I

   Trong cơn tàn cuộc, nội bộ nhà Mạc không thống nhất lại được, mạnh ai nấy làm. Mạc Đôn Nhượng lập Mạc Kính Chỉ, con của Mạc Kính Điển lên ngôi, trong khi đó Mạc Ngọc Liễn lại lập một người con khác của Mạc Kính Điển là Mạc Kính Cung. Vũ An Đế Mạc Toàn thế cô phải chạy theo Mạc Đôn Nhượng và Mạc Kính Chỉ. Mạc Toàn vì thế chỉ lấy tước hiệu là Vũ An Vương. Khắp miền Bắc và miền Đông hàng vạn quân Mạc tiếp tục ra đầu hàng quân Nam Triều. Mùa xuân 1593, Mạc Kính Chỉ tập hợp được 6 vạn quân, lên ngôi ở xã Nam Giản, huyện Chí Linh, Hải Dương, lấy niên hiệu là Bảo Định. Trịnh Tùng sai Nguyễn Thất Lý, Bùi Văn Khuê và Ngô Đình Nga tiến đánh Mạc Kính Chỉ. Các tướng Nam Triều thua trận, Nguyễn Thất Lý tử trận, Ngô Đình Nga trọng thương. Trịnh Tùng sai Hoàng Đình Ái đem 7 vạn quân đánh dẹp. Quân Ái tới Cẩm Giàng. Mạc Kính Chỉ dốc hết quân ra giữ Thanh Lâm, lấy dãy núi Hầm Giang làm chỗ dựa, đắp thêm hào lũy dọc ven sông. Chiến sự giằng co nhau lâu ngày không phân thắng bại, hai bên tướng sĩ không lúc nào được cởi áo giáp.Trịnh Tùng thấy vậy tự dẫn quân qua sông Nhị, đi gấp đến Cẩm Giàng. Trịnh Tùng ra lênh:

-Tướng quân Hoàng Đình Ái nghe lệnh:

-Dạ

-Tướng quân đem quân đánh vào hạ lưu sông Thanh Lâm.

-Mạt tướng tuân lệnh.

-Tướng quân Nguyễn Hữu Liêu.

-Có mạt tướng.

-Tướng quân đem quân bao vây chặn cửa rút lui của quân Mạc.

-Mạt tướng tuân lệnh.

         -Ta sẽ đánh từ thượng lưu sông ép lại phối hợp với tướng quân Hoàng Đình Ái.

Ngày 9 tháng 1 năm 1593, một trận hợp vây của quân Nam Triều ở Chí Linh, các chiến lũy phòng thủ Thanh Lâm của quân Mạc tan vỡ, quân Mạc đại bại, bị giết 6 vạn người. Triều đình của Mạc Kính Chỉ tháo chạy. Hoàng Đình Ái cho quân truy kích đến thôn Tân Manh, huyện Hoành Bồ, An Quảng (Quảng Ninh) bắt được bọn Vũ An Vương Mạc Toàn, An Sơn Vương Mạc Kính Thành, Hoàn Lương Công Lý Hựu, Mạc Kính Chỉ, Mạc Kính Phu, Mạc Kính Thân, Mạc Kính Tuần đều là con Mạc Kính Điển…tổng cộng hơn 60 người đem chém hoặc buộc thắt cổ chết ở bến Cỏ (Thảo Tân). Mạc Đôn Nhượng (con của Mạc Thái Tông) chạy lên Lạng Sơn, ít lâu sau thì qua đời.

chuylm1-1645805025.jpg
Thăng long thời Mạc- Lê Trịnh. Nguồn: Internet.

 

Lão tướng quốc cửu nhà Mạc Nguyễn Quyện bị Trịnh Tùng bắt đưa về Thanh Hóa. Ngày 4-11-1593 Nguyễn Quyện bị giết chết trong ngục ở Vạn Lại-An Trường. Các con là Nguyễn Tín, Thọ Nham Hầu Nguyễn Trù, các con của Phùng Hưng Hầu Nguyễn Miễn (em Nguyễn Quyện)  là Phù Hưng hầu Đô Mỹ, Văn Bảng, Nam Dương, An Nghĩa, Nhân Trí chạy theo Mạc Kính Cung lên Cao Bằng. Ái nữ của Nguyễn Quyện là Nguyễn Thị, hoàng hậu nhà Mạc, sau khi Đông Kinh thất thủ không rõ tung tích.

 Năm 1593, Mạc Ngọc Liễn Lập con của Mạc Kính Điển là Mạc Kính Cung lên ngôi ở bờ Bắc sông Nhị, lấy niên hiệu Càn Thống. Ngày 24 tháng 4 năm 1593 Trịnh Tùng cầm quân đánh dẹp. Mạc Ngọc Liễn thua rút chạy. Tùng sai các tướng về giữ các phủ Hạ Hồng, Thượng Hồng, Khoái Châu, Thuận An, Từ Sơn, ra lệnh cho dân phiêu tán do chiến tranh nay về quê lập nghiệp.        

Năm 1594 Mạc Ngọc Liễn đưa Mạc Kính Cung chạy về An Bắc, chạy sang Tư Minh Trung Quốc.

Lúc này Thái Bảo Đà Quốc Công Chưởng Phủ Sự Mạc Ngọc Liễn ốm và qua đời, để lại di chúc cho Mạc Kính Cung là “Thà lánh thân nước ở ngoài chứ đừng mời người Tàu sang hại dân hại nước”. Mạc Ngọc Liễn là con Nguyễn Kính, đại thần nhà Mạc, được mang quốc tính họ Mạc. Ông là một tướng trung thành với nhà Mạc và có tinh thần yêu nước. Năm 1596 Phan Ngạn tiếp tục đánh dẹp, bắt được Trang Vương Mạc Kính Chương, cháu nội Mạc Kính Điển ở An Quảng và giết chết.

Trịnh Tùng sai sửa sang cung điện ở Đông Kinh, sai Thái phó Dương Quốc Công Nguyễn Hữu Liêu đón xa giá vua Lê Thế Tông đã từ Vạn Lại- An Trường về Tây Đô rồi ra Đông Kinh. Ngày 16 Tháng 5 năm 1593 vua ngự ở điện Càn Nguyên nhận lễ mừng của các quan, đại xá thiên hạ, phong thưởng các tướng Nam Triều có công. 60 năm nhà Lê lại về kinh đô cũ nhưng vị thế thời cuộc không còn như xưa.

 Từ năm 1593 đến năm 1594, Nguyễn Hữu Liêu tiếp tục đánh phá và tiêu diệt tàn quân Mạc ở Hải Dương, Thái Nguyên, Lạng Sơn. Do công lao đó nên được phong thưởng: Được thu thuế 4 phủ xứ Sơn Tây, ăn lộc một số làng Đường Hào, Hưng Yên, Ngọc Sơn, Thanh Hóa, La Sơn Thanh Chương, Quỳnh Lưu Nghệ An.

  Năm 1595 Trịnh Tùng buộc vua Lê Thế Tông phong cho mình làm Bình An Vương, lập phủ chúa bên ngoài hoàng thành, song song với triều đình của vua Lê. Ở trung ương, nhà Trịnh đã lập ra một bộ máy hành chính riêng, gọi là Ngũ phủ liêu, nắm toàn bộ quyền lực của đất nước, biến vua Lê thành hư vị hoàn toàn. Phủ chúa đứng đầu là chúa Trịnh, dưới chúa có chức quan Tham tụng tương đương tể tướng, dưới Tham tụng là Bồi tụng, ở Đông Kinh có ngũ phủ là 5 cơ quan quân sự hành chính, đứng đầu mỗi phủ là tả, hữu Đô đốc. Đó là Trung quân, Đông quân, Tây quân, Bắc quân, Nam quân. Nhà Trịnh còn đặt ra 6 phiên, chức năng là cơ quan hành pháp như 6 bộ của nhà Lê. Phiên binh nắm quân sự, Phiên hình nắm tư pháp, Phiên hộ  nắm dân số nhân khẩu, phiên công nắm xây dựng đường sá, nhà cửa cầu cống, cung điện, công xưởng nhà nước, Phiên lại nắm và bổ nhiệm, thăng giáng, cách chức quan lại, Phiên lễ nắm ngoại giao. Chính quyền địa phương không thay đổi cấu trúc như thời Lê Thánh Tông. Cả nước chia thành các đơn vị hành chính là Trấn, phủ, huyện, xã và làng ở miền xuôi, bản ở miền núi. Chính quyền trung ương ngũ phủ liêu và phiên, chính quyền địa phương các cấp đều dặt dưới quyền của chúa Trịnh. Chúa Trịnh nắm hết thực quyền của đất nước. Vua Lê thành hư vị, chỉ còn được 5000 quân túc vệ, 7 con voi, 20 thuyền rồng, thu thuế 1000 xã làm bổng lộc.

