I

  Lúc này là mùa xuân năm 1418, muôn cảnh vật của miền đất Thanh Hóa đang chuyển dần khởi sắc sau một mùa đông rét mướt, tàn tạ. Cây lá đâm chồi nẩy lộc, vùng trung du Vĩnh Lộc tràn ngập cây xanh tươi màu óng ánh. Nắng dịu dàng rải khắp không gian. Mây bay trắng xóa trên bầu trời cao. Từng đàn chim tung cánh từ phương Nam tránh rét trở về. Thành Tây Đô với những khối đá đồ sộ vươn mình trong nắng. Những lá cờ vàng có chữ “Đại Minh” bay phấp phới trên mặt thành.

  Thành Tây Đô xưa là kinh đô của nhà Hồ, đã thay đổi chủ 11 năm nay, kể từ năm 1407. Mười một năm nay ngồi trên ngai vàng của nhà Hồ là những võ quan nhà Minh giữ sứ mạng cai trị trấn Thanh Hóa. Vẫn như mọi buổi sáng, tướng Minh Trần Trí, sau bữa ăn sáng là hắn ngồi vào cái ngai vàng xưa chỉ có vua của nước Đại Ngu là Hồ Quý Ly và sau là Hồ Hán Thương mới được ngồi. Hắn tựa lưng vào ngai vàng để uống trà. Hắn cảm thấy khoan khoái lạ thường khi tựa lưng vào cái ngai đó để hồi tưởng lại công cuộc chinh phục Đại Ngu mà hắn cho là đầy hiển hách. Hắn không ngờ một đất nước dưới vương triều Trần đã ba lần đánh bại 100 vạn quân Nguyên Mông, một đế quốc hùng mạnh và lớn nhất thời đó. Đến rộng lớn như Trung Quốc, đất nước của hắn dưới triều Tống cũng bị quân Nguyên Mông đánh bại năm 1279. Nhưng Đại Việt dưới triều Hồ được đổi là Đại Ngu, chỉ mấy tháng cuối năm 1406 và đầu 1047, không chống nổi 20 vạn quân Minh và nhanh chóng mất nước. Trần Trí không tài nào lý giải được. Trần Trí chỉ biết rằng Hồ Quý Ly sinh năm 1336, quê ở Hà Trung, trấn Thanh Hóa, trình độ chỉ đỗ khoa thi hương. Nhưng do có hai bà cô ruột là vợ của vua Trần Minh Tông. Một bà sinh ra vua Trần Duệ Tông, một bà sinh ra Trần Nghệ Tông nên Hồ Quý Ly được thăng quan tiến chức nhanh chóng. Năm 1371, Hồ Quý Ly là Khu Mật Viện Đan Sứ, năm 1380, được cử thống lĩnh quân đội đánh Chiêm Thành, năm 1387, được phong làm Tể tướng, nắm toàn bộ quyền lực trong triều đình. Năm 1397, cho xây thành ở Vĩnh Lộc bằng đá và sau đó cho dời kinh đô về đây gọi là Tây Đô, Thăng Long được gọi là Đông Đô. Năm 1400, Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần mà vua Trần Phế Đế là cháu ngoại của ông, cải quốc hiệu từ Đại Việt là Đại Ngu (niềm vui lớn), lấy Thanh Hóa làm Tây Đô, đặt niên hiệu là Thánh Nguyên. Được một năm, Hồ Quý Ly nhường ngôi cho con là Hồ Hán Thương, lui về làm Thái thượng hoàng nhưng vẫn nắm quyền lực. Hồ Quý Ly đã tiến hành một loạt cải cách kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa nhằm khắc phục sự khủng hoảng của kinh tế đại điền trang thái ấp của phong kiến bấy giờ. Nhưng cải cách của Hồ Quý Ly thất bại vì bị thế lực quý tộc nhà Trần và nhà Hồ chống lại vì chúng bị hạn chế ruộng đất, hạn chế số lượng nô tì. Mặt khác, giai cấp nông dân, nô tì không được gì trong cải cách, do đó họ không ủng hộ. Nhà Hồ bị cô lập trước dân tộc. Đại Ngu trải qua nạn đói dữ dội năm 1405. Hồ Quý Ly lại thảm sát 370 quý tộc Trần ở Tây Đô, trong đó có cả tướng Trần Khát Chân, người đã từng đánh bại Chiêm Thành và giết chết vua Chiêm là Chế Bồng Nga trong cuộc xâm lược ra Đại Việt năm 1390.

  Năm 1406, nhà Minh phát động chiến tranh xâm lược Đại Ngu. Nhà Minh cử hai đạo quân. Đạo thứ nhất 20 vạn quân do Trương Phụ chỉ huy từ Lạng Giang tiến vào, đạo thứ hai do Mộc Thạnh chỉ huy từ Lào Cai tiến xuống. Ngày 19 tháng 1 năm 1407, Trương Phụ phá vỡ phòng truyến Đa Bang ở bờ Nam sông Cầu, ngày 20 tháng 1, Thăng Long (Đông Đô) thất thủ. Tháng 7  năm 1407, quân Đại Ngu bị quân Minh đánh tan ở Vĩnh Lộc trong chiến dịch công phá Tây Đô. 16-7-1407, cha con Hồ Quý Ly và triều đình bị quân Minh bắt sống ở Thiên Cầm Hà Tĩnh và đưa sang lưu đày bên Trung Quốc. Như tướng Minh Hoàng Phúc nói: Thành công nhanh chóng như vậy chưa bao giờ có trong quá khứ.

 Nhà Hồ thất bại nhưng nhân dân Đại Việt không khuất phục, liên tục nổi dậy chống Minh. Đầu tiên là khởi nghĩa của Trần Ngỗi, con của Trần Nghệ Tông năm 1407 ở Ninh Bình, xưng là Giản Định Đế. Năm 1409, Giản Định Đế về với Trần Quý Khoáng, cháu nội của vua Trần Nghệ Tông, khởi nghĩa ở Nghệ An, đế hiệu là Trần Trùng Quang và được tôn là Thái thượng hoàng. Khởi nghĩa Trần Trùng Quang kéo dài từ 1409 đến năm 1014. Thái thượng hoàng Giản Định Đế và Trần Trùng Quang bị quân Minh bắt giải về Trung Quốc. Trên đường đi Trần Trùng Quang nhảy xuống sông tự vẫn.

  Trong cuộc chiến tranh năm 1406-1407, Trần Trí cũng là một tùy tướng của Trương Phụ, tham gia chiến đấu và làm nên chiến công. Hắn tựa lưng vào ngai vàng và cảm thấy dư vị ngọt ngào, ngạo nghễ của kể chiến thắng. Trần Trí còn phấn chấn hơn khi hắn đang thay mặt nhà Minh áp đặt một chính sách thống trị, áp bức bóc lột, đồng hóa vô cùng hà khắc đối với bách tính Đại Việt. Năm 1407, nhà Minh xóa bỏ quốc hiệu Đại Ngu, đổi thành quận Giao Chỉ và nhập vào hành chính của nhà Minh. Đứng đầu quận Giao Chỉ là ba ty: Ty đô phụ trách quân sự, chính trị, Ty Bố chính trong coi dân sự và tài chính, Ty Án sát nắm quyền tư pháp và giám sát. Dưới quận là chính quyền phủ, châu, huyện. Năm 1407, toàn Giao Chỉ có 15 phủ, 30 châu, 181 huyện. Nhà Minh tổ chức nhiều thôn ở Đại Việt kiểu Trung Quốc, 110 hộ thành một lý do lý trưởng đứng đầu, một giáp là 10 hộ do giáp thủ đứng đầu. Nhà Minh muốn phá vỡ kết cấu công xã nông thôn vững chắc của Đại Việt từ hàng nghìn năm để dễ bề cai trị, bóc lột, đồng hóa. Cùng với hệ thống hành chính, nhà Minh tổ chức một hệ thống quân sự dày đặc thành lũy để đàn áp những cuộc đấu tranh của bách tính Đại Việt. Tiêu biểu như các thành Tân Bình, Nghệ An (Hưng Nguyên), thành Diễn Châu ((Nghệ An), Tây Đô (Thanh Hóa), Cổ Lộng (Ý Yên Nam Định), Điêu Diêu (Gia Lâm), Đông Quan (Thăng Long), Chí Linh (Hải Dương), thành Xương Giang (Bắc Giang), thành Chi Lăng (Lạng Sơn), Tam Giang (Phú Thọ)…

    Với bộ máy hành chính, quân sự khổng lồ, nhà Minh thực hiện chính sách thống trị tàn bạo. Nhà Minh nghiêm cấm người Việt sử dụng vũ khí, thả sức chém giết, giết người rút ruột quấn vào cây, rán thịt người lấy mỡ, dùng nhục hình để mua vui, mổ bụng phụ nữ có thai, cắt tay mẹ con, bắt người đem bán ra bốn phương làm nô tì, bắt những người chống đối lưu đày sang Trung Quốc. Về kinh tế, nhà Minh ra sức vơ vét tham tàn. Sau khi đánh chiếm được Đại Việt, chỉ 6 tháng đầu tiên nhà Minh đã vơ vét 235.000 con ngựa, 130.600.000 thạch thóc, cướp 86.700 chiếc thuyền. Nhà Minh đã thiết lập một hệ thống thu thuế má: Ty thuế khóa, Ty tuần kiểm, Ty thuế muối và các cơ quan khai thác tài nguyên, bắt dân Đại Việt đem về nước làm phu phen. Chỉ năm 1407, Trương Phụ đã bắt 9000 thợ thủ công, phường nhạc, thầy thuốc, phụ nữ, trẻ em. Năm 1417, nhà Minh xây dựng kinh đô mới ở Bắc Kinh, đã bắt rất nhiều nhân công và thợ  sang phục vụ cho việc xây dựng kinh đô mới.

  Nhà Minh chủ trương thủ tiêu nền văn hóa Đại Việt để thủ tiêu dân tộc Việt. Đào tạo bọn tay sai người Việt gọi là thổ quan, bắt trẻ em Việt sang Trung Quốc đào tạo, chiêu mộ thổ binh (ngụy quân) để đánh lại đồng bào mình. Từ năm 1416, từ Bắc đổ vào Ninh Bình cứ 3 suất đinh bắt một suất lính, từ Thanh Hóa vào cứ 2 suất đinh bắt một suất lính. Nhà Minh tiến hành hủy diệt nền văn hóa Việt, đốt tất cả các sách, kể cả sách của trẻ con học như loại sách thương đại, nhân ất kỷ, tàn phá hết bia do người Việt dựng (trừ bia Trung Quốc). Trương Phụ đã thu hết sách vở cổ kim của người Việt đem về Kim Lăng (Nam kinh), xóa bỏ phong tục tập quán của người Việt và cưỡng bức người Việt theo phong tục Hán, mặc y phục Hán, bắt không được nhuộm răng đen, đàn ông không được cắt tóc, phụ nữ không được mặc váy mà phải mặc quần dài như nữ Hán, truyền bá lễ giáo nhà Minh, quy định cách ăn mặc theo đẳng cấp của xã hội phong kiến Hán. Tất cả chỉ nhằm hủy diệt dân tộc Việt, thay vào đó là dân tộc Hán trên mảnh đất này. Trần Trí mơ tới ngày đó. Hắn cất tiếng cười ha hả và tu thêm vài bát rượu. Chợt có tùy tướng vào báo:

-Dạ bẩm phó tướng quân, có thổ quan Lương Nhữ Hốt muốn xin gặp.

-Cho vào.

-Dạ.

  Lương Nhữ Hốt vốn là quan lại dưới triều Hồ Quý Ly, người huyện Cổ Đằng, phủ Thanh Hóa, đã đầu hàng nhà Minh và được phong tri huyện Lương Giang, phủ Thanh Hóa, đã được sang Yên Kinh gặp vua Minh Thành Tổ. Cho nên, Lương Nhữ Hốt là một tên Việt gian rất trung thành với nhà Minh. Trông thấy Trần Trí, Lương Nhữ Hốt cúi mình xun xoe:

-Hạ quan xin chào Phó tướng quân.

-Chào Lương tri huyện. Bay đâu.

-Dạ.

-Rót rượu mời tri huyện đại nhân.

  Hai người cạn bát rượu xong, Trần Trí hỏi:

-Lương tri huyện vào thành có việc gì chăng?

-Dạ bẩm phó tướng quân, hạ quan đã dò ra được một người đang chuẩn bị nổi loạn chống lại nhà Minh trong nay mai.

  Trần Trí hốt hoảng:

-Kẻ nào? Ở đâu?

-Dạ, Lê Lợi ở hương Lam Sơn, huyện Lương Giang, Thanh Hóa.

-Lương đại nhân nói rõ hơn về Lê Lợi xem nào.

-Dạ bẩm, Lê Lợi sinh ngày 6 tháng 8 năm Ất Sửu (1385) ở Lam Giang, huyện Lương Giang, phủ Thanh Hóa trong một gia đình hào trưởng giàu có. Lê lợi nối đời làm phụ đạo Lam Sơn, từng nghiền ngẫm nhiều sách vở binh pháp, hạ mình cầu hiền tài, bỏ tiền nuôi binh sĩ. Năm 1416, Lê lợi đã cùng 18 người khác tham gia “Hội thề Lũng Nhai” thề sống chết có nhau, cùng hy sinh cứu nước.

  Trần Trí hỏi:

-18 người đó là những ai?

-Dạ, bẩm, đó là Lê Lợi, Lê Lai, quê quán Dục Tú, Kiến thọ Ngọc Lạc, Lê Thận ở Mục Sơn, Xuân Bái, Lương Giang, Lê Văn An cùng quê với Lê Thận, Lê Văn Linh ở Thọ Hải, Lương Giang, Trịnh Khả ở Kim Bôi, Vĩnh Lộc, Trương Lôi, gia tướng của Lê Lợi, Lê Liễu, cùng quê với Lê Lợi, Bùi Quốc Hưng ở Chương Mỹ, Hà Tây, Lê Hiểm, dân tộc Mường ở Ngọc Lạc, Vũ Uy, cùng làng với Trương Lôi, Nguyễn Trãi ở Nhị Khê, Thường Tín, Đinh Liệt, Lưu Nhân Chú ở Đại Từ, Thái Nguyên, Lê Bồi ở Lương Giang, Thanh Hóa, Lê Lý ở Xuân Lam, Lương Giang, Đinh Lan, cùng quê với Đinh Liệt, Trương Chiến cùng quê với Trương Lôi, Đinh Lễ ở Thủy Cối, Lương Giang và Lê Ninh.

Trần Trí lại hỏi:

-Lũng Nhai là ở đâu?

-Dạ bẩm, Lũng Nhai thuộc núi Pù Mé, làng Lũng Mi, Ngọc Phụng, huyện Thường Xuân, phủ Thanh Hóa, cách hương Lam Sơn 24 dặm về phía Tây.

  Trần Trí hỏi:

-Hội thề Lũng Nhai là 2 năm trước. Tình hình nay thế nào mà đại nhân nói Lê Lợi sắp nổi loạn?

-Dạ, bẩm phó tướng, từ đó đến nay trong nhà Lê Lợi có hàng nghìn gia nhân, ngựa nuôi hàng nghìn, anh hùng hào kiệt trong thiên hạ kéo về Lam Sơn không ngày nào ngớt. Đó là mầm loạn rất nguy hiểm đe dọa chế độ của Minh triều tại Giao Chỉ. Mong phó tướng hãy xuất binh diệt trừ mầm họa đó.

chuyhtln1-1640968299.jpg
Tranh minh họa Hội thề Lũng Nhai. Nguồn: Internet

 

  Trần Trí tức giận:

-Hèn chi mà mấy lần Phương Chính đại nhân mời Lê Lợi ra làm quan cho chúng ta, Lê Lợi đều từ chối. Vinh thân phì gia không muốn lại muốn đi vào đường chết, không thể hiểu nổi.

-Bay đâu.

-Dạ, cho mời tướng quân Sơn Thọ và Mã Kỳ tới đây.

-Dạ.

  Sơn Thọ, Mã Kỳ bước vào:

-Dạ, kính chào phó tướng quân.

-Chào hai tướng quân. Bay đâu.

-Dạ, rót rượu mời hai tướng quân.

-Dạ.

  Trần Trí, Sơn Thọ, Mã Kỳ, Lương Nhữ Hốt nâng bát. Sau khi bốn người cạn bát, Trần Trí nói với Mã kỳ, Sơn Thọ:

-Đây là ngài Lương Nhữ Hốt, cộng tác với chúng ta, còn đây là hai tướng quân Sơn Thọ, Mã Kỳ.

  Lương Nhữ Hốt chắp tay thi lễ:

-Chào hai tướng quân.

Sơn Thọ, Mã Kỳ cũng chắp tay đáp lễ:

-Không dám, chào Lương đại nhân.

  Trần Trí nói với Sơn Thọ, Mã Kỳ:

-Hai tướng quân có biết Lê Lợi ở Lam Sơn, huyện Lương Giang không?

-Dạ, đó là một hào trưởng, đại địa chủ nổi danh, mạt tướng có biết.

-Theo tin thám mã và theo sự phát giác của Lương đại nhân đây, Lê Lợi vào năm 1416 đã cùng 18 người lập “Hội thề Lũng Nhai” thề sống chết có nhau, thề đồng lòng cứu nước, đánh đuổi chúng ta. Đến năm nay, lực lượng của Lê Lợi ngày càng phát triển mạnh và đang chuẩn bị dương cờ nổi loạn. Hai tướng quân có cao kiến gì không?

  Mã Kỳ nói:

-Lê Lợi có uy tín và ảnh hưởng khắp Giao Chỉ, nếu nổi loạn sẽ là chuyện lớn, ta nên bất ngờ đánh diệt đi để trừ hậu họa.

  Trần Trí nói:

-Ngày mai, ta đem 5 vạn quân cùng hai tướng quân đi chinh phạt, bắt Lê Lợi. Đại nhân Lương Nhữ Hốt thuộc đường sá dẫn đường thì quân ta sẽ rất thuận lợi.

