I

Kỳ 1.

Vào một buổi sáng mùa xuân năm 1074, kinh đô Biện Kinh của nhà Tống chìm trong bầu không khí mát mẻ, băng tuyết tan theo với mùa đông đã qua, cây cối vươn cao đâm chồi nẩy lộc phô sắc xanh tươi. Khu hoàng thành như chìm trong giấc mơ mờ sương khói. Những cung điện, lâu đài lợp ngói lưu ly màu xanh ngọc bích, màu vàng như lụa. Những đầu đao hình đầu rồng oai nghiêm nhô lên giữa không trung.

Trong cung điện Trường Lạc giữa hoàng thành sang trọng vàng ngọc sáng trưng, bàn ghế sơn son thếp vàng óng ánh, vua Tống Thần Tông đang thiết triều. Vua ngồi trên ngai vàng với hai con rồng vàng uốn lượn bao quanh ghế, tay ngai là hai đầu rồng bằng vàng vươn ra hùng dũng hai bên. Vua nhìn bá quan văn võ ngồi dưới và nói:

-Trẫm từ khi nối nghiệp của 5 bậc cha ông tiền bối, không lúc nào trẫm không suy nghĩ, làm cho đất nước hùng mạnh, làm cho triều đại nhà Tống ta huy hoàng nhất trong lịch sử. Cho nên trẫm đã cho thực hiện biến pháp của Tể tướng Vương An Thạch, đã cải cách về kinh tế, chính trị, quân sự. Đã biến pháp được 5 năm nay nhưng đất nước và triều đại vẫn không thoát khỏi khó khăn. Vì sao vậy, tể tướng Vương An Thạch?

Vương An Thạch đứng dậy tâu:

-Dạ bẩm hoàng thượng, biến pháp thực hiện chưa hiệu quả là do nhiều nguyên nhân, thứ nhất là vấp phải sự chống đối quyết liệt của phe bảo thủ trong triều đình và xã hội, thứ hai là khi thực hiện ở các địa phương đã làm sai đường lối của biến pháp.

Tống Thần Tông hỏi:

-Vậy theo khanh thì bây giờ nên làm thế nào?

-Dạ bẩm hoàng thượng, hiện nay kinh tế khó khăn cộng với việc  thực hiện biến pháp nên mâu thuẫn xã hội gay gắt, bên ngoài nước Lưu, nước Kim liên tục quấy nhiễu đánh phá. Thần cho rằng triều đình ta phải có cái oai để đe nạt bên trong, để áp đảo Lưu, Kim bên ngoài, để đẩy mâu thuẫn trong nước ra thành mâu thuẫn ngoài nước…

-Đó là biện pháp gì?

-Bẩm hoàng thượng, đó là biện pháp gây chiến tranh xâm lược Đại Việt ở phương Nam?

Tống Thần Tông và cả triều đình ngạc nhiên:

-Hả, Thừa tướng nói cái gì? Chiến tranh với Đại Việt? Bài học thất bại thời Tống Thái Tông thừa tướng quên rồi sao?

Vương An Thạch vẫn điềm tĩnh:

-Bẩm hoàng thượng, chiến tranh và chiếm được Đại Việt có mấy cái lợi cho đất nước như sau, thứ nhất, thu hồi lại thuộc địa xưa của Trung Nguyên, các vị nên nhớ rằng An Nam đã bị ta thống trị từ thời Hán, Đông Ngô, Tấn, Tùy, Lương, Đường, mãi khi nhân cơ hội Trung Nguyên ta chia cắt thành cục diện Ngũ Đại Thập Quốc, xứ ấy mới giành được độc lập cho đến ngày nay. Nếu lấy được Đại Việt sẽ mở mang bờ cõi, đưa xứ ấy thành nô lệ cho ta như 1.000 năm trước để bóc lột tài nguyên, vàng bạc châu báu và sức lao động. Cái lợi thứ hai nếu đánh bại Đại Việt thì làm cho Lưu, Kim khiếp sợ, không dám gây hấn phía Bắc nước ta, đất nước sẽ thanh bình. Thứ ba có sức mạnh để ta đàn áp, đè bẹp phái chống đối biến pháp bên trong.

Tống Thần Tông nói:

-Khanh nói chí lý. Có ai biết gì về Đại Việt ngày nay không?

Tô Giám bước ra tâu:

-Dạ bẩm hoàng thượng, thần xin bẩm tấu.

-Ái khanh tấu đi.

-Dạ bẩm hoàng thượng, thần nhiều năm làm việc ở Quảng Tây Nam Lộ nên rất biết về Đại Việt, Sau khi nhà Ngô mất thì nhà Đinh thay, sau khi nhà Đinh mất thì nhà Tiền Lê thay. Năm 1009 nhà Tiền Lê mất thì nhà Lý thay. Vua đầu tiên của nhà Lý là Lý Công Uẩn, quê quán Từ Sơn, châu  Vũ Ninh, xuất thân từ võ quan, chức Điện tiền chỉ huy sứ, chỉ huy quân cấm vệ của nhà Tiền Lê, cũng là phò mã của nhà Tiền Lê, lấy công chúa Lê Thị Ngân, con gái của Lê Đại Hành và hoàng hậu Dương Vân Nga. Lý Công Uẩn lên ngôi đế hiệu là Lý Thái Tổ. Khi đó kinh đô còn ở Hoa Lư, quốc hiệu là Đại Cồ Việt. Năm 1010, Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long. Hoa Lư được gọi là Trường An như là đất cố đô. Năm 1028, Lý Thái Tổ băng hà. Con là Lý Phật Mã lên ngôi xưng là Lý Thái Tông. Quốc hiệu Đại Cồ Việt cũng đổi thành Đại Việt Năm 1054. Tháng 11 năm 1054, Lý Thái Tông qua đời, thái tử Lý Nhật Tôn lên ngôi xưng là Lý Thánh Tông. Năm Nhâm Tý 1072, Lý Thánh Tông băng hà, thọ 49 tuổi, con trai là thái tử Càn Đức lên ngôi, xưng là Lý Nhân Tông, tức là vua đang tại vị, mới có 7 tuổi. Vua nhỏ tuổi nên lúc đầu là Thượng Dương Thái hậu và Thái sư Lý Đạo Thành nhiếp chính, nhưng sau khi Thượng Dương Thái hậu qua đời thì mẹ đẻ là Ỷ Lan Hoàng Thái hậu và Phụ quốc Thái úy Lý Thường Kiệt nhiếp chính.

Tống Thần Tông nói;

-Khen cho ái khanh nắm chắc tình hình Đại Việt. Vậy khanh có kế gì có thể đánh bại Đại Việt trong cuộc chiến tranh sắp tới không?

Tô Giám tâu:

-Dạ bẩm hoàng thượng, muốn tấn công vào Đại Việt là xứ xa xôi thì phải có hậu phương vững chắc ở những vùng giáp biên giới. Các căn cứ như Khâm Châu, Liêm châu, Ung Châu thuộc Quảng Nam Tây Lộ phải xây dựng thành những căn cứ chứa nhiều lương thực, vũ khí, quân trang quân dụng, thuyền bè. Ung Châu là căn cứ của bộ binh, Khâm Châu, Liêm Châu là những căn cứ của thủy binh để cung cấp cho quân đội khi tiến vào Đại Việt thì mới bảo đảm thắng lợi được.

Tống Thần Tông nói:

-Chuẩn tấu. Tô Giám nghe khẩu dụ: Nay cho Tô Giám phụ trách xây dựng Ung Châu thành căn cứ chuẩn bị tấn công Đại Việt. Phong cho Tô Giám làm Tổng trấn Ung Châu, toàn quyền quyết định.

-Dạ, tạ ơn hoàng thượng, thần tuân chỉ.

-Trần Vĩnh Thái nghe khẩu dụ: Cho Trần Vĩnh Thái phụ trách xây dựng Khâm Châu  thành căn cứ thuỷ quân tấn công Đại Việt. Nay phong Trần Vĩnh Thái là Tổng trấn Khâm Châu, toàn quyền hành sự.

Trần Vĩnh Thái quỳ xuống đáp:

-Dạ tạ ơn hoàng thượng, thần tuân chỉ.

-Lỗ Khánh Tông đâu nghe khẩu dụ.

-Dạ bẩm hoàng thượng, có thần.

-Nay cho Lỗ Khánh Tông phụ trách xây dựng Liêm Châu thành cứ thủy quân tấn công Đại Việt. Phong Lỗ Khánh Tông là Tổng trấn Liêm Châu, toàn quyền hành sự.

-Tạ ơn hoàng thượng, thần tuân chỉ.

Bãi triều.

                                                                   *       *

                                                                       *

Bóng đêm bao trùm toàn bộ kinh thành Thăng Long, nghìn vì sao trên không gian lấp lánh xa xăm. Cây lá muôn hình dáng trong đêm không ngủ đung đưa dưới gió ru xào xạc. Những cung điện, đền đài muôn vẻ le lói ánh đèn. Dòng sông Tô Lịch, sông Hồng vẫn tuôn nước về Đông một cách âm thầm lặng lẽ.

Long Phượng thành cũng chìm trong màn nhung của đêm thanh bình yên ả. Chỉ còn cung Thúy Hoa có ánh sáng vàng khè leo lét. Đó là cung của Hoàng thái hậu Ỷ Lan. Hoàng thái hậu vẫn chưa ngủ dù trống hoàng thành trên lầu Chính Dương của điện Phụng Thiên đã điểm canh hai. Hoàng thái hậu vẫn ngồi uống nước trầm ngâm và hồi tưởng lại những ký ức tám năm qua vèo trôi nhanh như một giấc chiêm bao. Tám năm qua, cuộc đời của bà gắn với bao biến cố của hoàng thành, của triều nhà Lý, của nước Đại Việt.

  Bà nhớ lại mùa xuân năm 1065. Năm đó, trong một ngày xuân, cả mấy làng của quê hương bà ở Siêu Loại, châu Vũ Ninh nhộn nhịp khác thường. Người ta truyền tin nhau vua Lý Thánh Tông đã ngoài 40 tuổi, hàng trăm phi tần mà không ai sinh cho hoàng đế một hoàng tử để kế vị ngai vàng. Hôm nay vua về thăm quê hương là Cổ Pháp, Vũ Ninh nhưng sẽ đi qua rất nhiều trang thôn, trong đó có Thổ Lỗi (Siêu Loại) và có thể kén mỹ nữ từ nông thôn về cung. Cả hương, cả xã nhộn nhịp quét dọn nhà cửa, đường làng, ngõ xóm, may quần áo mới để đón vua. Đặc biệt là các cô thiếu nữ nhà nghèo mấy cũng phải sắm một bộ áo tứ thân lụa mỏng, yếm đào, váy lụa đen, nón quai thao duyên dáng, má phấn môi son diện vào đi đón vua, may ra lọt vào mắt rồng, được đón vào cung làm phi tần thì cả nhà, cả họ, cả hương vinh hạnh, phúc ấm muôn đời.

Cha mẹ của  Ỷ Lan cũng là một nông dân nghèo làm nghề trồng dâu nuôi tằm, thấy bạn bè cùng trang lứa đua nhau sắm sửa, trang điểm, nàng cũng mua sắm cho mình một bộ cánh giản dị nhưng màu sắc đẹp, may vừa với thân hình cân đối duyên dáng, mềm mại, hợp với khuôm mặt bầu bầu nõn nà trắng như trứng gà bóc của nàng. Nàng cũng phấp phỏng đợi chờ hồi hộp một cách vu vơ như là một hư ảo. Thế rồi một buổi sáng, tiếng loa vọng khắp các làng của quê hương vua và các làng lân cận:

-Loa loa loa…đức vua về quê nhà và sắp đi qua Thổ Lỗi, mời bách tính ra đón vua. Loa, loa, loa…

Ỷ Lan trang điểm thật đẹp, mặc bộ váy áo mới và đi ra nơi bãi rộng đón vua. Nhưng nàng đến muộn. Ngoài dân làng già trẻ thì có đến hàng trăm thiếu nữ áo tứ thân, yếm đủ màu sắc như trăm bông hoa xinh đẹp vây bọc và cố tiến lại gần vua, phần thì nhìn vua cho rõ, phần chủ yếu là mong lọt vào mắt rồng của vua. Ỷ Lan biết không thể chen được, nàng leo lên một quả đồi dâu thấp, không xa nơi vua đứng, tựa vào cây dâu mà ngắm vua. Lý Thánh Tông cưỡi ngựa nâu, đầu quấn khăn vàng, mặc áo vàng, đi hài vàng, hai bên võ sĩ mặc quân phục nâu, áo giáp sắt, đầu đội mũ sắt nhọn, mang gươm đi hộ tống. Đi song hành cùng vua là hai quan nội thị. Ỷ Lan trông rõ vua là một người đàn ông oai phong lẫm liệt. Vua Lý Thánh Tông vui vẻ nhìn hàng trăm thiếu nữ xinh đẹp quê nhà đang nở nụ cười với vua. Nhưng những vẻ đẹp đó hòa với nhau không rõ nét, không ai đẹp nổi trội lên được như nhiều bông hoa trong một vườn hoa. Chợt vua ngước mắt nhìn xa trên đồi dâu, vua thấy một thiếu nữ như tiên giáng thế, tuyệt sắc giai nhân, tựa vào gốc cây dâu và đang cười. Vua cho ngựa rẽ đám đông, tiến lại đồi dâu có thiếu nữ đang đứng, xuống ngựa và tiến lại gần. Vua sững sờ như đang gặp nàng tiên. Vua hỏi:

-Ta về quê ai cũng ra đón, sao nàng không ra đón ta lại đứng ở đây?