   Ngày 28 tháng 3 năm 1597, vua Lê Thế Tông thân đốc xuất Hữu tướng Hoàng Đình Ái, Thái úy Nguyễn Hoàng (từ Thuận Hóa ra), Nguyễn Hữu Liêu cùng tả hữu đô đốc 8 người đem voi và 5 vạn quân lên trấn Nam Quan giao thiệp với nhà Minh. Hoàng Đình Ái tâu:

-Tình hình nhà Minh hiện nay không thể đánh được nước ta, chỉ có thể là diễu võ dương oai để ta sợ, thực hiện mưu đồ mà xưa kia tổ tiên của họ thất bại, Xin Đô Tướng Tiết chế cho lệnh được tùy nghi đối phó.

  Trịnh Tùng nói:

-Hữu tướng nói phải lắm.

  Trịnh Tùng liền trao cho Hoàng Đính Ái thanh gươm “An Quốc”.

  Đại diện nhà Minh là Vương Kiến Lập trông thấy quân Lê-Trịnh oai  hùng dũng mãnh, khiếp sợ, từ bỏ dã tâm bắt nạt, đe dọa. Cuộc Hội Khám do đó đó tiến hành đúng nghi lễ ngoại giao. Nhà Minh buộc phải công nhận nhà Lê là triều đại cai trị Đại Việt.

 Tháng 3 năm 1597, do công lao to lớn với Nam Triều, lão tướng Nguyễn Hữu Liêu được phong Thái úy Dương Quốc Công. Tháng 5  năm 1597 Nguyễn Hữu Liêu mất, thọ 66 tuổi. Có đền thờ ở Đông Khê, Tây Tựu, Từ Liêm.

  Ngày 3 tháng 1 Năm 1598, Hoàng Đình Ái đem quân đánh quân Mạc ở Lạng Sơn, bắt được Mạc Kính Luân, thu 35 chiến mã và nhiều khí giới. Tháng 6 năm đó, Ái sai Lâm Quận Công Trần Phúc đem 1.000 quân đến châu Thoát Lãng, bắt được con trai Mạc Kính Cung khi đó 12 tuổi, giải về kinh giết bằng thắt cổ. Tháng 8 năm 1598 Mạc Kính Dụng họp quân ở huyện An Bắc, xưng Uy Vương, muốn giết viên Thổ quan là Phú Lương Hầu để cướp đất đai. Phú Lương Hầu giả hàng, dụ Kính Dụng vào núi, giết hết tay chân rồi báo cho Trịnh Tùng. Trịnh Tùng bắt Kính Dụng về kinh thắt cổ chết. Mạc Kính Cung  chạy về cố thủ Cao Bằng.

   Năm 1606 Hoàng Đình Ái ốm nặng. Trịnh Tùng đến thăm và hỏi:

-Hữu tướng quốc một thời công lao dồn lại to hơn núi Thái. Hữu tướng có muốn được gia ơn chức tước gì cho con cháu?

 Hoàng Đình Ái đáp:

-Đa tạ Tiết chế, Người ta sinh ra ở đời, ai có bổn phận người ấy, công lao nên tự lập, chức tước chớ lạm phong.

  Lão tướng Nam Triều Hoàng Đình Ái mất ngày 15 tháng 12 năm Đinh Mùi 1607 tại Đông Kinh, hưởng thọ 81 tuổi.

  Triều đình Lê-Trịnh thương tiếc, cho để tang 5 ngày, không thiết triều 5 ngày, lấy dân 10 xã làm lính canh giữ phần mộ.

 *

*      *

 Vào một đêm mùa hạ năm 1600, tại Đông Kinh, trong dinh thự của Mỹ Quận Công Bùi Văn Khuê có tiệc rượu mà tham gia là ba tướng tâm phúc gắn bó từ thời bỏ Mạc theo Lê -Trịnh. Trong ánh đèn mờ ảo của những ngọn đèn dầu lạc, trên mâm thức ăn đã vơi đi quá nửa, ba vò rượu chỉ còn vỏ không lăn long lóc. Ba tướng vẫn chưa có dấu hiệu ngừng lại. Bùi Văn Khuê nâng bát tiếp tục mời Phan Ngạn và Ngô Đình Nga.

-Uống đi chiến hữu, uống cho vơi nỗi buồn.

Ba người cạn bát. Ngô Đình Nga đặt bát và hỏi Bùi Văn Khuê:

-Mỹ Quận công có gì buồn vậy?

Bùi Văn Khuê thở dài:

-Ta vì bị tên hôn quân Mạc Mậu Hợp bức bách mới sang với Nam Triều. Ta đã đem hầu hết lực lượng thủy binh của Nhà Mạc về, nhờ vậy Đô tướng Tiết chế Trịnh Tùng mới giành được toàn thắng, bắt được Mạc Mậu Hợp. Vậy mà…

Phan Ngạn hỏi

-Vậy mà sao Mỹ Quận Công?

-Vậy mà Trịnh Tùng không nể công lao của ta, vẫn đem nhạc phụ của ta là Nguyễn Quyện và một số con em ra giết khiến cho ta xấu hổ hết đường ăn nói với phu nhân của ta. Tại sao Trịnh Tùng lại không thể tha thứ cho một ông già đã 82 tuổi về với điền viên vui thú nhàn tản vài năm. Giết ông già để làm gì kia chứ.

Ngô Đình Nga thở dài nói:

-Phải rồi, thật là quá đáng, giết ông già thì được gì kia chứ? Nhà Mạc đã sụp đổ rồi, còn lo ông già giúp nhà Mạc được sao? Hẳn là Bùi phu nhân vô cùng buồn khổ?

Bùi Văn Khuê thở dài:

-Tình cảnh phu nhân ta thật đáng thương, hai anh trai tử trận khi phòng thủ Đông Kinh, chị là hoàng hậu sau trận chiến năm 1592 mất tích không biết đi đâu, phụ thân và một số cháu bị Nam Triều giết trong ngục.

Phan Ngạn nói:

-Trịnh Tùng quả là tay không biết điều, công lao của ta đem thủy binh về cho Nam Triều chiến thắng ai mà không biết. Sao không nể tình mà tha cho ông già?.

chanh-nha-mc-1645892837.jpg

Di tích thành nhà Mạc ở Lạng Sơn. Nguồn: Internet

 

Ba tướng lại uống. Sau khi đặt bát xuống, Phan Ngạn nói nhỏ:

-Bây giờ tại hạ nói điều này không biết nhị vị tướng quân có nghe được không? Không nghe được thì bỏ ngoài tai, coi như tại hạ chưa nói.

Bùi Văn Khuê nói:

-Tướng quân cứ nói, chỗ đồng liêu thân thích với nhau, không ngại.

Phan Ngạn hạ giọng nói nhỏ hơn:

-Nhà Mạc chưa hẳn đã diệt vong, hiện nay còn thế lực của Mạc Kính Cung ở Cao Bằng, ở Dương Kinh có lực lượng bí mật của Bùi thái hậu, mẫu thân của Mạc Mậu Hợp không phải là nhỏ. Quân bản bộ của ba chúng ta cộng lại cũng được ba vạn. Ta khởi sự chống lại Lê-Trịnh, rước Bùi thái hậu, rước Mạc Kính Cung về Đông Kinh lập lại nhà Mạc. Làm như vậy thứ nhất rửa được hận cho Mỹ Quận Công và Bùi phu nhân, thứ hai là ba chúng ta công lao to lớn có thể trở thành Thái tể của nhà Mạc phục hưng.

Ngô Đình Nga nói:

-Kế Quận Công Phan Tướng quân nói chí phải, chỉ còn ý của Mỹ Quận Công thế nào thôi?

Bùi Văn Khuê nói:

-Đa tạ hai tướng quân đã lo nghĩ cho tại hạ. Thôi cũng đành như vậy thôi. Nhưng khởi sự mà muốn thành công thì nên chiếm Đông Kinh hay Dương Kinh trước đây?

Phan Ngạn nói:

-Muốn thắng nhanh và quyết định thì phải chiếm Đông Kinh. Sau đó thì mời Bùi thái hậu và Mạc Kính Cung về lập triều đình thì nhà Mạc được phục hưng.

Ngô Đình Nga nói:

-Hiện nay thời cơ tốt nhất cho ta chiếm Đông Kinh đã có.

Bùi Văn Khuê hỏi:

-Có như thế nào?

Ngô Đình Nga nói:

-Trịnh Tùng đã đem hầu hết quân chủ lực đi đánh chúa Bầu họ Vũ ở Tuyên Quang. Các tướng giỏi như Đinh Văn Tả đang đem quân đi dẹp loạn ở Hải Dương, Kinh Bắc. Hiện nay Đông Kinh chỉ còn quân ngự lâm và một số ít do Trịnh Tráng trông coi mà thôi.