  Sơn Thọ, Mã Kỳ, Lương Nhữ hốt đáp:

-Mạt tướng tuân lệnh.

chnhaho1-1640879917.jpg
Tranh minh họa. Nguồn: Inernet

II

  Hương Lam Sơn, huyện Lương Giang, phủ Thanh Hóa đang là mùa xuân, cây cối bạt ngàn xanh tươi bao phủ, hương thôn như đang thay áo màu xanh mới của các loại cây tre, nứa, luồng, giang, mít, lim, gụ…Những ngọn núi cũng mang màu xanh vươn lên chạm vào mây trời với đủ hình thù kỳ ảo soi mình xuống dòng sông Chu. Sông Chu nước muôn thuở trong veo cuồn cuộn chảy về xuôi để hòa vào dòng sông Mã ở Ngã Ba Giàng. Núi rừng Lam Sơn mùa xuân này đang chứng kiến những biến động to lớn mở đầu cho 10 năm quật khởi. Ngày 8 tháng 2 năm 1418, sau một ngày dựng cờ tuyên bố khởi nghĩa, Bình Định Vương Lê Lợi cùng 50 tướng lĩnh của quân Lam Sơn đang ngồi trong Tổng hành dinh bàn việc tấn công quân Minh, bắt đầu cuộc chiến đấu trường kỳ để giải phóng dân tộc khỏi thảm họa diệt vong. Lê Lợi ngồi ghế chủ, dưới trướng có các tướng Lê Văn An, Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Lê Thạch, Nguyễn Lý, Nguyễn Trãi, Lê Lai, Trịnh Khả, Trịnh Đồ, Lê Thận, Vũ Uy, Lê Liễu, Lê Văn Linh, Lê Xa Lôi, Bùi Quốc Hưng, Trương Lôi, Lê Lý, Lê Hiểm, Đinh Liệt, Đinh Lễ, Lê Bồi, Đinh Lan, Lê Ninh, Lê Ngân, Trần Nguyên Hãn…Trước tổng hành dinh, những lá cờ vàng viết chữ đỏ “Bình Định Vương” tung bay theo gió, rực rỡ dưới nắng ban mai của mùa xuân. Trong 50 tướng hầu hết là tướng võ, duy chỉ có Nguyễn Trãi là tướng văn, từng đỗ Tiến sĩ và làm quan dưới triều Hồ với cha là Nguyễn Phi Khanh và em là Nguyễn Phi Hùng. Năm 1407 ba cha con cùng bị quân Minh bắt với triều đình Hồ Quý Ly và bị đưa sang Trung Quốc. Đến ải Nam Quan, nghe lời cha là Nguyễn Phi Khanh khuyên Nguyễn Trãi là người có tài hãy trở về cứu nước, Nguyễn Trãi đã trốn về Đông Quan và từ Đông Quan ông đã vào Lam Sơn theo Lê Lợi. Lê Lợi nhìn các tướng và nói:

-Thưa các anh hùng hào kiệt, hôm qua chúng ta đã làm lễ tế cờ, tế thiên địa thánh thần Đại Việt, tuyên bố khởi nghĩa, gửi “Hịch Khởi Nghĩa” cho toàn thể bách tính Đại Việt hãy tham gia hướng ứng cuộc khởi nghĩa giải phóng dân tộc thoát khỏi ách thống trị hung bạo của giặc Minh. Các anh hùng hào kiệt hãy nâng chén rượu mừng ngày hội ngộ và chúc sự nghiệp đại nghĩa của chúng ta thành công.

  50 tướng lĩnh cùng nâng ly rượu và đồng thanh nói:

-Đa tạ Bình Định Vương. Chúc mừng Bình Định Vương. Chúc sự nghiệp của chúng ta thắng lợi thành công.

  Sau khi mọi người cạn chén. Lê Lợi nói tiếp:

-Nay lực lương của chúng ta còn ít, mới chỉ 50 tướng lĩnh. Quân số 2000, sau tờ “Hịch Khởi Nghĩa” gửi đi, chắc nay mai các anh hùng hào kiệt sẽ về tụ nghĩa đông hơn. Chúng ta cần 20 vạn hùng binh thì đại sự mới thành công. Các vị có cao kiến gì để phát triển lực lượng không?

  Các tướng còn im lặng suy nghĩ thì thám mã đã về báo:

-Dạ, bẩm chúa công, quân Minh được bọn Việt gian báo ta khởi nghĩa nên Trần Trí đã cùng bọn Sơn Thọ, Mã Kỳ, thổ quan Lương Nhữ Hốt đem 5 vạn quân chia làm bốn hướng bao vây tấn công Lam Sơn ạ.

  Lê Lợi hỏi:

-Ta chỉ có 2000 quân, giặc đem 5 vạn quân 4 hướng bao vây. Các tướng quân ai có kế gì hay không?

  Nguyễn Trãi nói:

-Bẩm chúa công, trước hết phải dời khỏi Lam Sơn để thoát thế bị bao vây, tìm chỗ hiểm yếu mai phục tiêu diệt một trong các đạo quân của giặc, sau đó thì rút lui bảo toàn lực lượng.

  Lê Lợi nói:

-Quân sư nói phải lắm. Đường đến Lam Sơn có một cánh quân bắt buộc phải qua Lạc Thủy, địa thế rừng rậm núi non hiểm trở, ta có thể mai phục ở đó.

  Các tướng đồng thanh đáp:

-Tuân lệnh chúa công.

  Lê Lợi cùng các tướng dẫn 2000 quân bí mật rời khỏi Lam Sơn về Lạc Thủy thuộc huyện Lương Giang mai phục chờ một cánh quân Minh đi qua. Trời đã về chiều, núi non rừng rậm của Lạc Thủy chìm dần trong ánh hoàng hôn vàng vọt lay lắt gió xạc xào. Có tiếng chim chiều kêu lạc lõng báo hiệu hết ngày. Bỗng nhiên, quân Lam Sơn nghe thấy đất rung lên bởi bước chân người và ngựa của quân Minh đang cấp tốc hành quân. Một số tướng nhìn thấy hai kẻ đi đầu 1 vạn quân là Mã Kỳ và tên thổ quan Việt gian Lương Nhữ Hốt. Khi đoàn quân Minh lọt vào trận địa mai phục, một mũi tên châm lửa bắn lên không trung. Quân Minh còn đang ngơ ngác thì bị những trận mưa tên xả xuống. Hai nghìn quân Minh gục ngã. 2000 quân Lam Sơn từ hai bên rừng núi xông ra chém giết. Quân Minh bị bất ngờ thế trận tan vỡ. Bọn Mã Kỳ, Lương Nhữ Hốt đi đầu nên chạy thoát về Lam Sơn. Hơn 3000 quân Minh bỏ xác tại trận. Sau chiến thắng Lạc Thủy, Lê Lợi nói:

-Thế giặc rất mạnh, chúng ta nên rút lui về Mường Một huyện Lang Chánh.

  Các tướng đồng thanh đáp:

-Chúng mạt tướng tuân lệnh Bình Định Vương.

  Từ Lạc Thủy, quân Lam Sơn hành quân lên Mường Một. Đêm Khuya, quân Lam Sơn đang định hạ trại và lập tổng hành dinh thì thám mã về báo:

-Dạ, bẩm chúa công, ba đạo quân Minh từ Lam Sơn đang truy kích gấp đến Mường Một. Mong chúa công định đoạt.

  Lê Lai nói với Lê lợi:

-Ta nên rút lên Chí Linh huyện Lang Chánh, dựa vào địa thế hiểm yếu mà cố thủ mới bảo toàn được lực lượng.

  Nguyễn Trãi nói:

-Tướng quân Lê Lai nói chí phải, mong chúa công quyết định.

  Lê Lợi nói:

-Tướng quân và quân sư nói phải lắm.

  Liền hạ lệnh toàn quân rút lên Chí Linh.

  Chí Linh, còn gọi là Linh Sơn thuộc huyện Lang Chánh, phủ Thanh Hóa. 2000 quân Lam Sơn lọt vào thung lũng mà bốn bên là núi cao hiểm trở với những rừng lim cao lớn bạt ngàn và nhiều cây cỏ không tên rậm rạp của rừng nhiệt đới. Bên dưới núi, hướng Tây và Tây Bắc là dòng sông Chu bao bọc, giữa núi là một bình địa, chỉ có một lối ra hướng Đông nhỏ hẹp. Nếu mà cố thủ thì Chí Linh là một nơi đắc địa. Nhưng vì quá hoang vu nên hoàn toàn không có lương thực hoặc cây lương thực cho quân Lam Sơn ở lâu dài. Hơn 10 ngày bị quân Minh vây hãm, quân Lam Sơn gần như nhịn đói. Một hôm tướng Lê Bí nói:

-Dạ bẩm chúa công, trong khi đi tìm thức ăn, mạt tướng đã tìm thấy nhiều tổ ong mật, chúng ta có thể uống mật ong để qua cơn đói.

  Lê Lợi ra lệnh:

-Vậy phá tổ ong lấy mật để ăn.

  Tướng Phạm Vấn nói:

-Dạ, bẩm chúa công, có rất nhiều tre, nứa đang ra măng, có thể luộc măng ăn đỡ đói.

  Lê Lợi ra lệnh:

-Cho khai thác măng để ăn.

  Qua 10 ngày lúc mà mật ong và măng tre nứa đã hết thì thám mã về báo:

-Dạ bẩm chúa công, quân Minh đã rút về Tây Đô nhưng mà…

-Nhưng mà sao?

-Dạ bẩm chúa công, chúng đã triệt hạ Lam Sơn, bắt hết vợ con của các tướng, kể cả phu nhân và tiểu thư của chúa công. Hu!hu!hu!!!

  Các tướng Lam Sơn nổi giận:

-Chúng đê tiện bắt cả đàn bà con trẻ sao?

-Vậy mà chúng cũng tự xưng là người của đất nước anh hùng hảo hán sao?

-Dạ, bẩm chúa công còn nữa ạ.

-Sao nữa?

-Dạ, bẩm chúa công, chúng đã khai quật hết mộ phần tổ tiên của chúa công rồi ạ. Hu!hu!hu!!!

  Các tướng Lam Sơn quá giận dữ, tuốt gươm ra khỏi vỏ, đanh thép căm hờn:

-Bọn này lang sói không còn là con người, vậy mà chúng tự xưng là trung tâm của văn minh, là Trung Hoa, là nhân nghĩa của đạo Nho sao?

-Thật là bọn cầm thú hình người.

-Trả thù!

-Trả thù!

  2000 người thét như sấm vang động rung chuyển cả thung lũng Chí Linh.

  Lê Lợi trầm ngâm và nói:

-Ông bà tổ tiên bị giặc xúc phạm, các cụ sẽ phù hộ chúng ta trả thù nhà nợ nước. Vả lại, đã ra đi vì nước thì phải chấp nhận hy sinh. Chớ nản lòng.

  Ngừng một lát, Bình Định Vương nói tiếp:

-Núi Chí Linh khó khăn lương thực, lại bị cô lập, nay ta quyết định trở lại Lam Sơn. Tướng quân Đinh Lễ.

-Dạ, có mạt tướng.

-Tướng quân dẫn 500 quân đi tiên phong, dò đường xem có mai phục không.

-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.

Đinh Lễ dẫn 500 quân đi trước, Lê Lợi cùng các tướng và 1.500 đi sau trở về Lam Sơn. Về tới nơi, trước mắt Lê lợi và tướng sĩ, Lam Sơn đã hoang tàn đổ nát. Những mái nhà cháy đổ gục màu gio đen, cây cối xanh tươi nay vàng úa xơ xác. Hàng trăm người bị giết được làng xóm chôn cất ẩn mình yên nghỉ dưới những ngôi mộ mới, những lăng tẩm mộ phần xưa bị đào bới tan hoang. Những vành khăn trắng trên đầu những người còn sống với nước mắt đầm đìa, tiếng gào khóc khi thấy nghĩa quân trở về. Họ vây lấy Lê Lợi và các tướng lĩnh:

-Giặc tàn bạo quá, các con ơi, mau trả thù cho quê hương, cho những người đã bị quân giặc giết hại. Hu!hu!hu!!!

Mấy nô tì và gia nhân nhà Lê Lợi cũng khóc:

-Chúa công ơi, phu nhân và tiểu thư đã bị giặc bắt đi rồi, trang viên bị đốt và bị chúng cướp hết rồi, mồ mã bị chúng đào bới tan nát hết rồi. Hu!hu!!

chuylloi-1641051497.jpg

“Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần”  Tranh sơn dầu của họa sĩ Hoàng Hoa Mai. Nguồn: Báo Thanh Hóa

 

Lê Lợi an ủi bà con trong hương Lam Sơn và ra lệnh:

-Tướng quân Lê Thạch.

-Dạ, có mạt tướng.

-Tướng quân đem 500 quân khôi phục lại mồ mã gia tiên.

-Dạ, cháu tuân lệnh.

-Tướng quân Lê Lai.

-Dạ, có mạt tướng

-Tướng quân đem 500 quân làm lại nhà cho bách tính trong hương Lam Sơn.

-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.

-Tướng quân Trần Nguyên Hãn.

-Dạ, có mạt tướng.

-Tướng quân mở cửa kho lương thực bí mật của ta trong trang viên phát gạo thóc cho bà con và cho nghĩa quân ăn.

-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.

-Tướng quân Bùi Quốc Hưng.

-Dạ, có mạt tướng.

-Tướng quân đem 500 quân về phía Đông, cách Lam Sơn 4 dặm, nếu có giặc từ Tây Đô tấn công lên thì báo về cho ta.

-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.

-Tướng quân Trịnh Khả.

-Dạ, có mạt tướng.

-Tướng quân đem 500 quân và huy động trai tráng của Lam Sơn dùng tre, gỗ rào dậu thành chiến lũy quanh Lam Sơn.

-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.

  Thấm thoát một mùa xuân đã qua đi, những nét điêu tàn của hương thôn đã được bàn tay của nghĩa quân và bách tính Lam Sơn xóa đi, thay vào những căn nhà mới cột bằng luồng nứa và lợp lá cọ ấm cúng, những cây cối cháy được trồng lại, những cây cũ đang ra chồi nẩy lộc. Những cây đào, cây mận hoa tàn rụng đầy mặt đất li ty màu trắng rất mong manh, thay vào đó là những quả non trĩu cành. Sông Chu vẫn tràn nước chảy về Đông để hòa và sông Mã. Một sáng, Lê Lợi đang ngồi trong tổng hành dinh bàn bạc với các tướng thì tùy tướng của Bùi Quốc Hưng ở đồn tiền tiêu về báo:

-Dạ, bẩm chúa công, 7 vạn quân Minh do Trần Trí cùng các tướng Sơn Thọ, Mã Kỳ do tên Việt gian Đỗ Phú dẫn đường đang tiến nhanh về Lam Sơn.

-Chúng tiến quân thành mấy cánh?

-Dạ, 7 vạn quân chỉ đi thành một khối.

 Lê Lợi nói:

-Tướng quân Đinh Liệt.

-Dạ, có mạt tướng.

-Tướng quân đem 300 quân tăng cường cùng Bùi Quốc Hưng đi chặn hậu quân bảo vệ quân ta rút.

-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.

-Tướng quân Đinh Lan.

-Dạ, có mạt tướng.

-Tướng quân đi tiên phong mở đường để quân ta rút lên Linh Sơn. Dọc đường phải xem địch có phục binh không.

-Mạt tướng tuân lệnh.

  Rồi Lê Lợi ra lệnh:

-Tất cả các tướng, cho nghĩa quân rút lên Chí Linh.

-Dạ, chúng mạt tướng tuân lệnh chúa công.

  Quân Lê Lợi rút khỏi Lam Sơn lần hai, lần này đem hết trai tráng đi, người già, phụ nữ, trẻ em cho đi sơ tán sang các làng khác sống tạm, tránh bị quân giặc giết hại. Của cải lương thực đem đi hoặc chôn cất. Quân Lam Sơn vừa kịp lên đường thì phía đông không xa hậu quân đã giao chiến với quân tiên phong của giặc. Nghĩa quân đã chạy nửa ngày, gần tới Chí Linh mà vẫn nghe phía sau tiếng chân người ngựa của 7 vạn quân Minh đang truy sát vang vọng núi rừng. Quân Lam Sơn vừa lọt vào trong núi Chí Linh thì quân Minh cũng vừa ập tới. 500 quân do tướng Bùi Quốc Hưng chỉ huy chặn địch hy sinh gần hết, chỉ chục người cùng tướng Bùi Quốc Hưng và Đinh Liệt chạy thoát về được núi Chí Linh. Cái cửa tử huyệt duy nhất vào Chí Linh bị quân Lam Sơn chốt chặt, nhiều cuộc huyết chiến tại đây đã diễn ra. Cái cửa quá hẹp, hai bên sừng sững hai ngọn núi cao, chỉ lọt được hai người đi ngang nên quân Minh không thể ào vào được, cứ hai tên một tốp vào là bị quân Lam Sơn giết chết. Qua 3 tháng, trên cửa ải này hàng nghìn quân giặc đã bỏ mạng. Trần Trí đánh phải chuyển sang bao vây để mong quân Lam Sơn chết đói.

  Trong Linh Sơn, quân Lam Sơn cũng đang trải qua những ngày nguy khốn. Linh Sơn vẫn là một nơi hoang vu không có lương thực. Măng tre, nứa, mật ong, rễ cỏ quân Lam Sơn ăn đã hết. Lê Lợi đành phải cho phép nghĩa quân giết ngựa ăn thịt. Nhưng voi ngựa ăn cũng gần hết rồi. Để cứu nghĩa quân thì phải hy sinh một tướng, dù đó là sự lựa chọn đau xót. Nếu tiếc một người thì sẽ hy sinh hết mà nước cũng không cứu được. Nghĩ như vậy, Lê Lợi họp các tướng lĩnh lại và nói:

-Các tướng quân ai cũng là tài sản quý giá, là nguồn sức mạnh để giải phóng đất nước, nhưng trong tình thế hiện nay nếu không hy sinh một tướng thì toàn bộ tướng lĩnh và nghĩa quân sẽ bị tiêu diệt. Chúng ta mà hy sinh hết thì sự nghiệp cứu nước còn trông cậy vào ai được nữa?

  Ngừng một lát, Lê Lợi nói cái điều mà ông thấy khó nói nhất trong cuộc đời:

-Ta đều thương yêu các tướng quân, nhưng nay ta cần một người như Kỷ Tín xưa đóng giả ta, mặc áo ta, cưỡi voi của ta, đem vài trăm quân ra huyết chiến với giặc và hy sinh. Làm như vậy quân Minh tưởng đã giết được ta, sẽ lui quân thì may ra mới cứu được toàn quân trong tình thế này.