Ỷ Lan quỳ xuống tâu, giọng hay như tiếng đàn:

-Dạ, bẩm hoàng thượng, thần thiếp còn phải hái dâu chăn tằm để nuôi cha, mẹ già. Thần thiếp có tội, mong hoàng thượng khai ân.

Vua Lý Thánh Tông thấy nàng xinh đẹp, đoan trang hiền thục, lại hiếu thảo, rất vừa lòng, liền nói:

-Nàng có tội gì đâu, ta muốn đón nàng vào cung làm phi tần, nàng có hạ cố đến chăng?

Ỷ Lan đáp:

-Đa tạ hoàng thượng đã đoái thương, thần thiếp xin vâng lời.

Rồi vua đón nàng vào cung, vì nàng tựa cây dâu nên vua đặt tên nàng là Ỷ Lan. Sau này vua biết thêm, Ỷ Lan tên thật là Lê Thị Yến, quê ở hương Thổ Lỗi, Châu Vũ Ninh. Ỷ Lan sinh  ngày 7 tháng 3 năm Giáp Thân (1044), mẹ mất sớm, khi gặp vua là nàng đang ở với mẹ kế. Vào trong cung, nàng được phong Ỷ Lan phu nhân. Năm 1066 Ỷ Lan phu nhân sinh hoàng tử Càn Đức. Ngày hôm sau, hoàng tử Càn Đức được phong Hoàng Thái tử, mẹ là Ỷ Lan phu nhân được phong là Thần phi. Lý Thánh Tông vui mừng cho đại xá thiên hạ. Hai năm sau, năm 1068, Thần phi sinh thêm một Hoàng tử là Minh Nhân Vương (Sùng Hiền Hầu). Lý Thánh Tông cho đổi hương Thổ Lỗi thành hương Siêu Loại, Phong Thần phi là Nguyên phi, đứng đầu các phi, địa vị chỉ sau Thượng Dương Hoàng hậu.

Ỷ Lan nhớ lại đó là tháng 2 năm Kỷ Dậu 1069, Lý Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành, giao cho Ỷ Lan quyền nhiếp chính, bà vốn tôn sùng đạo Phật nên đem nhân nghĩa cai trị thiên hạ. Nô tì là nô lệ, là tầng lớp thấp nhất trong xã hội, trai lớn không lấy được vợ, gái lớn không lấy được chồng. Bà đã giải phóng cho họ thành người tự do, dựng vợ gả chồng cho họ, cấp đất đai cho họ sinh sống. Lòng dân cảm động tấm lòng nhân nghĩa của Nguyên phi, ơn sâu sắc như mưa tưới khắp thiên hạ dồi dào, bà được khắp thiên hạ ca tụng. Ỷ Lan còn nhớ kỹ Lý Thánh Tông kể lại cho bà rằng nhà vua đi đánh Chiêm Thành không có kết quả, khi về đến Cự Liên, Tiên Lữ, lộ Khoái Châu, nghe dân tình ca tụng Nguyên phi, liền nói: “Nguyên phi là một đàn bà còn làm được như thế, ta là nam nhi lại không được việc gì hay sao”. Vua liền quay lại đánh Chiêm Thành lần nữa. Lần này chiến thắng, bắt được vua chiêm Thành là Chế Củ và 5 vạn người. Vì thế năm 1070, Chế Củ đem ba châu là Địa Lý, Bố Chính, Ma Linh dâng nộp để chuộc tội. Đất đai Đại Việt được mở rộng xuống phương Nam từ đó. Nhưng rồi một tổn thất to lớn đến với Đại Việt, đến với triều đình. Tháng giêng năm 1072, Lý Thánh Tông lâm bệnh nặng và băng hà, thọ 50 tuổi, ở ngôi 18 năm. Triều đình đưa thái tử Càn Đức mới 7 tuổi lên ngôi, tức là vua Lý Nhân Tông. Thượng Dương Hoàng hậu được tôn làm Hoàng thái hậu và được buông rèm nhiếp chính, có Thái sư Lý Đạo Thành phò tá. Ỷ Lan được tôn làm Hoàng thái phi nhưng không được tham dự triều chính. Hoàng thái phi là người nhân nghĩa, nhưng như vậy không có nghĩa là bà không so bì đố kỵ. Một hôm bà đã nói với vua Lý Nhân Tông rằng: “Mẹ gìa khó nhọc mới có ngày nay mà bây giờ phú quý người khác hưởng, thế thì sẽ để mẹ già vào đâu?”. Và Hoàng thái phi khóc. Vua Lý Nhân Tông là người có hiếu, lại thấy mẹ khóc thì vô cùng thương cảm liền nói: “Con là thiên tử đứng đầu thiên hạ mà để cho mẹ già thiệt sao”. Hôm sau nhà vua ra lệnh bắt Thượng Dương Thái hậu và 72 cung nữ giam vào ngục. Sau đó Thượng Dương Thái hậu và 72 cung nữ chết. Phụ chính cho Thượng Dương Thái hậu là Thái sư Lý Đạo Thành bị biếm chức và đưa đi trấn thủ Hoan Châu. Ỷ Lan được tôn là Hoàng thái hậu nhiếp chính, có Thái úy Phụ quốc Lý Thường Kiệt phụ chính, sau đó gọi thêm Lý Đạo Thành về phong Thái phó, Bình chương quân quốc trọng sự, cùng Lý Thường Kiệt giúp Hoàng thái hậu điều hành đất nước.

Tám năm, Ỷ Lan vào cung đình với biết bao biến cố của triều đình, của đất nước cũng như của cuộc đời bà. Tất cả như một giấc chiêm bao. Từ một thiếu nữ con nhà nông dân hái dâu nuôi tằm, Ỷ Lan thành Hoàng thái hậu nhiếp chính. Song bà biết rằng tương lai của Đại Việt, của triều Lý còn ở phía trước, có tốt đẹp hay không là do đức  nhân nghĩa và tài năng của bà, của Lý Thường Kiệt, của Lý Đạo Thành và của chính Lý Nhân Tông nữa.

Trống trên lầu Chính Dương đã điểm canh ba. Hoàng thái hậu Ỷ Lan chìm vào trong giấc ngủ. Bà mơ thấy Lý Thánh Tông hiện về hỏi lại bà về kế trị nước. Bà đáp: “Muốn đất nước giàu dân mạnh, điều quan trọng là phải biết nghe lời can gián của đấng trung thần. Lời nói ngay nghe chướng tai nhưng có lợi cho việc làm, thuốc đắng khó uống nhưng chữa được bệnh. Phải xem quyền hành là thứ đáng sợ. Quyền lực và danh vọng thường làm thay đổi con người. Tự mình lấy đức để giáo hóa dân thì sâu hơn mệnh lệnh, dân bắt chước người trên thì nhanh hơn pháp luật. Muốn nước mạnh hoàng đế phải nhân từ với muôn dân. Phàm xoay cái thế thiên hạ ở nhân chứ không phải ở bạo. Hội đủ phương diện ấy, nước Đại Việt sẽ vô địch”.

Lý Thánh Tông như đang mĩm cười với bà: “Nàng hãy đem những điều ấy dạy bảo cho vua nhỏ của chúng ta đi”.

Hoàng thái hậu Ỷ Lan thức giấc. Trống trên lầu Chính Dương đã điểm giờ Mão. Bình minh đang báo hiệu một ngày mới ở Thăng Long.

Sau bữa ăn sáng, Hoàng thái hậu nhiếp chính Ỷ Lan đang ngồi uống trà, chợt có thị nữ vào báo:

-Dạ bẩm Hoàng thái hậu, có thám mã từ biên cương phía Bắc về báo tin khẩn cấp.

-Cho vào.

-Dạ.

Thám mã vào hành lễ:

-Dạ, Hoàng thái hậu thiên thiên tuế.

-Bình thân, tình hình biên giới có việc gì khẩn cấp?

-Dạ, bẩm Hoàng thái hậu, nhà Tống đã xây dựng xong ba căn cứ gần biên giới để chuẩn bị xâm lược Đại Việt, đó là thành Ung châu, Khâm Châu và Liêm Châu thuộc Quảng Nam Tây lộ. Ung Châu là căn cứ bộ binh, Khâm Châu và Liêm châu là căn cứ thủy quân. Tại đây, chúng tập trung vô kể vũ khí, lương thực, thuốc men và binh lính tinh nhuệ, thuyền chiến. Dạ bẩm Hoàng thái hậu.

-Tin chính xác không?

-Dạ bẩm Hoàng thái hậu, tin chính xác ạ. Tri Lạng Châu và tri lộ Hải Đông cũng đã xác nhận tin này ạ.

-Cho ngươi lui

-Dạ.

-Người đâu.

-Dạ, bẩm Hoàng thái hậu.

-Đi mời hoàng thượng, Thái úy Lý Thường Kiệt và Thái phó Lý Đạo Thành tới điện Thiên An bàn việc.

-Dạ, tuân lệnh Hoàng thái hậu.

Điện Thiên An là nơi thiết triều. Đời Lý Thái Tổ nơi thiết triều là điện Càn Nguyên. Trong thời kỳ loạn tam vương 1028, điện Càn Nguyên bị phá tan hoang. Sau khi dẹp được loạn, năm 1029 trên nền cũ của điện Càn Nguyên, Lý Thái Tông cho xây dựng điện mới gọi là điện Thiên An. Trong điện này có căn phòng nhỏ để họp những đại thần quân quốc trọng sự bàn những việc khẩn cấp của đất nước. Được lời mời của Hoàng thái hậu, Phụ quốc Thái úy Lý Thường Kiệt, Thái phó Lý Tự Thành đã có mặt. Hai vị trụ cột của triều đình ngồi đối diện nhau ở chiếc bàn kê dọc, vua Lý Nhân Tông và Hoàng thái hậu nhiếp chính ngồi ghế chủ ở chiếc bàn kê ngang nhìn xuống. Sau một lượt trà, Hoàng thái hậu Ỷ Lan nói:

-Thưa hoàng thượng, thưa hai vị ái khanh, cách đây 94 năm nhà Tống đã xua quân xâm lược Đại Cồ Việt, đã bị hoàng đế Lê Đại Hành đánh cho tơi bời nhưng chúng không biết rút ra bài học. Hiện nay, chúng đang âm mưu xâm lược Đại Việt ta. Nhà Tống mấy năm nay đã cho bọn Khởi, Di quấy rối ở biên giới, đóng cửa không cho bách tính gần biên giới qua lại mua bán. Nay theo tin của thám mã về báo, nhà Tống đã xây dựng xong ba căn cứ chuẩn bị cho cuộc tấn công xâm lược Đại Việt, thứ nhất là căn cứ bộ binh Ung châu do Tô Giám chỉ huy, thứ hai hai là hai căn cử thủy quân Khâm Châu do tướng Lỗ Khánh Tông chỉ huy và Liêm Châu do tướng Trần Vĩnh Thái chỉ huy. Những căn cứ đó hiện nay tích lũy nhiều lương thực, vũ khí, thuốc men. Liêm Châu và Khâm Châu còn nhiều thuyền chiến. Đại Việt của chúng ta đang bị đe dọa. Hai ái khanh có kế gì phá giặc không?

Thái phó Lý Đạo Thành nói:

-Bẩm Hoàng thái hậu, bẩm hoàng thượng, thần cho rằng nên điều thủy quân ra sông Bạch Đằng đóng giữ, gia cố lại những bãi cọc ngày xưa của Ngô Vương và của Lê Đại Hành, thứ hai là tăng cường phòng thủ biên giới.

  Phụ quốc Thái úy Lý Thường Kiệt nói:

-Bẩm Hoàng thái hậu, bẩm hoàng thượng, lời của Thái phó Lý Đạo Thành nói phải lắm.Nhưng thần cho rằng trước hết phải gây khó khăn cho kẻ địch khi tấn công vào Đại Việt mà trước hết là khó khăn về lương thực, hậu cần. Muốn vậy phải triệt phá ba căn cứ quan trọng của nhà Tống, đó là Ung Châu, Khâm Châu và Liêm châu. Ba căn cứ bị tiêu diệt thì khi kẻ kia vào Đại Việt, ta làm cho chiến tranh kéo dài, khó khăn về lương thực, giặc đuối sức tất phải tan rã.

Hoàng thái hậu Ỷ Lan hỏi:

-Làm thế nào để phá được ba căn cứ đó?

Lý Thường Kiệt đáp:

-Bẩm hoàng thượng, bẩm Hoàng thái hậu, xin hoàng thượng ra lệnh cho Tông Đản, phò mã Thân Cảnh Phúc, các tướng Vi Thủ An, Hoàng Kim Mãn, Lưu Kỷ, tất cả do Tông Đản chỉ huy dẫn 6 vạn quân tiêu diệt các trại tiền tiêu gần biên giới và vây đánh Ung Châu. Thần sẽ chỉ huy 4 vạn thủy binh vượt biển tiến đánh Khâm Châu và Liêm Châu. Sau đó thần sẽ đem quân cùng vây đánh Ung Châu với Tông Đản. Đây là chiến thuật “Tiên phát chế nhân”, đánh người trước để khống chế người.

Hoàng thái hậu đáp:

-Thôi thì nước nhà và triều đình trông cậy vào Phụ quốc Thái úy và Thái phó Lý Đạo Thành.

Lý Thường Kiệt nói:

-Còn nữa, thưa Hoàng thái hậu và hoàng thượng, sau khi thần triệt phá ba căn cứ và rút quân về, nhà Tống sẽ tràn sang xâm lược. Cho nên khi thần đi chinh phạt, trong nước vẫn phải chuẩn bị kháng chiến. Nhờ Thái phó Lý Đạo Thành ở nhà huy động quân dân đắp một phòng tuyến bờ Nam sông Cầu, bắt đầu từ Đại Từ Thái Nguyên, nối với Tam Đảo chạy dài đến Lục Đầu Giang để ngăn quân giặc khi chúng tràn xuống bờ Bắc sông Cầu. Thiết kế và cấu trúc phòng tuyến này thần sẽ gửi và nói rõ cho Thái phó sau.

