I
Trong tổng hành dinh ở thành Gia Định, một ngày tháng 7 năm 1792, Nguyễn PhúcÁnh ngồi uống rượu và nghĩ lại chặng đường bôn ba chạy trốn quân Tây Sơn khắp Gia Định, khắp biển đảo miền Nam, kể cả phiêu bạt sang Xiêm La. Suốt trên con đường đầy gian nan, nguy hiểm, nếm mật nằm gai để phục thù Tây Sơn, để khôi phục lại giang sơn họ Nguyễn Phúc, ngoài chí kiên cường không bao giờ nhụt, Nguyễn Phúc Ánh cho rằng mình đã gặp may mắn quá nhiều.
Trong ánh sáng của những ngọn nến bập bùng, Nguyễn Phúc Ánh lại cạn một ly nữa và hồi tưởng lại những sự may mắn hiếm có. Cái may mắn đầu tiên là khi còn ở Phú Xuân, Nguyễn Phúc Luân là cha Nguyễn Phúc Ánh là thế tử, con trai thứ hai của Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát. Năm 1638, Nguyễn Phúc Luân bị quyền thần Trương Phúc Loan giết chết để Loan đưa em Nguyễn Phúc Luân là Nguyễn Phúc Thuần mới 12 tuổi lên ngôi chúa để Loan dễ lộng quyền. Vậy mà khi đó, Trương Phúc Loan đã không giết Nguyễn Phúc Ánh theo phương châm tàn bạo là “Nhổ cỏ nhổ tận gốc”. Thật là may mắn. Nếu không làm sao bây giờ Ánh còn trên cõi đòi này. Nguyễn Phúc Ánh lại cạn một ly nữa và suy tư tiếp. May mắn tiếp theo là năm 1777, khi bị Tây Sơn đánh bại, Thái Thượng Vương Nguyễn Phúc Thuần và chúa Nguyễn Phúc Dương bị bắt, bị hành hình ở Gia Định cùng 18 tướng lĩnh thì Nguyễn Phúc Ánh chạy thoát trong sự truy lùng gắt gao của quân Tây Sơn. Có lần ở vùng biển Côn Lôn, nhiều chiến thuyền do phò mã Tây Sơn là Trương Văn Đa truy đuổi chỉ cách thuyền Nguyễn Phúc Ánh trong gang tấc, Nguyễn Phúc Ánh sắp bị bắt thì bỗng nhiên một trận giông tố nổi lên dữ dội. Trương Văn Đa phải kết thuyền lại để chống chọi, nhờ vậy mà Nguyễn Phúc Ánh lại thoát. May mắn lần nữa là trong trận Rạch Gầm-Xoài Muốt năm 1785, chỉ một ngày, Nguyễn Huệ đã dụ được 300 chiến thuyền, 3 vạn thủy binh Xiêm La và 4000 quân Nguyễn vào trận địa mai phục ở Rạch Gầm-Xoài Muốt trên sông Mỹ Tho, Tiền Giang và tiêu diệt hết. Hai tướng Xiêm La là Chiêu Tăng và Chiêu Sương cùng Nguyễn Phúc Ánh chạy thoát sang Chân Lạp rồi sang Xiêm La.[1] Nhà Tây Sơn là kẻ thù không đội trời chung với Ánh nhưng trong hành động, nhà Tây Sơn đã có nhiều sơ hở tạo may mắn cho Ánh. Ví dụ như Nguyễn Lữ được Nguyễn Nhạc phân công cai trị miền đất Gia Định nhưng phần lớn thời gian nằm ở Quy Nhơn và giao cho các tướng trông giữ. Khi Nguyễn Ánh tập trung lực lượng tiến về thì Nguyễn Lữ hoặc các tướng Tây Sơn lại bỏ chạy. Như cuộc tiến về chiếm lại Gia Định lần này, Nguyễn Phúc Ánh chỉ dùng một mẹo nhỏ, viết một bức thư đưa cho tướng của Nguyễn Lữ là Nguyễn Văn Tham coi Gia Định bàn về việc về hàng Nguyễn Phúc Ánh nhưng lại cố tình đưa cho Lữ để ly gián. Nguyễn Văn Tham cả sợ kéo quân về Trấn Biên để thanh minh với Nguyễn Lữ, Lữ lại nhầm là Tham đem quân về đánh nên bỏ chạy về Quy Nhơn và ốm chết. Nguyễn Phúc Ánh lại trở về Gia Định mà không cần giao chiến một trận nào.
Người mà Nguyễn Phúc Ánh sợ nhất là Nguyễn Huệ. Ánh cũng tự cho mình không phải là đối thủ của Nguyễn Huệ. Nguyễn Phúc Ánh đã ba lần bại dưới tay Nguyễn Huệ, mỗi một lần là mất hết lực lượng thủy binh và bộ binh nhiều công xây dựng, kể cả người nước ngoài như Pháp và Xiêm La. Nguyễn Huệ là người dùng binh như thần, bao giờ cũng phát hiện ra thiên thời, địa lợi, chỗ sơ hở của kẻ thù rất nhanh và đánh đòn bất ngờ thần tốc, khiến cho đối thủ choáng váng không kịp trở tay. Đó là con người bách chiến bách thắng. Có lẽ Đại Việt hiện nay không ai là đối thủ của Nguyễn Huệ. Cũng may mà Nguyễn Nhạc không cử Nguyễn Hụê phụ trách trong coi miền Gia Định. Có lẽ các lãnh tụ Tây Sơn không đánh giá hết tầm quan trọng của miền đất Gia Định hoặc không đánh giá được tài năng và ý chí quyết phục thù, quyết khôi phục lại cơ nghiệp chúa Nguyễn của Nguyễn Phúc Ánh. Chỉ mấy trận giao chiến quân sự ở Gia Định, còn nền tảng xã hội của chúa Nguyễn ở Gia Định hầu như còn nguyên vẹn, các hào trưởng, các đại địa chủ miền Gia Định lòng còn nhớ chúa Nguyễn mà không hướng về Tây Sơn. Tây Sơn không chú ý nên các chính sách cải cách của Quang Trung không tác động tới Gia Định. Cho nên mỗi lần bị Quang Trung đánh cho tơi tả, Nguyễn Phúc Ánh lại khôi phục lực lượng được rất nhanh. Đó là điều may mắn cơ bản cho Nguyễn Phúc Ánh. Vừa suy nghĩ và hồi tưởng, Ánh lại tự mình rót một ly nữa.
Cái điều may mắn nừa là từ năm 1785 đến nay, Nguyễn Huệ bận công việc ở Thuận Hóa và Bắc Hà, không còn thời gian mà quan tâm tới Gia Định. Năm 1786 Nguyễn Huệ bận đánh chiếm Thuận Hóa và Bắc Bố Chính, tháng 7 năm đó đem quân ra Thăng Long lật đổ nhà Trịnh. Lật đổ nhà Trịnh xong thì biết bao công việc bộn bề của một xã hội thời loạn lạc: Phải tổ chức Quốc tang cho vua Lê Hiển Tông, phải chọn vua mới kế vị ngai vàng là Lê Chiêu Thống, phải dẹp trộm cướp như ong ở Bắc Hà và Thăng Long. Việc chưa xong thì Nguyễn Nhạc kéo 1000 quân ra Thăng Long bắt Nguyễn Huệ về để kiềm chế thằng đệ không tuân thánh chỉ, dám tự vượt sông Linh Giang ra Bắc Hà. Quân Tây Sơn rút về, Thăng Long trống không.
Trịnh Bồng, giòng dõi nhà Trịnh quay về lại vào phủ chúa, muốn quay lại chế độ vua Lê -chúa Trịnh xưa, ức hiếp vua Lê Chiêu Thống. Nguyễn Huệ phải lệnh cho Nguyễn Hữu Chỉnh, trấn thủ Nghệ An đem quân ra Thăng Long dẹp Trịnh Bồng. Dẹp xong Trịnh Bồng, Nguyễn Hữu Chỉnh nắm quyền tối cao Bắc Hà, vốn nuôi mộng đế vương, Nguyễn Hữu Chỉnh lại làm phản nhà Tây Sơn, cùng Lê Chiêu Thống muốn tách Nghệ An ra khỏi sự kiểm soát của Tây Sơn. Nguyễn Huệ phải sai Vũ Văn Nhậm ra Bắc giết Chỉnh. Lê Chiêu Thống cả sợ, tự bỏ ngai vàng, đem hoàng gia lưu vong lên Kinh Bắc. Đến lượt Vũ Văn Nhậm làm phản Tây Sơn nhằm xưng vương xưng bá. Nguyễn Huệ tự mình bí mật đem quân ra Bắc, đi 10 ngày từ Phú Xuân ra Thăng Long, đang đêm vào phủ chúa đâm chết Vũ Văn Nhậm mà sáng hôm sau cả Thăng Long mới biết Bắc Bình Vương đang ở kinh thành. Rồi Huệ giao Bắc Hà cho Ngô Thì Nhậm và Ngô Văn Sở cai trị, có Lê Duy Cận, anh của công chúa Ngọc Hân làm giám quốc.
Trong khi Bắc Hà nhiều biến động thì mâu thuẫn trong nội bộ Tây Sơn bùng phát, đó là mâu thuẫn giữa Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ. Nhạc muốn kiềm chế Huệ, Huệ muốn thoát khỏi kiềm chế của Nhạc vì quan điểm hai người về cách nhìn nhận thời cuộc của đất nước không giống nhau. Nguyễn Nhạc quan niệm việc của Bắc Hà là việc của người khác, không liên quan đến Tây Sơn. Nguyễn Huệ thì cho rằng thiên hạ phải thống nhất từ Gia Định đến Lạng Sơn. Nguyễn Huệ biết Nguyễn Nhạc đã qua cái thời say sưa lý tưởng ban đầu của Tây Sơn khi khởi sự. Bây giờ Nhạc đã có lãnh địa từ Quảng Nam đến Bình Thuận là được, có thể “Lão giả an chi” mà hưởng lạc tuổi già. Nguyễn Huệ thấy rằng phải thoát khỏi sự kiềm chế của Nhạc mới có thể quyết định được những việc trọng đại của Tây Sơn, của đất nước. Năm 1787 Nguyễn Hụê đem quân vây thành Hoàng Đế (Trà Bàn) đánh Nguyễn Nhạc. Nguyễn Huệ nã pháo vào thành. Nhạc không chịu nổi lên mặt thành khóc và nói “Sao lại nồi da nấu thịt, xin đệ ngừng bắn. Ta hạ cấp độ chỉ là Tây Sơn Vương, còn đệ có thể lên ngôi hoàng đế. Ta chỉ giữ đất Quy Nhơn để thờ tổ tiên, còn toàn bộ lãnh thổ Đại Việt do đệ kiểm soát”. Cuộc xung đột Nhạc -Huệ năm 1787 làm tổn hại một phần rất lớn lực lượng Tây Sơn. Đó là điều may ngoài sức tưởng tượng của Nguyễn Phúc Ánh.
