III

Tại Bố Hải khẩu, buổi sáng ngày hôm sau của yến tiệc lễ thành hôn của Đinh Bộ Lĩnh với Dương Vân Nga, Đinh Bộ Lĩnh triệu tập một cuộc họp các tướng lĩnh, đặc biệt là các vị lão tướng như Trần Minh Công và Phạm Bạch Hổ. Đinh Bộ Lĩnh ngồi ghế chủ tọa, hai lão tướng quân ngồi hai bên. Các tướng lĩnh ngồi hai bên dãy bàn ghế kê dọc và hướng mặt vào nhau. Đinh Bộ Lĩnh nói:

- Kính thưa nhạc phụ.

- Kính thưa Phạm Phòng Át chúa công.

- Thưa các tướng quân.

- Cho đến cuối năm nay, 968, qua hai năm mạt tướng đánh dẹp, thiên hạ về cơ bản đã thống nhất. Vấn đề hôm nay ta bàn với nhạc phụ Trần Minh Công, lão tướng Phạm Phòng Át và với các tướng quân là thiết lập một triều đại mới. Triều đại mới này nên xưng vương hay xưng hoàng đế. Vấn đề thứ hai là chọn nơi đóng đô, có nên về Cổ Loa hay về Hoa Lư. Vấn đề thứ ba là định quốc hiệu, Nước Việt bây giờ phải gọi là gì?

Trần Minh Công nói:

- Thưa các chư vị tướng quân, hôm qua lão phu và Đinh chủ soái sau yến tiệc có ngồi uống trà đàm đạo với nhau. Vạn Thắng Vương có mời lão phu đứng ra thành lập một triều đại mới, triều đại nhà Trần. Lão phu đã già rồi không còn sức và không có tài cáng đáng được công việc to lớn đó. Hai đệ là Trần Thăng và Trần Nguyên Thái cũng từ chối vì biết là không có tài đế vương trị quốc. Đinh tướng quân là con trong nhà, có tài về quân sự, chính trị chấn động thiên hạ, đánh Nam dẹp Bắc, anh hùng hào kiệt trong thiên hạ đều khâm phục, bách tính chờ mong tài trị quốc, đem lại thanh bình no ấm cho nhân dân. Lão phu nghĩ nếu không phải là Đinh chúa công mà trong tình hình hiện nay, một ai đó lên ngôi thì thiên hạ lại đại loạn vì không có tài kinh bang tế thế, thứ hai là các anh hùng hào kiệt không thần phục. Cho nên, ngôi thiên tử ai cũng thích nhưng không phải ai ngồi vào cũng được. Hơn nữa, cục diện Ngũ đại thập quốc bên Trung Nguyên sắp kết thúc, một triều đại thống nhất sẽ ra đời và khi đó ngựa theo đường cũ, họ lại xua binh sang xâm lược nước ta. Khi đó, nước ta phải hùng mạnh, một vị vua phải tài năng về quân sự để chống ngoại xâm bảo vệ đất nước. Cho nên, lão phu mong Đinh Chúa công lên ngôi. Còn về xưng đế hay xưng vương thì xưa nước ta có Lý Bí đã xưng là Lý Nam Đế, Mai Thúc Loan đã xưng Mai Hắc Đế. Xưng đế là tỏ rõ quyền độc lập mạnh mẽ, sánh ngang với phương Bắc. Theo Lão phu, Đinh chúa công nên xưng đế.

Trần Minh Công uống một ngụm trà rồi nói tiếp:

- Còn kinh đô thì lão Phu cho rằng nên đóng đô ở Hoa Lư. Không rõ ngày xưa các cụ tính toán thế nào mà dời đô về Cổ Loa. An Dương Vương Thục Phán chỉ được 29 năm, Tiền Ngô Vương và Hậu Ngô Vương cũng chỉ được 26 năm. Hơn nữa, Cổ Loa gần biên giới, từ Quỷ Môn Quan-Chi Lăng đến Cổ Loa chỉ có 300 dặm, Cổ Loa lại gần những con sông, giặc Phương Bắc từ sông Bạch Đằng đi vào sông Kinh Thầy, đến Lục Đầu Giang là có thể vào được Cổ Loa dễ dàng. Vạn Thắng Vương nên đóng đô ở Hoa Lư. Hoa Lư địa thế hiểm yếu, núi đá vôi cao bao bọc là thành lũy chắc chắn, lại xa biên giới Việt-Trung, lại xa Lục Đầu Giang, giặc rất khó tấn công. Tóm lại, đất Hoa Lư là nơi ngọa hổ tàng long, công thủ đều có lợi.

Lão tướng Phạm Bạch Hổ nói:

- Trần Minh Công nói chí lý. Hoa Lư là kinh đô dễ thủ khó công, lại là trung tâm của cả nước, có thể vươn quyền lực ra cả nước, ra toàn miền Bắc và cả miền Châu Ái, Châu Hoan xa xôi. Vả lại, kinh đô Hoa Lư là quê hương của Đinh chúa công, gần Bố Hải Khẩu, Câu Lậu rộng lớn, là hậu phương, là quê ngoại của Đinh chúa công, sẽ hỗ trợ đắc lực khi cần thiết. Thật là một nơi thiên thời, địa lợi, nhân hòa.

Đinh Bộ Lĩnh hỏi các tướng:

- Các tướng quân có cao kiến gì khác không?

Lưu Cơ nói:

- Nếu đã xưng đế thì quốc hiệu nên lấy là Đại Cồ Việt cho tương xứng.

Các tướng đáp:

- Chúng mạt tướng tán thành cao kiến của hai vị lão tướng và quân sư. Mong chủ soái lên ngôi hoàng đế, kinh đô ở Hoa Lư, quốc hiệu là Đại Cồ Việt.

Đinh Bộ Lĩnh nói:

- Vậy thì ngày mai kính mời nhạc phụ, toàn gia họ Trần, lão tướng Phạm Công và tất cả các tướng quân, quân đội về Hoa Lư dự lễ đăng quang của ta. Tướng Lê Hoàn đâu:

- Dạ, có mạt tướng.

- Tướng quân điểm ba vạn quân ngày mai hộ giá về Hoa Lư.

- Dạ, mạt tướng tuân lệnh.

- Tướng quân Nguyễn Bặc đâu?

- Dạ, có mạt tướng.

- Tướng quân điểm 3 vạn quân và bố trí bảo vệ Bố Hải Khẩu.

- Dạ, mạt tướng tuân lệnh.

Ngày chiều đó, tiếng chiêng, trống, tù và nổi lên vang trời chuyển đất. Bố Hải Khẩu nhộn nhịp tưng bừng chuẩn bị cuộc hành quân về Hoa Lư cho quân đội, gia đình Đinh Chúa công, gia đình và dòng họ Trần Minh Công về Hoa Lư dự lễ đăng quang của Đinh Bộ Lĩnh lập triều đại mới: Nhà Đinh. Lịch sử Nước Việt lật sang một trang mới. Vài ngày sau lễ đăng quang, kinh đô Hoa Lư và các châu, huyện trong toàn quốc đọc được bản cáo thị của triều đình. Cáo thị viết: “Hiện nay, đất nước đã được thống nhất nhờ sự hi sinh to lớn của bách tính, của các tướng lĩnh vả quân đội. Thiên hạ đã thống nhất rồi phải có chủ. Nay chiểu theo nguyện vọng của bách tính, của các tướng lĩnh quân đội, tuân theo mệnh trời, trẫm là Vạn Thắng Vương Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế, đế hiệu là Đinh Tiên Hoàng Đế, niên hiệu Thái Bình, lấy kinh đô là Hoa Lư, lấy quốc hiệu là Đại Cồ Việt. Nhân dịp này, trẫm tuyên bố đại xá thiên hạ, miễn sưu thuế cho bách tính trong một năm. Nay kính báo. Hoa Lư, niên hiệu Thái Bình năm thứ nhất 968”.

Vào một ngày cuối mùa đông năm 968, nắng vàng rực rỡ như mùa xuân, những dãy núi đá xám cao ngất nhô lên bầu trời xanh xám khoe đủ hình thù kỳ quái, lại như những hình thù thần thánh thiêng liêng. Núi đá vây quanh tạo nên vẻ uy nghi cổ kính của kinh đô, lại là những bức trường thành che chở cho những cung điện tráng lệ bên trong. Nếu ở đoạn nào hai vách đá núi không liền với nhau, nhà Đinh đã cho đắp tường thành vững chắc. Trên nóc các thành cũng như trên nóc các lâu đài, cung điện, những lá cờ vàng mang chữ “Đại Cồ Việt” tung bay phấp phới.

Trong cung điện rộng rãi của Hoa Lư, hôm nay Đinh Tiên Hoàng Đế thiết triều bàn việc tổ chức xây dựng vương triều và đất nước. Đinh Tiên Hoàng ngồi trên ngai vàng là một chiếc ghế lớn bằng gỗ lim, đầu hai tay ngai ghế có đầu hai con rồng vàng. Bức tường cung điện sau lưng hoàng đế ngồi lại ốp thêm một phiến đá cũng khắc hai con rồng to lớn uốn lượn và đầu chạm vào vòng tròn mặt trời. Trước mặt vua và thấp hơn là hai hàng ghế gỗ sến cho bá quan văn võ ngồi thiết triều. Đinh Tiên Hoàng đầu đội vương miện, áo long bào có thêu hình hai con rồng uốn khúc, chân đi hài màu vàng. Hai bên có hai nội quan đứng giúp việc. Dưới hai hàng ghế là hai bên bá quan văn võ. Ngồi ngay đầu hàng ghế là Trần Minh Công và Phạm Phòng Át. Đinh Tiên Hoàng nói:

- Hôm nay là buổi thiết triều đầu tiên của nhà Đinh. Sau nhiều năm thiên hạ loạn lạc, không có một triều đình trung ương thống nhất. Sau bao nhiêu hy sinh của bách tính, của hàng vạn binh sĩ, của hàng trăm tướng lĩnh đã tạo nên một quốc gia thống nhất. Như đã công bố trong lễ đăng quang, ta lấy đế hiệu là Đinh Tiên Hoàng Đế, niên hiệu Thái Bình, năm 968 là năm Thái Bình thứ nhất, kinh đô Hoa Lư, Quốc hiệu Đại Cồ Việt. Những điều này triều đình đã viết trong “Cáo Thị” gửi bách tính, quan lại trong toàn Đại Cồ Việt. Nội quan Đỗ Thích đâu?

- Dạ, bẩm Hoàng thượng, có thần.

- Cáo thị của triều đình đã gửi đi toàn quốc chưa?

- Dạ bẩm Hoàng thượng, các nội quan đã chép sạch sẽ gửi đi các châu, huyện và còn dán ở các trấn trị các châu cho bách tính đọc ạ.