Hoàng thái hậu Ỷ Lan nói:

-Nay khẩu dụ cho Thái phó Lý Đạo Thành huy động dân phu trong bách tính xây dựng phòng tuyến phía Nam sông Cầu theo yêu cầu thiết kế và kỹ thuật của Thái úy Lý Thường Kiệt, hẹn trong 40 ngày phải xong.

Lý Đạo Thành quỳ xuống :

-Thần tuân chỉ.

Hoàng thái hậu Ỷ Lan nói tiếp:

-Nay phong cho Phụ quốc Thái úy Lý Thường Kiệt làm Tổng chỉ huy các đạo quân thuỷ bộ tiến sang đất Tống, phá tan các căn cứ của quân xâm lược, tạo điều kiện thuận lợi đánh bại quân địch khi chúng vào xâm lăng Đại Việt.

Lý Thường Kiệt quỳ xuống đáp:

-Thần tuân chỉ.

Hoàng thái hậu nói tiếp:

-Khanh nói rõ hơn về đạo quân miền núi và ai sẽ là người chỉ huy:

-Dạ bẩm Hoàng hậu và hoàng thượng, đạo quân bộ khoảng 6 vạn này toàn là binh sĩ biên cương mà đa số là người các dân tộc thiểu số phía Bắc, quen chiến trận ở miền núi. Đạo quân này sẽ đánh các đồn tiền tiêu của Ung Châu như Hoành Sơn, Vĩnh Bình, Tây Bình, Cổ Vạn, sau đó sẽ tiến vào bao vây Ung Châu. Tham gia đạo quân này gồm Tông Đản, phò mã Thân Cảnh Phúc, Hoàng Kim Mãn, Vi Thủ An, Lưu Kỷ. Đạo quân này do Tông Đản chỉ huy và Tông Đản cũng là Phó soái toàn bộ cuộc hành quân này.

-Còn đạo quân của khanh, có những tướng nào tham gia?

-Dạ bẩm Hoàng thái hậu, bẩm hoàng thượng, đạo quân thủy do thần trực tiếp chỉ huy, tham gia có Thủy sư đô đốc hoàng tử Hoằng Chân và hoàng tử Chiêu Văn. Thần sẽ cho đánh Khâm Châu, Liêm Châu, sau đó sẽ vượt Thập Vạn Đại Sơn cùng đạo bộ binh đánh Ung Châu. Sẽ nhanh chóng hạ Ung Châu để rút về nước chuẩn bị kháng chiến.

Hoàng thái hậu Ỷ Lan hỏi:

-Trong khi Phụ quốc Thái úy đang trên đất Tống mà nhà Tống huy động vài chục vạn quân tấn công thẳng vào Đại Việt để giải vây cho Ung Châu và chiếm nước ta thì ta đối phó thế nào?

Lý Thường Kiệt đáp:

-Dạ bẩm hoàng thượng, bẩm Hoàng thái hậu, thần đã có dự phòng, cửa ngõ xa xôi mà địch ít đi qua để vào nước ta là châu Quảng Nguyên thần cũng đã cho lực lượng bố phòng biên giới. Hai cửa ngõ vào nước ta buộc địch phải đi qua là Lạng Châu, thần đã cử tướng Lý Thường Hiến đem 2 vạn quân chấn giữ, ngoài ra khi cần có thể huy động  dân binh của các tù trưởng ở vùng biên giới. Cửa ngõ thứ hai quan trọng  là cửa sông Bạch Đằng, thần đã cho tướng Lý Kế Nguyên chỉ huy 2 vạn thủy binh, 300 chiến thuyền chốt giữ. Cửa ngõ huyết mạch Đông Bắc Thăng Long là Lục Đầu Giang và Vạn Kiếp thần cử 2 vạn quân do tướng Lý Long Ban chấn giữ.

Hoàng thái hậu nói:

-Khanh bố trí lực lượng chu đáo như vậy, ta yên tâm rồi. Khanh đã phục vụ ba triều vua, thông thạo tình hình biên giới. Khanh nói qua về các phò mã áo chàm và các tướng lĩnh người dân tộc ta nghe?

Lý Thường Kiệt đáp:

-Dạ bẩm hoàng thượng, bẩm Hoàng thái hậu, Phó chủ soái Tông Đản là người dân tộc Nùng, cho nên hay gọi là Nùng Tông Đản, sinh năm 1046 ở châu Quảng Nguyên, vùng thuộc sông Bằng Giang, mẹ là Ngô Cẩm Thi, cháu đời thứ 5 của Tiền Ngô Vương, dòng Ngô Xương Văn. Tông Đản là một tướng có tài thao lược, đặc biệt là chiến trường miền núi. Giao cho Tông Đản chỉ huy đạo quân bộ này, thần tin Tông Đản có thể hoàn thành sứ mệnh. Vả lại, từ Khâm Châu và Liêm Châu, thần sẽ vượt Thập Vạn Đại Sơn sang tiếp sức cho Tông Đản ở Ung Châu ngay, xin Hoàng thái hậu yên tâm.

Hoàng thái hậu Ỷ Lan gặt đầu:

-Tông Đản được lắm, thế còn phò mã Thân Cảnh Phúc?

-Dạ bẩm Hoàng thái hậu và hoàng thượng, Thân Cảnh Phúc người dân tộc Tày ở Động Giáp, Lạng Châu, sinh năm 1030. Nhà họ Thân này có tới ba đời làm phò mã nhà Lý ta. Ông nội Thân Cảnh Phúc là Giáp Thừa Quý lấy công chúa triều ta, được hoàng đế đổi cho họ Thân. Cha là Thân Thiệu lấy công chúa Bình Dương. Thân Cảnh Phúc là con của Thân Thiệu và công chúa Bình Dương thì lấy công chúa Thiên Thành vào năm 1066. Thân Cảnh Phúc được triều đình phong là Châu mục Lạng Châu. Dòng tộc này rất trung thành với nhà Lý ta, đã từng giúp ổn định miền biên cương Lạng Châu rất tốt. Thân Cảnh Phúc cũng có tài năng quân sự nên giao cho phó chỉ huy đạo bộ binh.

-Tham gia đạo bộ binh này còn có các tướng người Tày, là tù trưởng các địa phương có thế lực, nhiều kinh nghiệm tác chiến ở miền núi như Lưu Kỷ, Vi Thủ An, Hoàng Kim Mãn. Binh sĩ cũng phần lớn là dân binh, quân bản bộ của các tù trưởng Lạng Châu và châu Quảng Nguyên, rất thiện chiến ở các địa hình miền núi như Nam Trung Hoa.

Hoàng thái hậu Ỷ Lan nói:

-Với sự Tổng chỉ huy của Phụ quốc Thái úy, với sự bố phòng trong nước như vậy ta và hoàng thượng yên tâm. Ta và hoàng thượng chờ tin khải hoàn của Phụ quốc Thái úy.

-Đa tạ Hoàng thái hậu, đa tạ hoàng thượng.

*    *

*

  Lạng Châu, mùa đông năm 1075, sau khi nhận chiếu chỉ của hoàng đế Lý Nhân Tông và quân lệnh của Phụ quốc Thái úy Lý Thường Kiệt, Tông Đản lập tức cho lập hành doanh tập trung quân đội. Ngày 20-10-1075, 6 vạn quân Việt, 100 thớt voi, 5000 ngựa chiến cùng các tướng lĩnh bí mật xuất phát tràn sang đất nhà Tống, mở đầu cho cuộc Bắc phạt. Đêm nay trong tổng hành dinh, dưới một lán trại lớn, Tông Đản nói:

-Trước mắt chúng ta là ba trại lớn của địch bảo vệ từ xa cho Ung Châu. Đó là trại Bình Tây ở phía Tây, trại Hoành Sơn ở giữa và trại Vĩnh Bình ở phía Đông. Mỗi trại cách nhau 30 dặm và cách chỗ chúng ta đây 10 dặm. Đêm nay, chúng ta phải bí mật bất ngờ đồng loạt tấn công tiêu diệt ba trại đó. Mỗi trại có 1 vạn tên địch. Tướng quân Thân Cảnh Phúc.

-Có mạt tướng.

-Tướng quân chỉ huy 1 vạn quân, 30 thớt voi có nhiệm vụ tiêu diệt trại Bình Tây. Nhớ phải bí mật bất ngờ diệt gọn.

-Mạt tướng tuân lệnh.

Thân Cảnh Phúc đi ra điểm quân xuất phát.

Tông Đản gọi tiếp:

-Tướng quân Hoàng Kim Mãn.

-Có mạt tướng.

-Tướng quân cũng dẫn 1 vạn quân và 30 thớt voi có nhiệm vụ tiêu diệt trại Vĩnh Bình ở phía Đông. Cũng phải bí mật bất ngờ diệt gọn.

-Mạt tướng tuân lệnh.

Hoàng Kim Mãn ra điểm quân đi về hướng Đông.

-Tướng Vi Thủ An đâu?

-Có mạt tướng.

-Tướng quân đem 2 vạn quân và 30 thớt voi bí mật bất ngờ tiêu diệt trại Hoành Sơn.

-Mạt tướng tuân lệnh.

Tông Đản nói:

-Còn lại 2 vạn quân và 10 thớt voi, mặt trận nào khó khăn ta sẽ chi viện.

  Trong đêm tối, ba cánh quân Đại Việt không cờ không trống cùng những thớt voi lừng lững như những quả núi lặng lẽ tiến lên phía Bắc, Đông Bắc và Tây Bắc. Canh ba đêm đó, đạo quân của Thân Cảnh Phúc bí mật bao vây trại Vĩnh Bình, từ xa dùng tên bắn chết những tên lính canh gác, tuần tra và tiến vào, khi vừa tầm bắn nhất loạt bắn tên và tên lửa vào doanh trại. Trại Vĩnh Bình vốn chiến lũy là tạm bợ sơ sài bằng gỗ, dễ bén lửa. Toàn doanh trại phút chốc biến thành biển lửa. Quân Tống thức dậy tháo chạy ra ngoài nhưng bị những trận mưa tên, sau đó là những lưỡi gươm giáo bất thần bổ xuống. Thây chồng chất, máu đầm đìa. Một vạn tên kể cả chủ tướng không một tên nào sống sót. Đạo quân của tướng Hoàng Kim Mãn đi về hướng trại Tây Bình. Hoàng Kim Mãn cho 50 người lính bò sát gần ngoài doanh trại địch. Một tốp lính Tống đi tuần tới, 50 quân Việt xông ra khống chế, dí thuốc mê vào miệng, lột quân phục Tống mặc vào và đi vào cổng doanh trại. Lính gác doanh trại mở cổng ra liền bị giết. Cổng doanh trại mở toang, 2 vạn quân Việt và 30 con voi xông vào. Lính Tống còn đang ngủ say, không kịp chống cự bị giết và bị voi xé xác. Quân Việt làm chủ trại Tây Bình. Đạo Quân của Vi Thủ An tiến đến trại Hoành Sơn nhưng không giữ được bí mật và yếu tố bất ngờ. Tướng Tống giữ trại là Tưởng Di đang ngủ, chợt có lính canh vào báo:

-Dạ bẩm tướng quân có thám mã về báo tin khẩn cấp.

-Cho vào

Thám mã vào báo:

-Dạ, bẩm tướng quân, quân Đại Việt đã tràn sang đánh chiếm hai trại Vĩnh Bình và Tây Bình và đang tiến đánh trại Hoành Sơn của chúng ta.

Tưởng Di hoảng hốt:

-Hả, quân Đại Việt từ trên trời rơi xuống hả, đóng chặt cửa trại và báo động toàn quân sẵn sàng chiến đấu.

Tông Đản nói với Vi Thủ An:

-Hết yếu tố bất ngờ rồi, nếu cứ tiến vào, quân ta sẽ bất lợi, còn phải dành sức đánh trại Cổ Vạn, chờ sáng mai rồi hãy hay.

Sáng mai, quân Việt đã trông thấy Tưởng Di dàn trận chờ quân Việt. Tông Đản nói:

-Tướng quân dàn trận đánh chúng trước mặt, tôi đánh tập hậu chắc là diệt được chúng.

Vi Thủ An nói:

-Mạt tướng tuân lệnh.

Vi Thủ An cho 30 thớt voi đi đầu, theo sau là 2 vạn quân chưa kịp dàn trận thì voi đã xông lên, kỵ binh và bộ binh Tống hốt hoảng vỡ trận. Quân Việt xông lên chém giết. Phía sau quân Tống lại bị 1 vạn quân và 10 thớt voi của Tông Đản đánh vây bọc. 1 vạn quân Tống không lối thoát, thây đổ ngổn ngang, máu phun như nước. Quân Việt làm chủ trại Hoành Sơn. Tướng Tống Tưởng Di tử trận cùng các tùy tướng.

  Phòng tuyến vòng ngoài bảo vệ Ung Châu đã sụp đổ. Tông Đản tập trung quân tiến đánh trại Cổ Vạn để mở toang cánh cửa đi về Ung Châu. Trại Cổ Vạn cách Ung Châu 5 dặm về phía Nam, án ngữ con đường duy nhất đi Ung Châu. Tướng giữ trại Cổ Vạn là Thái Trạch đã được Tô Giám, tướng giữ thành Ung Châu tăng viện thêm 2 vạn quân, nâng tổng số quân của trại lên 4 vạn. Một buổi sáng, Thái Trạch đang ngồi uống trà thì có thám mã về cấp báo:

-Dạ, bẩm tướng quân, ba trại Vĩnh Bình, Tây Bình, Hoành Sơn đã bị quân Đại Việt triệt hạ. Khoảng 6 vạn quân Việt đang tiến về đây, cách Cổ Vạn 5 dặm.