Ánh khoan khoái lại rót một ly nữa và suy nghĩ tiếp. Cái may mắn lớn nhất nữa là Nguyễn Huệ bây giờ đã biết Ánh là kẻ thù nguy hiểm nhất của Tây Sơn, đang chuẩn bị tiến quân vào Gia Định với một kế hoạch chu đáo đánh Nguyễn Phúc Ánh thì vua Lê Chiêu Thống sang Trung Quốc cầu viện nhà Mãn Thanh can thiệp vào Đại Việt. Vua Càn Long nhà Thanh cử 30 vạn quân do tổng đốc Lưỡng Quảng (Quảng Đông, Quảng Tây) là Tôn Sĩ Nghị làm Nam chinh Đại tướng quân tiến vào chiếm Thăng Long và một số vùng Bắc Hà cuối năm 1788. Tình thế buộc Nguyễn Huệ phải lên ngôi hoàng đế để hiệu lệnh cả nước đánh giặc.
Cuối 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế ở núi Bân, Phú Xuân, đế hiệu là Quang Trung và kéo 10 vạn quân ra Bắc. Chỉ 5 ngày quyết chiến, Quang Trung đã tiêu diệt 30 vạn quân Thanh ở Thăng Long và các nơi khác, buộc Tôn Sĩ Nghị vứt cả ấn tín, sắc thư của Càn Long ban mà chạy về nước. Chiến thắng của Quang Trung đã làm chấn động Trung Quốc và Đại Việt. Vua Càn Long khiếp sợ đến mức không dám huy động quân đội sang đánh báo thù, đành phải bang giao hữu hảo và tôn trọng Đại Việt, tôn trọng triều đại Tây Sơn của vua Quang Trung, mời phái đoàn nhà Tây Sơn sang dự lễ bát tuần thượng thọ của Càn Long, nghe nói cầm đầu phái đoàn đó là Quang Trung giả, Càn Long biết mà phải làm ngơ. Càn Long bỏ lệ cống người vàng của Đại Việt cho triều đình Trung Hoa có từ thời Minh theo yêu cầu của vua Quang Trung. Nghe nói Quang Trung còn sai Đại đô đốc Võ Văn Dũng cầm thư sang yêu cầu Càn Long cho lại đất Quảng Đông và Quảng Tây để đóng đô, cho một cô công chúa nhà Thanh về làm cung phi cho Nguyễn Huệ ở Phú Xuân. Vậy mà Càn Long cũng phải đồng ý, chuẩn bị cử hành long trọng lễ bàn giao đất Quảng Tây cho Đại Việt và lễ đưa rước công chúa Mãn Thanh sang Phú Xuân. Nghĩ tới đây, bỗng nhiên Nguyễn Phúc Ánh bàng hoàng lo sợ, chân tay bủn rủn. Quang Trung quả là một thiên tài quân sự, bách chiến bách thắng, một tướng lĩnh ghê gớm như vậy thì làm sao Ánh đương đầu nổi khi Nguyễn Huệ đánh Gia Định nay mai. Ánh lại uống thêm vài ly nữa để lấy lại khí phách. Ánh tự nhủ: Không sợ, không sợ, ta đã có tàu đồng súng lớn chuẩn bị mấy năm nay. Không sợ Nguyễn Huệ, không sợ…Đêm đó Ánh ngủ không say, chỉ mơ màng, đầu óc rất căng thẳng, một con người tự ví mình với Việt Vương Câu Tiễn, đủ tàn bạo, đủ sức nằm gai nếm mật để phục thù mà đêm nay bàng hoàng, thảng thốt…Nguyễn Phúc Ánh còn nhớ lại để đối phó với Nguyễn Huệ, từ năm 1788 khi về Gia Định, Ánh đã chuẩn bị được gì và đã làm được gì. Ánh đã mượn kỹ sư người Pháp thiết kế và xây dựng thành Gia Định kiến trúc kiểu vô băng của Pháp. Đã xây dựng củng cố hành chính cai trị trên toàn cõi Gia Định từ Trấn Biên đến Cà Mau, từ Trấn Biên đến Kiên Giang, đánh thuế má sưu dịch cực kỳ nặng nề lên đầu bách tính để có tiền xây dựng quân đội. Ánh ra sức đưa kỹ thuật, vũ khí chiến đấu của phương Tây vào xây dựng quân đội, đặc biệt xây dựng thủy quân. Trên các chiến thuyền đặt đại bác của Pháp có sức công phá mạnh hơn nhiều so với thủy binh Tây Sơn. Trong tổng hành dinh của Ánh có các sĩ quan người Pháp làm cố vấn, đặc biệt là cố đạo Bá Đa Lộc, người môi giới cho Ánh tiếp xúc mọi mặt với Phương Tây và Pháp.
Sáng hôm sau, Nguyễn Phúc Ánh dậy sớm, ăn sáng xong đang ngồi uống trà thì có tùy tướng vào báo:
-Dạ, bẩm chúa công có Giám mục Bá Đa Lộc muốn vào gặp.
-Mời vào.
-Dạ.
Bá Đa Lộc bước vào, đó là một cố đạo người Pháp cao lớn, mắt xanh, mũi dài, tóc xoăn màu vàng, nước da nâu xạm do sương gió nhiều ở châu Á. Nguyễn Phúc Ánh đứng dậy:
-Kính chào cha. Mời cha ngồi.
-Người đâu rót nước mời cha.
Sau một lượt trà, Nguyễn Phúc Ánh hỏi:
-Mới sáng sớm cha đã vào, chắc có việc quan trọng?
Bá Đa Lộc đáp:
-Quả là có việc gấp, cha vừa nhận được tin tức tình báo ở Phú Xuân đưa về. Quang Trung Nguyễn Huệ đã chuẩn bị xong lực lượng, sẽ tiến đánh Gia Định trong nay mai. Chúa công đã biết chưa?
-Thám mã của tại hạ từ Phú Xuân chưa thấy đưa tin tức về.
Bá Đa Lộc đưa ra một tờ giấy:
-Đây là bài hịch của Nguyễn Huệ gửi bách tính Quy Nhơn-Phú Yên trước khi tấn công.
Nguyễn Phúc Ánh cầm bài hịch và đọc. Bài Hịch viết: “Các ngươi lớn nhỏ từ hơn 20 năm nay sống nhờ vào ơn huệ của anh em ta. Đành rằng chúng ta đã gặt hái được những chiến thắng trong Nam ngoài Bắc trong thời kỳ này, quả đúng là nhờ vào lòng gắn bó của nhân dân hai xứ. Tại vùng đất này, ta đã tìm thấy được những người can đảm, những quan lại có khả năng xây dựng triều đình.
Quân ta đi đến đâu giặc tơi bời tan tác buộc phải chịu ách cúi đầu. Còn lũ nhơ bẩn của triều đình cũ, từ hơn 30 năm nay, ta chưa thấy chúng làm được việc gì ra hồn. Trăm trận ta đánh với chúng, quân chúng tan rã, tướng chúng bị tiêu diệt, vùng Gia Định tràn đầy xương cốt. Các ngươi đã từng chứng kiến hoặc giả thử chưa từng tận mắt thấy thì đã từng tai nghe những điều anh em trẫm đã làm. Còn tên Chủng (Nguyễn PhúcÁnh) tội nghiệp kia đã làm gì? Đã chạy trốn bên trời Tây.
Nay đức hoàng đế bào huynh của trẫm ra lệnh chuẩn bị một đạo quân thủy bộ uy dũng đánh tan chúng một cách dễ dàng như bẻ gẫy một khúc củi mục. Phần các ngươi đừng sợ bất cứ điều gì, hãy lắng tai mở mắt để tận tai nghe mắt thấy những điều anh em trẫm sắp làm. Các ngươi sẽ thấy từ Bình Cang đến tận Nha Trang sẽ thành bình địa, Phú Yên là bãi chiến trường và cuối cùng từ Bình Thuận đến Cam Bốt chỉ trong một trận đánh đất đai đó sẽ lại vào tay trẫm.
Các ngươi đừng vội tin vào những điều người ta nói về người Tây phương rằng chúng là giống người rất thần kỳ, mà hãy xem chúng như những xác chết trôi lềnh bềnh trên biển Bắc, cái giống người mắt xanh như đồ rắn lục, chẳng ghê gớm gì khi chúng nói về tàu đồng, trái phá đại bác.
10 tháng 7 năm Quang Trung thứ 5 (1792)”.
Nguyễn Phúc Ánh đọc xong, nét mặt tím tái không rõ do tức giận hay sợ hãi. Bá Đa Lộc nói:
-Trong cuộc tấn công này Quang Trung dùng tới 30 vạn quân. Chiến thuật là dùng thủy binh thuyền chiến bịt tất cả các cửa biển ở miền Nam mà chúa công có thể chạy thoát, một phần bộ binh bịt chặt biên giới giữa Gia Định và Chân Lạp không cho chúa công thoát sang Chân Lạp và Xiêm La, còn toàn bộ bộ binh tấn công Gia Định, truy kích kiên quyết không cho chúa công chạy thoát.
Nguyễn Phúc Ánh cả sợ:
-Vậy thì làm thế nào thưa cha?
-Cha và mấy sĩ quan người Pháp cũng chưa biết đối phó thế nào? Nguyễn Huệ quả là một tướng ghê gớm dễ sợ, bách chiến bách thằng. Chỉ 5 ngày mà ông ta tiêu diệt 30 vạn quân Thanh khiến vua Càn Long còn khiếp đảm. Chúng ta không phải là đối thủ của ông ta. Hay là trước khi quân Tây Sơn đến, chúa công đem toàn bộ lực lượng rút ra hải đảo, chờ thời cơ khi quân Tây Sơn rút thì quay về cũng chưa muộn.
Nguyễn Phúc Ánh thở dài đáp:
-Không được thưa cha, công lao chuẩn bị ba năm nay sao chưa đánh đã chạy.
Cả Bá Đa Lộc và Nguyễn Phúc Ánh im lặng ngồi uống nước. Canh giờ trôi qua mà hai người không tìm ra được giải pháp gì đối phó với cuộc tấn công sắp tới của Quang Trung.
Chợt có tùy tướng vào báo:
-Dạ bẩm chúa công, có thám mã từ Phú Xuân về cấp báo;
-Cho vào ngay.
-Dạ.
Thám mã vào thi lễ:
-Kính chào chúa công, chào cha.
Nguyễn Phúc Ánh vội hỏi:
-Tin tức gì nói mau. Nguyễn Hụê xuất quân đánh Gia Định à?
-Dạ, Quang Trung không thể đánh Gia Định được nữa.
-Vì sao vây?
-Dạ, mấy ngày trước Quang Trung đang ngồi, bỗng nhiên tối xầm mặt mày ngã ngất xỉu, chỉ tỉnh lại được mấy hôm rồi đột ngột qua đời giữa tuổi 40 ngày 29 tháng 7 năm 1792 tại điện Trung Hòa Phú Xuân rồi ạ.
Nguyễn Phúc Ánh nghi ngờ không tin vào tai mình:
-Tin có chính xác không?
-Dạ, chính xác ạ. Lúc mạt tướng về đây, triều đình Phú Xuân đã thông báo cho toàn Đại Việt để cử hành Quốc tang khắp nơi ạ.
Nguyễn Phúc Ánh mừng reo lên:
-Lạy đức chúa tôi, lạy tổ tiên, lạy trời, lạy phật, ta lại gặp may rồi, cái may này là cái may lớn nhất trong cuộc đời ta. Người đâu.
-Dạ, chúa công.
-Đem chai rượu sâm panh ra đây ta uống mừng với cha.
-Dạ.
