Lê Thánh Tông là vị vua tài giỏi anh minh nhất trong các vị vua thời Lê Sơ, đã đưa nước Đại Việt nói chung và thời Lê Sơ lên đỉnh cao, hưng thịnh, hùng cường nhất của chế độ phong kiến Việt Nam. Đại Việt thời kỳ này phát triển toàn diện về kinh tế, văn hóa, quân sự, chính trị với những cải cách đúng đắn, triệt để của Lê Thánh Tông về pháp luật, hành chính, quân sự. Lê Thánh Tông đã hoàn thiện nhà nước Quân chủ chuyên chế tập quyền. Lê Thánh Tông cũng đã kiên quyết bảo vệ độc lập, toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền quốc gia, dân tộc. Ông răn dạy quan lại và tướng sĩ rằng kẻ nào dám đem một tấc đất xương máu của ông cha làm mồi cho giặc thì sẽ bị tru di tam tộc. 30 tháng 1 năm 1497 Lê Thánh Tông qua đời, thọ 55 tuổi, ở ngôi 37 năm. Con trưởng của Lê Thánh Tông là Lê Tranh lên ngôi, đế hiệu là Lê Hiến Tông (1497-1504), cai trị được 7 năm và mất ngày 24 tháng 5 năm 1504. Thái tử Lê Thuần kế vị là Lê Túc Tông. Hai vị vua này là minh quân, có thể nối được chí của Lê Thánh Tông. Tuy vậy, chỉ mấy tháng sau Lê Túc Tông qua đời ngày 30-12-1504, ở ngôi được 6 tháng. Anh trai của Túc Tông là Lê Tuấn lên kế vị, gọi là Lê Uy Mục (1504-1510). Sự tàn bạo và ăn chơi sa đọa dâm dật của vị vua này đã mở đầu cho thời kỳ suy sụp của triều Lê Sơ. Những người xưa không đồng ý đưa Lê Uy Mục lên ngôi bị trả thù và bị giết một cách thảm khốc. Lê Uy Mục còn giết cả bà nội là Thái hoàng thái hậu Nguyễn Thị Hằng. Tháng 6 năm 1505, Lê Uy Mục cách chức và giết chết Lễ bộ Thượng thư Đàm Văn Lễ, Đô ngự sử Nguyễn Quang Bật, sau đó giết chết Nhữ Vi, kẻ đã giết hai đại thần trên để bịt đầu mối. Đêm nào Lê Uy Mục cũng uống rượu dâm dật với cung nhân, sau đó sai giết chết họ. Quyền hành trong triều rơi vào tay bọn hoạn quan và dòng họ ngoại của vua. Phía Đông thì làng Hoa Lăng, quê của Nguyễn Kính Phi, phía Tây là làng Nhân Mục, quê của Trần Hoàng hậu, phía Bắc thì làng Phù Chẩn, quê của Chiêu Nhân thái hậu. Bọn này cậy thế ra sức cướp bóc của cải vàng bạc, bức hại bách tính và quan viên chống lại. Các thân vương dòng họ Lê bị dò xét và bị giết bất cứ lúc nào. Kinh Vương Lê Kiện là chú của Lê Uy Mục chạy trốn biệt tích. Giản Tu công Lê Oanh, con của Kiến Vương bị giam vào ngục may trốn thoát. Ai cũng nơm nớp thấy rằng bản thân nguy cấp đến nơi. Tháng 11 năm 1509, Giản Tu công Lê Oanh từ Lam Kinh đem quân về Đông Kinh, chiếm kinh thành, buộc Lê Uy Mục tự sát ngày 1-12-1510.

Sau khi bắt được Lê Uy Mục, Lê Oanh lên ngôi vào năm 1509, niên hiệu Hồng Thuận. Bấy giờ bách tính đói khổ nổi dậy chống lại triều đình. Năm 1511 có người ở làng Quang Bị, Bất Bạt, Sơn Tây là Trần Tuân nổi dậy gây chấn động và chiếm cứ Sơn Tây. Lê Tương Dực sai Mỹ Huệ Hầu Trịnh Duy Sản đánh dẹp, diệt được Trần Tuân. Trịnh Duy Sản nhờ công lao đó được phong Nguyên Quận Công.

Nhưng rồi Lê Tương Dực lại sa vào vết xe đổ của Lê Uy Mục, lao vào ăn chơi sa đọa dâm dật. Để ăn chơi, Lê Tương Dực sai Vũ Như Tô xây dựng điện 100 nóc, xây Cửu trùng đài hao tốn tiền của, chết không biết bao nhiêu sinh mạng. Lê Tương Dực bỏ bê việc nước, suốt ngày du ngoạn Hồ Tây. Bách tính khổ cực lại nổi lên theo Trần Cảo phản loạn. Thanh thế Trần Cao bao trùm cả một vùng Hải Dương, Đông Triều, Thủy Đường, Thủy Nguyên. Trần Cảo xưng là Đế Thích, quân số hàng vạn. Lê Tương Dực thân chinh cầm quân nhưng không dẹp được. Trần Cảo vẫn ngang nhiên đóng tổng hành dinh ở Vạn Kiếp. Trịnh Duy Sản can ngăn sự sa đọa của Lê Tương Dực, Dực không nghe còn bắt Sản ra đánh bằng roi. Trịnh Duy Sản căm hận, cùng Thái sư Lê Quảng Độ lật đổ và giết chết Lê Tương Dực ngày 7 tháng 4 năm 1516. Trịnh Duy Sản đưa Lê Y lên ngôi, đó là Lê Chiêu Tông.

