I
Mặt trời buổi sáng mùa đông dường như lên muộn. Ánh nắng ban mai không đủ xua đi những làn sương mù trắng xóa của mùa đông. Bầu trời, núi non, cây lá mờ mờ ảo ảo như khung cảnh thần tiên. Bái Tử Long, vịnh Hạ Long với trăm nghìn hòn đá đủ hình thù kỳ quái nhô lên trên làn nước trong xanh, đúng là xứ sở của thần tiên.
Trong cảnh thần tiên đó, suốt hai dặm của dòng sông Bạch Đằng chạy dài ra cửa biển vẫn còn nguyên xi dấu vết của trận thủy chiến khốc liệt từ chiều cho đến hết đêm hôm qua giữa quân Việt và quân Nam Hán. Những mảnh ván của 400 chiến thuyền Nam Hán cháy dở trôi nổi dập dềnh, cờ quạt, vũ khí ngổn ngang. Xác quân Nam Hán chết trôi nổi lập lờ nổi chìm theo sóng. Màu nước của sông pha máu giặc đỏ lừ khủng khiếp. Sóng vẫn đổ vào và lui ra ca lên khúc ca khải hoàn. Buối sáng nước triều rút ra, cửa sông Bạch Đằng nhô lên bãi cọc nhọn như hàm răng của dòng sông tử địa đang cười hiên ngang giữa biển sông trời đất.
Trong tổng hành dinh ở Gia Viên, Ngô Quyền đang họp với các tướng lĩnh tham gia trận Bạch Đằng bao gồm Dương Tam Kha, Phạm Bạch Hổ, Đỗ Cảnh Thạc, Kiều Công Hãn, Ngô Xương Ngập, Dương Phương Lan. Ngô Quyền nói:
- Trận chiến Bạch Đằng hôm qua là một tổn thất lớn cho quân Nam Hán. Sau trận này chúng không còn đủ sức lực và tinh thần xâm lược lại nước ta một lần nữa. Tuy nhiên, ta đã cho thám mã đi truyền lệnh cho các tướng ở Lạng Châu và Lục Châu luôn đặt quân sĩ vào tinh thần cảnh giác, tinh thần chiến đấu cao đề phòng quân Nam Hán tấn công trả thù. Thứ hai, các tướng phải ra lệnh cho quân sĩ nhanh chóng thu dọn chiến trường, thu dọn xác thuyền bè lên bờ thiêu huỷ, thu dọn xác quân giặc đem chôn cất, trả lại sự trong sạch cho sông Bạch Đằng để cuộc sống dân chài lưới trở lại bình thường. Thứ ba, đất nước một ngày không thể không có vua. Nhưng muốn xưng vương xưng đế phải có kinh đô. Nay ta quyết định lấy kinh đô là Cổ Loa. Nay cử Dương Tam Kha và Ngô Xương Ngập về cho quân sĩ tu sửa thành trì, nhà cửa để làm kinh đô của triều Ngô ta. Còn nhiều việc của đất nước vừa độc lập phải làm ngay. Mai ta tạm thời về Đại La, sau đó sẽ chuyển sang kinh đô Cổ Loa và sẽ thiết triều bàn bạc quyết định.
Sau khi quân đội đã thu dọn sông Bạch Đằng sạch sẽ, Ngô Quyền đem đại quân về Đại La và khoảng một tháng sau thì dời về Cổ Loa. Ngô Quyền biết rằng Cổ Loa là do Cao Lỗ thiết kế và nhân dân xây dựng và là kinh đô của nước Âu Lạc thời An Dương Vương. Đây là công trình có chín vòng thành nện bằng đất sét vô cùng chắc chắn. Thành Cổ Loa vừa là kinh đô vừa là căn cứ quân sự. Là căn cứ quân sự thì Cổ Loa vừa là căn cứ bộ binh vừa là căn cứ thủy binh. Sau khi thất thủ năm 179 trước công nguyên và nước Âu Lạc mất thì Cổ Loa chỉ còn là một thành trì quân sự. Suốt thời kỳ Bắc thuộc từ Hán, Đông Ngô, Tấn đến Tùy, trị sở chính của Giao Châu là Luy Lâu thuộc Vũ Ninh, Giao Chỉ. Năm 40 – 43, khi hai Bà Trưng giành độc lập thì lấy Mê Linh là kinh đô, tới thời Lý Nam Đế giành độc lập 50 năm thì kinh đô của nước Vạn Xuân là Long Biên. Đời Đường thì Đại La thành trị sở của An Nam đô hộ phủ, còn gọi là Tĩnh Hải Quân. Thời họ Khúc, họ Dương giành quyền tự chủ thì Đại La vẫn là thủ phủ của Tiết Độ sứ. Dưới con mắt của Ngô Quyền, Cổ Loa là nơi dễ phòng thủ, quân thù khó tấn công nếu như không có nội gian bên trong như thời An Dương Vương. Sau chiến thắng Bạch Đằng năm 938, trong tình hình cả nước chưa xây dựng được chính quyền mạnh, hào trưởng các nơi chưa hoàn toàn phục tùng chính quyền trung ương thì Cổ Loa là nơi phòng thủ tốt nhất. Thứ nữa, Cổ Loa là kinh đô tương đối kín đáo, tránh được con mắt dò la của nhà Nam Hán và của bọn người phương Bắc. Ngô Quyền lệnh cho Dương Tam Kha chỉ huy quân sĩ đắp lại một số đoạn thành đã sạt lở, đào một cái giếng và trồng một cây đa bên cạnh giếng. Ngô Quyền cùng những tùy tướng lên đỉnh cao nhất của tòa thành nội trong cùng và nhìn bao quát. Chín vòng thành uốn lượn quanh co và ôm bọc lấy nhau khép kín nên còn được gọi là thành ốc. Giữa những tường thành là dinh thự, nhà cửa, lâu đài. Sông đào uốn quanh vòng thành ngoài Cổ Loa là một dòng sông rộng lớn. Trên sông đào, chiến thuyền của Ngô Quyền từ Bạch Đằng Giang kéo về đậu san sát, cờ vàng trên mặt thành, trên các chiến thuyền bay phấp phới rực rỡ trong nắng mùa đông. Cờ vàng tung bay phấp phới trên chín vòng thành Cổ Loa. Lá cờ vàng lớn mang chữ Khúc-Dương màu đen ở giữa nay được thay bằng chữ Ngô. Thành Cổ Loa được trang hoàng lộng lẫy để ăn mừng chiến thắng quân Nam Hán trên Bạch Đằng cũng là chào đón lễ đăng quang của Ngô Quyền. Từ thành Cổ Loa, Ngô Quyền phóng tầm mắt nhìn ra bốn phương. Những cánh đồng lúa đang nặng trĩu bông màu vàng pha lẫn màu xanh. Người dân đang bước vào gần thu hoạch vụ mùa. Sông Hoàng Giang nối với hào thành Cổ Loa nối với sông Hồng, sông Đuống nước xanh ngắt mơ màng. Xa xa Tam Đảo, Ba Vì phủ sương trắng xóa, khoác tấm áo trắng xanh huyền bí. Trời xanh, mây bay. Những đàn chim cò, vạc tung cánh trên không trung bay về phương Nam tránh rét. Ngô Quyền nói với ngô Xương Ngập:
- Vòng thành ngoài cho sửa sang lại hệ thống canh phòng. Cho đặt cung, nỏ, chất cháy, gỗ, đá để phòng thủ khi bị tấn công. Cắt cử lính canh suốt ngày đêm. Đặt lại chế độ có trống cầm canh để biết thời gian và cần khi báo động. Nhắc nhở quan lại, bách tính đề phòng hỏa hoạn.
Ngô Xương Ngập đáp:
- Dạ, con tuân lệnh cha.
Ngày hôm sau Ngô Quyền ra lệnh cho quân đội và bách tính ăn mừng chiến thắng và lễ đăng quang của ông lên ngôi vua. Ông bỏ chức danh Tiết độ sứ và xưng là Ngô Vương, tự khẳng định sự độc lập khỏi các thế lực phong kiến phương Bắc từ nay về sau.
Sau ba ngày lễ lớn tưng bừng, ngày hôm sau tại kinh đô Cổ Loa, Ngô Vương thiết triều bàn những việc quan trọng của đất nước, của một triều đại mới. Trong buổi thiết triều Ngô Vương nói:
- Đất nước một ngày không thể không có vua. Từ khi Dương Tiết độ sứ qua đời cho đến nay, ta mãi công việc diệt trừ phản nghịch Kiều Công Tiễn, rồi tiếp theo là kháng chiến chống quân Nam Hán. Nay sự nghiệp chống ngoại xâm và diệt trừ nội phản đã hoàn thành, đáp lại sự mong mỏi của bách tính và ba quân, các khanh hãy nghe mệnh lệnh sau đây:
- Ta Ngô Quyền, nay lên ngôi vua, đế hiệu là Ngô Vương, lấy Cổ Loa là kinh đô của triều đại và đất nước. Nay phong Ngô Phu nhân Dương Thị Như Ngọc là Dương Hoàng hậu, Dương Phương Lan làm quý phi; Ngô Xương Ngập là Thái tử, Ngô Xương Văn, Ngô Hưng Nam, Ngô Càn Hưng là hoàng tử. Phong Dương Tam Kha, Lã Tử Bình, Phạm Bạch Hổ, Đỗ Cảnh Thạc là đại thần kiêm Quân quốc trọng sự. Phong Đỗ Cảnh Thạc đứng đầu hàng võ quan. Phong Kiều Công Hãn là Thứ sử Phong Châu, Dương Huy làm Thứ sử Vũ Ninh, Ngô Nhật Khánh làm Thứ sử Đường Châu, Đinh Công Trứ làm thứ sử Hoan Châu, Đinh Bộ Lĩnh làm Tư mã Hoan Châu, giúp việc cho cha là Đinh Công Trứ. Còn các châu khác, các Thứ sử vẫn trung thành với triều đình ta thì giữ nguyên như cũ.
Đỗ Cảnh Thạc đứng dậy tâu:
- Muôn tâu Hoàng thượng, đế vương vừa là danh hiệu chủ tể của thiên hạ, đế là hàng nhất, vương là hàng nhì. Nay Hoàng thượng vừa đánh cho quân Nam Hán vỡ mật, chiến thắng lẫy lừng làm bên trong thì nức lòng bách tính, bên ngoài thì vang dội, phương Bắc và phương Nam đều kinh hãi. Sao Hoàng thượng không xưng đế, bên trong thì lấy uy trị vì thiên hạ, bên ngoài thì bố cáo một thời đại độc lập sánh ngang với Bắc phương. Mong Hoàng thượng suy xét.
Ngô Vương đáp:
- Vương đế khác về chữ viết nhưng quyền hành có khác gì nhau, chỉ là chỉ tước hiệu người đứng đầu quốc gia. Đế hay vương thì nay nhà Ngô ta cũng là một triều đình độc lập, mở đầu cho thời độc lập bền vững của nước nhà, mở đầu một vương triều chính thống từ nay về sau.
Phạm Bạch Hổ nói:
- Từ xưa tới nay nước độc lập đều có Quốc hiệu để dùng trong hành chính, quân sự, bang giao. Xin Hoàng thượng quyết định.
Ngô Vương đáp:
- Ta biết thời Hùng Vương quốc hiệu là Văn Lang, thời An Dương Vương quốc hiệu là Âu Lạc, thời hai Bà Trưng là Hùng Lạc hạy còn gọi là Lĩnh Nam, thời Lý Nam đế gọi là Vạn Xuân, thời tự chủ của họ Khúc, của Dương Đình Nghệ vẫn gọi là An Nam hay Tĩnh Hải Quân. Bây giờ ta cứ gọi nôm na là Nước Việt vậy.
Triều đình đáp:
- Dạ, tuân lệnh Hoàng thượng.
Rồi thời gian trôi đi chớp mắt đã 5 năm. Trong thời gian đó, bằng võ công Bạch Đằng hiển hách, bằng lực lượng quân sự, bằng uy tín của mình, Ngô Vương đã làm cho các thế lực hào trưởng trong nước phải phục tùng chính quyền trung ương, chịu sự thống trị của triều đình Cổ Loa. Cho nên, đất nước hòa bình, bách tính sống no ấm yên vui trong những làng mạc nông thôn yên ả, thanh bình. Nhưng thiên hạ, quốc gia và các triều đại là tuân theo một sự vận động không ngừng theo quy luật thăng trầm, thịnh suy, suy thịnh, tan hợp, hợp tan. Bước vào những năm 40 kỷ thứ X, triều đình Cổ Loa bước vào thời kỳ biến động. Sự kiện rõ ràng và nguy nan nhất là sức khỏe của Ngô Vương ngày càng giảm sút, các buổi thiết triều bàn việc nước ngày càng ít đi, hoặc nếu có thì cũng nhiều lần do Thái tử Ngô Xương Ngập chủ trì. Cũng may khi đó đất nước thanh bình, không có sự đe dọa từ phương Bắc, Trung Nguyên chìm trong cục diện tranh hung của Ngũ đại thập quốc, nhà Nam Hán đang trên bờ diệt vong, không còn sức, không còn ý chí sang đánh báo thù trận thua năm 938. Thế rồi một ngày Ngô Vương đang ngồi bỗng nhiên tối xầm mặt mày suýt ngã, may có thị vệ đỡ đem vào giường nằm. Ngô Vương biết đã sắp đi, cho gọi hoàng hậu Dương Thị Như Ngọc, quý phi Dương Phương Lan, Thái phó Dương Nhất Kha, Thái phó Dương Nhị Kha, Thái sư Dương Tam Kha là các anh của Dương Hoàng hậu, Thái tử Ngô Xương Ngập và các hoàng tử Ngô Xương Văn, Ngô Càn Hưng, Ngô Hưng Nam vào bên giường. Ngô Vương cầm tay Ngô Xương Ngập mà nói, giọng yếu ớt:
- Cha nay số mệnh ngắn ngủi, đã đến lúc phải đi về tiên thế. Con là con trưởng kế vị cha. Cha mừng là con cũng đã trưởng thành, cũng từng xông pha chiến trận. Con phải làm một ông vua tốt với dân, trung với nước, đặc biệt phải giữ được cơ nghiệp độc lập mà cha ông gian khó, bách tính hy sinh to lớn mới giành lại được. Con phải có hiếu với thân mẫu, tốt và nhân nghĩa bao dung với các em. Có như vậy cha dưới suối vàng mới yên tâm nhắm mắt.
Ngô Xương Ngập quỳ lạy khóc nói:
- Con xin ghi nhớ và làm theo những lời căn dặn của cha.
Ngô Vương lại cầm tay Dương Tam Kha:
- Trong các trụ cột của triều đình, bác là đại thần lại là người nhà. Nay vua mới còn trẻ, bác phải phò tá giúp cho tròn đạo anh em bác cháu, vua tôi. Ngoài ra ba bác phải giúp đỡ Dương Thái hậu và các cháu.
Dương Tam Kha và tất cả đều quỳ nhận cố mệnh:
- Thần xin lĩnh chỉ.
Ngô Vương lại cầm tay Dương Hoàng hậu, mắt vua trào ra những giọt nước, ý vua muốn nói nhiều với hoàng hậu nhưng rồi vua im bặt. Ngô Vương đã băng hà, thọ 47 tuổi, ở ngôi 5 năm. Dương Hoàng hậu, quý phi Dương Phương Lan và các con đều khóc lóc thảm thiết, lúc đó là năm 944. Ngô Vương ra đi quá sớm ở cái tuổi đang thời kỳ sung mãn về sức lực, đỉnh cao của tài năng trí tuệ và uy tín trong việc kinh bang tế thế. Một con người đã làm cho những kẻ bán nước như Kiều Công Tiễn mặt xanh nanh vàng, hồn bay khỏi xác, một người hai lần làm cho cựu thù của đất nước là triều đình Phiên Ngung nghe đến tên là bàng hoàng như nghe sấm sét, coi giấc mộng Nam chinh là giấc mộng kinh hoàng. Người đã dựng một cột mốc lớn, sừng sững trên con đường đi của lịch sử dân tộc Việt. Than ôi! Con người vĩ đại cũng không thoát khỏi quy luật sinh trụ dị diệt của tạo hóa. Triều đình Cổ Loa và đất nước chìm trong mùa tang tóc bi thương, đã đưa thi hài vị anh hùng về yên nghỉ ở Đường Lâm - Phong Châu. Ngô Xương Ngập bước lên ngai vàng làm chủ triều đình Cổ Loa và đất Việt.