Rượu được rót ra hai cốc, màu rượu đỏ hồng như máu loãng. Bá Đa Lộc và Nguyễn Phúc Ánh nâng ly. Bá Đa lộc nói:
-Xin chúc mừng chúa công, đây đúng là cái may lớn nhất trong cuộc đời gian truân nhưng cũng đầy may mắn của chúa công.
-Đa tạ cha, Nguyễn Huệ chết rồi, không chỉ ta thoát được cuộc tấn công dữ dội thần tốc của ông ta hiện tại mà trong tương lai ta sẽ lật đổ được nhà Tây Sơn, khôi phục lại cơ đồ nhà Nguyễn ta. Bởi vì Nguyễn Huệ mất đi, Tây Sơn không còn ai là trụ cột nữa, không còn ai là tướng bách chiến bách thắng nữa. Ta không còn ai là đối thủ nữa. Ha!ha!ha!
II
Sớm hôm sau trong đại sảnh của thành Gia Định, Nguyễn Phúc Ánh thông báo cho các tướng lĩnh:
-Báo cho các tướng quân một tin mừng, Quang Trung Nguyễn Huệ đã qua đời đột ngột hôm 29 tháng 7 vừa qua, người kế vị là Nguyễn Quang Toản, đế hiệu Cảnh Thịnh hoàng đế mới 9 tuổi.
Các tướng Gia Định xôn xao:
-Hả, sao đột ngột vậy?
-Cha Bá Đa Lộc nói rằng Nguyễn Huệ mất vì xuất huyết não do làm việc căng thẳng lâu ngày.
Các tướng Gia Định mừng rỡ:
-Xin chúc mừng chúa công.
Nguyễn Phúc Ánh nói:
-Cây trụ cột nhà Tây Sơn đã đổ, Tây Sơn không còn tài năng quân sự ghê gớm, bách chiến bách thắng như Nguyễn Huệ nữa, việc chúng ta lật đổ nhà Tây Sơn chỉ trong sớm tối. Các tướng quân hãy tin tưởng và nổ lực lên, không còn nỗi ám ảnh sợ hãi vua Quang Trung mỗi khi ra trận nữa.
Các tướng đồng thanh:
-Chúng mạt tướng sẽ hết lòng vì chúa công, không còn nỗi sợ hãi vua Quang Trung nữa.
Nguyễn Phúc Ánh nói tiếp:
-Trước mắt chúng ta phải đánh chiếm từ Bình Thuận đến Quy Nhơn để mở rộng lãnh thổ, để bảo vệ Gia Định từ xa, để mở đường tiến đến Phú Xuân. Tướng Tôn Thất Hiệp nghe lệnh:
-Dạ. Có mạt tướng:
-Tướng quân cùng với tướng Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Huỳnh Đức đem 2 vạn bộ binh tấn công Bình Thuận.
-Dạ, chúng mạt tướng tuân lệnh.
-Các tướng Võ Tánh, Nguyễn Văn Trương nghe lệnh:
-Dạ, có mạt tướng.
-Hai tướng quân theo ta đi đường thủy dẫn 100 chiến thuyền đánh vào Nha Trang, đánh vào Diên Khánh.
-Dạ, chúng mạt tướng tuân lệnh.
Ngày hôm sau, thủy, bộ quân Gia Định xuất phát. 100 chiến thuyền Nguyễn Phúc Ánh gặp gió nồm rẽ sóng tiến ào ạt ra biển miền Trung, cờ vàng bay phấp phới, đại bác trên các chiến thuyền theo kiểu Pháp vươn nòng đen sì sẵn sàng nhả đạn. Đến Nha Trang, Ánh cho chiến thuyền tiến vào bến Trường Cá, thuộc làng Phương Mai. Trên lâu thuyền cao nhất chỉ huy, Ánh đã trông thấy chiến thuyền Tây Sơn dàn hàng ngang, cờ đỏ bay pháp phới, Trên các chiến thuyền thấp thoáng thủy binh Tây Sơn quân phục màu nâu, đầu chít khăn đỏ. Tùy tướng dẫn đường nói với Ánh:
-Dạ bẩm chúa công, chiến thuyền Tây Sơn chặn phía trước.
-Số lượng bao nhiêu?
-Khoảng 80 chiếc.
-Ra lệnh của ta xông lên
-Dạ.
Sau mệnh lệnh, 100 chiến thuyên Nguyễn Phúc Ánh rẽ sóng lao vào trận địa Tây Sơn. Khi vừa tầm bắn, Nguyễn Phúc Ánh ra lệnh:
-Bắn.
Ánh dứt lời, tiếng nổ của đại bác trên các chiến thuyền vang lên như sấm, đạn đỏ rực xé gió bay vào các chiến thuyền Tây Sơn. Các chiến thuyền Tây Sơn đánh trả dữ dội. Đại bác Tây Sơn cũng bắn như mưa vào chiến thuyền Gia Định, hai chiến thuyền của Ánh bốc cháy. Súng nổ vang trời, khói lửa mịt mù trời biển. Một canh giờ bắn nhau, xác người và thuyền hai bên ngổn ngang, máu loang đỏ nước, lửa làm cho nước như sôi lên. Quân Tây Sơn núng thế, tháo chạy. Nguyễn Phúc Ánh chiếm được Diên Khánh. Nguyễn Phúc Ánh ra lệnh:
-Tiến đánh Phú Yên.
Quân Gia Định chưa kịp bao vây Phú Yên thì tướng Tây Sơn giữ thành đã hoảng sợ mở cửa thành phía sau tháo chạy. Nguyễn Phúc Ánh chiếm được thêm Phú Yên. Nguyễn Phúc Ánh ra lệnh:
-Tiến đánh thành Quy Nhơn.
Quân Gia Định ào ạt tiến về thành Quy Nhơn. Tây Sơn Vương Nguyễn Nhạc gọi:
-Người đâu.
-Dạ.
-Cho gọi Nguyễn Bảo tới đây.
-Dạ.
Nguyễn Bảo vào:
-Phụ thân cho gọi Bảo nhi.
Nguyễn Nhạc nói:
-Nay các tướng đã theo về Phú Xuân hết kể từ khi ta nhường ngôi cho Quang Trung, hạ mình làm Tây Sơn Vương. Con chịu khó đem quân ra chống giặc Nguyễn Phúc Ánh.
-Bảo nhi tuân lệnh.
Nguyễn Bảo đem 1 vạn quân còn lại trong thành ra dàn trận. Nguyễn Phúc Ánh ra lệnh:
-Ta đánh mặt trước, tướng quân Tôn Thất Hội, Nguyễn Văn Thành vòng đánh tập hậu phía sau, quân Tây Sơn sẽ đại bại.
-Mạt tướng tuân lệnh.
Nguyễn Bảo đang chống cự mặt trước, hướng tất cả súng hỏa mai, cung tên bắn loạn xạ vào quân Gia Định. Thốt nhiên, phía sau quân Tây Sơn có tiếng reo hò và súng nổ, hàng nhìn quân Tây Sơn gục xuống, máu đổ chan hòa. Nguyễn Bảo mở đường máu chạy về thành Quy Nhơn. Nguyễn Phúc Ánh ra lệnh:
-Tiến lên bao vây công phá thành Quy Nhơn.
-Chợt có thám mã về báo:
-Dạ bẩm chúa công, ta lấy thêm được Bình Thuận rồi ạ. Tướng Tây Sơn Nguyễn Quang Huy sợ quân ta từ Diên Khánh, từ Trấn Biên bao vây tấn công đã bỏ thành trì tháo chạy.
Nguyễn Phúc Ánh vui mừng nói:
-Tốt lắm, bộ binh ta lấy thêm được Bình Thuận. Hãy lấy Quy Nhơn, sau đó tiến ra lấy Quảng Ngãi, Quảng Nam và Phú Xuân.
-Chúng mạt tướng tuân lệnh chúa công.
Quân Gia Định say trong chiến thắng đánh thành dữ dội, tên đạn bắn như mưa. Vài ngày sau Nguyễn Nhạc bảo một tùy tướng:
-Tướng quân cố vượt ra khỏi thành đến Phú Xuân xin Cảnh Thịnh chi viện, nếu không Quy Nhơn nguy mất.
-Mạt tướng tuân lệnh.
Tại Phú Xuân, Cảnh Thịnh đang thiết triều ở điện Trung Hòa. Quan nội thị vào báo:
-Dạ bẩm hoàng thượng, có tùy tướng của Tây Sơn Vương từ Quy Nhơn ra xin gặp.
-Cho vào.
-Dạ.
Tùy tưởng của Nguyễn Nhạc vào quỳ hành lễ:
-Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.
-Miễn lễ.
-Đa tạ hoang thượng.
-Có việc gì, nói đi.
-Dạ bẩm hoàng thượng, thủy binh và bộ binh của Nguyễn Phúc Ánh từ Gia Định đã đánh chiếm Bình Thuận, Diên Khánh, Phú Yên và đang vây đánh thành Quy Nhơn, Quy Nhơn rất nguy cấp. Tây Sơn Vương cử mạt tướng ra xin hoàng thượng cho quân cứu viện, nếu không Quy Nhơn nguy mất.
Cảnh Thịnh hỏi quyền thần Bùi Đắc Tuyên:
-Mất ba phủ Bình Thuận, Diên Khánh, Phú Yên, Quy Nhơn lại nguy kịch, sao thám mã không về báo?
Bùi Đắc Tuyên lúng túng:
-Dạ, thám mã có báo nhưng thần quên, chưa bẩm báo với hoàng thượng.
-Việc trọng đại như vậy mà Thái sư quên sao? Bây giờ Thái sư xử lý thế nào?
Bùi Đắc Tuyên thản nhiên:
-Thưa hoàng thượng, môi hở răng lạnh, phải cứu Quy Nhơn thôi ạ. Các tướng sau đây nghe lệnh:
-Thái úy Phạm Công Hưng, Hồ Giá, Nguyễn Văn Huấn, Đại tư lệ Lê Trung, Đại tư mã Ngô Văn Sở.
-Có chúng mạt tướng.
-Các tướng quân đem quân thủy bộ vào cứu Quy Nhơn. Riêng tướng Phạm Công Hưng trước khi xuất phát đến gặp ta.
-Mạt tướng tuân lệnh.
Khi triều thần về hết, còn lại Phạm Công Hưng và Bùi Đắc Tuyên, Phạm Công Hưng hỏi:
-Thái sư có gì dặn dò?
Bùi Thái sư ghé vào tai Hưng nói nhỏ:
-Cứ như thế, như thế…
Phạm Công Hưng nói:
-Mạt tướng tuân lệnh Thái sư.
Bốn tướng Tây sơn đem 2 vạn bộ binh, 8 thớt voi, 30 thuyền chiến, 1000 thủy binh chia làm hai đường thủy bộ vào cứu Quy Nhơn. Nguyễn Phúc Ánh đang ngồi trong tổng hành dinh, chợt có thám mã về báo:
-Dạ bẩm chúa công, quân Tây Sơn hai đạo thủy bộ đang tiến vào cứu Quy Nhơn.
Nguyễn Phúc Anh gọi:
-Người đâu.
-Dạ.
-Cho gọi quan coi lương thực và vũ khí vào đây.
-Dạ, tuân lệnh chúa công.
Quan coi lương thực và vũ khí bước vào:
-Dạ, chúa công cho gọi mạt tướng.