Đinh Tiên Hoàng nói tiếp:

- Các đại thần văn võ bá quan nghe khẩu dụ sau đây:

- Nay phong Trần Nương làm đệ nhất hoàng hậu, Dương Văn Nga làm Đại Thắng Minh Vương hoàng hậu, Ngô phu nhân làm đệ tam hoàng hậu, Trinh Minh làm Trinh thục hoàng hậu, Nguyễn Thị Sen làm Từ Phi hoàng Hậu, Kiều Thị làm Kiều Quốc hoàng hậu, Cồ Thị làm Cồ Quốc hoàng hậu, Ca Thị làm Ca Ông hoàng hậu.

- Nay phong Trần Minh Công là Phụ Dực Quốc Chính Thượng tướng quân, ăn lộc ở đất Sơn Nam, thực ấp 2000 hộ. Phong Phạm Phòng Át làm thân vệ Đại tướng quân, ăn lộc ở Đằng Châu, An Biên, Lục Châu, thực ấp 2000 hộ. Phong Lê Hoàn làm Thập Đạo Tướng quân, Tổng chỉ huy 10 đạo quân của Đại Cồ Việt. Phong Nguyễn Bặc làm Định Quốc Công. Phong Đinh Điền làm Ngoại Giáp, phụ trách công việc đối ngoại của Đại Cồ Việt. Phong Lưu Cơ làm Đô Hộ Phủ Sĩ Sư. Phong Phạm Hạp, Phạm Cự Lượng, Trịnh Tú, Bùi Quang Dũng, Đinh Võ Trung làm Đại tướng của Đại Cồ Việt. Phong Lý Công Uẩn làm Điện Tiền chỉ huy sứ, phụ trách quân ngự lâm bảo vệ kinh thành và hoàng gia. Phong Đinh Liễn làm Nam Việt Vương, Tổng trấn Hoa Lư. Phong Trần Thăng là Phò Mã Đô Úy. Phong Trần Nguyên Thái làm Phò mã Thị Lang Ngoại Giáp. Phong Ngô Nhật Khánh làm phò mã Đô úy. Phong Ngô Chân Lưu làm Tăng Thống, ban Khuông Việt Đại sư, đứng đầu Phật giáo toàn cõi Đại Cồ Việt. Phong Trương Ma Ni làm Tăng Lục. phong Đặng Huyền Quang, đạo sĩ làm Sùng Chân Uy.         

- Chính quyền địa phương các đạo phải cấp ruộng đất cho các gia đình có con em hy sinh hoặc đang tại ngũ mà đã tham gia chiến đấu trong cuộc chiến tranh thống nhất đất nước.

Tất cả bá quan văn võ đều quỳ và đồng thanh:

- Chúng thần tạ ơn Hoàng thượng.

- Chúc mừng Hoàng thượng đăng quang. Hoàng thượng vạn vạn tuế.

- Các ái khanh bình thân.

- Tạ Hoàng thượng.

Đinh Tiên Hoàng nói tiếp:

- Nay ta xóa bỏ cách chia hành chính cũ là châu, cả nước nay chia thành 10 đạo, dưới đạo là châu, dưới châu là huyện, dưới huyện là hương và xã. Quan đứng đầu đạo gọi là Tổng trấn. Mười đạo hành chính này cũng là 10 đạo quân binh do quan Thập đạo tướng quân chỉ huy. Tổng trấn các đạo là những võ quan đã có nhiều công lao đóng góp trong cuộc nội chiến. Mười võ tướng sau đây nhận chỉ: Nay phong Phạm Công Thanh, Phạm Công Hoài, Phạm Công Định, Phạm Thành, Phạm Phổ, Đinh Đức Đạt, Trịnh Đức Thông, Nguyễn Đức Long, Lã Lang, Ngô Xương Xí nhận chức Tổng trấn các đạo.

10 võ quan bước ra quỳ và đồng thanh:

- Tạ ơn Hoàng thượng. Chúc Hoàng thượng vạn vạn thuế.

- Các ái khanh bình thân.

- Tạ Hoàng thượng.

Đinh Tiên Hoàng nói tiếp:
- Về quân sự, biên chế đơn vị lớn nhất là đạo, sau đạo là quân, sau quân là lữ, sau lữ là tốt, sau tốt là ngũ. Nay chúng ta có khoảng 1 triệu quân chính quy mà dân số Đại Cồ Việt khoảng 5 triệu. Cho nên, để bảo đảm sản xuất và quốc phòng, ta chủ trương chính sách “Ngụ binh ư nông”, tức là gửi quân lính ở nhà nông, một phần hai quân sĩ về làm ruộng, hết hai mùa vụ 1 năm lại về quân ngũ và một phần hai tiếp theo lại về thay thế, nghĩa là thay phiên nhau sản xuất nhưng cũng là thay phiên nhau giữ nước.

- Lại nữa, cai trị đất nước phải có pháp luật. Nay Đại Cồ Việt chưa có pháp luật thành văn, ta hạ lệnh lấy phong tục tập quán của người Việt làm pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, dùng trong tố tụng. Về trừng phạt, ta chủ trương trừng phạt nặng để khiếp sợ mà không dám phạm pháp, tội nặng mà trừng phạt nhẹ là đồng lõa với tội ác và tội do đó mà mọc như cỏ dại. Ta ra lệnh kẻ phạm tội nặng ném vào vạc dầu đang sôi hoặc ném vào chuồng hổ cho hổ xé xác. Ngày mai, tại sân triều phải đặt một vạc dầu lớn và 5 chuồng hổ rộng để sẵn sàng thi hành pháp luật.

Các đại thần văn võ bá quan lại đứng dậy cúi mình:

- Chúng thần tuân chỉ.

Đinh Tiên Hoàng nói tiếp:

- Lại nữa, đất nước giữa các vùng phải giao lưu buôn bán sản vật, đổi cái thừa mua cái thiếu để sử dụng, phát triển sản xuất. Ta ra lệnh ngân khố nhà nước thu vàng trong toàn quốc, trên cơ sở số vàng nhà nước trong kho mà đúc ra tiền đồng để cho thiên hạ dễ mua bán. Đồng tiền này mang niên hiệu của ta là đồng Thái Bình Hưng Bảo. Các quan ở triều đình cũng như ở trung ương căn cứ theo các chỉ dụ này mà hành pháp, không được sai phạm sơ suất. Các quan ở địa phương và trung ương lớn nhỏ đều ăn lộc triều đình, lộc triều đình là thuế má của bách tính, cho nên làm việc phải vì xã tắc, vì bách tính, vì triều đình. Ai vi phạm trừng phạt không tha. Ai còn tấu gì nữa không?

- Chúng thần tuân chỉ.

- Bãi triều.

Kinh đô Hoa Lư trong một đêm mùa hạ. Trong biệt phủ của phò mã Đô úy Ngô Nhật Khánh, Ngô hoàng hậu đang ngồi nói chuyện với con trai của mình. Ngồi bên cạnh là đứa bé trai 5 tuổi trông khôi ngô lanh lợi. Đó là hoàng tử Hạng Lang, con trai của Đinh Tiên Hoàng và Ngô hoàng hậu.

Ngô Nhật Khánh là dòng dõi họ hàng với Tiền Ngô Vương Ngô Quyền, quê quán ở Đường Lâm. Trong loạn 12 sứ quân, Ngô Nhật Khánh cũng chiếm cứ vùng Đương Lâm xưng hùng xưng bá với mục tiêu là khôi phục ngai vàng nhà Ngô do chính ông ta làm hoàng đế. Do không đủ lực lượng nên phải quy hàng Đinh Tiên Hoàng. Đinh Bộ Lĩnh trong con mắt chính trị cũng muốn thu phục dòng dõi Ngô Vương, một gia tộc lớn, có ảnh hưởng trong bách tính khi đó nên đã thu phục Ngô Nhật Khánh. Sau khi về Hoa lư, Đinh Tiên Hoàng đã cưới mẹ Ngô Nhật Khánh là Ngô phu nhân, một góa phụ đã có hai con và phong làm Ngô hoàng hậu. Ngược lại, để thêm sự bền chặt, Đinh Tiên Hoàng đã gã công chúa Phất Kim cho Ngô Nhật Khánh và phong là phò mã Đô úy. Đinh Tiên Hoàng còn cho Nam Việt Vương Đinh Liễn, con trai trưởng của mình lấy em gái Ngô Nhật Khánh. Cuộc hôn nhân của Đinh Tiên Hoàng với Ngô hoàng hậu đã cho ra đời hoàng tử Hạ Lang, năm nay đã tròn năm tuổi.

Cũng phải nói thêm rằng, theo tính toán của Đinh Tiên Hoàng, bệ đỡ của triều đình nhà Đinh dựa trên ba trụ cột, đó là quân đội và các tướng lĩnh, thứ hai là Phật giáo, thứ ba là các gia tộc có ảnh hưởng lớn về chính trị trong thiên hạ. Trong bệ đỡ gia tộc lớn, Đinh Tiên Hoàng đã tạo nên những mối quan hệ chằng chéo, phức tạp về hôn nhân. Trong khi ở Bố Hải Khẩu, Đinh Tiên Hoàng kết hôn với con gái Trần Minh Công là Trần hoàng hậu. Sau khi lên ngôi, Đinh tiên Hoàng gả công chúa Minh Châu cho Trần Thăng, gả công chúa Phất Ngân cho Trần Nguyên Thái là hai em em trai của Trần Minh Công. Trần Nguyên Thái phụ trách về ngoại giao của Đại Cồ Việt, đứng sau Ngoại giáp Đinh Điền. Năm 976, Trần Nguyên Thái đã đi sứ sang nhà Tống đàm phán về quan hệ hai nước. Năm 968 khi vào Ái Châu thu phục Ngô Xương Xí, Đinh Tiên Hoàng lại kết duyên với Dương Vân Nga là ái nữ của Dương Tam Kha để kết giao với dòng họ Dương tăm tiếng và thế lực ở châu này. Kết qủa của cuộc hôn nhân này, Dương Vân Nga đã sinh ra hoàng tử Đinh Toàn.

