tấn công, thám mã lại về báo:

-Dạ bẩm hoàng thượng, quân ta đã tiêu diệt toàn bộ quân Thanh ở đồn Nhật Tảo Hà Nam ạ.

-Dạ, bẩm hoàng thượng, bọn do thám của quân Thanh đã bị quân ta bắt hết, không thoát một tên nào ạ.

-Dạ, bẩm hoàng thượng, đô đốc Nguyễn Văn Tuyết đã bao vây và tiêu diệt hết đạo quân Thanh ở Hải Dương rồi ạ.

Quân Tây Sơn từ Nhật Tảo bí mật hành quân lên bao vây đồn Hà Hồi. Đồn Hà Hồi gồm 3 vạn quân Thanh do Hình Đôn Hạnh chỉ huy. Đêm mùng 3 âm lịch vẫn còn Tết nên Hình Đôn Hạnh cho quân tiếp tục ăn Tết, rượu chè thâu đêm, lăn hết ra say và ngủ. Chợt canh ba có những trận mưa tên và đại bác dội vào đồn. Hình Đôn Hạnh thức dậy thì bên ngoài có tiếng trống, tiếng reo hò trời long đất lở. Hình Đôn Hạnh lên mặt thành xem thì thấy quân Tây Sơn đã vây đồn tầng tầng lớp lớp, vòng trong vòng ngoài. Có tiếng loa gọi:

-Hình Đôn Hạnh và quân Thanh nhanh chóng đầu hàng sẽ toàn tính mạng, nếu chống cự sẽ giết hết không tha.

Hình Đôn Hạnh kiếp sợ đi xuống và ra lệnh:

-Kéo cờ trắng lên đầu hàng, nếu không chúng ta chết hết.

Quân Tây Sơn trông thấy cờ trắng kéo lên mặt thành, một lát sau cổng thành mở toang. Hình Đôn Hạnh cầm cờ trắng đi đầu, theo sau là 3 vạn quân tay không khí giới run sợ đi ra. Hình Đôn Hạnh gặp Ngô Văn Sở, lạy như tế sao:

-Xin tướng quân tha mạng.

-Xin tướng quân tha mạng.

Ngô Văn Sở nói:

-Đứng dậy đi. Ta giữ lời hứa, đầu hàng thì tha mạng.

-Tạ ơn tướng quân.

Quân Tây Sơn tràn vào thành Hà Hồi, thu rất nhiều vũ khí, lương thực, thực phẩm, sau đó tiếp tục hành quân đánh đồn Ngọc Hồi.

Dưới trời mùa đông xám, gió lạnh thổi từng đợt thốc tháo, đồn Ngọc Hồi như con quái vật chặn ngang đường thiên lý, cách Thăng Long 40 dặm, là đồn then chốt nhất trong hệ thống phòng thủ Nam Thăng Long của Tôn Sĩ Nghị. Ngoài cùng của đồn là lũy tre gai dày đặc vây quanh một không gian rộng lớn. Trong lũy tre gai là tường chình đất sét dầy. Trong tường là những rào gai, cuối cùng là những doanh trại của 7 vạn quân tinh nhuệ nhiều tầng, nhiều lớp bảo vệ cho nhau trong thế trận liên hoàn. Bốn hướng của đồn có 4 cửa rộng lớn làm bằng gỗ lim chắc chắn.