-Quân lương và vũ khí còn nhiều không?
-Dạ, bẩm chúa công sắp hết rồi ạ.
Nguyễn Phúc Ánh nói:
-Tướng quân ra gọi các tướng đang vây thành Quy Nhơn vào đây.
-Dạ, tuân lệnh.
Các tướng bước vào hành lễ. Nguyễn Phúc Ánh nói:
-Vũ khí, lương thực của ta sắp hết, quân cứu viện Tây Sơn sắp đến, quân trong thành đánh ra, quân ngoài thành đánh vào, ta sẽ thất thế. Ta ra lệnh tạm thời rút khỏi Quy Nhơn.
-Dạ, chúng mạt tướng tuân lệnh chúa công.
Quân Gia Định rút đi, Nguyễn Nhạc và Nguyễn Bảo vui mừng mở cửa đón quân Phú Xuân vào thành Quy Nhơn. Nguyễn Bảo nói:
-Xin chào các tướng quân, đa tạ các tướng quân đã cứu giúp.
Các tướng Phú Xuân chào Nguyễn Nhạc và Nguyễn Bảo vui vẻ, riêng Phạm Công Hưng không nói, mặt đanh như thép, theo kế sách của Bùi Đắc Tuyên nói:
-Nay theo lệnh của Thái sư và hoàng thượng, Phú Xuân sẽ quản lý thành Quy Nhơn, kho tàng của cải và quân lương, Tây Sơn Vương và gia đình phải di dời về Phù Ly. Hoang đế Cảnh Thịnh cho Nguyễn Bảo làm Hiếu công, ăn lộc huyện Phù Ly. Phải dời đi ngay tức khắc, ai trái lệnh chém không tha.
Các tướng Tây Sơn đi theo đều sửng sốt ngạc nhiên. Tây Sơn Vương Nguyễn Nhạc vốn đau ốm nhiều năm, uất hận quá kêu lên:
-Đệ Quang Trung hoàng đế ơi, có sống lại mà trông thấy cảnh này không. Ô hô!!!Ô hô!!!...
Kêu xong, Tây Sơn Vương vốn một thời là Thái đức Hoàng đế, Trung Ương hoàng đế tuôn ra hai bát máu và ngã vật xuống. Nguyễn Bảo và bà Trần hoàng hậu vội ôm lấy. Nguyễn Bảo gọi:
-Thái y đâu. Gọi thái y nhanh.
Thái y bước vào bắt mạch và nói:
-Tâu hoàng hậu, Tây Sơn Vương đã băng hà.
Trần hoàng hậu ngã vật xuống bất tỉnh.
Dưới gươm súng của quân Phú Xuân, Nguyễn Bảo đành phải đưa gia quyến, gia nhân, hộ giá xe quan tài Nguyễn Nhạc về huyện Phù Ly. Các đại thần của triều đình Nguyễn Nhạc xưa phần lớn về quê, một số ở lại phục vụ triều đình Phú Xuân nhưng sau cũng bị thay hết.
Thái đức hoàng đế Nguyễn Nhạc, người khởi xướng và là một trong nhân vật chủ chốt của phong trào nông dân Tây Sơn, sinh năm 1741 mất 1793, ở ngôi 16 năm (1778-1788), thọ 52 tuổi, an táng tại vùng núi Tây Sơn.
Nguyễn Bảo ở Phù Ly được gọi là “Tiểu triều”. Nguyễn Phúc Ánh hay tin liền cho người chiêu dụ Bảo về với Gia Định. Nguyễn Bảo còn do dự chưa quyết thì đã bị Nguyễn Quang Toản giết chết. Bà Trần hoàng hậu sau những biến cố đau thương, “nồi da nấu thịt” liền đem hai con nhỏ là Văn Đức, Văn Lương về quê, nói là gần mộ Nguyễn Nhạc cho tiện bề hương khói. Đây là bị kịch lần thứ ba của nhà Tây Sơn. Bi kịch lần thứ nhất là Nguyễn Huệ xung đột với Nguyễn Nhạc năm 1787, bi kịch lần thứ hai là Quang Trung mất năm 1792. Các bi kịch nội bộ này báo hiệu sự suy yếu của nhà Tây Sơn và sự sụp đổ là không thể tránh khỏi trước một kẻ thù là Nguyễn Phúc Ánh đang lớn mạnh, đầy thủ đoạn và quyết tâm lật đổ vương triều này.
IIITrưa một ngày mùa hè năm 1795, nắng rải như thiêu đốt xuống miền Trung. Trên con đường thiên lý, có hai võ tướng Tây Sơn đang phi ngựa từ Bắc vào Nam. Khi tới bờ Bắc sông Linh Giang, hai người xuống ngựa, nhìn dòng sông đang ào ạt đưa nước ra biển. Trời trong xanh, nắng chói chang, vài đám mây trôi lang thang vô định, nhìn ra thì đó là hai võ tướng nhà Tây Sơn, Đại đô đốc Võ Văn Dũng, người cao lớn, mặt uy nghi quắc thước, người kia là Đại đô đốc Bùi Hữu Hiếu thấp bé hơn một chút nhưng dáng vẻ khôi ngô lẫm liệt. Võ Văn Dũng rút bình nước bằng da trâu ra uống một hơi và đưa cho Bùi Hữu Hiếu:
-Đệ uống đi rồi ta vào Ba Đồn tìm Trần Văn Kỷ, vừa là để nghỉ ngơi, vừa là để tìm hiểu thêm xem tình hình triều đình thế nào mà quân sư bạc nhất của vua Quang Trung xưa lại bị quyền thần Bùi Đắc Tuyên cách hết chức vụ đày ra đây.
Hai người dắt ngựa đi bộ vào Ba Đồn, đồn trại của quân Tây Sơn ở bờ Bắc sông Linh Giang. Hai người gặp vài người lính ngoài doanh trại. Võ Văn Dũng hỏi một người:
-Chào các hạ, cho hỏi thăm, có biết đại nhân Trần Văn Kỷ mới từ Phú Xuân ra đây ở đâu không?
-Dạ, chào hai tướng quân, tiểu nhân biết, xin đi theo.
Người lính đi trước dẫn đường, qua cổng gác, qua tường thành, qua trại quân rồi đi vào một căn phòng phía sau thành. Người lính gõ cửa, cửa mở, Trần Văn Kỷ hiện ra. Người lính nói:
-Bẩm đại nhân, có hai tướng quân tìm gặp ngài.
Trần Văn Kỷ đi ra, nhận ra Võ Văn Dũng và Bùi Hữu Hiếu, Trần Văn Kỷ reo lên mừng rỡ:
-Cơn gió lành nào đưa hai tướng quân tới đây thế này? Hân hạnh, hân hạnh.
Võ Văn Dũng và Bùi Hữu Hiếu nhìn Trần Văn Kỷ thấy có vẻ tiều tụy trong bộ quân phục màu nâu lính tráng. Hai người chào:
-Xin kính chào quân sư. Quân sư vẫn khỏe chứ?
-Đa tạ hai tướng quân, tại hạ vẫn khỏe, vẫn khỏe. Thôi xuống nhà bếp chúng ta ăn cơm trưa rồi hãy về phòng, cũng đã đến bữa rồi.
Hai người theo chân Trần Văn Kỷ xuống nhà ăn của lính, các bàn ăn toàn lính tráng. Trần Văn Kỷ chọn một bàn ở góc khuất rồi mời Võ Văn Dũng và Bùi Hữu Hiếu ngồi. Trần Văn Kỷ gọi người hầu bàn:
-Hôm nay ta có khách, cho thêm hai suất cơm, hai con gà, ba chai rượu. Nhanh lên.
-Dạ.
Ăn xong Trần văn Kỷ cầm thêm ba chai rượu, hai bình nước rồi dẫn Võ Văn Dũng và Bùi Hữu Hiếu về phòng. Hoàng hôn đang xuống và đêm đến dần. Ba người đóng cửa ngồi quanh một chiếc bàn gỗ xám mốc, ngọn đèn dầu lạc leo lét sáng. Trần Văn Kỷ rót rượu ra ly và nói:
-Xin chúc mừng cuộc hội ngộ không hẹn trước.
Ba người cạn chén xong, Trần Văn Kỷ lại rót rượu ra và hỏi:
-Theo chỗ tại hạ biết, hai tướng quân đang ở Thăng Long cai trị Bắc Hà, sao lại về đây?
Võ Văn Dũng nâng chén rượu uống cạn và đáp:
-Hoàng thượng, nói đúng hơn là quyền thần Bùi Đắc Tuyên hạ chỉ đưa người của Tuyên là Ngô Văn Sở ra thay ta và Đại Đô Đốc Bùi Hữu Hiếu. Sau khi bàn giao xong, ta và Bùi tướng quân xuất phát từ hôm qua. Trước khi đi Ngô Văn Sở có nói quân sư đang bị lưu đày ở đây mới biết mà ghé vào thăm. Sao quân sư lại bị Thái sư đối xử như vậy?
Trần Văn Kỷ thởi dài:
-Từ khi hoàng thượng Quang Trung qua đời, các huynh ở xa không rõ. Hoàng đế Cảnh Thịnh còn quá nhỏ, thích chơi bời. Cậu hoàng đế là Bùi Đắc Tuyên chỉ là một thị lang nhỏ nhoi nhưng lại là em ruột của Thái hậu Bùi Thị Nhạn. Vì vậy, dù Bùi Đắc Tuyên ít học vấn, không công lao vẫn được gia phong chức Thái sư đứng đầu triều đình, nắm toàn bộ quyền lực, được tự do ra vào cung cấm, thậm chí được ngủ trong cung với hoàng thượng, từ đó nẩy sinh chuyên quyền. Quan lại ai theo thì được thăng quan tiến chức, ai không theo thì hãm hại hoặc đuổi về quê, hoặc bị lưu đày đi xa. Bùi Đắc Tuyên ngày càng lộng hành. Ví như Võ Văn Cao, người phủ Phú Yên, chức Quốc Tử giám trực giảng, được vua Quang Trung thăng Thái tử Trung doãn, tính tình cương trực không chịu nổi hành vi của Bùi Đắc Tuyên, nhân chuyến về quê chịu tang mẹ, không về triều nữa, có làm nhiều thơ gọi Bùi Đắc Tuyên là gian thần. Khi Võ Văn Cao chết, Bùi Đắc Tuyên cho là chết giả, đòi phá quan tài để xem xét. Trần Quang Diệu can mãi mới thôi. Lại một chuyện Trần Long Vĩ, người Hoài Ân, Thị lang bộ lễ, có làm một bài thơ nôm, Bùi Đắc Tuyên cho là có ý châm biếm mình, tìm cách cách chức. Đinh Sĩ An là danh sĩ, thi đậu khoa Minh kinh được vào Nội các hàn lâm viện đãi chiếu, thường qua lại với Trần Long Vĩ, Bùi Đắc Tuyên ghét đuổi về nhà.
Trần Văn Kỷ ngừng lại rót rượu, ba người lại cạn ly, cúi đầu thở dài. Trần Văn Kỷ nói:
-Các huynh chắc biết tướng Lê Văn Hưng, được xếp vào hàng Thất hổ tướng Tây Sơn. Sau khi thắng trận ở Phú Yên, giao thành cho Nguyễn Quang Huy rồi đem quân về Phú Xuân. Bùi Đắc Tuyên vốn không ưa Lê Văn Hưng, bắt tội là không có chiếu của vua mà về là làm phản, tâu xin vua chém đầu. Hoàng thượng Cảnh Thịnh cũng nghe theo. Đại tư mã Ngô Văn Sở can không được, tại hạ là quan Phụ chính can cũng không được. Bùi Đắc Tuyên còn đày tại hạ ra đây.
