Năm 179 Trước công nguyên, bằng gian kế bần tiện, Triệu Đà nước Nam Việt đánh chiếm được nước Âu Lạc. Nam Việt từ khi Triệu Đà cát cứ xưng đế vương có 3 quận: quận Nam Hải ( Quảng Đông), Quế Lâm (Đông Bắc Quảng Tây) và quận Tượng (Tây Bộ Quảng Tây và Nam Bộ Quý Châu). Sau khi chiếm được Âu Lạc, Triệu Đà chia thành ba quận: Hợp Phố, Giao Chỉ và Cửu Chân. Như vậy Nước, Nam Việt Bắc giáp Mân Việt và Phong Quốc Trường Sa của nhà Hán, Tây giáp nước Hạ Lang, Nam giáp Chiêm Thành, Đông Nam giáp biển. Đứng đầu mỗi quận là Thái thú người Nam Việt do triều đình Phiên Ngung cử đến. Quận Giao Chỉ từ Ninh Bình đổ ra hết miền Bắc, quận Cửu Chân gồm Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình. Dưới quận, triều đình Phiên Ngung vẫn duy trì các bộ do Lạc tướng người Âu Lạc đứng đầu. Dưới bộ là công xã nông thôn do Bồ chính đứng đầu, dưới công xã nông thôn là làng bản do già làng, trưởng bản đứng đầu. Nhìn chung, từ cấp bộ trở xuống, quan lại vẫn là người Âu Lạc.

Thực ra, sau khi cát cứ tách khỏi Trung Nguyên, nước Nam Việt luôn luôn bị nhà Hán đe dọa uy hiếp. Sau khi lật đổ nhà Tần năm 206 trước công nguyên thì Lưu Bang (Hán) lại chiến tranh với Hạng Vũ (Sở) mà lịch sử gọi là Hán- Sở tranh hùng. Năm 202 trước công nguyên, Lưu Bang tiêu diệt Hạng Vũ, bá chủ Trung Quốc và lập ra nhà Hán.

  Trước sự uy hiếp của nhà Tây Hán (năm 202 trước công nguyên đến năm 8 sau công nguyên), năm 196 trước công nguyên, Triệu Đà phải thần phục  triều đình Trường An, làm chư hầu của nhà Hán, song thực tế vẫn giữ quyền tự chủ. Sau khi Hán Cao Tổ Lưu Bang mất, Lữ Hậu nắm quyền nhiếp chính, gây khó dễ cho họ hàng quê hương của Triệu Đà ở Chân Định, Hà Bắc (Trung Quốc). Đà mâu thuẫn gay gắt với Lữ Hậu nên xưng Triệu Vũ Đế. Năm 179 trước công nguyên, Đà lại quy phục nhà Hán một lần nữa nhưng chỉ là bề ngoài. Đà vẫn giữ đế hiệu. Năm 137 trước công nguyên, Triệu Vũ Đế chết sau khi đã thọ 100 tuổi, cháu nội Đà là Triệu Mật lên ngôi xưng là Triệu Văn Đế. Năm 125 trước công nguyên, Triệu Văn Đế qua đời, con là Triệu Tề Anh lên ngôi tức là Triệu Minh Vương. Trước đó, Triệu Minh Vương có sang Trung Quốc làm con tin. Trong thời gian sinh sống ở Trường An, Triệu Minh Vương trúng kế mỹ nhân của nhà Hán, lấy người đàn bà người Hoa ở Hàm Đan là Cù Thị và sinh một con trai là Triệu Hưng. Khi Tề Anh lên ngôi, lập Triệu Hưng làm Thái tử, Cù Thị làm Vương Hậu. Năm 113 trước công nguyên, Triệu Minh Vương chết, Triệu Hưng khi đó mới 5 tuổi lên ngôi, tức là Triệu Ai Vương, mẹ là Cù Hậu buông rèm nhiếp chính. Thái Hậu là người Hán nên hai mẹ con muốn đầu hàng nhà Hán khi đó dưới thời Hán Vũ Đế. Năm 112 trước công nguyên, thừa tướng của Nam Việt là  Lữ Gia đã giết chết hai mẹ con Cù Thái Hậu và tình nhân của bà ta là An Quốc Thái úy, đại diện cho nhà Hán ở Nam Việt. Lữ Gia đã đưa anh cùng cha khác mẹ của Triệu Ai Vương lên ngôi, tức là Triệu Thuật Dương Vương. Năm 111 trước công nguyên, Hán Vũ Đế sai hai tướng là Dương Bộc và Lộ Bác Đức đem quân đánh Nam Việt. Quân Nam Việt thất bại, Lữ Gia và Triệu Thuật Dương Vương bị giết hại. Nước Nam Việt diệt vong sau 97 năm tồn tại với 5 đời vua. Nam Việt và cả lãnh thổ Âu Lạc bị nhà Hán thống trị.

  Hán Vũ Đế đặt ra đơn vị hành chính lớn nhất là châu, đứng đầu châu là Thứ sử, dưới châu là cấp quận đứng đầu là Thái thú. Châu Giao ở miền Nam Trung Quốc khi đó có các quận Hợp Phố, Thương Ngô, Uất Lâm, Nam Hải, Giao Chỉ (từ Ninh Bình ngày nay ra hết miền Bắc), quận Cửu Chân ( Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh) và quận Nhật Nam ( Quảng Bình tới Bình Định, Phú Yên). Đứng đầu quận là Thái thú người Hán. Dưới quận là huyện. Trước năm 43, từ huyện trở xuống vẫn do người Âu Lạc nắm giữ.

  Bọn phong kiến xâm lược nhà Hán thi hành những chính sách thống trị, áp bức bóc lột hết sức tàn bạo đối với người Lạc Việt và Âu Việt. Về kinh tế, nhà Hán đặt ra nhiều thứ thuế, nặng nhất là thuế muối và thuế sắt. Đánh thuế muối và sắt nặng để nhằm hạn chế nhân dân Âu Lạc dùng sắt chế tạo vũ khí chống lại quân xâm lược, hạn chế muối để nhằm làm Âu Lạc thiếu muối trong chế biến thực phẩm trong ăn uống, làm suy yếu sức khỏe và suy yếu nòi giống của người Việt. Ngoài ra, còn nhiều thứ thuế với mức độ nặng để bần cùng hóa dân tộc bị thống trị. Ngoài thuế, nhà Hán còn buộc nhân dân Hợp Phố, Thương Ngô, Uất Lâm, Nam Hải, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam phải cống nạp những sản vật quý như ngà voi, sừng tê giác, ngọc trai, đồi mồi, những vị thuốc quý, còn bóc lột sức lao động như đi phu phen, lao dịch, xây thành đắp lũy mà không được trả công. Những chính sách này của nhà Hán đã kìm hãm sự phát triển của sản xuất, đẩy phần lớn nhân dân vào cảnh khốn cùng về mọi mặt. Các thứ vơ vét được, quan lại nhà Hán một phần đưa về triều đình Trường An, một phần hối lộ cho cấp trên là Thứ sử Châu Giao, nhưng phần lớn để thỏa lòng tham lam như thùng không đáy của Thái thú ở các địa phương quận Hợp Phố, Giao chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, còn là để nuôi quân đội xâm lược chiếm đóng.

  Bên cạnh chính sách bóc lột, nhà Hán còn tiến hành chính sách đồng hóa văn hóa, tiêu diệt văn hóa Việt, buộc dân Việt phải theo văn hóa Hán. Đó là chính sách cơ bản xuyên suốt, liên tục nhằm biến người Việt thành người Trung Quốc. Văn hóa là nguồn gốc sức mạnh, là linh hồn của một dân tộc. Một dân tộc khi bị ngoại bang thống trị, nếu vẫn giữ được nền văn hóa thì còn linh hồn, còn sức sống. Khi kẻ thù suy yếu thì còn có thời cơ quật khởi đứng dậy lật đổ chúng mà giành độc lập dân tộc. Khi mất văn hóa, tức là kẻ thù ngoại bang đã đồng hóa thành công thì dân tộc mất linh hồn, mất sức sống và biến thành dân Hán và  mãi mãi bị khuất phục, không bao giờ có thể vùng dậy giành độc lâp được nữa. Nhà Hán và bọn quan cai trị của chúng ở các quận Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam hiểu rõ điều đó nên chúng ráo riết liên tục  đẩy mạnh chính sách này. Chúng du nhập chữ Hán, du nhập phong tục tập quán Hán vào Âu Lạc và buộc cư dân Việt phải học, phải theo phong tục, tập quán Hán. Chúng mở trường dạy chữ Hán, đào tạo trí thức người Việt làm tay sai cho chúng, nhồi nhét tư tưởng Hán vào đầu người Việt. Chúng buộc dân Việt thay đổi y phục, mặc y phục người Hán, truyền bá tôn giáo Hán, đưa người Hán xuống định cư, sống chung với người Việt để đồng hóa người Việt. Dã man hơn, chúng giết hại đàn ông người Việt, buộc phụ nữ Việt phải lấy đàn ông Hán, con người Việt sinh ra phải khai họ Hán. Chúng buộc người Việt nói ngôn ngữ Hán, tiêu diệt ngôn ngữ Việt. Chúng đập phá văn bia, đền miếu của người Việt. Chúng buộc người Việt phải tuân theo pháp luật của người Hán, xóa bỏ luật Việt khi đó mới chỉ là phong tục tập quán để điều chính các mối quan hệ xã hội. Chúng đã xúc phạm nặng nề phong tục tập quán, đời sống tinh thần, nền nếp lâu đời quen thuộc hàng ngày của người dân Việt. Trước những chính sách thâm độc đó của bọn thống trị Hán, nguy cơ những tộc người Việt bị diệt vong đã quá rõ ràng.

  Cùng với sự áp bức bóc lột đồng hóa là những chính sách thống trị chính trị rất tàn bạo, đó là dùng lực lượng quân sự để dàn áp, giết chết những người có tinh thần yêu nước, những người chúng nghi ngờ có tư tưởng chống lại chính quyền, những người không đáp ứng những tham vọng của chúng. Chúng mua chuộc bọn Việt gian phản quốc làm tay sai, chia rẽ khối đoàn kết dân tộc.

  Tiêu biểu cho sự tham lam tàn bạo là những tênThái thú đứng đầu các quận Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam. Thời Hán Vũ Đế có những tên Thái thú Tích Quang và Nhâm Diên. Hai Thái thú này ra sức thực hiện chính sách bóc lột và đồng hóa văn hóa. Đến thời kỳ Đông Hán, năm 34, Hán Quang Vũ sai Tô Định sang làm Thái thú. Tô Định là tên Thái thú khét tiếng tàn bạo, dâm ô và tham lam cực điểm. Tô Định đã tăng thuế khóa, tăng phu phen tạp dịch, giết hại những người yêu nước, những Lạc tướng mà hắn cho rằng có tư tưởng chống đối không ghê tay, giết hại sinh linh Việt không kể xiết khi lên rừng tìm ngà voi, tê giác, lặn xuống biển mò ngọc trai, đồi mồi cho hắn. Tô Định còn là kẻ dâm đãng, bạo ngược. Nhà nào có con gái đẹp mà không chịu cống nạp cho hắn thì hắn giết hại cả nhà, cả họ. Không biết có bao nhiêu gia đình có con gái đẹp đã chết thảm thương. Với Tô Định, kẻ thống trị ngoại bang không cần luật pháp. Tô Định là tên mãnh thú tiêu biểu cho sự thống trị của nhà Hán ở đất Âu Lạc xưa.

II

Một buổi sáng mùa đông năm 39, toàn bộ các quận Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam của nước Âu Lạc xưa chìm trong giá rét. Luy Lâu, trị sở của cả bốn quận dưới chính quyền nhà Tây Hán (năm 111 trước công nguyên đến năm 23 sau công nguyên)) và Đông Hán (Năm 24 đến năm 220) thuộc huyện Luy Lâu, quận Giao Chỉ cũng chìm trong bầu trời u ám. Cây cối đủ loại trút lá vàng rơi lả tả bay theo gió lạnh còn trơ lại những cành xơ xác cong queo. Những mái nhà tường gạch lợp ngói vẩy cá sang trọng của quan cai trị chìm trong sương mù. Khi mặt trời nhô lên cao xua tan đám sương mù thì lộ ra những dinh thự kiến trúc kiểu Hán. Những con ngựa kéo những cỗ xe chở bọn quan lại đi đâu đó, vó ngựa khua lốp cốp trên mặt đường đá hòa với tiếng lục lạc ở cổ ngựa kêu leng keng. Trên đường loáng thoáng những kỵ binh người Hán, gươm đeo lủng liểng bên hông ngạo nghễ đi canh phòng tuần tiễu.

  Chính giữa Luy Lâu là ngôi biệt thự cao nhất, đẹp nhất, tường quét vôi màu vàng. Đó là trung tâm của Thủ phủ Luy Lâu, là nơi làm việc của ba đời Thái thú Hán: Tích Quang, Nhâm Diên và năm 34 là Tô Định. Trong dinh thự đẹp đó lại có một căn phòng đẹp nhất. Đó là phòng bàn công việc của Thái thú với các thuộc tướng trong bộ máy cai trị phong kiến quân phiệt. Căn phòng bài trí và sắp xếp theo kiểu Hán. Trên chính giữa bức tường sau lưng quan Thái thú ngồi treo hình vẽ chân dung Hán Quang Vũ Đế (Lưu Tú), người đã có công đánh đổ vương triều Tân của Vương Mãng (8-23), khôi phục lại nhà Hán nhưng không đóng đô ở Trường An như Tây Hán (202 trước công nguyên- 8 sau công nguyên) mà dời đô về Lạc Dương, phía Đông của Trường An nên gọi là Đông Hán (24-220). Chung quanh căn phòng trưng bày ngọc ngà châu báu, ngà voi, sừng tê giác mà Tô Định vơ vét của nhân dân Âu Lạc.

Tô Định ngồi trên chiếc ghế có trải da một con hổ lớn đã thuộc mềm mại nhưng tỏa ra một không khí tàn ác. Trước mặt hắn là một chiếc bàn hình chữ nhật bằng gỗ quý chạm khắc hoa văn tinh xảo. Tô Định người không cao lắm, béo phị nên làm hắn có vẻ lùn. Hai gò má nổi cục nhô ra làm khuôn mặt hắn đã ngắn càng thêm ngắn. Hai con mắt một mí nhỏ ti hí nhưng long lên sòng sọc tàn ác. Chiếc áo thụng xanh lụa mềm làm bụng hắn nổi gồ như bụng đàn bà chửa. Cái mũ màu đen cánh chuồn làm khuôn mặt hắn càng ngắn tủn lộ đầy sát khí, bất nhân. Trước mặt hắn là bọn thuộc hạ võ phục màu đen, đội mũ đâu mâu tròn cao lớn lực lưỡng khác nhau nhưng đều dữ dằn, tàn ác ngồi trước hai hàng ghế đặt dọc. Trên tay mỗi tên là một cuốn sổ đề phong khi Tô Định hỏi đến tình hình, công việc thì không lúng túng.

  Trong không khí im lặng căng thẳng, Tô Định liếc đôi mắt ti hí đáng sợ và cất giọng ồm ồm:

  -Tướng Lương Thiệp, Trong một tháng qua đã thu được những  cống phẩm gì? Mỗi loại được bao nhiêu?

Lương Thiệp đứng dậy, tay cầm cuốn sổ, mắt liếc vào và nói:

-Bẩm Thái Thú, Trong một tháng qua thu được 10 đôi ngà voi, 15 đôi sừng tê giác, 100 viên ngọc trai, 200 đôi đồi mồi.

Tô Định gằn giọng:

-Một tháng mà thu được như vậy là ít. Tướng quân không chịu đốc thúc và không chịu đẩy bọn Việt mọi rợ vào chỗ chết sao?

Lương Thiệp hốt hoảng:

-Dạ bẩm Thái Thú, mạt tướng không dám. Để lấy được số lượng vật phẩm trên trong một tháng, 100 tên thợ săn đã chết, 200 tên bị thương tàn phế vì bị voi giầy và tê giác húc lòi ruột, khoảng 500 tên dân Việt đã chết đuối hoặc bị thuồng luồng xé xác khi lặn mò ngọc trai và đồi mồi.

Tô Định hỏi:

-Chúng chết nhiều như vậy nhưng thu được ít, vì sao?

-Dạ bẩm Thái Thú, chúng ta tận thu đã hơn 200 năm nay, nhất là bốn năm gần đây cho nên cống phẩm quý giá trên đã bị cạn kiệt, voi và tê giác đã rút sâu vào rừng núi phía Tây không rõ thuộc vương quốc nào?

Tô Định gừ một tiếng rồi hỏi tiếp:

-Đại phu Hoa Danh, đã thu được những thuốc quý gì và được bao nhiêu?

Hoa Danh đứng dậy. Đó là người duy nhất không mặc võ phục mà mặc áo Đại phu (thầy thuốc), áo trắng, đội mũ học trò Nho gia:

-Dạ, bẩm Thái thú, một tháng nay thu được 20 thạch hồ tiêu, 30 thạch ý dĩ, 30 thạch quế, quế ở xứ này cực tốt không nơi nào có thể sánh được.

Tô Định gật đầu hỏi tiếp:

-Thuế muối và sắt là hai loại thuế chính của ta và rất nặng. Tướng quân Vương Kiển, tình hình thu thế nào?

-Bẩm Thái thú, một tháng nay thuế muối, thuế sắt thu được 4 vạn quan. Hai loại thuế này cực nặng, bị dân Việt phản đối kịch liệt. Để thu được 4 vạn quan, mạt tướng đã phải cho giết 4000 dân Việt cứng đầu, còn đang truy lùng gắt gao nhiều tên khác.

Tô Định rít lên:

-Hai loại thuế này cực kỳ quan trọng làm cho dân Việt không có khả năng mua sắt rèn vũ khí chống lại chúng ta, thiếu muối ăn làm cho nòi giống chúng suy nhược tự diệt vong. Vì vậy, tướng quân phải thu triệt để, thúc ép mạnh, giết mạnh tay không thương tiếc để thực hiện bằng được.

Lương Kiên đáp:

-Mạt tướng tuân lệnh.

Tô Định hỏi tiếp;

-Việc tận thu lương thực để lấy gạo dự trữ nuôi quân thế nào, tướng quân Lưu Ưng?

Lưu Ưng đứng dậy:

-Dạ bẩm Thái Thú, tháng này thu được 300 thạch. Thu được nhiều như vậy vì dân Việt vừa gặt hái xong. Ta chỉ để cho họ đủ ăn cầm hơi trong vài tháng, còn khoảng 6 tháng sẽ lâm vào tình trạng đói thiếu.

-Hảo hảo. Để cho chúng thiếu đói thì mới không chống đối lại chúng ta vì chúng mải lo kiếm ăn. Tất cả các sản vật, vàng bạc, kim cương, ngọc trai, đồi mồi, thuốc quý quan Tổng quản chủ kho Tư Mã Trung phải chuẩn bị, sắp hết năm rồi phải đưa về Lạc Dương 1/3, đưa cho quan Thứ sử Châu Giao 1 phần, còn lại để ở phủ Thái thú để chi tiêu cho các tướng lĩnh. Kho lương thực phải chuẩn bị cho lính đủ ăn và còn dự trữ hai năm.

Tư Mã Trung vội đứng dậy:

-Mạt tướng tuân lệnh.

Tô Định nói tiếp:

-Còn công việc quan trọng nữa là phải tiêu diệt nền văn hóa Việt, buộc chúng phải theo văn hóa Hán của chúng ta. Công việc này tiến hành đến đâu rồi tướng quân Lưu Đại Hải?

Lưu Đại Hải đứng lên:

-Bẩm Thái thú, 1000 hộ người Hoa ta đưa xuống đất Âu Lạc đang trên đường đến Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam sống cùng người Việt và đồng hóa người Việt. Nhưng công việc nay vô cùng khó khăn vì người Hoa xuống không đồng hóa người Việt, ngược lại lại bị người Việt đồng hóa lại.                    Tô Định hét lên:

-Giết, giết!

Lưu Đại Hải nói tiếp:

-Dạ, bẩm Thái Thú, công việc bắt những đứa bé mới sinh người Việt khai theo họ Hán bị người Việt kịch liệt chống lại, dù chết không theo.

Tô Định đập bàn:

-Giết giết!

Lưu Đại Hải vẫn tiếp tục:

-Việc bắt phụ nữ Việt lấy chồng người Hán cũng bị dân Việt phản đối kịch liệt, dù chết không làm.

Tô Định mặt đỏ gay:

-Các hạ cấp làm việc thế nào vậy? Sao không giết hết chồng chúng nó để chúng phải lấy đàn ông người Hán? Sao không giết hết đàn ông Việt đi hả?