Đêm mùng 4 rạng ngày mùng 5 Tết, 5 vạn quân Tây Sơn từ Hà Hồi kéo lên bao vây đồn Ngọc Hồi. Ở Cổng phía Nam của đồn, 100 thớt voi đứng đầu, trên lưng voi ngoài quản tượng còn có ba lính điều khiển đại bác, ném tạc đạn và ống phun lửa. Sau tượng binh là 600 dũng sĩ mang dao ngắn và gươm, hàng đầu 40 người khênh 20 tấm ván dầy bện rơm và trát bùn đất ướt. Sau 600 dũng sĩ là 1 vạn kỵ binh trang bị gươm, kiếm, đại đao, cung tên và tạc đạn. Tiếp theo kỵ binh là 4 vạn bộ binh trang bị cung tên, tạc đạn, gươm, đại đao. Cờ bay rợp trời đỏ rực. Trống lớn thúc vang như sấm, vũ khí khua lên không trung sáng loáng. Vua Quang Trung trực tiếp chỉ huy trận đánh Ngọc Hồi, vẫn mũ giáp chiến bào màu vàng nhưng cổ vua có thắt một chiếc khăn màu đỏ tỏ quyết tâm quyết chiến. Voi  của Quang Trung đứng sau 600 dũng sĩ. Lá cờ đỏ lớn in hình tròn màu vàng có chữ “SOÁI” tung bay phần phần trên con voi và trên lọng vàng như vẫy gọi ba quân xông lên chiến đấu, làm họ vững tin vào thắng lợi bởi họ được hoàng đế bách chiến bách thắng trực tiếp chỉ huy. Đất Ngọc Hồi Thường Tín sắp nổ ra một cuộc giao tranh khốc liệt. Trong thành, đề đốc Hứa Thế Hanh mở toang cổng thành phía Nam, kéo theo các tùy tướng Thặng Duy Thăng, Khánh Thành, Trương Triều Long, Lý Hóa Long và 7 vạn quân ra tiếp chiến, đi đầu là 2 vạn kỵ binh, theo sau là 5 vạn bộ binh ào ào lao ra như thác dổ. Cờ vàng bay phấp phới, trống thúc liên hồi dồn dập vang trời đất hòa với tiếng reo hò man rợ của quân Thanh. Quân Thanh bắn tên và đạn súng hỏa mai vào quân Tây Sơn. Quân Tây Sơn trên mình voi nã đại bác xuống quân Thanh. Hàng nghìn kỵ binh Thanh ngã ngựa hoặc bị đạn đại bác xé xác. Khi xáp lại gần nhau, ngựa quân Thanh gặp voi hoảng sợ kêu lên the thé ghê rợn và quay đầu chạy trở lại xéo lên bộ binh phía sau. Phút chốc, thế trận quân Thanh tan vỡ. Bộ binh theo kỵ binh chạy vào đồn, đóng cửa, dùng cung tên, súng hỏa mai  bắn như mưa  vào quân Tây Sơn.

Quang Trung ra lệnh cho 50 thớt voi rẽ ra hướng Đông, 50 con rẽ ra hướng Tây của đồn, cho 40 dũng sĩ, hai người khênh một tấm ván cao hơn đầu người, ván dày, mặt trước trát rơm đất ướt đi sát nhau ghép thành một tấm tường thành che tên đạn. Đi theo sau là 600 dũng sĩ cầm búa nặng dao lớn để phá cổng thành. Theo sau các dũng sĩ là kỵ binh và bộ binh ào ào tiến vào cửa đồn. Quân Thanh bắn tên và đạn súng hỏa mai như mưa nhưng bị những tấm “giáp” ván vô hiệu hóa. 600 dũng sĩ xáp lại, ném ván xuống, phá tan cổng thành và xông vào chém giết, kỵ binh, bộ binh Tây Sơn cũng ào ào lao vào và tung hoành giết giặc, ném tạc đạn, súng phun lửa phun vào thiêu đốt những khối quân Thanh đang bất lực. Quân Thanh chồng chất lên nhau mà chết. Lính giặc còn lại mở hết cửa Đông, cửa Tây, cửa Bắc để chạy. Nhưng cửa Đông và Tây bị mỗi cửa 50 con voi lao vào dày xéo, các pháo thủ trên mình voi ném tạc đạn, nã đại bác vào quân Thanh đang hỗn loạn. Xác quân Thanh bị thiêu cháy hoặc bị đại bác xé tan bay lên trời. 1 vạn quân Thanh chạy ra cửa Bắc. Chạy đến Yên Duyên bị một cánh quân Tây Sơn mai phục đánh giết, số còn lại chạy về Đầm Mực bị đạo tượng binh của đô đốc Đặng Xuân Bảo đánh giết không sót một tên nào. Đầm Mực trở thành cái đầm đẫm máu quân giặc. 7 vạn quân giặc bỏ xác ở Ngọc Hồi và các vùng lân cận cùng với phó soái cuộc viễn chinh đề đốc Hứa Thế Hanh, các tùy tướng tổng binh Thượng Duy Thăng, Trương Triều Long, Lý Hóa Long và Khánh Thành. Một vùng Thường Tín chấn động, khói lửa cháy mấy ngày sau mới tắt.  

chuyquang-trung-2a-1642519847.jpg
Tranh minh họa: Vua Quang Trung đánh thành Thăng Long. Nguồn: Internet.