II
Hai năm sau, đó là năm 946, thành Đại La chìm trong màn đêm mù mịt, không gian giữa trời và đất như nối liền nhau bởi bóng đêm đen. Vài vì sao trên bầu trời nhấp nhánh xa xăm và cô đơn. Gió khua xào xạc rung muôn cây uốn mình trong đêm. Dòng sông Tô Lịch mênh mang vẫn đưa nước về xuôi, dòng nước xanh đen đôi khi ánh lên ánh bạc rồi lại đen mờ trong đêm. Những ánh đèn dầu vàng vọt trong các khu phố leo lét hình như đang thức suốt đêm thâu.
Trong sảnh đường sang trọng của Đại La vẫn bày đặt như xưa, vẫn bàn ghế bằng gỗ lim khắc hoa văn cầu kỳ, khảm ngọc trai tinh xảo. Trên bàn đặt những bộ ấm chén uống trà màu nâu bóng. Cái khác xưa là trên bàn không còn bày đặt những đồ vật ngọc ngà châu báu như thời các quan Tiết Độ sứ nhà Đường. Chủ nhân của thành Đại La không phải là quan Tiết Độ sứ mà là nơi ở của quan Tổng trấn Đại La và là Đại thần triều Ngô Dương Tam Kha và gia đình.
Đêm nay ngồi trên ghế chủ nhân của Đại sảnh đường là Tổng trấn Dương Tam Kha, trước mặt là chiếc bàn kê ngang, tiếp theo là bàn ghế kê dọc cho thuộc cấp ngồi. Ngồi ở bàn dọc là ba người: Trưởng nam của Dương Đình Nghệ là Dương Nhất Kha, người anh thứ hai là Dương Nhị Kha, người thứ ba là Dương Cát Lợi, em con ông chú của ba anh em họ Dương. Cả bốn người đều căng thẳng, uống trà liên tục. Cuộc nghị đàm này mang tính chất bí mật một công việc động trời, liên quan đến ngai vàng của dòng họ Ngô, vận mệnh của đất nước và vận mệnh của dòng họ Dương. Dương Tam Kha lại bê chén nước, uống một ngụm, đặt chén xuống và nói:
- Sở dĩ hôm nay ta bàn với các huynh làm chính biến, lật đổ Ngô Xương Ngập vì có mấy lý do: thứ nhất cái ngai vàng này, giang sơn này sau họ Khúc thì đến họ Dương ta tiếp quản và giữ gìn rất khó nhọc. Cha chúng ta là Dương Đình Nghệ đã đánh bại quân Nam Hán, dành lại quyền tự chủ sau 7 năm Khúc Thừa Mỹ làm mất. Làm được như vậy là họ Dương và cha đã tốn bao công sức chuẩn bị 7 năm trời. Ngô Quyền chỉ là người kế thừa sử dụng lực lượng của chúng ta đánh bại quân Nam Hán năm 938. Vả lại, Ngô Vương cũng chỉ là con rể. Sau chiến thắng, đáng lý phải trả lại ngai vàng cho chúng ta thì đệ ấy lại không làm như vậy, lại ngồi vào ghế Tiết độ sứ mà xưng vương. Nay Ngô Vương đã mất, ta lấy lại ngai vàng là hợp lý.
Dương Tam Kha ngừng lại uống nước và lại nói tiếp:
- Thứ hai, Nam Sách vương Ngô Xương Ngập ngày nay không thể nào sánh được với Ngô Vương ngày xưa, phần còn quá trẻ, thiếu kinh nghiệm cai trị đất nước, không có tài kinh bang tế thế. Suốt một năm ngồi trên ngai vàng ở Cổ Loa không làm được một việc gì cho đất nước mà đất nước thì có biết bao nhiêu việc bức xúc phải giải quyết, phải làm. Đã thế lại còn thói ích kỷ, chuyên quyền, không coi ai ra gì, coi các bác, các chú và các Đại thần triều đình như cỏ rác. Thử hỏi không phát triển kinh tế, không phát triển quân đội hùng mạnh, nay mai Trung Nguyên kết thúc cục diện Ngũ đại thập quốc, thống nhất quốc gia, nước mà chúng tấn công xâm lược đầu tiên là nước Việt ta, dân tộc khi đó nguy vong mà chúng ta chết không có đất mà chôn. Cho nên đệ cho rằng đệ phải thay thế Ngô Xương Ngập. Các huynh thấy thế nào?
Dương Nhất Kha nghe xong giận tím mặt, nói gay gắt:
- Từ đâu đệ lại có tư tưởng phản nghịch như vậy. Đành rằng cơ nghiệp, lực lượng là do cha ta gây dựng nên. Nhưng ngay chính khi cha còn, Ngô Vương bằng tài năng trí tuệ của mình đã đóng góp công lao hầu như quyết định. Ngô Vương đã đánh bại quân Nam Hán năm 931, tiêu diệt quân tiếp viện của Thừa chỉ nhà Nam Hán Trần Bảo. Những ngày sóng gió của họ Dương ta năm 937, khi cha bị sát hại, chính Ngô Vương đã vững tay lái, bình tĩnh sáng suốt, đưa nước nhà và họ Dương ta vượt qua sóng gió hiểm nghèo. Ngô Vương đã có công xây dựng quân đội Khúc-Dương, nâng lên thành một quân đội có trang bị, tổ chức, có sức mạnh mới, từ đó đã chiến thắng thù trong giặc ngoài năm 938. Ngô Vương đã làm cho bọn bán nước và quân xâm lược cướp nước phải run sợ, khiếp đảm muôn đời. Cho nên năm 939 Ngô Vương lên ngôi là xứng đáng.
- Thứ hai, Nam Sách Vương là cháu của chúng ta, Dương Thái hậu là em gái của chúng ta. Họ Ngô ở ngôi cũng như họ Dương ở ngôi, có gì mà phải tranh giành nhau. Cháu còn trẻ thiếu kinh nghiệm trị quốc thì các đại thần, các chú các bác và Dương Thái hậu phải khuyên bảo.
- Thứ ba, khi lâm chung, Ngô Vương tin tưởng đệ mà giao di mệnh cho đệ, phải giúp đỡ phò tá Nam Sách Vương. Nay làm trái di mệnh là bất nghĩa, bất tín, bất trung, để tiếng xấu muôn đời. Họ Dương chúng ta không thể làm được.
Nói xong Dương Nhất Kha tức giận bỏ ra về. Bóng ông mất hút ngoài mái hiên trong đêm tối. Dương Tam Kha, Dương Nhị Kha, Dương Cát Lợi còn nghe tiếng của Dương Nhất Kha:
- Phản rồi, phản rồi, chúng ta chết không có đất mà chôn rồi.
Dương Tam Kha nhìn theo điềm nhiên nói:
- Huynh ấy già rồi, quá bảo thủ, quá thương cháu. Kệ huynh ấy. Các huynh có ý kiến gì không?
Dương Nhị Kha nói:
- Nam Sách Vương không phải là còn trẻ mà là do tính cách của Vương là như vậy. Đúng là bất tài bạc nhược nhưng lại bảo thủ, không nghe lời các đại thần, chú bác và ngay cả Dương Thái hậu, lại hay nghi ngờ, lo sợ bị cướp ngôi. Nhưng điều cơ bản là Vương không có tài kinh bang tế thế, khả dĩ đưa đất nước phát triển hùng mạnh, cũng không có uy vũ để buộc các hào trưởng địa phương khuất phục, thay đi là phải. Nhưng huynh còn lo…
Dương Tam Kha hỏi:
- Huynh lo gì?
Dương Nhị Kha đáp:
- Bài học của Kiều Công Tiễn năm 937 đệ đã quên rồi sao? Năm đó Kiều Công Tiễn chắc đã tính toán rằng cứ có quyền thì khuất phục được tất cả. Nhưng hắn đã nhầm. Sau khi phạm điều bất trung, bất hiếu, bất đạo, bất nghĩa, Kiều Công Tiễn không được anh hùng hào kiệt, các quan lại và bách tính ủng hộ và bị cô lập, cuối cùng bị đệ giết chết. Nay bác soán ngôi của cháu liệu chúng ta có bị cô lập không, có tạo ra cuộc đại loạn cho đất nước không?
Dương Cát Lợi nói:
- Huynh Dương Nhị Kha nói có cái đúng, có cái không đúng. Thời thế và sự kiện không giống nhau. Năm 937, Kiều Công Tiễn giết Dương Tiết Độ sứ là phạm đạo bất nghĩa, bất trung, bất hiếu, giết đi một trụ cột của đất nước, lại cầu cứu nước ngoài vào và bán nước. Nay sự việc khác là ta thay vị vua bạc nhược bằng một vị vua tài giỏi, vì dân vì nước sao có thể bị cô lập được. Vả lại, xin chúa công Dương Tam Kha sau khi đảo chính lấy được ngai vàng nhưng không được tàn sát giết chóc người nhà, con cháu của mình, nên lấy nhân nghĩa mà thu hút anh hùng hào kiệt, các hào trưởng và quan lại thì ai mà không ủng hộ.
Dương Tam Kha nói:
- Dương Nhị Kha và Dương Cát Lợi nói chí phải. Ta sinh ra cũng có chí tung hoành trong thiên hạ, muốn đem chút tài nhỏ mọn ra kinh bang tế thế, giúp dân cứu nước. Ta chỉ làm sáng tỏ thay Nam Sách Vương bất tài nhu nhược để ta làm cho nước hùng cường, dân được no ấm, yên vui. Vả lại, ta chỉ dành ngai vàng mà không có đổ máu, không có giết chóc vì Ngô Xương Ngập là cháu của ta, Dương Thái hậu là em gái của ta. Giết họ thì ta còn mặt mũi nào đứng trong họ Dương, còn mặt mũi nào xứng đáng với cha ta.
Dương Nhị Kha và Dương Cát Lợi đều nói:
- Chí phải, chí phải. Mong chúa công làm được như vậy. Gươm của họ Dương không thể tắm máu các cháu của mình.
Vài hôm sau có thám mã ở kinh đô Cổ Loa về báo cho Dương Tam Kha:
- Dạ, bẩm chúa công, theo tin tức đáng tin cậy thì hiện nay Nam SáchVương đã đem quân bản bộ đi kinh lý ở Lục Châu.
- Còn Hoàng tử Ngô Xương Văn ở đâu?
- Dạ, Hoàng tử Ngô Xương Văn đang ở dinh thự của của ngài ấy ở Cổ Loa.
- Thế còn Dương Thái hậu và các hoàng tử nhỏ đang ở đâu?
- Dạ, Dương Thái hậu đã đang đem hoàng tử Ngô Càn Hưng, Ngô Nam Hưng về thăm quê ở Dương Xá, Ái Châu.
Dương Tam Kha vỗ bàn mừng rỡ:
- Thật là trời cho ta thành công chuyến này
Bèn gọi Dương Cát Lợi, Dương Nhị Kha chỉ huy 1 vạn quân ngay ngày hôm đó vượt cầu phao qua sông Hồng tiến về Cổ Loa. Lính gác trên mặt thành trong thấy Dương Tam Kha và cờ hiệu họ Dương nên không dám bắn. Dương Tam Kha hỏi tùy tướng trên thành:
- Nam Sách Vương có trong cung điện không?
- Dạ bẩm, Nam Sách Vương đã đi công cán ở Lục Hải và An Biên.
- Tổng trấn Cổ Loa, hoàng tử Ngô Xương Văn có nhà không?
- Dạ có.
- Cho ta vào bàn quốc sự với Thiên Sách Vương.
- Dạ.
Viên tướng ra lệnh mở cổng thành cho Dương Tam Kha. Dương Nhị Kha, Dương Cát Lợi đem một vạn quân tràn vào thành. Dương Tam Kha cho quân bao vây cung điện của Ngô Xương Ngập, bắt giữ Thiên Sách Vương Ngô Xương Văn, ra lệnh đóng hết cổng thành, cho người dán cáo thị ở Cổ Loa và khắp các châu nói rằng Nam Sách Vương là vị vua bạc nhược, độc đoán, không làm được việc gì cho dân cho nước. Cho nên quan Nhiếp chính Dương Tam Kha sẽ thay Nam Sách Vương trị vì đất nước. Dương Tam Kha sẽ dùng đế hiệu là Dương Bình Vương. Ai ủng hộ sẽ được tha thứ, cất nhắc. Ai chống cự và trái lệnh sẽ giết không tha.
Trước việc Dương Tam Kha áp đảo, làm chủ tình hình, quân bảo vệ Cổ Loa bị bất ngờ và bị khống chế nên toàn bộ đã hạ vũ khí đầu hàng. Dương Tam Kha cho Ngô Xương Văn vào căn phòng sang trọng và sai lính canh canh phòng cẩn mật. Ngày hôm sau, Dương Tam Kha thiết triều và ngồi lên ngai vàng với đế hiệu Dương Bình Vương. Văn võ bá quan đến chúc mừng và cùng tung hô:
- Chúc mừng Hoàng thượng. Hoàng thượng vạn vạn tuế!
Cáo thị của Dương Tam Kha gửi đi các châu. Thứ sử các châu và hào kiệt hết sức bất ngờ trước việc thay đổi chủ nhân ở Cổ Loa:
- Loạn rồi, loạn to rồi…
- Dương Tam Kha nhận cố mệnh của Ngô Vương, thề sẽ giúp đỡ phò tá Nam Sách Vương, sao lại làm như vậy?
- Anh hùng tài giỏi như Ngô Vương vẫn còn nhầm lẫn, gửi con cho ác.
- Cũng may Dương Tam Kha không giết chết một ai, kể cả Thiên sách Vương Ngô Xương Văn hiện bị giữ ở Cổ Loa.
- Chưa thấy có cuộc cướp ngôi nào mà không đổ một giọt máu như cuộc chính biến này.
- Hy vọng hoàng tử Ngô Xương Văn sẽ tai qua nạn khỏi.
- Nghe nói Dương Bình Vương đã nhận Ngô Xương Văn làm con nuôi?
Cứ vậy thiên hạ được chuyện bàn tán hàng tháng trời không dứt.
Tuần sau chính biến, Ngô Xương Ngập từ An Biên về đến Hồng Châu thì thám mã báo:
- Bẩm Hoàng thượng, Dương Tam Kha đã đánh chiếm Cổ Loa, bắt giữ Thiên Sách Vương và tự lên ngôi vua, xưng là Dương Bình Vương rồi ạ.
Nam Sách Vương cả sợ:
- Bác ấy nhận di chiếu của Tiên Vương nhận phò tá ta, sao nay lại làm phản? Còn quốc mẫu và hai em ta thế nào rồi?
- Dạ, Dương Thái hậu và hai hoàng tử đã về Ái Châu từ trước rồi ạ.
- Thế còn Thiên Sách Vương Ngô Xương Văn?
- Dạ, bị Dương Bình Vương bắt rồi nhưng không sao cả, tính mạng của Thiên Sách Vương không bị đe dọa, còn được Dương Tam Kha nhận làm con nuôi.
Nam Sách Vương còn đang do dự không biết đi về đâu, có nên tiến đánh Cổ Loa hay không, bèn hỏi Kiều Công Hãn:
- Ta có nên về giao tranh, lấy lại Cổ Loa không?
Kiều Công Hãn đáp:
- Thế và lực hiện nay bệ hạ không bằng Dương Tam Kha. Vả lại Dương Tam Kha hiện có thành Cổ Loa vô cùng lợi hại, chúng ta về có khi thất bại và còn có nguy cơ bị hại hoặc bị bắt.