  Tướng Lê Lai đứng dậy nói:

-Bẩm chúa công, mạt tướng từ khi tham gia vào nghĩa quân thì đã tự nguyện hy sinh vì chúa công, hy sinh vì đất nước. Nay đã đến lúc rồi, mạt tướng xin tình nguyện đóng giả chúa công xung trận để giải cứu  chúa công và cứu toàn quân.

  Lê Lợi cảm kích:

-Tướng quân có gì yêu cầu ta không, ta nguyện sẽ thực hiện.

-Bẩm chúa công, mạt tướng có hai yêu cầu, thứ nhất là sau khi sự nghiệp giải phóng đất nước thành công, chúa công nhớ ghi tên mạt tướng vào hàng đệ nhất công thần, thứ hai là mong chúa công chăm sóc gia quyến của mạt tướng chu đáo.

  Lê Lợi bước xuống cầm tay Lê Lai mà nói:

-Ta thề với tổ tiên, thần thánh, đất trời Đại Việt sẽ thực hiện bằng được hai điều mà tướng quân mong muốn.

  Rồi Lê Lai đổi áo cho Lê Lợi, mặc áo của Lê Lợi vào và quỳ xuống vái Bình Định Vương:

-Cáo biệt chúa công, kính mong chúa công bảo trọng và chiến thắng.

  Lê Lai vái chào các tướng lĩnh Lam Sơn:

-Cáo biệt các tướng quân, cáo biệt các huynh, các đệ, các huynh, các đệ hãy ra sức vì dân vì nước và chiến thắng.

  Các tướng lĩnh cúi đầu chắp tay nghẹn ngào:

-Xin cáo biệt tướng quân đã ra đi vì nghĩa lớn. Huynh đệ luôn nhớ tướng quân.

  Lê Lợi gọi:

-Người đâu.

-Dạ.

Đem voi của ta ra đây

-Dạ.

  Lê Lai cầm gươm lên voi, trông không khác gì Lê lợi. Cửa bí mật từ Chí Linh ra ngoài được mở ra. Lê Lai đi ra ngoài, theo sau có 500 quân. Trần Trí, Sơn Thọ, Mã kỳ đang trong tổng hành dinh thì có thám mã vào báo:

-Dạ, bẩm phó tướng, Lê Lợi đã ra khỏi Chí Linh, đang phá vòng vây ạ.

  Trần Trí, Sơn Thọ, Mã Kỳ hốt hoảng chạy theo tùy tướng, ra đến nơi thì thấy 7 vạn quân Minh đang bao vây Lê Lai và 500 quân ở một thung lũng gần Chí Linh. Trần Trí cười ha hả:

-Phen này Bình Định Vương phải chết. Ha!ha!ha!...

 Và hắn ra lệnh:

-Khép chặt vòng vây, giết!

-Dạ.

 7 vạn quân Minh khép chặt vòng vây. Lê Lai trên mình voi rút cung ra bắn rồi dùng gươm chém giặc. 500 quân cảm tử cũng tả xung hữu đột giết giặc. Phút chốc quân Minh đông như kiến cỏ ào tới chém giết. 500 nghĩa quân ngập chìm trong 7 vạn quân hung bạo và tử trận. Lê Lai cũng bị bắn chết trên mình voi và bị quân Minh lôi xuống xé xác. Con voi đứng lặng nhìn chủ nhân bị giết, nó chảy ra hai dòng nước mắt và gầm lên, lao vào quân giặc, quật ngã vài chục tên Minh và bị quân Minh giết chết.

Trần Trí nói:

-Cuối cùng Lê Lợi cũng phải chết, đã trừ được mối họa lớn nhất của Đại Minh ở Giao Chỉ. Chúng ta có thể kê cao gối mà ngủ rồi.

  Rồi Trần Trí hạ lệnh:

-Ba tháng bao vậy Chí Linh quá gian khổ ở vùng rừng thiêng nước độc này, nay rút quân về Tây Đô ăn mừng chiến thắng.

  Quân Minh được rút lui vui mừng:

-Dạ, chúng mạt tướng tuân lệnh.

  Quân Minh rút về Tây Đô vì yên chí đã giết được Lê Lợi và tiêu diệt được khởi nghĩa Lam  Sơn. Lê Lợi cũng hạ lệnh cho nghĩa quân lui về Lam Sơn để gây dựng lại lực lượng. Các anh hùng hào kiệt khắp nước kéo về tụ nghĩa ngày càng đông, trai tráng khắp thiên hạ kéo về tòng quân lũ lượt, đưa quân số nghĩa quân lên vài vạn người. Thấm thoát lại bước sang giữa mùa hạ năm 1419. Lúa trên đồi nương, lúa ở các thung lũng đã chín vàng. Bách tính Lam Sơn vội vã gặt hái để lấy lương thực nuôi mình và nuôi nghĩa quân, cất giấu đề phòng giặc Minh lại tới cướp phá. Cây cối núi non vùng Lương Giang chìm trong nắng chan hòa. Dòng sông Chu vẫn ngày đêm tuôn nước về sông Mã phía Đông. Một buổi gần trưa, Lê Lợi đang ngồi bàn việc trong Tổng hành dinh thì tùy tướng của Vũ Uy ở đồn tiền tiêu về báo:

-Dạ bẩm chúa công, tướng Minh là Lý Bân, Phương Chính dẫn 10 vạn quân đang tiến đánh Lam Sơn ạ.

  Lê Lợi bàn với các tướng:

-Ta nay đã có 5 vạn quân, có thể mai phục và tiêu diệt được địch không?

  Nguyễn Trãi nói:

-Bẩm chúa công, lối đánh sở trường của quân Minh là dàn trận, chúng rất sợ lối đánh mai phục tập kịch của ta nên nay chúng không chia quân thành nhiều hướng bao vây Lam Sơn mà lại đi thành một khối để chiếm ưu thế binh lực. Nay ta dùng phục binh đánh đội tiên phong hoặc đánh đội hậu quân, nhưng cũng sẽ lâm vào thế bị bao vây. Tốt nhất là chúng ta tạm thời rút lui, chờ sơ hở của giặc mà tính tiếp.

Lê Lợi nói:

-Lời quân sư nói chí phải. Ta tạm thời rút lui nhưng không rút về Chí Linh nữa, nơi đó rất khó khăn về lương thực. Nay ta rút về Mương Thôi để dễ bề công thủ, thuận lợi về lương thực. Nay ta ra lệnh:

-Tướng Lê Ngân.

-Dạ, có mạt tướng.

-Tướng quân đem 1.000 quân đi chặn hậu.

-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.

ch-lam-son-1641135344.jpg
Miếu thờ nghĩa quân Lam Sơn trên núi Chí Linh, Lang Chánh, Thanh Hóa. Nguồn: Internet

 

-Tướng Lê Liễu.

-Dạ, có mạt tướng.

-Tướng quân đem 1.000 quân đi tiên phong.

-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.

-Tướng quân Lê Lý.

-Dạ, có mạt tướng.

-Tướng quân đem 1.000 quân giúp dân hương Lam Sơn đi sơ tán, cất dấu lương thực.

-Các tướng và quân sĩ của mình trong khi hành quân nhớ mang theo lương thực thực phẩm.                                                        

  -Dạ, chúng mạt tướng tuân lệnh.

  Quân Lam Sơn nhanh chóng lên đường rút về Mường Thôi, Tây Bắc Thanh Hóa, giáp với nước Ai Lao. Lý Bân đang cho quân hành quân về Lam Sơn thì thám mã về báo:

-Dạ bẩm chủ soái, quân Lam Sơn đang hành quân về Mường Thôi ạ.

  Lý Bân hỏi tên thổ quan Việt gian Đỗ Phú:

-Đại nhân có biết Mường Thôi không? Có dẫn đường được không?

  Đỗ Phú đáp:

-Dạ bẩm, hạ quan biết ạ.

  Đỗ Phú dẫn đường. Quân Minh đổi hướng truy kích về Mường Thôi. Còn cách Mường Thôi 20 dặm, Lý Bân sai Chu Quảng và Hoàng Thành đóng ở Khả Lãm, phía Đông Mường Thôi để ngăn chặn quân Lam Sơn tràn xuống. Lê Lợi bảo gia tướng Trương Lôi:

-Cho gọi hai tướng quân Lê Bồi và Đinh Liệt vào đây.

-Dạ.

  Đinh Liệt và Lê Bồi bước vào tổng hành dinh:

-Dạ bẩm chúa công, mạt tướng có mặt.

Lê Lợi nói:

-Đêm nay hai tướng quân bí mật đem 1 vạn quân tập kích trại Khả Lãm của quân Minh rồi rút về. Nhớ không được để quân giặc bao vây tiêu diệt quân ta.

-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.

  Cơm chiều xong, gần tối, hai tướng Đinh Liệt và Lê Bồi bí mật dẫn quân tiến về trại quân Minh. Từ xa đã thấy doanh trại giặc san sát mênh mông. Lê Bồi và Đinh Liệt chọn trại Khả Lãm là tiền tiêu phía Tây của doanh trại giặc. Canh ba đêm đó khi quân Minh còn ngủ say, quân Lam Sơn bò lại gần giết lính tuần canh và lính gác và xông vào chém giết. Lính Minh còn ngủ say bị đâm chết như những con vật. Khi quân Minh báo động thức giấc thì đã muộn. Quân Lam Sơn phóng hóa đốt trại và nhanh chóng rút về Mường Thôi trong sự náo loạn của 9 vạn quân Minh khắp các doanh trại. Tướng Minh Hoàng Thành và Chu Quang sợ phục binh không dám đuổi theo, đành căm giận thu xác 1 vạn lính và hai tướng Lương Cục và Lương Hương đem chôn. Lý Bân vô cùng tức giận quát:

-Bay đâu.

-Dạ.

-Lôi Hoàng Thành và Chu Quang ra chém!

  Tướng Phương Chính  can:

-Bẩm chủ soái, bị tập kích đã thiệt hại, nay chém hai tướng lại thiệt hại thêm, vậy nên cho họ lập công thuộc tội.

  Lý Bân nói:

-Nể lời tướng quân Phương Chính, ta gửi hai cái đầu lại đó, nhớ mà lập công chuộc tội, nghe chưa?

  Hoàng Thành và Chu Quang chắp tay:

-Dạ, đa tạ chủ tướng tha mạng, mạt tướng sẽ lập công chuộc tội.

  Lý Bân hỏi tên Việt gian Đỗ Phú:

-Quân Lam Sơn đang ở Mường Thôi, muốn tiêu diệt chúng thì hành quân theo đường nào là nhanh nhất?

  Đỗ Phú đáp:

-Dạ bẩm chủ soái, cứ theo dọc sông Chu lên thượng nguồn là tới Mường Thôi nhanh nhất.

  Lý Bân nói với Phương Chính:

-Tướng quân dẫn 8 vạn quân do đại nhân Đỗ Phú dẫn đường tiêu diệt quân Lam Sơn.

-Mạt tướng tuân lệnh.

 Lý Bân nói với Hoàng Thành và Chu Quang:

-Hai người theo tướng quân Phương Chính mà lập công chuộc tội đi.

-Mạt tướng tuân lệnh.

  Bấy giờ là mùa thu năm 1420, bầu trời núi rừng u ám, mây đen bao phủ các dãy núi cao như sương khói. Quân Minh chỉ còn cách Mường Thôi 10 dặm theo đường chim bay nhưng không có đường thẳng đành phải đi đường vòng để tạo thế bao vây quân Lam Sơn. 8 vạn người ngựa quân Minh khua bước vang lên dồn dập bên hữu ngạn sông Chu, những thác nước tung bọt trắng và gào thét tức giận quân xâm lăng đang dày xéo quê hương. Đi suốt một ngày đường, Phương Chính hỏi tên Việt gian Đỗ Phú:

-Đây là đâu?

-Dạ, thưa chủ tướng, đây là bến Bổng Tân.

  Phương Chính bảo Mã Kỳ:

-Lệnh cho đạo tiên phong và toàn quân dừng lại ăn cơm và hành quân tiếp.

Quân Minh hành quân qua một ngày vô cùng mệt mỏi, được dừng lại nghỉ ngơi, ăn uống, kẻ nằm người ngồi, nghĩa là toàn quân không ở trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Màn đêm xuống dần. Bỗng một phát tên lửa bắn lên không trung. Quân Minh còn đang ngơ ngác thì từ bốn phía tên đạn như mưa bắn vào quân Minh. Trong đêm tối, tiếng kêu của quân Minh ầm ĩ:

-Có mai phục.

-Có mai phục.

chlloi-1641230275.jpg
Lễ hội Lam Kinh năm 2018, kỷ niệm 600 năm khởi nghĩa Lam Sơn. Ảnh: TTXVN

 

  Phương Chính ở Trung Quân chưa bị tấn công nhưng mai phục lại là lối đánh sở trường của quân Lam Sơn đã nhiều lần làm cho hắn khiếp đảm. Trong trường hợp đó, Phương Chính biết rằng chỉ có tháo chạy mới ít thiệt hại, nếu không sẽ bị tiêu diệt hoàn toàn. Phương Chính nói:

-Hạ lệnh cho toàn quân rút lui.

  Lệnh được truyền ra, quân Minh bắt đầu tháo chạy hỗn loạn, người ngựa chen nhau lăn xuống sông Chu mà chết hàng nghìn. Tiền quân và trung quân bỏ chạy khiến cho đạo hậu quân bị cô lập và bị quân Lam Sơn xông ra chém giết. Bến Bổng Tân huyên náo vang động trong cơn hỗn loạn chém giết đẫm máu. Sau hai canh giờ, 2 vạn quân Minh bỏ xác. Quân Lam Sơn thu được 100 ngựa chiến. Mã Kỳ, Sơn Thọ bỏ mặc quân lính mà chạy nên thoát chết. Lý Bân tức giận nói:

-8 vạn quân mà không tiêu diệt nổi năm vạn quân giặc cỏ, còn xứng danh là quân đội của nhà Đại Minh không? Mã Kỳ đâu.

-Dạ, có mạt tướng.

-Tướng quân đem 3 vạn quân đi tiên phong tiến đánh Mường Thôi.

-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.

-Tướng quân Sơn Thọ đâu.

-Dạ, có mạt tướng.

-Tướng quân dẫn 3 vạn quân đi hậu quân, kiên quyết đốc thúc tiến về Mường Thôi. Ai tháo chạy chém.

-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.

  Lý Bân nói với Phương Chính:

-Ta và tướng quân đi trung quân. Ai bỏ chạy chém.

-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.

  8 vạn quân Minh lại theo bờ sông Chu, hành quân lên miền thượng du thuộc huyện Lang Chánh tìm đánh quân Lam Sơn ở Mường Thôi. Chỉ nhìn thấy núi non cao ngất, hiểm trở, rừng cây bạt ngàn là quân Minh đã khiếp sợ. Đi được hai ngày đường. Mã Kỳ hỏi tên Việt gian Đỗ Phú:

-Đây là đâu?

-Dạ, bẩm tướng quân, đây là vùng Bồ Mộng.

-Hiểm trở quá, liệu có quân Lam Sơn mai phục không?

  Mã Kỳ vừa dứt lời thì thốt nhiên có tiếng trống nổi lên và tên bắn như mưa. Hàng trăm lính Minh gục xuống, máu phun như nước. Sau những trận mưa tên là bốn tướng Lam Sơn Phạm Vấn, Lê Trực, Lê Lý và Lê Hương cùng mấy nghìn quân đổ ra chém giết quân Minh như thái chuối. Chừng canh giờ sau, thấy đại quân Minh từ sau tiến lên tiếp viện, quân Lam Sơn rút vào rừng sau khi đã hạ gục gần 1 vạn lính Minh trong đội tiên phong. Lý Bân tức giận gọi                                                                                -Thám mã đâu.

-Dạ, có mạt tướng.

-Ngươi dẫn 1000 quân kỵ đi trước do thám đường từ đây tới Mường Thôi, nếu có quân mai phục phải về báo ngay. Chậm trễ hoặc báo sai chém.

-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.

  Lý Bân nói tiếp với các tướng:

-Cứ tiếp tục tiến đến Mường Thôi. Đã có quân do thám đi dò đường, nếu có mai phục sẽ được báo trước, đừng quá khiếp đảm.

  Lý Bân vừa đi vừa suy nghĩ cho chiến sự đang diễn ra, rõ ràng quân Lam Sơn đang buộc quân Minh đánh theo lối đánh của họ. Quân Minh không hành quân thì không tiêu diệt được họ mà hành quân thì rất dễ bị mai phục do địa thế hiểm trở của rừng núi. Quân Lam Sơn đang ở vào thế nhân hòa địa lợi mà quân Minh không có. Nhân hòa địa lợi đến một lúc nào đó sẽ xuất hiện thiên thời. Đến lúc đó thì quân Minh cực kỳ nguy khốn và diệt vong. Lý Bân mơ ước giá như quân Lam Sơn đàng hoàng dàn trận giao chiến thì chỉ mười ngày sẽ bị quân Minh đè bẹp. Nhưng quân Lam Sơn không bào giờ chấp nhận lối đánh tự diệt mình như Hồ Quý Ly năm xưa đã phạm sai lầm như vậy.

  Lý Bân đang mải suy nghĩ thì vó ngựa đã đưa hắn và đại quân đến một nơi vô cùng hiểm trở, hai bên là núi và giữa là một thung lũng hẹp. Lý Bân nói:

-Địa thế hiểm trở nhưng quân tiên phong do thám không báo có mai phục, cứ tiếp tục hành quân.