Lưu Đại Hải:

-Dạ bẩm, giết hết đàn ông Việt thì lấy ai đi phu phen, lao dịch, lấy ai xuống biển mò ngọc trai, đồi mồi, lấy ai lên rừng săn ngà voi, sừng tê giác?

Tô Định:

-Giết!giết!

Lưu Đại Hải:

-Dạ bẩm, còn việc đập phá đền chùa miếu mạo của người Việt cũng không có kết quả. Đập phá đền chùa miếu mạo nhưng trên đống gạch đổ nát ấy dân Việt vẫn ra cúng tế và lễ bái. Việc bắt dân Việt cưới hỏi theo phong tục, tập quán Hán cũng rất khó khăn. Dân Việt vẫn cưới hỏi theo phong tục của họ đã có từ thời Hùng Vương.

Tô Định ngao ngán nhưng hắn sực nhớ ra:

-Còn công việc bắt gái đẹp về cho phủ Thái thú thế nào rồi tướng Tô Long?

Tô Long đứng dậy:

-Dạ bẩm Thái Thú, khoảng 400 gái đẹp khắp 3 quận đã vào phủ Thái thú và mới bổ sung thêm 100 người nữa. Nhưng…

-Nhưng sao? Tô Định sốt ruột.

-Vẫn như trước kia, việc gom gái đẹp vẫn bị chống đối quyết liệt. Có những trường hợp giết cả nhà, còn nữ quái trốn đi và nhiều người đã xây dựng căn cứ khởi binh chống lại ta.

-Sao không đem binh đàn áp?

-Dạ bẩm, nhiều trường hợp đem binh đàn áp nhưng thất bại, quân ta bị tổn thất nặng nề. Hiện nay hầu như khắp bốn quận nơi nào cũng có khởi nghĩa, xây dựng căn cứ chống lại chúng ta.

Tô Long vừa dứt lời thì một tên lính từ bên ngoài vào báo có thám mã xin vào gặp bẩm việc khẩn cấp.

Tô Định nói:

-Cho vào!

Một tên thám mã bước vội vào, chắp tay bẩm báo:

-Dạ bẩm Thái Thú, theo tin tức chúng tôi thu nhận được thì huyện lệnh huyện Châu Diên là Thi Sách đã liên kết với nữ kiệt nổi tiếng ở Mê Linh là Trưng Trắc và Trưng Nhị đang chuẩn bị nổi dậy chống chúng ta. Mong Thái thú định đoạt.

Tô Định gầm lên:

-Phản rồi, phản rồi. Tướng Mã Giang Long, Tổ Hoài Đức đâu, đem 3 nghìn quân đến huyện Châu Diên bắt và giết Thi Sách cho ta.

Mã Giang Long và Tổ Hoài Đức cùng bước ra:

-Mạt tướng tuân lệnh.

Tô Định hỏi:

-Thi Sách là huyện lệnh Chu Diên, còn Trưng Trắc và Trưng Nhị có phải là con gái huyện lệnh Mê Linh không?

Hoàng Sùng Chính đứng dậy chắp tay:

-Dạ bẩm Thái thú, Trưng Trắc và Trưng Nhị là con gái của huyện lệnh Mê Linh Hùng Định, Quận Giao Chỉ. Hai kiều nữ này là mỹ nhân tuyệt sắc thời nay, giỏi võ nghệ, binh pháp. Trưng Trắc là vợ chưa cưới của huyện lệnh Chu Diên Thi Sách. Hai dòng họ này đang liên kết với nhau để làm phản, chống lại quân của Thiên triều ta.

Tô Định gằn giọng:

-Phải giết Thi Sách trước và sau đó bắt Trưng Trắc, Trưng Nhị để phá vỡ liên minh này.

III

 Lúc này là đêm của mùa xuân năm 40, Mê Linh, một huyện thuộc quận Giao Chỉ chìm trong bóng tối. Những rặng cây mênh mông một màu đen và lá rung lên trong gió tạo nên những bản nhạc xạc xào của gió mùa xuân lạnh giá. Những mái nhà ẩn dưới những rặng cây sáng lên những ánh đèn dầu le lói. Vài vì sao lưa thưa nhấp nhánh trên bầu trời mênh mông màu tối. Dòng sông Hồng, sông Đáy vẫn mơ màng trôi chảy trong đêm. Vài con thuyền neo đậu rải rác ven sông le lói ánh đèn dầu vàng vọt.                                                   Từ cuối năm 38, Mê Linh đã trở thành trung tâm của phong trào kháng chiến chống lại sự thống trị của nhà Đông Hán mà tiêu biêu là tên Thái thú Tô Định tham tàn, bạo ngược. Trong căn cứ mà Trưng Trắc, Trưng Nhị là thủ lĩnh, đêm nay vẫn là một đêm yên tĩnh. Những đạo quân của các thủ lĩnh địa phương về đây tụ nghĩa đã tạo nên những doanh trại san sát trên một không gian rộng lớn. Những lá cờ vàng nhưng bóng đêm làm chúng đổi màu huyền bí bay phần phật theo gió. Quân sĩ trong các doanh trại đã chìm trong giấc ngủ. Chỉ còn những bóng đen là người các đội tuần tra thay nhau lướt đi nhẹ nhàng, im lặng trong tối để đề phòng những cuộc tập kích bất ngờ của quân Hán vào các doanh trại nghĩa quân. Các vọng gác trên các nẻo đường vào căn cứ suốt đêm leo lét ánh đèn. Bên cạnh các vọng gác là những chiếc trống đồng to sẵn sàng vang lên báo cho toàn quân biết có giặc.

Tổng hành dinh của toàn bộ căn cứ là những ngôi nhà lợp ngói khang trang, tường gạch. Những mái ngói cổ kính im lìm theo năm tháng dưới những bóng cây xanh lâu đời rêu phong cũng đang chìm trong bóng đêm. Ngày xưa, những ngôi nhà này là dinh của quan huyện Mê Linh Hùng Định. Hùng Định là dòng dõi Hùng Vương, phu nhân là Nam Triệu, còn có tên là Man Thiện ở làng Nam Nguyễn, huyện Mê Linh, quận Giao Chỉ. Hai ông bà thành thân lâu năm, mãi tới ngày 1 tháng tám năm Giáp Tuất (năm 14 ) mới sinh được hai cô con gái. Cô chị được đặt tên là Trưng Trắc, cô em tên là Trưng Nhị. Hai chị em là tuyệt sắc giai nhân nổi tiếng quận Giao Chỉ. Lớn lên, Trưng Trắc và Trưng Nhị có vóc dáng như tiên nữ nhưng không ẻo lả mà uy nghiêm, lại giỏi võ nghệ, có chí khí nam nhi, thương nước, thương dân, sớm biết căm thù quân giặc cướp nước. Trưng Trắc và Trưng Nhị không biết bao nhiêu lần khóc khi nghe những chuyện dân Việt chết bi thảm, đói nghèo cùng cực dưới sự thống trị tàn bạo của quân Hán, đặc biệt dưới thời Thái thú Tô Định. Ông Hùng Định sớm qua đời. Bà Man Thiện đã hết lòng dạy dỗ hai cô con gái văn võ song toàn, lại có chí khí anh hùng yêu nước. Hai nữ kiệt đã thề quyết tâm đánh đổ nền thống trị tàn bạo của nhà Hán, giải phóng đất nước, giải phóng nhân dân. Trưng Trắc đã liên kết với một trung tâm lớn khi đó là huyện Chu Diên, quận Giao Chỉ, đứng đầu là huyện lệnh Thi Sách. Từ sự liên minh vì nghĩa lớn này đã hình thành cuộc hôn nhân giữa Thi Sách và Trưng Trắc. Hai người hẹn ước với nhau sau khi giải phóng đất nước thì làm lễ thành hôn chính thức. Khi đó, trên toàn bộ đất Âu Lạc xưa, từ Giao Chỉ, Cửu Chân đến Nhật Nam, do sự tàn bạo của Tô Định mà đã hình thành hàng chục căn cứ khởi nghĩa chống nhà Hán. Sự tàn bạo của bọn ngoại bang thống trị đã tạo ra một sự chống đối quyết liệt, tạo ra một núi lửa mà bọn cai trị đang ngồi trên miệng sẽ bùng nổ bất cứ lúc nào chôn vùi chúng. Chúng đã quên câu kinh điển: “Quan bức dân phản”. Trưng Trắc không chỉ liên kết với Thi Sách ở Chu Diên mà để chuẩn bị cho cuộc nổi dậy sắp bắt đầu, Trưng Trắc đã liên kết và tụ hội được với hầu hết các thủ lĩnh và nghĩa quân ở các địa phương. Trưng Trắc muốn có một cuộc nổi dậy đồng loạt trên tất cả các quận, tạo nên sức mạnh lật đổ kẻ thù.

Đêm nay, trong căn phòng rộng của một ngôi nhà lớn ở phủ huyện Mê Linh, Trưng Trắc vẫn còn thao thức. Đó là người thanh nữ mới 26 tuổi, mắt phượng mày ngài, khuôn mặt trái xoan, mũi thanh tú cao và dài nên trông càng đài các cao sang, mái tóc dầy phủ khuôn mặt đẹp chảy xuống hai vai như mây khói. Trưng Trắc mặc chiếc áo lụa tứ thân màu xanh thêu hoa văn hoa lá, ngang lưng thẳt chiếc dây lụa màu vàng làm thân hình hơi cao của nàng thêm duyên dáng uyển chuyển mềm mại. Trưng Trắc đang ngồi trên chiếc ghế, trước mặt là chiếc bàn gỗ lim, trên bàn là một cuốn sổ dầy giấy màu vàng với những chữ thời vua Hùng ghi chi chiết. Trong cuộc đồng hóa, bọn giặc Hán đang tiêu diệt loại chữ có 1000 năm lịch sử dựng nước này của người Việt. Một nữ tì trẻ mặc áo tứ thân màu nâu bê đặt lên bàn Trưng Trắc một cốc nước lá vối và một cơi trầu cau. Ngòn đèn dầu lạc trên bàn tỏa ánh sáng vàng vọt đủ cho Trưng Trắc đọc cuốn sổ, điểm lại binh lực trước khi trận đánh quyết định bắt đầu. Trưng Trắc đọc lại số thủ lĩnh đã đem quân về tụ nghĩa ở Mê Linh để triển khai kế hoạch cho cuộc đồng khởi.
1. Nữ tướng Lê Chân, cha là Lê Thái Bảo, quê ở trang An Biên, huyện Khúc Dương, quận Giao Chỉ. Ông Lê Thái Bảo đã bị Tô Định giết chết khi hắn buộc Lê Chân làm tì thiếp không được. Lê Chân đã trốn thoát và khởi nghĩa chống Tô Định ở An Biên. Nữ tướng này đã nhiều lần đánh bại quân Hán và làm chúng khiếp sợ, chúng gọi Lê Chân là “Cá kình biển Đông”.  

2. Bát Nàn tướng quân Vũ Thị Thục, quê ở trang Phượng Lâu, huyện Tây Vu, quận Giao Chỉ. Vũ Thị Thục là con ông Vũ Công Chất và bà Hoàng Thị Mầu. Để chiếm được nàng Thục Nương xinh đẹp, Tô Định đã đánh chết chồng chưa cưới của nàng là Phạm Danh Phương. Thục Nương đã khởi nghĩa, đánh giết quan quân Hán, lùi về xây dựng căn cứ ở Tiên La, huyện Tây Vu, và mở rộng căn cứ ra cả Đoàn Thượng, Bảo Khê, Quận Giao Chỉ. Giặc Tô Định nhiều lần đàn áp nhưng bị Thục Nương đánh bại nên rất  khiếp sợ. Mùa xuân năm 40, Thục Nương đem 1000 tráng sĩ về hội tụ dưới cờ nghĩa của Trưng Trắc và Trưng Nhị ở Mê Linh.

3. Nữ tướng Hàn Quỳnh Nương là con gái huyện lệnh ở trang Linh Xá, huyện Tư Phố, quận Cửu Chân. Hàn Quỳnh Nương là phu nhân quan chúa bộ Lê Công Bình, huyện Khúc Dương, quận Giao Chỉ. Lê Công Bình chống lại Tô Định và bị hắn giết hại. Hàn Quỳnh Nương phải đem hai con gái là Lê Minh và Lê Đậu trốn ra nhà anh trai là Hàn Đạt ở trang Văn Bút, Huyện Câu Lậu, quận Giao Chỉ. Hàn Quỳnh Nương cùng anh trai Hàn Đạt đã khởi nghĩa chống lại Tô Định ở Câu Lậu, quân số lên tới 1000 nghĩa sĩ. Nghe tin Trưng Trắc khởi nghĩa, Hàn Quỳnh Nương đem theo Hàn Sanh, Lê Minh Nương cùng 500 dũng sĩ về Mê Linh tụ nghĩa.

4. Vợ chồng nữ tướng Phạm Nguyệt Nga và Ngọ Công khởi nghĩa chống quân Hán ở  huyện An Định, quận Giao Chỉ, đem theo 1.200 quân về Mê Linh.

5. Bốn nữ tướng Hồng Nương, quê ở xã Tuân La, huyện Câu Lậu, Quận Giao Chỉ. Bốn nữ tướng là chị em ruột đã khởi nghĩa chống giặc Hán ở Câu Lậu .                                                                                        

 6. Công Chúa Xà Nương quê ở Đồng Nhân đã đem theo 24 nữ binh, thuyền bè, vũ khí về Mê Linh.

7. Nữ tướng Tạ Vĩnh Gia, quê quán huyện Long Uyên, quận Giao chỉ, thủ lĩnh nghĩa quân ở Nại Tử Châu, quân số đến 2000 nghĩa binh nam, nữ.

8. Các nữ tướng Ả Tú, Ả Huyền, Ả Cát, quê quán trại Vân Thủy, huyện Tây Vu, quận Giao Chỉ. Ả Tú, Ả Huyền là con ông bà Phùng Liệt và Phạm Thị Tư, Ả Cát có cha là Hoàng Hi và mẹ là Phạm Thị Chí. Ba nữ kiệt đã đem theo 52 nghĩa sĩ về tụ nghĩa ở Mê Linh.

9. Nữ tướng Nguyệt Nga ở trang Đường Hào, huyện An Định, quận Giao Chỉ, cha là Trần Huy, mẹ là Phạm Thị Đào. Nữ tướng đã khởi nghĩa ở Dưỡng Mông, đem nghĩa quân lên đến 2000 người về tụ nghĩa.

10. Nữ tướng Phật Nguyệt, quê quán làng Yến, huyện Tây Vu, quận Giao Chỉ, Thủ lĩnh nghĩa quân ở vùng Phượng Lĩnh, Thanh Vân, Thanh Cù, thượng nguồn sông Thao. Đã nhiều lần tiêu diệt giặc Hán khi chúng xông vào căn cứ. Phật Nguyệt Có đầu óc tổ chức, biên chế quy củ, tiêu diệt địch hiệu quả. Nữ tướng Phật Nguyệt đã đem 2000 quân và trên 200 chiến thuyền về Mê Linh hội quân.

11. Nữ tướng Lê Ngọc Trinh, quê ở trang Lũng Ngòi, huyện Tây Vu, quận Giao Chỉ, con của hai ông bà Lê Hoàn. Lê Ngọc Trinh là chị em sinh đôi với Lê Ngọc Thanh. Năm hai chị em 19 tuổi, quan lại nhà Hán đã bắt chị Lê Ngọc Thanh và nàng Thanh đã chết. Lê Ngọc Trinh căm giận quân giặc, khởi nghĩa chống Tô Định ở Lũng Ngòi. Ngọc Trinh rất giỏi về công tác do thám, nắm tình hình  nên đã đánh bại nhiều trận càn của giặc. Lớn nhất là trận đánh thắng, bắt sống tướng giặc Lưu Ứng Khâm, chặt đầu tên này lấy máu làm lễ tế cờ khởi nghĩa.                                                                                          

12. Nữ tướng Thiều Hoa, con ông bà Hoàng Phu và bà Đào Thị Côn, quê quán động Lãng Xương, dưới chân núi Tản Viên, trên bờ sông Đà. Sau khi bố mẹ mất, Thiều Hoa sang sinh sống ở tả ngạn sông Thao ở xã Song Quan. Được sự giúp đỡ của các nhà sư, Thiều Hoa xây dựng căn cứ chống quân Hán ở rừng núi hai bờ sông Thao. Chùa Phúc Khánh trở thành võ đường của nghĩa quân. Thiều Hoa đã dẫn 500 nghĩa binh về tụ nghĩa. 

13. Nữ tướng Ả Lã, Rồng Nhị là hai chị em sinh đôi, người làng Do Tràng, huyện Long Uyên, quận Giao Chỉ. Chồng chưa cưới của Ả Lã  bị Thái thú Tô Định giết để nhằm cướp Ả Lã làm tì thiếp. Ả Lã cùng mẹ và em trốn đi và đã dựng cờ khởi nghĩa chống quân Hán.                                                                         

14. Tướng Hùng Bàn, người làng Dư Xá, Thuận Thành, huyện Long Uyên, quận Giao Chỉ, con ông Hùng Bá, Lạc tướng Hoài Hoan, quận Cửu Chân và bà Nguyễn Thị Lang. Ông Hùng Bá khởi nghĩa chống Tô Định, bị Định giết chết. Bà Nguyễn Thị Lang phải đem Hùng Bàn trốn về quê ở làng Dư Xá, huỵên Long Uyên, quận Giao Chỉ. Lớn lên, Hùng Bàn đã xây dựng căn cứ khởi nghĩa chống Tô Định. Ả Lã đã đem quân về hợp nhất với nghĩa quân Hùng Bàn, lực lượng đã lên tới 7000 người, đã từng đánh cho quân Hán nhiều trận tơi tả. Nhiều trận, Hùng Bàn đã truy kích địch tới tận thành Luy Lâu.  Hai người đã đính ước phu thê và kéo quân về Mê Linh tụ nghĩa với Trưng Trắc, Trưng Nhị.

15. Nữ tướng Xuân Nương, quê ở xã Hương Nha, huyện Tây Vu, quận Giao Chỉ. Bố Xuân Nương là Hùng Sát, Chủ trưởng châu Đại Man (đất các vùng Tam Nông, Cẩm Khê tả ngạn sông Hồng và Thanh Thủy, Thanh Sơn hữu ngạn sông Hồng). Mẹ là Đinh Thị Hiên Hoa. Hai ông bà sinh 7 người con trai, người thứ 8 là gái đặt tên là Xuân Nương. Bố mất, Hùng Thắng là con trưởng được trao chức chủ châu. Hùng Thắng đã liên kết với Thi Sách để khởi nghĩa nhưng việc bại lộ, Hùng Thắng bị giết chết. Bốn em trai của Hùng Thắng cũng bị Tô Định giết hại, chỉ có hai người trốn thoát. Thù nhà, nợ nước, Xuân Nương đã lập căn cứ chống quân Hán ở trang Tuế Phòng, Hương Nội trên bờ sông Thao. Xuân Nương đem 1000 nghĩa quân về theo Trưng Trắc và Trưng Nhị.                                                      16. Nữ tướng Mai Lan tham gia cuộc khởi nghĩa lớn của chị chồng là Lê Thị Hoa ở Huyện Dư Phát, Quận Cửu Chân, đã để cho chị lãnh đạo nghĩa quân, còn Mai Lan về tụ nghĩa ở Mê Linh

17. Nữ tướng Thiện Nhân, Thiện Khánh là hai chị em sinh đôi, con ông Nguyễn Công, mẹ là Nhã Nương, quê ở làng Thời Cử, Đường An, huyện Khúc Dương, quận Giao Chỉ. Hai chị em giỏi võ nghệ, căm thù quân xâm lược, đã về tụ nghĩa dưới cờ với Trưng Trắc, Trưng Nhị.                                                                            

18. Đỗ Thị Dung, quê quán làng Phi Hiển, Huyện Câu Lậu, quận Giao Chỉ. Bố là ông Đốc Hinh bị Tô Định giết chết. Đỗ Thị Dung cùng em là Đỗ Xuân Quang khởi nghĩa chống Hán. Khi Trưng Vương khởi nghĩa, Đỗ Thị Dung, Đỗ Xuân Quang cùng em kết nghĩa là Chu Liên về Mê Linh tụ nghĩa.

 Những cuộc khởi nghĩa khác mà chưa về tụ nghĩa đều có thù nhà nợ nước với quân Hán:

1. Khởi nghĩa của Nàng Nội quê ở Bạch Hạc, huyện Tây Vu, quận Giao Chỉ, cha là Châu trưởng Đặng Thi Huy, mẹ là Trương Thị Hân đã bị quân Tô Định giết hại để bắt nàng làm tì thiếp. Nàng Nội đã lập căn cứ ở Bạch Hạc, nhiều lần giao chiến với quân giặc.