Đang khi đó có thám mã về báo:
- Dạ, bẩm Hoàng thượng, Dương Tam Kha đang cho một đạo quân do Dương Cát Lợi, Đỗ Cảnh Thạc chỉ huy đang đón bắt Hoàng thượng. Đạo quân này đã vượt qua Lục Đầu Giang rồi ạ.
Kiều Công Hãn nói:
- Hoàng thượng nên tạm thời về lánh nạn ở nhà Phạm Bạch Hổ, vốn là đại thần dưới triều Tiên Ngô Vương ở Đằng Châu. Sau đó sẽ tính tiếp.
Nam Sách Vương buồn rầu nói:
- Đành vậy thôi.
Bèn kéo quân bản bộ về với Phạm Bạch Hổ ở Hương Trà, Đằng Châu.
Lại nói Phạm Bạch Hổ là một trong những khai quốc công thần từ thời Tiên Ngô Vương. Sau chiến thắng Bạch Đằng năm 938, ông được phong Phòng Át tướng quân. Ngô Tiên Vương cử Phạm Bạch Hổ về điền trang của ông ở Đằng Châu nhằm củng cố lực lượng, bảo vệ Cổ Loa ở mặt Đông. Một buổi sáng, Phạm Bạch Hổ đang ngồi uống trà trong dinh thự thì thám mã về báo:
- Dạ bẩm chúa công, Đại tướng Dương Tam Kha, Nhiếp chính kiêm Tổng trấn Đại La đã vào Cổ Loa lật đổ Nam Sách Vương, lên ngôi tự xưng là Dương Bình Vương rồi ạ.
Phạm Bạch Hổ thất kinh:
- Chính xác không? Dương Tam Kha được chính Ngô Tiên Vương ký thác, gửi con cho Dương Công phò tá cơ mà, sao lại làm phản được?
- Dạ bẩm chúa công, tin hoàn toàn chính xác ạ.
- Có ai bị giết không? Nam Sách Vương bây giờ ở đâu?
- Dạ, bẩm Nam Sách Vương đang đi kinh lý ở An Biên và Lục Châu.
- Dương Thái hậu và hai hoàng tử Ngô Càn Hưng và Ngô Nam Hưng có bị bắt không?
- Dạ, Dương Thái hậu đã đem hai hoàng tử về Ái Châu từ trước khi chính biến ạ.
- Vậy còn Thiên Sách Vương Ngô Xương Văn?
- Dạ, Thiên SáchVương bị bắt nhưng chưa rõ tính mạng thế nào ạ.
Phạm Bạch Hổ lo lắng:
- Chết rồi, Ngô Xương Văn nguy to rồi.
Uống thêm một ngụm nước rồi Phạm Bạch Hổ bảo thám mã:
- Ngươi về Cổ Loa dò xem tin tức của Thiên Sách Vương rồi về báo ngay!
- Dạ.
Thám mã đi rồi, Phạm Bạch Hổ đang ngồi suy nghĩ không biết hành động như thế nào để cứu Ngô Xương Văn và Ngô Xương Ngập, chợt có gia nhân vào báo:
- Dạ, bẩm chúa công, có Nam Sách Vương và quân bản bộ của nhà vua đang đợi vào gặp.
Phạm Bạch Hổ cả mừng:
- Mời Hoàng thượng vào ngay.
- Dạ.
Rồi Phạm Bạch Hổ vội vã đi thay triều phục. Vừa bước ra sân thì Ngô Xương Ngập, Kiều Công Hãn và đoàn tùy tùng đã tới. Phạm Bạch Hổ và đám gia nhân vội vàng hành lễ:
- Thần không biết, tiếp giá chậm trễ, mong Hoàng thượng lượng thứ. Hoàng thượng vạn tuế, vạn tuế.
Nam Sách Vương tiến lại:
- Ái Khanh đứng dậy đi, miễn lễ.
Phạm Bạch Hổ nói:
- Đa tạ Hoàng thượng.
Rồi đứng dậy chắp tay vái chào Kiều Công Hãn:
- Xin chào Kiều tướng quân.
Kiều Công Hãn thi lễ:
- Không dám, xin chào Phòng Át tướng quân.
Phạm Bạch Hổ mời khách vào đại sảnh của trang viên Hương Trà, nhường Nam Sách Vương ngồi ghế chủ, còn mình thì ngồi đối diện với Kiều Công Hãn. Gia nhân bê nước trà. Sau một lượt trà, Nam Sách Vương nói:
- Chắc Phòng Át tướng quân đã biết tình hình ở Cổ Loa. Dương Tam Kha đã nhận di mệnh của Ngô Tiên Vương phò tá trẫm, nay bỗng nhiên phản nghịch, làm chính biến ở Cổ Loa, chiếm ngai vàng lên ngôi vua, xưng là Dương Bình Vương. Ngô Xương Văn đã bị bắt, quốc mẫu và hai em ở Ái Châu không biết tình hình ra sao? Một đạo quân do Đỗ Cảnh Thạc, Dương Cát Lợi chỉ huy đang tiến về Hồng Châu lùng bắt trẫm nên trẫm phải xa giá về đây.
Phạm Bạch Hổ nói:
- Thần đã cho thám mã đi dò la tin tức. Hoàng thượng yên tâm. Ngô Xương Văn không bị sát hại, Thái hậu và hai hoàng tử đang bình yên ở Dương Xá, Ái Châu, ở đó có Dương Nhất Kha che chở, có lẽ Dương Tam Kha không dám làm gì. Hoàng thượng có chủ định gì trong tình hình hiện nay không?
Nam Sách Vương đáp:
- Các đại thần và quân sĩ ở Cổ Loa hầu hết đã đi theo Dương Tam Kha rồi. Quân bản bộ của trẫm ít quá không đủ để phản công lấy lại Cổ Loa. Trong tình hình này trẫm định ở lại trang viên của Phòng Át tướng quân một thời gian rồi sẽ tính sau. Ái khanh thấy có tiện không?
Phạm Bạch Hổ nói:
- Được Hoàng thượng xa giá tới đây thật là một vinh hạnh lớn cho lão phu. Nhưng hoàng thượng nghe một lời thỉnh cầu của lão phu thì mới an toàn được.
- Điều gì, Phòng Át tướng quân cứ nói, đừng e ngại.
- Dạ bẩm, cũng chỉ là bảo đảm an toàn cho Hoàng thượng. Ở đây cách Cổ Loa không xa lắm, thám mã và tai mắt của Dương Tam Kha nhiều. Cho nên để không bị lộ, Hoàng thượng phải ra lệnh cho lính tráng và tùy tùng của Người cỡi bỏ sắc phục quân Ngô Vương, mặc sắc phục quân bản bộ và gia nhân của thần, kể cả Hoàng thượng cũng phải cải trang thì lão thần mới bảo vệ được Hoàng thượng.
Nam Sách Vương nói:
- Đa tạ Phòng Át tướng quân, cứ làm theo lời Phòng Át tướng quân đi.
Phạm Bạch Hổ gọi:
- Bay đâu.
- Dạ.
- Đem ngựa của Hoàng thượng cho ăn no và uống nước. Quân sĩ của Hoàng thượng cho mặc hết sắc phục quân của chúng ta. Đem hai bộ quần áo giống của ta, một cho Hoàng thượng, một cho Kiều tướng quân. Đem một mâm cơm rượu thịt ngon lên đây để ta mời Hoàng thượng và Kiều tướng quân.
- Dạ, tuân lệnh chúa công.
Mọi người thay trang phục, ăn uống no say rồi Kiều Công Hãn nói:
- Đa tạ Phòng Át tướng quân đã cho Hoàng thượng lúc nguy nan tá túc. Mạt tướng cũng đã bỏ công đường Phong Châu đi phò tá Hoàng thượng kinh lý Lục Châu và An Biên lâu rồi. Nay mạt tướng xin trở lại Phong Châu để trông coi công việc địa phương, phần nữa lo quân đội phòng khi Hoàng thượng cần đến.
Phạm Bạch Hổ nói:
- Ta quên khuấy đi Kiều tướng quân đang là Thứ sử Phong Châu. Tướng quân hãy về trông coi công việc của châu, chiêu mộ thêm lực lượng giúp Hoàng thượng và đất nước. Vả lại, việc soán ngôi của Dương Tam Kha sẽ đẩy đất nước đến loạn lạc. Các hào trưởng cần phải chuẩn bị lực lượng để ứng phó. Chúc tướng quân thượng lộ bình an.
Kiều Công Hãn quỳ lạy Nam Sách Vương:
- Thần bái biệt Hoàng thượng, hẹn ngày tái ngộ. Hoàng thượng nên giữ gìn long thể.
Nam Sách Vương đỡ Kiều Công Hãn đứng dậy và nói:
- Tướng quân trước sau thật là một vị đại thần trung quân ái quốc, trung với họ Ngô. Hẹn ngày tái ngộ, chúc thượng lộ bình an.
Vua tôi buồn bã chia biệt. Kiều Công Hãn cáo biệt Phạm Bạch Hổ và lên ngựa đi về hướng Tây Bắc. Nam Sách Vương và Phạm Bạch Hổ nhìn theo cho đến khi bóng người ngựa của Kiều Công Hãn xa dần và mất hút. Bỗng có thám mã từ Cổ Loa về báo:
- Dạ, cấp báo chúa công và Hoàng thượng, Dương Tam Kha đã sai Đỗ Cảnh Thạc và Dương Cát Lợi đem 5000 quân đang tiến về Đằng Châu ta.
Phạm Bạch Hổ bảo các viên tùy tướng:
- Đem tất cả quần áo trang phục của Hoàng thượng và của quân Ngô gói lại và cử 5 tùy tướng dẫn Hoàng thượng cùng các gói trang phục vào núi Hun Sơn tạm lánh. Nhanh lên. Các ngươi không được sơ suất.
- Dạ, tuân lệnh chúa công.
Nam Sách Vương mặc quần áo gia nhân của họ Phạm, đi cùng 5 tùy tướng quân đội Đằng Châu, gia nhân tải theo những gói quân phục của quân Ngô, sắc phục của Nam Sách Vương chạy vào núi Hun Sơn. Phạm Bạch Hổ ra lệnh cho quân sĩ, gia nhân làm việc bình thường như không có chuyện gì xẩy ra. Xế chiều, Phạm Bạch Hổ đang ngồi uống rượu thì gia nhân vào báo:
- Dạ, bẩm chúa công, có Đại tướng Đỗ Cảnh Thạc, Dương Cát Lợi và 5000 quân của Dương Bình Vương đang đợi ngoài cổng trang viên.
Phạm Bạch Hổ vội mặc quần áo chỉnh tề ra đón. Trông thấy Đỗ Cảnh Thạc, Dương Cát Lợi đã xuống ngựa cùng 5000 đang chờ, nét mặt hai người bình thản, không có vẻ gì là đang truy sát. Phạm Bạch Hổ chắp tay thi lễ:
- Chào hai đại tướng quân, cơn gió thần nào đưa hai tướng quân tới nhà lão phu thế này. Không ra đón trước, thất lễ, thất lễ.
Đỗ Cảnh Thạc, Dương Cát Lợi chắp tay thi lễ:
- Hai mạt tướng đến mà không báo trước, thất lễ, thất lễ.
Đỗ Cảnh Thạc nói:
- Phong cảnh Đằng Châu quá đẹp, xứng đáng là quê hương của Triệu Việt Vương xưa và của Phạm tướng công ngày nay.
Dương Cát Lợi nói:
- Trang trại của Phòng Át tướng quân quá đẹp, đáng là một nơi tàng long ngọa hổ.
Phạm Bạc Hổ nói:
- Hai tướng quân quá khen, long hổ gì đâu, không đủ gạo nuôi vài đứa gia nhân. Ha!Ha!Ha!
Cả ba cùng cười rồi bước vào nhà, chủ khách an tọa. Sau một lần trà, Đỗ Cảnh Thạc nói:
- Việc ở Cổ Loa chắc Phòng Át tướng quân đã biết rồi. Ngai vàng ở Cổ Loa đã có chủ mới là Hoàng thượng Dương Bình Vương. Dương Bình Vương không giết một gia nhân, một người lính, một tùy tướng nào của nhà Ngô. Hoàng Tử Ngô Xương Văn ở cổ Loa nhưng không bị bức hại mà còn được Dương Bình Vương nhận làm con nuôi. Còn Nam Sách Vương chẳng rõ đi đâu, chúng tôi đang đi tìm về để cùng Dương Bình Vương trông coi triều chính.
Phạm Bạch Hổ nói:
- Vậy là hai đại tướng quân đang thi hành công vụ của triều đình. Nhưng tìm Nam Sách Vương sao hai đại tướng quân lại hạ cố tới lều trại của lão phu?
Dương Cát Lợi nói:
- Nghe tin Nam Sách Vương từ An Biên về Hồng Châu. Tại hạ và Đỗ tướng quân đến đón nhưng đến nới thì không tháy tăm hơi của Nam Sách Vương đâu. Hỏi thăm mấy bô lão thì họ nói thấy xa giá của Hoàng thượng rẽ về lối Đằng Châu. Tại hạ nghĩ hay là Nam Sách Vương rẽ vào đây thăm Phòng Át tướng quân. Nếu Nam Sách vương có ở đây xin Phòng Át tướng quân cho đón về để Dương Bình Vương khỏi lo lắng.
Phạm Bạch Hổ đáp:
- Lão phu làm gì có đại phúc được đón xa giá. Nhưng không sao, có công vụ như vậy lão phu mới được đón hai Đại tướng quân ở tệ xá ở xứ Đằng Châu này. Ha! Ha! Ha!. Bay đâu!
- Dạ.
- Làm cơm rượu thịt ngon lên đây để ta tiếp khách quý đồng lưu. Còn nữa, làm cơm rượu cho 5000 quân của triều đình ăn uống no say, rõ chưa?
- Dạ.
- Còn nữa, cho hai con ngựa của hai Đại tướng đây ăn uống cho no, rõ chưa?
- Dạ, bẩm chúa công rõ ạ.
Đỗ Cảnh Thạc nói:
- Phòng Át tướng quân chu đáo quá.
Cơm rượu xong, Phạm Bạch Hổ nói:
- Hai Đại tướng quân đang thi hành công vụ, không nên vì tình riêng, còn lão phu phải chấp hành. Hai tướng quân nếu muốn xem xét trang viên, trong các dinh thự, xin cứ tự nhiên để về còn bẩm báo với Dương Bình Vương cho rõ ràng, cho tỏ lòng trung của lão phu.
Dương Cát Lợi chắp tay:
- Dạ không dám, không dám. Chúng tôi xin cáo biệt Phòng Át rướng quân.
Phạm Bạch Hổ thi lễ và tiễn hai người lên ngựa dẫn quân về Cổ Loa. Phạm Bạch Hổ gọi:
- Bay đâu.
- Dạ.
- Ra núi Hun Sơn mời Hoàng thượng và các tướng về.
Khi Nam Sách Vương về, Phạm Bạch Hổ chắp tay vái và nói:
- Để cho Hoàng thượng phải khó nhọc, tội là ở hạ thần.
Nam Sách Vương chắp tay đáp lễ và nói:
- Ái khanh có tội gì đâu, lại còn có công cứu giá. Nếu không có khanh che chở, trẫm đã rơi vào tay Dương Tam Kha rồi. Đa tạ, đa tạ ơn cứu giá của khanh.
Sau khi vua tôi ăn cơm xong, Phạm Bạch Hổ gọi người nhà, gia nhân và dặn:
- Không được đem chuyện Hoàng thượng về đây nói với bất cứ ai. Ai trái lệnh giết không tha.
Rồi bảo tùy tướng là Phạm Bạch An:
- Thứ nhất, từ nay trở đi cắt cử do thám tin tức ở Cổ Loa, có gì phải báo ngay, nhất là tin tức Dương Tam Kha cho quân về Đằng Châu lục soát, tìm kiếm Hoàng thượng. Thứ hai, cử năm tráng sĩ cao thủ bảo vệ quanh phòng của Hoàng thượng. Thứ ba, ngày mai cho 10 tên lính khỏe mạnh vào núi Hun Sơn đào một cái hầm rộng bằng nửa cái phòng, quét dọn sạch sẽ, đem bàn ghế và giường ngủ xuống, nước non ấm chén. Đề phòng khi quân Dương Tam Kha về khám xét, Hoàng thượng vào đó ẩn mình và nghỉ ngơi.