  Nhưng Lý Bân đã nhầm, 5 vạn quân Lam Sơn do chính Lê Lợi chỉ huy đã mai phục suốt mấy dặm tại nơi có địa danh gọi là Bồ Thi Lang vô cùng hiểm trở. Khi thấy do thám của quân Minh, quân Lam Sơn không đánh cho nên Lý Bân cho rằng không có mai phục. Khi đoạn đầu và một phần trung quân quân Minh lọt vào trận địa thì một lá cờ vàng phất lên, từ hai sườn rừng núi, từng trận đá và tên trút xuống quân Minh như mưa, tiếng đá lăn như trời long núi lở, tiếng hàng vạn mũi tên xé không khí rợn người. Hàng nghìn quân Minh đổ gục, ngựa lồng lên hí vang thảm thiết. Canh giờ sau thì hàng vạn quân Lam Sơn xông ra chém giết. Tiếng reo hò dội vào vách núi vọng ra nghe như quân Lam Sơn có hàng trăm vạn. Lý Bân khua gươm thét khản cổ:

-Tả, tả…

  Nhưng thế trận quân Minh hoàn toàn tan vỡ, lính un ùn quay đầu tháo chạy không một kỷ luật nào giữ được chân họ. Cuối cùng, Lý Bân, Phương Chính và các tướng Minh cũng quay đầu chạy theo đại quân. Quân Lam Sơn thừa thắng truy kích, đánh giết quân Minh đến Ba Lẫm, Lỗi Giang, Vĩnh Lộc gần Tây Đô mới dừng lại. Lý Bân, Phương Chính chạy vào thành Tây Đô. Kết quả trận Bồ Thi Lang, 3 vạn quân Minh bỏ mạng.

  Trên đường truy kích, quân Lam Sơn gặp một trại giặc 3 vạn tên ở Quan Du, Quan Hóa do hai tướng giặc là Tạ Phượng và Hoàng Thanh chỉ huy. Lê Lợi nói:

-Tướng quân Lê Sát, Lê Hào đâu.

-Dạ, có mạt tướng.

-Hai tướng quân đem 2 vạn quân bí mật đánh phía sau, ta và các tướng đánh mặt trước chắc là phá được đồn Quan Du.

-Mạt tướng tuân lệnh.

  Đêm đó Tạ Phượng và Hoàng Thanh dù có đề phòng nhưng bị quân Lam Sơn đánh cả mặt trước và sau, bị những trận mưa tên khủng khiếp và sau đó quân Lam Sơn bốn bên xông vào chém giết. 3 vạn quân Minh bị giết, hai tướng Tạ Phượng và Hoàng Thanh tử trận. Quân Lam Sơn thu khí giới và lương thực nhiều không kể xiết. Trận Bồ Thi Lang và trận Quan Du làm chấn động quân Minh khắp Giao Chỉ. Quân Lam Sơn làm chủ miền thượng du Thanh Hóa. Quân Minh lui về cố thủ ở thành Tây Đô.

  Một sáng Trần Trí đang ngồi trong hổ trướng ở Đông Quan thì có thám mã về báo:

-Dạ, bẩm Phó tổng binh, quân ta do tướng Lý Bân, Phương Chính chỉ huy đã thua quân Lam Sơn nhiều trận ở Thanh Hóa.

  Trần Trí hoảng sợ:

-Thua những trận nào? Thiệt hại bao nhiêu quân?

-Dạ, thua ở trận Lạc Thủy, Bổng Tân, Bồ Mộng, đặc biệt trận Bồ Thi Lang và trận Quan Du. Hai trận này đã mất 7 vạn quân. Quân Lam Sơn đã hoàn toàn làm chủ miền núi Thanh Hóa, quân ta rút vào cố thủ ở Tây Đô.

  Trần Trí tức giận:

-Lý Bân, Phương Chính, Mã Kỳ, Sơn Thọ cũng chỉ là đồ ăn hại. Ta không vào cứu thì Thanh Hóa và Tây Đô nguy to rồi. Người đâu.

-Dạ.

-Gọi tướng quân Thái Phúc vào đây.

-Dạ

  Thái Phúc bước vào:

-Chào Phó tổng binh, có mạt tướng.

  Trần Trí ra lệnh:

-Tướng quân đem 10 vạn quân cùng ta vào Thánh Hóa cứu nguy cho Tây Đô.

-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.

  Trần Trí, Thái Phúc dẫn 10 vạn bộ binh và kỵ binh hành quân suốt 300 dặm từ Đông Quan vào Thanh Hóa nhưng không vào Tây Đô mà tiến thẳng lên Kính Long, huyện Cẩm Thủy. Đến nơi thì trời đã tối, cậy có quân đông, Trần Trí cho đóng quân ở thung lũng Kính Long. Suốt một vùng rừng núi rộng lớn, doanh trại quân Minh bạt ngàn, đèn sáng như sao sa, như thiên hà giữa một vùng mênh mông hoang vu đầy huyền bí.

  Trong tổng hành dinh của Lê Lợi ở Mường Nanh, cách thung lũng Kính Long 50 dặm về phía Tây, thám mã về báo:

        -Dạ bẩm chúa công, Trần Trí dẫn 10 vạn quân Minh từ Đông Quan vào    đang hạ trại nghỉ ở ải Kính Long ạ.

  Khi đó Lê lợi đang cùng các tướng Lam Sơn gặp mặt tướng quân Nguyễn Chích. Nguyễn Chích quê ở Đông Ninh, Đông Sơn, Thanh Hóa, đã khởi nghĩa chống Minh trước cả khởi nghĩa Lam Sơn. Nghĩa quân Nguyễn Chích đã đánh cho quân Minh nhiều trận làm chúng thất điên bát đảo, đã xây dựng căn cứ Hoàng Thục là nơi bất khả xâm phạm, đã giải phóng một vùng rộng lớn từ Đông Sơn, Nông Cống, Ngọc Sơn. Lê Lợi đã nhiều lần mời Nguyễn Chích về hội quân. Lúc này là cuối năm 1424, Nguyễn Chích đem quân về dưới cờ của Lê Lợi ở Mường Nanh. Trong buổi gặp mặt, sau nghi thức làm quen giữa các tướng  Lam Sơn với Nguyễn Chích, Lê Lợi nói:

-Xin mời các tướng quân nâng chén mừng tướng quân Nguyễn Chích đem nghĩa quân về với Lam Sơn.

  Lê lợi, Nguyễn Chích và các tướng nâng chén. Nguyễn Chích nói:

-Xin đa tạ chúa công, đa tạ các tướng quân.

  Các tướng Lam Sơn đồng thanh:

-Xin chúc mừng tướng quân đã về với Lam Sơn cùng lo đại nghĩa.

  Sau khi các tướng đã cạn ly, Lê Lợi nói:

-Nay ta phong tướng quân Nguyễn Chích là Thiết đột hữu vệ đồng Tổng đốc chủ quân sư.

 Nguyễn Chích chắp tay cúi người đáp:

-Mạt tướng xin đa tạ chúa công. Bẩm chúa công, nay nghe thám mã báo Trần Trí đã đem 10 vạn quân hạ trại ở Long Kính, mạt tướng xin lĩnh 3 vạn quân tập kích trại giặc để tiêu hao và làm nhụt nhuệ khí của chúng.

  Lê Lợi nói:

-Quân giặc rất đông, tướng quân tiêu hao giặc rồi nhanh chóng rút lui, không được ham chiến để quân Minh bao vây tiêu diệt quân ta.

-Mạt tướng tuân lệnh.

  Lê Lợi gọi:

-Tướng quân Lê Sát đâu.

-Dạ, có mạt tướng.

-Tướng quân đi hỗ trợ cho tướng quân Nguyễn Chích.

-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.

  Nguyễn Chích và Lê Sát đem 3 vạn quân đi suốt đêm. Canh ba đêm đó bí mật lại gần doanh trại quân Minh rồi bất ngờ xông vào chém giết. Quân Minh bị đánh bất ngờ không kịp trở tay, 1 vạn lính bị đâm chết trong khi còn say giấc vì quá mệt mỏi sau một ngày hành quân từ Đông Quan vào Thanh Hóa. Tiếng hò reo, tiếng la hét, tiếng gươm khua vang động trong đêm tối. Trần Trí ra lệnh các trại bủa vây quân Lam Sơn. Nhưng quân Minh chưa kịp hình thành thế trận thì quân Lam Sơn đã rút chạy về Mương Nanh. Trần Trí cho điểm xác chết thì 1 vạn quân đã bỏ mạng vì trận tập kích bất ngờ của Nguyễn Chích. Trần Trí uất hận ra lệnh cho 9 vạn quân đuổi theo. Quân đông, đường rừng núi lại chật hẹp hiểm trở, hoàn toàn không thích hợp với lối đánh chính quy, trận địa chiến của quân Minh, lối đánh cổ điển trên những bãi chiến trường rộng lớn, hai bên dàn quân hình chữ nhất. Hai tướng hai bên ra giao đấu, bên nào tướng bị hạ gục thì quân tháo chạy, bên thắng truy kích mà tiêu diệt, hoặc bên thua quân không chạy thì hai bên giáp lá cà mà đâm chém nhau. Đằng này quân Minh phải hành quân vào nơi rừng núi hiểm trở mà bị quân Lam Sơn mai phục hoặc bất ngờ tập kích, gây cho quân Minh nhiều tổn thất nặng nề về binh lực, mệt mỏi về thể xác tinh thần. Đây là lối đánh làm quân Minh rất khiếp sợ mỗi khi có lệnh hành quân lên miền núi.

Hành quân đến trưa thì quân Minh đến một nơi mà leo dốc xuống dốc rất cheo leo, địa danh này được gọi là Úng Ải. 9 vạn quân Minh chỉ đi được hàng một kéo dài ngoằn ngoèo. Đạo quân tiên phong bị quân Lam Sơn tập kích hai bên sườn, tên dội như mưa. Quân Minh không thể dàn trận cũng không thể đầu đuôi cứu ứng cho nhau. Phía trước ngựa hí vang, tiếng quân Minh kêu thê thảm trước khi bị tên, đá lao giết chết. Trần Trí bất lực ra lệnh cho đại quân dừng lại. Chợt những trận mưa tên bắn vào trung quân. Một loạt tùy tướng của Trần Trí trúng tên lăn xuống đất. Trần Trí ra lệnh:

-Rút lui về phía sau, nhanh lên…

  Hậu quân và trung quân chạy ngược lại. Các tùy tướng cố gạt tên hoặc che cho Trần Trí mới thoát khỏi Úng Ải, không dám quay đầu nhìn lại. Hai vạn quân Minh bỏ xác tại đây. Úng Ải-địa danh thật là khủng khiếp về địa thế hiểm trở của nó.

chuy-ng-trich-1641312264.jpg

Nguyễn Chích, từ thủ lĩnh khởi nghĩa đến nhà chiến lược tài ba trong khởi nghĩa Lam Sơn. Nguồn: Internet.

 

Trần Trí thua trận chạy về Tây Đô. Bọn Lý Bân, Phương Chính, Sơn Thọ, Mã Kỳ ra đón:

-Xin chào Phó tổng binh, Phó tổng binh hành quân thật là khó nhọc.

 Trần Trí không trả lời. Trước đây thuộc hạ thua trận thường bị Trần Trí quở phạt. Nay chính Trần Trí cũng bị bao phen thua mất mặt. Trần Trí ngồi vào ghế chủ nhân quát:

-Mau rót rượu ra.

-Dạ, có ngay.

 Trần Trí bê uống một hơi hai bát, đặt bát xuống và nói:

-Cái bọn Lam Sơn này chơi rất tiểu nhân, không bao giờ dám dàn trận đánh một trận đàng hoàng, chỉ toàn có mai phục, tập kích, không biết ta có cách gì đối phó với lối đánh khó chơi này của chúng không?

Các tướng Minh cúi đầu im lặng trước câu hỏi không lời giải đáp của chủ tướng.

II

 Sau 5 năm chiến tranh, Lê Lợi lại đem quân từ Mường Nanh về Chí Linh lần thứ ba, Để có thời gian củng cố lực lượng, Lê Lợi sai Lê Trăn, Lê Vấn đem thư cho Trần Trí đề nghị giảng hòa. Trần Trí đánh nhau với quân Lam Sơn 5 năm cũng mệt mỏi, hao binh tổn tướng, đồng ý giảng hòa để tìm ra chiến lược mới tiêu diệt quân Lam Sơn. Trong chiến tranh 10 năm giữa Lam Sơn và quân Minh thì đây là giảng hòa lần thứ nhất. Sang năm 1424 thì Sơn thọ, Mã Kỳ trở mặt, bắt giam sứ giả Lê Trăn của Lam Sơn. Chiến tranh lại bắt đầu. Vào một buổi sáng tháng 10 mùa đông năm 1424, núi Chí Linh vẫn như xưa cao ngất trời, màu xám nhô lên giữa rừng lim xanh ngát, lá rung xào xạc theo gió, sương giăng trắng xóa ảm đạm của mùa chiến tranh đang đến gần. Trong tổng hành dinh, Lê Lợi họp các tướng bàn kế hoạch tác chiến. Lê Lợi nói:

-Đã 5 năm chiến tranh rồi, cuộc khởi nghĩa của chúng ta có bước phát triển về lực lượng, đã đánh thắng nhiều trận và tiêu hao nhiều sinh lực địch. Tuy nhiên thế và lực của ta vẫn không vượt trội áp đảo để đánh bại hoàn tàn quân giặc, giải phóng đất nước. Các tướng quân có kế gì hay để phát triển cuộc kháng chiến lên một bước mới không?

Tướng Nguyễn Chích nói:

-Bẩm chúa công, mạt tướng nghĩ muốn tạo được bước phát triển mới cho cuộc khởi nghĩa ta phải tiến quân vào Nghệ An. Nghệ An là đất hiểm yếu, đất rộng người đông, lại xa Đông Quan gây khó khăn cho giặc khi tiến quân vào đàn áp, lực lượng quân Minh ở đấy lại yếu và mỏng. Mạt tướng đã từng qua lại Nghệ An nhiều lần nên rất thông thạo đường đất. Từ Nghệ An chúng ta phát triển vào Tân Bình, Thuận Hóa, nơi lực lượng quân Minh càng yếu. Từ Nghệ An làm chỗ đứng chân rồi đánh ra Thanh Hóa, đánh ra Đông Quan. Khi đã làm chủ miền Trung rộng lớn, sử dụng nhân tài vật lực, quân số lên 30 vạn thì có thể tính xong thiên hạ. Mong chúa công suy xét.

Các tướng ngồi lặng suy ngẫm trước đề xuất mới mẻ, táo bạo của Nguyễn Chích. Nguyễn Trãi nói:

-Bẩm chúa công, muốn đánh bại hoàn toàn quân Minh thì phải nâng lực lượng quân ta lên 20 vạn hoặc 30 vạn. Muốn vậy cần phải có một vùng rộng lớn thì mới có thể nâng số quân lên như vậy. Quân đông thì phải có đất rộng, dân đông để nuôi quân. Thần tán thành lời tâu của tướng quân Nguyễn Chích là tiến vào Nghệ An khả dĩ mở ra thời kỳ phát triển mới cho Lam Sơn chúng ta.

Lê Lợi hỏi:

-Các tướng quân khác có cao kiến gì không?

Tất cả các tướng đồng thanh đáp:

-Chúng mạt tướng tán thành đề đạt của tướng quân Nguyễn Chích và quân sư Nguyễn Trãi.

 Lê Lợi nói:

-Ta cũng tán đồng ý kiến của tướng quân Nguyễn chích và quân sư. Nghệ An đúng là đất dụng võ, nơi đây đất rộng người đông, lực lượng quân Minh mỏng, bách tính rất khổ cực và bị đàn áp gắt gao vì họ đã theo và ủng hộ cuộc khởi nghĩa của Trần Quý Khoáng. Họ rất căm thù quân Minh và sẽ ủng hộ chúng ta. Muốn tiến vào Nghệ An đầu tiên là phải tiêu diệt đồn Đa Căng ở Nguyễn Thọ, Lương Giang để mở đường. Đồn nay do tên thổ quan Việt gian Lương Nhữ Hốt, chức Tham chính chỉ huy. Tướng Lê Văn Linh và Phạm Văn Xảo:

-Dạ, có mạt tướng.

-Hai tướng quân đem 3 vạn quân diệt đồn Đa Căng, mở đường cho đại quân tiến vào Nghệ An.

-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.

  Lê Lợi nói tiếp:

-Các tướng quân cho đại quân trở lại Lương Giang, tiếp sức hạ đồn Đa Căng và nhanh chóng tiến vào Nghệ An.

-Chúng thần tuân lệnh.

 Lại nói tướng Lê Văn Linh và Phạm Văn Xảo bí mật tiến về thành Đa Căng. Còn cách 4 dặm, Lê Văn Linh nói:

-Thành Đa Căng kiên cố, muốn hạ nhanh phải dùng mưu.

-Tướng quân có kế gì hay?

-Cho 50 lính tinh nhuệ bò vào gần bắt bọn lính đi tuần, đánh tráo quân phục, giả là quân Minh lọt vào trong mở cổng thành cho quân bên ngoài xông vào.

  Phạm Văn Xảo nói:

-Diệu kế.

 50 lính Lam Sơn trong đêm mai phục gần thành. Khi tốp lính Minh 20 tên đi tuần canh, quân Lam Sơn bất ngờ nhảy ra khống chế, bịt khăn thuốc mê vào miệng, lôi ra xa và đánh tráo quân phục. 20 lính tiến vào cổng thành. Lính ngụy người Việt gác cổng hỏi:

-Ai?

-Bọn mày mù à. Chúng tao vừa đi tuần canh về. Mở cửa nhanh.

-Dạ.

 Lính gác mở cổng thành lập tức bị giết. Một phát tên châm lửa bắn lên trời. Phan Văn Xảo, Lê Văn Linh thúc 3 vạn quân tràn vào thành chém giết đốt phá. Toàn bộ quân Minh bất ngờ không kịp chống cự phần lớn bị tiêu diệt, số còn lại đầu hàng. Thành Đa Căng bị triệt hạ. Tướng Minh Nguyễn Hoa Anh đến cứu bị đánh thua phải chạy về thành Tây Đô. Thổ quan Lương Nhữ Hốt bị bắt, được Lê Lợi tha nhưng lại bỏ trốn theo quân Minh.

Tại Tây Đô, Trần Trí đang ngồi uống trà sau bữa sáng với các tướng Phương Chính, Lý An, Thái Phúc thì có tùy tướng vào báo:

-Dạ, bẩm Phó tổng binh, có tướng quân Nguyễn Hoa Anh từ Lương Giang về cấp báo.

-Cho vào.

-Dạ.

 Nguyễn Hoa Anh đi vào, bộ dạng nhếch nhác, hốt hoảng. Trần Trí ngạc nhiên hỏi:

-Có việc gì mà làm bộ dạng tướng quân như vậy:

Dạ bẩm Phó tổng binh, thành Đa Căng đã bị quân Lam Sơn triệt phá, thổ quan Lương Nhữ Hốt bị bắt, đại quân Lê Lợi đang tiến vào Nghệ An, đã gần đến Trà Lân.