Như vậy, Đinh Tiên Hoàng có ba công chúa và ba hoàng tử. Ba hoàng tử đều là cùng cha khác mẹ. Trưởng nam là Đinh Liễn, một tướng tài, từng cùng Đinh Tiên Hoàng xông pha chiến trận, lập được nhiều chiến công, góp phần to lớn vào việc dẹp các sứ quân, thống nhất thiên hạ, khai sinh triều nhà Đinh ở Hoa Lư. Ngoài tài quân sự, Nam Việt Vương Đinh Liễn còn có tài ngoại giao. Năm 972 Đinh Liễn phụng mệnh Đinh Tiên Hoàng đi sứ sang Biện Kinh (Khai Phong), Kinh đô Nhà Tống. Cuộc bang giao đã thành công tốt đẹp nên năm 975 vua Tống sai sứ sang phong cho Đinh Tiên Hoàng làm Giao Chỉ Quận Vương, Phong cho Đinh Liễn là Tĩnh hải quân Tiết độ sứ An Nam đô hộ phủ. Hoàng Tử thứ hai là Đinh Hạng Lang, con của Đinh Tiên Hoàng và Ngô Hoàng hậu. Đinh Hạng Lang phải gọi Ngô Nhật Khánh là anh cùng mẹ khác cha, gọi Đinh Liễn là anh cùng cha khác mẹ. Hoàng tử nhỏ tuổi nhất là Đinh Toàn, con của Đinh Tiên Hoàng với hoàng hậu Dương Vân Nga. Triều đình và hào kiệt trong thiên hạ, kể cả Đinh Liễn đều tin là Đinh Tiên Hoàng sẽ trao ngôi thái tử cho Đinh Liễn. Công lao và tài năng của Đinh Liễn xứng đáng với ngôi vị đó.

Quay lại biệt phủ của Ngô Nhật Khánh và cuộc chuyện trò giữa Ngô hoàng hậu và con trai. Sau một vài chén trà Ngô Nhật Khánh nói với Ngô hoàng hậu:

- Hôm nay vắng công chúa Phất Kim, còn có hai mẹ con, con muốn nói với thân mẫu một chuyện mà từ lâu con không nói được.

Ngô hoàng hậu ngạc nhiên:

- Phò mã có việc gì vậy?

- Thân mẫu đừng gọi con là phò mã. Từ lâu con đã muốn khôi phục lại ngôi vị của dòng họ Ngô hiển hách do Tiền Ngô Vương xây dựng nên.

Ngô hoàng hậu hốt hoảng:

- Con đã là phò mã nhà Đinh, mẹ cũng là hoàng hậu nhà Đinh, em gái con là Nam Việt Vương Đinh phu nhân, em trai con là hoàng tử nhà Đinh. Sao con lại quên ơn Đinh Tiên Hoàng, quên đi địa vị của mình mà nói những lời phản nghịch như vậy. Con muốn nhà mình bị tru di ba họ sao?

Ngô Nhật Khánh lạnh lùng đáp:

- Nền độc lập của nước Việt ta do công lao của Ngô Vương Ngô Quyền và dòng họ ta tạo nên. Đáng tiếc, Tiền Ngô Vương mất sớm và thiên hạ bước vào loạn lạc. Đinh Tiên Hoàng chẳng qua là dựa vào sức họ Trần, họ Dương và họ Ngô mà thống nhất được thiên hạ. Đáng lý phải trả lại ngai vàng cho dòng họ Ngô ta mới đúng. Các ngôi vị của nhà ta mà thân mẫu vừa nói cũng chẳng qua là hư vị, cũng chỉ là phụ thuộc và cúi đầu trước họ Đinh mà thôi.

Ngô hoàng hậu gần như nổi giận:

- Con đã từng là sứ quân mà không hiểu thời cuộc. Nếu con là người chiến thắng 11 sứ quân thì con có trao ngai vàng cho ai không, ngay trong dòng họ Ngô, con có trao cho Ngô Xương Vương không? Còn ngôi vị nhà ta hư vị là thế nào? Vinh hoa phú quý không kém dòng quý tộc nhà Đinh. Con còn đòi hỏi gì? Còn mơ khôi phục ngai vàng, con có thực lực không. Ngay khi còn là một sứ quân đã phải đầu hàng rồi là gì? Làm thế nào mà đảo ngược được thời vận? Con thật ảo tưởng.

- Nhưng mộng của con là mộng đế vương, không phải là địa vị Đô úy phò mã. Thân mẫu hãy giúp con. Con biết là thân mẫu có cách giúp.

- Ta giúp được gì?

- Trong lịch sử, bao nhiêu triều đại đã bị sắc đẹp của các hoàng hậu lật đổ, đem lại ngai vàng cho dòng họ ngoại. Mẹ hãy dùng sắc đẹp thuyết phục lung lạc Đinh Tiên Hoàng để ngài ấy bỏ ý định lập Đinh Liễn làm thái tử mà truyền ngôi cho Đinh Hạng Lang nhà ta. Khi Đinh Tiên Hoàng mất, Đinh Hạng Lang lên ngôi, con trở thành nhiếp chính, nắm hết quyền lực. Quyền lực từ nhà Đinh sẽ dần chuyển về tay nhà Ngô dễ như thò tay vào túi lấy đồ vật.

- Mẹ không làm được. Mụ già đã 50 tuổi như ta làm gì còn sắc đẹp như Dương Vân Nga mà lung với lạc Đinh Tiên Hoàng. Ta được phong hoàng hậu đã là may lắm rồi. Vả lại, trong ba người con, Đinh Liễn tài năng, đức độ là xứng đáng ngôi thái tử. Vả lại Đinh Liễn là con rể của ta, em rể của con, lại là anh vợ của con cơ mà.

- Đinh Liễn dù là anh vợ lại là em rể làm vua thì vẫn là triều nhà Đinh. Ý của con là kiên quyết thay nhà Đinh bằng nhà Ngô. Nếu thân mẫu không giúp êm đẹp như vậy, con công khai cầu viện ngoại bang, khi đó thân mẫu và hai em chết thì đừng trách con. Thân mẫu muốn con làm vua hay cả nhà nhà ta sẽ chết.

- Con đang ép ta đấy hả?

- Không, con chỉ muốn thân mẫu giúp con vì thân mẫu giúp được trong tầm tay, vả lại con đường này êm xuôi, không đổ máu.

- Thôi được, để ta xem.

Ngô Nhật Khánh mừng rỡ:

- Con cảm ơn mẹ.

Ngô hoàng hậu dặn trước:

- Nhưng khi làm nhiếp chính, không được làm hại Hạng Lang đấy.

- Ai lại làm hại em mình. Thân mẫu yên tâm.

- Ai biết đâu được, phò mã đúng là lòng tham không đáy.

Đêm nay, trong cung của Ngô hoàng hậu, đèn nến sáng trưng lộng lẫy như thiên hà, như sao sa. Hoa kết nhiều màu tươi thắm, rực rỡ, cỗ bàn yến tiệc linh đình. Hôm nay là ngày sinh nhật thứ 5 của hoàng tử Đinh Hạng Lang. Hoàng tử có tướng mạo phi phàm, khôi ngô, tuấn tú, mắt sáng, môi đỏ. Hoàng tử nhỏ mặc áo vàng, đội khăn vàng càng thêm rực rỡ. Ngô hoàng hậu đêm nay cũng trang điểm lộng lẫy xinh đẹp khác thường. Nhìn hoàng hậu ai cũng cho rằng bà mới 30 tuổi, không ai cho rằng bà đã ngũ tuần. Đinh Tiên Hoàng bế Hạng Lang, nhìn Ngô hoàng hậu mà hạnh phúc dâng tràn. Các đại thần, thái giám được Ngô hoàng hậu sủng ái không ngớt lời ca ngợi Đinh Hạng Lang, khi tiệc rượu choáng váng say sưa một số kẻ to gan xu nịnh còn nói đến Đinh Hạng Lang xứng ngôi thái tử mà không sợ tai vách mạch rừng.

Đêm đó, Đinh Tiên Hoàng uống nhiều say nên ở lại cung của Ngô hoàng hậu. Trong đêm mơ hồ, Đinh Tiên Hoàng nghe thấy Ngô Hoàng Hậu khóc bên cạnh mình. Đinh Tiên Hoàng hỏi:

- Sao đêm nay vui mà nàng lại khóc? Ai bắt nạt nàng để ta trị tội?

Ngô hoàng hậu nỉ non:

- Không ai bắt nạt nhưng thần thiếp lo cho Hạng Lang và thân phận thiếp sau này.

- Sau này là thế nào?

- Khi thiếp không còn, Hoàng thượng không còn, ai là người chăm lo bảo vệ cho Hạng Lang?

- Ta chưa nghĩ đến việc đó. Ta và nàng còn sống đến đầu bạc răng long…

- Vậy Hoàng thượng nghĩ đi là vừa. Cách tốt nhất nếu Hoàng thượng thương yêu Hạng Lang và thương yêu thần thiếp thì hãy cho Hạng Lang làm thái tử, kế vị ngai vàng.

- Ta định để ngôi thái tử cho Đinh Liễn.

- Đinh Liễn đã là Nam Việt Vương rồi, vương cũng là vua, lại quyền lực, tài ba, lo gì ai bắt nạt. Ngôi vị và thân phận của Đinh Liễn thật là may mắn và rực rỡ, quyền uy vững chắc. Cũng là hoàng tử, con của Hoàng thượng mà Hạng Lang thì…

Ngô hoàng hậu lại nấc lên, khóc như mưa gió, lệ rơi đầm đìa lã chả. Đinh Tiên Hoàng là người hay mềm lòng, thấy nước mắt của người đẹp rơi thì không cầm lòng được, liền ôm Ngô hoàng hậu và dỗ dành:

- Thôi nàng nín đi, ta lập Hạng Lang làm thái tử là được chứ gì.

- Đa tạ Hoàng thượng. Hoàng thượng nói phải giữ lời đấy nha.

- Vua không nói chơi.

Rồi Đinh Tiên Hoàng ôm Ngô hoàng hậu, chìm trong say rượu, say sắc đẹp như tiên giáng trần của mỹ nhân.

Sớm hôm sau, Đinh Tiên Hoàng lên điện thiết triều. Trăm quan văn võ quỳ xuống tung hô:

- Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.

- Miễn lễ, các ái khanh bình thân.

- Đa tạ Hoàng thượng.

- Ái khanh nào có tấu, nói đi

Quan Đô Hộ phủ Sĩ sư Lưu Cơ bước ra:

- Thần có tấu.

- Ái khanh nói đi.

- Dạ, bẩm Hoàng thượng, trong thiết chế triều chính của nhà Đinh ta còn thiếu một phần rất quan trọng.

- Thiếu cái gì?

- Dạ, bẩm Hoàng thượng, thiết chế quân chủ hoàng đế là thiết chế cha truyền con nối, còn gọi là thế tập. Nay Hoàng thượng có tới ba hoàng tử. Kính mong Hoàng thượng sớm lập ngôi thái tử để hoàng gia, triều đình, bách tính yên lòng. Lòng người có yên thì thiên hạ mới thái bình, thịnh trị. Tâu Hoàng thượng.

Các đại thần đồng thanh:

- Kính mong Hoàng thượng sớm lập thái tử.

Đinh Tiên Hoàng hỏi:

- Theo các khanh, ai là người xứng đáng ngôi thái tử trong ba hoàng tử?

Đinh Điền bước ra tâu:

- Thần thấy rằng Nam Việt Vương Đinh Liễn là xứng đáng ngôi vị thái tử, đủ tài đức để kế tục sự nghiệp của Hoàng thượng.