Tất cả đều đáp:
- Dạ, tuân lệnh chúa công.
Lại nói Đỗ Cảnh Thạc, Dương Cát Lợi trở về Cổ Loa gặp Dương Bình Vương. Dương Bình Vương hỏi:
- Có bắt được Ngô Xương Ngập không?
Dương Cát Lợi quỳ tâu:
- Dạ, tội thần đáng chết, không bắt được Ngô Xương Ngập.
Dương Bình Vương hỏi:
- Có vào nhà Phạm Bạch Hổ không?
- Dạ có.
- Có lục soát nhà cửa, dinh thự, trang viên không?
Đỗ Cảnh Thạc đáp:
- Chúng thần tưởng đợi ở Hồng Châu sẽ gặp Ngô Xương Ngập từ An Biên trở về. Không ngờ đón mãi không thấy mới vào nhà Phạm Bạch Hổ ở Đằng Châu xem Ngô Xương Ngập có về đây không nhưng cũng không thấy. Chúng thần không có lệnh chỉ của Hoàng thượng nên không dám khám xét nhà của một đại thần.
Dương Bình Vương nói:
- Ở Hồng Châu và Đằng Châu chỉ có Phạm Bạch Hổ là trung thành với Ngô Vương. Ngô Xương Ngập không vào đó thì chạy đi đâu. Các khanh không lục soát làm sao mà thấy được. Ngày mai hai khanh cầm chỉ dụ của ta về nhà Phạm Bạch Hổ lục soát.
- Chúng thần tuân chỉ.
Hôm sau, Đỗ Cảnh Thạc và Dương Cát Lợi lại đem 5000 quân về Đằng Châu, vào nhà Phạm Bạch Hổ. Phạm Bạch Hổ ra đón. Nội quan nói to:
- Phạm Phòng Át Tướng quân nghe chỉ.
Phạm Bạch Hổ quỳ nghe.
Nội quan dỡ chiếu chỉ ra đọc:
- “Phụng Thiên thừa vận, hoàng đế chiếu viết, nay lệnh cho Phạm Phòng Át tướng quân để cho Đỗ Cảnh Thạc, Dương Cát Lợi xem xét trang viên, nhà cửa, dinh thự, thậm chí toàn bộ vùng Trà Hương và Đằng Châu để tìm khâm phạm của triều đình là Ngô Xương Ngập. Khâm thử. Đế hiệu Bình Vương năm thứ nhất (946)”
Phạm Bach Hổ nhận chỉ và nói:
- Đa tạ Hoàng thượng, hạ thần tuân chỉ.
Đỗ Cảnh Thạc nói:
- Vì công việc triều đình, mạt tướng đã mạo phạm, xin Phòng Át tướng quân thứ tội.
Phạm Bạch Hổ bình thản đáp:
- Không sao, lão phu không dám. Hai đại tướng cứ làm hết phận sự, nếu không về sẽ bị trách phạt.
Dương Cát Lợi nói:
- Đa tạ Phòng Át tướng quân, mạt tướng xin đắc tội.
Đỗ Cảnh Thạc và Dương Cát Lợi chỉ huy 5000 quân lục soát nhà cửa, biệt thự, trang viên nhưng không thấy tăm hơi dấu vết của Ngô Xương Ngập.
Sau tuần trà, Đỗ Cảnh Thạc chắp tay nói:
- Đã đắc tội với Phòng Át tướng quân, mạt tướng xin thứ lỗi, bây giờ mạt tướng xin cáo biệt.
Phạm Bạch Hổ nói:
- Không có gì, hai Đại tướng quân cũng chỉ là thi hành công vụ thôi. Cáo biệt.
Dương Cát Lợi chắp tay:
- Cáo biệt Phòng Át Tướng quân.
Viên Nội quan chắp tay:
- Cáo biệt Phòng Át tướng quân
Phạm Bạch Hổ chắp tay đáp lễ:
- Cáo biệt, cáo biệt, chúc thượng lộ bình an.
Đỗ Cảnh Thạc và Dương Cát Lợi kéo quân về Cổ Loa. Thì ra khi quân của Đỗ Cảnh Thạc và Dương Cát Lợi chưa đến nơi, thám mã đã về báo cho Phạm Bạch Hổ biết. Phạm Bạch Hổ cho 5 tùy tướng dẫn Ngô Xương Ngập vào căn hầm đã đào sẵn ở núi Hun Sơn. Sau đó, do Dương Bình Vương bận nhiều công việc, hơn nữa cũng không muốn đuổi cùng diệt tận cháu của mình nên không truy sát Nam Sách Vương nữa. Nam Sách Vương ở Đằng Châu từ đó cho đến năm 950, khi Ngô Xương Văn lật đổ Dương Tam Kha thì đón về Cổ Loa cùng làm vua với em. Trong thời gian ở Đằng Châu, Nam Sách Vương đã được Phạm Bạch Hổ gả con gái là Phạm Thị Ngọc Dung và sinh hai con trai là Ngô Xương Xí và Ngô Xương Tý, còn gọi là Ngô Chân Lưu, sau này là Khuông Việt Đại Sư thời Đinh-Tiền Lê.
Năm năm sau, Cổ Loa thành sừng sững vươn lên trong mưa nắng, bất chấp những biến cố bi thương cùng thời gian nắng mưa khốc liệt. Nước sông Hồng vẫn cuồn cuộn chảy về Đông như bất tận. Một sáng mùa hè năm 950, Dương Bình Vương đang thiết triều. 5 năm qua, dưới triều đại của ông, đất nước tương đối yên bình nên phong tục thành luật lệ từ thời Khúc Thừa Dụ, Khúc Hạo, Khúc Thừa Mỹ, Dương Đình Nghệ, Ngô Quyền vẫn không có gì thay đổi. Trên nền tảng đó, bách tính vẫn an cư lạc nghiệp. Công việc mà triều đình Dương Tam Kha đẩy mạnh là công cuộc khai hoang. Theo Dương Bình Vương, mọi triều đại sẽ lui vào lịch sử nhưng công việc khai hoang, tăng diện tích trồng trọt là mang lại lợi ích muôn đời với ruộng đất nhiều và một nền nông nghiệp gia tăng, phát đạt. Sớm nay, trong buổi thiết triều là rà soát lại việc thực hiện công việc khai hoang từ 5 năm trước. Dương Tam Kha hỏi quan đồn điền chánh sứ Trần Công Lộc:
- Công cuộc khai hoang, mở rộng đất đai ven sông là một chủ trương lớn của triều đình, khanh tổ chức bách tính thực hiện đến đâu rồi?
Quan đồn điền chánh sứ Trần Công Lộc đứng dậy tâu:
- Muôn tâu Hoàng thượng, việc khai hoang những bãi đất ven sông Hồng, cụ thể là bến Chương Dương đã hoàn thành, đã cho 1000 hộ dân tới ở sản xuất và đã được một vụ mùa bội thu. Các hộ nông dân vô cùng đội ơn Hoàng thượng đã lo ruộng đất cho họ sinh sống muôn đời.
Dương Bình Vương tỏ vẻ hài lòng:
- Khanh làm tốt lắm. Còn việc khai hoang ở vùng đất Giao Thủy thế nào? Quan đồn điền phó sứ Nguyễn Mạnh tấu trình xem.
Quan đồn điền Phó sứ Nguyễn Mạnh bước ra tâu:
- Dạ bẩm Hoàng thượng, vùng đất này mới chiêu dụ được nhân công và 700 hộ dân đến, công việc đang tiến hành.
- Khanh làm ăn kiểu gì vậy?
Nguyễn Mạnh cả sợ:
- Dạ, bẩm Hoàng thượng thần đã cố hết sức nhưng do…
- Do gì vậy? Bay đâu!
- Dạ, Hoàng thượng
- Lột phẩm chức, đánh 50 gậy, đuổi về quê.
Hai võ sĩ bước ra lột áo mũ của Nguyễn Mạnh, xốc nách lôi ra ngoài. Nguyễn Mạnh kêu:
- Hoàng thượng tha mạng, Hoàng thượng…
Dương Tam Kha giận dữ:
- Ăn lộc của triều đình, ăn thuế của dân nhưng không làm được việc gì cho dân cho nước, chỉ lo vinh thân phì gia, ăn chơi lãng phí, bất tài bất đức. Loạn rồi.
Các đại thần ngồi im lặng, giật mình, hình như Dương Bình Vương đang chỉ trích chính họ. Đang khi đó có nội thần vào báo:
- Tâu Hoàng thượng, có thám mã xin vào bẩm báo.
- Cho vào!
Thám mã vào quỳ và tâu:
- Bẩm Hoàng thượng, vùng Đường Lâm Phong Châu phản loạn, viết cáo thị ngang nhiên chống lại triều đình. Mong Hoàng thượng định đoạt.
Dương Bình Vương hỏi:
- Vì sao họ phản loạn?
- Dạ bẩm, họ đòi Hoàng thượng trả lại ngai vàng cho con cháu Ngô Tiên Vương.
Dương Bình Vương nổi giận:
- Ta không phải là con cháu nhà vua chúa sao? Đại tướng Đỗ Cảnh Thạc, Đại tướng Dương Cát Lợi, nghĩa tử Ngô Xương Văn đâu?
Ba người đứng dậy:
- Dạ bẩm Hoàng thượng, có chúng thần.
Dương Bình Vương nói:
- Đó là quê hương của Ngô Tiên Vương, cũng là quê hương của con. Nghĩa tử hãy dẫn theo hai Đại tướng Đỗ Cảnh Thạc, Dương Cát Lợi và 2 vạn quân về Đường Lâm dẹp loạn. Trước hết là thuyết phục, nếu không nghe thì dùng quân đội đàn áp. Rõ chưa?
- Dạ, chúng thần tuân chỉ.
- Bãi Triều.
Ngay chiều hôm đó, Ngô Xương Văn, Đỗ Cảnh Thạc, Dương Cát Lợi dẫn 2 vạn quân rời Cổ Loa, vượt cầu phao qua sông Hồng. Nắng chiều rải xuống khắp không gian, rải xuống sông Hồng lấp lánh. Trời xanh cao, không gian rợp mát màu xanh cây lá. Xa xa Tam Đảo xanh thắm mờ mờ sương khói. Ngô Xương Văn ngồi trên mình ngựa lặng im suy nghĩ. Đã 5 năm rồi, trong đầu chàng hoàng tử trẻ tuổi không ngừng suy nghĩ cách lật đổ Dương Bình Vương, giành lại ngai vàng của dòng họ Ngô. Phải chăng đây là thời cơ. Đã nhiều lần, Ngô Xương Văn nói gần nói xa để dò ý tứ của Đỗ Cảnh Thạc và Dương Cát Lợi, hai đại tướng rường cột của triều đình Cổ Loa tỏ ra không phản đối. Lần này Ngô Xương Văn quyết định nói thẳng vấn đề cho Đỗ Cảnh Thạc và Dương Cát Lợi biết, nếu hai vị tướng phản đối, ta có quân đội trong tay sẽ giết họ đi và chạy về Đường Lâm hùng cứ một phương còn hơn là ở lại Cổ Loa như cá nằm trên thớt. Nghĩ như vậy nên khi đến bãi Quần Thần, Ngô Xương Văn cho quân đội nghỉ ngơi, lấy rượu ra cùng uống với Đỗ Cảnh Thạc và Dương Cát Lợi. Xong tuần rượu, Ngô Xương Văn nói:
- Hai tướng quân này.
- Hoàng tử có gì nói chăng?
- Hai tướng quân từng là những tướng xông pha chiến trận với Ngô Tiên Vương của ta, từng là những khai quốc công thần của triều Ngô, đức lớn của Tiên Vương ta đã thấm vào tận lòng dân. Không may Tiên Vương ta sớm băng hà, bỏ thần dân. Nay bị Dương Tam Kha bất nghĩa cướp ngôi của anh ta, làm trái di mệnh phó thác, tội thật lớn không gì bằng. Nay lòng dân không quên họ Ngô nên họ đòi lại ngai vàng, ta nỡ nào đi đánh giết họ với tội trung quân, giết người vô tội. Nhưng nếu không hàng phục được họ thì chúng ta là đồng lõa. Khi về thế nào cũng bị Dương Bình Vương trị tội. Chúng ta ở vào thế tiến thoái lưỡng nan. Hai tướng quân là những người trung nghĩa, đã từng theo và phò tá Tiên Vương ta gây nên nghiệp lớn, chả lẽ cũng bó tay mà hành động như vậy sao?
Đỗ Cảnh Thạc và Dương Cát Lợi suy nghĩ và nói:
- Chúng tôi nguyện làm theo lời của Thiên Sách Vương hoàng tử.
Ngô Xương Văn nói:
- Vậy hai tướng quân hãy giúp ta điều binh quay lại Cổ Loa, lật đổ Dương Tam Kha, lấy lại ngai vàng cho họ Ngô ta. Hai tướng quân nghĩ sao?
Cả Đỗ Cảnh Thạc và Dương Cát Lợi cũng muốn thoát khỏi sự kìm chế của Dương Tam Kha để xây dựng thế lực riêng, mưu đồ việc lớn cho mình. Cho nên cả hai cùng nói:
- Chúng tôi xin tuân lệnh của Thiên Sách Vương.
Ba người liền kéo binh trở lại Cổ Loa. Canh ba đêm đó thấy đại quân kéo về, lính trên thành hỏi:
- Quân đội của ai vậy?
Ngô Xương Văn đáp:
- Ta là Hoàng tử Ngô Xương Văn, vâng lệnh Hoàng thượng đi dẹp loạn ở Đường Lâm thắng lợi trở về. Mở cổng thành nhanh.
- Dạ, tuân lệnh.
Lính canh mở cổng thành, 2 vạn quân tràn vào làm chủ Cổ Loa. Ngô Xương Văn và Đỗ Cảnh Thạc xông thẳng vào tư dinh của Dương Bình Vương. Các võ sĩ định chống cự lại. Đỗ Cảnh Thạc nói:
- Quân Đội của Thiên Sách Vương Ngô Xương Văn đã làm chủ Cổ Loa, bỏ gươm đầu hàng thì sống, chống cự là chết.
Nghe nói đến Ngô Xương Văn và sợ chết, các võ sĩ vứt gươm quỳ gối đầu hàng. Quân lính phá cửa tư dinh Dương Tam Kha, cửa bật mở. Ngô Xương Văn, Đỗ Cảnh Thạc rút gươm xông vào. Dương Tam Kha đang trên giường ngủ, thấy vậy kêu lên:
- Các ngươi làm phản, quân đâu?
Ngô Xương Văn nói:
- Người làm phản là Dương Tam Kha chứ không phải là ta.
Đỗ Cảnh Thạc giơ gươm định giết Dương Tam Kha. Ngô Xương Văn nói:
- Xin tướng quân dừng tay. Năm 945 khi soán ngôi, Dương Tam Kha đã không giết ta. Nay ta tha để đền bù lại, chỉ giáng xuống làm Chương Dương Công. Ngay ngày mai phải rời khỏi Cổ Loa, về đất Chương Dương, nơi bác đã có công khai hoang và ở đó bác có thể tiếp tục sự nghiệp khai hoang giúp triều đình.
Ngay đêm đó Ngô Xương Văn đã làm chủ Cổ Loa và ngồi lên ngai vàng. Đó là năm 950. Lịch sử gọi là thời kỳ Hậu Ngô Vương. Ngày hôm sau, bách tính Cổ Loa và nước Việt đã đọc được bản cáo thị như sau: “Đức Tiên Vương Ngô Quyền đã đánh bại quân Nam Hán năm 938 giành độc lập cho đất nước khỏi sự thống trị của ngoại bang phương Bắc hơn 1000 năm. Năm 944 Ngô Vương băng hà, truyền ngôi lại cho con trai trưởng là Nam Sách Vương, di mệnh cho bác là Dương Tam Kha phò giúp. Dương Tam Kha đã nhận di mệnh nhưng đã làm trái đạo trời, soán ngôi của Nam Sách Vương đã 5 năm nay. Nay để cho hợp ý trời và lòng người, trẫm, Thiên Sách Vương phế truất Dương Tam Kha, tha không giết, giáng làm Chương Dương Công.