Trong khi triều đình Đông Kinh rối ren, thay ngôi đổi chủ thì ở miền đất phía Đông, một triều đình của quân khởi nghĩa do Trần Cảo đứng đầu ngày một lớn mạnh, phát triển. Khắp miền Hải Dương, An Bang (Quảng Ninh) tràn ngập quân được gọi là quân “Tam Đóa”, họ cạo trọc đầu nhưng vẫn để ba chỏm tóc với những lá cờ vàng chữ đỏ “Thiên Ứng” rợp trời rợp đất. Quý tộc, hào trưởng các vùng này nằm im thin thít, quan lại bỏ chạy. Thế lực nhà Lê Sơ ở các vùng này rạp xuống như cỏ trong cơn bão táp.

Một sớm, Trần Cảo cùng các tướng Công Uẩn, Đinh Bảo, Đoàn Bố dẫn đầu 5 vạn quân, cờ vàng rợp trời, nổi bật là lá cờ to nhất có chữ “Ứng Thiên” màu đỏ, dưới chữ “Ứng Thiên” là chữ “Soái”. Dưới cờ là những đoàn quân mang quân phục đen. Cung tên, gươm giáo tua tủa, lưng mang cung tên, đầu không mũ nón, đầu gần như trọc, chỉ còn ba túm tóc, một túm trước trán, hai túm hai bên thái dương nên bách tính gọi là quân “Tam Đóa”. 5 vạn quân theo đường bộ từ Vạn Kiếp tiến về Đông Kinh. Cờ bay theo gió, bụi cuốn mù đường, bước chân đi rầm rập, mặt đất như rung chuyển. Trịnh Duy Sản đem vua Lê Chiêu Tông về Tây Đô. Trần Cảo chiếm Đông Kinh. Các tướng triều đình Thiết Sơn Bá Trần Chân và các thuộc tướng Nguyễn Áng, Nguyễn Kính, Hoàng Duy Nhạc đem quân đánh nhau với quân '‘Tam Đóa”của Trần Cảo.

 Lại nói Thiết Sơn Bá Trần Chân cùng với các thuộc tướng là Nguyễn Áng, Nguyễn Kính và Hoàng Duy Nhạc cùng 5.000 quân tiếp chiến với quân của Phan Ất ở chợ Hoàng Hoa (Ngọc Hà).

Một vạn quân áo đen “Tam Đóa” vung gươm xông vào trận địa quân Lê đánh giáp lá cà, chiêng trống vang lừng, tiếng reo hò dậy đất, tiếng gươm giáo chạm nhau tóe lửa, thây đổ máu tuôn. Quân “Tam Đóa” cậy đông hình thành thế bao vây quân Lê. Trần Chân thấy vậy liền hạ lệnh lui quân tháo chạy về Sơn Tây. Quân Lê bị giết khoảng 1.000, bản thân Trần Chân cũng bị trọng thương, phía Trần Cảo cũng 1.000 quân tử trận. Trần Chân chạy về Sơn Tây chờ đợi quân Lê Chiêu Tông từ Thanh Hóa ra để thu phục lại kinh thành.

Lê Chiêu Tông sai Hùng Quốc công Lê Nghĩa viết một bài hịch kể tội bọn phiến loạn Trần Cảo và kêu gọi quan lại các trấn, đặc biệt là quan quân tam phủ Thiệu Thiên, Hà Trung, Tĩnh Gia cùng hội quân để khôi phục kinh thành.

Vài ngày sau khi bài hịch ban ra, quân các trấn và quân tam phủ rầm rập kéo về Tây Đô để giúp vua đánh giặc “Tam Đóa”, khôi phục kinh thành. Suốt một vùng rộng lớn quanh Tây Đô, binh mã doanh trại san sát đông như kiến cỏ, Trên dòng sông Mã đoạn làng Giàng, Tư Phố hơn 1.000 chiến thuyền của thủy quân neo đậu, cờ vàng bay rợp trời trên dòng sông. Trong cung điện của thành Tây Đô vua Lê Chiêu Tông thiết triều và ra lệnh:

-Nay phong Nguyên Quận Công Trịnh Duy Sản làm Tiết chế quân thuỷ bộ, dưới có các tướng Cần vương Trịnh Hy, Lê San, Lê Dực, Trương Huyền Linh tiến quân ra Bắc, thu phục Đông Kinh, tiêu diệt bọn giặc “Tam Đóa” Trần Cảo.

-Dạ, chúng thần tuân lệnh hoàng thượng.