 Trần Trí hoảng hốt:

-Chết rồi, lực lượng của chúng ta ở Nghệ An rất mỏng, bách tính ở đó rất căm hận chúng ta vì bị đàn áp khốc liệt sau khởi nghĩa Trần Quý Khoáng. Quân Lam Sơn về đó như hổ về rừng chứ không phải khó khăn gò bó như miền núi Thanh Hóa đâu. Nguy rồi, nguy to rồi. Bay đâu.

-Dạ.

-Tướng quân phi ngựa nhanh chóng vào Nghệ An nói với thổ quan Cầm Bành hợp quân với Sư Hựu đánh mặt trước, tức phía Nam, ta sẽ đem quân đuổi theo đánh sau lưng quân Lam Sơn ở phía Bắc, hai mặt đánh ép lại may ra tiêu diệt được giặc.

-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.

Trần Trí nói với Lý An, Thái Phúc, Phương Chính:

-Ta cùng các tướng dốc toàn lực đuổi theo đánh tập hậu quân Lam Sơn.

-Dạ, chúng mạt tướng tuân lệnh.

Ngay sớm hôm đó, 10 vạn quân Minh do Trần Trí và các tướng lĩnh cao cấp của nhà Minh từ Tây Đô đi lên Lương Giang rồi truy kích sau nghĩa quân Lam Sơn tiến vào Nghệ An. Quân Minh qua thành Đa Căng chỉ còn là đống tro tàn gạch vụn. Quân Minh theo đường rừng gấp rút tiến vào Trà Lân. Tại Trà Lân, thổ quan Việt gian Cầm Bành nhận được tin cấp báo, liền cho mời Đô chỉ huy đồng tri phủ Nghệ An Sư Hựu. Sư Hựu đem 2000 quân hội với 5000 quân của Cầm Bành đón chặn quân Lam Sơn ở Trà Lân. Quân Lam Sơn có nguy cơ bị bao vây cả hai mặt. Đang trên đường hành quân, Lê Lợi được thám mã phía Bắc về báo:

-Dạ bẩm chúa công, Trần Trí cùng Lý An, Thái Phúc, Phương Chính dẫn 10 vạn quân đang đuổi sau lưng quân ta.

 Lại có thám mã từ Trà Lân về báo:

-Dạ, bẩm chúa công, Sư Hựu tri phủ Nghệ An đã hợp quân với thổ quan Cầm Bành, khoảng 7000 quân đang chặn đánh phía trước quân ta.

Nguyễn Trãi nói với Lê Lợi:

-Bẩm chúa công, muốn phá thế bao vây của giặc, chỉ cần cho 4 vạn quân mai phục tiêu diệt quân của Trần Trí, dùng 1 vạn quân đánh đạo quân của Cầm Bành ở Trà Lân khiến cho Cầm Bành và Trần Trí không phối hợp được với nhau.

 Lê Lợi hỏi Nguyễn Chích:

-Tướng quân có biết ở đây có chỗ nào hiểm địa có thể mai phục được không?

-Dạ bẩm chúa công, Nơi đây chỗ nào cũng là hiểm địa nhưng hiểm trở nhất là thung lũng Bồ Đằng.

 Lê Lợi ra lệnh:

-Tướng quân Nguyễn Chích, Lưu Nhân Chú, Trịnh Khả, Lý Triện đem 4 vạn quân mai phục ở Bồ Đằng. Các tướng phải nghe lệnh của tướng quân Nguyễn Chích.

-Dạ, tuân lệnh chúa công.

-Tướng quân Lê Sát, Lê Ngân, Phạm Vấn đem 1 vạn quân đánh thành Trà Lân.

-Dạ, chúng mạt tướng tuân Lệnh.

Lại nói Phương Chính dẫn 2 vạn quân đi tiên phong đuổi gấp quân Lam Sơn, đến một nơi rừng núi rất hiểm trở. Phương Chính hỏi tên Việt gian dẫn đường:

-Đây là đâu?

-Dạ bẩm tướng quân, đây là Bồ Đằng, thuộc phủ Nghệ An.

Phương Chính dặn các tùy tướng và quân sĩ:

-Đánh mai phục là sở trường của quân Lam Sơn và thường bắn tên trước, nếu gặp mai phục thì nằm xuống chờ quân Lam Sơn bắn hết tên thì vùng dậy chém giết.

-Dạ, tuân lệnh chủ soái.

Quân Minh lọt vào thung lũng Bồ Đằng. Chợt một phát tên lửa bắn lên trời. Quân Minh nằm rạp xuống tránh tên đạn. Nhưng lần này quân Lam Sơn không chỉ bắn tên mà còn dội đá xuống làm quân Minh không ngóc đầu lên được. Khi đó 4 vạn quân Lam Sơn xông lên chém giết. Tiếng reo hò vang dội, tiếng gươm dao loảng xoảng khô khốc. 1 vạn quân Minh máu chảy đầu rơi. Đô ty Minh là Trần Trung bị chém chết. Quân Lam Sơn thu được 200 ngựa, vô số vũ khí, giáo mác, cung tên. Số tàn quân Minh chạy ngược lại  báo cho Trần Trí. Trần Trí cả sợ cùng Phương Chính và các tướng dẫn quân chạy vào thành Nghệ An.

Trong khi đó đạo quân Lam Sơn do Lê Sát chỉ huy tiến về phía Nam, còn cách Trà Lân 2 dặm, thám mã về báo::

-Dạ, bẩm chủ soái, Sư Hựu và Cầm Bành đem 5000 quân rời thành Trà Lân đang tiến về phía chúng ta.

Lê Sát hạ lệnh:

-Dàn trận, chuẩn bị đánh giặc.

 Lê Ngân nói:

-Hay là ta cho quân mai phục.

Lê Sát nói:

-Quân ta ưu thế áp đảo cần gì mai phục, vả lại chỗ này không có địa thế hiểm trở để thực hiện.

chboof-dang-1641436591.jpg

Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật". Bồ Đằng là địa danh ở vùng rừng núi hiểm trở, nay thuộc xã Châu Nga, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, nằm trên đường tiến quân của nghĩa quân Lam Sơn từ Thanh Hoá vào Nghệ An cuối năm 1424. Tại Bồ Đằng, nghĩa quân Lam Sơn do Trần Tung chỉ huy đã đánh tan đạo quân Minh gồm khoảng 2.000 tên. Nguồn: Internet.

 

  Quân Lam Sơn vừa dàn trận xong thì quân Minh tràn tới. Không chờ quân Minh dàn trận, Lê Sát dơ gươm và thét:

-Xông lên giết.

 1 vạn quân Lam Sơn xông lên chém giết rất quyết liệt. Quân Minh hoảng sợ, thế trận tan vỡ tháo chạy sau khi bỏ lại 1000 xác chết. Quân Lam Sơn chém chết Thiên hộ Trương Bản. Sư Hựu, Cầm Bành tháo chạy vào thành Trà Lân. Quân Lam Sơn bao vây hai tháng, Cầm Bành ra hàng. Lê Lợi nói:

-Tha cho Cầm Bành để bọn Việt gian khác quay về.

  Nhưng đang đêm Cầm Bành bỏ trốn, bị quân Lam Sơn bắt được. Lê Lợi nói:

-Loại Việt gian phản quốc này không hề biết hối cải. Người đâu.

-Dạ.

-Đem ra chém.

-Dạ.

 Thế và lực quân Lam Sơn tăng lên rất mạnh. Thanh niên Nghệ An đua nhau gia nhập nghĩa quân Lam Sơn. Quân số lên 10 vạn người. Quân Lam Sơn vừa bao vây thành Nghệ An, vừa đánh địch ngoài thành. Đầu tháng 5 năm 1425, quân Minh ở Đông Quan vào tăng viện cho Trần Trí. Trần Trí nói với các tướng:

-Có quân viện binh ở Đông Quan đang vào, ta nên đem quân ra ngoài thành đánh từ mặt Nam, viện binh Đông Quan đánh từ mặt Bắc ép từ hai mặt, quân Lam Sơn chắc chắn thất bại.

  Phương Chính nói:

-Phó tổng binh nói phải lắm.

  Tháng 5, trời đất Nghệ An nóng như trút lửa, lại thêm gió Lào thổi khô khốc, trời cao xanh, cây cối lặng im không một chút lay động theo gió. Quân Minh hành quân rất mỏi mệt. Chiều tối mới tới một bờ sông. Trần Trí hỏi một tên Việt gian dẫn đường:

-Đây là đâu?

-Dạ bẩm, đây là Khả Lưu thuộc huyện Đô Lương, phủ Nghệ An. Sông này gọi là sông Lam.

 Nhìn sang bên kia bờ sông thấy quân Lam Sơn hạ trại san sát có vẻ như đang nghỉ ngơi mà không phòng bị. Trần Trí nói với Phương Chính:

-Trời cho ta thành công chuyến này. Đêm nay ta vượt sông bao vây đánh bất ngờ, quân Lam Sơn chắc chết. Tướng quân Phương Chính:

-Dạ, có mạt tướng.

-Khi qua được sông, tướng quân vây đánh quân Lam Sơn mặt phía Đông.

-Dạ, Mạt tướng tuân lệnh.

-Tướng quân Lý An.

-Dạ, có mạt tướng.

-Khi qua được sông, tướng quân bao vây và đánh vào mặt Bắc và mặt Tây quân Lam Sơn.

-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.

  Canh ba đêm đó, quân Minh dùng cầu phao qua sông Lam. Khi đạo quân Phương Chính sang được sông, các đạo còn lại còn đang giữa sông thì quân Lam Sơn mai phục sẵn tấn công vào quân Phương Chính. Những trận mưa tên làm quân Minh chết chồng như núi, máu chảy như suối nhuộm đỏ sông Lam. Quân Lam Sơn còn dùng thuyền nhỏ tấn công vào hai đạo quân Minh còn trên cầu phao làm quân Minh chết rơi xuống nước hoặc quá hoảng sợ mà nhảy xuống sông chết đuối hàng vạn làm dòng sông Lam tưởng như tắc nghẽn. Trong khi đó, doanh trại quân Minh ở bờ Nam cũng bị quân Lam Sơn tấn công,  lửa cháy ngút trời trong tiếng hò reo chém giết vang động cả một vùng Khả Lưu. Cả ba nơi bị đánh không cứu ứng được nhau, quân Minh đại bại. Trận này quân Minh chết 3 vạn. Trần Trí rút quân về lập doanh trại ở Đông Khả Lưu, ngăn không cho quân Lam Sơn thừa thắng tiến xuống đồng bằng Nghệ An. Đang điên cuồng tức giận vì bại trận thì Trần Trí trông thấy quân Lam Sơn nhổ trại hành quân lên thượng nguồn sông Lam. Trần Trí vội vã ra lệnh:

-Tập hợp binh mã đuổi theo quân giặc, không để chúng chạy mất dấu vết.

 7 vạn quân Minh còn lại rùng rùng truy kích quân Lam Sơn. Trời đã sáng, quân Minh đến một nơi địa thế vô cùng hiểm trở. Trần Trí hỏi tên Việt gian:

-Đây là đâu?

-Dạ, bẩm Phó tổng binh, nơi đây dân địa phương gọi là Bồ Ải.

  Trần Trí nói:

-Địa thế quá hiểm trở, đề phòng có mai phục. Tướng quân Hoàng Thạch đâu.

-Dạ, có mạt tướng.

-Tướng quân dẫn 1 vạn quân đi tiên phong dò xem có mai phục không.

-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.

  Hoàng Thạch dẫn quân đi, cờ dong trống mở cốt cho quân Lam Sơn trông thấy. Qua được Bồ Ải không thấy động tĩnh gì. Hoàng Thạch cho thám mã về báo:

-Dạ, bẩm Phó tổng Binh, quân tiên phong đã qua Bồ Ải, không có mai phục.

  Trần Trí yên tâm dẫn 6 vạn quân lọt vào Bồ Ải. Khi toàn bộ quân Minh lọt vào khu hiểm trở thì một phát tên lửa bắn lên trời rồi những trận mưa tên, mưa đá trút xuống đầu quân Minh. Hàng nghìn quân Minh gục xuống. Quân Minh định rút chạy nhưng quân Lam Sơn bịt kín cả hai đầu thung lũng mà đánh. Một canh giờ sau, trống chiêng tù và nổi lên vang động, 7 vạn quân Lam Sơn reo hò tràn xuống như thác nước chém giết quân Minh. Phía bên trái Bồ Ải là sông, quân Minh hoảng loạn quên cả sông sâu nhảy xuống sông mà chết đuối. Trần Trí dồn quân lại công phá phía Đông, mở đường máu mà chạy thoát. Quân Lam Sơn chuyển sang truy kích đến tận thành Nghệ An. Trận này quân Minh chết 3 vạn, tướng Hoàng Thạch tử trận, Đô úy Chu Kinh bị bắt.                                                                                 Sau trận này, quân Minh không thể ngăn được quân Lam Sơn tràn xuống đồng bằng Nghệ An. Bách tính được giải phóng vui mừng phấn khởi như từ chỗ chết được sống lại. Thanh niên nô nức tòng quân, bách tính tự nguyện góp lương thực. Quân số Lam Sơn lên đến 15 vạn người. Thanh thế chấn động Giao Chỉ. Chính quyền nhà Minh ở Nghệ An tan rã và các quan chức ra hàng như tri châu Ngọc Ma là Cầm Quý đem 8000 quân bản bộ và 10 thớt voi ra hàng, được Lê Lợi phong cho chức thái úy. Quân Lam Sơn bao vây thành Nghệ An. Tổng hành dinh của Lê Lợi ở Đô Lương. Trời mùa hè như đổ lửa, nước sông Lam vẫn tuôn dòng. Một sáng, Lê Lợi đang trong hổ trướng tiếp các bô lão thì có thám mã về báo:

-Dạ bẩm chúa công, quân Minh do tướng Lý An chỉ huy vào cứu thành Nghệ An, Trần Trí, An Bình ở thành Nghệ An ra đón bị quân ta mai phục đánh ở Quất Giang, huyện Đỗ Gia. Quân Minh bị giết 2000 tên. Trần Trí, Lý An phải chạy vào thành Nghệ An.

  Lại có thám mã từ Diễn Châu về báo:

-Dạ bẩm chúa công, tướng Đinh Lễ mai phục đã giết chết tướng Thiên hộ nhà Minh họ Trương và 300 thuộc hạ. Tướng Minh Trương Hùng tải lương vào tiếp viện cũng bị đánh thua, đã từ Diễn Châu chạy về Thanh Hóa. Tướng quân Đinh Lễ đã truy kích đến Thanh Hóa rồi ạ. Quân ta đang bao vây thành Diễn Châu ạ.

  Lê Lợi gọi:

-Người đâu.

-Dạ.

-Cho gọi các tướng Lê Sát, Lý Triện, Lưu Nhân Chú, Lê Bị vào tổng hành dinh.

-Dạ.

  Các tướng Lê Sát, Lý Triện, Lưu Nhân Chú, Lê Bị vào:

-Dạ, bẩm chúa công cho gọi:

  Lê Lợi ra lệnh:

-Bốn tướng hãy đem 3 vạn quân và 20 thớt voi ra chi viện cho tướng quân Đinh Lễ ở Thanh Hóa. Nếu thuận lợi giải phóng luôn phủ Thanh Hóa đi. Trừ thành Tây Đô thì bao vây.

-Dạ, chúng mạt tướng tuân lệnh.

  Vài ngày sau thám mã về báo:

-Dạ, bẩm chúa công, các tướng Lê Sát, Lý Triện, Lưu Nhân Chú, Lê Bị đã đánh úp trại của Trương Hùng, diệt 5000 tên. Toàn bộ quân Minh ở Thanh Hóa đã rút vào Tây Đô. Thanh Hóa đã được giải phóng. Bách tính tham gia tòng quân và góp lương thực nhiều không kể xiết.

  Mùa thu năm 1425, quân Lam Sơn đã làm chủ ba phủ quan trọng của Bắc Miền Trung là Nghệ An, Diễn Châu, Thanh Hóa. Một vùng nông thôn rộng lớn được giải phóng. Quân Minh ở ba phủ bị bao vây ở các thành Nghệ An, Diễn Châu và Tây Đô. Nguyễn Trãi nói với Lê Lợi.

-Ta nên tiến vào giải phóng Tân Bình, Thuận Hóa để mở rộng địa bàn, hơn nữa khi ta tấn công ra Đông Quan, không còn lo bị quân Minh tấn công ở phía Nam.

  Lê Lợi nói:

-Quân sư nói phải lắm.

 Liền ra lệnh:

-Tư đồ Trần Nguyên Hãn, Thượng tướng Lê Nỗ, Chấp lệnh Lê Ba Bồ nghe lệnh.

-Dạ, có mạt tướng.

-Ba tướng quân thống lĩnh 3 vạn quân, 10 thớt voi do Trần Nguyên Hãn chỉ huy tiến vào giải phóng Tân Bình, Thuận Hóa. Trong khi tiến quân phải giữ kỷ luật nghiêm, dùng nhân nghĩa để lấy lòng bách tính.

-Dạ, chúng thần tuân lệnh.

--Lê Lợi gọi tiếp:

-Tướng Lê Ngân, Lê Bồi, Lê Văn An đâu.

-Dạ có chúng thần.

-Ba tướng quân đem 100 chiến thuyền, 1 vạn quân đi đường biển tiếp ứng cho Tư đồ Trần Nguyễn Hãn.

-Dạ, chúng thần tuân Lệnh.

  Trần Nguyên Hãn dẫn quân Lam Sơn tiến vào Nam. Nắng gay gắt, bụi mù mịt, gió cuốn, cờ vàng bay rợp đất, gươm giáo sáng lòe, bước chân người, chân ngựa, chân voi khua vang trời chuyển đất. Quân Lam Sơn vượt qua dãy Hoành Sơn, tiến vào Tân Bình. Trước mặt quân Lam Sơn là vùng đất chói chang ánh mặt trời, cát trắng mênh mông, sông Gianh cuồn cuộn đưa nước ra biển Đông. Vừa may, thủy quân Lam Sơn do tướng Lê Ngân chỉ huy vượt biển vừa đến ghé thuyền vào bờ Bắc đưa bộ binh vượt sông. Quân Lam Sơn đi về hướng Nam 60 dặm nữa thì đến bờ Bắc sông Lệ Thủy, nơi miền đất gọi là Hà Khương, nơi có thành Tân Bình. Đã thấy 5000 quân Minh do Nhâm Năng chỉ huy đã dàn trận ở bờ Bắc. Trần Nguyên Hãn nói:

-Tướng quân Lê Nỗ đem 3000 quân dàn cánh trái, tướng quân Lê Ba Bồ đem 3000 quân dàn cánh phải. Khi thấy trung quân của ta xông lên thì hai tướng quân vây bọc sau lưng, không cho giặc chạy vào thành mà tiêu diệt.