Thái Trạch nói:

-Sao ba trại thất bại nhanh chóng như vậy. May mà ta vừa được tăng viện thêm 2 vạn quân. Bay đâu.

-Dạ.

-Mở cổng trại để ra ngoài nghênh chiến.

Thái Trạch mặc giáp đội mũ cùng tùy tướng dẫn 4 vạn quân ra dàn hàng chữ nhất nghênh chiến quân Việt.

Tông Đản dẫn quân đến gần Cổ Vạn đã thấy quân Tống dàn trận đứng chờ. Tông Đản hạ lệnh cho 100 con voi đi đầu, kỵ binh và bộ binh theo sau, không cần dàn trận, cho voi xông lên đánh phá và kỵ bộ binh xông lên chém giết. 100 con voi được phía sau bị thúc, voi hăng máu xông pha tung hoành vào trận của quân Tống. Kỵ binh Tống trông thấy voi hoảng sợ tháo chạy. Quân Tống vỡ trận, quân Việt xông lên chém giết. Quân Tống bị voi dày đạp, bị các cung thủ trên mình voi bắn giết, bị kỵ binh và bộ binh Việt đâm chém. Thây chồng như núi, máu đổ thành sông. Quân Tống tháo chạy vào trại nhưng không kịp đóng cổng. Voi và quân Việt cũng tràn vào theo, dùng chất cháy ném đốt phá doanh trại. Toàn trại Cổ Vạn biến thành biển lửa. 4 vạn quân Tống hầu hết bị tiêu diệt, số còn lại chạy về Ung Châu. Thái Trạch và các tùy tướng đều tử trận. Tượng binh thành nỗi kinh hoàng đối với quân Tống. Không còn rào cản nào nữa, Tông Đản thừa thắng tiến lên phía Bắc khoảng 10 dặm bao vây thành Ung Châu. Đó là ngày 27-10-1075.

  Đang là mùa đông nên trời của vùng châu Yên Bang, lộ  Hải Đông Đại Việt một màu u ám, làng xóm ven biển xanh rì những rừng phi lao đung đưa theo những trận gió lạnh cắt da cắt thịt. Biển ào ào đổ sóng vào bờ trắng xóa. Vùng biển này hôm nay tập trung 300 chiến thuyền lớn chở 4 vạn quân Đại Việt do Thái úy Phụ quốc Lý Thường Kiệt chỉ huy chuẩn bị vượt biển tiến về phía Bắc, cờ bay theo gió, gươm giáo sáng lòe. Quân Đại Việt mang cả những vũ khí hạng nặng như máy bắn đá. Những thuyền chiến đến giờ xuất phát, đè sóng đi ngược gió tiến về biển Trung Hoa. Sóng vỗ ào ạt vào những chiến thuyền tung bọt như bản đồng ca đưa tiễn đoàn quân Bắc phạt mong ngày chiến thắng trở về.

Trong đêm tối ở bờ biển Khâm Châu, thuộc Quảng Nam Tây lộ đất Tống, 300 chiến thuyền cập cảng, quân Đại Việt giết lính canh cảng rồi 4 vạn quân đổ bộ lên bờ, âm thầm tiến về thành Khâm Châu. Thành Khâm Châu chìm trong giấc ngủ say sưa. Quân Việt bí mật bao vây. Những tên lính canh trên mặt thành bổng nhiên đổ gục xuống bởi những mũi tên cực mạnh. Quân Đại Việt bắc thang mây, leo lên mặt thành và tìm đường đi xuống cổng thành. Những tên lính canh cổng còn lơ mơ trong giấc ngủ ngồi thì bị giết. Lính Đại Việt mở toang cổng 4 mặt thành và 4 vạn quân tràn vào tận phòng ngủ quân Tống mà giết. 8000 tên lính thức dậy vội đầu hàng:

-Xin tha mạng…

-Xin tha mạng…

Một tốp lính Việt dí gươm vào cổ tên lính Tống hỏi:

-Phòng của Trần Vĩnh Thái đâu? Dẫn đường sẽ tha mạng.

Người lính Việt biết tiếng Trung dịch lại. Tên lính vái như tế sao:

-Tôi dẫn, tôi dẫn.

Tới một căn phòng lớn nó ú ớ chỉ vào trong. 100 lính Việt đạp cửa xông vào. Trần Vĩnh Thái, chủ tướng của thành Khâm Châu còn ôm mỹ nhân ngủ, nghe tiếng động giật mình vùng dậy đã bị 5 lưỡi gươm của lính Việt dí vào cổ. Hắn còn đang ngơ ngác thì đã bị lính Việt trói lại. Quân Đại Việt lùng bắt các tùy tướng của Trần Vĩnh Thái. Các tướng là Văn Lương, Ngô Phúc, Tưởng Cẩn, Tống Đạo đều bị bắt. Đó là ngày 30 12-1075.

Thành Khâm Châu, căn cứ thủy quân của quân Tống chỉ một đêm thất thủ. Lý Thường Kiệt buộc 1 vạn tù binh Tống khuân hết lương thực, vũ khí mà nhà Tống tích lũy chuẩn bị đánh Đại Việt xuống thuyền và cho chở về nước, cho san bằng thành Khâm Châu. Quân Đại Việt tiếp tục tiến đánh Liêm Châu.

Liêm Châu ở về phía Bắc Khâm Châu khoảng 100 dặm. 4 vạn quân và 300 chiến thuyền Đại Việt lại đi trong đêm, cập cảng Liêm Châu và đổ bộ lên bờ, sau đó tiến vào bao vây thành lũy Liêm Châu. Tướng giữ thành Liêm Châu là Lỗ Khánh Tông theo dõi sát tình hình. Buổi đêm đang ngồi uống trà thì thám mã về báo:

-Dạ bẩm tướng quân, quân Lý Thường Kiệt đã hạ thành Khâm Châu và đang tiến về Liêm Châu của chúng ta.

Lỗ Khánh Tông hốt hoảng:

-Hả, Khâm Châu sao thất thủ nhanh vậy? Bay đâu, lên mặt thành chuẩn bị chiến đấu.

Lỗ Khánh Tông cùng các tướng Lương Sở, Chu Tông Thích, Ngô Tông Lập lên mặt thành đốc chiến. Lỗ Khánh Tông và các tướng trông thấy quân Đại Việt đông như kiến cỏ vây thành. Lỗ Khánh Tông ra lệnh chuẩn bị cung nỏ để bắn khi vừa tầm. Nhưng từ xa, quân Việt dùng máy bắn đá bắn như mưa vào thành. Quân Tống bị đá đập chết ngổn ngang, chưa kịp triển khai cung nỏ thì quân Việt lợi dụng thời cơ đó tiếp cận lại gần, bắn chất cháy và cả những trận mưa tên, mưa đá. Trong khi đó những người lính Việt cảm tử ôm những cây gỗ to một người ôm tông mạnh vào cổng thành. Cổng thành Liêm Châu mở toang, 4 vạn quân Việt tràn vào chém giết. Liêm Châu chỉ một đêm thất thủ. Lỗ Khánh Tông và các tướng đều bị đá dập chết, 8.000 quân bị bắt. Lý Thường Kiệt san bằng thành Liêm Châu và cho 8.000 tù binh bốc hết lương thực, vũ khí và cho 1 vạn quân Việt đem 300 chiến thuyền Việt và hàng trăm chiến thuyền lấy được từ hai cảng của thủy quân Tống đem về nước. Còn 4 vạn quân Việt và 1 vạn tù binh Tống tiếp tục vượt Thập Vạn Đại Sơn đánh vào Đông Nam Ung Châu cùng Tông Đản. Đó là ngày 2-1-1076.

Từ Khâm Châu, Liêm Châu, quân Đại Việt vượt Thập Vạn Đại Sơn để tiến về phía Tây. Thập Vạn Đại Sơn dài 240 dặm, rộng từ 30 đến 60 dặm, chạy theo hành lang Đông Bắc và Tây Nam, bắt đầu từ Khâm Châu theo hướng Đông Bắc, vòng về Tây Nam sát biên giới Tống-Đại Việt, cao tới 1.462m. 4 vạn quân Đại Việt đi theo hàng dọc trải dài 20 dặm. 1 vạn tù binh Tống đẩy xe lương thực hoặc đẩy máy bắn đá. Quân Việt cũng còng lưng bởi mang theo vũ khí, quần áo, đồ dùng cá nhân, lương thực đủ cho người lính ăn vài ba ngày. Trời mùa đông u ám, cấy cối Thập Vạn Đại Sơn rậm rạp ngút ngàn với những vách núi đá cao sừng sững. Quân Việt men theo lối mòn đi từ Đông sang Tây. Mây mù trắng xóa trên đỉnh núi. Thác nước như lụa chảy từ trời cao xuống tung bọt trắng xóa như hoa. Có tiếng gầm của hổ đâu đây, có tiếng nai kêu mang tác, có tiếng vượn hú tha thiết thê lương. Đoàn quân đi trong gió rừng hiu hắt, lá vàng tung bay lả tả. Cuối cùng, qua bao gian nan vất vả, 4 vạn quân Đại Việt cũng đến được Ung Châu, cùng 6 vạn bộ binh của Tông Đản vây đánh thành.

Trấn trị của Quảng Nam Tây lộ của nhà Tống là Quế Lâm, cách  Ung Châu 150 dặm về phía Đông Bắc. Không phải là trấn trị nhưng Ung Châu là một căn cứ quan trọng  để bảo vệ hướng Nam của nước Tống, là căn cứ mà nhà Tống đã cho chứa nhiều lương, thực vũ khí chuẩn bị cho 30 vạn quân xâm lược Đại Việt. Ung Châu cách biên giới Đại Việt chỉ 360 dặm, là con dao lớn sẵn sàng chọc vào Đại Việt. Thành Ung Châu cao, dầy, trên mặt thành có trang bị nỏ “Thần tý” bắn một phát được nhiều mũi tên, ngoài ra còn có cung nỏ thường, có dầu chứa chất cháy để tiêu diệt quân đánh thành.

Tướng giữ thành là Tô Giám, một tướng gan dạ, rất trung thành với nhà Tống, cậy có lương thực và vũ khí nhiều, kiên quyết cố thủ để chờ quân cứu viện từ các nơi chi viện. Tô Giám phân chia của cải cho 1 vạn lính và 5 vạn dân binh để cổ vũ tinh thần binh sĩ. Tô Giám nói:

-Khí giới đủ, lương thực không thiếu. Giặc đã đến dưới thành, cố thủ chờ viện binh ắt ta sẽ thắng. Nghe ta thì được hậu thưởng, nếu không nghe bỏ chạy ta sẽ chém.

Lý Thường Kiệt ra lệnh cho quân Đại Việt kỷ luật nghiêm minh, không được giết chóc dân quanh vùng, mặt khác ban bố “Phạt Tống Lộ Bố Văn” trong đó nói rõ nhà Tống áp bức bóc lột bách tính người Hoa thống khổ, nay còn tích tụ lương thực trong khi dân đói khát để gây chiến tranh với Đại Việt, bắt con em dân đi chết chóc vì chiến tranh phi nghĩa. Nay quân Việt tiến vào đất Trung Hoa là để buộc nhà Tống từ bỏ những tham vọng điên cuồng, sau đó quân Việt sẽ rút về. “Phạt Tống Lộ Bố Văn” đã có tác dụng làm cho bách tính người Hoa có cảm tình với quân Đại Việt ở những nơi mà quân Việt hành quân hay tác chiến.

Quân lính trong thành Ung Châu và bách tính vùng Quảng Nam Tây Đạo truyền tay nhau đọc “Phạt Tống Lộ Bố Văn”. Một cụ gìa không biết chữ bảo một Nho sinh:

-Chủ Soái Đại Việt viết gì trong đó, đọc ta nghe thử.

-Dạ,  “Phạt Tống Lộ Bố Văn” viết thế này ạ: “ Kính gửi bách tính Quảng Nam Tây Đạo, nay vua Tống là thiên tử nắm quyền, phải lo cho dân no ấm, yên bình. Nay lại làm trái đạo trời, ra sức sưu cao thuế nặng, bóc lột bách tính để sống xa hoa, lãng phí, mặc cho bách tính đói rét lầm than. Nay lại nghe lời Vương An Thạch, tích lũy lương thực, vũ khí, tập trung quân đội, chuẩn bị gây chiến tranh với Đại Việt khiến bách tính Trung Hoa càng thêm đói khổ, con cháu đi chiến trận bỏ xác không về. Nổi khổ càng thêm chồng chất do mất chồng, mất con. Bản Thái úy kéo quân sang đây là vì đại nghĩa, thay mặt bách tính trừng phạt tội ác của nhà Tống, của Vương An Thạch, phá tan căn cứ Ung Châu là nơi nhà Tống chuẩn bị gây ra tội ác cho hai dân tộc Việt-Hoa. Nay bách tính yên lòng và ủng hộ cho cuộc tiến công chính nghĩa này của bản Thái úy”.

Ông già gật gù:

-Viết hay lắm, nói đúng lắm. Gây chiến tranh xâm lược là một tội ác, một mầm họa cho bách tính, cần phải diệt trừ mầm họa đó đi.

Nhà Nho trẻ tuổi nói:

-Có lẽ vì thế nên Quân Đại Việt đi đến đâu, bách tính Quảng Nam Tây Đạo đều đứng chật đường để úy lạo.