Từ Tây Đô, 5 vạn quân Lê hành quân ra Bắc, quân đi, cờ bay, ngựa hí, bụi cuốn mù trời. Bước chân quân lính đi qua những thôn mạc tiêu điều xơ xác nghèo đói do loạn ly và chiến tranh, xung đột liên miên khốc liệt.

Ra đến Đông Kinh, quan quân bao vây bốn mặt thành. Quân “Tam Đóa” từ trên mặt thành bắn tên đạn ra như mưa. An Hòa Hầu Nguyễn Hoằng Dụ từ Thanh Hóa kéo quân ra trợ chiến cho quan quân. Trịnh Duy Sản Đánh bật Trần Cảo khỏi kinh thành, quân Lê lấy lại được Đông Kinh.

Quân Trần Cảo vẫn hoạt động mạnh, đánh phá vùng Kinh Bắc, Hải Dương. Vua Lê Chiêu Tông treo giải thưởng, thưởng lớn cho ai bắt được Trần Cảo và con là Trần Cung. Tháng 8 năm 1516, quân Lê bắt được tướng của Trần Cảo là Phan Ất ở An Bang. Phan Ất bị đóng vào cũi, giải về kinh và bị xử lăng trì. Nhân đà thắng lợi. Quân Triều đình Do Trịnh Duy Sản chỉ huy tấn công hành dinh của quân Trần Cảo ở Chí Linh.

Lê Chiêu Tông trao cho Trịnh Duy Sản quyền tiết chế thủy bộ, cai quản vùng đất Hải Dương. Cùng lúc đó sai tướng Trịnh Tuy mang một đạo quân lấy lại vùng Kinh Bắc khỏi sự chiếm đóng của quân Trần Cảo.

Tháng 11 năm 1516, Trịnh Duy Sản dẫn các tướng Nguyễn Hoằng Dụ, Trần Chân đem ba vạn quân tiến đánh Trần Cảo ở Chí Linh. Nhưng Quân Lê thất bại, Trịnh Duy Sản bị bắt và bị giết. Trần Cảo đem quân uy hiếp tấn công Đông Kinh lần hai.

Lại nói ở kinh thành, Vua Lê Chiêu Tông nghe nói Trịnh Duy Sản bại trận đã bị giặc bắt và giết liền nói:

-Trịnh Duy Sản là trụ cột của quân đội và triều đình, nay chết rồi ta biết dựa vào ai đây. Quân phiến loạn đã đến Bồ Đề, mai sẽ tấn công kinh thành, biết làm sao đây?

Lê Nghĩa đề cử Trần Chân, nghĩa tử của Trịnh Duy Sản.

Lê Chiêu Tông gọi Trần Chân và cho làm Tiết chế cầm quân Đánh giặc. Trần Chân thắng lợi, giết quân Tam Đóa 3 vạn ở Bồ Đề. Trần Cảo chạy lên Lạng Giang.

Loạn Trần Cảo chưa dẹp xong thì các quyền thần trong triều đình lại lại xung đột nhau tranh quyền đoạt lợi. Đó là các thế lực của An Hòa Hầu Nguyễn Hoằng Dụ, Vinh Hưng Bá Trịnh Tuy, Thiết Sơn Bá Trần Chân. Cuối cùng Nguyễn Hoằng Dụ, Trịnh Tuy đem quân về Thanh Hóa. Chỉ còn mỗi Trần Chân ở lại Triều đình. Thế lực của Trần Chân ngày một lớn. Vua Lê Chiêu Tông phong Trần Chân làm phụ chính. Thế lực của Trần Chân lớn đến mức một thế lực quân phiệt lớn nhất Hải Dương là Mạc Đăng Dung đang có âm mưu vào triều đình, liền kết thông gia với Trần Chân để gây dựng thế lực sau này. Mạc Đăng Dung hỏi con gái của Chân cho con trai của mình là Mạc Đăng Doanh. Trong tình hình mâu thuẫn giữa các đại thần gay gắt và xung đột nhau, vua Lê Chiêu Tông lại không sáng suốt và đa nghi, bị chúng lợi dụng, mượn bàn tay của nhà vua giết những kẻ thù của họ và chính nhà vua lại giết những trung thần tay chân của mình. Trong đó nổi bật mâu thuẫn giữa dòng họ Nguyễn và dòng họ Trịnh mà cụ thể là giữa Nguyễn Hoằng Dụ với Trịnh Tuy, con của Trịnh Duy Sản. Một hôm vua Lê Chiêu Tông thiết triều, chú của Nguyễn Hoằng Dụ là Nguyễn Văn Lự bước ra tâu vu cáo cho Trịnh Duy Đại làm phản. Lê Chiêu Tông không xét hỏi, sai lôi Trịnh Duy Đại và các tướng ra chém.