-Dạ, chúng mạt tướng tuân lệnh.

III

Năm 1425, vua Minh Nhân Tông chết, Thái tử Chu Chiêm Cơ lên ngôi, đế hiệu là Minh Tuyên Tông (Tuyên Đức). Do quân Minh ở Giao Chỉ thất bại liên tục trước quân Lam Sơn, tháng 5 năm 1426 Minh Tuyên Tông cử Thành Sơn Hầu Vương Thông làm Tổng Binh Giao Chỉ thay Trần Trí, Đô đốc Mã Anh được cử làm tham chính. Bọn Trần Trí, Phương Chính, Thái Phúc, Mã kỳ, Sơn Thọ không đàn áp được Lam Sơn nên bị giáng chức làm sự quan, do Vương Thông và Mã Anh sai khiến. Vương thông đem 5 vạn quân tiến vào Đông Quan theo đường Lạng Sơn, Vương An Lão đem 2 vạn quân theo đường Lào Cai tiến xuống, nâng số quân Minh ở Đông Quan lên đến 10 vạn. Còn quân ở các thành Tân Bình, Nghệ An, Diễn Châu, Tây Đô ước gần 10 vạn bị vây. Còn những khối quân trong các thành Cổ Lộng (Nam Định), Điêu Diêu (Gia Lâm), Chí Linh (Hải Dương), Thị Cầu (Bắc Ninh), Tam Giang (Phú Thọ), Xương Giang (Bắc Giang), Chi Lăng (Lạng Sơn). Mùa thu năm 1426, quân Lam Sơn làm chủ toàn bộ miền Trung, quân số lên 20 vạn hùng binh. Bách tính miền Bắc đêm ngày ngóng chờ bóng cờ đại nghĩa của quân Lam Sơn tiến ra giải phóng như hạn hán mong mưa.

Thành Tư Phố, trấn trị của Thanh Hóa đang chuyển dần sang thu, lá vàng rơi lả tả, nắng gắt gao đang lụi dần nhường chỗ cho một bầu trời không gian sẽ lạnh. Sông Mã vẫn phi nước như vó ngựa chạy về Đông. Những ngọn núi Con Rùa, Con Voi, Núi Ngũ Hoa, Núi Trình, Núi Vòm  xa xa vẫn vươn mình trong sương khói. Một mùa thu nhưng vẫn là một mùa chiến tranh bận rộn.

Tổng hành dinh của Nghĩa quân Lam Sơn đã chuyển về Tư phố. Trong Tổng hành dinh, Lê Lợi đang họp với các tướng lĩnh. Bình Định Vương ngồi ghế chủ hướng xuống chiếc bàn kê dọc. Ngồi hai bên bàn là các tướng. Sau một lượt trà, Lê Lợi nói:

-Trong tình hình hiện nay, quân Minh hiện bị vây ở các thành Tân Bình, Nghệ An, Diễn Châu, Tây Đô không phải là ít, trong khi đó bách tính ngoài Bắc rất mong chờ quân ta tiến ra giải phóng. Vậy thì đánh thành trước rồi tiến ra Bắc sau, hay là giải phóng miền Bắc trước. Quân sư và các tướng quân có cao kiến gì không?

Nguyễn Trãi nói:

-Bẩm chúa công, các thành mà quân ta đang vây hãm rất kiên cố, hơn nữa trên thành quân Minh có đặt đại bác, nếu đánh thành quân ta sẽ mất nhiều sức lực, không đủ lực lượng để giải phóng miền Bắc. Thần cho rằng những thành đó là cô đảo nằm trong biển cả của bách tính và quân ta, thần sẽ dùng thư từ vạch rõ chính tà, đánh vào lòng người để họ ra đầu hàng. Chúa công nay đã có 20 vạn quân, nên tiến đánh miền Bắc và Đông Quan. Đông Quan thất thủ thì các thành bị vây tự khắc phải đầu hàng. Mong chúa công quyết định.

  Nguyễn Chích nói:

-Dạ bẩm chúa công, thần tán thành ý kiến của quân sư. Thần cho rằng khi tấn công ra Bắc thì tấn công nhiều hướng để hỗ trợ nhau, để chia cắt lực lượng giặc, lại phải đề phòng viện binh của chúng từ Trung Quốc kéo sang.

  Lê Lợi hỏi:

-Các tướng quân khác có cao kiến gì nữa không?

  Tất cả đồng thanh đáp:

-Chúng thần mong chúa công tấn công giải phóng miền Bắc kẻo bách tính trông chờ ngày đêm.

  Lê Lợi nói:

-Nay ta quyết định tấn công giải phóng miền Bắc. Các tướng sau đây nghe lệnh:

-Tướng quân Phạm Văn Xảo, Đỗ Bí, Trịnh Khả, Lê Khuyển.

-Dạ có chúng thần:

- Các tướng do Trịnh Khả chỉ huy đem 3 vạn quân tiến ra đánh giặc ở các vùng Trần Thiên Quan, Quảng Oai, Gia Hưng, Tam Đái, Tuyên Quang, Quy Hóa, Đà Giang nhằm uy hiếp Đông Quan ở phía Tây, chặn giặc từ Vân Nam tràn xuống.

-Chúng thần tuân lệnh.

-Các tướng quân Lưu Nhân Chú, Nguyễn Đình Lý, Lê Văn An, Lê Sát, Đinh Liệt, Lê Ngân do Lưu Nhân chú chỉ huy, đem 3 vạn quân, 5 thớt voi tiến đánh Thiên Trường, Kiến Xương, Tân Hưng, Khoái Châu, Hải Dương, Bắc Giang, Lạng Sơn, giải phóng miền Đông Bắc và chặn giặc từ Quảng Tây kéo sang.

-Chúng thần tuân lệnh.

-Các tướng quân Đinh Lễ, Nguyễn Xí, Lê Hối, Lý Triện, Lê Thận, Lê Chửng, Đinh Lan, Lê Bôi do Đinh Lễ chỉ huy, đem 3 vạn quân đánh thẳng ra Đông Quan.

-Dạ, chúng thần tuân lệnh.

  Lê Lợi căn dặn:

-Các tướng khi xuất quân phải thực hiện phương châm lấy yếu thắng mạnh, không được dàn trận để chúng bao vây mà phải tập kích, mai phục, thứ nữa, đi đến đâu thì phải làm nòng cốt cho bách tính nổi dậy tiêu diệt giặc, lật đổ sự cai trị của quân Minh ở các địa phương.

-Chúng thần ghi nhớ và tuân lệnh chúa công.

-Các tướng Vũ Uy, Nguyễn Lý, Lê Văn, Lê Ninh do Vũ Uy  chỉ huy tiếp tục bao vây Tây Đô và bảo vệ Thanh Hóa.

-Chúng thần tuân lệnh.

-Tướng Nguyễn Chích, Trần Nguyễn Hãn, quân sư Nguyễn Trãi chuẩn bị dời tổng hành dinh ra miền Bắc, trước hết tạm đến miền Lục Đầu Giang để tiện chỉ huy các đạo quân.

-Dạ, chúng thần tuân lệnh.

  Ngày hôm đó, các trại quân Lam Sơn dọc sông Mã thưa dần. Ba đạo binh với 9 vạn quân tiến ra miền Bắc. Bách tính Thanh Hóa đem rượu, bánh đứng đầy đường úy lạo tiễn đưa. Lê Lợi với 3 vạn quân tinh nhuệ bảo vệ ra đóng tổng hành dinh ở Lục Đầu Giang. Chợt có thám mã về báo:

-Dạ, bẩm chúa công, bọn Phương Chính, Lý An ở thành Nghệ An bất ngờ mở cổng thành đánh ra và tháo chạy được ra biển, đem 2 vạn quân về Đông Quan rồi ạ.

- Truyền mệnh lệnh của ta, các tướng bao vây thành chặt chẽ, để giặc thoát ra ngoại sẽ bị tội chém.

-Dạ, Mạt tướng đi truyền mệnh lệnh ngay.

  Lại có thám mã về báo:

-Dạ bẩm chúa công, tướng Minh Trần Trí cho quân đánh ra Ninh Kiều, Ứng Hòa bị phục binh của tướng Đinh Lễ, Nguyễn Xí đánh, giết 2000 tên giặc. Trần Trí chạy thoát về Đông Quan rồi ạ.

  Lê Lợi nói với Nguyễn Trãi:

-Đây là thắng lợi không phải nhỏ khi tiến quân ra Bắc. Quân sư ghi vào sổ công đầu cho Đinh Lễ, Nguyễn Xí.

-Thần tuân Lệnh.

  Lại có thám mã miền Tây Bắc về báo:

-Dạ, bẩm chúa công, 1 vạn quân Minh do Vương An Lão chỉ huy từ Quy Hóa tiến vào Tam Giang, lọt vào trận địa mai phục của Đỗ Bí, Trịnh Khả, Phạm Văn Xảo, Lê Khuyển. Quân ta diệt 1000 tên địch. Vương An Lão đem tàn quân chạy vào thành Tam Giang rồi ạ.

  Lại có thám mã ở Đông Quan về báo:

-Dạ bẩm chúa công, quân Minh do Đô ty Vi Lương từ Đông Quan hành quân qua cầu Nhân Mục, bị Lê Chửng, Đinh Lan mai phục, diệt 500 tên và bắt được các tướng Minh là Đào Sâm, Tiền Phu và Triệu Trình ạ.

  Lê Lợi nói:

-Lệnh cho các tướng đi đến đâu thúc dục bách tính nổi dậy giúp đỡ nghĩa quân và lật đổ ách thống trị của quân Minh ở các địa phương.

-Dạ, mạt tướng đi truyền lệnh ngay.

  Lê Lợi bảo Nguyễn Trãi:

-Quân sư tiếp tục đánh vào lòng người để các thành mở cửa đầu hàng.

-Thần tuân lệnh.

  Tháng 11 năm 1426, tại thành Đông Quan, Tổng binh mới sang nhậm chức là Sơn Thành Hầu Vương Thông bàn với các tướng Phương Chính và Trần Trí:

-Nay thế và lực của quân Lam Sơn rất mạnh, ba đạo quân đã tiến ra Bắc, xa gần đều uy hiếp Đông Quan và chặn đường cứu viện từ Đại Minh sang. Nay chúng ta phải tập trung 10 vạn quân ra ngoài thành tiêu diệt đạo quân gần Đông Quan nhất. Đó là đạo quân gồm các tướng Nguyễn Xí, Đinh Lễ, Trương Chiến, Lê Bôi, Lê Chửng, Đinh Lan do Lý Triện chỉ huy gồm 3 vạn tên đang ở Ninh Kiều, Chương Mỹ. Các tướng sau đây nghe lệnh:

-Tướng quân Lý An, tướng quân Phương Chính.

-Có mạt tướng.

-Hai tướng quân đem 3 vạn quân tiến theo đường sông Nhuệ và tiến vào Ninh Kiều từ phía Tây.

-Dạ, chúng mạt tướng tuân lệnh.

-Các tướng Sơn Thọ, Mã Kỳ nghe lệnh.

-Có mạt tướng.

-Hai tướng đem 3 vạn quân đi qua cầu Nhân Mục đến cầu Thanh Oai, tiến dọc theo sông Đỗ Động bao vây phía Nam Ninh Kiều.

-Chúng mạt tướng tuân lệnh.

-Còn lại 4 vạn quân do ta chỉ huy. Các tướng Trần Hiệp, Lý Lượng đi qua cầu Tây Đương (Cầu Giấy) đến Cổ Sở,Yên Sở, Hoài Đức đánh vào phía Đông Ninh Kiều.

-Tuân lệnh Tổng binh.

  Các tướng điểm quân xuất phát. Vương Thông hành quân đến Cổ Sở, chợt có thám mã về báo:

-Dạ, bẩm Tổng binh, đạo quân của tướng Sơn Thọ, Mã Kỳ bị quân Lam Sơn do tướng Đinh Lễ, Lê Chửng mai phục ở cầu Tam La, 1000 quân ta tử trận ạ.

-Sơn Thọ. Mã kỳ bây giờ ở đâu?

-Dạ, hai tướng đem quân rút về Đông Quan rồi ạ.

  Lại có thám mã về báo:

-Dạ, bẩm Tổng binh, tướng Phương Chính, Lý An sợ bị quân Lam Sơn mai phục đã đem quân trở lại thành Đông Quan rồi ạ.

  Vương Thông tức giận đập bàn:

-Đồ hèn nhát, bảo 4 tướng hành quân đến đây hội quân với ta, nếu không xử theo quân luật.

-Dạ, tuân lệnh Tổng binh.

  Sơn Thọ, Mã Kỳ, Phương Chính, Lý An được thám mã báo nếu không đem quân hội quân sẽ bị xử theo quân luật, đành đem quân về hội thành một khối quân với Vương Thông ở Cổ Sở. Vương Thông nói:

-Ở gần Cổ Sở, quân Lam Sơn truy kích quân ta, voi bị trúng chông của quân ta rải, lính bị bắn chết hàng nghìn, nay đã rút về Cao Bộ. Ta nên thừa thắng truy kích sẽ tiêu diệt được bọn Nguyễn Xí, Đinh Lễ.

  Bọn Phương Chính, Sơn Thọ nói:

-Tổng binh nói phải lắm.

Vương Thông không biết rằng các tướng Đinh Lễ, Nguyễn Xí, Trương Chiến, Lê Hối ở Thanh Đàm, Thanh Trì đã đem quân về Cao Bộ Chương Mỹ, hội quân với Lý Triện, Lê Chửng, Đinh Lan, Lê Bôi. Vương Thông tự mình dẫn 10 vạn quân từ Ninh Kiều đi qua Chúc Động, Tốt Động Chương Mỹ để đánh vào phía Nam Cao Bộ. Đạo thứ hai do Phương Chính chỉ huy theo đường nhỏ hành quân đánh vào phía Bắc, phía sau lưng quân Lam Sơn. Quy định nếu đạo quân phía Bắc đã đến thì bắn pháo hiệu cho Vương Thông biết. Đêm mùa đông tháng 11-1426 mưa dầm, gió rét như cắt da cắt thịt, hai đạo quân Minh đội mưa gió hành quân. Canh ba, Vương Thông thấy pháo tín hiệu báo đạo quân Phương Chính đã đến sau lưng quân Lam Sơn. Vương Thông thúc quân đi nhanh trong đêm tối. Khi đến đoạn Tốt Động-Chúc Động, quân Lam Sơn đã mai phục sẵn, tên đá hai bên trút vào quân Minh như mưa. Hàng nghìn quân Minh gục xuống hết đợt này đến đợt khác.

chuy-khoi-nghia-lam-son-1641572205.jpg
Tranh minh họa. Nguồn: Internet.

Sau đó, hàng vạn quân Lam Sơn xông ra chém giết. Trong đêm, quân Minh rối loạn tan vỡ, phần bị chém giết, phần nhảy xuống sông Ninh Kiều mà chết đuối, xác chất đống ngập dòng sông làm nước sông Ninh Kiều tắc nghẽn. Đêm Chương Mỹ như trời rung đất chuyển. 6 vạn quân Minh bỏ xác tại trận. Binh bộ thượng thư Trần Hiệp, Nội quan Lý Lượng bị giết, Vương Thông bị đâm một nhát giáo vào bả vai, để máu chảy ròng ròng không kịp băng bó mà chạy về Đông Quan. 1 vạn quân Minh bị bắt làm tù binh. Quân Lam Sơn thu được lương thực, vũ khí, ngựa chiến nhiều như nước. Vùng Tốt Động-Chúc Động thây quân Minh chất cao như núi, máu đỏ lừ sông Ninh Kiều. Đây là chiến thắng lớn nhất của quân Lam Sơn từ 1418 đến 1426, tạo ra thế thất bại của quân Minh là không thể đảo ngược được.

Sau chiến thắng Tốt Động-Chúc Động, Lê Lợi dời tổng hành dinh từ Lục Đầu Giang về Tây Phù Liệt Thanh Trì để thuận lợi cho việc điều hành chiến tranh. Quân Lam Sơn bắt đầu dùng thủy quân do Trần Nguyên Hãn chỉ huy vây thành Đông Quan ở Đông Bộ Đầu, đạo bộ binh do Đinh Lễ chỉ huy vây ở cầu Tương Đương, tấn công từ phía Tây, một đạo gồm tượng binh và quân chủ lực bao vây tấn công phía Nam.

Trong tổng hành dinh của Lê Lợi ở Tây Phù Liệt rộn ràng tấp nập cho công cuộc bao vây công phá thành Đông Quan, đầu não của quân Minh ở Giao Chỉ. Thám mã về báo cho Lê Lợi:

-Dạ, bẩm chúa công, tướng Trần Nguyên Hãn đã tiêu diệt thủy quân Minh ở Đông Bộ Đầu, ta thu 100 chiến thuyền, vũ khí nhiều vô kể.

 Lại có thám mã về báo:

-Dạ, bẩm chúa công, Vương Thông thua trận đã điên cuồng cho nấu chảy chuông Quy Điền và vạc Phổ Minh là hai trong số An Nam tứ đại khí của ta rồi ạ.

Lê Lợi nổi giận:

-Thằng giặc càn rỡ  này phải đến tội ác của hắn với văn hóa Đại Việt.

Lại có thám mã về báo:

-Dạ, bẩm chúa công, thư chiêu hàng của quân sư Nguyễn Trãi đã làm cho các thành Thuận Hóa, Tân Bình, Nghệ An, Diễn Châu, tổng cộng 10 vạn quân Minh ra hàng quân ta. Chỉ còn lại thành Tây Đô, Cổ Lộng, Điêu Diêu, Tam Giang, Thị Cầu, Xương Giang, Chi Lăng, Khâu Ôn là chưa chịu đầu hàng, còn cố thủ ạ.