-Tối mai ta hành động, số quân ba vạn ta tập trung ở hướng Nam và Đông. Tốt nhất cho quân bí mật tập kết gần hoàng thành, tại hạ sẽ lừa quân lính mở cổng thành nói là vào gặp Trịnh Tráng có việc gấp. Khi lính mở cổng thành thì tràn vào, ai chống cự thì giết, không được chém giết lan tràn.

Ngô Đình Nga nói:

-Không được giết quân lính đã đầu hàng và bách tính, còn họ hàng nhà Lê, nhà Trịnh giết hết để báo thù cho cố lão tướng quân Nguyễn Quyện.

Ngô Đình Nga nói:

-Giết hết, nhổ cỏ nhổ tận gốc.

Ngô Đình Nga cười ha hả:

-Ha!ha!ha! Năm 1592 kinh đô tắm máu nhà Mạc, bây giờ đến lượt tắm máu hai họ Lê-Trịnh. Ha!ha!ha!

Hoàng hôn ngày tháng 6 trôi dần, Đông Kinh chìm dần trong bóng tối. Bùi Văn Khuê cùng các tùy tướng đi vào cổng hoàng thành phía Nam, nói với lính canh trên mặt thành:

-Mở cổng thành, ta vào gặp thế tử Trịnh Tráng có việc quân khẩn cấp.

-Thứ lỗi, tướng quân trình lệnh bài.

Bùi Văn Khuê rút lệnh bài giơ lên. Người lính canh đi xuống, phút chốc cổng hoàng thành mở toang. Bọn tùy tướng của Bùi Văn Khuê xông vào giết hết lính gác, tiếp theo là 3 vạn quân tràn vào hoàng thành và tử cấm thành. Bách tính sợ hãi đã vào nhà riêng đóng cửa nhưng kinh đô không một bóng người lính Lê -Trịnh. Quân phản loạn cùng Bùi Văn Khuê, Phan Ngạn, Ngô Đình Nga xông vào cung thất để giết vua Lê Kính Tông, tàn sát thân vương, gia quyến Lê-Trịnh nhưng các cung điện tư dinh đều trống rỗng, không một bóng người, chỉ còn lại những quần áo nhung lụa và đồ gia dụng vứt bừa bộn chất đống, chứng tỏ một cuộc tháo chạy vội vàng không lâu vừa diễn ra.

 Phan Ngạn dí gươm vào cổ một tên lính canh giữ hoàng thành còn lại hỏi:

-Nói thật không ta giết, Trịnh Tráng, hoàng tộc và tôn thất Lê-Trịnh đâu?

-Dạ bẩm tướng quân xin tha mạng, từ trưa hôm nay, quân đội và tôn thất Lê-Trịnh đã được Trịnh Tráng đưa xuống thuyền ở Đông Bộ Đầu, còn đi đâu tiểu nhân không biết. Xin tha mạng.

Ngô Đình Nga nói:

-Sao Trịnh Tráng lại biết được kế hoạch của chúng ta nhỉ?

Bùi Văn Khuê nói:

-Trịnh Tráng là tay tổ chức lưới do thám rất giỏi. Có thể trong gia nhân nhà ta có người của Trịnh Tráng.

Phan Ngạn nói:

-Bây giờ cho truy kích được không?

-Có lẽ chúng đi đường thủy, từ sông Nhị Hà ra sông Đáy, ra cửa Vạn An, về Lạch Trường vào Tây Đô. Ta đi bộ đuổi thế nào được.

Phan Ngạn trách:

-Ai bảo tướng quân đem hết thủy binh cho Lê-Trịnh?

Bùi Văn Khuê buồn rầu:

-Đi theo Lê-Trịnh cái mạng sống của mình và gia đình còn trao cho họ, huống hồ là bộ binh, thủy binh.

Ngô Đình Nga nói:

-Dù sao chúng ta cũng đã làm chủ Đông Kinh, việc cấp bách là thành lập triều Mạc. Bây giờ cho đi đón Bùi thái hậu trước hay hoàng thượng Mạc Kính Cung trước?

Bùi Văn Khuê nói:

-Bùi Thái hậu đang bí mật cùng một người con nhỏ của Mạc Mậu Hợp trốn tránh ở Cổ Trai Dương Kinh, đã tổ chức được một lực lượng ngầm rất lớn. Đi đón thái hậu về trước để bà quyết định mọi công việc, sau đó đón Mạc Kính Cung.

Ngô Đình Nga nói:

-Vậy tại hạ đi đón Bùi thái hậu, Mỹ Quận Công và Phan Quận Công ở lại tổ chức nghi lễ triều đình đi.

Ngày hôm sau Bùi Văn Khuê và Phan Ngạn đang ngồi trong cung Càn Nguyên thì tùy tướng vào báo:

-Dạ bẩm tướng quân, Tướng quân Ngô Đình Nga đã đưa Bùi thái hậu sắp tiến vào cổng phía Nam hoàng thành.

Bùi Văn Khuê nói với Phan Ngạn:

-Chúng ta ra đón Bùi thái hậu.

Bùi Văn Khuê, Phan Ngạn cùng tùy tùng ra ngoài hoàng thành, thấy Ngô Đình Nga cưỡi ngựa đi trước, phía sau 6 người lính khênh một chiếc kiệu phủ vải vàng có khoảng 300 lính hộ tống. Ngô Đình Nga trông thấy Bùi Văn Khuê, Phan Ngạn liền xuống ngựa, cho dừng kiệu, mở rèm cửa và kính cẩn mời hoàng thái hậu. Trên kiệu bước xuống một người đàn bà khoảng 36 tuổi, quấn khăn vàng, mặc áo vàng, đi hài vàng đẹp như tiên giáng trần. Bùi Văn Khuê, Phan Ngạn không xa lạ gì Bùi thái hậu. Đó là người đàn bà có sắc đẹp tuyệt thế và dịu dàng, khéo léo, được vào cung khi 16 tuổi và được Mạc Tuyên Tông hết sức yêu chiều nên sớm trở thành hoàng hậu, lại sớm sinh cho Mạc Tuyên Tông một con trai là thái tử Mạc Mậu Hợp. Năm 1564 Mạc Mậu Hợp mới một tuổi thì Mạc Tuyên Tông qua đời đột ngột. Mạc Mậu Hợp lên ngôi và Bùi hoàng hậu khi đó mới 20 tuổi được tôn là Bùi Thái hậu nhưng bà không phải buông rèm nhiếp chính mà đã có Khiêm Vương Mạc Kính Điển làm thay.

Sự sụp đổ của triều Mạc năm 1592 đã mang lại cho Bùi thái hậu biết bao đau thương cực khổ. Con trai là Thuần Phúc Đế Mạc Mậu Hợp bị bắt và bị giết, cháu nội là Vũ An Đế Mạc Toàn cũng bị bắt và chung số phận, bà phải đem đứa con nhỏ của Mạc Mậu Hợp trốn tránh bí mật ở làng quê Hải Dương. Dù vậy, Bùi thái hậu không nản lòng, bà bí mật tập hợp lực lượng đợi thời cơ để trung hưng nhà Mạc. Khi Ngô Đình Nga tới đón, bà cho rằng thời cơ đã đến và quyết định đi với Ngô Đình Nga về Đông Kinh. Bùi Văn Khuê trông thấy Bùi thái hậu thầm nghĩ trải qua thời gian bao đau thương gian khổ mà bà vẫn đẹp như cách đây 16 năm. Bùi thái hậu xuống kiệu. Bùi Văn Khuê và Phan Ngạn vội quỳ hành lễ:

-Thái hậu thiên thiên tuế. Để cho quốc mẫu khó nhọc đó là tội của chúng thần.

Bùi thái hậu nói:

-Miễn lễ, các ái khanh đứng dậy đi. Chiếm lại Đông Kinh và trung hưng nhà Mạc, công lao của các ái khanh thật là to lớn.

Bùi Văn Khuê đáp;

-Dạ không dám, kính mời thái hậu về lại cung xưa của Người.

Vừa vào cung, Bùi thái hậu cho tùy tướng đi báo tin và mời Mạc Kính Cung ở Cao Bằng về. Hôm sau và sau nữa, các quan văn võ của nhà Mạc tản mác các nơi lần lượt tìm về Đông Kinh gần đông đủ. Quân sĩ tản mác các nơi hoặc tân binh mới chiêu mộ cũng về tụ tập đông đến vài vạn người. Trong buổi thiết triều đầu tiên ở cung Càn Nguyên, triều đình tôn Bùi thái hậu là Quốc mẫu, Mạc Kính Cung chính thức lên ngôi hoàng đế niên hiệu Càn Thống, triều đình bá quan văn võ đã được khôi phục và định hình. Mạc Kính Cung nói:

-Khôi phục lại triều đình công lao to lớn thuộc về các tướng quân Bùi Văn Khuê, Phan Ngạn, Ngô Đình Nga. Nay phong Bùi Văn Khuê làm thái úy, Phan Ngạn làm thái phó, Ngô Đình Nga làm thái bảo

Bùi Văn Khuê, Phan Ngạn, Ngô Đình Nga quỳ hành lễ:

-Đa tạ hoàng thượng, thần tuân chỉ.