Phò mã đô úy Trần Thăng tấu:

- Thần bẩm tấu.

- Ái khanh nói đi:

- Bẩm Hoàng thượng, thần cũng thấy rằng Nam Việt Vương Đinh Liễn đủ tài để kế tục sự nghiệp của Đinh Tiên Hoàng Đế.

Các đại thần đều đồng thanh:

- Bẩm Hoàng thượng, Nam Việt Vương Đinh Liễn xứng đáng ngôi thái tử.

Đinh Tiên Hoàng nghiêm nét mặt nói:

- Ta lại trái ngược với ý kiến của các khanh, người xứng đáng ngôi thái tử là hoàng tử Đinh Hạng Lang.

Cả triều đình nghe như sét đánh bên tai. Có đại thần tưởng nghe nhầm còn hỏi người bên cạnh:

- Ai cơ?

- Ngài không nghe à, Hoàng thượng nói là hoàng tử Đinh Hạng Lang.

Lão thần Thân vệ Đại tướng quân Phạm Phòng Át đứng lên bẩm tấu:

- Bẩm Hoàng thượng, nếu Hoàng thượng chỉ có một hoàng tử Đinh Hạ Lang thì quyết định như vậy là đúng, nhưng Hoàng thượng có Nam Việt Vương Đinh Liễn là trưởng nam, tài đức vẹn toàn, từng xông pha trận mạc, cùng Hoàng thượng lập bao nhiêu võ công hiển hách. Mong Hoàng thượng nghĩ lại.

Các đại thần đồng thanh:

- Mong Hoàng thượng nghĩ lại.

Đinh Tiên Hoàng đứng dậy nổi giận:

- Ta đã quyết, ý ta là ý trời. Vua không nói chơi. Bãi triều.

Cả triều đình choáng váng. Các đại thần lảo đảo bước ra. Bầu trời mùa xuân đang trong xanh bỗng nhiên không gian tối sầm, sấm sét khủng khiếp rồi mưa như trút nước. Các lão thần giỏi phong thủy đều cho rằng vận nhà Đinh bước sang thời kỳ rất xấu.

Biệt phủ của Nam Việt Vương Đinh Liễn và toàn bộ cung điện hoàng thành Hoa Lư chìm trong bóng tối dày đặc. Những dãy núi đá vôi vươn lên trời cao sưng sững đen sì nhô lên những hình thù kỳ quái. Những tán lá cây phủ trên những mái nhà lợp ngói vẫy cá đen sì. Những đầu đao của những chái nhà vẽ lên không trung, những con rồng mờ nhạt.

Trong biệt phòng sang trọng, ba người đang ngồi ở ghế tràng kỷ đặt ở giữa, đó là Nam Việt Vương Đinh Liễn, ngồi đối diện là đại tướng Đinh Điền, Đại tướng Đinh Quốc Trung. Ba người đang rất căng thẳng lộ ra trên nét mặt được lộ rõ bởi những ngọn đèn dầu mà thân hình là những con quái vật được đúc bằng đồng tỏa ánh lửa sáng lung linh. Sau hai lần trà nước, Nam Việt Vương Đinh Liễn nói nhỏ:

- Không rõ vì lý do gì mà phụ hoàng lại không cho ta kế vị, lại cho một thằng nhỏ mới 5 tuổi, làm sao có khả năng cai trị đây, lại không đếm xỉa đến những can gián của các đại thần, kể cả của lão thần Phạm Phòng Át?

Đinh Điền nói:

- Theo đệ, người đứng đằng sau biến cố này là Ngô Nhật Khánh. Ngô Nhật Khánh vốn có nhiều tham vọng, muốn Đinh Hạng Lang nối ngôi và Ngô Nhật Khánh sẽ làm nhiếp chính, dần dần chuyển giao quyền lực vào tay nhà Ngô. Ngô Nhật Khánh đã mượn Ngô hoàng hậu tác động với Đinh Tiên Hoàng nên Hoàng thượng mới thay đổi ý kiến nhanh như vậy.

 

9

 

Đinh Quốc Trung hỏi:

- Huynh có bằng chứng gì không?

Đinh Điền đáp:

- Bằng chứng cụ thể là đêm hôm sinh nhật Hạng Lang, Hoàng thượng đã ở lại suốt đêm cung Ngô hoàng hậu và sáng hôm sau thiết triều, Hoàng thượng đã kiên quyết đưa ra quyết định trên,

Đinh Liễn như sực tỉnh cơn mê:

- Ta hiểu rồi, Đại tướng nói không sai, khi mà Hạng Lang kế vị, Ngô Nhật Khánh sẽ là nhiếp chính, nắm hết quyền lực, tiến tới thủ tiêu Hạng Lang và ngồi lên ngai vàng, thay triều đại nhà Đinh bằng triều đại nhà Ngô. Thật là những nước cờ tham lam và nguy hiểm, nhà Đinh đang đặt trước nguy cơ diệt vong. Công lao của ta và của bao tướng lĩnh sẽ thành ra công cốc. Cốc mò cò xơi, làm thế nào được bây giờ?

Đinh Điền nói:

- Mạt tướng có một cách, không biết Nam Việt Vương có dám thực hiện hay không?

- Cách gì?

- Cách này hơi tàn bạo.

- Chính trị và quyền lực bản thân nó là tàn bạo. Nói ta nghe thử.

Đinh Điền ghé vào tai Nam Việt Vương nói nhỏ:

- Như thế, như thế…

Nam Việt Vương Đinh Liễn gật gù:

- Hơi tàn bạo nhưng vì cứu cơ nghiệp nhà Đinh, ta chỉ còn cách đó.

Đinh Quốc Trung ngẩn người không rõ, nhưng sau khi hiểu Đinh Điền nói gì, mặt tái đi vẻ vô cùng hoảng sợ…

Đang là tháng 3, tiết trời đã chuyển dần sang ấm áp, hoàng hôn đang xuống dần khắp bốn phương trời. Kinh đô Hoa Lư hoàng hôn như đến sớm hơn, những dải mây bừng đỏ phía Tây và tím dần, những ánh sáng vàng nhạt buổi chiều hắt xuống mong manh. Thành quách, núi non trở lại một màu xám tối. Gió nhẹ. Lá vàng rắc đầy lối đi dưới các tán lá xanh của cây cối um tùm trong vườn ngự uyển. Những thác nước nhân tạo tuôn ra từ các hòn non bộ tung trắng xóa vô tận…

Hoàng tử Đinh Hạng Lang rất thích thiên nhiên, thích được Ngô hoàng hậu và thị nữ dắt đi dạo bước trong vườn ngự uyển. Chung quanh khuôn viên thành quách được canh phong cẩn mật. Hàng chục võ sĩ vẫn được thay phiên nhau đứng gác từng góc và quanh vườn. Chiều nay như thường lệ, Ngô hoàng hậu vẫn dắt Đinh Hạng Lang dạo chơi. Thực ra, thể chất Đinh Hạng Lang không được khỏe lắm. Mỗi lần dạo bộ như vậy giúp Đinh Hạng Lang tinh thần phấn chấn vui vẻ, sức khỏe được cải thiện vì được hít thở khí trời, được làm quen với thiên nhiên thoáng mát. Đinh Hạng Lang mặc một chiếc áo vàng, đi giầy vàng, đầu quấn khăn vàng chạy nhảy tung tăng đi trước Ngô hoàng hậu và hai thị nữ, lúc dừng lại cạnh hòn non bộ, khi nghịch nước, lúc cúi xuống nhặt những hòn sỏi, lúc bứt bông hoa, cái lá, lúc đuổi theo đôi bướm, Ngô hoàng hậu và hai thị nữ liên mồm nhắc:

- Cẩn thận kẻo ngã đau, Lang nhi.

- Lang nhi, cẩn thận.

Đến chỗ con đường uốn lượn góc vuông, bị tường đá và cây cối che khuất, Ngô hoàng hậu không trông thấy Hạng Lang chạy trước. Bỗng nghe Hạng Lang kêu thét lên;

- Mẹ ơi đau quá.

Tiếng Hạng Lang tắc nghẹn. Ba người vội chạy lên thì thấy một bóng đen bịt mặt, tay cầm một cây cung vụt qua và biến mất lên không trung sau dãy núi đá. Ngô hoàng hậu và hai thị nữ chạy lại thì thấy Hạng Lang ngã nằm sấp, lưng bị cắm một mũi tên bắn cực mạnh xuyên từ lưng sang ngực, máu chảy đầm đìa. Ngô hoàng hậu ôm Hạng Lang kêu lên:

- Bay đâu, có thích khách.

-Bay đâu, chúng giết Lang thái tử rồi. Hu!hu!hu! trời ơi! Sao lại như vậy!!!

Những người lính đứng gần đó vội chạy lại vô cùng kinh ngạc và hoảng sợ, vội bế Hạng Lang đưa về cung Ngô hoàng hậu. Ngô hoàng hậu chạy theo sau gào khóc. Người lính gọi:

- Gọi thái y mau lên. Người đâu!

Không lâu sau thái y đến, rút mũi tên và băng vết thương. Ông cầm tay Hạng Lang và bắt mạch, nhìn vào mắt, đưa tay vào mũi Hạng Lang và kêu lên đau đớn:

- Hoàng Thái tử chết rồi!!!

Ngô hoàng hậu kêu lên:

- Trời ơi!

Rồi bà ngất lịm, ngã vật vào tay hai thị nữ.

Tin hoàng thái tử Hạng Lang bị ám sát chết làm chấn động kinh đô Hoa Lư. Những người lính gác đứng gần lập tức bị bắt. Đinh Tiên Hoàng đến ôm Hạng Lang vào lòng mà khóc. Quan nội thị Đỗ Thích quỳ xuống tâu:

- Xin Hoàng thượng nén đau buồn, vua một nước chỉ khóc khi nước mất và mất triều đại mà thôi.

Đinh Tiên Hoàng ra lệnh gọi hình pháp đến khám nghiệm tử thi của Hạng Lang và xem xét mũi tên. Pháp y tâu:

- Bẩm Hoàng thượng, mũi tên có chất độc, kẻ ra tay thật tàn độc, tên lại có chất độc chứng tỏ chúng muốn giết bằng được thái tử, không cho cơ hội sống sót.

Đinh Tiên Hoàng hỏi:

- Mũi tên đề tên ai?

- Dạ bẩm Hoàng thượng, bình thường mũi tên phải đề tên chủ nhân sử dụng nhưng mũi tên này không đề tên chứng tỏ hung thủ kiên quyết dấu mặt, không kể đến danh dự của kẻ dùng cung tên trong giới anh hùng hào kiệt, trong giới võ lâm.