Lê Lợi hỏi Nguyễn Trãi:

-Vương Thông đã cho Sơn Thọ đem thư xin giảng hòa, xin rút quân về nước. Quân sư thấy thế nào?

Nguyễn Trãi đáp:

-Trong tình hình hiện nay, chúa công phải sẵn sàng đối phó với hai khả năng. Thứ nhất nếu Vương Thông thực lòng hòa hiếu thì ta cho quân Minh ở các thành ra Đông Quan rút về nước, ta buộc Vương Thông phải cam kết chấm dứt chiến tranh xâm lược Đại Việt vĩnh viễn. Khả năng thứ hai là Vương Thông cầu viện binh sang tiếp tục chiến tranh.

Lê Lợi nói:

-Quân sư nói phải lắm, quân số ta đã tăng lên 30 vạn, sẵn sàng ứng phó với mọi biến cố, mọi khả năng diễn ra tiếp theo.

Trong thành Đông Quan, Vương Thông đang ngồi bàn luận với Phương Chính, Trần Trí và thổ quan Việt gian Lương Nhữ Hốt. Thổ quan Lương Nhữ Hốt bị quân Lam Sơn bắt ở trận Đa Căng nhưng lại trốn thoát. Vương Thông nói:

-Ta đã cho Sơn Thọ đi gặp Lê Lợi xin giảng hòa rút quân về nước. Kết quả thế nào tướng quân Sơn Thọ?

 Sơn Thọ đáp:

-Dạ, bẩm tổng binh, Lê Lợi đã đồng ý giảng hòa với điều kiện chúng ta rút quân về nước, cam kết vĩnh viễn không xâm lược Đại Việt.

Lương  Nhữ Hốt nói:

-Bẩm tổng binh, không nên ra hàng, ngày xưa nhà Trần bắt được tướng Ô Mã Nhi đã đầu hàng con đem giết vì đã phá lăng tẩm của nhà Trần ở Long Hưng. Nay tổng binh đã nấu chảy chuông Quy Điền và vạc Phổ Minh là hai trong An Nam tứ đại khí thì hỏi Lê Lợi có tha cho tổng binh không?

Vương Thông cả sợ:

Vậy bây giờ chúng ta làm thế nào? Thành Đômg Quan sớm muộn cũng bị công phá và thất thủ.

Phương Chính nói:

-Dạ, bẩm tổng binh, tổng binh có thể viết thư về xin hoàng thượng Minh Tuyên Tông gửi quân tiếp viện sang lo gì không phá được quân giặc.

 Vương Thông nói:

-Cách đây hơn một tháng ta đã trù liệu được tình thế và đã viết thư xin hoàng thượng cho viện binh. Nếu hoàng thượng đồng ý thì viện binh cũng đã sắp sang. Nhưng cũng được, nay cứ gửi một lá thư nữa trình hoàng thượng cho chắc chắn.

Vương Thông bèn viết thư xin viện binh, bọc sáp lại và gọi:

-Tướng quân Mã Kỳ đâu.

-Dạ, có mạt tướng.

-Tướng quân đem thư này về Yên Kinh trình hoàng thượng xin viện binh. Đây là lá thư thứ hai. Tướng quân đi về càng nhanh càng tốt, nếu chậm trễ, Đông Quan e thất thủ trong nay mai.

-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.

Trong tổng hành dinh của Lê Lợi, Bình Định Vương đang nói với các tướng:

-Ta đã đồng ý cho giảng hòa, Vương Thông im lặng và đang ra sức cố thủ. Có lẽ hắn đang chờ viện binh để tiếp tục chiến tranh.

Chợt có thám mã về báo:

-Dạ bẩm chúa công, vua Minh Tuyên Tông đã cử An Viễn Hầu Liễu Thăng chỉ huy 10 vạn quân, 2 vạn ngựa đang tập trung ở châu Tư Minh, chuẩn bị tràn vào ải Mục Nam Quan để cứu Vương Thông.

Lại có thám mã miền Tây Bắc về báo:

-Dạ bẩm chúa công, vua Minh Tuyên Tông đã cử Kiềm Quốc Công Mộc Thạnh, tập trung 5 vạn quân, 1 vạn ngựa ở Vân Nam, chuẩn bị tiến xuống Đông Quan từ châu Đà Giang.

 Lê Lợi nói:

-Vậy là quân cứu viện sắp tới. Chúng ta đứng trước ba khối quân Minh. Thứ nhất là khối quân bị vây hãm khoảng 10 vạn quân ở các thành, lớn nhất là 4 vạn quân Minh ở Đông Quan, Khối thứ hai là 10 vạn quân tinh nhuệ của Liễu Thăng sẽ tiến vào Lạng Sơn, khối thứ ba là 5 vạn quân của Mộc Thạnh sẽ từ Đà Giang tiến xuống. Quân sư NguyễnTrãi và các tướng quân có cao kiến gì không?

Tướng Trương Lôi nói:

-Dạ bẩm chúa công, ta nên tập trung hạ thành Đông Quan, phá thế trong đánh ra, ngoài đánh vào của giặc thì sẽ thắng lợi.

Nguyễn Trãi nói:

-Dạ, bẩm chúa công, trong ba khối quân mà chúa công vừa phân tích, thần cho rằng khối quân quyết định chiến cuộc, quyết định số phận của quân Minh là 10 vạn quân của Liễu Thăng. Chúng ta tập trung binh lực tiêu diệt bằng được đạo quân này thì Đông Quan và các thành khác còn bị vây hãm không đánh cũng tự đầu hàng, đạo quân Mộc Thạnh không đánh cũng tự tháo chạy.

Lê Lợi hỏi:

-Tướng quân Nguyễn Chích có cao kiến gì không?

Nguyễn Chích đáp:

-Dạ, bẩm chúa công, thần tán thành cao kiến của quân sư Nguyễn Trãi, ta nên tập trung lực lượng đánh bại đạo quân của Liễu Thăng thì quân các thành phải đầu hàng vì không còn viện binh, đạo Mộc Thạnh sợ cũng phải tự rút. Nhưng muốn tiêu diệt được đạo quân Liễu Thăng không phải đơn giản vì khối quân này rất lớn, lại tinh nhuệ, cho nên phải đánh nhiều trận bằng các chiến thuật phục kích, truy kích, tổng công kích để tiêu diệt từng bộ phận và cuối cùng tiêu diệt hoàn toàn.

Tướng Trần Nguyên Hãn  nói:

-Bẩm chúa công, thần tán thành cao kiến của quân sư và của tướng quân Nguyễn Chích. Thần chỉ thêm rằng trước khi đạo quân Liễu Thăng tiến xuống, ta phải tiêu diệt xong các thành Khâu Ôn, Lạng Sơn, đặc biệt là thành Xương Giang là thành trì rất kiên cố để làm mất chỗ dựa của viện binh, cũng là diệt trừ khả năng trong đánh ra, ngoài đánh vào của giặc.

Tướng Đinh Lan  nói:

-Dạ bẩm chúa công, thần tán thành cao kiến của quân sư, của tướng quân Nguyễn Chích và tướng quân Trần Nguyên Hãn. Thần chỉ nói thêm là trên con đường từ Lạng Sơn đến Lạng Giang phải sơ tán hết bách tính để không bị giặc tàn sát và giặc không vơ vét được lương thực. Thực hiện vườn không nhà trống ở những nơi quân giặc đi qua.

Lê Lợi nói:

-Quân sư và các tướng quân nói chí lý lắm, cứ như vậy mà thực hiện đi.

-Chúng mạt tướng tuân lệnh.

Trong tháng 7 và tháng 8 năm 1427, những tin cấp báo được đưa về tổng hành dinh của Lê Lợi:

-Dạ bẩm chúa công, tướng quân Bùi Quốc Hưng đã hạ được thành Điêu Diêu Gia Lâm và thành Đáp Cầu Bắc Ninh rồi ạ.

-Dạ bẩm chúa công, tướng quân Trịnh Khả và tướng quân Lê Khuyển đã hạ được thành Tam Giang Phú Thọ rồi ạ.

-Dạ bẩm chúa công, tại Lạng Sơn, Tướng quân Trần Lựu và Lê Bôi đã mai phục tiêu diệt 5 vạn quân Minh của Cố Hưng Tổ từ Quảng Tây sang và đã hạ được thành Khâu Ôn rồi ạ.

-Dạ bẩm chúa công, thành Xương Giang ở Lạng Giang quá kiên cố, quân Minh lại đông, dựa vào đại bác đặt trên thành, kiên quyết cố thủ. Quân ta đã vây đánh hai tháng rồi mà không hạ được ạ.

Lê Lợi hỏi Nguyễn Trãi:

-Quân sư có kế sách gì hạ thành Xương Giang không?

Nguyễn Trãi đáp:

-Da bẩm chúa công, Xương Giang là thành có vị trí quan trọng nhất ở miền Đông Bắc nên quân Minh xây thành này kiên cố như Đông Quan. Quân Minh trong thành thiện chiến, lại có dân binh đông, thành do các tướng giỏi của nhà Minh như Kim Dận, Lý Nhâm, Mã Tri, Lưu Nhuận, Lưu Tử Phu chỉ huy. Thành cao, súng đạn nhiều, lại đặt nhiều thần công nên rất khó công phá. Nếu không hạ được trước khi viện binh Minh tới thì việc tiêu diệt đạo quân Liễu Thăng sẽ rất khó khăn, chiến cuộc sẽ rất bất lợi cho ta. Thần sẽ trực tiếp đến Xương Giang xem xét và sẽ hạ được thành trước khi Liễu Thăng tới.

 Nguyễn Trãi nói tiếp:

-Quân Minh ở Xương Giang có ưu thế áp đảo vì chúng có súng thần công mà quân ta không có. Thần đề nghị chúa công cho kéo 8 khẩu thần công ở thành Điêu Diêu, Thị Cầu tới Xương Giang để áp đảo quân giặc.

Lê Lợi nói:

-Ta hoàn toàn đồng ý.

-Người đâu.

-Dạ.

-Lệnh cho tướng Bùi Quốc Hưng ở Điêu Diêu và tướng Lê Lý ở Thị Cầu đem 8 đại bác tới Xương Giang ngay hôm nay.

-Dạ, mạt tướng sẽ đi truyền lệnh ngay.

 Ngay chiều hôm đó, Nguyễn Trãi đi Xương Giang thị sát thì Bùi Quốc Hưng và Lê Lý cũng cho voi kéo 8 đại bác tới. Nguyễn Trãi cho đắp 8 ụ đất cao ở 4 góc ngoài thành, đặt mỗi góc hai khẩu chĩa vào mặt thành Xương Giang và nã đạn vào thành. Quân Minh thiệt hại to lớn và rất khiếp đảm. Nguyễn Trãi cho thám mã về nói với Lê Lợi:

-Dạ, bẩm chúa công, quân sư thỉnh cầu chúa công tăng cho Xương Giang 8 vạn quân nữa để quân sư hạ thành.

Lê Lợi gọi:

-Tướng quân Trần Nguyễn Hãn đâu.

-Dạ, có thần.

-Tư đồ đem 8 vạn quân chi viện cho quân sư hạ thành.

-Thần tuân lệnh.

Khi đã đủ 10 vạn quân, Nguyễn Trãi ra lệnh:

-Tướng quân Bùi Bị:

-Dạ, có mạt tướng.

-Tướng quân đem 2 vạn quân đào hầm dưới đất xuyên qua thành Xương Giang và tấn công vào.

-Dạ, thưa quân sư, mạt tướng đã cho đào hào và tiến vào nhưng bị Lý Nhâm đào hào chặn ngang và đánh,quân ta thiệt hại lớn.  Nguyễn Trãi nói:

-Ngày đó tướng quân đào hào đánh vào nhưng phía trên quân ta không đủ lực lượng công thành, để chúng rảnh tay đối phó dưới đất. Nay tướng quân tiến quân dưới đất, trên mặt thành 8 vạn quân ta cùng đánh, quân Minh chỉ có chết.

chi-lang-xuong-giang-1-1641656647.jpg
Hình vẽ minh họa Trận Chi Lăng – Xương Giang. (Nguồn Internet)

 

-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.

 Nguyễn Trãi ra lệnh tiếp:

-Các tướng Lê Lựu, Lê Lý.

-Dạ, có mạt tướng.

-Khi Tướng quân Bùi Bị đào xong hào và tấn công, khi đại bác quân ta ngừng bắn  thì hai tướng quân đánh vào mặt Nam của thành.

-Dạ, mạt tướng tuân Lệnh.

-Tướng Lê Ninh, Lê Văn.

-Dạ, có mạt tướng.

-Hai tướng quân đem quân, khi đại bác của quân ta ngừng bắn thì công phá mặt Bắc của thành.

-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.

-Tướng quân Lê Liễu, Lê Văn Linh.

-Dạ, có mạt tướng.

-Khi đại bác quân ta ngừng bắn thì tướng quan tấn công mặt Tây của thành.

-Dạ mạt tướng tuân lệnh.

-Thái úy Trần Nguyên Hãn.

-Dạ, có mạt tướng.

-Khi đại bác quân ta ngừng bắn thì tướng quân đánh vào mặt Đông của thành.

-Mạt tướng tuân lệnh.

Qua nửa ngày, thốt nhiên một phát tên lửa bắn lên không trung báo hiệu hào đã đào xong và chuẩn bị tấn công dưới lòng đất. Tám khẩu thần công của quân Lam Sơn ở 4 góc đua nhau khạc đạn vào thành như dáng sấm sét vào đầu quân Minh. Cùng với đạn đại bác thì những máy bắn đá cũng dội đá xuống thành. Đất trời rung chuyến trong lửa khói và tiếng nổ ầm ầm, xác quân Minh bay lên trời bị xé nát hoặc bị đá đập vỡ đầu gục xuống. Lại một phát tên lửa bắn lên trời báo hiệu quân đào hào bắt đầu tấn công. Đại bác và máy bắn đá của quân Lam Sơn ngừng bắn. Quân Việt tấn công vào thành từ 4 mặt thành, lại từ dưới đất chui lên, không gặp sức kháng cự nào đáng kể của quân Minh. Quân dưới hào chui lên  mở toang 4 cánh cổng thành. 8 vạn quân Việt từ 4 hướng tràn vào, tiếng reo hò, tiếng chém giết kinh thiên động địa. Thành Xương Giang thất thủ, 5 vạn quân Minh bỏ xác tại trận. Tất cả các tướng Minh trong thành đều tự sát. Đây là lần đầu tiên quân Lam Sơn công phá một thành trì vững chắc nhất. Mất thành Xương Giang và các thành khác, 10 vạn quân Minh sắp tiến vào mất chỗ dựa trong tác chiến, tạo điều kiện cho quân Lam Sơn đánh bại quân cứu viện. Thành Xương Giang thất thủ ngày 28-9-1427, trước khi đạo quân Liễu Thăng tràn vào một tháng.

Sau chiến thắng Xương Giang, Lê Lợi chuyển tổng hành dinh từ Tây Phù Liệt về Bồ Đề Gia Lâm để tiện chỉ đạo chiến đấu. Nguyễn Trãi nói với Lê Lợi:

-Bẩm chúa công, Đông Quan hiện nay là thành mạnh nhất, gần với mặt trận Lạng Sơn, Xương Giang nhất. Chúa công phải cho tăng cường bao vây Đông Quan để Vương Thông không thể phá vây đánh sau lưng quân ta phối hợp với quân cứu viện.

 Lê Lợi nói:

-Quân sư nói phải lắm. Mới tháng 3 và tháng tư năm nay, các tướng bao vây Đông Quan trễ nải, để cho Vương Thông mở cổng thành bất ngờ tấn công, gây thiệt hại cho quân ta hàng nghìn quân sĩ. Tướng Đinh Lễ bị bắt và bị giết, tướng Lý Triện tử trận. Đinh Lễ, Lý Triện là những tướng tài năng của quân ta. Đinh Lễ còn là cháu gọi ta bằng cậu. Ta đã phải chém Chánh đốc Nguyễn Liên, Lê Thận vì vi phạm quân kỷ và phạm pháp. Thật là đáng tiếc.

Lê Lợi liền cho áp dụng chiến thuật lấy lũy vây thành, đắp chiến lũy kiên cố chung quanh và cao ngang mặt thành Đông Quan. Bên ngoài chiến lũy, 4 phía đều có quân Lam Sơn bao vây. Tướng Trịnh Đồ chỉ huy quân bao vây mặt Đông, Tướng Lê Chửng bao vây cửa Tây, tướng Đinh Lan bao vây cửa Nam, Lê Bôi bao vây cửa Bắc. Trong tổng hành dinh ở Bồ Đề, Lê Lợi còn cho xây tháp Báo Thiên cao gần 20 trượng để có thể quan sát mọi hoạt động của quân Minh ở trong thành.

*     *

*

Tháng 10 năm 1427, miền Nam Trung Hoa và Bắc Đại Việt chìm trong giá rét, gió lạnh thổi cắt da, cắt thịt. Rừng núi âm u uốn quanh co cao thấp phủ màn sương trắng. Lại một mùa chiến tranh đẫm máu. 10 vạn quân Minh, 2 vạn kỵ binh, hàng trăm võ tướng do Liễu Thăng dẫn đầu bắt đầu tràn vào biên giới Lạng Sơn của Đại Việt. Quân đi như hùm sói. Vũ khí tua tủa lên trời cao lấp lánh, Cờ bay rợp trời, bụi cuốn mù mịt, bước chân rung chuyển mặt đất, rừng núi.

 Trái với thông lệ hành quân, chủ tướng phải cử tướng đi tiên phong, Liễu Thăng tự mình dẫn quân đi đầu. Tuổi trẻ chức vụ cao làm Liễu Thăng vô cùng ngạo mạn. Hắn mơ tưởng ngày dẹp tan cuộc khởi nghĩa Lam Sơn mà mấy đời tổng binh tài giỏi đã thất bại sẽ mang vinh quang tột bậc cho hắn. Chợt có thám mã về báo cắt đứt giấc mơ của hắn:

-Dạ, bẩm chủ soái, có thư xin giảng hòa của Lê Lợi.

 Liễu Thăng cười ha hả:

-Ta tiến quân vào Giao Chỉ đâu phải để giảng hòa. Chuyển thư đó về Yên Kinh.

-Dạ.