Nay bố cáo cho thiên hạ, các châu huyện và bách tính trong toàn Nước Việt được biết. Thiên Sách Vương năm thứ nhất (950).
Sau hôm đó, khi cửa thành Cổ Loa mở, người ta thấy có 10 xe ngựa che vải, dương cờ hiệu Chương Dương Công Dương Tam Kha. Đó là đoàn xe chở Chương Dương Công, gia đình và gia nhân về vùng Chương Dương, cách Cổ Loa 20 dặm đường về phía Đông Bắc,vùng mà ông đã sai Đồn điền chánh phó sứ tổ chức cư dân lưu lạc không ruộng đất khai hoang trước đó. Tại đây Dương Tam Kha đã chiêu mộ thêm dân về và hoàn thành sự nghiệp khai hoang vùng đất này. Khi vùng Chương Dương dân đã an cư lạc nghiệp no ấm, năm 953 ông và gia đình lại về Giao Thủy, tiếp tục chiêu mộ dân khai hoang lấn biển, mở đường, đào sông làm thủy lợi, đắp đê phong lụt, ngăn mặn. Giao Thủy trở thành vùng đất trù phú, mùa màng bội thu, xóm làng sầm uất, đông vui no ấm. Dương Tam Kha còn dạy dỗ những phong tục, truyền thống tốt đẹp cho bách tính. Ông đặt tên ông là Tùng Khê, cũng là tên làng. Làng Tùng Khê có 5 trại: Tùng Khê, Trúc Khê, Lệ Khê, Lộ Khê, Nga Khê. Dương Tam Kha được coi là Thủy tổ của khai hoang mở đất, phát triển nông nghiệp, lo lắng chăm lo đời sống của cư dân nơi ông lập nghiệp.
Dương Tam Kha có 3 phu nhân, sinh cho ông được 10 con trai, 9 con gái. Năm Canh Thìn 980, Dương Tam Kha để 5 con trai ở lại Cổ Lễ, Tùng Khê, đưa 5 con trai và những cô con gái về lại cố hương Ái Châu. Đứng đầu chi họ Dương ở Tùng Khê, Giao Thủy là Dương Tiên Du, con trai thứ hai. Ông cho một con trai là Dương Đại Thiên về làng Giàng, Dương Xá, Ái Châu. Như vậy, đứng đầu họ Dương làng Giàng Dương Xá, Ái Châu là Dương Đại Thiên. Còn Dương Tam Kha và những phu nhân cùng 4 con trai và những cô con gái, trong đó có trưởng nam Dương Quý Khách, tiểu thư Dương Vân Nga về định cư ở vùng Tam Lỗ, Thiệu Long, Thiệu Quang, Thiệu Yên, Ái Châu. Tam Lỗ bao gồm ba làng: Đông Lỗ, Lỗ Mao, Lỗ Tứ có con sông Cầu Chầy đi qua, cách Dương xá về phía Tây Bắc khoảng 10 dặm. Tại đây Dương Tam Kha đã được tiếp kiến hai người nổi tiếng về sau. Một là Lê Hoàn. Thời thanh thiếu niên khi còn hàn vi, Lê Hoàn đã về đây được Dương Tam Kha cho ăn học và luyện võ. Có thể thời niên thiếu này Lê Hoàn đã gặp Dương Vân Nga. Thứ hai là năm 968, Dương Tam Kha đã tiếp kiến Đinh Bộ Lĩnh ngay ở tư dinh Tam Lỗ khi Đinh Bộ Lĩnh đem quân vào Ái Châu thu phục Ngô Xương Xí khi đó đang chiếm giữ Bình Kiều vùng Triệu Sơn. Ngô Xương Xí là con Ngô Xương Ngập, cháu ngoại của Phạm Bạch Hổ. Tại đây Dương Tam Kha đã tán thành cho con gái là Dương Vân Nga và Đinh Bộ Lĩnh thành phu thê, quả là một đôi duyên trời định, trai anh hùng gái thuyền quyên, trai tài gái sắc. Dương Tam Kha là một nhân vật kiệt xuất, toàn diện của thời cuộc Việt Nam khi đó. Võ thì góp phần đánh bại ngoại xâm, góp công lớn vào chiến thắng Bạch Đằng năm 938. Có sách nói chính ông đã chém đầu Lưu Hoằng Thao trong trận thủy chiến này. Về chính trị, ông là vua của Nước Việt trong 5 năm (946- 950) với phương châm là làm cho Nước Việt phồn vinh, thanh bình, no ấm. Cuộc chính biến của ông lật đổ Ngô Xương Ngập là một cuộc soán ngôi duy nhất không đổ máu. Năm 950, khi bị Ngô Xương Văn phế truất, ông có thể cùng quân đội của mình gây nội chiến, nhưng ông đã không làm như vậy, vẫn là theo phương châm giữ hòa bình cho đất nước. Dương Tam Kha sau khi rời chính trường đã đi sâu vào sự nghiệp khai hoang mà thành tựu là những vùng đất mới được khai phá hình thành như Chương Dương, Giao thủy, Tam Lỗ, mang lại trù phú no ấm cho hàng triệu cư dân muôn đời. chính vì theo phương châm hòa bình nên trong lần tiếp kiến với Đinh Bộ Lĩnh tại cư gia, ông khuyên Đinh Bộ Lĩnh hãy chiêu hàng Ngô Xương Xí, phần thì đỡ xương máu cho sinh linh, phần thì Đinh Bộ Lĩnh sẽ thu phục được những thế lực to lớn của họ Ngô và họ Dương trong công cuộc thống nhất đất nước, thiết lập triều Đinh và xây dựng đất nước sau này.
Dương Tam Kha tạ thế ngày 10-8 năm Canh Thìn (980).
Dương Tam Kha rời Cổ Loa Loa được một ngày thì hôm sau, Thiên Sách Vương cho người về Dương Xá, Ái Châu đón Dương Thái hậu và các hoàng tử Ngô Càn Hưng, Ngô Nam Hưng ra kinh thành. Mẹ con anh em gặp nhau sau 5 năm xa cách. Thiên Sách Vương cũng cho người đón Dương Nhất Kha nhưng ông ưu phiền vì việc Dương Tam Kha soán ngôi của cháu, hơn nữa lại tuổi già nên đã tạ thế ở quê nhà Ái Châu. Hôm sau nữa, Thiên Sách Vương cho đón Ngô Xương Ngập, Phạm phu nhân và hai con trai của Nam Sách Vương là Ngô Xương Xí và Ngô Xương Tý ở Đằng Châu về Cổ Loa. Một tiệc rượu vui mừng ngày đoàn tụ của gia đình Dương Thái hậu được tổ chức linh đình ngay đêm đó.
Mười ngày sau chính biến khôi phục lại ngai vàng của họ Ngô, Thiên Sách Vương Ngô Xương Văn cho thiết triều. Hai hàng bá quan văn võ đầy đủ, trong đó có những khai quốc công thần thời Ngô Vương như là Đỗ Cảnh Thạc, Lã Tử Bình, Kiều Công Hãn, Dương Nhị Kha, Phạm Bạch Hổ, Ngô Nhật Khánh, Dương Cát Lợi, Nam Sách Vương Ngô Xương Ngập và nhiều đại thần khác.
Ngô Xương Văn ngồi trên ngai vàng, chiếc ghế quyền lực cao nhất Nước Việt này cũng làm thời cuộc trải biết bao sóng gió, Tiền Ngô Vương đã ngồi được 6 năm, Nam Sách Vương Ngô Xương Ngập ngồi được 1 năm, Dương Bình Vương ngồi được 5 năm. Ngồi cạnh là Thái hậu Dương Thị Như Ngọc. Mọi người quan sát thì thấy Thiên Sách Vương giống Ngô Tiên Vương nhiều hơn, khôi ngô tuấn tú, mắt phượng mày ngài nhưng không được tráng kiện hùng dũng như Tiên đế. Thiên Sách Vương nói:
- Như các ái khanh đã biết, Tiên Vương ta năm 938 đã đánh bại giặc Nam Hán trên sông Bạch Đằng làm chúng khiếp sợ muôn đời, đặt nền tảng cho nền độc lập của nước nhà và vương triều chính thống. Chẳng may Tiên Vương ta mệnh trời ngắn ngủi, năm 944 lâm chung đã di chiếu lại cho bác ta là Dương Tam Kha phải phò tá giúp đỡ vua mới là Nam Sách Vương Ngô Xương Ngập. Nhưng bác ta đã soán ngai vàng, phế truất Nam Sách Vương khiến các đại thần, các anh hùng hào kiệt, bách tính trong thiên hạ không phục. Nay thuận theo mệnh trời, thuận theo bách tính, thuận theo lòng mong mỏi của triều đình, được sự giúp đỡ của hai đại thần trung nghĩa là Dương Cát Lợi, Đỗ Cảnh Thạc, họ Ngô ta lại khôi phục được cơ nghiệp. Nay các đại thần và bách tính trong thiên hạ nghe khẩu dụ:
- Nay phục hồi lại ngôi vị nhà Ngô, ta lấy đế hiệu là Nam Tấn Vương. Phục hồi lại ngôi vị Hoàng Thái hậu cho Dương Quốc Mẫu. Truy phong ngôi vị Hoàng Thái phi cho Đại tướng Dương Phương Lan, cung phi của Tiên Ngô Vương. Thể theo nguyện vọng của Quốc Mẫu, nay khôi phục ngôi vị cho Nam Sách Vương Ngô Xương Ngập, cùng làm vua với ta. Thời kỳ hai anh em chúng ta trị vì gọi là thời kỳ Hậu Ngô Vương.
- Nay trẫm phong cho các khai quốc công thần chức đại thần quân quốc trọng sự gồm Đỗ Cảnh Thạc, Kiều Công Hãn, Lã Tử Bình, Dương Cát Lợi, Phạm Bạch Hổ, Ngô Nhật Khánh. Ngoài chức năng quân sự, hành chính, các đại thần quân quốc trọng sự có nghĩa vụ ngồi bàn việc nước quan trọng với hai vua. Nay ban thực ấp cho các vị đại thần trong triều đình lớn thì 1000 hộ, nhỏ thì 500 hộ để có bổng lộc sinh sống mà làm việc cho nước nhà.
- Nay sắc phong Phạm Thị Ngọc Dung, phu nhân của Nam Sách Vương ngôi vị hoàng hậu. Sắc phong con trai của Nam Sách Vương và Phạm hoàng hậu là Ngô Xương Xí, Ngô Xương Tý là hoàng tử.
- Nay sắc phong Dương Nhị Kha là Bình Dương Công, truy phong Dương Nhất Kha là Dương Nhất Công, thực ấp 1000 hộ, con cháu đời đời hưởng phúc lộc
- Nay ban bố lệnh đại xá thiên hạ, miễn sưu thuế trong một năm.
Khâm thử.
Nam Tấn Vương và Nam Sách Vương năm thứ nhất 950”.
Quan nội chính đọc xong, bá quan văn võ quỳ xuống đồng thanh hô to:
- Chúng thần tuân chỉ, tạ ơn Hoàng thượng, Hoàng thượng vạn tuế, vạn tuế.
- Chúng thần tạ Hoàng thái hậu
- Bãi triều.
Một buổi sáng, kinh đô Cổ Loa bắt đầu một ngày mới. Chợ búa đông người, ngựa xe đi lại ngược xuôi trên các làng thôn dã, trên các bờ sông. Dưới sông thuyền bè đi lại. Những lá cờ vàng bay trên thành Cổ Loa bay phấp phới theo gió. Trong cung điện sang trọng, Nam Tấn Vương và Nam Sách Vương đang bàn quốc sự. Sau một tuần trà, Nam Sách Vương Ngô Xương Ngập nói:
- Nhờ hồng phúc của tổ tiên và của cha chúng ta, hai huynh đệ ta đã khôi phục lại được ngai vàng, nhưng huynh cảm thấy chưa an tâm khi còn tồn tại Dương Tam Kha. Thế lực ông ấy còn rất lớn ở Cổ Loa và ở Dương Xá, Ái Châu. Huynh cho rằng phải diệt Dương Tam Kha và sau đó phải diệt hết vây cánh của Dương Tam Kha đi.
Nam Tấn Vương Ngô Xương Văn uống một ngụm trà rồi nói:
- Chúng ta không nên làm như vậy. Thứ nhất, vây cánh của Dương Tam Kha còn rất lớn ở Cổ Loa và Dương Xá, Ái Châu thì chúng ta càng không được đụng đến ông ta, đụng đến sẽ khơi dậy sự biến loạn rất lớn. Khi đó đệ và huynh chưa chắc đã giữ được mạng sống của mình chứ chưa nói đến việc giữ được ngai vàng.
- Thứ hai, thời kỳ 5 năm, ông ấy soán ngôi là vì chúng ta có khiếm khuyết trong việc cai trị đất nước. Ông ấy soán ngôi không vì lợi ích riêng tư mà muốn trực tiếp lo cho dân, cho nước.
- Thứ ba khi có quyền hành, ông ấy không tàn sát họ Ngô ta là vì nể tình bác cháu trong một nhà. Đệ trong tay ông ta nhưng ông ta không giết còn nhận làm nghĩa tử, cũng không truy sát Quốc mẫu và hai hoàng tử đệ…
Ngô Xương Ngập sầm mặt ngắt lời:
- Nhưng tại sao ông ta cứ ba lần bốn lượt về Đằng Giang truy sát huynh?
Ngô Xương Văn đáp:
- Theo chỗ đệ biết thì Dương Tam Kha ba lần tìm huynh không phải là bắt để giết mà tìm được về sẽ nuôi và rèn luyện hơn nữa cho huynh trưởng thành trong công việc trị nước về sau.
- Thứ nữa hiện nay, Dương Tam Kha rất say mê với sự nghiệp khai hoang mở đất, giúp cho cư dân vô gia cư nghề nghiệp, chú trọng phát triển nông nghiệp, đem lại đời sống no ấm cho hạng vạn hộ ở Chương Dương, ở Giao Thủy và ở Tam Lỗ, Ái Châu.
- Thứ nữa bây giờ mà ra tay với Dương Tam Kha thì diễn ra cuộc tàn sát nội bộ gia đình và dù có giết được Dương Tam Kha ta sẽ ăn nói thế nào với mẫu thân, với Dương Nhị Thúc và với các cháu.
Ngô Xương Ngập đuối lý nhưng vẫn không chấp nhận nhưng lời giải thích của Ngô Xương Văn. Nam Sách Vương vốn đã không thích gì việc cùng chia sẻ quyền lực với Nam Tấn Vương, suy nghĩ đáng lý giành lại được ngai vàng thì phải trả lại cho Nam Sách Vương, vì ngai vàng vốn là Tiên Vương để lại cho mình. Chẳng qua là bước đầu được Ngô Xương Văn mời về cùng nắm quyền, Ngô Xương Ngập đành phải nín chịu một thời gian. Việc Ngô Xương Văn bác bỏ ý định tiêu diệt Dương Tam Kha của Ngô Xương Ngập càng làm cho mâu thuẫn giữa hai anh em thêm sâu sắc. Ngô Xương Ngập nghĩ sẽ tìm mọi cách tiến tới một mình nắm quyền thì mới thỏa sức quyết định mọi công việc theo ý muốn chuyên quyền độc đoán của mình.
Ngô Xương Ngập lại nói:
- Ta nghĩ là bây giờ ta đã nắm quyền rồi, là vua của thiên hạ rồi, phải sống cho ra vẻ vương giả một chút. Cuộc sống hiện nay của huynh đệ ta không khác cuộc sống của một hào trưởng nghèo khó.
- Ý huynh là thế nào?