Cùng lúc đó Nguyễn Hoằng Dụ đem quân kịch chiến với Trịnh Tuy. Trịnh Tuy thua chạy về Thanh Hóa. Trần Chân là con nuôi của Trịnh Duy Sản, là anh nuôi của Trịnh Tuy liền đem quân đánh Nguyễn Hoằng Dụ. Nguyễn Hoằng Dụ thua cũng tháo chạy về Thanh Hóa. Kinh sư khi đó đầy máu và xác chết. Hàng ngày mặt trời bỗng nhiên vàng và tối, điềm báo rất xấu cho vận nước và triều đại nhà Lê. Trần Chân là trung thần trụ cột nhưng năm 1518, Lê Chiêu Tông lại nghe bọn gian thần giết Trần Chân, tự chặt tay chân mình.

 Mất trung thần, nhà Lê ngày càng suy yếu tạo điều kiện cho bọn gian thần tác oai tác quái. Bọn này đã nắm chắc được yếu điểm của Lê Chiêu Tông là còn trẻ người non dạ, hay nghe lời dèm pha, đa nghi, không biết ai là gian thần, càng không biết ai là trung thần. Trong cục diện hiện nay, giết Trần Chân, Lê Chiêu Tông đã trúng độc kế của bọn gian thần, đã tự chặt chân chặt tay của mình và tự hại mình.

Quan Phụ chính Trần Chân đã có công lao phò Lê Chiêu Tông. Trần Cảo đã nhiêu lần tiếm ngôi xưng đế tại Đông Kinh. Một mình Trần chân đã đánh bại Cảo, giữ lại ngôi báu cho Lê Chiêu Tông. Rồi khi quân triều đình rời Đông Kinh đi đánh Trần Cảo ở Chí Linh, Đa Sĩ đã nổi loạn cướp bóc kinh thành, Trần Chân lại từ Chí Linh quay về dẹp loạn, đem lại sự yên ổn cho Lê Chiêu Tông và cho kinh thành. Trần Chân là một trung thần lại có tài thao lược. Cho nên giết Trần Chân là Lê Chiêu Tông tự chặt chân tay mình, trúng vào kế của một quyền thần nào đó còn nằm trong bóng tối. Sự diệt vong của Lê Chiêu Tông là không thể tránh khỏi.

Trước đó Hoàng thượng cũng đã nghe lời vu cáo của bọn gian thần, đã giết Trịnh Duy Đại và các tùy tướng ngay trong điện Càn Nguyên.

Các thuộc tướng của Trần Chân đã tấn công trả thù.

Chiều hôm đó, 3 vạn quân của các tướng dưới sự chỉ huy của Nguyễn Kính tiến đánh kinh thành. Lê Chiêu Tông chạy trốn về Gia Lâm. Quân Sơn Tây của Nguyễn Kính, Nguyễn Áng, Hoàng Duy Nhạc, Nguyễn Hiếu, Cao Xuân Thì thả sức cướp phá kinh thành. Kinh đô sạch không, dân tình náo loạn.

   Tại hành doanh Bồ Đề, vua Lê Chiêu Tông họp cùng các đại thần bàn cách đối phó với bọn Nguyễn Kính. Lê Chiêu Tông đã cho sứ giả triệu hồi Nguyễn Hoằng Dụ ở Thanh Hóa ra cứu giá. Sứ giả về báo:                    -Dạ, bẩm Hoàng thượng, An Hòa Hầu Nguyễn Hoằng Dụ từ chối không đem quân ra Đông Kinh cứu Hoàng thượng.                 

Cung Khiêm Hầu Hà Văn Chính tiến cử Mạc Đăng Dung  một người có thể đẩy lui được bọn Nguyễn Kính, còn có thể dẹp yên được giặc Trần Cảo đang hoành hành ở Kinh Bắc.

Mạc Đăng Dung sinh năm Quý Mão 1483, cuối thời vua Lê Thánh Tông, niên hiệu Hồng Đức. Quê quán Mạc Đăng Dung ở làng Cổ Trai, huyện Nghi Dung, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương, là con cháu 7 đời của lưỡng quốc trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi đời Trần Anh Tông. Mạc Đĩnh Chi giữ chức Nhập nội hành khiển, Thượng thư môn hạ, Tả bộc xạ kiêm trung thư lệnh, Tri quân dân trọng sự. Mặc Đĩnh Chi làm quan thanh liêm, tiếng tăm lừng lẫy một thời. Nhưng đến đời cha của Mạc Đăng Dung là Mạc Hịch thì nghèo nàn, sống nơi thôn dã. Mạc Đăng Dung thời trai trẻ làm nghề đánh cá nhưng có võ nghệ và sức khỏe. Thời Lê Uy Mục, Dung dự thi môn đấu vật, trúng đô lực sĩ xuất thân trong kỳ thi tuyển võ sĩ, được tuyển vào đội túc vệ theo xe che ô cho nhà vua. Năm 1508, Mạc Đăng Dung được phong làm Đô chỉ huy sứ vệ thần vũ, năm 1511 được phong tước Vũ Xuyên Bá, năm 1518 được phong Vũ Xuyên Hầu. Quá trình làm quan Mạc Đăng Dung tỏ ra là người trung thành, vì lợi ích của triều đình, ví như trước đó có Trần Khắc Chương dùng đạo thiền Vũ Thiên Bồng mê hoặc bách tính, Dung dâng sớ tâu lên vua xin trị tội. Vua nghe theo đã diệt trừ Trần Khắc Chương, tín đồ và những quan lại đi theo. Năm 1517, Thiệu Quốc công thái sư Lê Quảng Độ đầu hàng Trần Cảo khi bị Cảo bắt, Dung dâng sớ xin trị tội Độ tội bất trung. Lê Chiêu Tông sai hai khanh Hà Văn Chính và Lê Đại Đỗ  về Hải Dương mời Mạc Đăng Dung về triều cứu giá.