Mạc Kính Cung nói tiếp:

-Trấn Sơn Nam vẫn là tuyến đầu chống quân Lê -Trịnh, nay cử Bùi Văn Khuê là Tổng trấn,  Phan Ngạn là Tư mã đến đó toàn quyền quyết định dân sự và quân sự chống giặc. Ngô Đình Nga là Điện tiền chỉ huy sứ bảo vệ kinh thành.

-Hạ thần tuân chỉ.

Lại nói Trịnh Tráng được một do thám là gia nhân của nhà Bùi Văn Khuê nghe được kế hoạch phản loạn của ba tướng, biết lực lượng không đủ phòng vệ Đông Kinh, thứ hai nếu Đông Kinh thất thủ thì vua Lê Kính Tông, hoàng tộc và tôn thất nhà Trịnh sẽ vô cùng nguy hiểm. Trịnh Tráng bí mật cho rút lui bằng đường thủy về Tây Đô Thanh Hóa. Từ Thanh Hóa, Trịnh Tráng cho tùy tướng chạy ngựa báo tin gấp cho Trịnh Tùng đang tác chiến ở Tuyên Quang. Trịnh Tùng nhanh chóng kéo quân về. Tây Đô cuối cùng lại thành nơi tụ hội của triều Lê Trung Hưng và phủ chúa Trịnh. Trịnh Tùng cho do thám hoạt động dày dặc ở Đông Kinh và trấn Sơn Nam để nắm tình hình, xác định thời cơ phản công chiếm Đông Kinh, tiêu diệt nhà Mạc.

                            

chua-trinh-1645972422.jpg
Tranh minh họa: Phủ Chúa Trịnh tại Đông Kinh (Thăng Long). Nguồn: Internet.

                                  

Vào một ngày cuối mùa hạ năm 1600, Trịnh Tùng đang ngồi trong hành dinh ở Tây Đô thì có thám mã về báo:

-Dạ bẩm Bình An Vương, nội bộ quân Mạc ở trấn Sơn Nam có biến.

-Biến gì, nói nhanh.

-Dạ, là do tổng trấn Sơn Nam là Bùi Văn Khuê, Tư mã là Phan Ngạn.  Tư mã Phan Ngạn say mê sắc đẹp của Bùi phu nhân là Nguyễn Thị Niên, đã dụ Bùi Văn Khuê ra sông Hoàng Long Ninh Bình giết chết để nhằm chiếm đoạt Bùi Phu Nhân.

Chợt lại có thám mã về báo tiếp:

-Dạ bẩm Bình An Vương, Bùi Phu nhân Nguyễn Thị Niên để trả thù cho chồng đã dụ Tư mã Phan Ngạn ra sông Hoàng Long. Phan Ngạn một mình xuống thuyền và đã bị thị nữ của Bùi Phu nhân giết chết rồi ạ.

Lại có thám mã về báo:

-Dạ bẩm Bình An Vương, có hai người, một là thanh niên, một là thiếu niên tay cầm phong thư nói là con của Bùi Văn Khuê và Nguyễn Thị Niên xin vào gặp.

-Cho vào.

Một thanh niên, một thiếu niên khôi ngô tuấn tú bước vào quỳ và nói:

-Dạ bẩm chúa công, hai tiểu nhân là con của Bùi Văn Khuê, thân mẫu là Bùi phu nhân, tiểu nhân là trưởng nam, tên là Bùi Văn Nguyên đã từng gặp chúa công ở Vạn Lại- An Trường. Phụ thân của tiểu nhân đã bị Phan Ngạn giết hại, thân mẫu đã sai người giết chết Phan Ngạn để báo thù. Nhưng…

-Nhưng sao?

-Thân mẫu sau đó viết bức thư này, bảo tiểu nhân về với chúa công, còn thân mẫu đã gieo mình xuống sông Hoàng Giang tự vẫn rồi ạ.

-Thư đâu?

-Dạ.

Bùi Văn Nguyên dâng thư. Trịnh Tùng mở thư đọc. Thư viết : “Thần tiếp cúi đầu kính chào Bình An Vương. 16 năm nay việc gia đình của thiếp quá nhiều đau thương do binh lửa, do dục vọng con người. Thần thiếp không muốn sống nữa. Nay hai con trẻ của thiếp bơ vơ, Nhà Mạc cũng đã tàn lụi. Chỉ mong chúa công rộng lượng thu nhận hai con thiếp. Dưới suối vàng thần thiếp sẽ phù hộ cho chúa công. Tuyệt thư huyết lệ-Bùi phu nhân kính thư.”

Trịnh Tùng đọc xong thư và nói:

-Thân phụ các ngươi đã có công đem thủy binh về cho ta, nhờ đó ta nhanh chóng lật đổ nhà Mạc. Sao không ở cùng ta hưởng vinh hoa phú quý, lại phản loạn để tan nát cả một gia đình. Đáng thương, đáng thương thay! Ta thu nhận hai ngươi vào quân đội.

-Đa tạ chúa công.

-Bay đâu.

-Đưa hai thanh, thiếu niên này về đội thủy binh, huấn luyện và chăm sóc chu đáo, sai sót ta trị tội.

-Dạ.

Bùi Văn Nguyên dẫn em đi rồi. Trịnh Tùng nói:

-Bùi Văn Khuê và Phan Ngạn là hai trụ cột của nhà Mạc, nay đã tự giết lẫn nhau. Nhà Mạc coi như không còn ai nữa. Bay đâu.

-Dạ.

-Gọi thế tử Trịnh Tráng đến đây.

-Dạ.

Trịnh Tráng bước vào hành lễ. Trịnh Tùng nói:

-Con hãy đem 100 chiến thuyền, thủy binh 3 vạn đi theo sông Ninh Giang ra sông Hát, tiến vào Nhị Hà tấn công Đông Kinh.

-Dạ, con tuân lệnh.

-Còn ta sẽ chỉ huy bộ binh tiến ra Sơn Nam tiêu diệt đạo quân của Quận Vân.

Ngày hôm sau Trịnh Tùng dẫn quân ra Sơn Nam, gặp quân Mạc ở cửa sông Giang, quân Lê Trịnh không dàn trận cứ xông lên chém giết. Quân Mạc tuy đông nhưng là nhiều thanh niên nông dân mới họp lại, chưa quen chiến trận, bị đánh thua tơi tả chạy về Gián Khẩu. Quân Lê Trịnh tràn qua Tam Điệp đánh Gián Khẩu. Quân Lê Trịnh phá chiến lũy, ào ạt xông lên chém giết. Vân Quận Công bỏ quân đội tháo chạy. Từ Gián Khẩu Sơn Nam, quân Lê Trịnh tiến về Đông Kinh mà không gặp một sự kháng cự nào của quân Mạc.

Trong khi đó đạo thủy binh của Trịnh Tráng từ Ninh Giang tiến ra sông Hát, tiến vào sông Nhị Hà phối hợp cùng bộ binh đánh Đông Kinh. Các cánh cửa kinh thành 4 phía nhanh chóng bị quân Lê- Trịnh mở toang, quân Mạc hoặc bị giết hoặc đầu hàng. Mạc Kính Cung nhờ các tùy tướng mở đường máu thoát vây chạy theo đường Thái Nguyên, Bắc Cạn lên Cao Bằng. Bùi thái hậu bị bắt và bị giết, Ngô Đình Nga bị bắt và bị Trịnh Tùng ra lệnh phanh thây. Em Phan Ngạn là Quận Quỳnh ra đầu hàng và được Trịnh Tùng tha chết.

Tháng 8 năm 1600 vua Lê Kính Tông và Triều đình cùng phủ chúa về lại Đông Kinh. Một sáng trong phủ chúa Trịnh Tùng đang ngồi uống trà, chợt có thám mã về báo:

-Dạ bẩm Bình An Vương, tại Lãnh Giang Thanh Trì thuộc Đông Kinh, Phù Quốc Hầu nhà Mạc là Nguyễn Dụng chỉ huy 1 vạn quân đang tiến đánh Đông Kinh.

Trịnh Tùng nói:

-Bay đâu.

-Dạ.

-Điểm 3 vạn quân ta tự thân chinh dẹp loạn.

-Dạ.

  Rồi Trịnh Tùng cưỡi voi che lọng tía, áo chiến bào tía, áo giáp tía, đội mũ đâu mâu màu tía, đi hài tía dẫn đại quân về Thanh Trì. Nguyễn Dụng dàn trận nghênh chiến. Trịnh Tùng dàn quân hình cánh cung chuẩn bị thế bao vây. Trên mình voi, Tùng trỏ kiếm hô:

-Xông lên giết.