- Ý ta là bỏ dần những chính sách thuế má nhẹ nhàng từ thời Khúc Hạo, thời ông ngoại Dương Đình Nghệ và thời Ngô Tiên Vương. Chúng ta phải tăng sưu thuế lên gấp bội để tăng tiền bạc của triều đình, nâng cao cuộc sống của hoàng gia, của huynh và đệ, xứng với tầm là vua một nước.
Nam Tấn Vương đáp:
- Không được, tuyệt đối không được, dân ta vốn 1000 năm Bắc thuộc đã chịu không biết bao nhiêu sưu cao thuế nặng, cống nạp, lại còn phu phen tạp dịch, đời sống vô cùng cực khổ đói nghèo. Vì vậy, bách tính vô cùng căm thù nền thống trị của ngoại bang nên đã đứng dậy theo các bậc tiền bối Khúc Thừa Dụ, Khúc Hạo, Dương Đình Nghệ và Tiền Ngô Vương đấu tranh giành độc lập cho nước nhà. Không có sức mạnh của bách tính thì làm sao các vị tiền bối thành công được. Cho nên giảm sưu thuế, phu phen tạp dịch, phát triển kinh tế nông nghiệp và thủ công nghiệp là chính sách nền tảng của một triều đại, làm cho dân yên vui no ấm để họ ủng hộ triều đại. Nay tăng sưu thuế là phản bội lại ông cha, là tuyên chiến với bách tính. Huynh không nghe câu “Quan bức dân phản” à?
Ngô Xương Ngập tức giận đập tay xuống bàn, ấm chén rung lên trào nước tràn lai láng ra bàn:
- Thế này không được, thế kia cũng không được. Đệ có còn coi ta là vua nữa không?
Ngô Xương Văn đang định đáp lại thì nội quan bước vào:
- Dạ bẩm Nam Tấn Vương và Nam Sách Vương.
- Có việc gì vây?
- Có thám mã từ Hoa Lư về báo.
- Cho vào.
- Dạ.
Thám mã vào thi lễ và nói:
- Dạ bẩm Hoàng thượng Nam Tấn vương và Nam Sách Vương, Đinh Bộ Lĩnh ở Hoa Lư, Vô Công, Ái Châu tập trung quân kiên quyết làm phản, không vào chầu như yêu cầu của hai Hoàng thượng và tuyên bố không phụ thuộc vào triều đình Cổ Loa nữa ạ.
- Rồi, cho lui ra.
- Dạ.
Ngô Xương Văn nói:
- Vương huynh ở nhà coi giữ Cổ Loa, đệ sẽ mang quân trừng phạt Đinh Bộ Lĩnh.
Ngô Xương Ngập nói:
- Phụ thân của Đinh Bộ Lĩnh là Đinh Công Trứ, cũng là khai quốc công thần của triều Ngô thời Ngô TiênVương. Đinh Công Trứ từng là Thứ sử Hoan Châu, sao nay Đinh Bộ Lĩnh lại làm phản chứ?
Ngô Xương Văn đáp:
- Sau chiến thắng Bạch Đằng 938, Đinh Công Trứ vẫn được phong Thứ sử Hoan Châu. Không rõ thế nào mà hỏa hoạn đã thiêu cháy toàn bộ công đường, dinh thự, kho quân lương. Triều đình chưa kết tội thì Đinh Công Trứ lo buồn mà chết. Có lẽ vì thế nên triều đình không cho Đinh Bộ Lĩnh thế tập chức của cha dù chàng trai trẻ này có tài và rất giỏi chiến trận. Vì vậy, Đinh Bộ Lĩnh về quê không chức vụ tước vị, bất mãn mà chống nhà Ngô. Một năm trước, đệ định đem quân đánh dẹp. Khi đó Đinh Bộ Lĩnh còn yếu thế nên đem con là Đinh Liễn đến ở Cổ Loa làm con tin. Nay công khai chống lại triều đình hẳn là thế lực đã đủ mạnh rồi.
Ngô Xương Ngập nói:
- Chuyện chiến trận đánh dẹp thì ta cũng muốn tham gia, ta sẽ cùng đi với đệ.
Hai vua cử Đỗ Cảnh Thạc, Lã Tử Bình coi giữ Cổ Loa. Sau hai ngày chuẩn bị, hai vua cùng Dương Cát Lợi đem theo Đinh Liễn là trưởng nam của Đinh Bộ Lĩnh kéo 2 vạn quân đánh Hoa Lư. Khi đó binh lực của Đinh Bộ Lĩnh còn yếu nên không dám mang quân ra giao chiến với quân Ngô. Quân Hoa Lư cố thủ trong thành được tạo nên bởi những núi đá thiên nhiên cao sừng sững, chỗ cách nhau giữa các núi cũng được xây bằng đá kiên cố. Quân Ngô không thể tấn công thành được. Ngô Xương Ngập nói:
- Cha mẹ nào chả thương con và lo con chết, ta cứ cho treo thằng Đinh Liễn lên và nói nếu Đinh Bộ Lĩnh không hàng sẽ giết chết.
Rồi Ngô Xương Ngập ra lệnh:
- Bay đâu.
- Dạ.
- Trói Đinh Liễn, rút lên cây cao và chờ lệnh.
- Dạ.
Bốn người lính Ngô trói Đinh Liễn và rút lên cây cao rồi cho lính loa vào thành Hoa Lư:
- Nếu Đinh Bộ Lĩnh không đầu hàng, trưởng nam của ngươi sẽ bị bắn chết.
Đinh Bộ Lĩnh không ra đầu hàng, lại còn sai lính trên mặt thành nhằm Đinh Liễn bắn xuống như mưa. May không mũi tên nào trúng Đinh Liễn. Ngô Xương Văn nói:
- Người ta nói hổ dữ không ăn thịt con. Treo con nó lên dọa giết để nó run sợ mà đầu hàng, nay nó lại nhằm con nó mà bắn, lòng dạ quá ư tàn nhẫn. Thôi cho Đinh Liễn xuống.
Ngô Xương Ngập nói:
- Nó thách thức chúng ta đấy, cứ bắn chết Đinh Liễn đi.
Ngô Xương Văn nói:
- Đinh Liễn là con tin của triều đình. Nay hoàng huynh giết con tin thì anh hùng hào kiệt trong thiên hạ còn ai tin chúng ta nữa.
Ngô Xương Văn hạ lệnh thả Đinh Liễn xuống. Xuống đất, Đinh Liễn quỳ lạy và nói:
- Đa tạ hai Hoàng thượng tha mạng.
Ngay khi đó Ngô Xương Ngập tức giận bỏ đi.
Qua một tháng vây Hoa Lư, hai vua Ngô không đánh được Đinh Bộ Lĩnh đành kéo quân về Cổ Loa. Sau việc không giết được Đinh Liễn, Ngô Xương Ngập càng thấy rõ phải loại bỏ Ngô Xương Văn khỏi ngai vàng để dễ bề quyết định công việc theo ý muốn của mình.
Sau khi từ Hoa Lư về Cổ Loa vài ngày, một hôm hai vua Ngô thiết triều, Ngô Xương Ngập đề nghị tăng sưu thuế. Ngô Xương Văn phản đối. Đa số các đại thần đều phản bác ý kiến của Ngô Xương Ngập, ủng hộ ý kiến của Ngô Xương Văn. Sau thất bại ở triều đình, Ngô Xương Ngập triệu Lã Tử Bình đến tư dinh bàn riêng. Sau một lượt trà, Ngô Xương Ngập nói:
- Người ta đã nói, một nước không thể có hai vua, nay nhà Ngô ta hai vua cai trị một nước thật khó khăn cho ta khi quyết định mọi công việc. Ta muốn diệt tận cùng Dương Tam Kha, ở mặt trận Hoa Lư ta muốn giết Đinh Liễn khi chiêu hàng Đinh Bộ Lĩnh không được, nay ta muốn tăng sưu thuế để tăng chi tiêu cho hoàng gia, cho các đại thần. Tất cả Ngô Xương Văn đều không cho, kết quả Đinh Liễn đã trốn thoát về Hoa Lư. Còn tăng sưu thuế cũng bị Ngô Xương Văn và triều đình bác bỏ. Ta thật không thể chịu nổi. Khanh có kế gì trừ bỏ hoặc loại Nam Tấn Vương khỏi ngai vàng không?
Lã Tử Bình cũng đang có mưu xây mộng đế vương nên đáp:
- Tâu Hoàng thượng, một nước đúng là không thể có hai vua. Nhưng với Nam Tấn Vương, Hoàng thượng không thể giết được. Một là Nam Tấn Vương là người được lòng các anh hùng hào kiệt trong thiên hạ, được lòng triều đình, do đó đã giữ được cục diện đất nước ổn định trong khi thế và lực nhà Ngô chưa thực sự vững mạnh, nếu giết đi sẽ gây chấn động lớn và thiên hạ sẽ đại loạn, Hoàng thượng cũng không thoát tội và sẽ bị cô lập. Bài học Kiều Công Tiễn chắc Hoàng thượng chưa quên. Vả lại chính Nam Tấn Vương là người giành lại ngai vàng, lại còn mời Hoàng thượng về cùng tham chính, nay giết đi thì Hoàng thượng là người bất nghĩa, bất nhân vô đạo, vô tình, sẽ càng bị cô lập trước gia đình và mọi thế lực.
Ngô Xương Ngập sốt ruột:
- Vậy đành bó tay sao? Ta không thể nuốt nổi sự ấm ức này.
Lã Tử Bình nói:
- Thần có một diệu kế, không cần làm gì cả mà khiến Nam Tấn Vương phải rời bỏ quyền lực.
Ngô Xương Ngập mừng rỡ:
- Kế gì, mói mau đi.
- Hoàng thượng cứ thiết triều mà không báo cho Nam Tấn Vương biết. Các tấu sớ Hoàng thượng cứ thu hết về và tự phê chuẩn không cần bàn bạc với Nam Tấn Vương. Cứ như vậy Nam Tấn Vương sẽ tự rút khỏi ngai vàng để một mình Hoàng thượng cai quản.
Ngô Xương Ngập nghi ngờ:
- Vì sao khanh biết Ngô Xương Văn sẽ rút lui khỏi ngai vàng?
Lã Tử Bình nói:
- Đã cai trị thì phải biết tính cách con người. Nam Tấn Vương là người dễ nhân nhượng, đặc biệt là với anh em.
Ngô Xương Ngập nói:
- Khanh nói đúng. Cứ làm như vậy đi.
Một tháng sau, Nam Tấn Vương nói với nội quan:
- Đã một tháng nay sao hoàng huynh không gọi ta thiết triều nghị sự?
Nội quan tâu:
- Dạ, bẩm Hoàng thượng, Hoàng thượng Nam Sách Vương đã hai lần thiết triều rồi, sao không báo cho Hoàng thượng, lại còn thu hết tấu chương về tư dinh của ngài đó để phê duyệt.
- Thật vậy sao?
- Dạ, đúng vậy thưa Nam Tấn Vương.
Nam Tấn Vương biết Nam Sách Vương không muốn mình tham gia triều chính để cai trị đất nước một mình. Nam Tấn Vương vào thỉnh cầu Dương Thái hậu. Dương Thái hậu nói:
- Theo mẫu thân được biết, hiện nay các hào kiệt trong thiên hạ đang chuẩn bị lực lượng để tranh hùng tranh bá. Nếu họ biết hai con bất hòa, thậm chí xung đột thì đất nước sẽ lâm vào đại loạn. Thôi, con cứ cáo bệnh rồi về Dương Xá, Ái Châu, chuẩn bị lực lượng để nay mai đối phó với tình huống xấu nhất đối với triều đình Cổ Loa.
Ngô Xương Văn rập đầu:
- Văn Nhi xin tuân lời mẫu thân.
Rồi Ngô Xương Văn ra cáo thị lâm bệnh, rời Cổ Loa về quê ngoại Dương Xá, Ái Châu dưỡng bệnh. Đó là năm 952.
Từ đó Ngô Xương Ngập một mình làm vua chuyên quyền vô hạn độ, không coi triều đình và các đại thần ra gì, ra sức tăng sưu thuế buộc bách tính phải chịu đựng để bòn rút ăn chơi vô độ, sức khỏe ngày càng sa sút và năm 954 băng hà, thọ 30 tuổi, ở ngôi 5 năm.
Tại Ái Châu, Nam Tấn Vương vẫn theo dõi tình hình của triều đình Cổ Loa. Nhưng Nam Tấn Vương toàn nhận được những tin buồn. Một ngày thám mã về báo:
- Dạ, bẩm Nam Tấn Vương, Nam Sách Vương đã tăng thuế, do đó bị triều đình và bách tính phản đối.
Ngày khác thám mã từ Cổ Loa về báo:
- Dạ, bẩm Nam Tấn Vương.
- Có gì mới không?
- Dạ, Nam Sách Vương suốt ngày tháng chỉ vùi đầu vào yến tiệc, bỏ bê công việc triều chính.
Và những ngày tiếp theo:
- Dạ, bẩm Nam Tấn Vương.
- Có gì không?
- Dạ, Nam Sách Vương cho tuyển rất nhiều người đẹp vào cung, suốt ngày rượu chè và xem mỹ nữ múa hát.
- Dương Thái hậu không can ngăn sao?
- Dạ, bẩm, Dương Thái hậu có khuyên can nhưng không được.
- Phạm hoàng hậu không can ngăn sao?
- Dạ, Phạm hoàng hậu khuyên can những cũng không được.
- Quốc cửu Phạm Bạch Hổ không chỉ giáo sao?
- Dạ, Phạm Quốc Cửu có can gián nhưng Nam Sách Vương không nghe. Phạm Quốc Cửu đã rời Cổ Loa về Đằng Châu rồi ạ.
Cho đến một ngày năm 954 thám mã về báo:
- Dạ, cấp báo, cấp báo, Nam Sách Vương đêm qua đã đột ngột băng hà rồi ạ.
Ngô Xương Văn bàng hoàng:
- Thật sao? Hoàng huynh từ trần vì bệnh gì?
- Dạ mạt tướng không rõ.
Đang khi đó lại có gia nhân vào báo:
- Dạ bẩm, có nội quan từ Cổ Loa tới ạ.
- Cho vào.
Nam Tấn Vương nhìn ra, người đang đi vào là Thứ sử Phong Châu Kiều Công Hãn. Kiều Công Hãn quỳ xuống thi lễ:
- Hoàng thượng vạn tuế, vạn tuế.
Nam Tấn Vương nói:
- Khanh đứng lên đi. Đây là tư dinh của ta, có phải triều đình đâu mà hành lễ.
- Đa tạ Hoàng thượng.
- Thám mã vừa báo, Nam Sách Vương đã băng hà rồi, tin có đúng không?
Kiều Công Hãn đáp:
- Da bẩm Hoàng thượng, Nam Sách Vương đã băng hà. Các đại thần ủy thác cho thần mời Hoàng thượng về triều gấp, nếu chậm trễ e có biến loạn.
Sau khi cùng Kiều Công Hãn cơm rượu xong, ngay hôm đó Nam Tấn Vương đem 2 vạn quân bản bộ cùng Kiều Công Hãn đi gấp ra Cổ Loa. Nam Tấn Vương trở lại ngai vàng, tổ chức quốc tang cho Nam Sách Vương, thi hài được đưa về mai táng ở đất tổ Đường Lâm, huyện Mê Linh, Phong Châu, bên cạnh mộ Tiên Ngô Vương. Nam Tấn Vương trở lại nắm quyền đã xóa bỏ những chính sách tăng sưu thuế nặng nề của Nam Sách Vương, giảm nhẹ gánh nặng cho bách tính. Cho nên trong 10 năm trị vì của Nam Tấn Vương, cư dân no ấm, đời sống tương đối thanh bình. Tuy nhiên có một số thế lực vẫn rục rịch chống đối nhà Ngô. Năm 960 hào trưởng ở Thao Giang - Phong Châu Chu Thái dấy quân chống lại triều đình. Một buổi sáng Nam Tấn Vương đang ngồi uống tra thì có nội quan vào báo:
- Dạ bẩm Hoàng thượng, có thám mã từ Phong Châu về cấp báo.
- Cho vào.
- Dạ.