Lê Chiêu Tông khi gặp mới nhìn rõ Mạc Đăng Dung, quả nhiên xứng đáng là một đô lực sĩ, trạng nguyên võ, oai phong lực lưỡng, mặt to tai lớn. Nhìn Mạc Đăng Dung, Lê Chiêu Tông bỗng nhiên cảm thấy hoảng sợ, lo lắng. Mạc Đăng Dung cũng nhìn kỹ vua Lê Chiêu Tông. Đó là vị vua còn quá trẻ, nếu vua sinh năm 1506 thì năm nay mới 14 tuổi. Vua trẻ lại bất tài, đa nghi, các đại thần tài giỏi như Trần Chân và một số người khác bị vua nghe lời dèm pha của bọn gian thần mà giết hết. Nhìn tình cảnh triều đình đầy quan viên nhưng trống rỗng, nhân tài vắng bóng, Mạc Đăng Dung vui mừng trong bụng vì âm mưu bước lên ngai vàng của Dung càng dễ dàng thực hiện, không bị ai cản bước mà khâu đầu tiên là phải diệt trừ hết những vây cánh trung thành với Lê Chiêu Tông còn lại, đưa và bổ nhiệm tay chân vây cánh của Mạc Đăng Dung lấp kín triều đình, khi đó bước tới và ngồi vào ngai vàng dễ như thò tay vào túi lấy đồ vật.

Mặc Đăng Dung đánh lừa Lê Chiêu Tông, Tông giết tay chân của vua là  Chữ Khải, Ngô Bính, Trịnh Hựu. giết Quan Đô Ngự sử Đỗ Nhạc, Quan phó Đô Ngự sử.  Dung được phong lên Minh Quốc công, rồi Thái Phó. Đầy triều là người của Dung.

Lê Chiêu Tông chống nhau với Nguyễn Kính, Hoàng Duy Nhạc, Nguyễn Áng, Trịnh Tuy, Nguyễn Hoằng Dụ ở Thanh Hóa.

Năm 1519 Mạc Đăng Dung rước vua Lê Chiêu Tông về Đông Kinh. Vua ban chiếu đại xá thiên hạ, thăng chức tước của các quan lên một cấp. Mạc Đăng Dung được phong lên Minh Quận Công, đầu năm 1521 lại phong lên Nhân Quốc Công, thống lĩnh quân thủy bộ 13 đạo. Trong triều đình lúc này hầu hết các chức vụ quan trọng đều nằm trong tay vây cánh của Mạc Đăng Dung, hoặc là ngả theo Mạc Đăng Dung. Thế lực của Dung lúc này nghiêng ngửa triều đình. Tâm phúc của vua Lê Chiêu Tông chỉ còn đếm trên đầu ngón tay như Lại Thế Vinh, Nguyễn Kim, Trịnh Công Năng, hoàng thân Lê Ý. Nhóm này thường bí mật gặp Lê Chiêu Tông bàn cách đối phó với Mạc Đăng Dung nhưng đều cảm thấy bất lực và cực kỳ nguy hiểm bởi tai mắt của Dung đầy triều. Một lần gặp nhau trong hậu cung, hoàng thân Lê Ý nói Hoàng thượng phải đến phủ của Mạc Đăng Dung phong chức tước cao cho Dung để Dung trung thành. Lê Chiêu Tông phá lệ lễ nghi, đến phủ Mạc Đăng Dung, phong cho Dung chức Thái Phó, bình chương quân quốc trọng sự. Lê Chiêu Tông nghe theo, cho quan nội thị đến phủ của Dung tuyên chỉ, đại thần Nhân Quốc Công Mạc Đăng Dung tiếp chỉ: Mạc Đăng Dung, gia đình, gia tướng vội quỳ xuống. Nội quan giở bản lụa vàng và đọc: “Phụng thiên thừa vận, hoàng đế chiếu viết, xét công lao to lớn của Nhân Quốc Công Mạc Đăng Dung nay sắc phong cho chức Thái phó bình chương quân quốc trọng sự. Khâm thử. Niên hiệu Quang Thiệu năm thứ 6, 1521”. Lên chức Thái Phó, Tháng 5 -1521 Mạc Đăng Dung phá tan quân Trần Cung-Con Trần Cảo,  giết 3 vạn quân “Tam Đóa", Trần Cung phải chạy lên Thất Khê Cao Bằng. Cuộc phản loạn của Trần Cảo, Trần Cung kéo dài từ thời Lê Uy Mục, Lê Tương Dực, đến đời Lê Chiêu Tông hoàn toàn bị Mạc Đăng Dung tiêu diệt. Thanh thế của Mạc Đăng Dung chấn động thiên hạ. Triều đình lúc này hoàn toàn nằm trong tay Mạc Đăng Dung. Mạc Đăng Dung tiếp tục củng cố thế lực vây cánh, chuẩn bị cho việc soán ngôi nhà Lê. Qua mai mối, Dung kết thông gia với quan Thượng thư Bộ lễ Phạm Gia Mô. Dung cho em rể là Quỳnh Khê Hầu làm hữu Đô đốc trấn giữ Sơn Tây, giữ vị trí xung yếu phía Tây kinh thành, sai em là Mạc Quyết chỉ huy đạo binh túc vệ, sai con là Mạc Đăng Doanh coi giữ điện Kim Quang để giám sát vua Lê Chiêu Tông. Dung còn đưa vào cung một mỹ nhân cho nhà vua để dò la tin tức, nhất cử nhất động của vua Lê Chiêu Tông và thân tín. Trước tình hình đó, một số Thượng thư như Trình Chí, Nguyễn Thì Nuy… đã ngả theo Mạc Đăng Dung. Năm 1522 đại thần Lê Bá Hiếu đã dấy quân chống lại Mạc Đăng Dung ở Đông Ngàn, Gia Lâm. Dung đem quân đánh dẹp. Vài nghìn quân bản bộ của Lê Bá Hiếu không chống lại được 2 vạn quân chính quy của Mạc Đăng Dung. Chỉ một buổi sáng, lực lượng Lê Bá Hiếu bị đánh tan. Lê Bá Hiếu bị bắt và bị chém đầu. Một số quan chức của triều đình tỏ ý chống đối, Dung ra tay sát hại không thương tiếc như Dung giết thị vệ Nguyễn Cấu, Đô lực sĩ Minh Sơn Bá, Nguyễn Thọ, Đàm Cử và nhiều quan viên của triều đình. Khi đó Mạc Đăng Dung đi kiệu thì trang trí long phượng dát vàng, đi thuyền thì thuyền rồng không kém gì nghi vệ của một hoàng đế.