  Hai bên lăn vào chém giết. Quân Trịnh Tùng đông, lại thiện chiến. Quân Dụng bị bao vây bị giết thây chồng chất, máu đẫm mặt đất. Nguyễn Dụng bị chặt đầu ngay tại trận, 7.000 quân bị giết, còn lại thì đầu hàng.  Đó là một ngày đầu tháng 1 năm 1601. Từ đó, trong phủ chúa qua các năm Trịnh Tùng liên tiếp nhận được tin báo thắng trận dẹp tàn dư nhà Mạc:

-Dạ bẩm Bình An Vương, Tướng Đinh Văn Tả đã tiêu diệt xong tàn quân Mạc, bình định được Hải Dương và Lạng Sơn.

  Vào năm 1609 thám mã báo:

-Dạ bẩm Bình An Vương, tướng Trịnh Đỗ cùng tướng Nguyễn Danh Thế đã đánh đuổi được Mạc Kính Cung khỏi Thái Nguyên.

  Năm 1618 thám mã báo:

-Dạ bẩm Bình An Vương, các tướng Trịnh Tráng, Trịnh Xuân, Nguyễn Cảnh Kiều, Nguyễn Văn Gia, Tạ Thế Thục, Nguyễn Khải Danh, Trịnh Lâm, Trịnh Bảng đã đánh bại Mạc Kính Khoan ở Thái Nguyên.

Năm 1621 thám mã về báo:

-Dạ bẩm Bình An Vương, Thái úy Vinh Quốc Công đã đuổi Mạc Kính Khoan chạy lên Cao Bằng.

  Tháng 7 năm 1623, Đông Kinh nóng như đổ lửa. Trịnh Tùng bị bệnh nguy kịch nằm trong phủ chúa, căn bệnh kiết lỵ hoành hành làm cho Bình An Vương kiệt sức không nhấc nổi chân tay, liền gọi:

-Bay đâu

-Dạ.

-Gọi thế tử Trịnh Tráng đến đây.

-Dạ.  

  Trịnh Tráng đến quỳ bên giường:

-Bệnh cha có thuyên giảm phần nào không ạ.

ban-phu-cb-1646062038.jpg
Thành Bản Phủ nằm trên một vùng rộng lớn bao quanh là sông nước và đồng ruộng thuộc xã Hưng Đạo, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng. Theo truyền thuyết và sử sách, sau khi bị Nam Triều (Lê -Trịnh) đấnh bật khỏi Đông Kinh năm 1592, tàn quân Mạc chạy lên xây thành Bản Phủ là nơi thiết triều của ba đời vua Mạc là Mạc Kính Cung, Mạc Kính Khoan và Mạc Kính Vũ trải dài 85 năm (1592 -1677). Nguồn: Internet.

 

  Trịnh Tùng nhìn Trịnh Tráng nói nhỏ:

-Không thuyên giảm mà ngày càng tăng lên. Có lẽ ta sắp đi. Sau khi ta đi con hãy lên ngôi chúa nắm lấy quyền quân sự, dân sự và hành chính. Con là chúa phải lấy giang sơn, xã tắc, bách tính Đại Việt làm trọng. Ta có 19 con trai, trưởng nam là Trịnh Túc, anh con đã mất năm 28 tuổi do bị voi húc, con là thứ hai, sau đó đến Trịnh Xuân và các đệ, tất cả đã được ta phong vương. Một muội là Trịnh Thị Ngọc Trinh, là hoàng hậu của hoàng thượng Lê Thần Tông. Con phải thương yêu giúp đỡ đại lượng với các đệ, muội của mình. Còn nữa, con phải cố gắng tiêu diệt tàn dư của nhà Mạc trên Cao Bằng, đưa giang sơn về một mối, trừ đi mối hiểm họa cho nước nhà,  cho Lê-Trịnh. Nhà Minh bên kia biên giới dù đã sang thời kỳ suy tàn, nhưng người lãnh đạo quốc gia phải đề phòng, không để chúng xâm lấn đất đai và xâm lược.

  Trịnh Tráng quỳ khóc nhận cố mệnh:

-Con xin vâng và làm theo những lời cha dặn.

Trong vương phủ của mình, khi được tin do thám báo Trịnh Tùng đã di chiếu cho Trịnh Tráng kế vị ngôi chúa, Vạn Quận Công Trịnh Xuân gần như phát điên. Trong cuộc tranh giành ngôi vị, Trịnh Xuân là em nhưng tranh giành rất quyết liệt với Trịnh Tráng. Trước đó, vào năm 1619, Trịnh Xuân đã liên kết với vua Lê Kính Tông ám sát Trịnh Tùng để giành ngôi chúa. Trịnh Xuân cho mai phục để bắn vào Trịnh Tùng trên con đường Bình An Vương đi về phủ. Voi sắp lọt vào trận địa, bỗng nhiên lá cờ bị gió gục đổ, Trịnh Tùng vội cho voi đi trước, còn ngài đi kiệu về sau. Trịnh Xuân bắn người quản tượng và voi chết. An Bình Vương thoát nạn, tra xét thì vua Lê và Trịnh Xuân chủ mưu. Trịnh Tùng đã giết chết vua Lê Kính Tông rồi đưa vua Lê Thần Tông lên thay, nhưng lại  tha tội cho Trịnh Xuân vì là con không nỡ xuống tay. Trịnh Xuân vẫn chứng nào tật ấy, liền xông vào phủ chúa, quỳ hành lễ và oán trách Trịnh Tùng. Trịnh Tùng mắng:

-Tài năng thì mày không có, đạo đức thì mày đã phạm tội giết cha. Tài đức như vậy mà đòi cai trị thiên hạ sao. Ta đã tha tội chết cho mày, mày còn định làm loạn sao? Cút ra ngoài…

  Trịnh Xuân chạy ra ngoài như điên loạn, luôn miệng kêu:

-Ta là người kế vị…

-Ta mới là người kế vị…

  Xuân chạy vào nhà bếp phủ chúa không ai ngăn cản được, rút lửa trong bếp ra và châm vào nhà bếp. Xuân chạy ra và cầm bó củi đó châm đốt khắp nơi trong phủ chúa. Phút chốc gặp khí nóng và gió nồm, cả phủ chúa biến thành một biển lửa. Lầu son gác tía, dinh thự, phủ đường, doanh trại bốc lửa ngùn ngụt thành than đỏ rực. Cả một vùng Đông Bắc hoàng thành chìm trong khói lửa. Tông thất, quan lại phủ chúa Trịnh chạy thoát thân ra ngoài nhìn vương phủ, của cải, vàng bạc chìm trong lửa. Tiếng kêu than vang vọng trời đất. Lính cận vệ vội cáng Trịnh Tùng chạy đến dinh của thân vương Trịnh Đỗ, em ruột Trịnh Tùng ở Hồng Mai. Sợ cháy lan sang Long Phượng Thành, triều thần cho dời xa giá vua Lê Thần Tông và hoàng gia đến Ninh Giang, sau đó về Tây Đô. Trong biến loạn như vậy Trịnh Đỗ có âm mưu cướp ngôi chúa, liền bàn với một gia tướng tâm phúc:

  -Trịnh Tùng sắp chết, chỉ cần lừa giết được Trịnh Xuân và Trịnh Tráng thì ngôi chúa thuộc về cành thứ chúng ta. Tướng quân đến phủ Trịnh Xuân nói rằng Trịnh Tùng sắp chết, muốn trao ngôi vị, mời Xuân đến nhận.

  Nghe gia tướng của Trịnh Đỗ thông báo, Trịnh Xuân cả mừng vội dẫn tùy tùng đến nhà Trịnh Đỗ, bị đao phủ của Trịnh Đỗ mai phục bắt giam và sau đó chặt chân cho đến chết. Năm đó Trịnh Xuân mới 45 tuổi.

  Trịnh Đỗ nói:

-Còn Trịnh Tráng nữa. Nếu giết xong Trịnh Tráng, ta lên ngôi chúa thì ai dám chống đối.

  Liền cho tùy tướng đi mời Trịnh Tráng:

-Mời thế tử đến gặp, Bình An Vương sắp không qua khỏi.

  Trịnh Tráng định đi, con là Trịnh Tạc nói nói:

-Trịnh Xuân vừa bị lừa đến nhà Trịnh Đỗ và bị giết. Bây giờ cha đến đó mà bị giết thì ngôi chúa sẽ thuộc Trịnh Đỗ.

  Trịnh Tráng thôi không đi nữa.

  Trịnh Tùng biết mình sắp chết, bảo Trịnh Đỗ cáng đến phủ của Trịnh Tráng để gặp con. Cáng đi đến Thanh Xuân thì Trịnh Tùng tắt thở qua đời, hưởng thọ 74 tuổi. Trịnh Tráng ra đón thi hài Trịnh Tùng, đưa về mai táng tại Sáo Sơn, Vĩnh Hùng, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa. Do tài thao lược mà Trịnh Tùng đã lật đổ nhà Mạc năm 1592, loại bỏ nhà Mạc khỏi vũ đài chính trị, hoàn thành sự nghiệp trung hưng của nhà Lê. Bởi công lao to lớn, Trịnh Tùng được truy phong là Thành Tổ Triết Vương.