                                   

Đạo quân do đô đốc Đặng Tiến Đông chỉ huy từ Tam Điệp đi lên Sơn Tây. Mùa đông, cây cối rụng lá vàng đầy lối đi của 3 vạn quân, 50 thớt voi và 1000 kỵ binh. Đến Sơn Tây Đặng Tiến Đông mở mật thư của vua Quang Trung. Thư Viết: “Ta đã căn dặn đô đốc rồi nhưng ta dặn lại: Người phá tan 20 vạn quân của Tôn Sĩ Nghị không phải là đạo chủ lực của ta mà chính là đạo quân của Đô Đốc. Ta cho rằng Tôn Sĩ Nghị sẽ chỉ tập trung chú ý mặt trận Nam Thăng Long, nhất là đồn Ngọc Hồi. Cho nên đô đốc đánh đồn Khương Thượng hết sức bất ngờ bí mật. Sau đó đem quân đánh thẳng vào tổng hành dinh là cung Tây Long để Tôn Sĩ Nghị và 20 vạn quân khiếp sợ, hoảng loạn mà tự tan vỡ”.

Đọc xong thư, Đặng Tiến Đông đưa thư cho Bùi Hữu Hiếu. Bùi Hữu Hiếu đọc xong nói:

-Hoàng thượng tính toán như thần.

Đặng Tiến Đông cho toàn quân rẽ ngoặt đường về Thăng Long. Đặng Tiến Đông nói với Bùi Hữu Hiếu:

-Làm thế nào mà chúng ta đánh đồn Khương Thượng một cách bí mật được khi đồn này cách cung Tây Long có 8 dặm theo đường chim bay?

Bùi Hữu Hiếu nói:

-Mạt tướng có ý này có thể giữ bí mật được trận đánh.

-Tướng quân có kế gì hay?

-Trước hết, bí mật đột nhập vào đồn và mở cửa để toàn quân lặng lẽ xông vào, thứ hai không được dùng đại bác, chỉ được dùng súng phun lửa, gươm, dáo, cung tên.

Đặng Tiến Đông gật gù:

-Cách này được đấy.

Canh ba đêm mùng 4, quân Tây Sơn dừng cách đồn Khương Thượng 4 dặm. Đặng Tiến Đông cho 100 lính bí mật lại gần đồn mai phục. Một tốp 20 lính Thanh đi tuần ra. 100 lính Tây Sơn bất ngờ xông ra khống chế, dùng khăn tẩm thuốc mê bịt miệng rồi lôi vào chỗ vắng thay trang phục cho 20 lính Việt. 20 lính Tây Sơn mặc quân phục Thanh như là đi tuần về gõ cổng đồn. Lính canh mơ ngủ thấy tốp lính mặc quân phục Thanh liền mở cổng, cổng bật ra, lập tức lính gác bị giết. Một phát tên lửa bắn lên trời, 3 vạn bộ binh, kỵ binh và tượng binh xông vào chém giết 5 vạn lính Thanh còn đang ngủ, còn hai vạn quân thì bao vây bên ngoài, không để một tên nào chạy thoát. Dao, búa, gươm, dáo quân Tây Sơn bổ vào quân Thanh như bổ chuối, ống phun lửa cũng ra sức thiêu đốt quân Thanh, tượng binh xông vào dẫm đạp hoặc dùng vòi cuốn quân Thanh lên và đập chết. Xác quân Thanh chất chồng như núi, máu đổ như nước sông. 5 vạn quân bị vây bọc và bị tiêu diệt, không một tên nào chạy thoát.

Sầm Nghi Đống thức dậy, thấy đã bị quân Tây Sơn bao vậy bốn mặt, quân sĩ chết quá nửa thì kêu lên:

-Trời sao hại ta thế này?

Sầm Nghi Đống lùi về gò cao giữa đồn và rút gươm tự sát. 100 vệ sĩ và gia tướng cũng tự sát chết theo chủ tướng.

Đặng Tiến Đông ra lệnh:

-Tướng quân Bùi Hữu Hiếu:

-Có mạt tướng

-Tướng quân đem 1 vạn quân đánh đồn Nam Đồng. Trời đã sáng rồi, ta đem 3 vạn quân bất ngờ tiến đánh cung Tây Long, tổng hành dinh của Tôn Sĩ Nghị theo lệnh hoàng thượng.

-Mạt tướng tuân lệnh.

Bùi Hữu Hiếu đánh đồn Nam Đồng cũng là đồn bảo vệ phía Tây cung Tây Long. Đặng Tiến Đông đem 50 thớt voi, 1 vạn kỵ binh và 3 vạn bộ binh tiến về cung Tây Long như vũ bảo.