Vua Lê Chiêu Tông bỏ em là Lê Xuân và mẹ là thái hậu Trịnh Thị Loan, một mình trốn lên Sơn Tây xuống chiếu Cần vương chống Mạc Đăng Dung. Dung sai Hoàng Duy Nhạc (trước đó đã về hàng Dung) đem 4 vạn quân lên đánh và bắt vua trở về. Hoàng Duy Nhạc thua do bị quân Lê Chiêu Tông mai phục. Dung buộc Xuân là em Lê Chiêu Tông lên ngôi, Xuân mặc áo long bào, đội vương miện, đi hài vàng, nội giám dắt tay Xuân lên ngai vàng ở điện Càn Nguyên. Sử gọi là Lê Cung Hoàng  đế, niên hiệu Thống Nguyên năm thứ nhất.

Giáng Lê Chiêu Tông thành Đà Giang Vương.

Nhân Quốc công Mạc Đăng Dung đem vua Lê Cung Hoàng về Hồng Thị, Hải Dương. Vua Lê Chiêu Tông đem quân về thu phục lại Đông Kinh, dọc đường xa giá dừng lại ở xã Mang Sơn, Sơn Tây, giết Quan Lại Khoa cấp sự trung Nguyễn Khắc Tuy. Các Đại thần lắc đầu nói: Hoàng thượng vẫn sai lầm như xưa, xưa nghe lời dèm pha giết trung thần Trần Chân mới đến cơ sự như ngày nay. Nay đang lúc khó khăn chống quyền thần Mạc Đăng Dung lại giết đại thần vô cớ. Lũ chúng ta chắc chết không có đất mà chôn.

Mặc Đăng Dung đem quân đánh Đông Kinh. Triều đình hỗn loạn. Bọn Lại Thế Vinh đem xa giá Lê Chiêu Tông ra Nhân Mục rồi chạy về chùa Thiền Quang, xã Thuận Mỗ, huyện Từ Liêm. Đúng lúc nguy kịch, Trịnh Tuy đã lấy quân Tam phủ Tĩnh Gia, Quảng Xương, Đông Sơn, cho thuộc tướng là Nguyễn Bá Kỷ đem một vạn quân ra Bắc cứu vua. Nhưng nội thần Phạm Biên xui vua Lê Chiêu Tông giết đi vì Kỷ là người của Trần Chân. Lê Chiêu Tông vốn là người đa nghi, bất chấp đang lúc nguy nan, bố trí võ sĩ mai phục chém chết Nguyễn Bá Kỷ. Trịnh Tuy tức giận cùng Trịnh Duy Thần đem quân ra Bắc, bất ngờ đánh và bắt Lê Chiêu Tông về Thanh Hóa. Quốc Tử giám Tư Nghiệp Lê Hữu Trương chết trong khi bảo vệ vua. Về Tây Đô, Trịnh Tuy nói với Lê Chiêu Tông:    

-Quân Cần vương chỉ làm rối loạn thiên hạ. Hoàng thượng xuống chiếu giải tán đi, mọi người lại về cai trị ở địa phương của mình.                                                

Mạc Đăng dung vui mừng vì quân Cần vương quá mạnh, Dung đang lo sợ, tự nhiên lại tan rã.