Đinh Tiên Hoàng hỏi hai thị nữ:

- Các ngươi thấy những gì khi thái tử bị bắn:

Thị nữ quỳ tâu:

- Da, bẩm Hoàng thượng, hai nô tì và Ngô hoàng hậu vẫn theo sát thái tử nhưng khi đến một góc khuất, nô tì chưa theo kịp thì đã nghe thái tử kêu, sau tiếng kêu của thái tử, nô tì và cả Ngô hoàng hậu thấy một bóng đen trùm mặt, tay cầm cung bay qua ngọn cây và bay ra ngoài thành trốn mất.

- Những lính đứng gác có thấy gì không? Chúng có phải là hung thủ không?

Nội quan Đỗ Thích tâu:

- Dạ bẩm Hoàng thượng, nô tài cho rằng họ không phải là hung thủ vì quy định lính gác không được mang cung tên, chỉ được mang gươm. Như vậy quân ngự lâm gác hôm đó không phải là hung thủ.

Đinh Tiên Hoàng ra lệnh mai táng Đinh Hạng Lang theo nghi lễ quốc tang hoàng thái tử, đó là năm Kỷ Mão 979. Sau lễ mai táng, vào một tối, trong cung của Ngô hoàng hậu, Đinh Tiên Hoàng ngồi buồn bã, còn Ngô hoàng hậu quỳ khóc dưới chân:

- Hoàng thượng ơi chúng ta mất Hạng Lang rồi. Hu!hu!hu! Hạng Lang của thần thiếp ở đâu? Lang nhi chết thảm quá, oan quá. Mong Hoàng thượng trừng trị kẻ ác nhân cho linh hồn Lang nhi trên trời được thanh thản. Hu!hu!hu!

Đinh Tiên Hoàng nói:

- Ta cũng đau thương có kém gì nàng đâu nhưng có biết hung thủ là ai đâu mà trừng trị.

Ngô hoàng hậu nói trong căm thù:

- Hạng Lang là thái tử, khi Hạng Lang mất đi, kẻ đó được ngôi thái tử thì kẻ đó là hung thủ. Hu!hu!hu!

- Nàng muốn ám chỉ ai? Đinh Liễn hay là Đinh Toàn?

- Đinh Toàn mới có 4 tuổi, kẻ giết Hạng Lang để đoạt ngôi thái tử là anh cùng cha khác mẹ với Lang nhi, đó là Đinh Liễn.

- Nàng có bằng chứng gì không?

- Thiếp không có nhưng rõ ràng là như thế. Hạng Lang chết là do tham vọng của thần thiếp, do Hoàng thượng quá yêu mến nó. Hu! hu! hu!

Đinh Tiên Hoàng thấy Ngô hoàng hậu quá đau buồn, sợ lại ngất đi nên an ủi:

- Nàng yên tâm, ta sẽ điều tra, khi có chứng cớ ta sẽ trừng phạt không tha. Vạc dầu ở sân rồng đang sôi, hổ trong chuồng đang đói, ta sẽ ném chúng vào vạc dầu hoặc ném vào cũi cho hổ xé xác, rửa hận cho Lang nhi. Bay đâu?

Hai thị nữ chạy vào:

- Dạ, Hoàng thượng.

- Dìu hoàng hậu đi nghỉ. Nhớ chăm sóc cẩn thận.

- Dạ, chúng nô tì tuân lệnh.

Đinh Tiên Hoàng về cung.

- Hai thị nữ quỳ nói:

- Cung tiễn Hoàng thượng.

Cơ quan hình pháp đã làm việc hết mình mà cũng không tìm được bằng chứng ai là hung thủ giết Đinh Hạng Lang. Ngô hoàng hậu ngày ngày vẫn sống trong đau thương, nhớ Hạng Lang và căm hận. Cuối cùng, trong lúc quẫn trí bà nghĩ rằng chính tham vọng của anh nó là Ngô Nhật Khánh, chính sự yếu lòng của bà hứa giúp cho âm mưu của Ngô Nhật Khánh, chính sự mềm lòng và thương yêu Lang nhi của Đinh Tiên Hoàng đã gián tiếp giết chết Đinh Hạng Lang. Trời ơi, chính bà là hung thủ gián thiếp giết Lang nhi. Càng nghĩ, Ngô hoàng hậu càng buồn thảm không nguôi.

Một hôm, Ngô Nhật Khánh đến cung Ngô hoàng hậu. Ngô hoàng hậu lại khóc lóc đau buồn do nhớ Hạng Lang. Ngô Nhật Khánh hỏi:

- Vậy Đinh Tiên Hoàng không trừng trị Đinh Liễn à?

Ngô hoàng hậu nói:

- Hoàng thượng nói không có chứng cớ để kết tội Đinh Liễn, không bắt được kẻ bắn tên đã phi thân qua núi trốn thoát.

- Thân mẫu không chịu nói hết lời để ông ta trừng trị Đinh Liễn, báo thù cho Lang nhi.

- Không nói là thế nào. Ta đã quỳ xuống khóc lóc đau thương. Sau này nghĩ lại thì không có chứng cớ lấy đâu cơ sở mà kết án. Vả lại, giết Đinh Liễn là giết ai chứ? Đó là anh rể của con, con rể của ta. Giết nó, em gái của con sẽ thế nào? Con còn muốn em gái của con, các cháu ngoại của ta khổ sở côi cút hay sao?

- Biết ngay là thân mẫu không quyết tâm giết Đinh Liễn mà.

Ngô hoàng hậu nổi giận:

- Sao mày có thể nói vậy? bây giờ ta nói thật, Hạng Lang chết là do lòng tham của mày, do mưu mô phản nghịch của mày. Hạng Lang chết còn do ta nhẹ dạ nghe mày, xin Hoàng thượng đặt lên vai nó trách nhiệm thái tử nặng nề. Nó mới 5 tuổi đã biết gì chính trị tàn bạo của ngưới lớn cơ chứ. Lang nhi của ta là nạn nhân. Lang nhi chết oan uổng quá. Hu!hu!hu!

Ngô Nhật Khánh cũng nổi giận:

- Sao lại tại con? Thôi được, con có tội lớn nhất là tội phản nghịch. Con không ở lại Hoa Lư được nữa, Con sẽ chạy sang ngoại bang mượn quân về cướp ngai vàng, khôi phục lại triều đại Ngô. Cáo biệt thân mãu. Thân mẫu bảo trọng.

Ngô hoàng hậu chạy ra níu áo Ngô Nhật Khánh và kêu khóc:

- Không được cầu viện ngoại bang, không được phản quốc. Quay lại đi con ơi!

Ngô Nhật Khánh quyết dứt áo ra đi. Ngô hoàng hậu ngã vật ra hiên ngất xỉu. Hai thị nữ vội đỡ dậy bế vào giường.

Sớm hôm sau, Ngô Nhật Khánh một ngựa, công chúa Phất Kim một ngựa bí mật rời Hoa Lư, chạy theo đường thiên lý về hướng Nam của Đại Cồ Việt. Đi ròng rã ba ngày đêm đói khát. Ngày thứ ba đến bờ Bắc sông Gianh, vượt qua sông là tới lãnh thổ của Vương quốc Chiêm Thành. Thuyền Chiêm thành cập bờ Bắc để đón hai người. Khi đó đột nhiên Ngô Nhật Khánh rút dao nhọn ra, di lưỡi dao vào má công chúa Phất Kim giận dữ mắng:

- Mẹ con ta khi về với bố con nhà ngươi đã bị khinh rẻ, đối xử như nô tì, anh trai ngươi Đinh Liễn đã giết em ta là Hạng Lang. Ta hận là không băm vằm Đinh Liễn và Đinh Tiên Hoàng ra làm trăm mảnh. Ngươi nhận vết dao này về nói với cha ngươi ta sẽ mượn quân đội vương quốc Chiêm Thành về hỏi tội cha ngươi và anh ngươi, rửa hận cho mẹ con ta và cho Đinh Hạng Lang.

Nói xong Ngô Nhật Khánh cứa hai nhát dao vào má công chúa. Máu tươi ứa chảy ròng ròng trên má hồng xinh đẹp. Công chúa Phất Kim kêu thét lên đau đớn thì ít mà kinh hoàng thì nhiều. Ngô Nhật Khánh bỏ phu nhân của mình đứng gào khóc mà lên thuyền. Công chúa giơ tay lên trời cào vào không khí mà kêu lên:

- Đừng đi, Phò mã Đô úy quay lại đi. Đừng bỏ thiếp, đừng phản quốc, phò mã ơi. Hu!hu!hu!

Con thuyền xa dần đưa Ngô Nhật Khánh sang bờ Nam mờ mịt. Công chúa phất Kim trong hoảng loạn định lao mình xuống dòng sông. Chợt nghĩ ra nếu mình mất tích, phụ hoàng và các anh chị ở Hoa Lư biết đâu mà tìm và muôn đời không có lời giải đáp sự bí ẩn đau thương này. Nàng xé vạt áo băng vết thương, bao che khuôn mặt chỉ còn hở ra hai con mắt, thay trang phục thường dân để dọc đường không ai để ý, thân gái dặm trường đầy nguy hiểm, cho hai con ngựa uống nước. Xong, công chúa lên một con, dắt theo một con, phi nước đại quay về hướng Bắc. Nàng tự trách mình sao lại quá yêu và quá tin vào tên phản bội để hắn đưa nàng vào tận cùng cuối đất của Đại Cồ Việt. May mà hắn không đâm chết nàng và vứt xác xuống sông Gianh. Không biết có ai là cành vàng lá ngọc mà bi kịch như mình không. Về đến Hoa Lư, công chúa Phất Kim vẫn chưa hết hoảng loạn bởi hành động của Ngô Nhật Khánh. Nàng bị tổn thương và sống trong đau buồn uất hận theo ngày tháng.