*         *

*

Lại nói ngày mùng 4 tháng Giêng năm 1789, Tôn Sĩ Nghị được tin đại quân vua Quang Trung đã tiêu diệt tất cả các đồn Gián Khẩu, Nguyệt Quyết, Nhật Tảo, Hà Hồi và đang tiến đánh đồn Ngọc Hồi, chủ soái 30 vạn quân Thanh ra lệnh báo động cho 10 vạn quân bờ Nam và 10 vạn quân bờ Bắc sông Hồng trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Bản thân Tôn Sĩ Nghị cho rằng hệ thống phòng thủ Nam Thăng Long, đồn Ngọc Hồi là quan trọng nhất, nhưng Nghị cho rằng Ngọc Hồi có một lực lượng rất mạnh với 7 vạn quân tinh nhuệ, có tới 5 tướng lĩnh cấp cao và tài giỏi về quân sự của nhà Thanh, đã từng trải nhiều trận đánh và nhiều kinh nghiệm chiến đấu. Vả lại vua Quang Trung cũng chỉ có 5 vạn quân đánh Ngọc Hồi nên cũng không đáng sợ. Dù sao, Tôn Sĩ Nghị cũng hết sức tập trung theo dõi trận đánh Ngọc Hồi để biết diễn biến mà đối phó.

Sáng ngày mùng 5, thám mã về báo:

-Dạ bẩm chủ soái, quân Tây Sơn đã bao vây đồn Ngọc Hồi.

-Đã tấn công chưa?

-Dạ bẩm chưa?

Lại có thám mã về báo:

-Dạ bẩm chủ soái, quân Tây Sơn đã tấn công Ngọc Hồi.

Tôn Sĩ  Nghị hỏi:

-Ai chỉ huy quân Tây Sơn tấn công?

-Dạ, chính vua Quang Trung Nguyễn Huệ ạ.

Tôn Sĩ Nghị nói với Trần Nguyên Nhiếp:

-Vậy là Nguyễn Huệ coi Ngọc Hồi là trận quyết định để mở cửa vào Thăng Long.

Trần Nguyên Nhiếp nói:

-Chủ soái nói phải lắm. Chủ soái, nên tập trung theo dõi mặt trận  quan trọng bậc nhất này.

Đang khi đó một tùy tướng hốt hoảng chạy vào báo:

-Dạ bẩm chủ soái, hàng vạn tượng binh, kỵ binh và bộ binh Tây Sơn đã tiến sát và chuẩn bị bao vây cung Tây Long. Tình hình vô cùng nguy cấp, mong chủ soái rút khỏi cung ngay thì mới thoát ạ.

Tôn Sĩ Nghị hoảng hốt:

Hả, chúng nó từ trên trời rơi xuống à? Sầm Nghi Đống đâu?

-Dạ, đồn Khương Thượng đã bị tiêu diệt, 5 vạn quân ta đã tử trận, Sầm Nghi Đống đã tự sát chết ạ.

Tôn Sĩ Nghị  hoảng loạn thực sự:

-Rút ngay, nếu không sẽ như Sầm Nghi Đống. Nhanh.

Tôn Sĩ Nghị chỉ kịp vơ túi ấn tín, sắc phong trên bàn, không kịp mặc giáp chạy ra cửa, lên ngựa cùng Trần Nguyên Nhiếp chạy qua cầu phao sang bờ Bắc và nhằm hướng Bắc mà chạy. Quân Thanh nhận ra chủ soái bỏ chạy liền hô lớn:

-Quân ta đã đại bại, chủ tướng bỏ chạy rồi.

-Quân Tây Sơn đang tràn vào Thăng Long và giết hàng vạn quân ta rồi.

-Tri Phủ Sầm Nghi Đống tự sát rồi.

-Chạy thôi, nếu không sẽ chết, quân Tây Sơn đang vào Thăng Long chém giết.