  Sau lễ tang Trịnh Tùng, Trịnh Tráng sai bọn Lê Bật Tứ, Bùi Sĩ Lâm vào Thanh Hóa đón vua Lê Thần Tông về Đông Kinh, mặt khác sai thu dọn tàn dư của hỏa hoạn và ra lệnh xây dựng phủ chúa mới cho thật nguy nga tráng lệ hơn xưa. Tháng 11 âm lịch năm 1623, Trịnh Tráng tự phong mình là Nguyên soái Tổng Quốc chính Thanh Đô Vương, là chúa thứ ba tính từ thời Trịnh Kiểm.

II

  Cho đến năm 1625, Lê-Trịnh đã kiểm soát được đất nước từ Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa và toàn bộ miền Bắc, Mạc Kính Cung, Mạc Kính Khoan chỉ còn mảnh đất cuối cùng là Cao Bằng. Nhà Mạc dựa vào địa thế miền núi hiểm trở, xây dựng thành Bản Phủ làm chỗ đứng chân cố thủ chống lại quân Lê -Trịnh.

  Thành Bản Phủ thuộc đất Cao Bình, mảnh đất thuộc hai bờ sông Bằng Giang, trung tâm của bồn địa Hòa An. Thành Bản Phủ xưa là kinh đô của nước Nam Cương của Thục Chế, cha của Thục Phán An Dương Vương, vua nước Âu Lạc của người Lạc Việt và Âu Việt. Thành Bản Phủ của nhà Mạc xây hình chữ nhật dài gần 28 Trượng, rộng gần 19 trượng, có hai cửa Đông và Tây, tường thành chình bằng đất sét, bốn bên có hào lũy, có trồng tre gai đày đặc. Thành soi mình xuống dòng Bằng Giang ngày đêm tuôn nước. Trong thành có Hy Cung trên gò Đốn Lân, có Tây Cung, nơi ở của các phi tần, có trường Quốc học ở Bản Thành, có chùa Đà Quân với tiếng chuông vang vọng mỗi buổi hoàng hôn, có địa danh Thiên Thanh dùng để chiêm tinh bói toán, có đàn Nam Giao cho thiên tử cúng tế giao tiếp với trời, có Đào Viên, có vườn Thượng uyển, có nơi nuôi ngựa cho triều đình, có giếng Bó Phủ nước chảy ra Đầm Sen. Kinh Đô Bản Phủ tồn tại từ năm 1594 cho đến năm 1677, trong đó Mạc Kính Cung, Mạc Kính Khoan, Mạc Kính Vũ đã tổ chức triều đình hai bên văn võ như thời ở Đông Kinh, đã tổ chức nhiều khoa thi hội lấy học vị Tiến sĩ, trong đó có một nữ Tiến sĩ duy nhất của Đại Việt thời phong kiến là bà Nguyễn Thị Duệ.

  Một buổi sáng năm 1625, vua Càn Thống Mạc Kính Cung đang ngồi trong Ly Cung thì có thám mã về báo:

-Dạ, bẩm hoàng thượng, tướng Lê-Trịnh là Trịnh Kiền, con trưởng chúa Trịnh Tráng đem 5 vạn quân đang đánh tới kinh đô Bản Phủ.

  Mạc Kính Cung gọi:

-Bay đâu.

-Dạ.

-Tập trung quân để ta ra thành diệt giặc.

-Dạ.

Mạc Kính Cung mở cổng thành phía Nam, đem 3 vạn quân ra ngoài thành nghênh chiến. Trịnh Kiều trông thấy quân Mạc ào ào ra khỏi thành. Mạc Kính Cung đội mũ đâu mâu vàng, áo bào vàng có thêu rồng, áo giáp vàng, đi hài vàng, mang một thanh gươm lớn, cán vàng, cưỡi ngựa nâu, có võ sĩ cầm lọng vàng che trên đầu, cao trên lọng là lá cờ vàng mang chữ Mạc. Mạc Kính Cung thấy quân Trịnh Kiều dàn hình cánh cung, sẵn sàng triển khai thế bao vây. Trông thấy quân Mạc, Trịnh Kiều hô to:

-Xông lên giết.

chutrtacj-1646149204.jpg
Một phác thảo thường phục chúa Trịnh Tạc. Nguồn: Internet

  Quân Mạc chưa kịp dàn trận, lại đa số là lính mới, chưa quen chiến trận nên nhanh chóng tan vỡ tháo chạy. Quân Trịnh khép vòng vây chém giết, thây đổ ngổn ngang, máu nhuộm đỏ cả sông Bằng Giang. Mạc Kính Cung và các tướng muốn phá vòng vây nhưng không được. Thủ hạ tử trận hết và hoàng đế Càn Thống bị bắt, bị đem về Đông Kinh và bị giết. Mạc Kính Cung ở ngôi 32 năm (1592-1525).

 Trịnh Kiều rút quân về thì Mạc Kính Khoan lên thay, biết không đủ lực lượng chống lại Lê-Trịnh, Mạc Kính Khoan dâng biểu xin thần phục, được vua Lê Thần Tông phong là Thái úy Thống Quốc Công, con cháu được trông coi đất Cao Bằng, hàng năm chỉ nộp cống mà thôi. Mùa xuân năm 1638 Mạc Kính Khoan qua đời, ở ngôi 13 năm (1625-1638).

  Con Mạc Kính Khoan là Mạc Kính Vũ lên ngôi, họp triều đình Bản Phủ ở Ly Cung. Mạc Kính Vũ nói:

-Mười ba năm nay, phụ vương ta do chưa đủ lực lượng mà thần phục Lê-Trịnh. Nay lực ta đủ mạnh, lại dựa vào địa thế hiểm yếu của Cao Bằng, từ nay ta không thần phục, không nộp cống nữa. Các khanh có tấu gì không?

  Văn võ bá quan đồng thanh:

-Hoàng thượng anh minh.

-Ta lấy đế hiệu là Thuận Đức hoàng đế.

-Hoàng thượng vạn vạn tuế.

-Các khanh bình thân.

-Đa tạ hoàng thượng.

  Từ đó nhà Mạc cắt đứt quan hệ với Lê-Trịnh. Từ năm 1638 đến năm 1666 chúa Trịnh liên tục sai các tướng mang quân tấn công Bản Phủ. Nhưng do địa thế hiểm yếu, khí hậu khắc nghiệt, quân Lê -Trịnh nhiều lần phải lui binh. Có lần chúa Trịnh Tráng thân chinh nhưng phải rút quân vì quá nóng nực.

  Ngày 28 tháng 5 năm 1657 chúa Trịnh Tráng qua đời, hưởng thọ 81 tuổi, ở ngôi chúa được 34 năm, được truy phong Văn Tổ Nghị Vương.  Con là Trịnh Tạc lên ngôi chúa, là vị chúa thứ tư tính từ thời Trịnh Kiểm.

 Tháng 9 năm Đinh Mùi 1667, Trịnh Tạc quyết dồn đại binh tiêu diệt bằng được Mạc Kính Vũ. Trịnh Tạc ra lệnh:

-Thái Phó Trịnh Đống, Thiếu úy Trịnh Kiều, Thiếu phó Lê Thời Hiến, Đô Đốc Đồng Tri Đinh Văn Tả, Tả thị Lang Hoàng Triều Ninh nghe lệnh.

-Dạ có chúng mạt tướng.

-Các tướng quân do Đô đốc Đồng Tri Đinh Văn Tả thống lĩnh đem quân tiến theo đường Lạng Sơn tới Cao Bằng.

-Dạ, chúng mạt tướng tuân lệnh.

-Thị Lang Nguyễn Năng Thiệu, Lê Sĩ Triệt, Dương Hào do Dương Hào làm đốc tướng theo đường Thái Nguyên, Bắc Cạn tiến lên Cao Bằng

-Dạ, chúng mạt tướng tuân lệnh.

  Trịnh Tạc nói tiếp:

Ta sẽ đi theo đường Lạng Sơn lên Cao Bằng và thống lĩnh cả hai đạo quân. Các tướng quân rõ chưa?

Dạ, chúng mạt tướng tuân lệnh.

Trời mùa thu, gió se lạnh, mây bay lẫn với sương mù quấn khăn mỏng mơ màng trên cây lá. Núi rừng đường Thái Nguyên, Bắc Cạn, Cao Bằng ở phía Tây cũng như ở phía Đông Kinh Bắc, Lạng Sơn rung chuyển bởi bước chân của 6 vạn quân Lê -Trịnh, cờ vàng rợp trời bay  phấp phới, tiếng ngựa kêu voi gầm dữ tợn. Hai đạo quân họp lại tại Bó   Lài chuẩn bị tấn công Bản Phủ.