2. Khởi nghĩa của Thục Côn, con gái của ông Phạm Khang và bà Trương Thị Đức, quê ở Mỹ Lộc, huyện Câu Lậu, quận Giao Chỉ. Tô Định hỏi Thục Côn làm thiếp không được đã giết ông Phạm Khang. Thục Côn đã khởi nghĩa ở quê nhà chống lại quân Tô Định.

3. Khởi nghĩa của Ngài Học, con trai Dương Công và bà Hà Thị Cẩn ở trang Ngô Khê, huyện Long Uyên, quận Giao Chỉ. Chỉ vì Tô Định đã giết cả nhà Ngài Học để nhằm chiếm đoạt vợ chưa cưới của Ngài Học là Hồng Nương, Ngài Học đã khởi nghĩa chống lại chính quyền Tô Định.

4. Khởi nghĩa của nữ tướng Phương Dung và chồng là Đào Kỳ ở trang Cối Giang, huỵện Long Uyên, quận Giao Chỉ,  đã nổi dậy đánh quân Hán vì Tô Định đã giết cha là Nguyễn Trát và các em là Nguyễn Hiển, Nguyễn Minh.

5. Khởi nghĩa của Nguyễn Huyền, tiểu thư, con quan nhà Triệu (Nam Việt), đã xây dựng căn cứ chống Hán ở đồn Sơn Nam, Huyện Kê Từ, quận Giao Chỉ, đã đánh cho Tô Định thất bại khốn đốn nhiều phen.

6. Khởi nghĩa của nữ tướng Trần Nương, quê ở Thái Lai, bố là ông Trần Hậu bị Tô Định giết chết. Trần Nương đã cùng chồng khởi nghĩa ở Thái Lai, đã nhiều lần đánh cho Tô Định tháo chạy.

7. Khởi nghĩa của nữ tướng Hồ Đề, con gái ông Hồ Công An và bà Bạch Thị Phương. Hồ Công An là hào trưởng Đông Cao, huyện Mê Linh, quận Giao Chỉ. Hồ Đề đã lập căn cứ ở 72 động Ninh Phúc, Huyện Long Uyên, quận Giao Chỉ  để chống Tô Định. Nghĩa quân lên đến 300 người, nhiều lần đánh cho Tô Định thua chạy.

8. Khởi nghĩa của nữ tướng Lê Thị Hoa quê ở làng Thượng Linh, huyện Câu Lậu, quận Giao Chỉ, con ông Lê Thái và bà Dương Thị Tạo. Lê Thị Hoa kết duyên cùng ông Mai Tiến, một người yêu nước chống Tô Định nên bị Tô Định giết chết. Thù nhà nợ nước, Lê Thị Hoa có 4 con trai: Mai Viết Đại, Mai Trọng Thỏa, Mai Văn An, Mai Đức Trí. Bà đem 4 con về quê ngoại, trang Thượng Linh, huyện Câu Lậu khởi nghĩa. Sau bà dời căn cứ về  huyện Dư Phát, quận Cửu Chân, cùng em chồng là Mai Lan Khởi nghĩa, đã đánh nhiều trận, tiêu diệt nhiều tên địch, giết chết tên tướng giặc tàn bạo Lưu Đại Ý, đánh bại cuộc tấn công của tướng giặc Lưu Đại Hải, anh ruột Lưu Đại Ý, đánh bại tướng Tô Long, em trai Tô Định. Lê Thị Hoa còn mở rộng hoạt động ra huyện Câu Lậu. Tính ra từ khi phát động khởi nghĩa ở Thượng Linh đến khi về tụ nghĩa dưới cờ Hai Bà Trưng, Mai Lan  đã đánh giặc và cầm cự trong 6 năm. Mai Lan về tụ nghĩa, còn Lê Thị Hoa nhận lệnh Trưng Trắc, để đánh  giặc ở  Dư Phát, quận Cửu Chân, tiến ra giải phóng Câu Lậu.

Đêm đã về khuya. Trống quân doanh đã điểm canh ba. Trưng Trắc vẫn còn mải mê đọc. Nữ tì đã phải thay ba đĩa dầu lạc, ba bát nước chè lá vối. Qua danh sách các nữ tướng đã về tụ nghĩa hoặc chưa về, Trưng Trắc mới thấy được nỗi cực khổ bi thương mà quân xâm lược đã gây ra cho dân Việt. Tầng lớp quý tộc Việt mà còn bị tàn sát oan khuất như vậy thì dân thường không biết bị giết hại, bóc lột đến nhường nào. Dân Việt dưới sự thống trị của giặc Hán không khác gì nô lệ và bị đối xử như súc vật, dưới một chế độ không luật pháp, chúng muốn bắt ai thì bắt, muốn giết lúc nào thì giết, Cả dân tộc đứng trước họa diệt vong. Trưng Trắc biết rằng sự tàn bạo của chúng đã tạo ra sự căm thù không đội trời chung trên toàn cõi Âu Lạc xưa. Hàng chục cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ đã tấn công vào quân thù, nhưng Trưng Trắc biết nếu không liên kết tất cả lại sẽ không lật đổ được quân giặc. Trong một năm qua, Trưng Trắc đã cử bà Man Thiện, Trưng Nhị và các tâm phúc làm sứ giả đem thư của bà đến mọi miền có cuộc khởi nghĩa của đất nước để mong liên kết, hẹn ngày bà hiệu triệu thì tất cả đồng loạt nổi dậy và bà đã được mọi thủ lĩnh của các nơi nhiệt liệt hưởng ứng. Thời cơ đã đến. Đêm nay, Trưng Trắc ngồi đọc kỹ lực lượng và tài năng của các thủ lĩnh đã về tụ nghĩa để phân chia lực lượng tấn công ở các thành trì quân Hán mà trung tâm là thủ phủ đô hộ Luy Lâu. Đồng thời, bà cũng đã hẹn ước với các thủ lĩnh ở các địa phương hưởng ứng nổi dậy lật đổ chính quyền sở tại, tạo thêm sức mạnh cho cuộc nổi dậy ở Mê Linh và toàn quốc. Ngoài Mê Linh thì ba trung tâm lớn đã hình thành: Trung tâm Chu Diên của Thi Sách, trung tâm của Trưng Nhị và trung tâm của bà Man Thiện. Cho đến gần sáng thì tờ giấy đặt trên bàn của Trưng Trắc đã hình thành xong bức vẽ có các hình mũi tên tấn công vào các thành trì quân Hán. Các mũi tên đã ghi tên các nữ tướng cầm quân, thành trì mà họ tấn công và hướng tấn công. Trưng Trắc cũng đã hình thành những ý chính cho lời “Hiệu triệu” ngày mai trước ba quân để ra lệnh tổng tấn công và nổi dậy.

Trống đã điểm canh tư, Trưng Trắc đang định đứng dậy thì một nữ cận vệ vào báo:

-Thưa chủ tướng, có tin rất xấu của người nhà quan huyện Chu Diên Thi Sách đưa đến.

Trưng Trắc bình tĩnh nói

-Cho vào.

-Dạ

Trưng Trắc nhìn ra thì đó là Thi Bằng, em Thi Sách. Thi Bằng quỳ xuống, vừa khóc vừa nói:

-Thưa chị dâu, huynh trưởng Thi Sách đã bị Tô Định giết chết rồi.

Trưng Trắc như nghe tiếng sét bên tai. Bà cố bình tĩnh hỏi lại:

-Chú bình tỉnh kể lại xem nào.

Thi Bằng vừa kể vừa ngẹn ngào:

-Dạ thưa chị, huynh trưởng đang chuẩn bị để cùng khởi sự  với chị thì có lẽ sự việc bị lộ. Sớm hôm qua, Tô Định xua quân đông như kiến cỏ bất ngờ tiến đánh Chu Diên. Huynh trưởng cùng lính tráng, anh em xông pha giết được nhiều địch, phá được vòng vây chạy đến Nại Tử Xã thì bị phục binh của Tô Định bắn tên giết hại. Tùy tùng đi theo huynh trưởng chỉ một số người sống sót…

Trời đất như tối sầm trước mắt Trưng Trắc nhưng bà cố gắng hết sức bình sinh để ngăn những giọt nước mắt đang chực trào ra trước tin tức đau thương tột cùng. Tình hình khẩn cấp và việc lớn trước mắt không cho phép bà rối loạn tinh thần vào lúc này. Tô Định giết Thi Sách là phá kế hoạch liên minh giữa hai nhà Thi-Trưng để chống lại hắn. Thi Sách mất đi là một tổn thất to lớn cho cuộc khởi nghĩa sắp bùng nổ. Vả lại sau khi giết được Thi Sách, Tô định sẽ nhanh chóng tiến đánh Mê Linh. Để chủ động, Trưng Trắc biết là phải hành động rất gấp, mạnh mẽ quyết liệt thì mới trả được thù nhà nợ nước.

Trưng Trắc hỏi Thi Bằng:                                                                            

 -Đã mai táng huynh trưởng và anh em nghĩa binh chưa?

-Dạ, sau khi quân Tô Định rút đi chúng em đã đem thi hài huynh trưởng và các anh em mai táng rồi ạ.

Trưng Trắc nói:

-Vậy được rồi, tạm thời chưa phát tang làm rối loạn lòng quân. Ngay đêm nay phải tập trung các tướng lĩnh ở Đại sảnh đường, tế trời đất tổ tiên, ban bố lệnh khởi nghĩa khắp bốn quận và cử các tướng lĩnh nhanh chóng vùng dậy trong cả nước, tiến đánh Cổ Loa và tấn công trị sở của giặc là Luy Lâu. Nếu không, ngày mai Tô Định đánh tới, ta sẽ bị động, sẽ rất khó khăn.

  Trưng Trắc đứng dậy gọi:

-Các em đâu!

Một nữ thị vệ bước vào:

-Dạ, thưa Chủ tướng.

Trưng Trắc nói:

-Bày biện đèn hương ở Đại sảnh đường làm lễ tế thiên địa trời đất tổ tiên để tuyên bố khởi binh đánh giặc.

-Dạ, tuân lệnh chủ tướng.

Trưng Trắc nói:

-Cho gọi Trưng Nhị tới gặp ta!

-Dạ.

Trưng Nhị bước vào. Trưng Trắc nói với Trưng Nhị:

-Tướng công Thi Sách đã bị Tô Định giết chết rồi. Khởi nghĩa đã bại lộ. Em điều tất cả quân bản bộ của ta tiến ra vòng ngoài hai dặm bịt tất cả các ngả đường tiến tới Mê Linh, canh phòng nghiêm ngặt đề phòng quân Tô Định tấn công trong đêm nay.

-Dạ.

Trưng Trắc lại ra lệnh:

-Nổi một hồi trống, tín hiệu gọi tất cả các thủ lĩnh về Đại sảnh đường họp khẩn cấp.

-Tuân lệnh.

Một hồi trống đồng vang lên khắp vùng Mê Linh trong đêm khuya yên tĩnh. Ánh sao trên bầu trời nhấp nhánh cũng như đang xao động.

Một lát sau, trong căn phòng rộng với những cột gỗ lim to lớn nâu bóng được gọi là Đại sảnh đường, các nữ tướng từ các nơi về tụ nghĩa mang võ phục màu nâu, lưng mang kiếm, tóc búi cao, môi son má phấn rất xinh đẹp và oai phong lẫm liệt đã đến và ngồi đông đủ. Ánh sáng những ngọn đèn dầu lạc làm cho phòng họp của tổng hành dinh thêm lung linh huyền ảo. Trưng Trắc và Trưng Nhị đầu cài trâm bạc, tóc búi cao, mặc võ phục màu đen ngồi cạnh chiếc bàn rộng, mặt hướng về các nữ tướng. Trong không khí im lặng và trang nghiêm, Trưng Trắc đứng dậy. Tiếng nói của bà trong trẻo vang lên trong Đại sảnh đường:

-Thưa các chư vị  tướng quân, sở dĩ đêm khuya còn triệu tập các vị tới đây vì tình hình việc quân rất khẩn cấp, liên quan đến đại sự tiêu diệt quân thù. Tối nay, tôi vừa nhận được tin chẳng lành do Thi Bằng, em của huyện lệnh  Chu DiênThi Sách chuyển tới: Do việc chuẩn bị khởi nghĩa của huyện Chu Diên bị lộ, Tô Định đã đem quân đánh bất ngờ và nghĩa quân bị tổn thất nặng nề, huyện lệnh Thi Sách đã anh dũng hy sinh.

Nghe đến đây tất cả các nữ tướng đều choáng váng. Ai cũng biết Thi Sách là chồng chưa cưới của Trưng Trắc. Quả là một tổn thất to lớn và đau buồn. Không biết chủ tướng có đứng vững được không trước tai họa khủng khiếp này. Tất cả đều đứng dậy cúi mình và đồng thanh:

-Xin chia buồn cùng chủ tướng và gia đình. Chúng tôi sẽ hết lòng báo thù cho huyện lệnh Thi Sách để báo thù nhà nợ nước. Xin chủ tướng cho phát đại tang trong toàn quân và nhanh chóng phất cờ khởi sự.

Trưng Trắc nói:

-Xin đa tạ sự chia buồn của các tướng quân với gia đình chúng tôi. Việc phát tang là việc phải làm nhưng chưa làm được bây giờ. Lý do là chúng ta không còn thời gian, việc quân rất gấp. Sau khi giết được huyện lệnh Thi sách, Tô Định sẽ nhanh chóng tiến đánh Mê Linh chỉ nay mai. Ngay đêm nay, chúng ta sẽ ban bố hiệu lệnh nổi dậy tấn công quân thù trong toàn cõi Âu Lạc, tấn công vào tất cả thành trì của quân Đông Hán. Khi cờ đại nghĩa phất lên, chúng ta không thể để không khí đau buồn tang tóc lan trong toàn quân, toàn dân, làm mất nhuệ khí của ba quân. Chờ sau khi khởi nghĩa thắng lợi, chúng ta lấy đầu tên Thái thú Tô Định, máu của quân Hán để tế vong linh của hàng vạn người Việt đã bị quân thù giết chết oan uổng, tế vong linh của tướng công Thi Sách và những nghĩa quân đã hi sinh vì nước. Mời các tướng lĩnh khấu đầu trước Thiên địa, thần thánh của nước Văn Lang, Âu Lạc, khấu đầu trước các liệt tổ, liệt tông: Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, mẹ Âu Cơ và 18 vị  Hùng Vương phù hộ chúng con tiêu diệt kẻ thù, giành lại độc lập cho non sông đất nước.

Trưng Trắc, Trưng Nhị lui xuống đứng cùng các tướng, hướng lên bàn thờ, đặt ở gian chính của sảnh đường, có nền cao hơn. Bàn thờ lớn chính giữa bằng gỗ lim có trang trí hoa văn hình chim lạc và những trống đồng. Chính giữa bàn thờ đặt bài vị Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, mẹ Âu Cơ, hai bên đặt linh vị 16 vua Hùng. Trước linh vị là những lư hương đang cháy nghi ngút. Kê vuông góc hai bên đầu bàn lớn là hai chiếc bàn nhỏ hơn đặt linh vị Tản Viên, Thánh Gióng, Cao Lỗ và những tướng lĩnh của Văn Lang, Âu Lạc đã hi sinh trong trận chiến chống quân Tần năm 218 trước công nguyên và quân Nam Việt năm 179 trước công nguyên, bàn đối diện đặt linh vị Thi Sách và những linh vị của những nghĩa quân đã hi sinh trong cuộc chiến chống quân Đông Hán và bị Tô Định giết hại. Những lư hương ở các bàn thờ lửa hương nghi ngút, huyền ảo, linh thiêng và trang nghiêm, những ngọn đèn dầu lạc bập bùng hắt lửa. Những khay trầu xanh màu lá trầu quả cau, những vò rượu cất bằng gạo đựng trong những chiếc hũ sành. Khoảng không gian trống của bức tường đặt bàn thờ chính, một lá cờ vàng, giữa thêu chữ Hùng- Lạc màu đỏ được treo lên cao. Đây là lá cờ sẽ tung bay cùng nghĩa quân trên khắp các mặt trận đánh quân Đông Hán. Trong không khí trang nghiêm đó, Trưng Trắc khấu đầu khấn vái, tiếng của bà nhỏ nhưng trang nghiêm đủ cho các tướng trong đại sảnh đường cùng nghe thấy:

-Kính thưa thiên thần, địa thần, long thần Văn Lang, Âu Lạc, kính thưa liệt tổ, liệt tông, Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và mẹ Âu Cơ, 16 Hùng Vương, đã hơn 200 năm nay đất nước Văn Lang, Âu Lạc mất vào tay bọn giặc phương Bắc. Dân tình điêu linh và sớm muộn cũng diệt vong trong bàn tay độc ác của quân thù. Nay chúng con không ngại hy sinh máu đổ để cứu giống nòi. Kính mong thiên thần, địa thần, long thần phương Nam, kính mong liệt tổ, liệt tông phù hộ cho chúng con chiến thắng tiêu diệt quân thù để cứu nguy dân tộc, bảo vệ cho giống nòi Lạc Việt, Âu Việt tránh được họa diệt vong.

Trưng Trắc dứt lời quỳ xuống hướng lên bàn thờ vái lạy. Các tướng phía sau cùng qùy xuống hành lễ vái lạy ba lần. Khi Trưng Trắc, Trưng Nhị đứng lên thì các tướng cũng đứng lên nghiêm trang chờ nghe mệnh lệnh. Một nữ binh cận vệ đưa cho Trưng Trắc một cuộn giấy màu hồng. Trưng Trắc cầm cuộn gấy mở ra và nói:

-Các tướng sĩ ba quân và bách tính hãy nghe lệnh khởi nghĩa:

-Hỡi thần dân con cháu của vua Hùng!

Hỡi thần dân của Văn Lang-Âu Lạc!

Tổ tiên của chúng ta, các vua Hùng đã trải qua hơn 1000 năm mở mang đất nước, xây dựng cõi bờ, bảo vệ cho con cháu chúng ta. Chúng ta không bao giờ đụng chạm tới người Hán ở phương Bắc, nhưng chúng vẫn thèm muốn đất đai và lãnh thổ của các tộc người Việt. Các triều Hán từ Ân Thương, Tần đều xua quân xuống phương Nam chiếm đất đai, diệt dòng giống Bách Việt.

Sau sự kiện An Dương Vương trúng kế gian tà của địch khiến nước mất vào tay nhà Triệu, đến khi nhà Hán diệt nhà Triệu thì ta lại thuộc nhà Tây Hán và nhà Đông Hán. Nhà Hán thi hành một chính sách thống trị, áp bức bóc lột tàn bạo, ra sức đẩy mạnh tiêu diệt nòi giống Lạc Việt-Âu Việt, tiêu diệt nền văn hóa, tiêu diệt phong tục tập quán, ngôn ngữ để đồng hóa chúng ta thành dân Hán. Từ năm 34 đến nay khi Hán Quang Vũ Đế sai Tô Định sang làm Thái thú, sự giết chóc tàn ác, bóc lột càng tăng lên bội phần khiến dân tộc ta đứng trước nguy cơ diệt vong không thể tránh khỏi. Sự căm thù của mọi người dân Việt đã lên đến cực điểm, không thể đội trời chung với giặc được nữa.

Hỡi thần dân con cháu của các vua Hùng! Chúng tôi dù là phận nữ nhi nhưng nay kiên quyết đứng dậy phất cao ngọn cờ cứu nước, cứu giống nòi, giải phóng đất nước, giành lại giang sơn Lạc Hồng xưa. Hỡi thần dân của giống nòi Lạc Việt, Âu Việt, hãy nhất tề cầm vũ khí đứng dậy đánh đuổi giặc Đông Hán, cứu nước, cứu nhà, cứu nòi giống qua cơn nước sôi lửa bỏng. Thần dân của các Vua Hùng hãy đứng lên!!!

                                                                       Nay kính cáo”.

Đọc xong hịch văn, Trưng Trắc nghiêm dọng nói dõng dạc:

-Các tướng lĩnh nghe mệnh lệnh chiến đấu: Các tướng lĩnh sau đây nghe phong chức vụ và có nhiệm vụ tấn công các thành trì quanh Mê Linh  tiến tới tấn công Luy Lâu, thủ phủ cai trị của nhà Đông Hán ở nước ta:                                                                                                    -Đạo đi Tiên Phong: Nay phong Nữ tướng Ả Lả, Rồng Nhị làm tướng tả tiên phong, nữ tướng Thiều Hoa làm hữu tướng Tiên phong,                                                                                                        -Nữ tướng Phùng Thị Chính giữ chức Trưởng nội thị tướng quân, tiên phong tiền quân                                                                                         -Nữ tướng Hàn Hãn làm tiên phong tiền quân.