Ba người lại uống tiếp. Trần Văn Kỷ nói:
-Một trong những tai họa lớn nhất của một triều đình là họa ngoại thích, họa quyền thần. Nay nhà Tây Sơn ta vua còn nhỏ, quyền thần tác oai tác quái, giết hại tướng lĩnh và đại thần, bên ngoài thì giặc Gia Định đánh phá. Nguyễn Phúc Ánh đã lấy được Gia Định, Bình Thuận, Diên Khánh, Phú Yên và đánh Quy Nhơn. Bùi Đắc Tuyên sai Phạm Công Hưng vào cứu. Cứu xong, Hưng tuân lệnh của Bùi Đắc Tuyên, chiếm luôn Quy Nhơn, của cải quân lương vàng bạc của Tây Sơn Vương Nguyễn Nhạc, buộc Tây Sơn Vương và gia quyến phải về Phù Ly. Tây Sơn Vương Nguyễn Nhạc vốn đau ốm đã lâu, uất ức kêu Hoàng đế Quang Trung ba tiếng và hộc máu mồm mà chết. Nguyễn Bảo bị đưa về Phù Ly và bị giết chết. Trần Hoàng hậu phải đem ba con nhỏ về quê gần mộ Nguyễn Nhạc cho tiện hương khói, sống cuộc đời thôn dã khổ cực. Cứ như vậy Tây Sơn ta nguy rồi. Chúng ta chưa chết về tay Nguyễn Phúc Ánh nhưng sẽ chết trước vì tay Bùi Đắc Tuyên là chắc. Chúng ta chắc chết không có đất mà chôn rồi.
Ba người lại uống. Võ Văn Dũng đập bàn, Bùi Hữu Hiếu ngậm ngùi. Trần Văn Kỷ nói:
-Nay hai tướng quân về Phú Xuân lành ít dữ nhiều, nên tìm cách diệt trừ quyền thần trước hết để cứu bản thân. Các tướng quân đã từng xông pha đánh Nam dẹp Bắc, lật đổ Nguyễn-Trịnh tồn tại 200 năm, chỉ một ngày đập tan 3 vạn quân Xiêm La, chỉ 5 ngày đánh tan tác 30 vạn quân Mãn Thanh, chỉ vài đứa sống sót tơi tả chạy về Trung Hoa khiến Càn Long còn rùng mình khiếp sợ, nay không khéo lại chết bởi tay một gã vô học, không một chút công trạng gì, lại hẹp hòi, ích kỷ, tàn bạo, tham lam, chỉ cậy vào thế tỉ là Bùi hoàng hậu và cháu là hoàng thượng mà không kiêng sợ gì. Diệt trừ Bùi Đắc Tuyên còn là cứu xã tắc giang sơn của nhà Tây Sơn, cứu lý tưởng ban đầu của nhà Tây Sơn đang sụp đổ.
Ba người lại uống. Võ Văn Dũng nói:
-Đại trượng phu tung hoành ngang dọc, lẽ nào lại chịu như vậy ru? Mạt tướng xin nghe lời quan Phụ chính, vì xã tắc giang sơn mà diệt trừ quyền thần gian ác, trừ hại cho dân. Ngày mai xin cáo biệt, quan Phụ chính bảo trọng để có ngày về lại Phú Xuân giúp cho triều đình, xã tắc.
Trần Văn Kỷ nói:
-Tại hạ đợi tin tốt lành từ các tướng quân. Xin cáo biệt, các tướng quân bảo trọng.
Sớm hôm sau, Trần Văn Kỷ từ biệt Võ Văn Dũng và Bùi Hữu Hiếu bên bờ sông Linh Giang. Trần Văn Kỷ nhìn hai người trên con đò mịt mù sóng nước khuất dần về phương Nam, lòng bỗng nhiên bùi ngùi lo lắng…
Tại Phú xuân, đêm chưa khuya nên trong căn phòng của tư dinh Đại đô đốc Võ Văn Dũng còn sáng đèn. Đêm, mọi vật chìm trong bóng tối. Gió từ sông Hương thổi về mát rượi. Xa xa, tiếng chuông chùa Thiên Mụ trầm lắng ngân vang như đánh thức lòng từ bi của thế gian. Bốn người ngồi đối diện nhau ở hai ghế tràng kỷ dài, giữa là chiếc bàn đặt bộ ấm chén trà, Bốn người đó là chủ nhà Võ Văn Dũng, còn ba vị khách là Bùi Hữu Hiếu, Thái bảo Nguyễn Văn Huấn, Hám hổ hầu Phan Văn Lân.
Tranh minh họa: Bùi Đắc Tuyên là cậu ruột của vua Cảnh Thịnh nhà Tây Sơn. Dưới triều vua Quang Trung, Bùi Đắc Tuyên nhờ thế em gái là hoàng hậu Bùi Thị Nhạn nên được làm quan trong triều. Tuyên tìm mọi cách để tạo vây cánh, dần đi vào con đường lộng quyền, khống chế cả triều đình, lấn át nhà vua trẻ, làm triều đình mất uy tín với dân ngay từ những ngày đầu gây nhiều phẫn nộ trong triều. Hắn đã bị hổ tướng Võ Văn Dũng cùng một số tướng lĩnh hạ gục. Nguồn: Internet.
Sau lượt trà, Võ Văn Dũng nói:
-Tại hạ mới ở Thăng Long về có vào Ba Đồn sông Linh Giang thăm Phụ chính Trần Văn Kỷ bị lưu đày, qua đó mới biết Bùi Đắc Tuyên lợi dụng là em của Bùi Thái hậu, lợi dụng vua còn nhỏ chuyên quyền quá đáng, giết hại nhiều đại thần như đại tướng công thần Lê Văn Hưng, đày cả Phụ chính Trần Văn Kỷ, cướp đoạt lãnh địa Quy Nhơn và mọi tài sản của Tây Sơn Vương Nguyễn Nhạc, của con là Nguyễn Bảo khiến Trung ương hoàng đế thổ máu mà chết. Sau đó giết hại Nguyễn Bảo ở Phù Ly. Trong khi đó, giặc Nguyễn Phúc Ánh đã lấy toàn bộ Gia Định, lấy thêm Bình Thuận, Diên Khánh và Phú Yên. Xã tắc Tây Sơn của ta hiện nay rất nguy ngập cả bên trong và bên ngoài. Chúng ta không hành động sẽ chết không có đất mà chôn. Hôm nay, tại hạ mời các vị tới đây là cùng đồng lòng diệt trừ quyền thần để cứu xã tắc, cứu bản thân. Không biết ý các vị thế nào?
Thái bảo Nguyễn Văn Huấn nói:
-Mọi người đều nhìn thấy sự lộng hành của Bùi Đắc Tuyên nhưng không ai dám nói ra, sợ liên lụy. Nay Đại đô đốc mà quyết tâm thì tại hạ cũng nghe theo.
Hám Hổ Hầu Phan Văn Lân nói:
-Để cứu xã tắc thì cũng không còn cách gì khác, tại hạ cũng nghe theo Đại đô đốc.
Võ Văn Dũng lôi ra bốn mũi tên và nói:
-Chúng ta lấy mũi tên này mà thề trung thành với sự việc lớn lao này.
Bốn người mỗi người cầm một mũi tên và thề:
-Nếu hai lòng thì bị tru diệt như mũi tên này.
Nói xong, bốn người bẻ gãy mũi tên trong tay mình, cạn ly và bàn nhau hành động cụ thể.
Qua đi mấy hôm. Một đêm trời tối như bưng, bầu trời đen thẫm lung linh những vì sao xa xăm nhấp nhánh. Gió sông Hương thổi làm cây lá lay động xạc xào. Ở Nam sông Hương có khoảng 1 vạn quân đang âm thầm tiến sát bao vây dinh thự của Thái sư Bùi Đắc Tuyên. Họ mở cổng đột nhập vào dinh gặp ai giết nấy. Giết hết mà không thấy Bùi Đắc Tuyên đâu, kể cả trong phòng ngủ. Gặp một gia nhân, Võ Văn Dũng dí dao vào cổ và hỏi:
-Thái sư đâu, nói ngay sẽ tha mạng.
-Dạ, Thái sư đêm nay không ở nhà. Thái sư ngủ trong cung hoàng thượng.
Bốn người lại lặng lẽ cho quân tiến vào cung vua Cảnh Thịnh. Gặp quân ngự lâm đi tuần và canh gác hỏi:
-Đại đô đốc dẫn quân đi đâu?
Võ Văn Dũng đáp:
-Đi cứu hoàng thượng, đêm nay có thích khách của quân Gia Định. Mở cửa cung mau.
-Dạ
Quân ngự lâm mở cửa. Quân bốn tướng bao vây cung Cảnh Thịnh. Cảnh Thịnh ra hỏi:
-Ai Đấy? Có việc gì?
Võ Văn Dũng nói:
-Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế. Tâu hoàng thượng, hiện nay quân đội, các tướng lĩnh và bách tính đòi bắt quyền thần Bùi Đắc Tuyên để cứu xã tắc. Mong hoàng thượng giao Bùi Đắc Tuyên ra, nếu không tính mạng hoàng thượng cũng khó an toàn.
Cảnh Thịnh cả sợ nói:
-Thái sư ở cung bên cạnh, phía tả.
Bốn tướng đạp cửa xông vào. Bùi Đắc Tuyên chui xuống gầm giường trốn. Võ Văn Dũng chĩa gươm vào nói:
-Thái sư ra ngay nếu không muốn lưỡi gươm này đâm chết.
Bùi Đắc Tuyên hống hách như vậy mà lúc này run rẩy:
-Xin các tướng quân tha mạng.
-Tha mạng cho người thì ai đền mạng cho Trung ương hoàng đế Nguyễn Nhạc, cho công thần Lê Văn Hưng, cho Nguyễn Bảo và cho bao trung thần bị ngươi hãm hại? Người đâu.
-Dạ, Đại đô đốc.
-Trói lại giam vào ngục của Đại đô đốc.
Hôm sau Võ Văn Dũng sai Nguyễn Văn Huấn đem chiếu chỉ của Cảnh Thịnh đến Quy Nhơn bắt Bùi Đắc Trụ là con trai Bùi Đắc Tuyên. Lại phái đô đốc Hài cầm chiếu của Cảnh Thịnh triệu Ngô Văn Sở từ Thăng Long về Phú Xuân và bắt. Võ Văn Dũng sai người phao tin ba người Tuyên, Trụ, Sở có âm mưu làm phản rồi đem dìm xuống sông Hương cho đến chết, trước sự chứng kiến của hàng nghìn bách tính Phú Xuân. Bùi Thái hậu và vua Cảnh Thịnh chỉ biết ôm nhau mà khóc. Đó là mùa hạ năm 1795.
IV
Một ngày cuối năm 1799, Phú Xuân mơ màng trong sương khói. Gió thu se lạnh thổi sóng sông Hương lả lướt. Vua Cảnh Thịnh đang ngồi trong điện Trung Hòa thì có nội thị vào báo:
-Dạ, bẩm hoàng thượng, có thám mã từ Quy Nhơn về báo
-Cho vào.