Được thế, Mặc Đăng Dung tấn công Thanh Hóa. Quân hai bên lao vào nhau giáp lá cà huyết chiến. Nửa canh giờ quân Trịnh Tuy tan vỡ. Quân Mạc bủa vây không cho quân Trịnh Tuy chạy vào thành Tây Đô. Trịnh Tuy và các tướng mở đường máu đưa vua Lê Chiêu Tông chạy khỏi vòng vây và hộ giá đưa nhà vua chạy lên miền núi Lang Chánh. Quân Mạc chiếm Tây Đô và làm chủ phần lớn Thanh Hóa. Sau chiến thắng ở Thanh Hóa, vua Lê Cung Hoàng phong cho Mạc Đăng Dung làm Thái phó, nắm Bình chương quân quốc trọng sự. Tháng 10 năm 1525, Mạc Đăng dung quyết tâm tiêu diệt tàn quân của Trịnh Tuy và Lê Chiêu Tông ở miền núi Thanh Hóa. Trịnh Tuy thua trận ốm mà chết. Dung bắt được Vua Lê Chiêu Tông ở Đông An Nhân, đưa về Đông Kinh. Các quần thần như Phúc Lương Hầu Hà Phi Chuẩn, Giang Văn Dụ, Đàm Thận Huy đều bị bắt và bị giết chết. Ngày 18 tháng 12 năm 1526, vua Lê Chiêu Tông cũng qua đời ở phường Đông Hà. Mạc Đăng Dung sai đưa thi hài Lê Chiêu Tông về mai táng ở Vĩnh Hưng Lăng theo nghi lễ thiên tử. Vua Lê Chiêu Tông khi đó mới 21 tuổi, ở ngôi 10 năm.

 Nay Mạc Đăng Dung đã đánh dẹp được giặc Trần Cảo và tất cả các lực lượng đối lập với triều đình. Uy tín và thế lực Mạc Đăng Dung hiện rất lớn. Các đại thần khuyên Lê Cung Hoàng đến Cổ Trai phong cho Dung tước vương, tước cực phẩm của quyền lực để Mạc Đăng Dung đội ơn mà trung thành. Đại thần Nguyễn Kim, Lại Thế Vinh, Lại Thế Khanh trong một đêm bí mật gặp vua, khuyên Lê Cung Hoàng bỏ về Thanh Hóa. Lê Cung Hoàng nói:                                                                                             

-Ba khanh và một số đại thần còn trung thành với nhà Lê nên cáo bệnh và về Thanh Hóa trước đi, đề phòng tình thế xấu nhất thì các khanh cố gắng dấy binh, khôi phục lại giang sơn nhà Lê mà đức Thái Tổ khó nhọc trong 10 năm đánh giặc Minh mới giành lại được, các đức Thái Tông, Thánh Tông, Minh Tông khó nhọc hàng trăm năm xây dựng, không thể để mất một cách dễ dàng. Các khanh có nhận di mệnh này của trẫm không?

Ba đại thần vội quỳ xuống và nói:

-Chúng thần nguyện ghi nhớ thực hiện di mệnh của Hoàng thượng cho dù phải tan xương nát thịt.

Lê Cung Hoàng đỡ ba người dậy và nói:

-Đa tạ các khanh còn nghĩ tới triều Hậu Lê. Còn trẫm không thể bỏ đi được, thứ nhất, Mạc Đăng Dung chưa hành động mà trẫm đi thì lỗi làm mất giang sơn nhà Lê là do trẫm, thứ hai, trẫm không thể đi mà bỏ mẫu hậu lại một mình. Đó là thuộc đạo trung hiếu. Thứ ba, trẫm cũng phải minh chứng rằng trẫm không sợ chết. Trẫm không thể bảo vệ được giang sơn nhà Lê nhưng trẫm sẽ lấy cái chết để nói rằng trẫm kiên quyết bảo vệ. Giang sơn nhà Lê dù có mất nhưng trẫm tin rằng các khanh sẽ trung hưng lại được vì các khanh hành động theo lòng dân và đạo trời.

Vua tôi im lặng ngậm ngùi. Ba đại thần đều hiểu đã đến lúc chia tay với vua. Không biết đến bao giờ gặp lại và biết có còn gặp lại vua hay không. Bầu trời bỗng nhiên tối sầm lại như cơ đồ nhà Lê đang đến hồi sắp tắt. Ba đại thần quỳ hành lễ vua lần cuối:

-Hoàng thượng bảo trọng.

-Các ái khanh bảo trọng và nhớ thực hiện di mệnh của trẫm.

-Chúng thần tuân chỉ.

Lê Cung Hoàng sai đại thần đến Cổ Trai phong tước vương cho Mạc Đăng Dung.      

-Bình chương quân Quốc trọng sự Nhân Quốc Công Mạc Đăng Dung tiếp chỉ.