  -Đạo tả quân tiên phong: Nay phong Quách A Tiên, ba chị em: Đạm Nương,  Hồng Nương, Thanh Nương làm tả đạo tướng quân.

-Đạo Trung Quân: Nay phong nữ tướng Hàn Quỳnh Nương làm quân sư, phong Hàn Sanh làm nguyên soái, phong Hàn Giá làm Tư thiên giám quân Binh đào điển, phụ trách sổ sách, đốc thúc quân lương cho nghĩa quân.                                                                                -Phong Lê Minh làm Hộ giá tòng Chinh tướng quân.                           -Phong nữ tướng  Tạ Vĩnh Gia làm tướng ở Trung Quân, cùng chủ tướng đánh quân Hán trên sông Hát, sông Hồng rồi tấn công Luy Lâu.                                                                                                        -Phong cho nữ tướng Trần Nương làm Trưởng lĩnh Trung Quân cầm cờ của chủ tướng khi xung trận.                                                       -Phong cho tướng Ngài Học  làm Nguyên soái, ở trung quân cùng chủ tướng tiến công.                                                                               -Phong Nga Nương làm Thống Lĩnh tả hữu nội vệ nữ tốt, phục vụ ở Trung quân, phong  Xuân Nương, chức Trưởng quản quân cơ nội các.                                                                                                               -Phong Nguyệt Nga làm Tùy tướng cho Trưng Nhị, Trần Năng làm Trưởng Lĩnh trung Quân. Phong Quý Lan chức Nội thị tướng quân.

-Đạo thủy Binh: Phong Hùng Bàn chức Thống lĩnh tiền quân đại tướng, kiêm chỉ huy thủy quân.                                                                     -Phong Lê Đậu Nương làm Đô đốc thủy tào tướng quân cùng Tả tướng thủy quân Phật Nguyệt, Nữ tướng Xà Nương chỉ huy thủy quân tiến theo sông Đuống, sông Dâu đánh phía Tây Luy Lâu.

 Trưng Trắc nói tiếp:

- Đây là đạo quân Mê Linh, trung tâm của cuộc nổi dậy, ngoài ra các tướng lĩnh ở các địa phương có nhiệm vụ phát động nhân dân quận Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam đứng dậy diệt thù, đồng thời chúng ta phải tiêu diệt các đồn chung quanh Mê Linh, Cổ Loa và thắng tiến tới Luy Lâu. Ngoài tiến đánh Luy Lâu, cả nước đồng thời phải nổi dậy khắp nơi mới bảo đảm thắng lợi. Vì vậy nay phong:

-Tướng lĩnh các đạo quân binh quận Giao Chỉ:

+Đạo quân binh Tây Vu-Long Uyên: Phong cho nàng Nội làm tướng, thao luyện quân, tích lũy lương thực tại Bạch Hạc, đánh giặc tại Bạch Hạc. Phong tướng cho Lê Ngọc Trinh làm tướng quân, tiêu diệt địch ở vùng sông Lô, sông Gâm, sông Chảy. Phong Hồ Đề làm Phó nguyên soái, tiêu diệt địch ở Tây Vu-Long Uyên, sau đó cùng tiến về Luy lâu. Phong nữ tướng Chúa Bầu làm Trấn Viễn đại tướng quân, Ả Tú, Ả Huyền làm tướng  chỉ huy đạo quân binh, phối hợp với các thủ lĩnh người Tày, Nùng  lãnh đạo nhân dân tham gia khởi nghĩa, tiêu diệt địch ở Tây Vu-Long Uyên. Phong An Bình Lý làm tướng coi giữ Tam Dương, huyện Tây Vu. Phong Trần Quốc (nàng Quốc) chứcTrung Dũng đại tướng quân, diệt địch ở Cổ Loa, huyện Long Uyên. Phong Vĩnh Huy là Nội thị tướng quân, đánh giặc ở  Tiên Nha, huyện Tây Vu .                       +Đạo quân binh huyện Câu Lậu: Phong Đạm Nương làm tả đạo tướng quân, Hồng Nương, Thanh Nương làm phó tướng, kêu gọi và lãnh đạo bách tính khởi nghĩa, tiêu diệt quân Đông Hán ở Hoa Lư, huyện Câu Lậu. Phong Đinh Thị Tiên, Đinh Bạch Nương và Đinh Tĩnh Nương làm tướng chỉ huy khởi nghĩa, tác chiến tiêu diệt địch ở Câu Lậu.

+Đạo quân binh huyện Chu Diên, quận Giao chỉ: phong Hàn Quỳnh Nương làm tướng, khởi sự đánh giặc ở  Lý Nhân, sau khi thắng lợi kéo về hợp quân tiến đánh Luy Lâu.                      +Đạo quân binh Sơn Nam, quận Giao Chỉ: Phong cho Thục Côn làm tướng, tiến đánh quân Hán ở Sơn Nam.

+Đạo quân binh An Định, quận Giao chỉ: Phong Vũ Thị Thục Bát Nàn Uy viễn Đại tướng, có nhiệm vụ khởi sự tiêu diệt quân Hán ở huyện An Định.

+Đạo quân binh Vũ Ninh, quận Giao Chỉ: Phong Nàng Nội làm tướng, thống lĩnh đạo binh đánh địch ở Vũ Ninh. Phong cho Thánh Thiên làm Bình Ngô đại tướng, đánh giặc ở Bắc Đái, huyện Kê Từ.     

+Đạo quân binh Khúc Dương, quận Giao Chỉ: Phong  Lê Chân chức Trấn Đông Đại tướng quân, thống lĩnh đạo quân Nam Hải, tấn công giặc ở vùng biển Đông Bắc, sau đó đem quân về hợp sức đánh Luy Lâu.

-Tướng lĩnh đạo quân binh quận Cửu Chân, Nhật Nam:

+Đạo quân Cửu Chân: Phong Mai Lan làm tướng, Lê Thị Hoa chức Bình Nam Đại Tướng quân, Phó thống lĩnh đạo binh Cửu Chân. Phong Đào Kỳ, Phương Dung chức Trấn Nam Đại tướng quân. Các tướng phải ra sức đánh phá giặc ở Cửu Chân, rồi tiến đánh Luy Lâu.   

+Đạo quân Binh Nhật Nam: Phong nữ tướng Thị Quỳnh (Nàng Quỳnh), Thị Quế (Nàng Quế) làm Tiên phong phó tướng chức Hổ Oai Đại Tướng quân, thống lĩnh đạo quân Nhật Nam, phát động khởi nghĩa và tiêu diệt địch ở vùng Nhật Nam.        

-Tướng lĩnh đạo quân Binh Hợp Phố:

 + Phong Đàm Ngọc Nga chức Tiền đạo tả tướng quân, Phó thống lĩnh đạo binh Nam Hải.

   +Phong Ba vị họ Đào làm Tướng: Đào Chiêu Hiển, Đào Đô Thống, ĐàoTam Lang đánh địch ở Bồ Lăng tại ngã ba sông Trường Giang và Ô Giang (Trùng Khánh).

 +Phong Trần Thị Phương Châu làm Hải Nam công chúa, đánh địch ở  Khúc Giang (Quảng Đông).          -Đạo quân hồ Động Đình: Phong Lê Ngọc Trinh ở Lũng Ngòi, huyện Tây Vu chức Chinh thảo Đại tướng quân đánh giặc ở Quế Lâm.                                                                                                       

+Phong Lê Thị Lan ở Đường Lâm, Huyện Mê Linh chức Trấn Tây tướng quân, đánh giặc ở Hán Trung. +Phong Phật Nguyệt ở Thanh Ba, Huyện Tây Vu  chức Thao Giang Thượng tả trưởng thủy quân, Chinh Bắc Đại tướng quân, đánh giặc ở hồ Động Đình, Trường Sa (Hồ Nam).               

+Phong Sa Giang, quê ở Trường Sa, người Hán, làm tướng quân, đánh giặc ở Hợp Phố.                     

 + Phong Đô Thiên người Hán  làm Động Đình công, Chức Trung Nghĩa Đại tướng quân, đánh giặc ở Trường Sa, Hợp Phố.

-Tất cả những tướng lĩnh phụ trách các đạo quân binh ngay đêm nay đem quân bản bộ về các địa phương được phân công, kêu gọi nhân dân khởi nghĩa, truyền hịch của ta, đánh phá thành trì, tiêu diệt quân Đông Hán. Nơi nào gần Luy Lâu, sau khi đã chiến thắng có điều kiện thì ra chi viện cùng đánh chiếm Luy Lâu, Các tướng lĩnh phải hoàn thành chức trách của mình, ai vi phạm kỷ cương, trách nhiệm sẽ bị xử theo quân luật.

Trưng Trắc dứt lời, cả đại sảnh rộng lớn vang lên tiếng đáp đồng thanh như sấm vọng lan xa trong đêm khuya:

-Chúng tướng xin tuân lệnh chủ tướng, nhất định chiến thắng, nhất định hoàn thành nhiệm vụ, làm trọn lời thề với trời đất, tổ tiên Hùng Lạc.                                                                                               

 Trưng Trắc nói:

-Ta ra lệnh đồng khởi diệt thù, chúc các chư tướng thành công!

-Dạ, chúc chủ soái thành công!

Các nữ tướng đứng dậy ra về bản doanh của mình. Tiếng trống đồng nơi đại sảnh vang lên và đêm đó khắp Mê Linh, tiếng trống đồng vang lên không ngớt ban bố mệnh lệnh tổng nổi dậy của toàn dân. Các đạo quân trong đêm tối từ Mê Linh tiến về khắp các ngã đường Đông Tây Nam Bắc của đất nước. Trên đầu họ những lá cờ màu vàng, mang chữ  Hùng-Lạc đỏ chói trong đêm như ngọn đuốc soi đường. Trên cao hơn, bầu trời đêm xuân năm 40 lấp lánh những vì sao như mắt những thần linh sáng chói dõi nhìn những người con hùng dũng đi cứu giống  nòi đang bị chìm đắm suốt 200 năm nay.

IV

   Mùa xuân năm 40, khắp các vùng cai trị của nhà Đông Hán thuộc các tộc người Việt từ Nam Trường Giang, hồ Động Đình, Lĩnh Nam, Hợp phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam chấn động rung chuyển bởi các cuộc nổi dậy của bách tính dưới sự lãnh đạo của hai Bà Trưng và các tướng lĩnh. Bọn thống trị Đông Hán tưởng lấy sự tàn bạo và nhiều thủ đoan thâm độc để mong duy trì chính quyền đô hộ vĩnh viễn. Nhưng chúng đã nhầm. Tàn ác đã đẩy nhân dân đến bước đường cùng và họ đã nổi dậy như đại dương nổi sóng thần. Các thành trì lớn bé bị phá tan hoang, đầu của quan cai trị và quân lính Hán rơi như sung rụng, máu chảy chan hòa để rửa vết nhơ trong lịch sử.

  Tại trung tâm Mê Linh, vào sớm hôm mà mệnh lệnh khởi nghĩa được ban bố,  Trưng Trắc mặc áo chiến bào đỏ, áo giáp màu đồng vàng, lưng đeo gươm, đầu đội mũ đồng gắn lông chim hạc, đi guốc vàng, cưỡi trên lưng con voi to lớn đi trung quân. Phía trước gần cổ con voi có người quản tượng mặc quân phục nâu. Đi trước trung quân của chủ tướng là đạo tiền quân của nữ tướng Phùng Thị Chính, Hàn Hãn. Hai bên có tả hữu trung quân của các nữ tướng Ả Lả, Rồng Nhị. Sau lưng có đạo hậu quân của nữ tướng Nàng Quỳnh, Nàng Quế. Các nữ tướng cưỡi ngựa, mặc giáp đồng, trang phục nâu, lưng đeo cung tên và bên sườn mang gươm lớn, đầu đội mũ chóp bằng đồng có gắn lông chim, chân đi guốc đen. Toàn bộ quân Việt đông khoảng 2 vạn, quân phục màu nâu, vũ khí giáo mác, cung tên, gươm, dao ngắn tiến như thác lũ đánh thành Đô úy trị ở Mê Linh.

  Thành Đô úy trị Mê Linh là thành địa phương không lớn lắm nhưng thành kiên cố xây bằng đá ong, chung quanh có hào nước rộng, muốn vào thành phải qua cầu bắc qua hào và rút lên sau khi vào thành. Khi quân Bà Trưng còn cách thành hai dặm thì thám mã về báo:

  -Bẩm chủ tướng, Đô Úy người Hán đã đem quân ra ngoài thành dàn trận nghênh chiến.

Trưng Trắc ra lệnh:

-Hai đạo tả hữu vòng thành vòng cung hai bên và bao vây sau lưng địch, không cho chúng tháo chạy vào thành. Trung quân chuẩn bị chiến đấu.

Quân Việt tiến thêm hơn một dặm nữa thì gặp địch và dừng lại. Đối diện với quân Việt có khoảng một vạn quân Hán dàn hàng ngang, cách thành và hào nước khoảng nửa dặm. Quân Hán mặc quân phục đen, đội mũ đen, cầm cung tên giáo mác gươm dao tua tủa. Năm võ tướng mặc áo đen, áo giáp sắt, đội mũ đâu mâu, lưng mang cung tên, tay mỗi người cầm vũ khí khác nhau, người thì long đao, kẻ thì thiên phương họa kích, kẻ lại búa lớn, kẻ thì dao to, nom rất khí thế và hung hãn. Quân Hán gõ trống chiêng inh ỏi, quân Việt cũng khua trống đồng, tù và vang dội. Trời mùa đông gió lạnh thổi thốc tháo nhưng chiến trường Mê Linh nóng bỏng bởi một trận huyết chiến sắp nổ ra. Đô úy Mã Khắc Thiêm nhìn những tướng lĩnh của quân Việt thấy toàn mặt hoa da phấn, oai phong tuyệt trần thì có vẻ xem thường, liền quát:

-Có ai ra bắt bọn nữ tặc cho ta?

- Dạ có mạt tướng.

Dứt lời, một tướng cao lớn thét lên một tiếng man rợ rồi múa long đao xông ra. Nữ tướng tiền quân của quân Việt Phùng Thị Chính múa gươm xông ra quát:

-Thằng giặc kia hôm nay phải đền tội.

Hai ngựa hai người một nam một nữ lao vào nhau, gươm chạm vào long đao tóe lửa phát ra âm thanh sắt thép rợn người. Tiếng la hét của quân lính, tiếng trống da bò của quân Hán lẫn với tiếng trống đồng của quân Việt vang động một khoảng trời. Hai tướng vẫn đấu với nhau kịch liệt. Bỗng nhiên một cánh tay và thanh long đao của tướng Hán và sau đó cả cái đầu đẫm máu văng xuống đất. Máu nhuộm đỏ cả áo giáp và bờm ngựa của nữ tướng Phùng Thị Chính. Quân Hán chưa hết cơn sửng sốt bàng hoàng thì quân Việt đã thừa thắng xông lên chém giết. Quân Hán bỏ chạy vào thành thì cầu treo vào thành đã bị rút lên. Thành đã bị quân Việt lấy. Trên thành hàng trăm lá cờ vàng thêu chữ đỏ Hùng Lạc tung bay phấp phới. Năm tướng Hán cùng quan Đô úy và một vạn quân Hán bị giết, máu như thành sông, xác chồng như rạ. Bên Việt tổn thất 500 binh sĩ nhưng tướng lĩnh không mất người nào. Quân Việt ở Mê Linh, trung tâm khởi nghĩa của cả nước dưới sự lãnh đạo của Trưng Trắc đã thắng lợi oanh liệt trận đầu. Trưng Trắc cho quân ăn mừng thắng lợi, củng cố đội hình và tiến đánh thành Cổ Loa.

  Sau chiến thắng Mê Linh một ngày, đại quân của  Trưng Trắc tiến về Long Uyên hạ trại chuẩn bị tiến đánh thành Cổ Loa. Đêm đó, trong Tổng hành dinh của mình, Trưng Trắc cùng các tướng lĩnh nghiên cứu kế hoạch tấn công Cổ Loa. Hạ thành Cổ Loa khó hơn nhiều so với hạ thành Đô úy trị ở Mê Linh. Cổ Loa do Cao Lỗ thiết kế xây dựng từ thời An Dương Vương Thục Phán, đến năm 40 đã gần 300 năm nhưng cấu trúc và độ bền vững còn nguyên vẹn. Chín vòng thành quanh co bằng đết sét nện chắc, mặt các thành trong rộng khoảng 5 bước chân, thành vòng ngoài mặt rộng 10 bước, đáy rộng 10 bước theo kiểu hình thang thượng thu hạ thách. Trên mặt thành ngoài, ngày xưa Cao Lỗ cho xây những tháp canh và 100 bệ đặt nỏ liên châu (nỏ thần), ngày nay, quân Hán không có nỏ liên châu nhưng trên 100 ụ đó chúng cho đặt nỏ cứng to mạnh. Dưới 4 mặt thành ngoài là hào rộng hai chiến thuyền có thể đi song song. Nay trên dòng sông hình elíp đó, thuyền chiến quân Hán đậu san sát bảo vệ thành. Những thuyền chiến đó có thể đi lại với căn cứ thủy quân ở Đầm Vạc và từ dòng sông 4 mặt thành đó có thể tiến ra sông Hoàng Giang mà triển khai đến sông Hồng, sông Đuống ra tận Lục Đầu Giang. Ra thành vào thành Cổ Loa qua chiếc cầu to lớn bằng gỗ lim có thể nâng lên hạ xuống do lực bánh xe kéo bằng giây thừng to đặt ở bên trong cổng thành.

Trưng Trắc nói:

-Đánh thành Cổ Loa khó khăn hơn đánh thành Mê Linh rất nhiều. Thành này thành cao, hào sâu, nỏ mạnh tên cứng, trong thành khoảng 2 vạn quân, lại có thủy binh bảo vệ vòng ngoài. Cho nên ngày xưa Triệu Đà phải dùng gian kế, sau đó nội công ngoại kích  thì An Dương Vương bại trận và thành Cổ Loa thất thủ, nước  Âu Lạc mất. Nay ta đã có chuẩn bị và cũng phải dùng nội công ngoại kích thì mới thành công.

Các tướng hỏi:

-Nội công ngoại kích thì phải đánh như thế nào thưa chủ tướng?

Trưng Trắc đáp:

-Ta đã chuẩn bị và có chủ ý, các tướng cứ nghe theo lệnh của ta là được.

Ngày hôm sau quân Việt đông như kiến cỏ giữ nguyên đội hình như tiến đánh thành Mê Linh tiến về Cổ Loa. Khi còn cách Cổ Loa nửa dặm, quân Việt dàn trận vẫn theo đội hình tả, hữu, tiền, hậu và trung quân.

Đốc tướng giữ thành Chu Thiên Phú cùng tùy tùng lên mặt thành quan sát. Trước mặt cách hào nước thành Cổ Loa khoảng nửa dặm, quân Việt đông vô kể với quân phục màu nâu dàn trận hình cánh cung dày đặc, gươm giáo tua tủa lên trời lấp lánh, những lá cờ vàng thêu chữ Hùng Lạc màu đỏ bay phấp phới. Những nữ tướng chiến bào màu nâu, áo giáp đồng, mũ đồng chóp nhọn, lưng mang cung tên, tay cầm gươm đang ghì cương ngựa hùng dũng. Ở Trung quân có hai lá cờ lớn màu đỏ có chữ soái, dưới chữ soái là chữ Hùng-Lạc vàng rực, dưới hai lá cờ là hai thớt voi to lớn như hai hòn núi di động. Ngồi trên voi là hai nữ tướng bận võ phục đỏ, áo giáp đồng, mang gươm lớn đang chăm chú quan sát về thành. Chu Thiên Phú hỏi:

-Hai nữ tặc ngồi trên voi có phải là Trưng Trắc và Trưng Nhị nổi tiếng đó chăng?

Tướng tùy đáp:

-Dạ phải, Trưng Trắc là chị, em là Trưng Nhị, võ nghệ cao cường nổi tiếng thiên hạ.

Chu Thiên Phú cười ha hả

-Ha! Ha!Ha! Nguyên soái là nữ, tùy tướng là nữ, quân sĩ là nông dân ô hợp. Thế này mà Thái thú khuyên ta cẩn thận, cứ cố thủ để chờ viện binh thì quân kia tan vỡ. Ha ! Ha! Thực là nực cười…

Tùy tướng nói:

-Xin chủ tướng chớ xem thường. Khi Thái thú Tô Định dùng Ngụy Húc là một võ lâm cao thủ dưới chiêu bài thi đấu võ để giết hết nhân tài đất Việt, Ngụy Húc đã giết chết được 10 võ lâm cao thủ người Việt. Nhưng khi gặp Trưng Trắc, chỉ 10 hiệp thì đầu Ngụy Húc đã bay khỏi cổ ở võ đài Luy Lâu.