Liễu Thăng cho rằng Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã run sợ khi nghe uy danh và đại quân của hắn cho nên gửi thư cầu hòa, mục đích chính là đầu hàng. Quân Minh đi nhanh như giông tố ào áo qua cửa ải Pha Lũy, đối diện với Bằng Tường, đến Khâu Ôn thì thành đã trống không, không một bóng người. Liễu Thăng lại cười;

-Bọn chuột nhát gan Lam Sơn đã bỏ chạy hết rồi. Ha!ha!ha!...

 Ngọn kiếm của Liễu Thăng rung lên trong tay, ham muốn tuột độ lúc này của hắn là được chém giết, dẹp tan quân Lam Sơn, nhanh chóng tiến vào Đông Quan để lập công đầu, nếu không thì lão tướng Mộc Thạnh sẽ vào trước. Đến Ải Lưu, Bắc Chi Lăng, tướng Lam Sơn là Trần Lựu, Lý Huề đem quân chặn đường. Liễu Thăng quát:

-Bọn chuột nhắt chớ có chạy.

Liễu Thăng vung gươm xông lên. Trần Lựu, Lý Huề bỏ chạy rồi lại dừng lại. Liễu Thăng như bị chọc tức, bị thôi miên, với ham muốn phải chém chết tướng Lam Sơn trước mặt cho hả giận nên hắn cùng 100 quân kỵ vượt lên trước đuổi theo, 10 vạn quân cũng ào ào chạy theo chủ tướng nhưng không kịp, thành ra chỉ có 100 quân kỵ và 1 vạn quân chạy kịp theo con ngựa cực khỏe của chủ tướng. Cuối cùng thì trời đất đang sáng bỗng nhiên tối sầm lại khi mờ khi tỏ. Thì ra Liễu Thăng cùng 100 quân kỵ và 1 vạn quân đã lọt vào Quỷ Môn Quan và hoàn toàn đi vào ải Chi Lăng hiểm địa. Đó là một thung lũng hẹp, hai bên là vách núi cao vút, phía Nam ải là Ngõ Thề, phía Tây là các núi đá vôi che chắn cho một đoạn sông Thương đi qua, phía Đông là các núi Thái Hòa, Bảo Đài. Trong thung lũng lầy lội nhô lên 5 ngọn núi có tên Nà Sản, Mã Yên, Phượng Hoàng, Kỳ Lân và Hãm Quỷ.

Liễu Thăng cùng 100 quân kỵ và 1 vạn quân đang dò bước đi thì một tiếng trống vang lên, những trận mưa tên hai bên vách núi dội xuống, quân Minh kêu thét lên và gục xuống, 100 quân kỵ gạt tên cho chủ tướng cuối cùng chết hết. Liễu Thăng chạy đến gò Mã Yên thì bị một mũi lao như một tia chớp xuyên qua mặt, ngã từ mình ngựa xuống đất mà chết. Một vạn quân Minh chỉ thoát được vài chục tên chạy về báo hung tin cho các tướng Minh rằng chủ soái đã bị phục binh, bị lao phóng chết ở gò Mã Yên rất  thảm. Đại quân Minh vô cùng khiếp sợ, hoàn toàn tan rã tinh thần và ý chí chiến đấu. Đó là ngày 10 Tháng 10 năm 1427. Bá tước Lương Minh thay Liễu Thăng làm chủ tướng, cho quân vòng qua núi Mã Yên, tiếp tục tiến xuống Xương Giang. 9 vạn quân Minh xuống đến vùng gọi là Kép, lọt vào trận địa mai phục của hai tướng Nguyễn Đình Lý, Lê Văn An, bị quân Lam Sơn hai bên đường bắn tên đạn như mưa, sau lưng bị các tướng Lê Sát, Đinh Liệt đuổi đánh. Cậy quân đông, Lương Minh cho quân Minh bọc vòng trong vòng ngoài chống cự. Trận chiến kéo dài hơn 10 dặm đường. Chủ tướng Lương Minh bị trúng tên vào mặt ngã ngựa chết. Thây quân Minh chất như núi, máu chảy thành sông, sau này xác vun thành đồi, dân gian gọi là đồi Mã Ngô.

Thượng thư bộ công Lý Khánh lên làm chủ tướng thay Lương Minh, cùng bọn Hoàng Phúc, Thôi Tụ dẫn 7 vạn quân mở đướng máu chạy về Phố Cát, bỏ lại 2 vạn xác chết trên chiến trường. Lúc này quân Minh vô cùng hoảng loạn, cờ quạt xác xơ, ngựa rống lên thảm thiết. Đến Phố Cát lại bị quân Lam Sơn do Lưu Nhân Chú và Lê Ngân phục kích. Phía sau bị quân của các tướng Lê Sát, Đinh Liệt, Nguyễn Đình Lý, Lê Văn An đuổi đánh ráo riết. Thượng thư Lý Khánh quá hoảng loạn thắt cổ chết. Thôi Tụ nói với Hoàng Phúc:

-Sao lại ngược đời, bị quân Việt đánh thì phải chạy về phương Bắc, sao lại cứ chạy sâu vào đất Việt?

Hoàng Phúc nói:

-Phía sau đã bị quân Việt đông như kiến cỏ chặn đánh sao thoát được, vả lại chúng ta vào cứu viện cho Vương Thông ở Đông Quan cơ mà. Thôi cố đến Xương Giang thành cao hào sâu may ra thì cố thủ được rồi tính sau.

Hy vọng chạy vào thành Xương Giang là đất sống làm quân Minh phấn chấn chạy rất nhanh về phía Nam, bất chấp có nguy cơ lại bị mai phục. Gần tối, 5 vạn quân cùng Hoàng Phúc, Thôi Tụ tới được thành Xương Giang nhưng trên thành đã cắm cờ quân Lam Sơn, trên thành bắn cả tên và thần công xuống như mưa, phía sau thì quân Lam Sơn đang đuổi tới. Thôi Tụ và Hoàng Phúc đành phải cho quân rút xuống hạ trại ở một cánh đồng không hào lũy che chắn. Hoàng Phúc cho bắn pháo hiệu lên trời cầu cứu quân các thành Đông Quan và Chí Linh gần Xương Giang ra cứu. Hoàng Phúc không biết rằng hai thành này đã bị quân Lam Sơn vây vòng trong vòng ngoài không thể ra được. Thôi Tụ và Hoàng Phúc chưa biết làm thế nào thì có tùy tướng vào báo:

-Dạ có thư của Lê Lợi gửi cho chủ soái.

-Đưa đây.

-Dạ.

Hoàng Phúc bóc thư đọc. Thư viết: “Nếu hai tướng quân hạ khí giới đầu hàng thì toàn quân và hai tướng quân sẽ được toàn tính mạng về nước. Nếu không muốn hàng, hai tướng quân có thể rút quân về nước mà không bị phục kích, truy kích”.

Đọc xong thư Hoàng Phúc gọi:

-Bay đâu.

-Dạ.

-Đem bút mực và giấy ra đây.

-Dạ.

Hoàng Phúc viết xong thư thì bảo tùy tướng:

-Đem bắn thư này về phía quân Lam Sơn.

Quân Lam Sơn nhặt được thư đem về cho Lê Lợi. Lê Lợi bóc thư ra đọc. Hoàng Phúc viết: “Đại trượng phu chỉ có chết tại trận tiền, không đầu hàng, không hèn nhát tháo chạy”.

Lê Lợi nói:

-Những thằng điên rồ cố chấp, bất nhân, không tiếc sinh mạng của hàng vạn binh lính và gia đình vợ con của họ. Người đâu.

-Dạ.

-Truyền lệnh tổng công kích tiêu diệt quân Minh ở Xương Giang.

-Dạ.

chuyleloi-nguyentrai-1641775955.jpg
Vua Lê Lợi và Nguyễn Trãi. Nguồn: https:hoangthanhthanglong.vn

 

Đêm đó trời đổ mưa, gió càng thêm lạnh, đêm tối nhưng Xương Giang náo nhiệt của đêm quyết chiến. Pháo sáng tên lửa của quân Lam Sơn bắn lên trời. Từ 4 phương tám hướng, quân Lam Sơn đông như kiến cỏ tầng tầng lớp lớp do các mãnh tướng Trần Nguyên Hãn, Lê Sát, Lê khôi, Nguyễn Xí, Phạm Vấn, Lê Hối, Đinh Liệt, Lưu Nhân Chú, Nguyễn Đình Lý, Lê Văn An cùng 7 vạn quân bắt đầu tổng công kích vào trại giặc. 6 vạn quân Minh không hào lũy, không lương thực đã đói khát mệt mỏi, kiệt sức, tên đạn đã cạn, bị những trận mưa tên và máy bắn đá dội vào xối xả. Quân Lam Sơn còn kéo cả pháo từ thành Xương Giang xuống tham chiến nã vào trại quân Minh. Vài canh giờ sau, 3 vạn quân Minh tử trận, cánh đồng chất đầy xác, máu như lũ lụt đỏ ngầu. Khi đó quân Lam Sơn mới xông vào chém giết. 2 vạn quân Minh còn lại đầu hàng bị bắt cùng 300 tướng lĩnh cao cấp của triều đình nhà Minh. 10 vạn quân Minh chỉ một tên chủ sự là Phan Hậu chạy thoát về nước. Quân Lam Sơn thu được chiến lợi phẩm vũ khí, ngựa, vàng bạc chất cao như núi. Trận Xương Giang khép lại cả một chiến dịch Chi Lăng-Xương Giang, là một trong những chiến công hiển hách nhất trong cuộc chống ngoại xâm phương Bắc.

Đạo Tây Bắc, chỉ huy 5 vạn quân vượt Ải Lê Hoa xâm nhập vào Đại Việt là Kiềm Quốc Công Mộc Thạnh. Trái với sự hung hăng của tướng trẻ Liễu Thăng thì Mộc Thạnh một tướng già cho quân tiến rất chậm chạp, thận trọng, vừa đi vừa nghe ngóng tin tức của đạo quân Liễu Thăng. Một buổi sáng quân Mộc Thành đang đi thì bị quân Lam Sơn do tướng Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả, Đỗ Bí, Lê Khuyển chỉ huy dàn trận chắn ngang đường. Mộc Thạnh cũng cho quân dàn trận. Khi hai bên đối diện, Phạm Văn Xảo nói;

-Đã lâu nghe tiếng tăm của Kiềm Quốc Công, nay hóa ra cũng chỉ là một viên tướng tầm thường như Liễu Thăng mà thôi.

Mộc Thạnh hỏi:

-Sao tướng quân lại nói vậy?

 Liễu Thăng là một tướng trẻ không suy xét thời cuộc, cứ xông vào cướp nước người khác nên đã thiệt mạng rồi, thật là uổng công cha sinh mẹ dưỡng. Nay Quốc Công đã già rồi sao vẫn nhất quyết đi vào đất chết như Liễu Thăng?

Mộc Thạnh hỏi:

-Tướng quân có bằng chứng gì để nói rằng An Viễn Hầu đã chết?

Trịnh Khả gọi:

-Người đâu.

-Dạ.

-Đem ra đây.

-Dạ.

Quân lính đem ra cây sào tre có treo thủ cấp của Liễu Thăng còn đội mũ, dưới thủ cấp có treo bằng cấp ấn tín chủ soái của Liễu Thăng. Trước hàng quân Việt là 100 lính, 3 thiên hộ và 1 đô chỉ huy sứ quân Minh. Mộc Thạnh kinh hoàng hỏi tên đô chỉ huy sứ:

-Đó là sự thật sao?

Tên tù binh đáp:

-Dạ, bẩm Kiềm Quốc Công, đó là sự thật, An Viễn Hầu đã bị giết ở gò Mã Yên, ải Chi Lăng. Các tướng Lương Minh, Lý Khánh, Thôi Tụ và 8 vạn quân bị tử trận rồi, chỉ còn 2 vạn quân và 300 tướng lĩnh của ta bị bắt.

Mộc Thạnh choáng váng, không nói lời nào quay đầu chạy, 5 vạn quân cũng tan vỡ chạy theo chủ tướng. Trịnh Khả hô to:

-Xông lên giết.

Quân Lam Sơn ào ạt xông lên. Tiếng chiêng trống, tiếng reo hò vang động rừng núi. Tới vùng gọi là Lãnh Câu-Đan Xá, 1 vạn quân Minh bị giết, quân Việt bắt 1000 tù binh, 1000 ngựa chiến, thu vũ khí lương thực nhiều không kể xiết. Mộc Thạnh chạy một mạch qua ải Lê Hoa về nước, không dám quay đầu nhìn lại.

Trong tổng hành dinh ở Bồ Đề, Lê Lợi gọi:

-Người đâu.

-Dạ, bẩm chúa công.

-Cho gọi tướng quân Nguyễn Lôi vào

-Dạ.

Nguyễn Lôi đi vào tổng hành dinh. Lê Lợi nói:

-Tướng quân đem ấn tín của Liễu Thăng, của Lương Minh, Lý Khánh, Thôi Tụ, Hoàng Phúc và 100 tù binh Minh đến các thành làm bằng chứng kêu gọi quân Minh ra hàng. Nói rằng hàng thì tha mạng cho về nước, không hàng sẽ giết.

-Dạ, thần tuân lệnh.

Quân Minh ở các thành Tây Đô, Cổ Lộng, Chí Linh, Đông Quan trông thấy cờ quạt, ấn tín của các tướng lĩnh cao cấp nhà Minh và 100 tù binh làm bằng chứng, biết là 15 vạn quân cứu viện đã bị tiêu diệt, không hàng thì chết, hàng thì được khoan hồng về nước. Cho nên các thành Tây Đô Thanh Hóa, Cổ Lộng Nam Định, Chí Linh Hải Dương, Đông Quan tranh nhau kéo cờ trắng, mở cửa thành đầu hàng. Quân các thành trên được quân Lam Sơn cho về Đông Quan, nhập với quân Vương Thông để về nước. Do gây quá nhiều tội ác trong 10 năm trời với bách tính Việt nên một số tướng lĩnh Lam Sơn tâu xin Lê Lợi cho giết hết hơn 10 vạn quân Minh. Lê Lợi nói:

-Dân tộc Việt ta là đại nghĩa, đại nhân, không bao giờ giết những kẻ đã đầu hàng, đã biết hối cải, đã thề không bao giờ sang xâm lược nước ta nữa. Vả lại, trả lại tù binh còn là vì hòa hiếu giữa hai dân tộc Việt- Trung. Các tướng phải ghi nhớ điều đó, không được tâu trình nữa, ý ta đã quyết.

 Các tướng soái đều nói:

-Chúa công anh minh, chúng thần tuân lệnh.

Ngày 10-12-1427, hội thề của tù binh nhà Minh do Vương Thông đại diện diễn ra ở cửa Nam Đông Quan. Trên chiếc bàn cao sơn son thếp vàng lóng lánh, các lư hương đồng màu vàng hương khói nghi ngút, lập lòe những đóm lửa linh thiêng, nơi các bậc trời đất, thánh thần, thiên địa nước Nam đang về ngự trị. Dưới bàn, Vương Thông đốt hương vái lạy và thề rằng:

-Trước các thần linh thiên địa, thánh thần trời đất, mạt tướng bại trận Sơn Thành Hầu Vương Thông thề không bao giờ động binh xâm lược Đại Việt nữa vì đất Đại Việt là của bách tính Đại Việt, của vua Đại Việt, của thần thánh Đại Việt. Nếu sai lời thề sẽ chết không toàn thây dưới lưỡi gươm hòn đạn. Mong các thần linh đất trời chứng dám.

Rồi Vương Thông cùng các tướng Minh quỳ lạy ba vái.

Sau đó hơn 10 vạn quân Minh được quân Lam Sơn chu cấp lương thực, thực phẩm, nước uống đủ trong hai ngày để về đến bên kia biên giới. Trời mùa đông nhưng nắng chan hòa, quân Minh vượt qua cầu phao sông Hồng sang bờ Bắc. Họ đi hàng dọc dài tưởng như vô tận. Những đội quân Lam Sơn vũ khí trong tay đứng hàng dài hai bên đường và hai bên bờ sông im lặng, chứng kiến và giám sát quân Minh về nước. Khi đã sang hết bờ Bắc sông Hồng, đoàn quân bại trận bỗng nhiên quỳ xuống vái vọng về hướng Bồ Đề, nơi có tổng hành dinh của Lê Lợi, nước mắt họ chan hòa trong sung sướng, trong tủi hổ. Tiếng thổn thức của hơn 10 vạn con người vang lên:

-Cảm tạ Bình Định Vương tha mạng.

-Cảm tạ Bình Định Vương không giết.

-Bình Định Vương đã sinh ra chúng tôi một lần nữa.

-10 năm qua chúng tôi đã gây ra nhiều tội ác trên đất nước của Người. Hu!hu!hu!!!

-Chúng tôi thật là hối hận…

-Đa tạ, Đa tạ…

Gió bấc thổi thốc tháo. Hơn 10 vạn con người đứng dậy tiếp tục đi về phương Bắc, nơi có những người thân yêu của họ đang lo lắng đợi chờ những đứa con tội lỗi đi xâm lược xứ người, đi vào những cuộc chiến tranh phi nghĩa và vô ích. Họ đang đi về đất mẹ của họ. Họ thật là những sinh linh may mắn bởi lòng nhân ái bao la của Đại Việt.

Sau 10 năm nô lệ, đất nước đã sạch bóng quân thù. Nguyễn Trãi thay mặt Lê Lợi viết bản Tuyên Ngôn Độc Lập thứ hai, “Bình Ngô Đại Cáo”:

“Xã tắc từ đây bền vững

Giang sơn từ đây đổi mới

Càn khôn đã bỉ rồi lại thái

“Nhật Nguyệt đã mờ rồi lại trong

Để mở nền muôn thưở thái bình

Để rửa nỗi nghìn thu hổ thẹn”.

Ngày 29 tháng 4 năm 1428, Bình Định Vương Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, đế hiệu là Lê Thái Tổ, khai sinh một triều đại mới: Triều Hậu Lê, một triều đại hoàn thiện và phát triển bậc nhất trong chế độ quân chủ phong kiến Đại Việt, đưa Đại Việt đến đỉnh cao của hưng thịnh, phát triển toàn diện mọi mặt kinh tế, chính trị, quân sự, xã hội, văn hóa. Triều Hậu Lê tồn tại 361 năm (1428-1789) với 21 đời hoàng đế. Nền hòa bình của Đại Việt cũng được duy trì và bảo vệ suốt 361 năm.

Hết chương III.