   Tại Bản Phủ, Mạc Kính Vũ đang họp triều đình bàn cách đối phó với quân Lê-Trịnh. Phụ Quốc Công Thượng tướng quân Kim Pha nói:

-Bẩm hoàng thượng, quân Lê- Trịnh thiện chiến, lại đông đến 6 vạn, ta tạm thời lánh sang châu Tiểu Trấn Yến của Trung Quốc, sau đó  quân Trịnh rút đi, ta sẽ quay về .                                                                            Mạc Kính Vũ nói:

 -Khanh nói chính hợp ý ta. Ta ra lệnh rút quân đội, triều đình khỏi Bản Phủ, dời xa giá sang châu Tiểu Trấn Yến.

    Bản Phủ bỏ không, Trịnh Tạc kéo quân vào cho hiểu dụ bách tính Cao Bằng, cắt cử quan lại cai trị các châu rồi rút quân về.

 Tả Thị Lang Hoàng Triều Hoa nói:

-Nhà Mạc đã chiếm Cao Bằng 75 năm, trước sau đất nước cũng phải thu về một mối. Nguyên Soái nên để nhiều quân do thám ở lại nắm tình hình các vùng, đặc biệt là địa thế Cao Bằng, cách bố phòng của nhà Mạc để sau này nếu có chiến sự sẽ tác chiến dễ dàng.

  Trịnh Tạc nói:

  -Khanh đúng là biết nhìn xa trông rộng.

  Rồi Trịnh Tạc ra lệnh rút quân về Đông Kinh.

  Mạc Kính Vũ lại quay về Bản Phủ, cai trị Cao Bằng.

  11 năm sau, vào tháng 2 năm 1677 thám mã báo về phủ chúa ở Đông Kinh:

-Dạ bẩm Tây Định Vương, nhà Mạc ở Cao Bằng rất suy yếu có thể tiêu diệt được rồi ạ.

   Trịnh Tạc ra lệnh:

-Tướng quân Đô Đốc Đinh Văn Tả cùng Thiếu úy Hoàng Triều Ninh đi theo đường Lạng Sơn tấn công Bản Phủ.

-Mạt tướng tuân lệnh.

-Thái Phó Nguyễn Hữu Đăng, Thiếu úy Hoàng Triều Hoa dẫn quân đi theo đường Thái Nguyên-Bắc Cạn đánh Bản Phủ.

-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.

Đạo quân đi theo đường Thái Nguyên- Bắc Cạn lên đến Cao Bằng tiến vào Bò Mèo, Khua Mu, xuyên qua rừng Ha đến Đại đồn Khau Cút nhưng gặp phải tuyến phòng thủ bờ tả sông Mã Giang quá kiên cố. Tướng Nguyễn Hữu Đăng ra lệnh:                                                                                                                             -Vượt sông tấn công.                                                

Tướng Hoàng Triều Hoa nói:

-Tấn công như vậy rất tổn thất mà khó thu thắng lợi, nên chờ đạo quân Lạng Sơn lên cùng phối hợp.

  Nguyễn Hữu Đăng nói;

-Tướng quân nói chí phải.

Đạo quân theo đường Lạng Sơn tháng 5 năm 1677 đến Thất Tuyền. Đinh Văn Tả hạ lệnh:

-Đánh bất ngờ cốt ở bí mật, mau hạ cờ im trống tiến quân.

-Tuân lệnh tướng quân.

Đạo quân 3 vạn người im lặng bí mật tiến vào châu Thạch Lan, Cao Bằng, canh ba bao vây tiêu diệt đồn Mục Mã. 3.000 quân Mạc đêm đang say rượu và say ngủ, quân Lê-Trịnh tiến vào đâm chết gần như toàn bộ, số còn lại đầu hàng. Mạc Kính Vũ ở Ly Cung ra lệnh cho tuỳ tướng:

-Tướng quân chạy ngựa gấp báo cho đại đồn Khau Xắm phải chặn được quân Lê-Trịnh, nếu không kinh đô Bản Phủ nguy ngập.

-Mạt tướng tuân lệnh.

Đinh Văn Tả hỏi thám quan Ma Khánh đã nằm vùng từ 11 năm trước:

-Tướng quân có biết con đường nào gần nhất mà lại bí mật đến Khau Xắm không?

-Dạ, mạt tướng biết.

-Tướng Quân dẫn đường đi.

-Mạt tướng tuân lệnh.

Nhờ có thám quan Ma Khánh, Nông Chuẩn  dẫn đường, đạo quân Đinh Văn Tả, Hoàng Triều Ninh vượt Hoàng Ngà, bí mật tiến đến Tương Cần. Quân Mạc ở Khau Xắm chỉ phòng bị mặt Nam và mặt Đông, không ngờ bị tập kích phía Bắc, chiến lũy phút chốc bị san bằng, 1 vạn quân bị giết, thây chồng như núi, máu chảy đỏ cả một vùng rừng núi. Chiến lũy phòng ngự mạnh nhất của Bản Phủ mở toang. Đến đây Đinh Văn Tả nói với Hoàng Triều Ninh:

-Chúng ta có thể bắc cầu phao, phối hợp với tướng quân Nguyễn Hữu Đăng, Hoàng Triều Hoa, phá tan phòng tuyến tả ngạn sông Mã Giang thì coi như cánh cửa vào Bản Phủ đã mở toang.

-Tướng quân nói phải lắm.

chuyimg-3159-1646234147.jpg
Dấu tích thành nhà Mạc ở thị trấn Hòa Thuận (Phục Hòa - Cao Bằng). Ảnh: baocaobang.vn

 

Nhận được pháo hiệu, bên tả ngạn sông, quân của Nguyễn Hữu Đăng, Hoàng Triều Hoa tấn công quân Mạc, bên hữu ngạn sông quân của Đinh Văn Tả theo cầu phao lao sang. Quân Mạc bị kẹp vào giữa, số lượng ít, chiến thuyền bị tiêu diệt, cổng đại đồn mở toang, quân Lê -Trịnh lao vào chém giết, 1 vạn quân Mạc bị tiêu diệt và đầu hàng. Phòng tuyến kiên cố tả ngạn sông Mã Giang, áo giáp của Bản Phủ bị đập nát. Bản Phủ Lâm nguy. Trên đường vào Bản Phủ, quân Lê -Trịnh còn đập nát Đại đồn Đồng Lâm, Đại đồn cuối cùng bảo vệ kinh đô. Quân Lê-Trịnh như cơn gió lốc của rừng núi ào ạt tiến vào Bản Phủ nhưng các cửa thành đã mở toang, trong cung điện, dinh thự không một bóng người. Đinh Văn Tả hỏi thám quan:

-Mạc Kính Vũ chạy lên căn cứ nào, tướng quân có biết không?

Thám quan Ma Khánh nói:

-Theo chỗ mạt tướng biết thì căn cứ hiểm trở nhất là cứ điểm  Đông Đắm, nằm trên núi đá Phúc Tăng, vùng Phúc Sơn. Mạc Kính Vũ chỉ có chạy tới đó mà thôi.

  Hoàng Triều Hoa hỏi:

-Hành quân đường nào tấn công lên đó ?

Thám quan Nông Chuẩn nói:

-Dọc đường có thể đi được thì có rất nhiều cứ điểm và cạm bẫy, đặc biệt là bẫy đá. Bẩy đá mà sập xuống chết một lúc hàng nghìn quân, thậm chí hàng vạn.

Hoàng Triều Ninh hỏi:

-Vậy tiến lên Phúc Tăng bằng cách nào?

Thám quan Ma Khánh nói:

-Mạt tướng cũng biết những đường khác tránh bẫy đá nhưng phải hỏi cụ già ở đây cho chắc chắn.

Đinh Văn Tả nói:

-Tướng quân biết tiếng Tày, phiền tướng quân tìm một cụ già về đây.

Mạt tướng tuân lệnh.

  Canh giờ sau Thám quan dẫn một cụ già khoảng 60 tuổi về. Các tướng chắp tay thi lễ:

-Kính chào lão trượng.

Cụ già chắp tay:

-Không dám, không dám, chào các tướng quân.

Đinh Văn Tả nói:

-Tại hạ muốn dẫn quân tiến lên núi Phúc Tăng, đi theo đường nào thì tránh được các cứ điểm và bẫy đá, xin nhờ lão trượng chỉ giúp, triều đình không dám quên công ơn.

  Cụ già đáp:

-Tướng quân có thể cho quân leo lên theo con đường dốc đứng lên ngọn Tểnh Dẻ, gọi là Nghiêu Sơn, sang Lũng Tôn, Lũng Nọi thì vào được Đông Đắm. Đó là con đường duy nhất không có bẫy đá. Đông Đắm cũng rất hiểm trở, Tướng quân có thể đem theo chất cháy ép Mạc Kính Vũ tháo chạy ra mà bắt.