-Ngụy Húc là thằng vô danh tiểu tốt, sao sánh được với võ quan triều đình Đông Hán. Nam tử Hán đại trượng phu lại không đánh nổi bọn đàn bà hay sao?

Rồi Chu Thiên Phú ra lệnh:

-Mở cổng thành, giao chiến để ta bắt bọn nữ tặc.

Cửa cổng thành kiêm cầu treo ghép bằng những tấm gỗ lim nặng và lớn được hai tên lính điều khiển bằng bánh xe hạ xuống bắc qua sông hào. Từ cổng thành, Chu Thiên Phú và năm tướng tùy tùng phi ngựa tung bờm xông ra như cơn lốc, theo sau là hai vạn quân Hán trang phục màu đen, tay cầm gươm giáo mác và đủ loại vũ khí giết người, lưng đeo cung tên chạy theo sau như thác lũ. Ra đến đâu, quân Hán dàn trận về hai bên tả hữu của chủ tướng tạo nên thể trận chữ nhất. Dàn trận xong, Chu Thiên Phú hét to:

-Có ai ra bắt nữ tặc cho ta?

Một tướng mặt đen, mắt lồi hung ác, người to lớn, huơ hai chiếc búa khổng lồ thúc con ngựa chiến cũng màu đen xông ra. Bên quân Việt, nữ tướng Thiều Hoa cũng múa hai thanh gươm lớn lấp lánh phóng ngựa màu nâu phi ra. Hai tướng gần nhau thì gươm và búa chạm nhau tóe lửa. Hai bên giao chiến 50 hiệp mà không phân thắng bại. Trưng Trắc ra lệnh:

-Bắn tên lửa lên trời!

Đội trung quân đi sát Chủ tướng châm lửa vào những mũi tên có chất cháy bắn tới tấp lên trời cao. Khói lửa sáng rực trên không trung. Quân Hán ngạc nhiên không biết quân Việt bắn tên lửa lên để làm gì. Vài khắc sau, từ trong thành Cổ Loa cũng có hàng trăm phát tên lửa bay lên trời. Những chiến thuyền của quân Hán đậu ở hào thành Cổ Loa thốt nhiên bốc cháy. Thì ra những người Việt mặc thường phục đang trên thành Cổ Loa ném đá và chất cháy xuống chiến thuyền quân Hán. Trận thế của quân Hán trên bờ hoang mang rối loạn. Trưng Trắc trên mình voi chỉ gươm về phía trước ra lệnh:

-Toàn quân xông lên giết giặc, trả thù nhà nợ nước!

Quân Hán ngoảnh nhìn phía sau thì thấy chiến thuyền bốc cháy, lính thủy bị chết do lửa, do tên, do đá ném từ mặt thành xuống. Phía trước quân Việt đang xông lên chém giết mãnh liệt. Thế trận quân Hán tan vỡ rối loạn. Tên tướng Hán mặt đen võ nghệ cao cường nhưng tình thế chiến trường làm hắn phân tâm, bấn loạn, thất thế một miếng võ và bị Thiều Hoa chọc một gươm xuyên qua họng ngã lăn xuống đất chết tươi. Quân Hán đại bại chạy trở lại Cổ Loa thành nhưng cầu treo đã bị rút lên, hào quanh thành chiến thuyền cháy ngùn ngụt với thây xác quân Hán chết cháy hoặc bị đá trên thành ném dập mặt vỡ đầu ngổn ngang trên thuyền hoặc vật vờ dưới nước. Đại quân Hán chạy về  không có cầu vào thành lao nhau xuống sông, ngựa các tướng chồm vó bên vực sông và cũng lao xuống nước. Trên thành gỗ đá, tên, chất cháy vẫn tuôn xuống như mưa. Sau lưng quân Việt đuổi tới chém giết quân Hán như phạt chuối, xác quân Hán phơi đặc một dặm ngoài thành, máu lênh láng đỏ lòm như trải thảm. Hai vạn quân Hán và các tướng lĩnh tử trận, còn khoảng vài trăm tên nhằm phía Bắc mà chạy về hướng Luy Lâu. Phía quân Việt trong kịch chiến tổn thất khoảng gần 1000 nghĩa binh.

Thì ra, trước đó Trưng trắc đã cho một nữ tướng và một trăm cao thủ võ lâm bí mật trà trộn vào thành vận động được thêm vài trăm dân Việt ủng hộ tham gia khởi nghĩa. Khi đại quân Hán ra ngoài thành tác chiến và nhận được tên lửa bên ngoài báo tin đến giờ hành động, lực lượng bí mật này đã giết chết lính gác cổng thành, kéo cầu treo lên, cắt đứt đường về thành của quân Hán, giết chết những tên lính trực cung nỏ ở thành ngoài, bắn tên, ném gạch đá chất cháy tiêu diệt thủy binh Hán ở trên sông hào dưới thành ngoài. Hành động chiếm thành, tiêu diệt thủy binh đã làm đại quân Hán trên bộ mất tinh thần rối loạn, tan vỡ thế trận khi đang giáo chiến với quân của Trưng Trắc, tạo điều kiện cho quân Việt xông lên tiêu diệt quân Hán.

Chiến thắng Mê Linh, Cổ Loa làm thanh thế quân Trưng Trắc lừng lẫy, làm chấn động Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam. Mê Linh thành Trung tâm của cơn bão táp từ Nam Trường Giang đến Hoành Sơn lật đổ chế độ thống trị của nhà Đông Hán. Sau trận Cổ Loa, Tô Định vô cùng khiếp đảm, không thực hiện kế hoạch tấn công Mê Linh như dự định mà lui về ra sức phòng thủ Luy Lâu, sào huyệt của nền cai trị Đông Hán.

   *Sau chiến thắng Cổ Loa, Trưng Trắc cho thu dọn chiến trường, chôn cất xác quân Hán và những tử sĩ người Việt cho họ mồ yên mã đẹp, hương khói, vàng mã được đốt lên, lập đàn chay cúng tế cho vong linh tử sĩ được siêu thoát. Nữ tướng Hàn Quỳnh Nương nói với Trưng Trắc:

-Để động viên người dân khắp nơi nổi dậy, Chủ tướng nên tuyên bố thủ tiêu tất cả những luật lệ hà khắc, thuế má nặng nề của quân Hán ở Mê Linh, Cổ Loa và tất cả các quận Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam.

Trưng Trắc đáp:

-Phải lắm.

  Rồi từ Trung tâm Mê Linh liền công bố, ra lệnh trong toàn quốc bãi bỏ thuế má và các luật lệ phong tục Hán mà dân Việt phải chịu đựng hàng trăm năm nay.

  Bài hịch kêu gọi khởi nghĩa ngày 6 tháng giêng năm 40 cùng với những chiến thắng của nghĩa quân ở Mê Linh, Cổ Loa, cùng lời công bố xóa bỏ ách thống trị của quân Hán đã làm cho dân Việt suốt từ Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam vui mừng, nô nức nổi dậy, theo các thủ lĩnh của Hai Bà Trưng ở các địa phương đập tan chính quyền của nhà Đông Hán. Phong trào trở nên đồng khởi như một cơn bão táp đồng loạt quét sạch bọn thống trị người Hán tham tàn bạo ngược. Nhận được tin cấp báo thắng trận từ các nơi, Trưng Trắc nói:

-Nền cai trị của giặc sụp đổ khắp nơi nhưng trận đánh Luy Lâu là quyết định cho toàn thắng cuối cùng vì Luy lâu là trung tâm của chính quyền cai trị của nhà Đông Hán từ Nam Trường Giang đến Hoành Sơn. Cho nên, các tướng lĩnh phải chấn chính đội ngũ để ngày hôm sau tiến đánh Luy Lâu.

Sớm đó thời tiết đã chuyển sang xuân nhưng khí trời vẫn giá rét, mưa phùn và sương mù dày đặc bao phủ miền quê xanh cây lá. Trưng Trắc, Trưng Nhị đi Trung quân. Quân Việt quân phục màu nâu. Gươm giáo tua tủa, cờ bay rợp trời tiến về bộ Vũ Ninh, nơi có thành Luy Lâu, trụ sở và trung tâm đầu não của chính quyền Đông Hán ở Giao Châu và cũng là trụ sở của quận Giao Chỉ. Thủy binh  khua mái chèo thuyền làm náo động nước của các con sông Hồng, sông Đuống và tiến vào sông Dâu, con sông chảy ngang phía Tây của thành Luy Lâu. Tham gia trận đánh này, Các nữ tướng Phùng Thị Chính, Hàn Hãn đi hữu quân tiên phong. Đi tả quân tiên phong gồm các tướng Ả Lã, Rồng Nhị, hai tướng nam nhi là Bạc và Bỉnh. Nữ tướng Quý Lan đóng vai quân sư của Trưng Trắc. Ba chị em bà Dưỡng, Nguyệt Nga công chúa đi Trung quân, phụ tá cho Trưng Trắc, Trưng Nhị. Các trướng Trần Nang, Thiên Bảo cầm cờ “Soái”. Đi hậu quân  có nữ tướng Thiều Hoa, Tề Vĩnh Gia, Thiện Nhân, Thiện Khánh.

  Đạo Thủy quân gồm Tiền quân Đại tướng thủy quân Hùng Bàn đánh vào phía Đông thành, tả tướng thủy quân Phật Nguyệt và hai tướng Đậu Nương, Xà Nương tiến theo sông Hồng, sông Đuống vào sông Dâu đánh phá  ở phía Tây thành. Hai đạo thủy quân có nhiệm vụ tiêu diệt thủy quân Hán ở bốn hào sông của thành, mở cổng thành cho đại quân tràn vào thành diệt địch.

  Thành Luy Lâu  thuộc huyện Luy Lâu, quận Giao Chỉ là trung tâm quyền lực của nhà Đông Hán không chỉ đối với quận Giao Chỉ mà còn là của toàn bộ  Giao Châu: Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam. Tòa thành này nằm ở vị trí chiến lược quan trọng, trung tâm bộ Vũ Ninh, chắn giữ tất cả các ngã đường giao thông thủy bộ vùng Bắc Giao Chỉ. Thành nằm trên vùng đất cao, bao quát được một vùng rộng lớn của đồng bằng châu thổ, gắn với vùng sông nước nhưng vẫn cao và thoáng. Thành được xây trên bờ Đông của sông Dâu. Sông Dâu tạo nên một trong bốn sông hào bao quanh Luy Lâu. Từ sông Dâu có thể đi ra sông Đuống, sông Hồng về phía Nam đến Cổ Loa hoặc Mê Linh, hoặc có thể đi về phía Đông qua Lục Đầu Giang vào sông Bạch Đằng ra biển Đông. Trước khi bị xâm lược, bộ Vũ Ninh nói chung và thành Luy Lâu nói riêng là một trong những trung tâm của người Việt. Từ đây, người Việt đã tiến xuống chinh phục châu thổ ở phía Đông và phía Nam do sông Hồng tạo nên và vươn ra biển.Từ địa hình sẵn có đó, bọn phong kiến Hán đã nhìn thấy vị trí quan trọng nhiều mặt của Luy Lâu trong việc đóng vai trò trung tâm cai trị, khống chế toàn bộ Giao Chỉ, khống chế con đường hàng hải quốc tế, tiến xuống chinh phục các nước phương Nam.

   Luy Lâu nằm gọn trong làng Lũng Khê. Quy mô của thành rất to lớn. Lũy thành phía Tây gắn với sông Dâu dài gần 2 dặm, lũy thành phía Đông cũng dài gần 2 dặm. Thành phía Bắc dài 1 dặm, thành phía Nam cũng dài hơn 1 dặm. Chiều cao của các lũy thành khoảng 5 trượng, mặt thành rộng 2 trượng, chân thành rộng 4 trượng. Thành Luy Lâu mở cửa chính phía Tây. Hai bên đầu thành có Vọng Giang Lâu (vọng gác), cửa sau của thành mở ở phía Đông. Trên bốn góc thành có Đồn Quan Trấn (Tử Trấn Thành Quan). Phía ngoài thành phía Tây, dòng sông Dâu trở thành hào nước rộng lớn bao che cho thành. Còn ba mặt thành đều có  hào nước rộng 12 đến 15 trượng như sông bao quanh. Các hào thành thông nhau và nhận nước từ sông Dâu chảy vào tạo nên chướng ngại vật phòng thủ, giúp cho giao thông thuận tiện trong ngoài thành và giữa thành Luy Lâu với khắp các vùng của các quận. Về phía Đông theo hệ thống sông ngòi này, Luy Lâu còn có đường thông ra biển. Trên bốn con sông hào rộng lớn đó, thủy binh Đông Hán với chiến thuyền dày đặc bảo vệ thành ở bốn mặt Đông, Tây, Nam, Bắc. Trên mặt thành, quân Đông Hán thay nhau canh phòng suốt ngày đêm với hàng trăm bệ đặt tên mạnh nỏ cứng sẵn sàng nhả tên, còn những đống đá với những hòn to bằng cái thúng sẵn sàng ném xuống, còn những thùng dầu sẵn sàng châm lửa ném xuống quân tấn công thành. Phía ngoài sông hào của thành là những lũy tre gai dày đặc có tuổi đời hàng trăm năm tạo nên một chiến lũy thiên nhiên thứ ba bảo vệ cho thành. Trong thành có 3 vạn tinh binh và những dũng tướng võ nghệ cao cường thuộc loại cao thủ võ lâm của Trung Nguyên như Đô úy  Lưu Đại Hải, Hoàng Sùng Chính, Mã Giang Long, Tổ Hoài Đức…

Chỉ một ngày, quân thủy, bộ của Hai Bà Trưng đã tiến tới gần Luy Lâu. Thủy quân dừng tạm ở cửa sông Đuống chờ lệnh, còn bộ binh hạ trại dàn trận cách sông Dâu nửa dặm phía Tây thành. Khi nghe tin quân Bà Trưng kéo tới, Thái thú Tô Định rất tàn bạo tham lam nhưng rất ham sống sợ chết. Thái thú bàn với các tướng:

-Nay ta có thành cao hào sâu, bọn nữ tặc Việt không dễ gì phá được, ta cứ cố thủ chờ viện binh, trong đánh ra, ngoài đánh vào thì chúng tự khắc bị tiêu diệt.

Hoàng Sùng Chính nói:

-Cố thủ một tháng mà hết lương thực thì ta nguy khốn. Triều đình Lạc Dương không thể chi viện được cho ta ngay vì tin cấp báo đưa về, đồng đảng của Trưng tặc đã nổi loạn chiếm hết miền Nam Trường Giang, Hợp Phố, Hồ Động Đình, cắt đứt đường giao lưu với Giao Chỉ. Triều đình có dẹp yên được cũng phải một năm. Mạt tướng cho rằng nhân lúc quân ta còn khí thế cứ kéo quân ra. Quân ta tinh nhuệ thế nào cũng chiến thắng lũ nông dân Việt ô hợp.

Mã Giang Long cũng nói:

-Tướng quân Hoàng Sùng Chính nói chí phải. Vả lại, đại quân của Trưng Trắc là đầu mối của các cuộc nổi loạn. Ta phải bóp chết đại quân này thì mới dẹp được các cuộc nổi loạn ở các quận, khi đó ở các quận ta không đánh chúng cũng tự tan.

  Tô Định gật gù:

  -Vậy thì quyết chiến một trận xem sao. Mở cổng thành nghênh chiến nữ tặc!

  Cổng thành phía Tây Luy Lâu hạ xuống vắt ngang sông Dâu tạo nên cái cầu gỗ lim rộng, dày chắc chắn. Tô Định mặc áo xanh, giáp sắt, mũ đâu mâu sắt nhọn từ trong thành cùng các tướng trên mình những chiến mã lao ra như gió. Theo sau là 3 vạn quân Đông Hán quân phục màu đen, gươm, giáo, mác, búa, lưng đeo cung tên tràn ra như thác. Trên đầu những lá cờ vàng có chữ Hán màu đen bay theo gió.Tô Định dàn thế trận chữ nhất, quát to:

-Tướng Mã Giang Long ra bắt nữ tặc cho ta.

  Mã Giang Long cưỡi ngựa đen, múa họa kích xông ra. Bên quân Việt Đại tướng tiền quân Hàn Hãn thúc ngựa màu nâu múa gươm xông ra. Hai ngựa xáp vào nhau, hai đại tướng cách nhau một cánh tay, họa kích chạm gươm tóe lửa. Hai ngựa bị ghì cương chồm hai vó trước lên. Khi vó ngựa chạm đất, hai tướng lại đánh nhau. Tiếng chiêng, tiếng trống da bò của quân Hán, tiếng thanh la, tiếng tù và, tiếng trống đồng bên quân Việt hòa với tiếng reo hò của hạng vạn người làm rung chuyển không gian vùng Luy Lâu,Vũ Ninh. Đang khi đó Trưng Trắc trên mình voi ra lệnh:

-Bắn tên lửa!

  Một phát tên có chứa chất cháy được châm lửa bắn lên tạo nên một bó đuốc trên không trung.

  Tô Định và quân Hán còn đang ngơ ngác thì từ hai bên tả hữu quân Hán, từ các bãi dâu không xa, quân Việt mai phục xuất hiện và tràn như vũ bão đánh vào tả hữu quân Hán. Trưng Trắc trên mình voi phất cờ, toàn quân Việt phía đối diện quân Hán nhất tề xông lên cùng hai cánh quân tả hữu chém giết quân Hán như gió lốc. Quân Hán bị đánh cả ba bên, thế trận tan vỡ quay đầu tháo chạy về Luy Lâu. Tô Định được các tướng hộ vệ cùng một vạn quân chạy được vào thành. Còn những tên chạy sau bị quân Việt chém như phạt chuối. Xác và máu giặc ngập đỏ suốt một dặm vuông, dọc bờ sông Dâu máu chảy đầm đìa như suối, xác giặc chết chồng lên nhau đủ kiểu. Bên quân Việt cũng mất 500 người. Trưng Trắc dàn quân bao vây bốn mặt thành Luy Lâu, bên ngoài lũy tre dày đặc.

  Quân Việt bao vây Luy Lâu nhưng cũng chỉ ngoài lũy tre gai dày đặc, bên trong là những hào nước rộng như sông bảo vệ thành. Trên mặt nước, dày đặc những chiến thuyền quân Hán canh giữ. Trên mặt thành là đá, tên cung nỏ, dầu chất cháy sẵn sàng châm lửa ném xuống. Suốt một đêm trong tổng hành dinh Trưng Trắc và Trưng Nhị cùng các tướng suy nghĩ cách phá thành. Các nữ tướng ngồi đăm chiêu trên hai hàng ghế. Trưng Trắc lúc ngồi, lúc đứng, lúc chắp tay sau lưng đi lại, lúc cúi xuống nhìn chăm chăm vào bản vẽ của thành Luy Lâu. Chủ soái đã nhai không biết bao nhiêu miếng trầu cau, không rõ đã uống bao nhiêu bát nước lá vối do nữ binh hầu cận đưa lên. Đêm về khuya. Gió rét của tháng ba lạnh buốt xương. Những ánh lửa bập bùng của các trại quân bao vây Luy Lâu tạo những mảng vàng xé nát màn đêm. Trưng Trắc nhìn rất lâu vào các đóm lửa. Thốt nhiên Chủ soái reo lên:

-Có rồi. Hỏa công.

Trưng Nhị hỏi:

-Thưa chị, hỏa công nhưng đốt cái gì và đánh thế nào khi quân ta không thể lọt qua lũy tre này ạ?

  Trưng Trắc đáp;

-Dùng rơm rạ chất cao lên đốt cháy toàn bộ lũy tre, phá tan chiến lũy thứ nhất để quân ta tiếp cận đốt cháy thủy quân địch, tiêu diệt thủy quân, sau đó thuỷ quân ta tiến vào đốt cổng thành địch, trèo tường vượt thành vào bên trong mà đánh. Tất cả đều dùng hỏa công.

   Trưng Trắc ra lệnh:

-Trong ngày mai, các tướng đem một ít quân vào các xóm làng vận động nhân dân đóng góp rơm rạ và chất cao vào các lũy tre chờ lệnh. Còn tiểu muội Trưng Nhị đi chỉ huy thuỷ quân, ra lệnh cho đạo thủy binh của Đại Tướng  Hùng Bàn bịt phía Bắc sông Dâu, đạo thủy binh của Phật Nguyệt, Xà Nương bịt phía Nam sông Dâu, không cho tàn binh thủy quân địch tháo chạy ra sông Đuống, sông Hồng. Sau khi hỏa công tiêu diệt thủy binh xong, đạo quân của Hùng Bàn công phá cổng thành phía Tây trên sông Dâu, đạo quân của Phật Nguyệt công phá cổng thành phía Đông và dùng thuyền chở bộ binh tiến vào thành.