Tham mã vào quỳ thi lễ và nói:
- Dạ, bẩm Hoàng thượng vạn tuế. vạn vạn tuế.
Nam Tấn Vương khoát tay:
- Miễn lễ, đứng dậy nói đi. Ta cử ngươi đi do thám tình hình của phản nghịch Chu Thái. Chu Thái có bao nhiêu quân, bố phòng quân binh thế nào?
- Dạ, bẩm Hoàng thượng, theo thần dò la được thì Chu Thái có khoảng 1 vạn quân, thành quách không kiên cố, nhà ở của quân lính chỉ là lán trại nhưng chung quanh có lũy tre gai dày đặc bảo vệ. Nếu bị quân ta tấn công, quân Chu Thái có thể mai phục trên những con đường đầy cây cối rậm rạp để đánh trả, nếu không, chúng chỉ có thể từ chiến lũy tre gai bắn ra. Mong Hoàng thượng suy xét.
- Cho ngươi lui.
- Dạ.
Hôm sau, Nam Tấn Vương tự thân chinh đem 2 vạn quân và 1000 võ sĩ lên miền Thượng Thao Giang thảo phạt Chu Thái. Khi đến thành Gia Ninh, Thứ sử Phong Châu Kiều Công Hãn ra đón. Sau bữa cơm trưa, Nam Tấn Vương nói với Kiều Công Hãn:
- Thám mã của ta về báo, căn cứ của Chu Thái không có thành cao hào sâu, chỉ có lũy trẻ gai dày đặc bao vây chung quanh che chắn cho lán trại. Cái mà Chu Thái có thể làm được là cho quân mai phục ở ngoài khu căn cứ để tập kích quân ta.
Kiều Công Hãn nói:
- Vậy Hoàng thượng định phá giặc như thế nào?
- Đêm nay, ta cho 1000 võ sĩ đi tiên phong, gặp mai phục thì nằm xuống tránh tên đạn, chờ chúng xông ra thì vùng dậy giết giặc. Trong khi đó Thứ sử đem 1 vạn quân đánh bên tả, ta đem 2 vạn quân đánh ập vào bên hữu. 1000 võ sĩ từ bên trong đánh ra, chúng ta ngoài đánh vào. 1 vạn quân Chu Thái chắc phải chết.
Kiều Công Hãn nói:
- Diệu kế, diệu kế.
Đêm hôm đó, Nam Tấn Vương cho 1000 võ sĩ đi tiên phong, đây là những lính tinh nhuệ đặc biệt, một địch mười người. Cách 1 dặm là hai đạo quân tả hữu của Nam Tấn Vương và Kiều Công Hãn theo sau, ngựa tháo nhạc, không chiêng trống im lìm hành quân trong đêm đen mịt mù. Chỉ có dòng Thao Giang là không ngủ, nước trong đêm vẫn cuồn cuộn chảy về xuôi. Sao trên bầu trời li ti nhấp nhánh xa xăm, vài tiếng chó sủa xa xa khắc khoải. 1000 võ sĩ đi khỏi thành Gia Ninh khoảng 10 dặm thì tiến vào một bãi rộng cây cối rậm rạp, giữa là một con đường nhỏ hẹp. Thốt nhiên một mũi tên có lửa bay lên trời. 1000 võ sĩ vội nằm xuống, những trận tên như mưa bay dày đặc trên con đường các võ sĩ đang năm. Sau vài đợt tên, quân Chu Thái hai bên rừng cây xông ra reo hò chém giết. 1000 võ sĩ vùng dậy bằng những kỹ thuật điêu luyện, võ nghệ phi thường đã chém giết quân Chu Thái chết như rạ. Đang khi đó đội hình quân Chu Thái rối loạn. Thì ra bốn bên quân Chu Thái bị quân của Kiều Công Hãn và quân của Nam Tấn Vương vây bọc mà chém giết. Trong đánh ra, ngoài đánh vào, quân Chu Thái đại bại. Chu Thái phải nhờ các tùy tướng cố hết sức trong đêm đen mở đường máu mới chạy thoát về chiến lũy. 1vạn quân thì 8000 đã nằm lại trên chiến trường. Quân của Kiều Công Hãn và Nam Tấn Vương truy kích bao vây đồn lũy doanh trại của Chu Thái. Bốn bên lũy tre gai dày đặc. Trời đã sáng rõ, bình minh đỏ chói phía Đông. Nhìn ánh bình minh chói lọi, Nam Tấn Vương nói:
- Có rồi.
Kiều Công Hãn hỏi:
- Hoàng thượng bảo có cái gì?
- Thứ sử hãy nhìn, ánh bình minh như lửa cháy. Ta dùng hỏa công đốt lũy tre gai thì quân Chu Thái sẽ bị thiêu sống hết.
Kiều Công Hãn nói:
- Hoàn thượng anh minh.
Rồi sai binh lính vào trong dân thu rơm rạ chất như núi chung quanh lũy tre và châm lửa đốt. Rơm rạ và lũy tre biến thành vành đai lửa cao lưng trời, khói mù mịt che tối cả gầm trời Phong Châu, tiếng tre nổ vang như pháo lớn ầm ầm. Từ chiến lũy tàn lửa bay vào làm doanh trại của quân Chu Thái cũng bốc cháy. Quân Ngô phá cổng xông vào chém giết. 2000 quân còn lại cùng chủ tướng Chu Thái bỏ mạng.
Thu dọn chiến trường xong, Ngô Xương Văn cùng Kiều Công Hãn kéo quân về Gia Ninh. Cơm nước xong, vua đem quân về Cổ Loa trong khúc ca khải hoàn chiến thắng.
Trong buổi thiết triều sau đó của Nam Tấn Vương, triều thần quỳ xuống hành lễ và tung hô:
- Xin chúc mừng Hoàng thượng chiến thắng, vạn tuế, vạn vạn tuế.
- Miễn lễ, bình thân.
- Tạ Hoàng thượng.
Sự chúc mừng của triều thần làm cho Nam Tấn Vương cảm thấy có ánh hào quang bao bọc và xen lẫn niềm tự hào kiêu ngạo. Vốn là vị vua trẻ thích đánh dẹp và sau sự kiện Chu Thái càng ham mê chinh chiến, dấn thân vào sự nguy hiểm và tạo ra sự nguy hiểm cho bản thân, cho cả triều đình nhà Ngô và cho vận nước.
Một ngày năm 965 Nam Tấn Vương thiết triều. Nhà vua hỏi:
- Ai có bẩm tấu gì không?
Tham chính Đô đốc Phạm Man đứng dậy:
- Thần có tấu
- Ái khanh nói đi.
- Dạ, bẩm Hoàng thượng, tin tức từ thượng nguồn Thao Giang đưa về, có hào trưởng Nguyễn Khoan, còn gọi là Nguyễn Thái Bình hùng cứ vùng Tam Đái, tức là vùng Loan Giang, Phó Đáy Giang, Bạch Hạc Giang, quân số khoảng 2 vạn, tuyên bố không phục tùng triều đình Cổ Loa nữa. Mong Hoàng thượng suy xét.
Nam Tấn Vương nói:
- Nguyễn Khoan không trông tấm gương của Chu Thái, phản nghịch triều đình là bị tiêu diệt sao. Ta lại phải nhọc công một chuyến đi Tam Đái rồi.
Đại tướng Đỗ Cảnh Thạc tấu:
- Dạ, bẩm Hoàng thượng vừa chinh chiến dẹp giặc Chu Thái khó nhọc về, việc Nguyễn Khoan ở Tam Đái cử một đại tướng đi là được.
Nam Tấn Vương nói:
- Đạo làm vua phải lấy uy đức văn võ mà trị nước, nay ta không đi dẹp loạn Nguyễn Khoan sao có thể răn đe được các hào trưởng, buộc họ phải quy thuận triều đình. Ta đã quyết rồi. Ai còn tấu chương gì không?
- Không có, vậy bãi triều.
Hôm sau, Nam Tấn Vương đem 2 vạn quân, 1000 võ sĩ cùng đại thần Lã Tử Bình, Đại tướng Phạm Man hành quân về Tam Đái, Phong Châu. Đúng lúc xuất phát, con ngựa màu nâu của vua chồm hai vó trước lên và kêu thảm thiết, cùng lúc một cơn gió thổi mạnh rồi trời tối sầm lại, ngọn cờ vàng chữ Soái gục đổ. Tham chính Đô đốc Phạm Man nói:
- Ngựa kêu thảm thiết, trời đất tối sầm, cờ Soái gục đổ là điềm rất xấu trong chiến trận. Mong Hoàng thượng dừng xuất quân hoặc là thay chủ soái bằng một đại tướng, Hoàng thượng nên ở lại.
Nam Tấn Vương cười ha hả:
- Ha!Ha! ngựa đi chiến trận được tung hoành nên mừng rỡ hí vang, gió to cờ buộc không chắc gục đổ có gì là lạ. Nay ta đã lên ngựa rồi mà còn thay chủ soái thì thiên hạ coi ta là đồ nhát gan, ta còn mặt mũi nào đứng trên trần thế.
Nói rồi Nam Tấn Vương cứ hạ lệnh xuất phát.
Khi đến địa phận Yên Lạc, Phong Châu, một bên là núi Một Tai, một bên là núi Biện, lại có đồi đất nổi lên trông như hình con voi đang quỳ, cây cối rậm rạp, địa thế rất hiểm trở và đầy sát khí. Phạm Man nói với Nam Tấn Vương:
- Bẩm Hoàng thượng, địa thế ở đây rất hiểm trở, đề phòng có mai phục.
Nam Tấn Vương nói:
Cho 500 võ sĩ và 5000 quân đi trước, nếu có mai phục thì ta không gặp nguy hiểm, lại từ phía sau xông lên tiếp ứng sẽ đánh tan được quân địch.
Rồi 500 võ sĩ và 5000 quân mở cờ dong trống đi qua hiểm địa trót lọt. Thám mã về báo:
- Dạ bẩm Hoàng thượng, phía trước không có mai phục, đội quân tiên phong đã đi qua.
Nam Tấn Vương nói:
- Vậy tiếp tục hành quân.
Nói rồi Nam Tấn Vương thúc quân tiến về vùng núi Một Tai và Biện Sơn. Bỗng nhiên hai bên sườn núi chiêng trống nổi lên và hàng nghìn mũi tên như mưa bắn vào quân Ngô. Ngay loạt tên đầu tiên, một mũi tên đã xuyên qua giáp đâm vào ngực Nam Tấn Vương và nhà vua gục xuống, các tướng phải xúm lại đỡ lên. Phạm Man nhảy lên ngựa của Nam Tấn Vương, nhà vua vẫn đang gục xuống lưng ngựa. Phạm Man một tay cầm kiếm gạt tên, tay kia giật cương ngựa chạy về hướng Cổ Loa, cúi rạp người mà phá vây chạy. Phía sau, Nguyễn Khoan quân không đông nên không dám tràn ra đánh giết, do đó 1,5 vạn quân và 1000 võ sĩ đã chạy thoát. Thì ra Nguyễn Khoan là một tay mưu lược, khi mai phục nhìn thấy quân tiên phong của quân Ngô đi qua nhưng không có cờ chữ Soái, biết là không có Nam Tấn Vương trong đó nên không bắn. Dụ cho Nam Tấn Vương lọt vào trận địa mới tấn công. Và sứ quân ở vùng Tam Đái đã thành công.
Quân Ngô chạy cách chiến trường 5 dặm không thấy quân Nguyễn Khoan truy kích thì dừng lại chữa thương cho Nam Tấn Vương. Phạm Man đặt Nam Tấn Vương xuống, cỡi áo giáp đồng vàng, cỡi chiến bào và rút mũi tên ra. Mũi tên bị áo giáp cản lại không vào sâu nhưng là mũi tên có độc cực mạnh. Thái y của triều đình đi theo bó tay. Nam Tấn Vương tỉnh lại, sai cho gọi đại thần Lã Tử Bình, sai lấy binh phù chủ soái, tổng chỉ huy quân đội của triều Ngô trao cho Bình. Nhà vua nói trong hơi thở gấp:
- Đại tướng Phạm Man và Đại thần Lã Tử Bình hãy cùng các đại thần Phạm Bạch Hổ, Kiều Công Hãn, Dương Cát Lợi, Dương Nhị Kha hãy đưa Ngô Xương Xí lên ngai vàng. Hãy vì triều Ngô, vì bách tính, vì giang sơn xã tắc, hãy trung thành phò tá vua mới, không được hai lòng. Nếu các khanh hai lòng, nhà Ngô sụp đổ, thiên hạ sẽ đại loạn.
Phạm Man, Lã Tử Bình và các tùy tướng quỳ xuống khóc và nói:
- Chúng thần xin theo di chiếu của Hoàng thượng.
Họ nói xong thì trái tim của Nam Tấn Vương đã ngừng đập. Đó là ngày mùa hè năm 965, Nam Tấn Vương Ngô Xương Văn thọ 40 tuổi, ở ngôi 15 năm. Triều đình và bách tính, hào kiệt vô cùng xót thương một vị vua nhân hậu, hết lòng vì dân, vì nước, kiên quyết đấu tranh bảo vệ nền thống nhất non sông, kẻ thù không đội trời chung với kẻ bán nước và chia rẽ đất nước. Thi hài của Nam Tấn Vương được đưa về an táng ở Đường Lâm, cùng yên nghỉ với phụ thân là Tiền Ngô Vương và hoàng huynh là Nam Sách Vương. Cái chết của Nam Tấn Vương mở đầu cho cục diện đại loạn của Nước Việt: Loạn 12 sứ quân.
IV
10 ngày sau lễ tang của Nam Tấn Vương Ngô Xương Văn, trong một ngày có phiên thiết triều của Ngô Xương Xí, trưởng nam của Nam Sách Vương Ngô Xương Ngập với hoàng hậu Phạm Thị Ngọc Dung. Dự thiết triều gồm các đại thần đã trải qua ba triều như Giám quốc Kiều Công Hãn, Thái sư Đỗ Cảnh Thạc, Tham chính Đô đốc Phạm Man, tể tướng Lã Tử Bình. Thế lực lớn nhất trong triều đình là Lã Tử Bình. Lã Tử Bình cùng Nam Tấn Vương đi đánh Nguyễn Khoan ở Tam Đái, không may bị mai phục, Nam Tấn Vương trúng tên độc mà tử trận. Trước khi lâm chung, Ngô Xương Văn không trao binh phù Tổng chỉ huy quân đội nhà Ngô cho Phạm Man là ông chú của Ngô Xương Xí, (Phạm Man là em Phạm Bạch Hổ). Nhà vua lại trao cho Lã Tử Bình. Lã Tử Bình có binh phù, nắm quân đội nhà Ngô trong tay, có sức mạnh nên có mưu đồ bá vương mà trước hết phải đấu tranh với Đỗ Cảnh Thạc, Kiều Công Hãn, Dương Huy để tranh giành ngôi nhiếp chính, tiếp theo mới là lấy ngai vàng. Ngô Xương Xí mới 17 tuổi, khôi ngô tuấn tú, đăng quang khi còn quá trẻ. Nhà vua nhìn triều thần và nói:
- Ta nay đăng cơ, thừa kế cơ nghiệp của tổ tông họ Ngô, tuyên cáo đại xá thiên hạ:
-Lấy Đế hiệu là Ngô Xương Vương. Miễn sưu thuế cho bách tính một năm, Phong mẫu thân Phạm Thị Ngọc Dung làm Hoàng thái hậu, phong đệ là Ngô Xương Tý là Ngô Chân Vương.
- Các đại thần và các triều thần giữ nguyên chức vụ: Thứ sử phong Châu Kiều Công Hãn là Giám quốc, đại tướng Đỗ Cảnh Thạc là Thái sư, Đại tướng Phạm Man là Tham chính Đô đốc. Dương Cát Lợi đại thần phụ trách ngoại giao, Đại tướng Lã Tử Bình tổng chỉ huy quân đội triều đình, Phạm Phòng Át là Quốc cửu. Những đại thần có tên trên được dự vào hàng Quân Quốc trọng sự. Các triều thần khác cứ chức vụ như thời Nam Tấn Vương mà thực hiện. Mỗi chức vụ đại thần được cấp ruộng đất thực ấp 1000 hộ, những triều thần khác ruộng thực ấp 500 hộ. Nhà vua dứt lời, các triều thần quỳ xuống chắp tay:
- Chúng thần tạ ơn Hoàng thượng, Hoàng thượng vạn, vạn tuế.