Mạc Đăng Dung, các tùy tướng, các gia nhân vội quỳ. Trung Dương Hầu Vũ Hựu đọc: “Phụng thiên thừa vận, hoàng đế chiếu viết: Nay phong cho Nhân Quốc Công Thái Phó Mạc Đăng Dung làm An Hưng Vương, ban cho cờ tiết, lọng tía, quạt vẽ rồng, đai dát ngọc để làm nghi lễ đi lại và khi thiết triều. Niên hiệu Thiên Nguyên năm thứ 5. Khâm thử”.

Mạc Đăng Dung được phong Vương nói to:

-Thần nhận chỉ. Tạ ơn Hoàng thượng.

Ít lâu sau, nhận được tin vua và Hoàng Thái hậu ốm nặng, Mạc Đăng Dung đi gấp về Đông Kinh. Sớm hôm sau Mạc Đăng Dung đang định vào thăm Lê Cung Hoàng thì quan nội thị vào báo tin: Dạ bẩm An Hưng Vương, cả Hoàng thượng và Thái hậu đã băng hà rồi. Trong buổi thiết triều hôm sau, quan nội thị đọc di chúc của Hoàng thượng: “Phụng thiên thừa vận, hoàng đế chiếu viết: Nghĩ Thái Tổ ta, thừa trời cách mệnh, có được thiên hạ, các vua truyền nhau, nối giữ cơ đồ là do mệnh trời lòng người cùng hợp, cùng ứng nên mới được thế. Cuối đời Hồng Thuận gặp nhiều tai họa, Trần Cảo đầu têu, gây mầm loạn ly, Trịnh Tuy giả trá lập kế phản nghịch. Lòng người đã lìa, mệnh trời không giúp. Khi ấy thiên hạ không phải là của nhà ta. Ta không có đức, lạm giữ ngôi trời, việc gánh vác không kham nổi. Mệnh trời lòng người đều theo về người có được. Xét Thái úy An Hưng Vương Mạc Đăng Dung nhà ngươi, bẩm tính thông minh, sáng suốt, có tài thao lược văn võ. Bên ngoài đánh dẹp bốn phương, các nơi đều phục tùng, bên trong coi sóc trăm quan, mọi việc đều tốt đẹp. Công to đức lớn, trời cho người theo. Nay ta cân nhắc lẽ phải nên nhường ngôi cho. Hãy gắng sửa đức lớn giữ mãi mệnh trời để ức triệu dân lành được yên vui. Mong kính theo đó. Khâm thử. Niên hiệu  Thống Nguyên năm thứ 5, 1527”.

Mạc Đăng Dung nhận chỉ  nói: Nay ta bố cáo lập ra một triều đại mới: Triều Mạc. Ta lấy đế hiệu Mạc Thái Tổ, niên hiệu Minh Đức…

Mặc Đăng Dung mặc áo long bào, đội vương miện bước lên ngai vàng, cả triều đình chỉ có Lại bộ Thượng thư Vũ Duệ (Vũ Chi Nghĩa) và Công bộ Thượng thư Ngô Hoán cho là chiếu chỉ giả, phản đối, quát mắng Mạc Đăng Dung và bỏ ra về. Nhà Lê Sơ mất năm 1527. Thiên hạ về tay nhà Mạc.

 Như vậy, Mạc Đăng Dung chỉ là một nông dân  làm nghề đánh cá, được nhà Lê lấy cho đỗ trạng nguyên võ, được lấy vào quân túc vệ và cất nhắc đến tước vương cực phẩm, tước An Hưng Vương và cuối cùng lấy ngôi nhà Lê, sử gọi là Mạc Thái Tổ. Các Đại thần nhà Lê Sơ là Nguyễn Kim, Lại Thế Vinh, Lại Thế Khanh chạy vào miền tây Thanh Hóa  đưa con của Lê Chiêu Tông là Lê Duy Ninh lên ngôi là vua Lê Trang Tông, lập ra triều Lê Trung Hưng năm 1533, khởi binh đánh nhà Mạc. Việc nhà Lê Sơ mất mở ra một cục diện nội chiến gần 100 năm, sử gọi là nội chiến  Nam - Bắc triều, gây không biết bao nhiêu thảm họa cho bách tính, cho đất nước. Nội chiến Nam - Bắc triều kéo dài từ 1533 đến năm 1592 thì nhà Mạc bị Trịnh Tùng lật đổ, tàn dư chạy lên Cao Bằng cố thủ đến năm 1677 thì thế lực ở đây cũng hoàn toàn chấm dứt do bị Trịnh Tạc, con Trịnh Tùng tiêu diệt. Nhà Hậu Lê tiếp tục với giai đoạn triều Lê Trung Hưng tồn tại bên cạnh Chúa Trịnh. Lịch sử sang trang với cục diện vua Lê - Chúa Trịnh và cuộc nội chiến Trịnh - Nguyễn kéo dài 200 năm tương tàn đẫm máu, tới năm 1789 mới kết thúc.

HẾT
CVL

 Hà Nội 15-5-2023