  Trưng Trắc nói thêm:                                                                  

-Hai đạo thủy binh cho người lên bờ nhờ dân làng giúp rơm rạ, ván, lạt tre, buộc rơm vào các tấm ván bện rơm tẩm nước, Khi tiến vào phá cổng thành phải cử quân khoẻ mạnh, ghép các tấm ván thành áo giáp che chắn tên đạn địch để hạn chế thiệt hại, để vô hiệu hóa hỏa lực của đối phương trên mặt thành ném xuống.

Trưng Trắc truyền quyết tâm cho các tướng:

-Trong thành còn một vạn tên và những tướng lĩnh nhưng đã bị trận thất bại vừa rồi làm mất tinh thần. Thành Luy Lâu kiên cố chỉ còn tồn tại đêm nay thôi. Ngày đền tội của bọn Tô Định đã đến rồi.

Các tướng dạ ran và tản về các trại quân chuẩn bị. Trống ở tổng hành dinh đã điểm canh ba. Xa xa, trong các làng có tiếng chó sủa và tiếng gà gáy eo óc, rồi làng xóm mênh mông lại im lìm chìm trong một màn đen thẫm. Những ruộng dâu bát ngát mênh mông uốn mình xạc xào theo gió.

  Lại một ngày mùa xuân qua đi nhanh chóng. Đêm xuống. Bóng đêm tràn ngập khắp nơi. Nhưng Luy Lâu và vùng ngoại vi không yên tĩnh. Quân Việt bao vây thành Luy Lâu bên ngoài các lũy tre đã sẵn sàng chiến đấu. Dưới gốc các lũy tre bao quanh hào sông đã chất đầy rơm rạ cao như núi, bao bọc đến 1/3 chiều cao của tre.

Trưng Trắc hạ lệnh:

-Lệnh cho hai đạo thủy quân bịt hai đầu sông Dâu không cho địch chạy thoát.Tất cả đồng loạt châm lửa đốt.

Quân Việt bốn phía dạ ran, châm lửa và ném những bó đuốc vào núi rơm rạ quanh lũy tre. Rơm rạ cháy làm cho tre cũng bốc cháy, phút chốc tạo nên một vòng núi lửa cáo ngút trời cháy rần rật soi sáng suốt hàng dặm của đất Luy Lâu, Vũ Ninh, khói và tàn lá tre bay mù mịt đất trời. Tre già bị cháy liên tục nổ vang như pháo lớn. Đất trời vàng rực trong cơn hỏa công dữ dội và vang động trong tiếng nổ của tre cháy, của tiếng thanh la, tù và tiếng trống đồng của quân Việt nghe như trời long đất lở. Thủy binh Hán không chịu nổi sức nóng của vành đai lửa táp xuống, từ thuyền cho đến vũ khí, trang phục trên thuyền đều nóng như rang, nhiều tên đã chết ngất, nhiều tên đã lao xuống nước. Thuỷ binh Hán cố thoát ra sông Hồng, sông Đuống nhưng hai đầu sông Dâu đã bị thủy quân Việt khóa chặt không tài nào ra nổi. Đến giữa trưa, chiến lũy tre bốn mặt hào thành chỉ còn là những đống tro tàn, những thân tre cháy  đen sì gục xuống ngổn ngang, tạo khoảng trống cho quân Việt trên bờ bắn tên lửa xuống chiến thuyền quân Hán. Bị rang nóng suốt nửa ngày, dễ bén lửa, chiến thuyền quân Hán bốc cháy ngùn ngụt trên sông hào, lại thêm tên đạn của quân Việt bốn phía trên bờ bắn xuống như mưa, nước như sôi lên, chiến thuyền đen thui chìm xuống, xác quân Hán  dày đặc dập dềnh chìm nổi lấp kín bốn dòng sông hào ngay dưới chân thành, máu nhuộm đỏ nước. Quân Hán trên thành đứng nhìn đồng đội chết mà không thể nào cứu được, lại không dám mở cổng thành cho thủy quân thoát vào sợ bị quân Việt vào thành. Nhìn thủy quân chết thảm, quân trong thành cũng hoảng loạn. Thành Luy Lâu chưa thất thủ nhưng quân Hán đã hoàn toàn sụp đổ về tinh thần. Những tên sống sót cố bơi vào bờ thì bị quân Việt bắt sống, chúng lạy như tế sao để mong quân Việt ban cho sự sống.

  Thế lực công thành của quân Việt càng mạnh thêm do được thêm các đạo quân của nữ tướng Lê Chân ở An Biên, tướng Hồ Đề ở Long Uyên, Hàn Quỳnh Nương ở Chu Diên, Lê Thị Hoa, Đào Kỳ, Phương Dung ở Cửu Chân  kéo về tiếp sức. Lê Chân sau khi lãnh đạo nhân dân lật đổ ách thống trị của nhà Đông Hán ở An Biên, đã theo sông Bạch Đằng vào Lục Đầu Giang, tiến về Vũ Ninh, góp sức cùng Chủ soái hạ thành Luy Lâu. Khâu Ni công chúa cũng đem quân về trợ chiến. Ngày hôm sau, Trưng Trắc hạ lệnh cho thủy binh tấn công với nhiệm vụ là đốt phá cổng thành để đưa bộ binh, thủy binh đánh thành. Nhận được lệnh, Hùng Bàn và Phật Nguyệt đã cho nhiều thuyền kết lại với nhau thành nhóm cho vững chắc, cử những thủy binh khỏe mạnh nâng những tấm ván bện rơm tẩm nước ghép lại thành những bức tường che chắn tên đạn quân Hán trên thành bắn xuống để hạn chế thương vong. Những nhóm thuyền của đạo thủy binh Hùng Bàn được che chắn chèo  như bay tiến vào sông Dâu, cổng thành phía Tây, nhóm thuyền của thuỷ quân Phật Nguyệt tiến vào hào thành cửa phía Đông. Quân Hán trên mặt thành bắn tên, ném đá, đổ chất cháy xuống như mưa quyết liệt chống cự nhưng đã bị những mánh giáp ván bện rơm dầy tẩm nước vô hiệu hóa.Thủy quân Việt tiếp cận được cổng thành, tưới chất cháy và đốt. Cổng thành phía Đông và phía Tây cháy ngùn ngụt và được mở toang. Thủy quân Việt dùng thuyền làm cầu cho bộ binh và thủy binh xông vào thành. Trong thành vô cùng hỗn loạn, chiêng, trống đồng, thanh la, tù và vang dội cùng với tiếng reo giết giết của quân Việt, khói lửa mù mịt, đất trời rung chuyển. Quân Hán tan vỡ, bị quân Việt chém như chuối đổ. Các nữ tướng quân Việt xông pha, tả xung hữu đột, phi ngựa trong đám loạn quân cùng bộ binh, thủy binh Việt chém giết quân Hán, người và ngựa như tắm máu quân Hán, thả sức phanh thây xé xác quân thù, rửa mối hận nước thù nhà suốt 200 năm trời mất nước.

 Trưng Vương rời khỏi ngai vàng, bước ra trước lễ đài và nói:

-Đúng như các tướng lĩnh đã nói, nước thì phải có vua. Nay thể theo nguyện vọng của tướng lĩnh, của quân đội, của trăm họ, ta tạm ngồi lên ngôi báu, đem thân nữ nhi vì đất nước, kế tục sự nghiệp chí lớn của liệt tổ, liệt tông. Nay ban bố mệnh lệnh sau đây:

-Triều đại của chúng ta là kế tục sự nghiệp của các vua Hùng nên lấy Quốc hiệu là Hùng Lạc.

-Đế hiệu triều đại của ta là Trưng Vương.

-Kinh đô Mê Linh

-Biên giới quốc gia lãnh thổ từ Nam Trường Giang ở phía Bắc, vượt quá dãy Hoành Sơn ở phương Nam bao gồm các quận Hợp Phố, Giao chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam.

-Nay khôi phục và phát huy tất cả những phong tục, tập quán, trang phục, lễ nghĩa trong Quốc gia và trong gia đình của dòng giống Lạc Việt, Âu Việt và Bách Việt.

-Xóa bỏ tất cả những phong tục tập quán, lễ nghi, trang phục của Hán mà bọn thống trị Hán buộc ta phải theo suốt 200 năm nay.

-Xóa bỏ tất cả những tô thuế phi lý và nặng nề, những lệ cống vật, những lệ lao dịch mà quân Hán đã thi hành để bóc lột nhân dân ta. Đặc biệt là xóa bỏ thuế sắt, thuế muối mà quân Hán xưa đánh rất nặng để làm nòi giống ta suy nhược do thiếu sắt sản xuất và thiếu muối khi chế biến thực phẩm, làm chúng ta suy nhược nòi giống và diệt vong là chính sách ác độc của quân Hán xâm lược.

-Những người Hán đã di cư và định cư ở nước ta nếu không về Trung Nguyên thì được ở lại làm ăn nhưng không được hành động chống lại nước Hùng Lạc.

-Cho bách tính miễn thuế trong ba năm.

-Thiết lập một chính quyền với trung tâm là Mê Linh, dưới Quốc gia là các quận, dưới quận là huyện, dưới huyện là các công xã, dưới công xã là làng và bản. Việc bổ nhiệm các quan lại sẽ căn cứ vào học thức và công lao trong cuộc khởi nghĩa giành độc lập nhưng phải có tài, năng lực trình độ, có lòng thương dân, sự trung thành với triều đình Mê Linh, với đất nước Hùng Lạc.

-Căn cứ vào công lao, nay ta, Trưng Vương phong tặng cho các tướng lĩnh và điều động từng người làm nhiệm vụ trấn trị trên khắp các địa phương của giang sơn Hùng Lạc:

1. Nay phong Trưng Nhị làm Bình Khôi công chúa, chức Phó Trưng Vương quốc gia Hùng Lạc.

2. Thánh Thiên, nữ tướng anh hùng, quê ở huyện Bắc Đái, Giao Chỉ, tài kiêm văn võ, nay phong làm Thánh Thiên Công chúa, thống lĩnh binh mã trấn thủ vùng Nam Hải (Hồ Nam).

3. Lê Chân, nữ tướng miền biển, ở An Biên, huyện Khúc Dương, quận Giao Chỉ, nay phong làm Đông Triều Công chúa, giữ chức Trấn Biên Đại Tướng quân, thống lĩnh đạo quân Nam Hải .

4.Vũ Thị Thục, ở Tiên La, huyện An Định, Giao Chỉ, nay phong làm Bát Nàn Uy Viễn Đại tướng quân, Trinh Thục công chúa.

5. Nay phong Vương Thị Tiên làm Ngọc Quang Công chúa.

6. Nay phong Nàng Nội, nữ tướng vùng Bạch Hạc, huyện Kê Từ, quân Giao Chỉ  làm Nhập Nội Bạch Hạc Thủy Công Chúa .

7. Nay phong Lê Thị Hoa, nữ tướng anh hùng ở huyện Dư Phát, quận Cửu Chân làm Nga Sơn Công chúa, chức Bình Nam Đại tướng quân, Phó Thống lĩnh đạo binh Cửu Chân.

8. Nay phong Hồ Đề, ở Động Lão Mai, Huyện Long Uyên, quận Giao Chỉ  làm phó Nguyên soái, Đề Nương Công chúa, Trấn Viễn Đại tướng quân.

9. Nay phong Trưởng quân cơ Xuân Nương ở Tam Nông, huyện Tây Vu làm Đông Cung Công chúa, giữ chức Nhập nội Trưởng quân cơ nội các.

10. Nay phong Nàng Quỳnh và Nàng Quế, Tiên phong phó tướng ở châu Đại Man làm Nghi Hòa Công Chúa, chức Hổ Oai Đại tướng quân, Thống lĩnh đạo quân và trấn thủ vùng Bắc Nam Hải.

11. Nay phong Đàm Ngọc Nga, Tiền đạo tả tướng ở Thanh Sơn, Huyện Tây Vu, quận Giao Chỉ làm Nguyệt Điện tế thế công chúa, giữ chức Tiền Đạo tả tướng quân, Phó thống Lĩnh đạo Binh Nam Hải.

12. Nay phong Trần Thị Phương Châu Làm Nam Hải Công chúa. 13. Nay phong Thiều Hoa ở Tam Thanh, huyện Tây Vu, quận Giao Chỉ làm Đông Cung Công chúa, giữ chức Tiên phong hữu tướng.

14. Nay phong Quách A ở Bạch Hạc, Huyện Tây Vu, quận Giao Chỉ làm Khâu Ni công chúa, giữ chức Tiên phong tả tướng, Tổng Trấn Luy Lâu .

15. Nay phong Vĩnh Huy ở Tiên Nha, Huyện Tây Vu làm Vĩnh Hoa công chúa, giữ chức Nội Thị tướng quân.                                         16. Nay phong Lê Ngọc Trinh ở Lũng Ngòi, huyện Tây Vu làm Ngọc Phượng Công Chúa, chức Chinh Thảo Đại tướng quân, Phó Thống lĩnh đạo quân Quế Lâm.

17. Nay phong Lê Thị Lan ở Đường Lâm, huyện Tây Vu, quận Giao Chỉ làm Nhu Mẫn Công chúa, chức Trấn Tây tướng quân, Phó Thống lĩnh đạo binh Hán Trung.

18. Nay phong Phật Nguyệt ở Thanh Ba, huyện Tây Vu, quận Giao Chỉ làm Phật Nguyệt công chúa, chức Thao Giang Thượng tả Tướng Thủy quân, Chinh Bắc Đại tướng quân, Tổng Trấn khu Hồ Động Đình- Trường Sa (Hồ Nam).             

 19. Nay phong Phương Dung ở Lang Tài, Huyện Long Uyên, quận Giao Chỉ làm Đăng Châu Công chúa, giữ chức Trấn Nam Đại tướng quân, thống lĩnh đạo binh Giao Chỉ.

20. Nay phong Trần Năng ở Thượng Hồng, Huyện An Định, quận Giao Chỉ làm Hoàng Công chúa, giữ chức Trưởng Lĩnh Trung quân.

21. Nay phong Trần Quốc (nàng Quốc) ở Gia Lâm, huyện Long Biên, quận Giao Chỉ làm Gia Hưng Công chúa, Trung Dũng Đại tướng quân, giữ chức Đô Đốc, Trưởng quân Thủy quân trấn Bắc Nam Hải.

22. Nay phong Hồng Nương làm An Bình công chúa, chức kỵ binh Lĩnh Nam, Tả đạo tướng quân.

23. Nay phong Thanh Nương làm Bình Xuyên công chúa, chức Kỵ Binh Lĩnh Nam, Tả đạo tướng quân.

24. Nay phong Đạm Nương làm Quất Lưu công chúa, chức Kỵ binh Lĩnh Nam, Tả đạo tướng quân.

25. Nay phong Quý Lan, Nội Thị tướng quân làm An Bình công chúa, giữ chức Nội Thị tướng quân.

26. Nay phong Sa Giang, người Hán ở Lĩnh Nam là Lĩnh Nam công chúa .

27. Nay phong Đô Thiên, người Hán ở Lĩnh Nam làm Động Đình Công, chức Trung nghĩa Đại tướng quân, thống lĩnh đạo quân Hán Trung, Tổng trấn Trường Sa (Hồ Nam).

28. Nay phong Phùng Thị Chính ở Tuấn Xuyên, Huyện Tây Vu, quận Giao Chỉ làm Trưởng Nội Thị Tướng quân.                           Trưng Vương nói tiếp:

-Nay ta và các tướng lĩnh cùng quân sĩ vì nước vì dân đã không quản khó nhọc, hi sinh giải phóng đất nước. Nhưng đó mới chỉ là mở đầu cho những sự nghiệp lớn, khó khăn hơn nữa là xây dựng và bảo vệ đất nước. Bên kia Trường Giang, Hán Quang Vũ hẳn là chưa bỏ ý định xâm lược lại nước ta. Ta và các chư tướng đều giữ chức vụ và thân mang trọng trách, cùng  ba quân không được lơ là, phải hoàn thành nhiệm vụ của mình.

  Các tướng lĩnh và binh sĩ dạ ran. Tiếng trống đồng, tiếng tù và, thanh la vang động.Trưng Vương nói tiếp:

-Ngày mai bắt đầu ngày quốc tang, hương khói dâng lên vong linh của Huyện lệnh Thi Sách, các tướng quân Đào Chiêu Hiển, Đào Đô Thống, Đào Tam Lang, các nữ tướng Đinh Bạch Nương, Đinh Tĩnh Nương, Trần Thiếu Lan, nữ tướng Chúa Bầu đã vì nước hy sinh. Ba ngày quốc tang cũng là để hương khói dâng lên vong linh của các chiến sĩ nghĩa quân đã xả thân trên chiến trường vì dân, vì nước ở Mê Linh, ở Cổ Loa, Luy Lâu, các quận Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam. Ba ngày quốc tang cũng là hương khói cho vong linh những người dân Việt đã bị quân Hán giết hại suốt 200 năm nay. Sau ba ngày quốc tang là đến ngày đại xá thiên hạ, lệnh cho thiên hạ vui chơi, ăn mừng chiến thắng, ăn mừng non sông độc lập. Sau những ngày quan trọng đó, các tướng lĩnh theo chức vụ và địa bàn đã phân, ai về địa bàn đó thực thi nhiệm vụ bảo vệ đất nước và giúp dân đẩy mạnh sản xuất, giữ gìn phát triển văn hóa của đất nước Hùng Lạc.

  Trưng Vương dứt lời, ba quân và tướng sĩ dạ ran, hòa với tiếng trống đồng, tiếng thanh la, tù và vang động trời đất Mê Linh. Lịch sử Hùng Lạc sang một trang mới hùng tráng hào hùng.

V

  Trong khi đó, phía Bắc sông Trường Giang là lãnh thổ của nhà Đông Hán đang dưới thời cai trị của Hán Quang Vũ Đế từ năm 24. Khi Thái Thú Tô Định bị lật đổ chạy về không còn râu, không còn ấn tín, triều đình Lạc Dương tức giận vô cùng. Mùa xuân năm 42, Hán Quang Vũ Đế phong Mã Viện, một tướng đã dầy kinh nghiệm chinh chiến với các dân tộc thiểu số phía Bắc Trung Quốc làm Phục Ba tướng Quân, Tổng chỉ huy đạo quân 20 vạn bộ binh và thủy binh sang chinh phục lại phía Nam Trường Giang đến dãy Hoành Sơn. Lưu Long làm phó tướng. Đoàn Chí làm đô đốc chỉ huy 2000 lâu thuyền và 10 vạn thủy binh cùng phối hợp tác chiến với bộ binh. Thái Thú Tô Định do am hiểu tình hình phía Nam nên được cử làm tiên phong với 3 vạn quân để lập công chuộc tội. Trước khi xuất phát, Hán Quang Vũ Đế, một ông vua đã trải qua chinh chiến hàng trăm trận, đánh bại các thế lực quân phiệt, lật đổ triều Tân của Vương Mãng, phục hưng lại triều đại cho dòng họ Lưu, đã dặn Mã Viện là phải dùng mưu cùng sức mạnh quân sự mà chiến thắng:

-Khanh đi chuyến này phải rửa được cái nhục họ Tô đã mang lại cho trẫm, thứ hai là khôi phục lại thuộc địa ở phương Nam. Nhưng phương Nam địa thế hiểm trở, con người ương ngạnh và bất khuất. Khanh, ngoài dùng sức mạnh gươm giáo thì phải kết hợp dùng mưu mới mong chiến thắng.

Mã Viện và các tường quỳ rạp vái lạy Hán Quang Vũ Đế. Viện đáp:

-Thần xin tuân chỉ.

Trong một ngày mùa xuân nhưng gió lạnh như cắt, tuyết rơi trắng xóa, Mã Viện dẫn 10 vạn quân rời Lạc Dương đi theo đường bộ. Đoàn Chí dẫn 10 vạn thủy binh, 2000 chiến thuyền theo dòng Trường Giang ra biển. Trước khi chia quân, Mã Viện dặn Đoàn Chí:

-Đô đốc đến gần Bạch Đằng Giang đừng tiến vào vội, chờ có lệnh ta hãy tấn công.

  Đoàn Chí đáp:

-Xin vâng lệnh chủ soái.

Sau khi chiến thuyền của Đoàn Chí đã đi, Mã Viện nói với các tướng:

-Đánh nước Hùng Lạc chỉ cần vượt qua sông Trường Giang là có thể đánh được, nhưng đó chỉ là tay chân của Trưng Trắc, không giải quyết được cái gốc. Vả lại nếu đánh từ gần đến xa, khi ta đến được Mê Linh thì binh lính sức lực đã hao tổn, cầm chắc thất bại. Nay phải hành quân tới Mê Linh, đánh bại được Trưng Trắc trước thì các nơi khác quân Việt không đánh cũng tan rã.