Vài tháng sau, kinh đô Hoa Lư ngày 15 tháng 10 năm Kỷ Mão. Bầu trời mùa đông u ám, gió lạnh thổi cắt da, sương trắng vừa chiều xuống đã lan tỏa khắp nơi, ánh nắng vàng vọt dần tắt. Núi đá vẫn trơ trọi một màu xám với thời gian, nắng gió vô tình. Trong đại sảnh của cung đình, mọi người ra vào tấp nập. Hôm nay là ngày giỗ của thái hoàng thái hậu, cụ bà thân sinh ra Đinh Tiên Hoàng Đế. Đêm nay, nhân ngày giỗ thân mẫu, Đinh Tiên Hoàng làm tiệc chiêu đãi các quan lại và hoàng tộc trong cung. Đèn dầu trong cung điện sáng trưng, cỗ bàn đầy sơn hào hải vị, rượu ngon trong kho rượu của cung đình đem lên hàng chum, rót ra như suối. Cung điện náo nhiệt tưng bừng trong tiếng chuyện trò, ăn uống rôm rả. Trong đêm rằm trăng sáng vằng vặc như ban ngày, soi rõ núi non thành quách lâu đài như chìm trong giấc mộng. Các đại thần, các quan viên thay nhau lần lượt đến cụng ly với Đinh Tiên Hoàng Đế và với Nam Việt Vương Đinh Liễn, vua của Đại Cồ Việt trong tương lai. Ai cũng tranh nhau để có được vinh dự ngắn ngủi này. Đêm đã khuya, các đại thần, các quan viên lần lượt cáo biệt ra về trong tư thế say sưa lảo đảo. Các thị nữ đầu bếp cũng đã thu hết bát đĩa các mâm không còn thực khách. Duy chỉ còn Đinh Tiên Hoàng và Nam Việt Vương Đinh Liễn còn ngồi khề khà trên chiếc bàn đặt giữa đại sảnh đường. Đèn dầu với những ngọn lửa như ngón tay cháy leo lét trên những chiếc đĩa bằng đồng lập lòe lấp lánh khi mờ khi tỏ. Trong đêm trường, bỗng nhiên những tiếng quạ kêu lên thảm thương như than khóc vang lên bi thảm khắp không gian. Những người lính ngự lâm vẫn đứng từ xa canh phòng cho vua và cho Nam Việt Vương, những thị nữ vẫn khoanh tay đứng từ xa chờ vua sai khiến. Đêm đã khuya, hai thị nữ thấy một bóng người ăn mặc kiểu nội quan đi lại bàn và rót rượu cho Đinh Tiên Hoàng và Nam Việt Vương Đinh Liễn. Vua và trưởng nam lại uống và sau đó lại gục xuống. Chừng canh giờ sau không thấy hai người uống nữa mà chỉ gục ngủ xuống bàn. Bóng quan nội thị lại xuất hiện từ xa. Một thị nữ gọi:

- Lính đâu.

Hai người lính gần nhất chạy ra:

- Có mạt tướng.

- Hoàng thượng và Nam Việt Vương say rồi, lại hộ giá về cung đi. Ai như bóng quan nội thị nào kia?

Hai người lính và hai thị nữ nhìn thì bóng người mất như bóng ma. Hai người lính và hai thị nữ tiến lại gần vua và Nam Việt Vương thì trên bàn trào ra hai vũng máu. Cả bọn người hoảng hốt:

- Người đâu, có thích khách!

- Người đâu, có thích khách!

Lính ngự lâm bốn hướng đông như kiến cỏ chạy ra bao vây cung điện. Bốn người đỡ Đinh Tiên Hoàng và Nam Việt Vương ngồi lên thì miệng hai ngươi đầy máu.

- Người đâu, gọi thái y nhanh lên. Hoàng Thượng và Nam Việt Vương bị hành thích.

Một lát, các nội quan và Thái y đến. Thái y lau miệng cho hai người, bắt mạch, nghe hơi thở và hoảng sợ nói:

- Đinh Tiên Hoàng Đế và Nam Việt Vương Đinh Liễn trúng kịch độc đã băng hà rồi.

Người lính ngự lâm nói:

- Thúc trống ngũ liên gọi quan Điện Tiền chỉ huy sứ, huy động lực lương bao vây cung điện bắt thích khách.

Trong đêm khuya, kinh đô Hoa Lư vang lên hồi trống ngũ liên dồn dập. Một lát sau, Điện Tiền chỉ huy sứ Lý công Uẩn ra lệnh cho ba nghìn cấm quân bao vây thành Hoa Lư, nội bất xuất. Ai trái lệnh chém.

Lính ngự lâm đưa thi hài Đinh Tiên Hoàng và Nam Việt Vương Đinh Liễn về cung. Trong cung của hai người sau đó vang lên tiếng khóc thê thảm của các hoàng hậu: Ngô Hoàng Hậu, Vạn Thắng Vương Dương Hoàng hậu, Trần hoàng hậu, Đan Gia hoàng hậu, Trinh Minh hoàng hậu, Kiều Quốc hoàng hậu, Cồ Quốc hoàng hậu, Ca Ông hoàng hậu. Các công chúa Minh Châu, Phất Kim, Phất Ngân, Ngô tiểu thư, phu nhân của Đinh Liễn khóc vật vã. Hai phò mã Trần Thăng và Trần Nguyên Thái đứng lặng đau buồn. Toàn bộ mang trên đầu những vành khăn trắng bi thương. Đinh Toàn, hoàng tử của Đinh Tiên Hoàng đầu buộc khăn trắng, hai cháu nội của Đinh Tiên Hoàng, con của Đinh Liễn và Ngô Tiểu thư còn bé cũng buộc khăn tang màu trắng và vàng, ai nhìn thấy cũng không cầm được nước mắt. Kinh Đô Hoa Lư và Đại Cồ Việt chìm trong tang tóc, chấn động kinh hoàng bởi cái chết của Đinh Tiên Hoàng và Nam Việt Vương Đinh Liễn, những anh hùng đánh đông dẹp Bắc, mang lại sự thống nhất cho non sông không chết tại chiến trường, lại chết trong thời bình bởi những âm mưu chính trị bẩn thỉu, đê hèn.

Ngày hôm sau, gia tộc Trần Minh Công ở Bố Hải Khẩu, gia tộc họ Đinh ở Hoa Lư, châu Trường Yên, gia tộc họ Dương ở Ái Châu, gia tộc họ Ngô ở Đường Lâm, tất cả các quan viên các đạo, các châu, các tướng lĩnh trấn thủ các đạo, các đại thần ở Hoa Lư và gia đình đã dự lễ Quốc tang, đưa Đinh Tiên Hoàng Đế và Nam Việt Vương Đinh Liễn về mai táng ở quê nhà, trên núi Mã Yên, Trường Yên, Hoa Lư. Đó là tháng 10 năm Kỷ Mão 979. Đinh Tiên Hoàng thọ 55 tuổi, ở ngôi 12 năm.

Suốt dọc đường từ Hoa Lư đến quê Đinh Tiên Hoàng, bách tính đứng hai bên đường tiễn đưa hai người về nơi an nghỉ cuối cùng đông như nêm cối. Đi đầu là lư hương, theo sau là hai quan tài màu vàng trên xe do ngựa kéo. Hai bên xe là hai hàng võ sĩ mặc áo đen, theo sau hai xe là gia quyến đầu phủ vải màu trắng tang tóc, theo sau là các quan viên đại thần và quân đội. Trời mùa đông u ám, màu cờ đen vàng rợp trời ủ rủ, bụi cuốn người đi kéo dài tới 4 dặm. Nhìn hai cỗ quan tài cùng một lúc, bách tính hàng nghìn người không cầm được nước mắt đau buồn. Một tốp cụ già đứng bên đường nói:

- Thật bi thương, chưa có đám tang nào của đế vương mà lại cùng một lúc là vua và hoàng thái tử.

- Không biết đã bắt được hung thủ chưa?

- Nghe nói chiều qua bắt được rồi.

- Làm sao mà bắt được? Kẻ nào mà to gan vậy, giết một lúc cả vua và thái tử?

- Nghe nói một thị nữ trông thấy một cánh tay trên mái nhà cung điện thò xuống vớt nước mưa uống, liền báo cho quân ngự lâm bắt. Thì ra đó là tên hoạn quan Đỗ Thích. Nhưng Đại tướng Nguyễn Bặc đến đem nó ra xé xác ngay mà không tra hỏi gì cả, thành ra không biết ai đứng đằng sau Đỗ Thích.

- Thì ra nó trốn trên đó hai ngày ròng đói khát. Vậy nó giết vua làm gì?

- Nghe nói nó mơ thấy sao rơi vào miệng, điềm làm vua nên giết vua để ngồi lên ngai vàng.

- Sao nó ngu vậy. Nó là một hoạn quan không thế lực. Bao nhiêu đại thần như Nguyễn Bặc, Lê Hoàn, Lưu Cơ, Đinh Điền, Phạm Cự Lượng, Phạm Hạp… ai để cho nó ngồi lên ngai vàng cơ chứ.

- Hay là có một thế lực đại thần nào đó đứng đàng sau Đỗ Thích?

- Này, vạ từ mồm. Muốn vào vạc dầu tắm hay vào cũi chơi với hổ?

- Dạ, tiện dân không dám.

- Hay là Đỗ Thích là tay sai của nhà Tống. Nó giết vua giỏi của ta để gây rối loạn mà sang xâm lược Đại Cồ Việt?

- Có thể như thế. Bọn giặc phương Bắc rất nhiều mưu mẹo gây rối và phá phách để phục vụ cho âm mưu của chúng.

- Thế thì Đại Cồ Việt nguy to rồi.

- Nguy gì, thời thế nào có anh hùng nấy, không còn Đinh Tiên Hoàng này thì có Đinh Tiên Hoàng khác. Chỉ tiếc là hai vị anh hùng xông pha trăm trận để thống nhất đất nước, lại chết vì chính nội bộ của mình, lại chết một cách không rõ ràng như vậy?

- Các cụ đã dạy rồi, lúc chiến trận một sống một chết nên phải đề phòng, lúc hòa bình thì lại càng phải đề phòng. Nhưng thường khi đã thành công rồi lại hay buông lỏng không đề phòng nữa. Các cụ có biết chuyện Triệu Việt Vương xông pha trăm trận đánh bại giặc Lương mà chết vì trúng mưu của thằng con rể Lý Nhã Lang không? Hay chuyện mới gần đây của Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ không, đánh dẹp hàng vạn quân Nam Hán, giành độc lập tự chủ mà lại chết bởi tay thằng con nuôi Kiều Công Tiễn. Cho nên, giặc trong nhà nguy hiểm và khó đánh hơn giặc ngoại xâm. Vì vậy, các cụ dạy không bao giờ sai, bậc đế vương, đại thần khi đã thành công càng phải đề phòng.

Nước Chiêm thành phía Bắc giáp quận Nhật Nam của Đại Cồ Việt, phía Nam giáp Chân Lạp ở vùng sông Đồng Nai, phía Đông giáp biển, bốn mùa đều có nắng chang chang. Tháng 10 rồi mà kinh đô Đồng Dương vấn nóng gay gắt. Trong cung điện của vua Chiêm Thành Bê Mỹ Thuế, những nô tì khỏe mạnh đang đứng phục vụ nhà vua và vị khách không mời mà đến là Ngô Nhật Khánh. Hai người đang đàm đạo thông qua một người Việt, biết cả tiếng Việt và tiếng Chăm. Chợt có tùy tướng vào báo:

- Dạ bẩm Hoàng thượng, có thám mã từ Đại Cồ Việt về xin gặp.

- Cho vào

Thám mã vào quỳ và nói:

- Dạ, bẩm Hoàng thượng, tin chính xác từ kinh đô Hoa Lư Đại Cồ Việt là vua Đinh Tiên Hoàng và Nam Việt Vương Đinh Liễn đã bị đầu độc qua đời.

- Ai đầu độc?