-Đa tạ lão trượng. Bay đâu.

-Dạ.

-Đem biếu cụ già 20 lạng bạc.

Đinh Văn Tả trao bạc cho cụ già:

-Đây là quà của triều đình kính công lao của cụ.

Ông già nói:

-Đa tạ tướng quân, đa tạ triều đình, lão phu chỉ vì sự thống nhất giang sơn đất nước, chấm dứt can qua binh lửa cho bách tính thanh bình, đâu dám nhận thưởng. Xin cáo biệt. Chúc các tướng quân thành công.

 Trong cuộc đời chinh chiến, gan của các tướng đã thành thép mà bỗng nhiên bồi hồi xúc động. Tất cả vội chắp tay hành lễ:

-Đa tạ lão trượng, đa tạ.

 Đinh Văn Tả ra lệnh:

-Tướng quân Hoàng Triều Ninh, tướng quân Nguyễn Hữu Đăng.

-Có mạt tướng.

-Hai tướng quân chuẩn bị chất cháy, chọn ra 5.000 binh sĩ khỏe mạnh nhất, chuẩn bị vài chục trượng dây thừng đề phòng phải leo núi theo tướng quân Ma Khánh dẫn đường theo lời cụ già chỉ tấn công vào núi Phúc Tăng, đánh sập căn cứ Đông Đắm, giết hoặc bắt Mạc Kính Vũ. Còn các tướng quân khác đem quân vây chân núi Phúc Tăng bịt đường chạy của Mạc Kĩnh Vũ.

-Chúng mạt tướng tuân lệnh.

Một ngày trôi qua, Đinh Văn Tả nóng lòng chờ tin báo của 5.000 quân leo dốc đánh Đông Đắm, núi Phúc Tăng, bỗng có thám mã về báo:

-Dạ bẩm Đô đốc, quân ta lên Phúc Tăng, dùng hỏa công đốt cháy thành Đông Đắm nhưng Mạc Kính Vũ đã chạy thoát về thành Bó Hoài ở Lũng Lai rồi ạ.

  Đinh Văn Tả ra lệnh:

-Tướng quân Hoàng Triều Hoa, tướng quân đem 1 vạn quân do tướng quân Nông Chuẩn dẫn đường tiến đánh thành Bó Hoài.

-Mạt tướng tuân lệnh.

Một ngày sau lại có thám mã về báo cho Đinh Văn Tả:

-Dạ bẩm đô đốc, Mạc Kính Vũ từ thành Bó Hoài chạy ra thành Phục Hòa rồi ạ.

- Mạc Kính Vũ quả là tay khó chơi, chuẩn bị rất nhiều căn cứ để lẩn trốn. Bay đâu.

-Dạ.

-Truyền lệnh ta cho tướng Hoang Triều Hoa từ Bó Hoài theo đường Tốc Rú đi Kỳ Chỉ, hợp quân với ta ở Mưng Thiên cùng tiến đánh Phục Hòa.

-Mạt tướng tuân lệnh.

5 vạn quân Lê -Trịnh họp nhau ở Mưng Thiên ào ạt đánh thành Phục Hòa nhưng vào đến nơi chỉ là tòa thành trống rỗng, chỉ còn vài người lính bị thương nằm lại. Đinh Văn Tả hỏi:

-Mạc Kính Vũ chạy về đâu, nói ta tha mạng.

-Dạ tướng quân tha mạng, Mạc Kính Vũ đã chạy sang Long Châu Trung Quốc rồi ạ.

-Đem bao nhiêu quân sang Long Châu?

-Dạ chỉ đem theo gia đình và vài tướng tùy tùng thôi ạ.

-Quân đội đi đâu hết?

-Dạ, họ tử trận và số lớn chạy về quê nhà hết rồi ạ.

  Đinh Văn Tả cho thám mã đi do thám tung tích của Mạc Kính Vũ khắp Cao Bằng, kể cả Long Châu Trung Quốc. Sau khi thám mã từ Long Châu về báo chính xác Mạc Kính Vũ trốn sang Trung Quốc, sống ẩn dật vì sợ nhà Thanh truy bắt, Đinh Văn Tả mới tin rằng thế lực nhà Mạc hoàn toàn chấm dứt ở Cao Bằng năm 1677, mặc dù vai trò chính trị quốc gia đã chấm dứt từ năm 1592. Ở Cao Bằng, nhà Mạc được thêm ba đời vua kế tục nhau: Mạc Kính Cung (1592-1625), Mạc Kính Khoan (1625-1638), Mạc Kính Vũ (1638-1677), cát cứ được 85 năm. Năm 1677 chấm dứt cuộc nội chiến Nam Bắc Triều. Nhà Lê -Trịnh đưa Cao Bằng về với triều đình bao gồm 4 châu: Châu Thanh Lâm, Quảng Nguyên, Thượng Lang và châu Hạ Lang. Trong buổi thiết triều tại Đông Kinh, vua Lê Hy Tông nói:

-Công lao đưa Cao Bằng về với Triều đình Lê -Trịnh năm 1677 thuộc nhiều thế hệ, nhiều tướng lĩnh, sự hy sinh của nhiều quân sĩ. Nhưng công lao lớn nhất là các tướng trong cuộc tấn công cuối cùng năm 1677 như Đinh Văn Tả, Nguyễn Hữu Đăng, Hoàng Triều Hoa, Hoàng Triều Ninh. Bốn tướng nghe chỉ:

 Bốn tướng vội quỳ hành lễ. Quan Nội thị tuyên chỉ:

“Phụng thiên thừa vận, hoàng đế chiếu viết: xét công lao các tướng trong chiến công dẹp nhà Mạc, thu hồi trấn Cao bằng cho Triều đình:

Nay phong Đinh Văn Tả làm Thượng tể, phong Nguyễn Hữu Đăng làm Thái phó, phong Hoàng Triều Hoa chức Tổng Trấn Cao Bằng, được cấp thái ấp vùng Phúc Tăng, phong Hoàng Triều Ninh tước Thắng Quốc Công, chức Tư mã, thống lĩnh toàn bộ quân cơ ở trấn Cao Bằng, được cấp thái ấp vùng Xuân Lĩnh, vùng vương phủ Cao Bình, đóng ở thành Na Lữ.

Niên hiệu Vĩnh Trị năm thứ hai. Khâm thử”.

Bốn tướng đồng thanh:

Đa tạ hoàng thượng, hoàng thượng vạn tuế, vạn tuế.

-Miễn lễ, các ái khanh bình thân.

-Đa tạ hoàng thượng.

Cuộc nội chiến Nam-Bắc triều kéo dài 12 đời vua Lê Trung Hưng: Lê Trang Tông (1533-1548), Lê Trung Tông (1548-1556), Lê Anh Tông (1556-1573), Lê Thế Tông (1573-1599), Lê Kính Tông (1599-1619), Lê Thần Tông (1619-1643), Lê Chân Tông (1643-1649), Lê Thần Tông (1649-1662), Lê Huyền Tông (1663-1671), Lê Gia Tông (1672-1675) và Lê Hy Tông (1676-1704). Chiến tranh kéo dài 4 đời chúa: Thế Tổ Minh Khang Thái Vương Trịnh Kiểm (1545-1570), Thành Tổ Triết Vương Trịnh Tùng (1570-1623), Văn Tổ Nghị Vương Trịnh Tráng (1623-1652), Hoằng Tổ Dương Vương Trịnh Tạc (1653-1682). Chiến tranh qua 9 đời vua Mạc: Mạc Thái Tổ (1527-1529), Mạc Thái Tông (1529-1540), Mạc Hiến Tông (1540-1546), Mạc Tuyên Tông (1546-1561), Thuần Phúc Đế Mạc Mậu Hợp (1562-1592), Vũ An Đế Mạc Toàn, Mạc Kính Cung (1593-1621), Mạc Kính Khoan (1621-1638) và Mạc Kính Vũ (1638-1677).

  Chúa lật đổ vương triều Mạc, đưa triều Mạc rời khỏi vũ đài chính trị là Trịnh Tùng (1570-1623), chúa đánh bại nhà Mạc cát cứ là Trịnh Tạc (1653-1682). Trịnh Tạc mất ngày 24 tháng 9  năm 1682 thọ 76 tuổi được truy phong là Hoằng Tổ Dương Vương, mai táng ở cố đô Vạn Lại, Thọ Xuân, Thanh Hóa.

  Nội chiến Nam-Bắc triều kết thúc nhưng cuộc đấu tranh quyền lực giữa các dòng họ của giai cấp quý tộc phong kiến vẫn chưa kết thúc. Một cuộc nội chiến mới: Trịnh- Nguyễn phân tranh kéo dài 200 năm lại bắt đầu. Đại Việt lại bước vào cuộc chia cắt, nội chiến tương tàn đầy biến động đau thương trong các thế kỷ XVII-XVIII.

(Hết tập IV)