Cứ như vậy, quân Thanh truyền cho nhau nỗi kinh hoàng đang ập đến. 10 vạn quân Thanh bên bờ Nam tranh nhau chạy qua cầu phao, cầu tắc nghẽn và gãy đoạn giữa chìm xuống sông. Hàng vạn quân Thanh rơi xuống sông chết đuối làm nước sông Hồng tắc nghẽn không chảy được nữa. Số còn lại chạy qua cầu đoạn bờ Nam, còn ra giữa sông thì họ đạp lên đầu lên xác của đồng đội mà chạy. Số khác thì liều chết lao xuống sông mà bơi và chết đuối vô kể, xác đặc cả dòng sông kéo dài hàng mấy dặm. 10 vạn quân bên bờ Bắc cũng chen chúc dày đạp lên nhau mà chết, chân người sống dẫm đạp lên xác chết mà chạy. Tiếng kêu khóc, la hét vang động trời sông Hồng. Bụi cuốn, gió tung, người gục xuống, người chạy. Kỵ binh chạy bằng ngựa dày đạp lên bộ binh mà chạy. Có những con ngựa vô chủ cũng lồng lên chạy theo người, miệng phát ra những tiếng kêu thảm thiết. Trong lịch sử chiến tranh, chưa có cuộc rút lui nào hỗn loạn, tự dẫm đạp lên nhau mà chết hàng vạn như cuộc đại tháo chạy của quân Thanh năm 1789 khi rút chạy khỏi Thăng Long.

Lê Chiêu Thống được tin quân Thanh vỡ trận, Tôn Sĩ Nghị đã tháo chạy về nước liền cùng hoàng gia chạy ra cầu phao để sang bờ Bắc, nhưng cầu phao đã gãy, xác giặc Thanh làm tắc nghẽn sông Hồng. Lê Chiêu Thống dẫn gia đình chạy dọc bờ sông tới bến Nghi Tàm cướp được một thuyền đánh cá sang được bờ Bắc, chạy sang Trung Quốc lưu vong và vùi xác nơi xứ người. Cuộc đời những tên bán nước cuối cùng thật chẳng ra sao. Em Lê Chiêu Thống là Lê Duy Chỉ đóng ở Yên Hòa, Yên Phụ bỏ chạy lên Tuyên Quang.

Hơn chục vạn quân Thanh từ Thăng Long chạy về nước, khi qua con đường Bắc Giang, Lạng Sơn bị quân của đô đốc Nguyễn Văn Tuyết, Nguyễn Văn Lộc chặn đánh. 20 vạn quân này chỉ còn 50 tên chạy được qua biên giới. Đạo quân Vân Nam-Quý Châu do Ô Đại Kinh chỉ huy đóng ở Sơn Tây nhờ tướng Việt cần vương Hoàng Văn Đồng dẫn đường chạy thoát về Trung Hoa.

Tôn Sĩ Nghị và Trần Nguyên Nhiếp chạy quanh co lạc lối, ném cả kỳ bài, sắc thư, ấn tín chạy 7 ngày đêm đói khát mới qua được ải Nam Quan.

Chiều mùng 5 Tết, hoàng đế Quang Trung cùng các tướng Ngô Văn Sở, Vũ Văn Dũng, Đặng Xuân Bảo, Trần Văn Kỷ… cùng đại quân tiến vào Thăng Long. Bách tính Thăng Long được giải phóng vui mừng hân hoan ra đón dọc đường từ Thường Tín đến hoàng thành đông như nêm cối. Đi đầu đại quân là đội tượng binh với những con voi như những trái núi di động, theo sau là kỵ binh. Tiếp theo sau kỵ binh là voi của vua Quang Trung. Áo giáp, áo chiến bào của vua màu vàng, chiếc khăn màu đỏ thắt ở cổ bây giờ tất cả biến thành màu đen của khói súng. Chỉ còn là cờ là màu đỏ tươi cùng với hàng vạn lá cờ đỏ của quân Tây Sơn rợp trời Thăng Long. Sau voi của vua Quang Trung là gần 5 vạn bộ binh, quân phục cũng đen xạm màu thuốc súng. Họ đi như những thiên thần giải phóng. Trong cuộc chiến đấu chống quân thù xâm lược, khoảng 2 vạn chiến sĩ Tây Sơn đã anh dũng hy sinh trên chiến trường vì độc lập của tổ quốc. Nhìn vua Quang Trung quần áo xạm đen, khuôn mặt đế vương vốn rực rỡ bây giờ cũng xạm đen vì khói súng, bách tính Thăng Long không cầm được nước mắt. Chỉ 5 ngày, 30 vạn quân Thanh xâm lược tan xác. Thật là một trong những võ công bậc nhất muôn đời của Đại Việt.

Thăng Long, một lần nữa lại ca lên Khúc Ca Khải Hoàn.

Hết tập III
(Còn nữa - Đón đọc tiếp Tập IV)