Cụ già gật gù:

-Bách tính ít học nhưng lại là người hiểu đạo trời thấu đáo.

-Dạ.

Ngày mùa đông, không gian chìm trong giá lạnh, bầu trời u ám, mây đen cuồn cuộn lưng trời. Nhưng thành Ung Châu nóng lên hừng hực bởi ngọn lửa chiến trận. 10 vạn quân Đại Việt bao vây Ung Châu, lính đông đặc hết lớp trong đến lớp ngoài. Cờ vàng có chữ “Đại Việt” bay rợp trời, giáo gươm tua tủa. Tiếng trống, tiếng thanh la vang rền trời đất. Quân Việt đang dùng thang mây có mấu sắt ném lên mặt thành cho thang bám rồi nắm dây thang bám vào tường thành mà trèo lên. Hàng nghìn quân Việt tay nắm hai dây, chân dẫm vào bậc thang treo lủng lẳng ở tường thành. Trên cao, quân Tống bắn tên như mưa xuống, sau những trận mưa tên là những xô dầu đốt cháy đỏ rực bốc lửa dội xuống đầu quân Việt. Thang mây cháy, hàng nghìn lính Việt bị bỏng cháy như những bó đuốc và rơi xuống chất chồng quanh chân thành không biết bao nhiêu mà kể. Dùng thang mây, quân Việt leo lên mặt thành thất bại và tổn thất quá nhiều binh lực.

Trong Tổng hành dinh, một hôm Lý Thường Kiệt nói với Tông Đản:

-Hôm nay tướng quân cho dùng máy bắn đá bắn dữ dội vào thành, đồng thời bắn tên có chất cháy đốt thành. Trong thành sẽ dùng nước cứu hỏa và sẽ thiếu nước. Thiếu nước còn khủng khiếp hơn cả thiếu lương thực.

-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.

Rồi các trận mưa đá dữ dội của quân Việt nã vào thành. Đá làm chết người, đá làm sụp đổ các công trình thành Ung Châu và bị đá vùi lấp. Cùng lúc đó những mũi tên có lửa bắn như bão táp vào thành. Nhà cửa, dinh thự, doanh trại trong thành bốc cháy. Trong thành không còn nước để chữa cháy. Lửa lan tràn khắp nơi. Quân Tống chết vô kể, xác chất đống trong thành. Hôm sau nữa, Lý Thường Kiệt nói với Tông Đản:

-Hôm nay cho lính đào chiến hào xuyên qua tường thành dưới lòng đất để đột kích vào thành.

-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.

Suốt 10 ngày quân Việt đào hào ngầm dưới móng ba tường thành và tiến vào đông như kiến cỏ. Tô Giám ra lệnh:

-Lấy gỗ và chất cháy đốt miệng hầm hun khói quân Việt sẽ chết.

-Dạ.

Quân Việt đang chui theo đường hầm để vào thành nhưng chưa đến nơi. Thốt nhiên khói lửa trùm kín các miệng hào phía trong thành. Sức nóng và đặc biệt là khói làm lính Việt chết tắc nghẽn trong các con hào.

Quân Việt không lấy được thành sau 30 ngày công phá nhưng thành Ung Châu cũng vô cùng nguy khốn, dân binh và quân sĩ chết quá nửa. Máy bắn đá và tên có chất cháy vẫn liên tục nã vào, và nạn thiếu nước uống, thiếu nước cứu hỏa đã làm Ung Châu kiệt sức. Tô Giám gọi tùy tướng Lưu Văn và bảo:

-Tướng quân cầm thư này vượt qua vòng vây theo đường sông Ung Giang đến Quế Lâm đưa cho tướng Trương Thủ Tiết đem quân cứu Ung Châu. Nói rằng nếu không có quân cứu viện, chỉ 5 hôm nữa Ung Châu sẽ thất thủ.

-Dạ.

 Lưu Văn đêm đó lặn qua sông Ung Giang thoát ra ngoài đến Quế Lâm đưa thư bọc sáp cho Trương Thủ Tiết xin cứu viện. Trương Thủ Tiết đọc thư rồi nói:

-Ta sẽ cứu Ung Châu.

-Đa tạ tướng quân.

Trương Thủ Tiết và các tùy tướng đem theo 2 vạn quân từ Quế Châu vòng theo đường Tân Châu, qua Côn Lôn tiến về Ung Châu.

Lý Thường Kiệt đang suy tính trận đánh thành tiếp theo thì thám mã từ hướng Bắc về báo:

-Dạ bẩm Phụ quốc Thái úy, Trương Thủ Tiết đem 2 vạn quân từ Quế Lâm về cứu Ung Châu.

-Chúng đi theo đường nào về Ung Châu?

-Dạ chúng đi từ Quế Lâm qua Tân Châu để đến Ung Châu.

-Cho gọi Thân Cảnh Phúc và Vi Thủ An đến hành dinh.

-Dạ.

Thân Cảnh Phúc và Vi Thủ An đến:

-Dạ bẩm Phụ quốc thái úy.

Lý Thường Kiệt nói:

-Phò mã và tướng quân đem 2 vạn quân đến mai phục ở Côn Lôn tiêu diệt 2 vạn quân của Trương Thủ Tiết đang từ Quế Lâm về cứu Ung Châu.

Thân Cảnh Phúc hỏi:

-Vì sao lại mai phục ở Côn Lôn ạ? Nhỡ chúng đi đường khác thì sao ạ?

-Từ Quế Châu mà đi theo đường Tân Châu thì chỉ có một con đường là đi qua Côn Lôn. Đây là nơi cực kỳ hiểm trở. Phò mã phải dùng phục binh mà đánh. Rõ chưa?

-Dạ, chúng mạt tướng tuân lệnh.

Thân Cảnh Phúc và Vi Thủ An dẫn 2 vạn quân tiến lên phía Bắc của Ung Châu khoảng 60 dặm thì đến một nơi núi non trùng điệp được gọi là Côn Lôn. Thân Cảnh Phúc và Vi Thủ An quan sát thì quả là nơi địa thế cực kỳ hiểm trở, giống như Qủy Môn Quan của Đại Việt ở Lạng Châu. Một con đường nhỏ đi giữa hai sườn núi, cây cối rậm rạp. Cạnh đường là một dòng suối chảy trong xanh róc rách, giang, tre, nứa bạt ngàn phủ xuống che lấp ánh mặt trời. Thân Cảnh Phúc nói với Vi Thủ An:

-Phụ quốc Thái úy thật là tài tình, chưa đến đây bao giờ sao biết Côn Lôn hiểm địa như thế này?

Vi Thủ An nói:

-Phụ quốc Thái úy đọc nhiều thì biết, thế mới gọi là Phụ quốc Thái úy.

Rồi hai tướng bố trí quân mai phục ở con đường độc nhất vô nhị ấy. Trương Thủ Tiết dẫn quân còn cách Côn Lôn hai dặm thì Đô giám Hồ Nam Trương Biện nói:

-Côn Lôn rất hiểm trở, tướng quân nên đề phòng quân Việt mai phục.

Trương Thủ Tiết cười nói:

-Đô giám quá lo xa, hành quân trên đất của mình mà lo bị mai phục. Yên tâm đi, quân Việt còn mải lo đánh Ung Châu. Phen này ta đến trong Tô Giám đánh ra, ngoài ta đánh vào, Lý Thường Kiệt chắc chôn xác ở đây. Ha!Ha!Ha!...

Liền bỏ qua lời nói của Đô giám Trương Biện, thúc quân vượt qua Côn Lôn. Khi 2 vạn quân Tống đã lọt hết vào đoạn đường tối om thì thốt nhiên bị những trận mưa tên từ hai bên sườn núi bắn xối xả, hàng nghìn quân Tống kêu lên và gục xuống. Tuần kiểm Hữu Dự kêu lên:

-Có mai phục, có mai phục.

Chưa dứt lời, Hữu Dự bị một phát tên trúng giữa mặt gục xuống ngã ngựa. Sau một canh giờ bắn tên, quân  Việt từ hai sườn núi tràn xuống chém giết những tên còn lại. 2 vạn quân Tống bị tiêu diệt. Các tướng Trương Thủ Tiết, Đề cử tả giang ôn Nguyễn Du, Đô giám Hồ Nam Trương Biện, Tuần kiểm các châu Liễu, Tân, Tương Vương Trấn đều bị giết tại trận.

Một buổi sáng mùa đông ở Biện Kinh tuyết rơi trắng xóa như bông đậu trên các mái cung điện mang một màu trắng tang tóc. Vua Tống Thần Tông ở đại điện đang thiết triều bàn về việc đối phó với quân Đại Việt đã vượt biên giới đánh vào đất Tống. Tống Thần Tông nói:

-10 vạn quân Việt do Lý thường Kiệt chỉ huy dám cả gan xâm phạm Đại Tống ta. Trong ái khanh, ai biết Lý Thường Kiệt là người thế nào mà cả gan như vậy?

Đại tư mã Lý Hiển tâu:

-Dạ, muôn tâu hoàng thượng, Lý Thường Kiệt là cháu 5 đời của Tiền Ngô Vương Ngô Quyền. Ông nội là Ngô Xương Xí, cha là Sùng Tiết tướng quân Ngô An Ngữ. Tên thật của Lý Thường Kiệt là Ngô Tuấn, sau được vua Lý ban cho quốc tính mới gọi là Lý Thường Kiệt. Lý Thường Kiệt do tài năng và tuấn tú nên được lấy làm nội quan, đã phục vụ cho ba triều vua nhà Lý. Thời Lý Thái Tông được phong Nội thị sảnh đô tri khi mới 35 tuổi. Dưới triều Lý Thánh Tông giữ chức Đổng hành quân hiệu úy, một chức võ quan cao cấp, thường ở cạnh Lý Thánh Tông, được thăng Kiểm hiệu thái bảo, có tài văn võ trị nước. Năm 1061, Lý Thường Kiệt có công phủ dụ và dẹp loạn người Man ở vùng núi Ái Châu, khi đó Lý Thường Kiệt  mới 43 tuổi. Năm 1069 Lý Thường Kiệt theo Lý Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành. Tự Lý Thường Kiệt đi tiên phong, bắt được vua Chiêm Thành Là Chế Củ. Chế Củ xin hàng, xin nộp ba châu giáp phía Nam Đại Việt để được tha. Lý Thường Kiệt được ban quốc tính, được phong Phụ quốc Thái phó, được gọi là Thiên nghĩa đệ. Năm 1072, Lý Thánh Tông qua đời, thái tử Lý Càn Đức mới 7 tuổi lên ngôi, đế hiệu là Lý Nhân Tông, Hoàng thái hậu Ỷ Lan nhiếp chính, phải dựa vào Lý Thường Kiệt. Lý Thường Kiệt được phong Phụ quốc Thái úy nắm cả quyền hành chính và quân sự. Đó thực là một trụ cột của Đại Việt ngày nay. Bẩm hoàng thượng.

Tống Thần Tông chưa biết quyết thế nào thì có quan nội thị vào báo:

-Bẩm hoàng thượng, có thám mã từ Quảng Nam Tây Đạo về cấp báo.

-Cho vào ngay.

-Dạ.

Thám mã vào quỳ hành lễ và nói:

-Dạ ,bẩm hoàng thượng, Khâm Châu và Liêm Châu, hai căn cứ thủy quân quan trọng chuẩn bị để đánh Đại Việt đã bị Lý Thường Kiệt đánh phá tan hoang, 4 vạn quân chết, các tướng hoặc đã bị bắt hoặc đã tử trận, toàn bộ lương thực vũ khí, thuyền bè đã bị quân Việt lấy đem về nước. Thành Khâm Châu và Liêm Châu đã bị quân Việt san bằng.

Tống Thần Tông kinh ngạc:

-Hả, Trần Vĩnh Thái và Lỗ Khánh Tông phòng thủ và chống cự như thế nào vậy hả?

-Dạ bẩm hoàng thượng, Trần Vĩnh Thái và các tùy tướng bị bắt, Lỗ Khánh Tông cùng các tùy tướng hi sinh ở thành Liêm Châu, 1 vạn quân ta bị bắt làm tù binh.

Nội quan lại bước vào:

-Dạ , bẩm hoàng thượng có thám mã từ Ung Châu về cấp báo.

-Cho vào.

Thám mã vào quỳ hành lễ và nói:

-Dạ, bẩm hoàng thượng, 10 vạn quân Việt đang vây hãm và đánh phá thành Ung Châu. Tướng Trương Thủ Tiết đem 2 vạn quân từ Quế Lâm đi cứu Ung Châu, bị quân Việt mai phục ở Côn Lôn, 2 vạn quân và 5 tướng lĩnh đã hy sinh. Ung Châu đang vô cùng nguy ngập. Dạ, bẩm hoàng thượng.

Tống Thần Tông tức giận đập bàn:

-Đã 30 ngày kể từ lúc quân Việt tràn qua biên giới mà bây giờ tin tức mới tới triều đình. Làm thế nào để cứu được Ung Châu đây hả?

Vương An Thạch nói:

-Dạ, bẩm hoàng thượng, nên cử Triệu Tiết, Quách Quỳ đem 30 vạn quân tiến đánh Đại Việt, Lý Thường Kiệt phải đem quân về phòng thủ tất giải vây được Ung Châu.

Tống Thần Tông nói:

-Miền Bắc xa hàng vạn dặm, khi vào được Đại Việt thì thánh Ung Châu đã mất. Nhưng thôi, cũng không có cách nào khác. Truyền chỉ cho Triệu Tiết, Quách Quỳ đem 30 vạn quan tấn công Đại Việt để nhập vào bản đồ nhà Tống ta, thứ nữa may ra cứu được Ung Châu.