Lưu Long nói:

-Đó là diệu kế.

Tô Định nói:

-Nhưng đi như vậy là đi vòng, quá lâu mới tới được Quỷ Môn Quan của quận Giao Chỉ.

  Mã Viện cười vẻ khinh bỉ tên Thái thú hèn nhát bại trận:

-Phép dùng binh có khi phải thần tốc, có khi phải lâu dài tạo thời cơ. Thái thú lĩnh 3 vạn quân đi tiên phong, không có đường phải mở đường, không có cầu phải làm cầu mà tiến. Ngày mai giờ ngọ tốt, sau khi làm lễ tế cờ thì xuất phát.

 Theo kế đó của Mã Viện, 10 vạn bộ binh sau khi vượt Trường Giang không tiến vào Hồ Động Đình, Hợp Phố mà đi vòng về phía Tây. Quân Hán không gặp đường thì mở đường, gặp sông suối thì bắc cầu mà qua. Cuộc hành quân đi vòng, lại bí mật nên các tướng của triều đình Mê Linh như Sa Giang công chúa, Đại tướng quân Đô Thiên ở Hoàng Sa, Trung Dũng Đại tướng quân Trần Quốc không hay biết gì.

Sau tháng trời hành quân gian khổ, cuối cùng quân Mã Viện cũng đã tới được địa đầu quận Giao Chỉ, phía bắc Quỷ Môn Quan thuộc bộ Lục Hải xưa. Thủy binh của Đoàn Chí đã tới được Vịnh Hạ Long nêu đậu gần cửa sông Bạch Đằng chờ lệnh của Mã Viện. 20 vạn quân xâm lược bắt đầu nhe nanh vuốt. Bóng đen chiến tranh xâm lược đã vạch vẽ trên bầu trời Hùng Lạc.

Ba năm thanh bình, yên vui của Hùng Lạc chấm dứt. Thám mã từ Hợp Phố đã biết được tin quân Hán vào xâm lược, phi ngựa suốt ngày đêm về Mê Linh báo tin dữ. Kinh đô Mê Linh vang lên tiếng trống đồng, tiếng thanh la, tiếng chiêng báo tin khẩn cấp. Khắp các quận của Hùng Lạc từ Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam cũng vang lên những âm thanh hùng tráng khi sứ giả đi báo tin khẩn cấp về Quốc gia nguy biến, báo hiệu khói lửa chiến tranh xâm lược đang đến. Trưng Vương ra lệnh tuyển thêm quân. Triều đình Mê Linh lệnh cho tướng lĩnh tất cả các quận, Tổng binh các đạo quân sẵn sàng chiến đấu, lệnh cho thủy binh của Hùng Bàn, Phật Nguyệt tiến ra chặn thủy quân địch ở sông Bạch Đằng.

Một sáng mùa xuân, trong tiết trời ảm đạm, mây đen sì từng đợt, gió lạnh thổi căm căm, Trưng Vương mặc võ phục, làm lễ tế cờ, cùng em là Trưng Nhị lên voi, đi giữa tiền quân, hậu quân tiến về đất xưa gọi là Lục Hải quyết chiến với giặc. Những lá cờ vàng chữ đỏ  Hùng Lạc rợp trời tung bay theo gió, dưới cờ là quân đi, giáo mác như rừng. Các nữ tướng áo chiến bào màu nâu, giáp đồng, mũ đồng, môi hồng má phấn tiến ra mặt trận. Ba quân lên đường trong gió lạnh, cát bụi mù mịt. Dọc đường, bách tính các huyện Mê Linh, Luy Lâu, Bắc Đái, Kê Từ, Long Uyên quận Giao Chỉ  gần đường đem bánh chưng, rượu, xôi ra úy lạo chật đường, đông đúc. Hai ngày sau, đại quân Trưng Vương đã đến Nam ải Chi Lăng và bắt đầu bố trí trận địa.

  Cùng thời gian, đại quân của Mã Viện cũng đã tới cuối quận Hợp Phố, đầu quận Giao Chỉ, phía Bắc Lục Hải, Bắc Quỷ Môn Quan. Muốn vào sâu đất Giao Chỉ và tiến tới Mê Linh nhanh nhất thì bắt buộc phải qua Quỷ Môn Quan và ải Chi Lăng. Là một tướng đã lâu năm tác chiến ở chiến trường Bắc Trung Nguyên, quen với địa hình núi non, sa mạc, Mã Viện cũng choáng ngợp trước địa hình hiểm trở, rừng cây như thiên la địa võng của Phương Nam. Những ngọn núi đá quanh co, cao ngất trời, rừng xanh rậm rạp, Những lối đi nhỏ hẹp gập ghềnh, núi liền núi, rừng liền rừng tưởng như vô tận. Mùa đông, mây mù cùng sương giăng trắng như những vành khăn huyền ảo. Những đàn chim bay trên trời cao về phương Nam tránh rét. Những con diều hâu bay trên không trung rồi nghiêng cánh lao như tên bắn xuống những khu rừng, mất hút trong rừng rậm và trong làn khí lạnh. Mã Viện thầm nghĩ, đất phương Nam thật nhiều chướng khí. Mã Viện nói:

-Khí hậu phương Nam thật không lành, địa thế thật là hiểm trở. Đi theo con đường độc đạo này để vào đồng bằng Giao Chỉ, đến Mê Linh là nhanh nhất nhưng không biết có mai phục không. Nếu có mai phục thì 10 vạn quân của ta sẽ chết không kịp trở tay.

  Lưu Long nói:

-Chúa thượng đã cử Tô Định làm tiên phong vì hắn làm quan cai trị ở đây đã rõ địa hình, cử hắn đi  chắc là thành công.

  Mã Viện nói:

-Muốn biết Quỷ Môn Quan có phục binh hay không cũng đành phải như vậy thôi.

  Mã Viện cho gọi Tô Định vào Tổng hành dinh và nói:

-Ngươi là Thái thú bại trận, khi quân Trưng Trắc nổi lên, ngươi chưa đánh đã bỏ quân đội, thành trì tháo chạy. Nay chúa thượng cho ngươi đi tiên phong để lập công chuộc tội. Ngày mai, ngươi đem ba vạn quân tiến vào Qủy Môn Quan, mở đường cho đại quân tiến xuống Mê Linh bắt Trưng Trắc. Nếu thắng lợi sẽ ghi công đầu cho ngươi.

  Tô Định nghe Mã Viện nói như sét đánh ngang tai. Tiếng là làm thái thú ở Giao Chỉ sáu năm nhưng Tô Định chưa bao giờ đi qua Quỷ Môn Quan lần nào. Lần năm 34 sang nhận chức thì đi bằng thuyền của thủy binh vào sông Bạch Đằng và lên Lục đầu Giang mà về Luy Lâu. Tô Định chỉ nghe nói về sự hiểm trở đáng sợ của ải quan này, không phải ngẫu nhiên mà nó mang tên là Quỷ Môn Quan. Nhưng nếu chống lệnh thì sẽ bị chết vì kháng chỉ của Hán Quang Vũ Đế. Thôi thì đành liều mà đi may ra không có phục binh thì còn sống sót.

Tô Định nói:

-Mạt tướng tuân lệnh.

  Rồi Tô Định về doanh trại nói với Tô Quảng. Tô Quảng nói:

-Rõ ràng Mã Viện và Lưu Long muốn đẩy anh em ta vào đất chết. Nếu có mai phục trong địa thế hiểm yếu thì cầm chắc cái chết. Huynh nên cẩn thận cho lính do thám xem có phục binh của quân Việt hay không rồi sẽ tính tiếp.

  Tô Định nói:

-Chí phải

  Rồi sai một tiểu tướng dẫn 100 lính đi do thám. Một trăm tên lính hầu hết là những tên lính sợ chết. Chúng đi vào Quỷ Môn Quan nửa dặm rồi quay về báo cho Tô Định:

-Dạ bẩm chủ tướng, chúng tôi đã dò la rất kỹ, không phát hiện thấy có quân mai phục ạ.

  Lập tức, Tô Định ra lệnh xuất quân. Đội hình đi hàng dọc vì đường chật. Những viên tiểu tướng đi đầu. Tô Định đi giữa đoàn quân, có Tô Quảng và các tùy tướng thân cận đi kèm hộ tống. Ba vạn quân gươm giáo, cung tên, mỗi tên còn được trang bị một cái mộc chắn tên bằng da bò khô. Đoàn quân đi thành một hàng dài tiến vào Quỷ Môn Quan.

Sáu năm cai trị ở Giao Chỉ, Tô Định chỉ nghe nói về sự hiểm trở của miền biên ải phía Bắc. Bây giờ Tô Định đang đi và đang chứng kiến địa thế hiểm trở của núi rừng nơi đây, đặc biệt là Quỷ Môn Quan, nơi Tô Định, em hắn là Tô Quảng và 3 vạn binh sĩ đang dẫn thân vào, cái chết có thể ập xuống bất cứ lúc nào. Tất cả đều do hắn gieo gió thì phải gặt bão. Giá như khi là Thái thú Giao Chỉ, hắn không tham lam, không tàn ác. Hắn lấy làm kỳ lạ là những kẻ đang nắm quyền và tham lam thì rất say sưa, hoàn toàn không nhận thức được hậu quả. Tiếng bước chân, tiếng ngựa hí làm đứt dòng suy tư của Tô Định. Hắn thấy Quỷ Môn Quan có hai núi đá đối nhau và ở giữa có một độ rộng khoảng 30 bước chân. Hai khối núi đá hai bên dốc đứng quanh co, hang hốc, cây cối xanh bạt ngàn che hầu hết ánh sáng mặt trời chiếu vào thành ra lối đi rất mờ tối. Vì lối hẹp giữa hai vách núi nên gió lạnh đưa vào như giao cắt. Tiếng những con chim “bắt cô trói cột” kêu vang núi. Tiếng tắc kè kêu “Tếch về! Tếch về!” như đuổi Tô Định và quân Hán quay về cố quốc.

Hết Quỷ Môn Quan, quân Tô Định bắt đầu đi vào một nơi hiểm địa tiếp theo nhưng rộng rãi hơn. Đó là ải Chi Lăng. Trước mắt Tô Định là một thung lũng hẹp nằm giữa hai dãy núi: Phía Đông là dãy núi đất Bảo Đài, Thái Hòa, phía Tây là dãy núi đá dựng đứng tạo nên một thung lũng dài hơn 2 dặm, rộng khoảng 1,5 dặm. Một con đường hẹp từ Quỷ Môn Quan xuyên qua thung lũng này chạy về Luy Lâu, về Cổ Loa và đi về quận Cửu Chân, Nhật Nam, tạo nên một con đường thiên lý. Dọc thung lũng là những ngọn núi thấp, nằm rải rác có tên là núi Hòn Quỷ, núi Phượng Hoàng, núi Kỳ Lân, núi Mã Yên. Hai đầu Bắc- Nam của thung lũng bị núi đá phía Tây, núi đất phía Đông khép lại là lũy Ải Quỷ và núi Ngõ Thề. Địa thế ở đây rộng hơn nên 3 vạn quân Hán không đi hàng một mà dồn lên đi kín cả mặt thung lũng.

  Đi đã lâu mà không có phục binh, Tô Định vui mừng nói:

-Trưng Trắc  ơi là Trưng Trắc, nơi đây mà nhà ngươi cho phục binh thì bản thân Thái thú không có đất mà chôn.

Tô Định vừa dứt lời, bỗng từ rừng rậm ngọn núi phía Đông vài phát tên có mồi lửa bắn lên trời. Quân Hán chưa kịp định thần thì tiếng trống đồng, tiếng thanh la, tiếng tù và vang động khắp rừng xanh. Những âm thanh rùng rợn mà Tô Định nghe cách đây 2 năm vẫn còn ám ảnh làm cho hắn kinh hoàng, run sợ thì bây giờ lại nổi lên báo hiệu giờ tận số của hắn. Tiếng la thất thanh của quân Hán càng góp phần làm náo loạn thung lũng:

-Có mai Phục!!

-Có mai phục

Tô Định hoảng hốt định quay đầu ngựa chạy về phía Bắc nhưng không được vì quân Hán vỡ trận chen chúc nhau không có lối đi. Từ hai bên sườn núi những trận tên cung nỏ như mưa bắn xuống quân Hán. Hàng nghìn tên giặc Hán trúng tên vào lưng, vào mặt, vào bụng ngã gục chết theo nhiều kiểu. Tô Định hét to:

-Lấy mộc da bò che tên và chạy về phía Bắc!

Tiếng hét của các tướng Hán nghe câu được câu chăng vì âm thanh ngựa hí, người gào hỗn loạn. Theo bản năng chiến đấu, quân Hán dùng khiên mộc che đỡ những trận mưa tên. Những múi tên cắm vào các miếng mộc da bò đã hạn chế thương vong. Nhưng từ hai sườn núi, đá như lở ầm ầm lao xuống hai sườn quân Hán, đá lại từ không trung dội thẳng xuống đầu. Thi thể quân Hán và đội hình dập nát, như bị cối đá nghiền. Tiếng Thanh la, tiếng tù và, tiếng trống đồng rung chuyển rừng núi cùng những trận mưa tên, mưa đá, rồi mưa gỗ cây, mưa mũi lao phóng xuống. Khắp thung lũng máu phun, thịt nát, thây chồng chất lên nhau cao dần, máu đỏ như suối hòa vào một đoạn sông Thương đặc quánh. Tô Định đang luống cuống thì một mũi tên cắm phập giữa mặt, xuyên qua phía sau mà gục xuống. Tô Quảng kêu lên:

-Huynh, Tô Định!!!

  Tô Quảng liếc đọc dòng chữ của mũi tên “Trưng Vương-Hoàng Đế Hùng Lạc”. Tô Quảng nghiến răng:

-Trưng Tặc, ta quyết phải báo thù này!

Nhưng Tô Quảng chưa dứt được lời thì đã bị một viên đá lớn đáp trúng giữa mặt, lăn xuống ngựa mà chết.

  Từ trên hai sườn núi, quân Việt tràn xuống thả sức chém giết tàn quân Hán còn lại. Xác 3 vạn quân Hán chồng chất làm tắc nghẽn dòng sông Thương, làm nước không chảy được nữa. 3 vạn quân tiên phong của Mã Viện bị tiêu diệt hầu hết ở trận Quỷ Môn Quan, chỉ còn một vài tên sống sót chạy về báo tin cho Mã Viện.

Mã Viện kinh hãi:

-Ta đã đẩy Tô Định vào đất chết, âu cũng là quả báo. Sáu năm làm Thái thú ở quận Giao Chỉ hắn đã gây biết  bao nghiệp chướng nên phải đền tội ác.

- Lưu Long hỏi:

-Ải Quỷ Môn Quan không qua được, bây giờ chủ tướng định tiến công đường nào?

Mã Viện nhắm mắt đáp:

-Cái chết của ba vạn quân và anh em Tô Định là giá đắt nhưng không phải vô ích, nó chứng minh rằng quan ải Quỷ Môn Quan vô cùng hiểm trở, không thế hành quân qua đó để tiến sâu vào Giao Chỉ. Trưng Trắc mai phục tiêu diệt đạo quân tiên phong của ta tuy là thắng lợi nhưng thật ra là một thất bại.

Lưu Long và các tùy tướng ngẩn người ra:

-Mạt tướng không hiểu.

Mã Viện vẫn nhắm mắt đáp

-Nếu Trưng Trắc để cho Tô Định đi qua Quỷ Môn Quan thì ta tin rằng không có mai phục, chờ khi ta đi qua, Trưng Trắc mới đánh thì cuộc chiến tranh lần này Trưng Trắc đã toàn thắng. Ta đã bị tiêu diệt mà Tô Định với ba vạn quân tiến sâu vào Giao Chỉ cũng sẽ bị tiêu diệt.

Bọn Lưu Long ồ lên:

-Chủ tướng thật là sáng suốt.

Lưu Long hỏi:

-Bây giờ chủ tướng định tiến theo đường nào ?

Mã Viện đáp:

-Ta đã có chủ ý nhưng thôi cứ vào thành Lạng Sơn phòng thủ, sau đó ta sẽ suy nghĩ thêm.

Nói rồi Mã Viện thu 7 vạn quân về cố thủ ở thành Lạng Sơn

Trong tổng hành dinh của Trưng Vương, các tướng đến chúc mừng chiến thắng. Trưng Vương không vui nói:

-Ta cứ tưởng Mã Viện có mặt trong 3 vạn quân bị mai phục thì đã diệt được một trong số tên tướng giỏi nhất của nhà Đông Hán, cuộc mai phục lần này có thể nói là thắng lợi. Nhưng Mã Viện quả là tên tướng già quỷ quyệt, hắn đã thoát được cái chết ở Quỷ Môn Quan. Cái bẫy lớn nhất của ta đã bị lộ, hắn sẽ không đi qua đây nữa. Cuộc chiến rồi đây sẽ rất khó khăn. Phải theo dõi sát hành động của hắn thì mới đối phó được.

Trưng Vương thu quân hạ trại, cách nơi đóng quân của Mã Viện khoảng 4 dặm để nghe ngóng tình hình rồi mới quyết chiến.

Thời gian trôi qua đã 15 ngày, Trưng Vương đem quân tiến lại gần thành Lục Hải khiêu chiến mà bên Mã Viện không ra. Trên thành vẫn cắm rợp cờ xí, quân lĩnh vẫn đi lại canh gác bình thường. Trưng Vương còn đang phân vân thì thám mã từ Đông đạo về báo:

-Bẩm Trưng Vương, 2000 chiến thuyền của quân Hán với khoảng 10 vạn quân đã đến gần Bạch Đằng, đang neo đậu ở gần cửa sông.

Trưng Vương nói:

-Ngươi đi gấp về nói với Hùng Bàn và Phật Nguyệt kiên quyết chặn thủy binh địch ở Bạch Đằng, không cho chúng tiến lên Lục Đầu Giang và đổ bộ lên Long Uyên, Luy Lâu, Kê Từ phối hợp với Mã Viện.

-Dạ, tuân lệnh Trưng Vương.

Thám mã lập tức đi ngay. Trưng Vương đi đi lại lại trong Tổng hành dinh suy nghĩ. Nếu so về lực lượng Mã Viện còn trong tay 7 vạn quân, không có lý do làm cho hắn sợ mà không giao chiến. Chắc là hắn đang thực hiện một âm mưu gì to lớn quyết định đến trận đánh. Chợt có thám mã từ Luy Lâu về báo:

-Dạ bẩm Trưng Vương, Mã Viện chỉ để lại một vạn quân ở Lục Hải, hắn đã đem 6 vạn quân hành quân bí mật theo đường Đông Bắc, nay đã đến Lãng Bạc và đang chuẩn bị tiến đánh Mê Linh.

Trưng Vương hơi bị bất ngờ, đập tay xuống vỏ gươm và nói:

-Quả như dự đoán, thằng giặc già quả là quỷ quyệt, nếu ta không về nhanh, kinh đô Mê Linh sẽ nguy mất.

Trưng Vương vội vã cho quân hành quân cấp tốc về chặn Mã Viện ở Lãng Bạc, thuộc huyện Luy lâu.

Tại Tổng hành dinh quân Hán tại Lãng Bạc, sau khi nghe thám mã báo quân Việt đã từ Lục Hải về đóng ở phía Tây Lãng Bạc, mặt trước đối diện với quân Hán, Mã Viện cười ha hả:

-Trưng Trắc đã trúng kế của ta, đã hành quân theo ý muốn của ta và đã mất thế chủ động. Trong binh pháp nói khi đã mất thế chủ động thì có nguy cơ bị tiêu diệt. Chỉ cần một nước cờ nữa thì quân Việt sẽ đại bại. Nước cờ này trông chờ phần lớn vào đạo thủy quân của Đoàn Chí.

Mã Viện đưa thư cho thám mã:

-Ngươi đưa thư này cho Đô đốc Đoàn Chí, bảo phải thực hiện bằng được kế hoạch trong thư, nếu không sẽ bị thi hành quân luật.

Thám mã đáp:

-Dạ, tuân lệnh chủ tướng.

Thám mã lên ngựa phóng nhanh ra phía biển. Đoàn Chí nhận được thư. Mã Viện viết: “Binh thuyền hiện có 10 vạn quân. Đô Đốc hãy chia đôi thủy binh và thuyền:1000 chiến thuyền và 5 vạn quân đóng ở cửa biển Bạch Đằng làm như chuẩn bị tấn công, đánh lừa giữ binh thuyền quân Việt tại đó. 1000 chiến thuyền và 5 vạn thủy binh bí mật tiến theo đường sông Giá, tới Lục Đầu Giang và nhanh chóng đổ bộ lên bao vây đánh quân Việt từ phía sau, sáu vạn quân của ta sẽ đánh mặt trước, hình thành thế bao vây. Nếu làm được như vậy, trận này Trưng Trắc sẽ đại bại.