Thám mã vào:
-Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.
-Miễn lễ, có việc gì.
-Dạ bẩm hoàng thượng, Nguyễn Phúc Ánh đã đánh chiếm Bình Thuận, Diên Khánh, Phú Yên, vừa rồi ta lại mất Quy Nhơn rồi ạ.
Vua Cảnh Thịnh hỏi:
-Ai trấn thủ Quy Nhơn?
-Dạ, các tướng giữ Quy Nhơn là Lê Văn Thanh, Thượng thư Nguyễn Văn Phác, Thiếu úy Trương Tấn Túy. Do bị quân Nguyễn vây đánh, chờ mãi không có viện binh từ Phú Xuân ra nên họ mở của thành đầu hàng.
-Bây giờ họ theo giặc rồi à?
-Dạ dù đầu hàng nhưng khi vào được thành Nguyễn Phúc Ánh đã giết cả ba tướng, sau đó Nguyễn Phúc Ánh đổi Quy Nhơn thành Bình Định ạ.
-Các tướng ở Phú Yên không ai ra cứu Quy Nhơn sao?
-Dạ, tướng Nguyễn Quang Huy từ Phú Yên ra cứu Quy Nhơn. Một mình tướng Huy đánh nhau với hơn chục tướng Nguyễn. Nguyễn Phúc Ánh lấy làm lạ ra mặt thành đứng xem, bị tướng Nguyễn Quang Huy bắn một phát tên trúng vào cánh tay trái, phải về Gia Định trị thương rồi ạ.
-Thành Quy Nhơn nay tướng Nguyễn nào giữ?
-Dạ, bẩm hoàng thượng, tướng của Gia Định là Võ Tánh và Ngô Tùng Châu ạ.
-Tướng Nguyễn Quang Huy của ta nay ở đâu?
-Dạ bẩm hoàng thượng, tướng Nguyễn Quang Huy bị tướng Gia Định là Nguyễn Văn Thành từ Phú Yên đánh ra, trong thành Quy Nhơn đánh lại nên thua trận chạy lên núi Dương An rồi ạ.
Cảnh Thịnh gọi:
-Người đâu.
-Dạ, bẩm hoàng thượng.
-Cho chuẩn bị bộ binh và thủy binh, ta tự thân chinh đi lấy lại Quy Nhơn. Quy Nhơn là đất tổ Tây Sơn, không thể để mất trong tay giặc được.
-Dạ, thần tuân chỉ.
Vừa lúc đó quan nội thị vào:
-Dạ, bẩm hoàng thượng, Bắc cung Hoàng Thái hậu Lê Ngọc Hân qua thời gian bệnh nặng, thái y đã hết lòng cứu chữa nhưng không qua khỏi đã từ trần rồi ạ.
Cảnh Thịnh thở dài hỏi:
-Người thọ bao nhiêu tuổi?
-Dạ bẩm, người thọ 29 tuổi ạ.
-Bảo người nhà của ta chăm hai em ta là Nguyễn Quang Đức và công chúa Ngọc Bảo, bảo thị nữ chăm sóc hoàng hậu Lê Thị Ngọc Bình của ta chu đáo, đừng để họ quá đau buồn khi hai đứa còn nhỏ đã mất mẫu thân, hoàng hậu thì mất chị ruột.
-Dạ, thần tuân chỉ.
-Ta lại không thân chinh được rồi, phải ở lại lo đám tang của quốc mẫu. Cho gọi Thái phó Trần Quang Diệu và Đại đô đốc Võ Văn Dũng vào triều.
-Dạ, tuân chỉ.
Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng vào:
-Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.
-Miễn lễ, các khanh bình thân.
-Tạ ơn hoàng thượng.
Cảnh Thịnh nói:
-Hiện nay nước nhà rất nguy cấp. Giặc Nguyễn Phúc Ánh đã lấy được từ Bình Thuận đến Quy Nhơn. Quy Nhơn là đất tổ, đất thang mộc của Tây Sơn, không thể để trong tay giặc được. Thái Phó Trần Quang Diệu.
-Dạ, có thần.
-Khanh đem 5 vạn quân đi lấy lại Quy Nhơn.
-Dạ, thần tuân chỉ.
-Đại đô đốc Võ Văn Dũng và Đại đô đốc Bùi Hữu Hiếu.
-Dạ, có thần.
-Hai khanh đến trại thủy quân Thị Nại chỉ huy thủy quân, chặn quân địch từ biển đánh vào, hỗ trợ cho Thái phó lấy Quy Nhơn.
-Hạ thần tuân chỉ.
Vào một ngày mùa hạ, phong cảnh Gia Định rực rỡ nắng gió, sông nước và đồng bằng phương Nam bao la bát ngát. Thành Gia Định (Sài Gòn) mà người Pháp xây dựng theo kiểu vô băng hình chữ nhật, tạo nên một khối trắng nhô lên vuông vức, đồ sộ giữa muôn cây. Nguyễn Phúc Ánh tay trái còn băng vết thương bởi mũi tên của tướng Tây Sơn Nguyễn Quang Huy bắn ở Quy Nhơn. Nguyễn Phúc Ánh một lần nữa lại gặp may, may mà tên không có thuốc độc và chỉ cần Nguyễn Quang Huy lệch tay về bên phải một chút thì tên đã trúng hồng tâm. Cuộc đời của Ánh thật là nhiều may mắn, Nguyễn Phúc Ánh vừa ăn sáng xong, đang uống trà thì có tùy tướng vào báo:
-Dạ bẩm chúa công, có thám mã từ Quy Nhơn về báo.
-Cho vào.
-Dạ.
-Xin kính chào chúa công. Chúa công đã bình phục rồi ạ?
-Đa tạ, ta lại có thể ra trận được rồi. Quy Nhơn có gì mới không?
-Dạ, bẩm chúa công, tướng Tây Sơn Trần Quang Diệu đem 5 vạn quân đang đánh nhằm lấy lại Quy Nhơn. Quy Nhơn rất nguy cấp ạ.
Nguyễn Phúc Ánh gọi:
-Người đâu.
-Dạ, chúa công.
-Chuẩn bị 400 chiến thuyền, 3 vạn tinh binh để ta ra cứu Võ Tánh và Ngô Tùng Châu ở Quy Nhơn.
-Dạ, chúa công đang dưỡng thương.
-Ta khỏe rồi, 3 vạn quân và hai tướng thân cận của ta đang nguy cấp, ta phải đi cứu.
-Dạ, tuân lệnh chúa công.
Rồi 400 chiến thuyền lớn và nhỏ đè sóng gặp gió nồm tiến như bay ra biển mièn Trung, cờ vàng bay rợp trời, đại bác đen ngòm dài ngoẳng nhô trên chiến thuyền rất hung dữ, tới cửa Thị Nại thì hoàng hôn đang xuống. Trong ánh mặt trời vàng rực, cờ đỏ rực trời, hàng trăm chiến thuyền Tây Sơn không ở tư thế chiến đấu mà lại đậu san sát liền nhau. Nguyễn Phúc Ánh hỏi tùy tướng dẫn đường:
-Tướng chỉ huy thủy quân Thị Nai là ai?
Lê Văn Duyệt đáp:
-Da bẩm chúa công, Đại đô đốc Tây Sơn là Võ Văn Dũng và Bùi Hữu Hiếu ạ.
Nguyễn Phúc Ánh nói:
-Võ Văn Dũng nổi danh trong trận phá quân Thanh năm 1789 ở Thăng Long, sao lại không triển khai dàn trận ở tư thế sãn sàng chiến đấu. Đây là thời cơ tốt để ta đánh hỏa công tiêu diệt toàn bộ vốn liếng thủy quân của Nguyễn Quang Toản, mở đường cho ta vào cứu Quy Nhơn.
Lê Văn Duyệt nói:
-Bẩm chúa công, làm sao mà vượt qua được hai pháo đài rất mạnh ở Gềnh Ráng và Phong Mai ạ?
Nguyễn Phúc Ánh nói:
-Chính Võ Văn Dũng ỷ vào hai pháo đài này nên không dàn chiến thuyền ở tư thế chiến đấu, Chúng ta dùng chiến thuyền nhỏ, chia làm hai tốp. Phải hy sinh tốp đầu cho Tây Sơn bắn, khi hết đạn phải nạp thì tốp sau xông lên châm lửa vào bè có chất cháy, đánh hỏa công, với gió và sóng thuận chiều vào thì Thị Nại biến thành biển lửa.
-Dạ, tuân lệnh chúa công.
Trong tổng hành dinh ở Thị Nại, thám mã về báo cho Võ Văn Dũng:
-Dạ bẩm đô đốc, thủy quân Nguyễn Phúc Ánh đã đến vùng biển ngang với căn cứ Thị Nại của ta.
Võ Văn Dũng nói:
-Kệ chúng, chúng không thể vào được cửa Thi Nại vì có hai pháo đài kiên cố của ta là Gềnh Ráng và Phong Mai. Ta phải đóng chốt ở đây để hỗ trợ cho thái phó Trần Quang Diệu đánh lấy lại Quy Nhơn.
Đêm đó gió mùa và sóng xô vào Thị Nại rất mạnh. Hai tốp thuyền nhỏ của Nguyễn Phúc Ánh lao nhanh vào cửa Thị Nại. Pháo đài Gềnh Ráng và Phong Mai của Tây Sơn Thi nhau nhã đạn. Đạn xé màn đêm đỏ rực rơi trúng vào những chiến thuyền tốp đầu của quân Nguyễn, 20 chiếc bốc cháy, lửa đỏ rực cả một vùng. Nhân lúc đạn bắn ra của quân Tây Sơn thưa thớt, Lê văn Duyệt thúc tốp thuyền sau tiến lên, vượt qua khỏi tầm hỏa lực của Tây Sơn, lao vào cửa đầm Thị Nại và phóng hỏa đốt chiến thuyền Tây Sơn. Lửa bén dần và cháy lan ra toàn bộ hàng trăm chiến thuyền, cộng với thuốc súng đạn dược trên thuyền gây nên cháy và nổ dữ dội, tiếng nổ vang trời. Đầm Thị Nại chìm trong bão lửa, hàng vạn lính chết, còn lại là nhảy lên bờ. Lực lượng thủy binh của Tây Sơn đến đây coi như bị xóa sổ. Võ Văn Dũng và Bùi Hữu Hiếu đại bại, chạy về Quy Nhơn với Trần Quang Diệu.
Nguyễn Phúc Ánh nói:
-Trận hỏa công Thị Nại khủng khiếp quá nhưng chúng ta vẫn không lên bộ được để cứu Quy Nhơn.
Lê Văn Duyệt nói:
-Chúa công phải dùng kế vây Ngụy cứu Triệu. Tất cả lực lượng và tướng giỏi của Tây Sơn đã tập trung vào Quy Nhơn, Phú Xuân bỏ trống. Chúng ta tấn công Phú Xuân. Trần Quang Diệu phải đem quân về cứu Phú Xuân, Quy Nhơn được giải vây. Nếu lực lượng Tây Sơn Phú Xuân mà yếu, ta lấy luôn kinh thành, bắt sống Cảnh Thịnh thì thắng lợi lớn không thể nào tưởng tượng. Phú Xuân thất thủ thì tất cả các nơi khác của Tây Sơn sẽ sụp đổ, có thể nhanh chóng lấy được thiên hạ.