Các đại thần đều quỳ xuống:

-Hoàng thượng anh minh. Chúng thần tuân chỉ.

-Bãi triều.

Trong khi đó chiến trường Ung Châu nóng lên hầm hập giữa mùa đông. Tuy nhiên quân Việt chỉ vây mà ngừng bắn tên và đá vào thành, phần để tiết kiệm, phần là chờ Lý Thường Kiệt tìm ra cách mới để công thành có hiệu quả. Một buổi sáng Lý Thường Kiệt đang ngồi trong bản doanh tìm cách mới phá thành thì thám mã từ phương Bắc về báo:

-Dạ, bẩm Phụ quốc Thái úy, vua Tống đang điều động 30 vạn quân do Triệu Tiết, Quách Quỳ chỉ huy sẽ tấn công vào Đại Việt để chiếm nước ta và giải vây cho Ung Châu.

Lý Thường Kiệt nói:

-Tin tức quan trọng. Ngươi làm tốt lắm, cho đi nghỉ ngơi và ăn cơm.

-Dạ, đa tạ Thái úy.

-Người đâu.

-Da, bẩm Phụ quốc Thái úy.

-Đi mời Thân Cảnh Phúc, Tông Đản và tất cả các tướng đến Tổng hành dinh ngay.

-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.

Khi Tông Đản và các tướng đã đông đủ, Lý Thường Kiệt nói:

-Thám mã vừa về báo, hiện Tống Thần Tông đang điều động 30 vạn quân do Quách Quỳ và Triệu Tiết chỉ huy sẽ tiến vào Đại Việt để chiếm nước ta và giải vây cho Ung Châu. Tình hình trên buộc ta phải tấn công hạ Ung Châu càng nhanh càng tốt để rút quân về phòng thủ bảo vệ đất nước. Các tướng nghe lệnh đây:

-Thang mây trèo thành dễ bị đốt cháy, thương vong nhiều, đào hào ngầm cũng bị hỏa công thương vong nhiều. Bây giờ dùng hàng vạn bao đã hết lương thực đổ cát vào buộc lại và xếp thành bậc thang cao bằng mặt thành để quân ta treo lên tấn công. Phò mã Thân Cảnh Phúc đắp bậc ở phía Đông thành, Tướng quân Hoàng Kim Mãn đốc thúc quân đắp bậc ở phía Nam thành, tướng quân Tông Đản đem máy bắn đá và các cung thủ yểm trợ cho quân lính đắp bậc thang và yểm trợ khi họ tấn công lên mặt thành, kiên quyết tiêu diệt những tên lính trên mặt thành, không cho chúng đổ chất cháy hoặc bắn tên xuống.

-Chúng mạt tướng tuân lệnh chủ soái.

Suốt năm ngày, quân Việt xúc cát đổ vào bao gai vốn là vỏ đựng gạo, nay đựng cát và đắp thành bậc cao ở hai mặt tường thành. Quân Tống trên mặt thành cứ xuất hiện để đổ chất cháy hoặc bắn tên xuống là bị quân Việt bắn chết. Thực ra, trong thành Ung Châu , mọi thứ kể cả cung tên và chất cháy cũng đã cạn kiệt. Quân Tống chết gần hết vì tên độc, vì đá, vì bị cháy và bây giờ chết khát. Trong thành cạn kiệt nguồn nước uống, nước thổi cơm, nấu ăn, không còn đủ sức ngăn chặn quân Việt đắp thang cát. 5 ngày sau, hai thang cát đã cao lên mặt thành. Lý Thường Kiệt ra lệnh:

-Phò mã Thân Cảnh Phúc cho quân đánh mặt thành phía Đông, tướng quân Hoàng Kim Mãn cho quân đánh mặt thành phía Nam. Nhớ chiếm được mặt thành phải xuống mở cổng thành cho đại quân xông vào, thứ hai khi trèo lên cho tù binh Tống đi đầu để lính Tống không dám bắn.

-Chúng mạt tướng tuân lệnh.

-Tướng quân Vi Thủ An chuẩn bị để khi cổng thành mở ra phải dẫn đại quân xông vào thành.

-Mạt tướng tuân lệnh.

-Tướng quân Tông Đản, khi quân ta đang leo lên thành thì ở dưới phải dùng máy bắn đá và cung tên yểm trợ. Khi cổng thành mở thì dẫn đại quân xông vào.

-Mạt tướng tuân lệnh.

Thế rồi ở hai mặt tường thành, những tù binh Tống bị ép đi trước leo lên thang cát, quân Việt đông như kiến cỏ leo theo sau. Khi đã đến mặt thành, quân Việt như thác đổ. Trên mặt thành quân Tống chống cự yếu ớt do bị tên thường, tên lửa và máy bắn đá khống chế. Khi quân Việt tràn lên mặt thành thì quân Tống không dám bắn vì vướng tù binh người Hoa, còn đang lúng túng thì quân Việt đã tràn vào thành chém giết. Gươm giáo chạm nhau tóe lửa, tiếng reo hò kinh thiên động địa, tiếng kêu thất thanh của quân Tống bị đâm chém. Trận chiến thật là kinh hoàng, thịt rơi máu đổ, lửa khói ngút trời. Quân Việt đã chạy xuống, giết lính gác, mở toang cổng thành ba phía, 10 vạn quân Việt lao vào như từ trên trời sa xuống, như từ dưới đất chui lên. 5 vạn quân lính và dân binh Tống trong thành gục đổ. Thành Ung Châu hoàn toàn thất thủ sau 30 ngày cố thủ ngoan cường.

Tô Giám biết đại sự đã tan hoang, vội chạy về nhà mình, liền tự tay giết cả nhà 36 mạng người rồi nhảy vào lửa mà chết. Quả là một dũng tướng kiên cường và trung thành với nhà Tống đến hơi thở cuối cùng. Lý Thường Kiệt triệt phá toàn bộ thành Ung Châu. Ung Châu chỉ còn là bãi đất đầy khói lửa hoang tàn. Lưỡi dao sắc nhất, to nhất để đâm vào Đại Việt đã bị bẻ gãy. Lửa thành Ung Châu cháy bảy ngày bảy đêm mới tắt. Sau đó quân Việt theo đường bộ rút về nước. Mùa đông, quân đi, gió thổi, cờ bay, bụi cuốn. Bách tính Tống đứng đầy hai bên đường úy lạo, lấy tay gạt nước mắt tiễn đưa. Đạo quân Việt đã trừng phạt tội ác của nhà Tống chồng chất đối với người dân, đặc biệt đối với các dân tộc thiểu số ở Quảng Nam Tây Lộ  kể từ khi lãnh thổ Lĩnh Nam của họ bị Tần Thủy Hoàng xâm chiếm.

II

Ngày 8 tháng 1 năm 1077, cửa biển Khâm Châu thuộc Quảng Nam Tây Lộ chìm dưới bầu trời mùa đông u ám giá lạnh, rét cắt da cắt thịt. Sóng lừng từ biển mênh mông đen kịt vỗ vào mạn hàng trăm chiến thuyền tung bọt trắng xóa. Trời như liền với biển một màu xam xám. 

Trái với sự u ám của mùa đông, hải cảng Khâm Châu tấp nập bởi 400 chiến thuyền và 5 vạn quân Tống chuẩn bị xuất phát theo đường biển tiến đánh Đại Việt. Từng chiếc thuyền to lừng lững, cờ vàng trên cột buồm viết chữ “Đại Tống” tung bay theo gió. Quân lính đứng chật cả thuyền, vũ khí tua tủa sáng loáng. Viên tướng đứng trên lâu thuyền ra lệnh xuất phát. Đi tiên phong là tướng Hòa Mân, đi trung quân là chủ soái đạo thủy binh Dương Tùng Tiên. Lâu thuyền cao lắc lư theo sóng, trên là lá cờ vàng đề chữ “Soái” bay phấp phới. Đi hậu quân là đoàn thuyền lương chở 10 vạn hộc lương thực do tướng Tô Tử Nguyên đốc chiến. Đoàn thuyền đi hàng dọc, đè sóng tiến lên với sức đẩy của sức chèo và sức đẩy vào cánh buồm của gió nên thuyền lướt như bay trên biển. Bách tính Khâm Châu đứng trên bờ nhìn đoàn thuyền ngao ngán lắc đầu:

-Lại chiến tranh.

-Đánh nước nào vậy? Chiêm Thành hay Đại Việt?

-Nghe nói đánh Đại Việt.

-Không học được bài học năm xưa của Hầu Nhân Bảo sao?

-Dân tình đói khổ không cứu giúp, lại phung phí vàng bạc vào cuộc chiến tranh bất nghĩa tốn kém.

-Đánh thế nào được Đại Việt, bên đó có Tể tướng Lý Thường Kiệt, đã đánh Khâm Châu, Liêm Châu, Ung Châu mà Tống Thần Tông bó tay ngay trên đất mình. Lần này lại chuốc lấy thất bại nhục nhã thôi.

-Hàng chục vạn con em ta lại chết oan rồi, than ôi!!!

Đạo thủy quân đi được nửa ngày trời, Dương Tùng Tiên hỏi tên hướng đạo:

-Đây là đâu?

-Dạ, bẩm tướng quân, chúng ta đã tiến vào biển châu Yên Bang, lộ Hải Đông của Đại Việt, sắp vào phía Bắc đảo Vân Đồn và quần đảo Bái Tử Long.

Dương Tùng Tiên nói:

-Biển của Đại Việt quá đẹp, đúng là bõ công chinh phạt mà chiếm lấy.

Chợt phía trước mũi thuyền của quân Tống, xuất hiện hàng trăm chiến thuyền nhỏ của quân Việt, chèo như bay tấn công vào đội hình thuyền Tống. Quân Tống đi hàng dọc nên bị những chiến thuyền Việt đánh tạt ngang sườn. Quân Việt bắn tên có lửa sang thuyền Tống. Thuyền Tống to và nặng nề khó vận động, khó tránh, hàng nghìn lính đã chết và 60 chiến thuyền đã cháy. Dương Tùng Tiên ra lệnh:

-Dàn thành đội hình chiến đấu!

300 chiến thuyền liền dàn hình tam giác mà mũi nhọn đi đầu, hai cạnh hai bên bảo vệ cho lâu thuyền chủ soái và đoàn thuyền lương thực, hậu quân là cạnh đáy bảo vệ phía sau. Dù vậy, thuyền quân Tống di chuyển rất chậm. Trong những ngày sau đó, thủy binh Tống bị chiến thuyền Việt chặn đánh 8 trận. Quân Tống thiệt hại thêm 8 thuyền và hàng nghìn binh sĩ. Dương Tùng Tiên rất tức giận với lối đánh du kích của thủy binh Việt. Y nói với viên tùy tướng:

-Bọn thủy binh của Lý Thường Kiệt chẳng qua cũng chỉ là đàn chuột nhắt nhát gan, không dám dàn trận đánh hẳn hoi đàng hoàng.

Thuyền chiến Tống sắp tiến vào biển Vân Đồn, được gọi là sông Đông Kênh. Con đường thủy này có thể gọi là “Quỷ Môn Quan” dưới nước. Bên phía Tây là bờ biển làng mạc, bên phía Đông dòng nước là các đảo, giữa là dòng nước hẹp cho thuyền bè qua lại. Tên hướng đạo nói:

-Bẩm tướng quân, chúng ta sắp tới Vân Đồn, địa thế rất hiểm yếu, phải đề phòng có mai phục.

Mai phục thì cũng phải đi qua để vào được sông Cầu chở 15 vạn bộ binh, kỵ binh của chủ soái Quách Quỳ qua sông để tiến đánh Thăng Long. Ta không vào được, lỡ kế hoạch, ta và các ngươi có chịu nổi lưỡi gươm hình phạt giáng vào cổ không? Vả lại không tiến lên thì ta là đồ nhát gan, còn mặt mũi nào mà làm tướng nữa. Lại còn 10 vạn hộc lương thực không vào được sông Cầu, 15 vạn quân đói khát, còn nói gì đến đánh thắng đây?

Tô Tử Nguyên nói:

-Chủ tướng nên cho 2 vạn quân lên bờ bảo vệ mặt Tây, vượt qua sông Đông Kênh rồi đón họ lên thuyền cũng chưa muộn.

Hòa Mân nói:

-Nên dàn đội hình đi ba hàng dọc, lương thực và thuyền chủ soái đi giữa, thuyền chiến đi hai bên bảo vệ.

Dương Tùng Tiên nói;

-Hai tướng quân nói phải lắm. Tướng quân Tô Tử Nguyên.

-Có mạt tướng.

-Tướng quân chỉ huy hai vạn quân đổ bộ lên bờ, bảo vệ thuyền chiến và đánh quân mai phục nếu có.

-Dạ, mạt tướng tuân lệnh.

-Tướng quân Hòa Mân.

-Dạ, có mạt tướng.

-Ta ra lệnh dàn binh thuyền đi ba hàng dọc, bản tướng quân đi giữa chỉ huy, tướng quân đi sau đốc chiến.

-Mạt tướng tuân lệnh.

Rồi ghé thuyền vào chỗ gần bờ, Dương Tùng Tiên đổ 2 vạn quân lên bờ, bảo vệ phía Tây cho đoàn binh thuyền. Sau đó chiến thuyền Tống đi thành ba hàng dọc tiến vào sông Đông Kênh, Vân Đồn, châu Yên Bang, lộ Hải Đông.