- Dạ, bẩm Hoàng thượng, triều đình nghi là nội quan Đỗ Thích. Đỗ Thích đã bị ném cho hổ xé xác nên không biết ai đứng đằng sau.

Được tin, Ngô Nhật Khánh vui mừng:

- Trời cho ta quay về lấy lại ngai vàng rồi. Ha!ha!ha!

Vua Chiêm Thành Bê Mỹ Thuế cũng cười ha hả:

- Trời cho ta đất Đại Cồ Việt rồi. Ha! ha! ha!

Bê Mỹ Thuế biết là nói hớ, bèn nhìn Ngô Nhật Khánh và nói:

- À, ta nói nhầm, ta nói là tướng quân sắp được ngai vàng và Đại Cồ Việt rồi.

Ngô Nhật Khánh làm như không biết gì, cúi đầu:

- Đa tạ Hoàng thượng, Hoàng thượng hãy giúp đỡ ta.

Nói vậy nhưng Ngô Nhật Khánh thừa hiểu ý đồ của Bê Mỹ Thuế là muốn xâm lăng Đại Cồ Việt để mở rộng đất đai, lãnh thổ. Biết vậy nhưng Ngô Nhật Khánh vẫn phải nhờ vả để mượn quân của Bê Mỹ Thuế lấy lại ngai vàng và Đại Cồ Việt, nếu mà thành công thì sau này mới tính chuyện với Bê Mỹ Thuế. Lúc đầu Ngô Nhật Khánh muốn sang cầu viện nhà Tống nhưng nhà Tống đã công nhận nhà Đinh rồi nên chuyển xuống phía Nam nhờ Chiêm Thành.

Hôm sau, Bê Mỹ Thuế huy động 300 chiến thuyền, 3 vạn quân sĩ cùng Ngô Nhật Khánh tiến ra Đại Cồ Việt để tấn công kinh đô Hoa Lư. Đến vùng biển Ái Châu, Bê Mỹ Thuế chia thủy binh làm hai đạo. Một đạo tiến vào Thần Phù, một đạo tiến vào cửa biển Đại An cùng tấn công Hoa Lư. Bê Mỹ Thuế nói:

- Ta tấn công bất ngờ và hai cánh hợp vây thế này là giành chắc phần thắng.

Ngô Nhật Khánh cười ha hả:

- Hoàng thượng nói phải lắm.

Và cùng chạm cốc vơi Bê Mỹ Thuế, cùng ở lâu thuyền xem cung nữ Chăm múa hát.

Thốt nhiên, phía trời đông, những đám mây đen không lồ cuồn cuộn bao phủ và một chiếc cột không lồ trên đám mây nối với biển mà dân gọi là vòi rồng. Kinh nghiệm khi đã có vòi rồng thò xuống biển là báo hiệu một trận cuồng phong khủng khiếp đang đến. Quả nhiên gió thổi mạnh và mọi vật đều bay lên trời. Sóng chồm lên cao như núi, đó là sóng thần, 300 chiến thuyền và 3 vạn quân Chiêm Thành bị nhấn chìm xuống đáy biển. Ngô Nhật Khánh cũng bị chìm nghỉm xuống đáy biển mang theo cả giấc mộng đế vương bán nước để rồi không bao giờ thành hiện thực. Bê Mỹ Thuế may mắn ôm chắc được một cây gỗ cột buồm của chiến thuyền và cứ vậy cho sóng đánh trôi về phía Nam, cho đến khi gần chết ngất thì được một thuyền chài của ngư dân cứu thoát, vớt lên thuyền cho ăn uống, được đưa về biển Quảng Nam mà về kinh đô Đồng Dương. Bê Mỹ Thuế sống sót nhưng đã vùi 300 chiến thuyền và 3 vạn thủy binh cùng giấc mộng xâm lăng Đại Cồ Việt xuống biển sâu.

Tháng 10 năm 979, kinh đô Hoa Lư chìm trong giá rét, bầu trời xám nặng nề như thấp xuống. Vài đàn chim bay về phương Nam tránh rét vội vàng. Lá vàng quanh cung điện rơi rắc khắp lối đi lát đá, cây lắc lư theo gió xạc xào.

Trong cung điện, triều đình nhà Đinh đang thiết triều quyết định những công việc cực kỳ quan trọng. Trên ngai vàng, Vệ Vương Đinh Toàn đội vương miện, mặc áo bào vàng đăng quang ngôi hoàng đế. Sau rèm mỏng có thể thấy rõ hoàng thái hậu Dương Vân Nga ngồi sau, tóc búi cao, cài trâm vàng. Bà vô cùng lộng lẫy và xinh đẹp. Ở dưới, bá quan văn võ phẩm phục đủ màu theo chức tước văn hay võ mà ngồi. Họ ngồi im lặng. Nội quan Trương Hạc nói:

- Bá quan văn võ nghe chiếu chỉ!

Bá quan văn võ vội rời ghế quỳ nghe.Trương Hạc đọc: “Phụng thiên thừa vận, hoàng đế chiếu viết, nay chẳng may Đinh Tiên Hoàng Đế sớm về cõi Niết Bàn, nước một ngày không thể không có vua. Ta, Vệ Vương Đinh Toàn được sự phò tá của các đại thần, tuân theo mệnh trời, nay đăng quang ngôi báu để trị vì muôn dân Đại Cồ Việt, giữ vững cơ nghiệp tổ tiên và bình yên cho thiên hạ. Tuy nhiên, Trẫm còn quá trẻ, còn thiếu kinh nghiệm, nay bổ nhiệm Thập đại tướng quân Lê Hoàn làm Nhiếp chính kiêm Phó vương để phò trợ cho trẫm hoàn thành sứ mệnh với bách tính, với xã tắc, non sông Đại Cồ Việt. Khâm thử”.

Cả triều đình đồng thanh:

- Chúng thần chúc mừng Hoàng thượng vạn vạn tuế, chúc mừng hoàng thái hậu thiên thiên tuế.

Dương Vân Nga nói:

- Các ái khanh bình thân.

- Tạ ơn thái hậu, tạ ơn Hoàng thượng.

Thái hậu nói:

- Ai có gì tấu thì bước lên.

Định Quốc công Nguyễn Bặc đứng lên:

- Thần có lời tấu. Thần xin chúc mừng Hoàng thượng đăng quang, chúc mừng hoàng thái hậu. Nhưng thần phản đối việc để Thập Đạo tướng quân Lê Hoàn làm phó vương. Vua còn nhỏ, thái hậu chỉ biết có hậu cung. Lê Hoàn là Thập đạo tướng quân, trong tay nắm toàn bộ binh quyền, vua sẽ bị uy hiếp. Ai biết cơ nghiệp nhà Đinh tồn tại đến lúc nào? Nay mai ngai vàng và Đại Cồ Việt có còn là của nhà Đinh nữa hay không?

Cả triều đình choáng váng với lời nói gay gắt của Nguyễn Bặc. Nguyễn Bặc, Lê Hoàn là những khai quốc công thần, trụ cột của triều đình, của quốc gia. Vua còn nhỏ, các đại thần phải đồng tâm nhất trí. Nay Nguyễn Bặc nói gay gắt như vậy là gây thù chuốc oán với Thập Đạo tướng quân, sẽ gây thù địch chia rẽ. Đất nước loạn to rồi.

Trong không khí nặng nề đó, Đại tướng Phạm Hạp đứng dậy:

- Thần có lời tấu. Bẩm thái hậu, bẩm Hoàng thượng, thần cho rằng những lời nói của Định Quốc Công Nguyễn Bặc là chí lý. Thần chưa thấy ở quốc gia nào vừa là Nhiếp chính lại vừa là Phó vương. Giao nhiều chức như vậy chỉ tạo điều kiện cho Thập Đạo Tướng quân Lê Hoàn lấn át Hoàng thượng, lấn át hoàng thái hậu mà thôi.

Sau Phạm Hạp thì Ngoại giáp Đinh Điền đứng dậy:

- Thần có lời tấu: Thần cho rằng Định Quốc công Nguyễn Bặc và Đại tướng Phạm Hạp nói chí phải. Vì triều đình nhà Đinh, mong Hoàng thượng, hoàng thái hậu suy xét.

Dương thái hậu nói:

- Đa tạ các vị lão thần đã lo lắng cho triều nhà Đinh. Nhưng những lời tấu của Định Quốc công Nguyễn Bặc, của Đại tướng Phạm Hạp, của Ngoại giáp Đinh Điền là không có căn cứ và suy đoán, là nghi ngờ lòng trung thành của Thập đạo Tướng quân Lê Hoàn. Cũng như các vị, Thập đạo tướng quân Lê Hoàn cũng là bậc nhất khai quốc công thần, vào sinh ra tử với Đinh Tiên Hoàng Đế để lập quốc, thống nhất thiên hạ. Các vị nói vậy là mất tình chiến hữu, tình đồng triều, đồng lưu, là ngang niên đối lập với Thập đạo tướng quân. Vả lại, các vị mới thấy triều Đinh mà chưa thấy vận mệnh của đất nước. Phía Nam thì Chiêm Thành vừa tiến đánh, phía Bắc thì nhà Tống đã thống nhất Trung Nguyên. Có ai bảo đảm rằng nhà Tống nay mai không xâm lược Đại Cồ Việt không? Trong tình thế này, các nguyên lão đại thần phải nhất trí đoàn kết vì quyền lợi của đất nước Đại Cồ Việt lên trên quyền lợi của dòng họ, của cá nhân. Hãy nghĩ trước hết cho bách tính và cho Đại Cồ Việt. Có ai còn tấu nữa không?

Im lặng bao trùm.

- Không ai tấu nữa. Bãi triều.

Vài ngày sau khi thiết triều, một sáng Lê Hoàn đang ngồi trong tư dinh ở kinh đô Hoa Lư thì có gia nhân vào báo:

- Bẩm thập đạo tướng quân, có thám mã từ Ái Châu về muốn gặp.

- Cho vào.

- Dạ.

Thám mã vào chắp tay chào và nói:

- Bẩm Thập đạo tướng quân, Nguyễn Bặc và Phạm Hạp đã đem quân bản bộ vào Ái Châu phản loạn, đang tiến quân tiến đánh Hoa Lư.

Lại một thám mã khác vào báo:

- Bẩm Thập đạo tướng quân, Đinh Điền đã phản loạn, đã đem 100 chiến thuyền và 2 vạn thủy binh đang tiến vào cửa Thần Phù, phối hợp với bộ binh của Nguyễn Bặc và Phạm Hạp tiến đánh Hoa Lư.

Lê Hoàn nói với gia nhân:

- Đi mời thái hậu và Hoàng thượng lên điện Bách Bảo có việc khẩn quốc gia.

- Dạ

Lại bảo một tùy tướng khác:

- Đi mời các tướng Phạm Bạch Hổ, Phạm Cự Lượng đến điện Bách Bảo họp gấp.