Nguyễn Phúc Ánh nói:
-Kế của lão tướng là diệu kế, nếu phòng thủ Phú Xuân mà yếu thì Phú Xuân mất, Phú Xuân mất thì nhà Tây Sơn sụp đổ, thiên hạ nhanh chóng về tay ta. Ha!ha!ha!..
-Người đâu.
-Dạ.
Đem rượu Pháp ra đây.
-Dạ.
Nguyễn Phúc Ánh và Lê Văn Duỵệt chạm ly ngay trên lâu thuyền chỉ huy.
-Chúc chúa công lấy được Phú Xuân.
Hai người cạn ly. Sau đó Nguyễn Phúc Ánh ra lệnh;
-Tiến đánh Phú Xuân để giải cứu cho Quy Nhơn, cứu Võ Tánh và Ngô Tùng Châu.
-Xin tuân lệnh chúa công.
Thủy quân Nguyễn thuận buồm xuôi gió tiến nhanh vào cửa biển Tư Dung. Phò mã Tây Sơn Nguyễn Văn Trị đem quân chống giữ ở Quy Sơn. Nguyễn Phúc Ánh nói:
-Ta tấn công mặt trước, Lê Văn Duyệt và Lê Chất đem quân đánh tập hậu.
-Mạt tướng tuân lệnh.
Đêm đó, quân Nguyễn Văn Trị giáp chiến với quân Nguyễn ở ven biển. Súng nổ, đạn bay, quân hai bên chết chồng chất. Thốt nhiên, có tiếng súng và tiếng reo hò phía sau quân Tây Sơn. Quân Nguyễn bốn hướng xông vào giáp chiến. Quân Tây sơn chống cự ngoan cường nhưng hi sinh gần hết, thây đổ máu phun. Nguyễn Văn Trị đại bại mở đường máu mà chạy. Thủy quân Nguyễn Phúc Ánh không gặp một lực lượng thủy quân nào của Tây Sơn, cứ thế tiến vào cửa Thuận An như vào chỗ không người. Nguyễn Phúc Ánh ra lệnh đổ bộ lên bờ, tiến đánh kinh thành Phú Xuân. Vua Cảnh Thịnh đang ngồi trong điện Trung Hòa, nội thị hốt hoảng vào báo:
-Dạ bẩm hoàng thượng, nguy cấp, nguy cấp…
-Nguy cái gì?
-Dạ bẩm, quân của Nguyễn Phúc Ánh từ cửa Thuận An đã đánh vào kinh thành rồi ạ.
Cảnh Thịnh hốt hoảng:
-Sao chúng nhanh vậy? Nguyễn Văn Trị đâu?
-Dạ, phò mã bị chúng đánh bại ở Quy Sơn bỏ chạy đi đâu không rõ ạ.
-Trần Quang Diệu đâu, Võ Văn Dũng đâu, Bùi Hữu Hiếu đâu?
-Dạ, ba tướng quân này còn vây đánh Quy Nhơn ạ.
Cảnh Thịnh kêu lên:
-Chết rồi, ta mải mê muốn lấy lại Quy Nhơn là đất tổ, điều hết quân đội và tướng giỏi vào đó, khinh suất không lo phòng thủ kinh thành. Ta có tội với tổ tiên, với phụ hoàng Quang Trung bách chiến bách thắng rồi. Không còn ai nữa, ta phải tự thân chinh vậy. Người đâu.
-Dạ, hoàng thượng.
-Đem hết cấm quân theo ta ra ngoài thành đánh giặc. Gọi đô đốc nữ tướng Bùi Thị Xuân đem đội tượng binh và đội nữ binh hộ giá.
-Thần tuân chỉ.
Vua Cảnh Thịnh lần đầu tiên dùng đến bộ giáp vàng, mũ đâu mâu vàng, đi hài vàng, áo bào vàng lên voi đem quân ngự lâm ra trận. Trận đánh bảo vệ Phú Xuân diễn ra khong cân sức, quân Nguyễn đông tới 3 vạn người, thiện chiến. Đô đốc Bùi Thị Xuân vừa hộ giá, vừa chỉ huy tượng binh và nữ binh, tả xung hữu đột. Súng nổ vang trời, tên đạn bay như mưa. Quân Nguyễn chết nhiều nhưng bên quân Cảnh Thịnh quân ngự lâm cũng hi sinh gần hết, đội nữ binh của Bùi Thị Xuân cũng hy sinh nhiều. Vậy mà Bùi Thị Xuân vẫn cầm cự giữ được Phú Xuân từ sáng đến trưa. Nguyễn Phúc Ánh hỏi Lê Văn Duyệt:
-Đây có phải là nữ tướng đã làm ta khốn đốn khi ta đánh Quảng Nam không?
-Dạ bẩm chúa công, chính là nữ tướng này, là phu nhân của Thái phó Trần Quang Diệu.
-Thật là một nữ tướng phi thường.
Để vua Cảnh Thịnh không bị bắt, Bùi Thị Xuân phải hộ giá chạy vào thành và mở cửa sau điện Trung Hòa đem vua chạy về phía Bắc. Nguyễn Phúc Ánh ra lệnh:
-Tướng Lê Chất
-Dạ có mạt tướng.
-Tướng quân đem kỵ binh truy kích bắt bằng được Cảnh Thịnh cho ta.
-Mạt tướng tuân lệnh.
-Tướng quân Nguyễn Đình Đắc.
-Dạ, có mạt tướng.
-Tướng quân đem quân chặn đường từ Quy Nhơn ra đây, không cho Trần Quang Diệu về cứu Phú Xuân.
-Mạt tướng tuân lệnh.
Lê Chất vốn là tướng Tây Sơn đầu hàng Nguyễn Phúc Ánh nên rất thuộc đường đất vùng Thuận Hóa, đem 500 kỵ binh đuổi Cảnh Thịnh rất gấp. Bùi Thị Xuân cho nữ binh hộ giá Cảnh Thịnh chạy trước, còn mình thì đem tượng binh chặn kỵ binh Lê Chất. Đàn voi thấy ngựa rống lên khủng khiếp và lao vào đội kỵ binh, ngựa sợ voi nên hí lên thảm thiết và quay đầu tháo chạy. Lê Chất đành phải quay về Phú Xuân. Bùi Thị Xuân tiếp tục hộ giá Cảnh Thịnh chạy ra Bắc.
V
Tháng 11 năm 1801, gió se lạnh thổi khắp miền Trung, bầu trời xam xám sầu thảm không một áng mây bay. Bờ Bắc Sông Linh Giang rợp trời cờ đỏ của 3 vạn quân Tây Sơn, trống đập liên hồi. Đây là 3 vạn quân mà Cảnh Thịnh ra Bắc đã tập hợp được, nay tiến về giải phóng Phú Xuân đang bị Nguyễn Phúc Ánh chiếm đóng tháng 4 năm 1801. Tại Thăng Long, vua Cảnh Thịnh đã đổi niên hiệu Cảnh Thịnh ra niên hiệu Bửu Hưng. Vua Bửu Hưng vừa bước xuống mình voi thì thám mã về báo:
-Bẩm hoàng thượng, quân Nguyễn đã chiếm giữ lũy Thầy để ngăn chặn quân ta vượt qua Nhật Lệ. Tướng Nguyễn Phạm Văn Nhân chỉ huy phòng thủ lũy Trấn Ninh và Đâu Mâu. Quân Nguyễn cũng đã chiếm giữ lũy Trường Dục và nhiều chiến lũy khác. Thủy quân Nguyễn do tướng Nguyễn Văn Trương chỉ huy giữ cửa sông Nhật Lệ.
Vua Bửu Hưng ra lệnh:
-Chúng ta quay về đây là để tiến vào giải phóng kinh thành Phú Xuân, muốn vậy chúng ta phải đánh bại quân Nguyễn, phá tan lũy Thầy để vượt qua sông Nhạt Lệ. Đệ Nguyễn Quang Thùy đánh lũy Trấn Ninh.
-Thần tuân chỉ.
-Tướng Nguyễn Văn Kiên đánh lũy Đâu Mâu.
-Thần tuân chỉ.
-100 chiến thuyền do tướng Đặng Văn Tất , đô đốc Lực chỉ huy chặn vùng biển Nhật Lệ, đề phòng thủy quân Nguyễn vào đánh tập hậu phía Bắc quân ta.
-Thần tuân chỉ.
-Đô Đốc Bùi Thị Xuân và 5000 nữ binh hộ giá.
-Thần tuân chỉ.
Vua Bửu Hưng dứt lời, 3 vạn quân Tây Sơn vượt cầu phao qua sông Linh Giang tiến về sông Nhật Lệ. Quân Tây Sơn cờ đỏ rợp chiến trường xông lên bắn vào lũy Đâu Mâu và lũy Trấn Ninh. Chiến lũy quá kiên cố. Mấy trăm năm trước, trong chiến tranh Trịnh- Nguyễn, quân Nguyễn đã dựa vào chiến lũy này mà đánh bại 6 lần tấn công của quân Trịnh binh hùng tướng giỏi. Trong lịch sử, lũy Thầy chỉ có hai lần thất thủ, lần năm 1773 khi Hoàng Ngũ Phúc từ Băc tấn công vào lấy được lũy là do quân Nguyễn mở cửa thành đầu hàng, lần thứ hai năm 1786 khi Nguyễn Lữ tấn công thì quân Trịnh cũng tự mở cửa lũy đầu hàng. Cho nên khi nghe tin 3 vạn quân Tây Sơn từ Bắc vào, Nguyễn Phúc Ánh đã cho chiếm giữ lũy Thầy và phòng thủ chắc chắn. Lần này quân Tây Sơn xông lên lại phải nằm xuống do đại bác trên chiến lũy bắn dữ dội. Hàng nghìn quân Tây Sơn tử trận, xác người chống chất, máu chảy như suối. Một ngày chiến đấu trôi qua, xác quân Tây Sơn chồng chất, máu chan hòa mặt đất. Vua Tây Sơn nản chí định rút lui. Bùi Thị Xuân nói:
-Hoàng thượng cố đánh, hai canh giờ nữa quân Nguyễn sẽ hết đạn.
Quả nhiên đại bác trên chiến lũy bắn thưa thớt dần. Bùi Thị Xuân nhân lúc súng quân Nguyễn thưa thớt thì thúc trống liên hồi hô quân tiến lên. Quân Tây Sơn lại xông lên như vũ bão. Đại Bác trên lũy lại nổ nhưng thưa thớt. Bùi Thị Xuân nhân cơ hội dẫn 5000 nữ binh vào sát chân lũy Đâu Mâu, cứ một người nhảy lên vai một người và phi thân lên mặt chiến lũy, bằng võ nghệ của Tây Sơn lao vào giết lính Nguyễn trên mặt thành. Quân Nguyễn và lũy Đâu Mâu đã đến hồi nguy ngập. Đang lúc đó, có tên lính Nguyễn chạy và hô to để đánh lừa quân Tây Sơn:
-Thủy binh Tây Sơn đã bị tiêu diệt, quân ta đang đổ bộ bao vây giặc ở phía bắc.