Khi binh thuyền Tống đã lọt hết vào sông Đông Kênh, thốt nhiên bị hàng trăm chiến thuyền Việt chặn đánh phía trước. Tên có lửa bay như sao sa bắn vào chiến thuyền quân Tống. Ở phía Đông, trên các đảo quân Việt dùng máy bắn đá, tên có lửa, tên không lửa dội như mưa vào chiến thuyền quân Tống. Thuyền Tống bốc cháy ngùn ngụt, hàng nghìn thủy binh chết gục trên thuyền hoặc xác lăn xuống biển. Trên bờ phía Tây, 2 vạn lính thủy đi bộ cũng bị phục binh Việt bắn tên, sau đó xông ra chém giết. Phút chốc, 2 vạn quân Tống chết quá nửa, số còn lại vội tháo chạy xuống thuyền. Trong khi đó, máy bắn đá của quân Việt trên bờ nã như mưa xuống thuyền quân Tống. Không cần chờ lệnh của Dương Tùng Tiên, số chiến thuyền đi sau do Hòa Mân chỉ huy vội quay đầu và chạy ngược lại hướng Bắc thoát thân. Dương Tùng Tiên cũng vội bỏ đoàn thuyền lương và hàng vạn quân sĩ mở đường máu chạy ra biển chạy thoát. Đạo thủy binh Tống hầu hết bị tiêu diệt với 4 vạn quân, còn khoảng 100 chiến thuyền mấy ngày sau Dương Tùng Tiên mới tập trung lại được rồi về biển Khâm Châu cố thủ. Dương Tùng Tiên hỏi một tùy tướng:

-Tướng thủy sư Đại Việt nào vừa đánh bại ta vậy?

Viên tùy tướng đáp:

-Dạ, đó là tướng Lý Kế Nguyên, dòng dõi hoàng tộc nhà Lý.

Dương Tùng Tiên thở dài:

-Có Lý Thường Kiệt, lại có Lý Kế Nguyên, chủ soái Quách Quỳ phen này lại bại trận rồi. Chúng ta đã quên bài học của Hầu Nhân Bảo năm 981 rồi. Than ôi!!!

Rồi Dương Tùng Tiên cùng các tùy tướng nằm chờ vua Tống xử theo quân luật trong nổi buồn trên bờ biển Khâm Châu…

*    *

   *

Cùng ngày 18-1-1077, trong khi đạo thủy binh Tống do Dương Tùng Tiên chỉ huy đang rời cảng Khâm Châu thì trên bộ 10 vạn quân chiến đấu, 20 vạn phu phen vác lương thực do Quảng Nam Tuyển Phủ Sứ Quách Quỳ làm chủ soái, Ngoại lang bộ lại Triệu Tiết làm phó soái đã tiến đến gần biên cương Đại Việt. Quách Quỳ và Triệu Tiết đi trung quân, Yên Đạt, Trương Thế Cự đi tiên phong, Vương Mân, Lý Tường, Tư Kỷ đi hậu quân, Miêu Lý, Vương Tiến đi tả hữu trung quân. Khắp không gian biên cương hai nước núi non trùng điệp cao thấp đủ hình thù, chỉ giống nhau là cùng một màu xanh xám màu cây lá và trắng xóa màn sương mong manh. Vài đàn chim chao cánh trên nền trời xám. Quân đi rùng rùng, gươm giáo sáng lòa, cờ vàng rợp trời đất, hàng vạn con ngựa khua móng vang động trên đường, cất tiếng hí vang lừng, cát bụi chinh yên bay mù mịt.

Quách Quỳ đang suy nghĩ mông lung trước mùa chiến tranh u ám, bỗng có thám mã của đạo tiên phong về báo:

-Bẩm chủ soái, bắt đầu vào đất của Đại Việt, vào quan ải đầu tiên là ải Quyết Lý. Quân Đại Việt bắt đầu chiến đấu chống lại. Đại tướng Tư Kỷ đang giao chiến với địch.

Quách Quỳ hỏi:

-Cờ của chủ soái quân Việt mang tên gì?

-Dạ, bẩm chủ soái, cờ mang chữ “Phò mã áo chàm Thân Cảnh Phúc”.

Quách Quỳ nói:

-Đó không phải là quân chủ lực của Lý Thường Kiệt, đó là dân binh người Tày do Thân Cảnh Phúc chỉ huy.

Quách Quỳ hỏi Triệu Tiết:

-Sao Thân Cảnh Phúc là người Tày lại được phong phò mã?

Triệu Tiết đáp:

-Nhà Lý của Đại Việt thường gả công chúa cho các tù trưởng người dân tộc để họ trung thành và giữ biên cương cho triều đình. Thân Cảnh Phúc nay là Tri Lạng Châu. Họ Thân đã ba đời là phò mã nhà Lý, rất trung thành với triều đình Đại Việt.

Quách Quỳ bảo tên thám mã:

-Bảo tướng Tư Kỷ đánh mạnh vào, quân ta đông phải áp đảo để tiêu diệt Thân Cảnh Phúc.

-Dạ, tuân lệnh chủ soái.

Quân Viêt đã diệt hàng nghìn tên địch do dùng cung nỏ bắn từ xa nhưng thế giặc rất mạnh, Thân cảnh Phúc phải lui về giữ ải Chi Lăng. Quân Tống do Tư Kỷ chỉ huy tấn công vào ải. Một cánh quân khác do Yên Đạt, Thế Cự đi vòng phía Tây núi Cai Kinh đánh phía sau. Quân Việt trên sườn núi dùng cung nỏ và máy bắn đá tiêu diệt quân Tống, dùng 100 thớt voi xung trận. Quân Tống bị thiệt hại khoảng 5000 quân. Nhưng địch quá đông. Thám mã về báo cho Thân Cảnh Phúc:

-Dạ bẩm Tri châu, quân Tống đang vòng sau núi Cai Kinh chuẩn bị bao vây chúng ta.

Thân Cảnh Phúc ra lệnh:

-Tất cả rút về động Giáp để đánh du kích tiêu hao sau lưng quân địch, hỗ trợ cho Phụ quốc Thái úy ở mặt trận sông Cầu.

Thân Cảnh Phúc rút khỏi ải Chi Lăng nhưng với khoảng 1, 5 vạn dân binh tiến hành đánh phá sau lưng địch là một nỗi kinh hoàng cho Quách Quỳ sau này.

Quách Quỳ và Triệu Tiết tiến xuống Vũ Ninh, trên đường đi lại có thám mã về báo:

-Dạ, bẩm chủ soái, cánh quân của đại tướng Nhâm Khởi đã từ Châu Yên Bang đánh lên Tô Mậu, thủ lĩnh Vi Thủ An đã đầu hàng quân ta. Nhâm Khởi đã tiến xuống hữu ngạn sông Lục Nam và đến núi Nham Biền, bảo vệ cánh hữu của quân ta.

Quách Quỳ nói;

-Tốt lắm.

Lại có thám mã về báo:

-Dạ bẩm chủ soái, cánh quân của đại tướng Khúc Trân đã vào châu Quảng Nguyên, đánh xuống Môn Châu, thủ lĩnh Hoàng Kim Mãn, Lưu Kỷ, Sầm Khánh Tân đã đầu hàng quân ta. Tướng Khúc Trân đang tiến xuống bảo vệ sườn cánh tả cho chủ soái.   

Quách Quỳ nói:

-Tốt lắm, các phòng tuyến 1 và 2 của Lý Thường Kiệt đã sụp đổ. Chờ thủy binh tới ta sẽ vượt sông Cầu, đập nát phòng tuyến cuối cùng của Đại Việt, tiến thẳng vào Thăng Long. Ha!ha!ha!...

Quân Tống tràn xuống bờ Bắc sông Cầu, nhằm vào đoạn dễ vượt sông nhất là đoạn sông Như Nguyệt và hồ Vạn Xuân ở phía Đông. Trong khi chờ thủy binh tới, Quách Quỳ cho đóng quân thành hai doanh trại tạo thế ỷ dốc để hỗ trợ cho nhau. Hành doanh thứ nhất ở về phía Tây khoảng 5 vạn quân và 5000 ngựa, đóng trên đất Hiệp Hòa do phó soái Triệu Tiết chỉ huy. Doanh trại phía Đông gồm 4 vạn quân, 5000 ngựa, cách trại Triệu Tiết 60 dặm. Khoảng cách giữa hai doanh trại có hai cứ điểm trên đồi cao là đồi Phượng Hoàng và núi Tiên, mỗi cứ điểm 2000 quân, hỗ trợ và thông báo tình hình cho hai bản doanh.

Sau khi ổn định quân doanh, Quách Quỳ cùng các tùy tướng đi đến bờ Bắc sông Cầu thị sát phòng tuyến bờ Nam của quân Đại Việt. Quách Quỳ và các tùy tướng thấy đó là một bức thành đắp bằng đất sét nén chặt như một con đê cao sừng sững, chạy dài từ Chân núi Tam Đảo đến bến Vạn Xuân ở phía Đông, gần sát với sông Lục Đầu. Phòng tuyến này dài 200 dặm, che chắn toàn bộ phía Bắc Thăng Long và toàn bộ vùng đồng bằng sông Hồng của Đại Việt. Trên thành, Lý Thường Kiệt còn cho đóng tre thành nhiều tầng, dưới bãi sông bùn lầy là những chông tre và sắt nhọn nhô lên tua tủa, không cho quân Tống bơi sông mà lội vào được. Trên mặt chiến lũy, Quách Quỳ và các tùy tướng còn thấy 10 doanh trại quân Việt, cờ bay phấp phới, vũ khí tua tủa, có cả máy bắn đá sẵn sàng nhả đạn. Giữa các trại lính là một doanh trại lớn màu xanh, trên nóc có lá cờ đề chữ “Soái” đang bay phấp phới. Quách Quỳ biết đó là Tổng hành doanh của Lý Thường Kiệt, một con người đã làm chấn động Trung Hoa và triều đình nhà Tống bởi cuộc hành quân “Tiên phát chế nhân” cuối năm 1075, cho đến nay, triều đình nhà Tống vẫn còn kinh hoàng khiếp đảm. Quách Quỳ nhìn xa xa. Hồ Vạn Xuân và sông Lục Đầu Giang tận chân trời phía Đông Nam, thấp thoáng bóng cờ và thuyền chiến của thủy binh Đại Việt, nghe nói do hai hoàng tử nhà Lý là Hoằng Chân và Chiêu Văn, con của Lý Thái Tông chỉ huy. Quách Quỳ quan sát kỹ chiến lũy và chiến thuyền của quân Việt, thốt nhiên một nỗi lo sợ nung nấu làm toàn thân Quách Quỳ muốn khịu xuống, trái tim bỗng đau thắt khó thở. Quách Quỳ biết ông được Tống Thần Tông tín nhiệm cử đến chiến trường Đại Việt là một điều không may rồi, trách nhiệm quá nặng nề, khó có thể hoàn thành, thậm chí còn bỏ mạng như Hầu Nhân Bảo ngày xưa.

Quá nóng lòng chờ thủy binh đến để vượt sông, chợt thám mã từ miền Đông Bắc về báo cho Quách Quỳ:

-Bẩm chủ soái, không hay rồi, Đạo thủy binh của tướng Dương Tùng Tiên đã bị tướng Lý Kế Nguyên của Đại Việt đánh bại, còn vài chục chiến thuyền, 1 vạn quân rút về Khâm Châu cố thủ rồi ạ.

Quách Quỳ kinh hoảng:

-Hả, có đúng không, thế còn đoàn thuyền lương ở đâu?

-Dạ, tin chính xác ạ. Đoàn thuyền lương đã bị quân Việt đánh lấy hết rồi ạ.

-Bị phục binh ở đâu?

-Dạ, ở đảo Vân Đồn, người Việt gọi là sông Đông Kênh ạ.

Quách Quỳ nổi giận:

-Thằng Tiên sao ngu vậy, sao không vòng ra biển xa tránh con sông đó rồi vòng vào sông Bạch Đằng mà đi, lại còn chui vào “Quỷ Môn Quan” đó làm gì?

-Dạ, mạt tướng không rõ ạ.

-Cút.

-Dạ.

Quách Quỳ biết không có thuyền vượt sông nữa, 10 vạn hộc lương cũng mất, bèn suy nghĩ cách vượt sông tiến đánh bờ Nam phòng tuyến quân Việt để nhanh chóng tiến về Thăng Long. Nếu chiến tranh kéo dài, quân Tống sẽ chết đói và sẽ thất bại. Thấy chủ soái lao tâm suy nghĩ, Vương Tiến nói:

-Bẩm chủ soái, mạt tướng sẽ đem quân đánh phía Như Nguyệt, thu hút sự chú ý của quân Việt để tướng quân Miêu Lý vượt phòng tuyến ở gần Tam Đảo, nơi quân Việt có thể sơ hở.

Quách Quỳ nói:

-Thôi cũng đành thử xem.

Vương Tiến đóng bè bằng tre, dùng 5000 quân đánh vào đoạn sông Như Nguyệt trong đêm. Quả nhiên đã thu hút quân Việt hai trại gần đó về hướng quân Tống tấn công. Tên đạn, máy bắn đá của quân Việt bắn trả quyết liệt. 5000 quân Vương Tiến chết quá nửa dưới sông. Dựa thời cơ đó, 2000 quân Tống đi bè sang, dùng thang có mấu sắt quăng thang lên phòng tuyến mà trèo lên. 2000 quân tràn sang bờ Nam. Miêu Lý ra lệnh:

-Tiến về Thăng Long thì sẽ lập công lớn.

-Dạ, tuân lệnh chủ tướng.

Nhưng quân Miêu Lý đã bị quân Việt phát hiện và bị truy kích. 2000 quân Tống lạc đường đến Yên Phụ thì bị dân binh đổ ra đánh tiêu diệt hết. Một mình Miêu Lý mở đướng máu thoát, bơi qua sông Cầu trở về được doanh trại. Tổng cộng cuộc tập kích này quân Tống thiệt hại 7000 quân.