- Miễn lễ, các ái khanh bình thân. Ai có tấu chương cứ tấu.
Lã Tử Bình đứng dậy:
- Thần có tấu.
- Ái khanh cứ nói:
- Dạ bẩm Hoàng thượng, để cho triều chính thêm kỷ cương, thần xin Hoàng thượng nên lập ra chức tể tướng.
Ngô Xương Vương hỏi:
- Theo ái khanh, ai xứng đáng chức vụ đó?
- Bẩm Hoàng thượng, thần tài hèn sức mọn nhưng vì Hoàng thượng, vì triều đình, vì đất nước, thần sẽ xin giữ chức vụ nhiều trọng trách khó khăn đó.
Cả triều đình im lặng. Kiều Công Hãn đứng dậy tâu:
- Bẩm Hoàng thượng, các chức vụ hàm cấp trong triều đình như vậy là đầy đủ, Trên có Hoàng thượng, dưới đã có các đại thần phụ trách các công việc cụ thể. Có việc gì trọng đại, các đại thần họp lại thành Hội đồng quân quốc trọng sự để quyết định, cần gì phải tể tướng. Nếu có tể tướng thì chức Giám quốc của thần đã là tể tướng rồi.
Đỗ Cảnh Thạc đứng dậy tâu:
- Dạ bẩm hoang thượng, chức Thái sư của thần đã là tể tướng. Nếu có đặt ra chức tể tướng, ngoài thần kiêm nhiệm ra không còn ai khác.
Lã Tử Bình nói:
- Nếu Giám quốc và Thái sư là tể tướng do Kiều đại nhân và Đỗ đại nhân đã nắm rồi thì thần xin làm nhiếp chính.
Cả triều đình ngạc nhiên và sửng sốt với lời tâu của Lã Tử Bình. Đỗ Cảnh Thạc nổi giận nói:
- Hoàng thượng có còn là trẻ con đâu mà phải có quan nhiếp chính. Lã đại nhân đã thất lễ với Hoàng thượng. Định phản nghịch chăng?
Kiều Công Hãn đứng dậy hầm hầm:
- Lã đại nhân ức hiếp triều đình, ức hiếp Hoàng thượng quá đáng. Nhà ngươi dựa vào cái gì mà càn rỡ như vậy?
Lã Tử Bình mặt không đổi sắc, điềm nhien nói:
- Ta dựa vào thứ nhất, ta đã phò tá ba đời vua Ngô, đã tham gia trận Bạch Đằng năm 938, đã cùng Nam Tấn Vương lật đổ Dương Tam Kha, đem lại ngai vàng cho họ Ngô…
Đỗ Cảnh Thạc ngắt lời:
- Nếu chỉ có vậy thì ta và Kiều đại nhân đã phò tá nhà Ngô từ thời Dương Tiết độ sứ cơ. Ngài còn là kẻ đến sau.
Lã Tử Bình thấy đã đến lúc đánh bài ngửa:
- Nhưng ta đã có thứ mà hai ngài không có.
Cả triều đình nhìn tay của Lã Tử Bình giơ cao lên, thì ra trong tay của Lã Tử Bình là binh phù chủ soái, thống lĩnh toàn bộ quân đội nhà Ngô do Ngô Xương Văn trao cho trước khi từ trần.
Lã Tử Bình vênh váo nói thêm:
- Còn nữa, Nam Tấn Vương trước khi nhắm mắt có di mệnh cho ta rằng, hãy phò tá Ngô Xương Xí lên ngôi nhưng nếu nhà vua quá bạc nhược thì hãy thay nó mà ngồi vào ngai vàng.
Đại tướng Phạm Man đứng dậy:
- Đây là điều Lã đại nhân bịa đặt. Khi Nam Tấn Vương nói di mệnh ta cũng có mặt ở đó. Người dặn Lã đại nhân và tất cả các trung thần hãy trung thành với vua mới, nếu hai lòng thì thiên hạ đại loạn.
Đỗ Cảnh Thạc quá tức giận:
- Xin Hoàng thượng trị tội tên phản nghịch, dám xuyên tạc di mệnh của Nam Tấn Vương.
Lã Tử Bình gọi to:
- Bay đâu
- Dạ
Sau tiếng dạ ran, trong cung thiết triều xuất hiện 100 võ sĩ, gươm giáo sáng lòe, mặc quân phục nâu, giáp bằng đồng, sắt bao vây các triều thần.
Kiều Công Hãn nói:
- Lã tặc, định uy hiếp Hoàng thượng và triều đình chăng?
Kiều Công Hãn và Đỗ Cảnh Thạc đứng dậy rút gươm ra. Phạm Man vội đứng dậy nói:
- Xin các vị đại thần yên vị, xin Hoàng thượng phong cho Lã tướng quân làm nhiếp chính vương. Không sao cả, càng có nhiều người tài năng giúp đỡ phò tá Hoàng thượng càng tốt.
Ngô Xương Xí thấy tình thế bất lợi cho triều đình, nếu xung đột thì phần thắng thuộc Lã Tử Bình. Ngô Xương Xí nói:
- Trẫm chuẩn tấu cho ái khanh Lã Tử Bình làm nhiếp chính, cùng các đại thần quân quốc trọng sự phò tá trẫm.
Lã Tử Bình quỳ xuống nói:
- Thần tạ ơn Hoàng thượng.
Kiều Công Hãn và Đỗ Cảnh Thạc tra gươm vào vỏ, bỏ triều đình ra về.
Ngô Xương Vương nói:
- Bãi triều.
Đêm hôm đó, Ngô Xương Xí đang ngồi trong tư dinh thì có nội quan vào báo:
- Có quan Đô đốc Tham chính Phạm Man muốn gặp.
Ngô Xương Xí nói:
- Cho vào ngay.
Phạm Man bước vào thi lễ:
- Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.
- Người nhà, miễn lễ.
Ngô Xương Xí nói:
- Giờ này ông còn đến, chắc có việc quan trọng?
Phạm Man nói:
- Mấy hôm nay ông vẫn là người chỉ huy quân cấm vệ. Lã Tử Bình chưa cho người thay ông và chưa canh phòng cung của cháu nghiêm mật.
- Hoàng thượng, có việc này phải tính gấp, nếu không sẽ muộn. Lã Tử Bình hôm nay dùng vũ lực ép Hoàng thượng, ép triều đình để được chức nhiếp chính vương, Xưa nay đã làm nhiếp chính vương thì bao giờ cũng có tham vọng cướp ngai vàng để làm vua. Mà muốn làm vua thì phải giết vua, hạ sát nhà vua đương tại vị và ba họ nhà vua.Cho nên Hoàng thượng bây giờ bị khống chế, Lã Tử Bình ra tay độc thủ lúc nào cũng được. Vì vậy, Hoàng thượng phải tính kế thoát thân trước.
Ngô Xương Vương nói:
- Ta chưa nghĩ tới điều này. Lã Tử Bình sao dám như vậy?
Phạm Man nói:
- Hoàng thượng còn trẻ, chưa trải qua sự tàn khốc của những cuộc đấu tranh giành ngôi vị. Anh em, cha con còn tàn sát lẫn nhau nữa là người ngoài. Hoàng thượng không nghe khi Lã Tử Bình dọa Đỗ Cảnh Thạc đã đọc giả di mệnh của Nam Tấn Vương: Nếu Ngô Xương Xí bất tài thì ngươi có thể thay nó. May mà khi Nam Tấn Vương nói di chiếu, thần cũng ở đó chứng kiến.
Ngô Xương Xí nói:
- Vậy bây giờ tính làm sao?
- Ngay đêm nay, Hoàng thượng phải đi về Ái Châu. Đầu tiên, Hoàng thượng phải đi về Cổ Loa, ở đó có Phạm Trung, ông của Hoàng thượng có 1 vạn quân sẽ hộ tống Hoàng thượng về Ái Châu. Đến Ái Châu, Hoàng thượng phải về căn cứ Bình Kiều là căn cứ của Ngô Tiên Vương xây dựng ngày xưa đề phòng khi dùng đến. Khi đi, Hoàng thượng phải đem cả Phạm Thái hậu và Ngô Xương Tý cùng đi. Hoàng thượng ở Bình Kiều chờ thiên hạ qua cơn đại loạn rồi sẽ tính sau.
Ngô Xương Vương hỏi:
- Nhưng làm sao ra thành được?
- Mới chỉ một ngày, Lã Tử Bình chưa kịp cách chức ông. Ông vẫn là Tham chính đô đốc phụ trách quân ngự lâm. Hoàng thượng, Ngô Xương Tý, Phạm Thái hậu cải trang thành lính ngự lâm do ta trực tiếp dẫn đi còn ai dám hỏi. Đồ đạc hành lý không cần mang, có vàng bạc thì mang hết đi đề phòng dùng tới.
Khi ba người cải trang xong thì đêm vẫn chưa khuya lắm. Phạm Man dẫn ba người như đi tuần tra qua cổng thành. Lính gác cổng trông thấy cúi chào:
- Xin kính chào Phạm tướng quân.
Phạm Man cúi đầu đáp lễ và nói:
- Ta vâng lệnh Hoàng thượng ra ngoài thành có việc gấp, mở cổng thanh ngay.
- Dạ.
Cổng thành Cổ Loa mở, ba người ra thành. Đến một góc khuất đã xa thành, tùy tướng của Phạm Man với 5 con ngựa đang chờ. 5 người lên ngựa phi đến La Thành. Phạm Trung với một vạn quân đã chờ sẵn. Khi gần xuất phát, Phạm Man nói:
- Đường về Ái Châu xa xôi, mịt mù không rõ tương lai, cháu Ngô Xương Tý và Phạm Thái hậu hãy về Đằng Châu với ông ngoại cho gần, sau này hãy tính sau.
Ngô Xương Tý vui mừng:
- Tốt quá, đệ đang không muốn về Ái Châu, đệ muốn về Đằng Châu với ông ngoại.
Tướng Phạm Trung hỏi:
- Hoàng thượng và Thái hậu có đồng ý không?
Phạm Thái hậu nói:
- Cũng được, con gái và cháu ngoại về nhà ông bà thì còn gì bằng. Cho Tý về với ông ngoại dạy dỗ nó. Nhưng ông phải cho các cháu đi ngay đêm nay. Mai là Lã Tử Bình sẽ đến La Thành tìm vua đấy.
Phạm Trung nói:
- Thái hậu yên tâm, đêm nay ông trực tiếp đưa hai cháu đi.
Phạm Thái hậu quay sang nói với vua:
- Con nhớ bảo trọng, hẹn ngay gặp con không xa.
Ngô Xương Xí quỳ xuống gần như khóc:
- Con mong thân mẫu bảo trọng.
Nói rồi Phạm Man dẫn vua cùng 1 vạn quân đi suốt đêm về Ái Châu. Xế chiều hôm sau đến làng Giàng, Dương Xá, vào trang trại của Dương Thái hậu (bà nội của Ngô Xương Vương) nghỉ ngơi cơm nước một đêm và hôm sau Ngô Xương Vương về thành Bình Kiều. Bình Kiều sau Cổ Loa là kinh đô thứ hai của nhà Ngô cho đến năm 968, năm Ngô Xương Vương về với Đinh Bộ Lĩnh.
Còn Ngô Xương Tý và Phạm thái hậu về Đằng Châu với Phạm Bạch Hổ. Ông ngoại dạy dỗ nhưng Ngô Xương Tý không có duyên với võ mà lại học văn, văn lại có duyên với đạo Phật nên xin ông ngoại xuất gia. Phạm Bạch Hổ chiều lòng và Ngô Xương Tý thành Ngô Chân Lưu, sau này được triều Đinh của Đinh Tiên Hoàng dùng và Ngô Chân Lưu được phong là Tăng thống đại sư, khuông Việt Đại sư, đứng đầu tăng sư Phật giáo của nước Đại Cồ Việt.
Mãi sáng hôm sau Kiều Công Hãn và Đỗ Cảnh Thạc, Ngô Nhật Khánh, Dương Huy mới biết Ngô Xương Xí đã bỏ kinh thành về Ái Châu. Kiều Công Hãn nói:
- Hay là ta về Ái Châu tiếp tục phò tá Hoàng thượng?
Đỗ Cảnh Thạc nói:
- Vận số nhà Ngô đã hết, bây giờ hào trưởng trong nước đã chuẩn bị lực lượng để mỗi người hùng cứ một phương, đất nước đang bước vào cuộc đại loạn. Chúng ta trở thành anh hùng trong thời loạn, không có minh quân để phò tá. Thôi thì Giám Quốc hãy về Phong Châu, Thứ sử Dương Huy hãy về Vũ Ninh, hoàng thân vương Ngô Nhật Khánh hãy về Đường Lâm, ta cũng về quê nhà Đỗ Động Giang gây dựng lực lượng để giúp dân giúp nước, diệt trừ gian tặc giặc giã.
Kiều Công Hãn nói:
- Đỗ Thái sư nói phải, thôi thì cáo biệt Đỗ Thái sư, cáo biệt hoàng thân Ngô Nhật Khánh, Dương Thứ sử, tôi về Phong Châu, hẹn ngày tái ngộ.
- Chúc Giám Quốc thành công, hẹn ngày tái ngộ.
- Chúc Đỗ Thái sư, hoàng thân Ngô Nhật Khánh và Dương thứ sử thành công, hẹn ngày tái ngộ.
Cùng lúc đó Lã Tử Bình đang ngồi trong tư dinh tính kế soán ngai vàng của Ngô Xương Xí thì tùy tướng vào báo:
- Dạ, bẩm nhiếp chính vương, Hoàng thượng đã bỏ kinh thành về Ái Châu từ đêm hôm qua, có nên truy đuổi không ạ?
- Ta đã dự liệu việc đó rồi nên không đổi quân cấm vệ là người của Phạm Man để Phạm Man đưa Ngô Xương Xí, Thái hậu và Ngô Xương Tý đi một cách dễ dàng, không cần phải truy đuổi.
- Vì sao nhiếp chính vương biết mà không ngăn chặn?
- Ngăn chặn thì sẽ xung đột, có mệnh hệ gì cho Ngô Xương Xí ta mang tội phản nghịch giết vua, mang tiếng xấu muôn đời, các anh hùng hào kiệt có tha cho ta không? Nay ta đang muốn phế truất vua thì vua lại tự bỏ đi, chẳng là trời giúp ta là gì. Ngai vàng bỏ không, bây giờ ta ngồi vào quá dễ dàng. Thật là trời giúp ta. Ha! ha! ha!
- Nhiếp chính vương quả là cao kiến, tính toán như thần.
- Thần còn một thông tin quan trọng nữa.
- Tin gì nữa?
- Tham chính Đô đốc Phạm Man, Giám quốc Kiều Công Hãn, Thái sư Đỗ Cảnh Thạc, Thứ sử Vũ Ninh Dương Huy, đại thần quý tộc nhà Ngô Ngô Nhật Khánh cũng đã đem quân bản bộ rời Cổ Loa về quê nhà sáng nay rồi.
Lã Tử Bình vui sướng cười ha hả:
- Tốt quá, ngoài sức tưởng tượng, bọn người đó đi hết, Cổ Loa không con anh hùng nữa, anh hùng Cổ Loa duy nhất là ta. Nghe lệnh:
- Dạ.
- Chuẩn bị báo cho các quan ngày mai thiết triều, ta lên ngôi vua, đế hiệu là Lã Tử Vương. Rõ chưa? Không được sơ suất.
- Dạ.
- Còn nữa, huy động 3000 quân cấm vệ bao vây cung điện thiết triều, ai phản đối ta đăng quang, chém.
- Dạ, Hoàng thượng vạn vạn tuế. Thần tuân chỉ.