Quân Tây Sơn nghe nói bị bao vây hoảng loạn tháo chạy khỏi chiến trường. Cả Nguyễn Quang Thùy cũng ra lệnh rút, cả vua Bửu Hưng cũng hoảng loạn tháo chạy. Quân Tây Sơn qua cầu phao sông Linh Giang tranh nhau chạy rơi xuống sông chết vô kể. Trên chiến lũy, Bùi Thị Xuân đang nắm chắc phần thắng, lũy Đâu Mâu sắp thất thủ nhưng khi quay đầu nhìn xuống, quân Tây Sơn không còn ai nữa, cờ đỏ vứt ngổn ngang với xác chết đầy ắp bờ bắc sông Nhật Lệ. Bùi Thị Xuân uất hận:
-Đại quân chạy hết, ta có lấy được Đâu Mâu cũng chẳng để làm gì. Các muội rút lui.
-Dạ, tuân lệnh.
Các nữ binh từ trên mặt chiến lũy cao ngất phi thân như bay xuống mặt đất và rút chạy trước sự kinh hoàng thán phục của quân Nguyễn. Một người lính nói:
-Nghe danh nữ tướng Tây Sơn từ lâu nay mới được chứng kiến. Bái phục, bái phục.
Tháng 3 năm 1801, Quy Nhơn một buổi sáng, Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng, Bùi Hữu Hiếu đang vây đánh thành, Võ Tánh và Ngô Tùng Châu đang rất nguy khốn, hết lương thực, đạn dược. Bỗng nhiên từ trong thành bốc lên ngọn khói và cửa thành Quy Nhơn mở, quân Nguyễn tay cầm cờ trắng kéo ra đầu hàng. Một tùy tướng của Võ Tánh tay cầm một phong thư nói:
-Cho mạt tướng gặp tướng quân Trần Quang Diệu.
-Ta đây. Sao trong thành lại bốc khói. Chủ tướng Võ Tánh và Ngô Tùng Châu của ngươi đâu, không ra đầu hàng?
Viên tùy tướng vội quỳ và đáp:
-Dạ, bẩm tướng quân, chủ tướng Thường hầu Quán Hội Quận Công Võ Tánh cùng Lễ bộ Thượng thư Ngô Tùng Châu biết thành sắp mất nên đã tự thiêu chết rồi ạ, lửa thiêu hai tướng đã làm cháy trụi cung Bát Giác nên bốc khói ạ.
Trần Quang Diệu mở thư của Võ Tánh đọc, thư viết: “Thành mất, tướng quân vào thành hãy mở lượng từ bi không nên giết bách tính và quân Nguyễn. Họ chỉ là những người đáng thương. Vĩnh biệt tướng quân”.
Trần Quang Diệu đang định cho quân tiến vào thành thì có thám mã về báo:
-Dạ, nguy cấp, thành Phú Xuân đã bị Nguyễn Phúc Ánh lấy. Nữ tướng Bùi Thị Xuân đã hộ giá vua Cảnh Thịnh chạy ra Bắc, đem 3 vạn quân về đánh lũy Thầy để tiến về lấy lại Phú Xuân ạ. Chiến sự đang rất ác liệt ở bờ Bắc sông Nhật Lệ ạ
Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng, Bùi Hữu Hiếu đều bàng hoàng trước tin dữ. Trần Quang Diệu nói:
-Chúng ta sai rồi. Mải mê đánh Quy Nhơn không để quân chủ lực và tướng giỏi phòng thủ kinnh thành. Chúng ta phải nhanh chóng ra đánh lấy lại Phú Xuân. Tướng quân Nguyễn Văn Long đâu.
-Dạ, có mạt tướng.
-Tướng quân lĩnh 1 vạn quân giữ Quy Nhơn. Ta với Võ tướng quân, Bùi tướng quân về đánh lấy lại Phú Xuân.
-Mạt tướng tuân lệnh.
Rồi Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng, Bùi Hữu Hiếu dẫn 3 vạn quân đi theo đường thiên lý về Phú Xuân. Đến một đoạn đường hiểm trở gần đèo Hải Vân, thốt nhiên một phát hỏa pháo bắn lên trời, tiếp đó súng và cung tên, tạc đạn ném, bắn vào quân Tây Sơn như mưa. Quân Tây Sơn đã bị quân Nguyễn do Đắc Lộc Hầu Nguyễn Đình Đắc mai phục. Bị bất ngờ, quân Tây Sơn gục xuống hàng nghìn. Tiếp đó quân Nguyễn bốn bên xông ra chém giết. Quân Tây Sơn chống cự ngoan cường nhưng phần lớn hy sinh. Xác quân Nguyễn cùng quân Tây Sơn chồng chất, máu ngập đường thiên lý vài dặm, Trần Quang Diệu, Bùi Hữu Hiếu, Võ Văn Dũng mở đường máu chạy lên đường thượng đạo, tìm đường về Bắc sông Linh Giang. Bỗng có thám mã về báo:
-Dạ bẩm Thiếu phó, quân ta đã bại trận ở Nhật Lệ, Nghệ An cũng đã mất tháng 5 năm 1802. Nguyễn Quang Bàn, Nguyễn Văn Thận, Đặng Xuân Đằng ở Thanh Hóa đã đầu hàng Nguyễn Phúc Ánh, Thăng Long mất vào tay quân Nguyễn tháng 6 năm 1802. Hoàng thượng Bửu Hưng, Nguyễn Quang Thùy chạy lên phía Bắc, bây giờ không biết ở đâu ạ.
Trần Quang Diệu hỏi:
-Tướng quân có biết nữ tướng Bùi Thị Xuân giờ ở đâu không ?
-Đô Đốc Bùi Thị Xuân giờ vẫn ở Nghệ An, chắc là chờ Thiếu phó.
Bùi Hữu Hiếu nói:
-Đại cục đã sụp đổ, Thiếu phó và Đại Đô đốc hãy cùng về miền quê Nông Cống hẻo lánh của mạt tướng may ra tránh được sự truy lùng gắt gao của quân Nguyễn.
Trần Quang Diệu nói:
-Ta không thể bỏ mặc thê tử của mình được. Ta phải về Nghệ An để tìm. Võ Đại Đô đốc đi với Bùi tướng quân đi.
Ba người nắm tay nhau bùi ngùi:
-Cáo biệt Thái phó.
-Cáo biệt Võ Đại đô đốc, Bùi Đại đô đốc.
Rừng Nghệ An trút lá vàng, gió xạc xào buồn nẫu ruột trước cuộc chia ly không bao giờ gặp lại. Ngày 1 tháng 6 năm Nhâm Tuất 1802, Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi hoàng đế. Mấy ngày sau, tại Phú Xuân, Trong điện Trung Hòa, Nguyễn Phúc Ánh đầu đội vương miện màu vàng, những dây ngọc của vương miện rủ xuống hai vai lấp lánh lung linh, áo bào vàng rộng thùng thình vẽ hai con rồng uốn quanh rất dữ tợn và châu đầu vào hình tròn tượng trưng cho mặt trời, hai chân đi hài vàng. Nguyễn Phúc Ánh nói:
-Nhờ sự cố gắng chiến đấu của các tướng lĩnh, nay đã lật đổ được nhà Tây Sơn. Nước một ngày không thể không có vua, tuân theo mệnh trời và lòng mong mỏi của các tướng lĩnh, của ba quân, nay ta đăng quang hoàng đế, lấy đế hiệu Gia Long, Kinh đô Phú Xuân, Quốc hiệu Việt Nam, còn có thể gọi là Đại Nam. Bá quan văn võ vội quỳ hành lễ:
-Chúc mừng hoàng thượng, hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.
-Miễn lễ, các ái khanh bình thân
-Đa tạ hoàng thượng
Gia Long nói tiếp:
-Nay ta tuyên bố tăng thuế và sưu lên nhiều lần để bù vào những tổn thất sau nhiều năm chiến tranh, để xây dựng lăng tẩm, hoàng thành, Tử Cấm thành ở Phú Xuân sao cho nguy nga tráng lệ như Tử Cấm thành của nhà Minh -Thanh ở Đại Đô.
-Xóa bỏ tất cả những chính sách mà nhà Tây Sơn đã thi hành. Xóa bỏ tất cả nhưng di tích văn hóa, sách vở, lăng mộ bia, đền chùa của nhà Tây Sơn và những đền miếu thờ Tây Sơn.
-Khai quật lăng mộ của nhà Tây Sơn, đặc biệt là mộ Nguyễn Nhạc, Nguyễn Hụệ, Nguyễn Lữ.
-Tiêu diệt tất cả những anh em thuộc dòng họ Tây Sơn, những gia đình dòng họ các tướng lĩnh Tây Sơn hoặc có dính líu đến Tây Sơn.
-Quân ta đã bắt được Nguyễn Quang Toản, Nguyễn Quang Thùy ở Kinh Bắc, Nguyễn Quang Bàn ở Thanh Hóa dù đã dầu hàng nhưng vẫn không được tha. Nay ta xuống chỉ đem tất cả những người con của Nguyễn Huệ ra pháp trường, cứ một tội đồ cho 5 voi xé xác.
-Quân ta đã bắt được thê tử Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân và con gái ở Nghệ An. Nay ta truyền chỉ đem Trần Quang Diệu xử lột da, đem Bùi Thị Xuân và con gái cho voi xé xác.
-Rất nhiều tướng lĩnh của Tây Sơn đã tháo chạy còn chưa bắt được như Tây Sơn thất hổ tướng: gồm Lý Văn Bưu, Võ Văn Dũng, Võ Đình Tú, Nguyễn Văn Tuyết, Lê Văn Hưng, Nguyễn Văn Lộc, Bùi Hữu Hiếu mà nay mới chỉ bắt được mỗi Trần Quang Diệu. Nay ta xuống chỉ truy lùng gắt gao bắt các tướng lĩnh Tây Sơn đang lẩn trốn đem về trị tội. Các khanh nên nhớ rằng ta vì chín đời chúa mà trả thù cho nên không thể lơ là, không thể nương tay. Ai chứa chấp cũng như là giặc Tây Sơn, giết.
Bá quan văn võ trong điện Trung Hòa vội quỳ xuống hô:
-Hoàng thượng anh minh, chúng thần tuân chỉ.
Trời Phú Xuân bỗng nhiên tối xầm lại, gió như bão và bắt đầu mưa. Những hạt mưa đỏ như máu dội xuống ào ào lênh láng cả hoàng thành, cả kinh thành. Lá cờ vàng trên đỉnh nóc điện Trung Hòa đổ gục xuống. Một triều đại mới bắt đầu, nội chiến tương tàn đã chấm dứt, hoàn thiện việc thống nhất đất nước mà Tây Sơn đã đặt nền tảng.
Nhưng Gia Long đã thiết lập một chế độ phong kiến chuyên chế cực đoan, với bộ máy quan lại tha hóa, độc ác, bóc lột dân nghèo xơ xác, kìm hãm đất nước trong vòng lạc hậu về tư tưởng, kinh tế, quốc phòng. Kết quả 60 năm sau, Việt Nam thất bại trong cuộc chiến tranh Việt- Pháp (1858-1884), triều đình Huế ký hàng ước Patonot bán nước. Việt Nam bị biến thành thuộc địa của Pháp. Máu của bá tính dân lành vẫn tiếp tục tuôn chảy trên con đường lịch sử thăng trầm đầy máu lửa của dân tộc Việt.
12-5-2020
(Hết tập V)