Sau thất bại, Quách Quỳ biết chỉ đưa vài nghìn quân sang thì như muối bỏ biển, có qua được phòng tuyến mà lạc đường cũng bị dân binh Việt tiêu diệt hết. Cần một lúc đưa ít nhất 4 vạn quân mới có thể tiến về Thăng Long được. Nghĩ vậy, Quách Quỳ bèn sai đóng bè lớn, mỗi bè chở 500 quân. Khi đóng xong 100 bè, quân Tống ào ạt sang sông, đến giữa sông thì bị máy bắn đá của quân Việt nã xuống. Hàng chục bè trúng đá, vỡ tan, lính Tống bị đá dập đầu dập mặt lăn xuống sông mà chết. Những số lính vào được gần bờ thì bị cung nỏ bắn gục, số lên mặt thành bên ngoài bám vào lũy tre thì bị gươm giáo quân Việt đâm từ trong ra rơi xuống sông. Phía bờ Bắc, bè quân Tống sang tiếp sức không kịp, thành ra số quân Tống sang được bờ Nam bị giết gần hết. Tiếng trống thúc dục liên hồi, tiếng reo hò kinh thiên động địa. Dòng sông Cầu máu đỏ lừ, cuộn sóng và xác chết. Quân Tống chưa gặp trận đánh thành nào mà khủng khiếp như vậy. Cuộc tập kích lần thứ 2 coi như hoàn toàn thất bại. Quân Tống chết hơn 1 vạn tên. Quách Quỳ biết rằng không thể vượt sông mà phá chiến lũy được, lui quân về trại và ra lệnh:

-Ai còn bàn đến đánh sẽ chém!

Chiến tranh kéo dài 2 tháng đẩy quân Tống đến chỗ khó khăn, suy yếu. Quân Tống đau ốm do khí hậu không thích hợp, thương binh không thuốc men, đặc biệt là nạn thiếu và nguy cơ hết lương thực cho quân chiến đấu và cho cả phu phen khuân vác. Một người lính chiến đấu thì hai phu khuân vác và ba người cùng ăn, thiếu lương thực thức ăn của 10 vạn quân chiến đấu, 20 vạn dân phu, cho 1 vạn con ngựa. Sau lưng quân Tống bị chiến tranh du kích của các dân binh của các tù trưởng và Thân Cảnh Phúc tiêu hao. Lý Thường Kiệt nắm rõ tình hình và biết đã đến thời cơ dáng cho quân Tống những đòn chí mạng buộc phải rút quân về. Lý Thường Kiệt ra lệnh cho hai hoàng tử Chiêu Văn và Hoằng Chân đem 2 vạn thủy binh và thuyền chiến từ căn cứ Vạn Xuân tiến lên Như Nguyệt tấn công vào doanh trại của Quách Quỳ để thu hút sự chú ý của doanh trại Tiệu Tiết. Trong khi đó, Lý Thường Kiệt trực tiếp chỉ huy cuộc tấn công vào doanh trại Tiệu Tiết. Quân của Hoằng Chân và Chiêu Văn đổ bộ lên bờ Bắc vào ban đêm đánh vào doanh trại Quách Quỳ. 2 vạn quân bất ngờ lao vào chém giết quân Tống. Tiếng reo hò kinh thiên động địa, tiếng dao kiếm va chạm nhau phát ra tiếng kêu lạnh lùng, tóe lửa. Quân Việt ban đầu chiếm ưu thế nhưng sau Hoằng Chân bị trọng thương. Các tùy tướng vừa đánh vừa mở đường máu đưa Hoằng Chân xuống thuyền. Quân Việt do đó cũng lùi dần xuống thuyền và rút lui. Chưa kịp rút thì thuyền của hai hoàng tử bị thuyền địch đâm chìm. Hai hoàng tử Hoằng Chân và Chiêu Văn hy sinh vì nước.

Trong thời gian đó, Lý Thường Kiệt dùng 4 vạn quân đổ bộ lên bờ Bắc bất ngờ tấn công doanh trại của Triệu Tiết. Triệu Tiết đang tập trung theo dõi chiến sự phía Đông thì bất ngờ bị bao vây tấn công bốn phía, quân Tống hoảng loạn bị chém giết mà chống cự thì yếu ớt. Tiếng reo hò vàng động, tiếng la hét của quân Tống thảm thiết, tiếng trống, tiếng tù và vang động rung trời chuyển đất. Quân Tống đại bại, bị chết mất 7/10 quân số, xác chết thành gò đống để hàng trăm năm sau vẫn được gọi là cánh đồng xác.

Đêm đó, khi quân Việt đã rút về phòng tuyến Nam sông Cầu thì quân Tống ở hai doanh trại còn đang kinh hoàng trong máu và xác chết, bỗng nhiên trên không trung vang rền tiếng đọc của thần thánh rành rọt những vần thơ vang động trong không gian, vang động bầu trời.

“Nam Quốc Sơn hà Nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”. 

Nghĩa là:

Sông núi nước Nam vua Nam ở

Rành rành định phận ở sách trời

Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm

Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.

Khi nghe đọc, ở hai doanh trại của Quách Quỳ và Triệu Tiết, cả quan và quân hốt hoảng chạy ra ngó lên trời. Lời đọc oai nghiêm sang sảng vang vọng không trung, lại như vọng ra từ đền thờ Trương Hống, Trương Hát là hai anh em cũng là hai tướng tài, là những trung thần của triều đại Triệu Việt Vương thời nước Vạn Xuân. Toàn bộ quân Tống đều kinh hoàng và hoảng loạn, không còn tâm trí nào muốn ở lại nữa.

Sớm hôm sau, Quách Quỳ cho mời Triệu Tiết sang bản doanh. Khi hai người đã xong một lượt trà, Quách Quỳ nói:

-Không có thủy binh vượt sông, chiến lược tốc chiến tốc thắng không thực hiện được, chiến tranh kéo dài khiến chúng ta lâm vào tình trạng hết sức khó khăn. Phó chủ soái có kế sách gì hay không?

Triệu Tiết đáp:

-Mạt tướng đã điểm lại, chúng ta đem sang đây 10 vạn quân, giờ chỉ còn khoảng 3 vạn, 20 vạn phu nay chỉ còn 10 vạn, 1 vạn ngựa chiến nay chỉ còn hơn 3000 con, lương thực chỉ còn đủ dùng trong 5 ngày. Như vậy, chúng ta không thể đủ sức phòng ngự chứ đừng nói đến tấn công. Nếu Lý Thường Kiệt tấn công chúng ta sẽ bị tiêu diệt hoàn toàn, mạt tướng và chủ soái sẽ bỏ thân ở đây là điều chắc chắn. Cho nên, mạt tướng mạnh dạn đề đạt chủ soái rút quân về nước càng sớm càng hay.

Quách Quỳ nói:

-Phó soái nói chính hợp ý ta nhưng rút lui là thừa nhận thua trận, quân đội, chúng ta và triều đình Tống sẽ mất danh dự.

Cả Quách Quỳ và Triệu Tiết không biết trả lời bài toán khó khăn đó như thế nào? Không rút thì bị tiêu diệt, rút thì mất danh dự. Làm thế nào bây giờ? Đang lúc Quách Quỳ và Triệu Tiết đau đầu nhức óc thì có tùy tướng vào báo:

-Dạ bẩm chủ soái, có sứ giả của Lý Thường Kiệt muốn vào gặp.

-Cho vào ngay.

-Dạ.

Một tùy tướng mang quân phục Đại Việt bước vào thi lễ:

-Xin chào nhị vị tướng quân

-Xin chào tướng quân

-Tôi vâng lệnh Phụ quốc Thái úy chuyển cho nhị vị tướng quân bức thư.

Tùy tướng Tống nhận thư, chuyển cho Quách Quỳ. Quách Quỳ mở thư đọc. Thư viết: “Chiến tranh liên miên làm hao người tốn của, gây đau khổ cho bách tính hai nước. Người anh hùng trước hết phải lo cho thiên hạ nỡ đâu nhìn cảnh như vậy mà không có hành động gì. Nếu như tướng quân đồng ý thì Đại Việt và Tống giảng hòa với nhau, không ai thắng thua trong cuộc chiến này. Nếu đồng ý thì thứ nhất, tướng quân phải rút hết quân khỏi biên giới Đại Việt, thứ hai trả lại toàn bộ đất đai đã chiếm đóng của Đại Việt mà không được thiếu một ly. Phía Đại Việt sẽ bảo đảm an toàn cho quân Tống rút khỏi biên giới mà không tập kích, không truy kích. Chờ hồi âm của tướng quân. Phụ quốc Thái úy  Đại Việt-Lý Thường Kiệt”.

Quách Quỳ đọc xong thư có vẻ mừng rỡ, nói với Triệu Tiết:

-Lý Thường Kiệt muốn giảng hòa, tướng quân đọc thư đi.

Sau khi Triệu Tiết đọc xong thư, Quách Quỳ hỏi:

-Ý tướng quân thế nào?

-Tốt quá rồi còn gì, Thừa tướng Đại Việt đúng là người biết hành động đúng lúc.

-Vậy bản soái sẽ viết thư phúc đáp Lý thừa tướng ngay.

Sứ giả đem thư về trình Lý Thường Kiệt. Thư viết: “Đúng như Thừa tướng viết, can qua mãi làm cho bách tính hai nước khổ cực. Hai nước Đại Việt và Tống không có lý do gì mà không chấm dứt tai họa này đi. Thể theo nguyện vọng của trời và của bách tính hai nước, mạt tướng đồng ý giảng hòa và đồng ý hai điều kiện mà thừa tướng đã nêu lên. Kính mong thừa tướng giữ lời hứa, không tập kích, không truy kích trong khi quân Tống rút lui khỏi Đại Việt. Nay kính thư. Chủ soái quân Tống-Quách Quỳ”.

Sau bữa cơm trưa hôm đó, tại hai doanh trại, Quách Quỳ và Triệu Tiết nói với binh sĩ:

-Nay Lý Thường Kiệt đã giảng hòa, chúng ta không còn lý do gì mà ở lại đây. Nay ra lệnh toàn quân rút về nước.

Quân Tống hai doanh trại hò reo vui mừng và nhổ doanh trại rút quân. Sợ quân Đại Việt không giữ lời hứa truy kích, tập kích nên quân Tống dày đạp lên nhau mà đi. Cuộc lui binh của kẻ chiến bại bao giờ cũng biến thành một cuộc tháo chạy. Quân Đại Việt cứ im lặng theo sau, không truy kích quân Tống mà để giám sát rút quân và thu hồi lại đất đai mà quân Tống đã chiếm đóng.

Chiến tranh chỉ mấy tháng thì kết thúc nhưng cuộc đấu tranh đòi lại đất đai quân Tống chiếm của Đại Việt ở châu Quảng Nguyên kéo dài mãi tới năm 1084. Khi Thái sư Lê Văn Thịnh đi sứ đòi lại mấy động giáp ở châu Quảng Nguyên mà nhà Tống không chịu trả lại. Vua Tống nói:

-Đất đó những tù trưởng châu động đó đã bán cho ta nên không thể trả.

Thái sư Lê Văn Thịnh dùng pháp lý đòi lại:

-Thưa hoàng thượng, chủ sở hữu đất đó là vua Đại Việt, các tù trưởng chỉ được trao quyền trông coi đất. Đem của được cử trông coi đi bán là ăn cắp để đem bán. Sổ sách của Thiên triều sao lại chứa đồ ăn cắp dơ bẩn sao?

Vua Tống tức giận nhưng đuối lý, đành phải trả lại hai miếng đất ấy. Khi Lê Văn Thịnh đã về, vua Tống nói với bá quan văn võ triều Tống:

-Sứ giả Đại Việt rất giỏi pháp lý, các khanh phải học tập.

Quách Quỳ về nước, bị kết tội trì hoãn không tiến quân làm cuộc Nam chinh thất bại, bị giáng làm Tả vệ tướng quân, bị quản thúc tại gia. Triệu Tiết bị kết tội không lập tức dẹp giặc, bị giáng làm Trúc long đồ giắc, tri Quế Châu thuộc Quảng Nam Tây Đạo.

Năm 1078, Tống và Đại Việt nối lại bang giao. Sứ giả Đại Việt Đào Tông Nguyên đem cho vua Tống 5 con voi, đòi lại những châu huyện ở Quảng Nguyên mà nhà Tống còn chiếm giữ. Vua Tống đồng ý nhưng đòi Đại Việt phải trả lại tù binh. Nhà Lý trả lại 221 tù binh bị bắt trong chiến tranh. Số đất trên mãi 1084 Thái sư Lê Văn Thịnh mới đòi lại được.

Sau chiến thắng nhà Tống, năm 1082, Lý Thường Kiệt được cử về trấn thủ lộ Thanh Hóa. Năm 1101, Lý Nhân Tông lại mời ông ra Thăng Long. Lúc này ông đã 82 tuổi. Năm 1103, Lý Thường Kiệt  đi dẹp loạn Lý Giác ở Diễn Châu, năm 1104, lại đi đánh Chiêm Thành. Những năm cuối đời ông vẫn lo tu sửa đê điều, đường sá, đình chùa, tổ chức lại quân đội hùng mạnh. Năm Ất Dậu 1105 Lý Thường Kiệt qua đời, thọ 86 tuổi. Vua Lý Nhân Tông truy phong Lý Thường Kiệt là Nhập Nội Điện Đô Tri kiêm Thái Úy Bình Chương Quân Quốc Trọng sự, tước Việt Quốc Công, thực ấp hưởng 1 vạn hộ, em là Lý Thường Hiến thừa kế.