- Dạ.

Trong Điện Bách bảo cực kỳ sang trọng, mái lợp ngói màu vàng, chân cột sơn màu bạc, bàn ghế gỗ gụ, sến khảm ngọc trai lung linh. Ngồi trên ghế chủ có hoàng đế Vệ Vương Đinh Toàn, bên cạnh là thái hậu Dương Vân Nga. Ngồi ở bàn và hai dãy ghế kê dọc ở dưới thấp hơn là Phạm Bạch Hổ, Lê Hoàn, Phạm Cự Lượng, Trịnh Tú và nhiều tướng lĩnh khác. Lê Hoàn nói:

- Bẩm thái hậu và Hoàng thượng, thám mã từ Ái Châu về báo, sau cuộc thiết triều, Định Quốc công Nguyễn Bặc, Đại tướng Phạm Hạp và Ngoại Giáp Đinh Điền đã đem quân vào Ái Châu làm phản, hiện đang chia hai đạo thủy bộ tiến quân tiến đánh Hoa Lư. Tình hình rất khẩn cấp. Xin thái hậu và Hoàng thượng cho ý chỉ.

Thái hậu nói:

- Bọn họ là khai quốc công thần, là trụ cột của triều đình mà làm phản thì thật đáng trách. Nay vua còn nhỏ, Thập đạo tướng quân là Phó vương Nhiếp chính, đã từng xông pha trận mạc, phải dùng sức mạnh và mưu kế trừ bỏ chúng đi để trừ hậu họa cho Đại Cồ Việt, cho triều đình.

Lê Hoàn đáp:

- Thần là Phó vương Nhiếp chính được hoàng thái hậu giao cho trọng trách, thần sẽ cố hết sức để trừ hậu họa nhanh chóng, không để nước nhà lại lâm vào cuộc nội chiến như loạn 12 sứ quân. Trước hết nhờ cậy lão thần Phạm Phòng Át.

- Có lão thần.

- Lão thần cùng phò mã đô úy Trần Thăng ở lại phòng thủ Hoa Lư, bảo vệ Hoàng thượng và thái hậu.

- Lão thần tuân lệnh Thập đạo tướng quân.

Trần Thăng nói:

- Mạt tướng tuân lệnh.

- Đại tướng Phạm Cự Lượng và Trịnh Tú.

- Có mạt tướng

- Đạo thủy binh của Đinh Điền khoảng 2 vạn quân từ Ái Châu sẽ đi vào một cửa biển duy nhất là Đại An để vào Hoa Lư. Muốn vào Hoa Lư, đạo thủy quân này phải đi vào sông Đáy và sông Chanh, đi vào sông Hoàng Long và cuối cùng là sông Sào Khê chảy qua Hoa Lư. Hai tướng nhận lệnh.

- Dạ.

- Hai tướng đem thủy binh và bộ binh mai phục, chờ cho thuỷ quân Đinh Điền tiến vào sông Đáy thì dùng thủy quân ta bịt cửa biển Đại An. Còn ở bên trên sông Đáy khoảng 2 dặm chuẩn bị bè nứa gỗ rơm rạ dầu chất cháy, chờ thủy quân địch lọt vào trận địa thì phóng hỏa kết hợp phục binh hai bờ sông tấn công thì thủy binh Đinh Điền sẽ bị tiêu diệt.

- Chúng mạt tướng tuân lệnh.

- Nhớ khi phóng hỏa phải xem chiều gió, mùa nay hay có gió đông Bắc, rất thuận lợi.

- Dạ, chúng mạt tướng tuân lệnh, cáo từ hoàng thái hậu, Hoàng thượng, Thập đạo tướng quân, mạt tướng ra điểm binh thuyền và xuất phát.

- Chúc hai đại tướng quân thắng lợi.

- Đa tạ Thập đạo tướng quân.

Lê Hoàn nói tiếp:

- Bẩm thái hậu và Hoàng thượng, còn đạo bộ binh của Nguyễn Bặc và Phạm Hạp từ Ái Châu tiến theo đường thiên lý ra Hoa Lư thần sẽ chặn đánh và sẽ đem khúc ca khải hoàn về dâng thái hậu và Hoàng thượng.

Thái hậu nói:

- Ta và Hoàng thượng chờ tin báo tiệp của Thập Đạo tướng quân.

- Đa tạ thái hậu và Hoàng thượng, thần cáo biệt để xuất quân.

Ngay ngày hôm đó, Phạm Cự Lượng và Trịnh Tú dẫn 2 vạn thủy binh và bộ binh rời kinh đô Hoa Lư từ sông Sào Khê ra sông Hoàng Long, đi vào sông Chanh và tiến vào sông Đáy. Phạm Cự Lượng cho thả khoảng 100 bè chứa đầy chất cháy ngang đoạn sông Đáy rẽ vào sông Chanh, chờ cho chiến thuyền Đinh Điền vào sông Đáy thì lại dùng bè chứa chất cháy bịt cửa sông Đáy ra biển, tức là cửa Đại An. Khi binh thuyền Đinh Điền đến đoạn sông Đáy gần cửa sông Chanh thì bỗng nhiên gió mùa đông Bắc thổi rất mạnh. Phạm Cự Lượng ra lệnh phóng hỏa. Binh thuyền Đinh Điền gặp gió và lửa thiêu đốt. Trong khi đó, trên hai bờ và ven sông, tiếng chiêng trống tù và của quân Hoa Lư vang động. Dòng sông Đáy biến thành bão lửa. Các chiến thuyền quân Đinh Điền biến thành than, binh sĩ biến thành những bó đuốc kêu khóc chìm xuống sông, kẻ sống sót bơi vào bờ thì bị bộ binh Hoa Lư bắt hoặc bị bắn chết. Xác chiến thuyền, xác quân sĩ lấp kín dòng sông, máu lửa làm dòng sông Đáy đỏ lừ sôi lên sùng sục. Đinh Điền đang tuyệt vọng thì bị một mũi tên phóng vào mặt, kêu lên ba tiếng và ngã xuống sông chìm nghĩm. Số binh thuyền còn lại chạy ra cửa Đại An thì lại bị những bè lửa từ cửa biển chặn lối thoát. Thành ra toàn bộ binh thuyền và hai vạn quân của Đinh Điền bị tiêu diệt, không thoát một chiếc thuyền nào.

Lại nói đạo bộ binh của Nguyễn Bặc và Phạm Hạp từ Ái Châu tiến ra, đến bãi rộng khu đất đồi Đồng Giao-Tam Điệp, Nguyễn Bặc và Phạm Hạp đã trông thấy Lê Hoàn cùng các tướng đứng dưới cờ, phía sau là quân Hoa Lư, vũ khí tua tủa, cờ bay phấp phới. Nguyễn Bặc cho dàn trận đối mặt với quân Hoa Lư và Lê Hoàn. Lê Hoàn nói:

- Hai ngươi là khai quốc công thần, là đại thần của triều đình sao lại làm phản, từ bỏ nghĩa vụ cùng ta tôn thờ ấu chúa. Triều đình có ngược đãi hai ngươi đâu đến mức làm phản gây ra cảnh chết chóc nồi da nấu thịt.

Nguyễn Bặc mắng Lê Hoàn:

- Nay vua còn nhỏ, người là nhiếp chính để giúp vua là được, sao còn xưng là phó vương, có ý phản nghịch giành ngai vàng của nhà Đinh trong nay mai. Ta là bạn hữu từ nhỏ của Đinh Tiên Hoàng, thề sẽ bảo vệ ngai vàng cho nhà Đinh sao gọi là phản nghịch.

Lê Hoàn cười đáp:

- Thái hậu gọi ta là phó vương chứ đâu phải ta tự xưng. Hai ngươi chống lại thánh chỉ không phản nghịch là gì? Hai ngươi chỉ nhìn thấy triều đình mà không nhìn thấy đất nước, chỉ nhìn thấy quyền lợi một tập đoàn mà quên không nhìn hàng triệu sinh linh bách tính. Thử hỏi giang sơn mất thì còn triều đình nhà Đinh không? Ngươi không thấy quân Chiêm Thành đã tấn công nhưng đã bị trời trừng phạt, 3 vạn quân và 300 chiến thuyền của Bê Mỹ Thuế bị chìm ở Thần Phù không? Ngươi có biết quân Tống đang tập trung ở biên giới chuẩn bị tiến vào Đại Cồ Việt không? Tầm mắt hai ngươi nhìn không quá mũi, uổng công Đinh Tiên Hoàng phong hai ngươi là Định Quốc Công và đại tướng.

Nguyễn Bặc đuối lý, quát lên:

- Ai ra bắt kẻ tiếm quyền cho ta?

- Có ta.

Nhìn ra thì đó là Phạm Hạp cưỡi ngựa đen múa đại đao xông ra. Bên quân Hoa Lư, Đại tướng Đinh Đức Đạt múa đại đao xông ra cản lại, hai đại đao chạm nhau tóe lửa. Hai bên đánh nhau 50 hiệp mà không phân thắng bại. Thốt nhiên, bốn phía của thung lũng Đồng Giao, chiêng trông nổi lên xen với tiếng reo hò rung trời chuyển đất, 2 vạn quân Hoa Lư được dấu kín trong các rừng cây xông ra bao vây quân Nguyễn Bặc vào giữa. Lê Hoàn trỏ gươm cho toàn quân xông lên chém giết. Nguyễn Bặc quân ít, không thiện chiến, lại bị vây bọc bốn phía. Hỗn chiến một canh giờ sau, 1 vạn quân của Nguyễn Bặc bị tiêu diệt hết. Thây đổ ngổn ngang, máu tràn đỏ ngầu thung lũng Đồng Giao-Tam Điệp. Nguyễn Bặc bị thương và bị bắt, còn Phạm Hạp mở đường máu thoát thân chạy về hướng Bắc, Lê Hoàn cho thám mã chạy ngựa báo cho các thủ lĩnh quân sự địa phương Vũ Ninh đón bắt Phạm Hạp. Phạm Hạp chạy đến Bắc Giang thì bị quân của các hào trưởng địa phương bắt được, đóng cũi đem về Hoa Lư. Lê Hoàn chiến thắng kéo quân về Hoa Lư. Thám mã báo:

- Dạ, bẩm Thập đạo tướng quân, đạo thủy binh của Đinh Điền đã bị tướng Phạm Cự Lượng và Trịnh Tú dùng hỏa công tiêu diệt. Đinh Điền tử trận.

Thám mã lại báo:

- Bẩm Thập đạo tướng quân, đã bắt được Phạm Hạp giải về kinh sư.

Lê Hoàn ra lệnh:

- Đem Nguyễn Bặc và Phạm Hạp ra Lương Hương chém chết.

- Dạ, tuân lệnh Thập đạo tướng quân.

Đó là năm 979, khi đó Nguyễn Bặc mới 56 tuổi.