  Đoàn Chí đọc thư xong cười ha hả:

-Giỏi, giỏi, xứng đáng là Phục Ba tướng quân Mã Viện.

 Rồi Đoàn Chí theo lời Mã Viện chia đôi quân lực và binh thuyền. 1000 chiến thuyền và 5 vạn quân tiến vào cửa sông Bạch Đằng rồi lại lùi ra, rồi lại tiến vào, nhiều lần như vậy để giữ chân, đánh lừa thủy binh Việt. Trong khi đó, 5 vạn quân và 1000 chiến thuyền cắm cờ quân Việt để ngụy trang, bí mật đi vào cửa sông Giá và lên Lục Đầu Giang, sau đó bỏ thuyền đi bộ gấp lên bao vây sau lưng quân Việt ở Lãng Bạc.

Trong khi đó, trong Tổng hành dinh của quân Việt, Trưng Trắc và các tướng lĩnh hầu như không ngủ. Trưng Trắc đi đi lại và miệng liên tục hỏi câu hỏi:

-Vì sao Mã Viện bỏ Lục Hải về mở trận quyết chiến ở Lãng Bạc?

Im lặng. Một lát sauTrưng Nhị Vương lên tiếng:

-Dạ, bẩm Trưng Vương, em cho rằng Mã Viện về Lãng Bạc để gần biển, phối hợp được giữa bộ binh và thủy binh. Thủy binh Hán nếu đánh tan được thủy binh ta ở sông Bạch Đằng sẽ đi vào Lục Đầu Giang, tiến lên bao vây đánh quân ta tự sau lưng. Em cho rằng tình thế quân ta vô cùng cấp bách, mong Trưng Vương nhanh chóng quyết định.

Các tướng đều ồ lên:

-Quả thực như vậy, có thể như vậy. Mong Trưng Vương nhanh chóng quyết định.

Trưng Vương nói:

-Sự phân tích của Trưng Nhị Vương hoàn toàn chính xác. Mã Viện đang chơi nước cờ bao vây và tiêu diệt quân ta ở đây. Các tướng có kế gì hay không?

Đông Cung Công chúa Xuân Nương nói:

-Xin Trưng Vương nên rút quân về cố thủ ở Cổ Loa và Mê Linh để kháng cự lâu dài.

Hoàng Cống nói:

-Nên điều tướng Lê Chân đánh tập hậu quân Mã Viện ở mặt Đông.

Quân sư Quý Lan nói:

-Nên điều một đạo quân chặn ở Lục Đầu Giang, tiêu diệt đạo thủy binh địch nếu thủy binh ta bại trận, không cho chúng đổ bộ lên bờ tiến về Lãng Bạc bao vây sau quân ta.

Cuối cùng Trưng Vương nói:

-Chúng ta phải nhanh chóng và khẩn cấp điều Lê Chân từ mặt trận Lục Hải về đánh vào sau lưng Mã Viện ở phía Đông. Điều tướng Đinh Bạch Nương và Đinh Tĩnh Nương ở gần Cổ Loa lên chặn đường bộ tiến về Lãng Bạc ở Lục Đầu Giang. Lệnh cho Hùng Bàn và Phật Nguyệt kiên quyết chặn thủy binh địch ở Bạch Đằng, không cho chúng đổ bộ lên Lục Đầu Giang.

Các tướng dạ ran, vâng lệnh.

Nhưng tất cả những quyết định của Trưng Vương đều đã muộn hoặc không thực hiện được. Đạo quân của nữ tướng Lê Chân còn kìm chân địch ở Lục Hải. 1000 chiến thuyền, 5 vạn quân của Đoàn Chí đã đánh lừa được thủy quân Việt, bí mật tiến theo sông Giá và nhanh chóng lên Lục Đầu Giang, rồi lên Lãng Bạc bao vây phía sau quân Việt. Quân Việt từ Cổ Loa lên muộn đã không chặn được thủy quân Hán.

Mã Viện nhận được tin quân Đoàn Chí đã  ở phía sau quân Việt, biết quân Việt đã bị bao vây liền ra lệnh tấn công đánh giết ào ạt mà không cần giàn trận theo lệ thông thường. Sáu vạn quân Hán và bên này bốn vạn quân Việt lao vào chém giết nhau. Trưng Vương và Trưng Nhị Vương ngồi trên hai con voi lớn chỉ huy chiến trận. Các nữ tướng của Trưng Vương trên lưng ngựa cũng thả sức tung hoành chém giết. Tiếng reo hò dậy đất, thanh la, não bạt, tiếng trống đồng của quân Việt xen lẫn tiếng trống da bò của quân Hán làm một vùng Lãng Bạc trời rung đất chuyển. Thây đổ ngổn ngang, máu nhuộm đỏ đất, cờ bay phấp phới. Thốt nhiên trận địa quân Việt rối loạn. Quân Việt đã bị 5 vạn quân Hán bất ngờ tấn công phía sau. Quân Việt hoàn toàn bị bao vây bốn phía, thế trận tan vỡ. Tuy vậy, quân Việt gan dạ, vẫn anh dũng kiên cường chiến đấu nhưng thế và lực không còn, thế giặc quá mạnh, tướng lĩnh và quân sĩ bị quân Hán giết chết đến một nửa. Còn khoảng 2 vạn quân chỉ còn biết bao vây lấy hai con voi, đem thân mình bảo vệ cho Trưng Trắc và Trưng Nhị. Thốt nhiên, quân Hán phía sau một phần bị rối loạn. Tướng Cổ Loa Đinh Bạch Nương của Trưng Vương đã từ Lục Đầu Giang lên tham chiến, mở đường máu phá vây, đưa tàn quânTrưng Vương, Nhị Vương chạy thoát khỏi vòng vây trùng điệp của quân Hán về phía Cổ Loa thành. Phía sau, Mã Viện ra lệnh cho quân Hán truy kích ráo riết, đuổi cùng diệt tận, quyết bắt sống cho được hai Trưng Nữ Vương. Trưng Vương ra lệnh cho quân Việt rút về Mê Linh cố thủ.

  Tổng cộng trận Lãng Bạc quân Việt hy sinh 2 vạn người và nhiều tướng soái lỗi lạc. Quân Hán cũng bị tiêu diệt bằng ấy nhưng binh lực quân Hán vẫn còn đông, lại đang ở thế chủ động truy kích quân Việt. Trận Lãng Bạc là trận quyết định số phận của nước Hùng Lạc, của triều đại Mê Linh sau ba năm tồn tại độc lập.

VI

 Lại nói bấy giờ là mùa xuân năm 42, niên hiệu Trưng Vương năm thứ 3, quân Việt do hành động chậm chạp hơn, thủy binh Việt bị quân Hán nghi binh đánh lừa nên quân Việt bị đại bại trong trận Lãng Bạc ( huyện Luy Lâu). Trưng Vương cho quân rút lui về hướng Cổ Loa, Mê Linh. Mã Viện ra lệnh cho quân Hán truy kích rất sát sao quân Việt. Trên chặng đường chưa đến 20 dặm, hậu quân của quân Việt đã giao chiến với tiền quân của quân Hán hàng chục trận. Các tướng đi hậu quân của quân Việt và các tướng đi tiên phong của quân Hán cứ gần nhau là xáp vào nhau giao đấu và quân sĩ hai bên lại xung trận chém giết. Xác quân Hán và quân Việt rải đầy đường đi. Trưng Vương đã mất 10 tướng đi hậu quân và 5000 quân. Quân Hán cũng mất bằng ấy số tướng lĩnh và bằng ấy quân. Trên đường rút lui Trưng Nhị Vương hỏi Trưng Vương:

-Chúng ta vào Cổ Loa thành cố thủ chăng, thưa chị?

Trưng Vương đáp:

-Thế giặc rất lớn, vào Cổ Loa không cầm cự được bao lâu, khi nguy nan lại không có đường rút.

-Vậy về cố thủ để bảo vệ kinh đô Mê Linh?

Trưng Vương đáp:

-Mê Linh là đất bản bộ thiêng liêng nhưng không phải là căn cứ phòng thủ vững chắc. Chị nghĩ tốt nhất là về căn cứ Cấm Khê, căn cứ mà ta đã dày công xây dựng, phòng thủ để đánh lâu dài.

  Suốt 20 dặm từ Lãng Bạc tới Cấm Khê hàng vạn quân đuổi và chạy rầm rập, rung chuyển đường đất, tiếng reo hò chém giết suốt một ngày một đêm. Sáng hôm sau, quân Việt đã tới bờ sông Đáy, cửa ngõ căn cứ Cấm Khê. Trưng Vương cho dàn quân chờ quân Mã Viện tới, quyết đánh một trận cho quân thù khiếp sợ trước khi rút vào căn cứ. Quân Hán cũng vừa tới nơi và dàn trận. Mã Viện bấy giờ mới có điều kiện quan sát kỹ quân Việt. Từ không xa lắm, Mã Viện trông thấy hai nữ vương ngồi trên hai con voi to như hai trái núi, áo chiến bào màu vàng, có lọng vàng che, oai phong lẫm liệt. Các tướng Việt phần lớn là nữ, mặc áo chiến bào nâu, áo giáp đồng, đội mũ nhọn đồng cài lông chim, mặt hoa da phấn, cưỡi ngựa hùng dũng, lưng đeo cung tên. Mã Viện ngạc nhiên là quân Việt bị bại trận, bị truy kích một ngày một đêm mà không có vẻ rối loạn, đội ngũ chỉnh tề, nét mặt đằng đằng sát khí. Tiếng trống đồng bên quân Việt vang vọng. Bên quân Việt, một nữ tướng múa gươm xông ra trận. Đó là nữ tướng Vương Thị Tiên. Vương Thị Tiên múa gươm như gió, ngựa phi như bay, miệng thét:

-Thằng giặc già Mã Viện ra đây!

  Một tướng trong hàng quân Hán xông ra. Hắn cưỡi ngựa đen, long đao sáng loáng. Hai ngựa và người xáp nhau, gươm chạm long đao tóe lửa. Chưa được 10 hiệp, Vương Thị Tiên né ngưới tránh một nhát dao đâm của tướng Hán và thuận tay đưa một nhát gươm, đầu tướng Hán văng xuống đất. Ngựa lồng chạy về đem theo thân không đầu máu chảy đầm đìa. Quân Việt la hét vang trời và xông lên. Họ không hề run sợ khi biết họ chỉ có không đầy 2 vạn người đang giao chiến với 5 vạn quân Hán. Gươm dao bổ xuống đâm chém nhau. 1000 quân Việt và chừng ấy quân Hán gục đổ trên chiến trường Cấm Khê. Máu chảy thành sông, thây chất thành đống. Trưng Vương thấy Mã Viện cậy quân đông đang triển khai  bao vây quân Việt từ hai cánh trận tả hữu. Quân Việt núng thế, Trưng Vương vội ra lệnh nổi hiệu lệnh thu quân và rút qua sông Đáy, sông Tính vào căn cứ Cấm Khê. Trong khi đi hậu quân chặn địch để quân đội và hai Trưng Vương rút lui an toàn, ba nữ tướng kiệt xuất của quân Việt là Ả Tú, Ả Huyền và Ả Cát đã anh dũng hy sinh.

Mã Viện cho 5 vạn bộ binh và 5 vạn thủy binh bao vây Cấm Khê và đi thám sát, vẽ bản đồ Cấm Khê chuẩn bị công phá. Cấm Khê là thung lũng còn có tên là Suối Vàng. Trước Mắt Mã Viện là một căn cứ có địa thế rừng núi hiểm trở, lòng khe, thế núi, rừng rậm đan xen nhau. Cấm Khê còn được bảo vệ bởi hai con sông như hai hào nước thiên nhiên là sông Đáy và sông Tích. Nhất là sông Tích, có khúc thì đôi bờ thoáng đãng, có khúc thì hai bên bờ là đồi gò vách thẳng đứng, rất lý tướng cho việc phòng thủ. Cấm Khê liền kề với Hạ Lôi và Mê Linh, kinh đô của Hùng Lạc, quê hương của hai Trưng Nữ Vương. Cấm Khê có cửa ngõ thông ra với quận Cửu Chân, một nơi giàu truyền thống và dồi dào nhân lực.

  Ngay đêm đó trong Tổng hành dinh,  Mã Viện nói với các tùy tướng:

-Ta đã chinh phạt nhiều quân của nhiều dân tộc thiểu số ở Bắc Trường Thành, chưa ở đâu thấy xung trận hầu hết là các nữ tướng võ nghệ cao cường, lại có tinh thần quả cảm như vậy, chưa ở đâu có số lượng quân ít lại đương đầu với một đội quân có số lượng đông gấp bội mà vẫn quyết chiến, không hề run sợ như quân Việt. Nay Trưng Trắc đã cố thủ ở Cấm Khê tức là chọn lối đánh lâu dài, gây khó khăn cho quân ta. Để đối phó lại, nay ta ra lệnh cho tướng Lưu Long chỉ huy các tướng chặn tất cả các ngã đường dẫn về Cấm Khê, chặn đánh quân của các tướng của Trưng Trắc từ các quận, huyện về chi viện, giải vây  cho Cấm Khê.

-Thứ hai, quân ta sẽ chiến đấu lâu dài ở đây nên vơ vét sạch lương thực của dân Việt để có thể dùng trong 6 tháng vì triều đình Lạc Dương không thể chi viện vì bị quân của Sa Giang, Đô Thiên,Thánh Thiên chặn đánh ở Hợp Phố.

Ngừng một lát Mã Viện nói tiếp:

   -Đẩy mạnh bao vây Cấm Khê bằng bộ binh và thủy binh. Bên ngoài Cấm Khê và các cửa ngõ cho xây đồn, trại, cắt đứt mọi tiếp viện lương thực cho Cấm Khê. Ta tin rằng lương thực của Cấm Khê không thể đủ dùng trong 6 tháng. Phải ngăn chặn thủy binh Việt từ Bạch Đằng trở về phối hợp với bộ binh ở Cấm Khê mở cuộc phản kích.

Cùng thời gian đó trong Tổng hành dinh của quân Việt ở Cấm Khê, Trưng Vương nói với các tướng lĩnh:

-Ta đã xem thường cửa ngõ Lục Đầu Giang, không cho lực lượng bịt lại để thủy quân địch đổ bộ lên bao vây quân ta ở Lãng Bạc, để đến mức bại trận, hao binh tổn tướng, lâm vào thế bị động phòng thủ. Nay ta ra lệnh bắt đầu dùng chiến tranh du kích tiêu hao bộ binh và thủy binh địch đang bao vây Cấm Khê. Thứ hai là liên hệ với nhân dân để dân tiếp tế lương thực cho căn cứ. Thứ ba là đem mệnh lệnh của ta gửi tất cá các tướng lĩnh các địa phương đem quân về chi viện cho Cấm Khê để trong đánh ra, ngoài đánh vào may ra mới cứu được thời cuộc.

Tướng Lê Thị Nga nói:

-Trưng Vương viết thư đi, thần sẽ vượt vòng vây đem ra ngoài cho các tướng.

  Bắt đầu từ đó, mỗi khi màn đêm xuống là đem lại nổi lo sợ khủng khiếp cho quân Hán. Hàng đêm, thậm chí cả ban ngày hàng trăm, hàng nghìn mũi tên bay ra sát hại quân Hán đang bao vây Cấm Khê. Số lượng quân Hán chết ngày càng tăng. Quân Việt còn dùng tên châm lửa bắn vào chiến thuyền quân Hán trên sông Đáy và sông Tích. Phía ngoài Cấm Khê đã diễn ra nhiều trận đánh lớn giữa quân Việt và quân Hán khi quân của các Tổng binh và các tướng lĩnh của Trưng Vương  các quận, huyện về giải vây cho Cấm Khê. Nhưng quân Hán do chuẩn bị trước, số lượng quân đông nên không một tướng nào, không một đội quân nào của các địa phương lọt vào được đến phong tuyến thứ nhất của quân Hán ngoài sông Đáy. Tháng 7 năm 42, thủy binh Việt bị Đoàn Chí đánh bại và tiêu diệt trên sông Đuống khi từ Bạch Đằng tiến về. Quân Việt hy sinh vô số, quân Hán cũng chết không kém. Nhưng quân Việt không thể đảo ngược được tình hình bị động và nguy nan.

 Do sự bao vây ngặt nghèo của Mã Viện, Cấm Khê trong mấy tháng ròng không nhận được lương thực của nhân dân quanh vùng. Thiếu lương thực là một thực tế đang đe dọa quân đội Trưng Vương. Trong Cấm Khê, quân sĩ và nhiều tướng lĩnh bị thương không có thuốc chữa trị dù được Trưng Vương và đồng đội chăm sóc hết lòng. Nhiều tướng lĩnh và binh sĩ trước khi ra đi đã nắm chặt tay Trưng Vương, rơi nước mắt, cảm kích trước tấm lòng của vị quân vương nhân từ hết lòng thương yêu tướng sĩ.

Để đánh vào tinh thần và tình cảm của Trưng Vương và quân Việt, Mã Viện sai lính về Hạ Lôi đào hết mồ mả của Lạc Tướng Mê Linh và mồ mả trong dòng tộc của Trưng Vương. Sự hèn hạ của Mã Viện và quân Hán đã gây lòng căm thù vô hạn của người Việt với quân giặc ngoại xâm.

  Ngày 10-11 năm 42, mẹ của Trưng Vương và Trưng Nhị Vương là bà Man Thiện từ quê nhà Đường Lâm, Mê Linh đã chiêu mộ nghĩa quân tiến về Cấm Khê để cứu viện cho hai vua. Dọc đường bị quân Hán chặn đánh, Hoàng Thái Hậu Man Thiện đã gieo mình xuống sông Hồng tự vẫn. Nghĩa quân trong Cấm Khê và quân dân trong toàn cõi Hùng Lạc biết tin đau buồn và cảm phục người mẹ Việt anh hùng, sẵn sàng hy sinh vì con cháu và vì non sông đất nước. Từ đó, trên đầu hai Trưng Nữ vương chiếc khăn tang trắng thay cho mũ đâu mâu màu vàng chiến trận.

  Cuối mùa đông năm 42, gió lạnh kèm theo những đợt mưa khủng khiếp và triền miên. Mây xám giăng đặc bầu trời Tam Đảo và Ba Vì để sẵn sàng trút những cơn mưa. Nước sông Đáy và sông Tích dâng lên chảy cuồn cuộn. Mã Viện quan sát và nghĩ tới binh pháp nói rằng trong chiến trận có thể dùng hỏa công nhưng cũng có thể dùng thủy công nếu điều kiện cho phép. Hắn cười ha hả:

  -Đây là lúc trời giúp ta dùng thủy công để dìm quân Việt làm cá ở Cấm Khê.

  Hắn ra lệnh:

  -Xẻ nhiều con mương ngang bờ sông Đáy và sông Tích cho nước chảy vào Cấm Khê.

  Quả nhiên, nước từ sông Đáy và sông Tích chảy vào làm ngập sâu thung lũng Cấm Khê. Hầu hết doanh trại quân Việt bị chìm trong nước. Quân Việt phải làm trại ở ven đồi hay ở những đảo nhô cao trong thung lũng. Sinh hoạt thường ngày vô cùng khó khăn. Tháng 2 năm 43, Trưng Vương nói với các tướng lĩnh:

-Chúng ta ngày càng gặp nhiều khó khăn nhưng điều đó không đáng kể. Cái đáng kể là chúng ta không đảo ngược được tình thế mà ngày lại càng nguy nan hơn. Ta muốn bỏ Cấm Khê rút về Cửu Chân là nơi hiểm trở, người đông, lương thực nhiều, lại có truyền thống anh hùng để lập căn cứ mới, may ra có thể đảo ngược được tình thế.

Tướng Mai Lan nói:

  -Trưng Vương nói phải, nên về Cửu Chân. Thần quyết đi tiên phong phá vây đưa Trưng Vương và Trưng Nhị Vương về đến nơi.

  Trung Dũng Đại Tướng Quân nàng Nước nói:

 -Đúng vậy, chúng thần sẽ hết mình bảo vệ an toàn cho hai Trưng Vương. Thần cho rằng phải phá vòng vây vào ban đêm để giặc khó đối phó.

  Trưng Vương nói:

  -Hôm nay là ngày 5 tháng 2 năm Quý Mão (43), đến canh ba đêm nay khi thời khắc chuyển sang ngày 6 tháng 2, chúng ta phá vây, rút khỏi Cấm Khê, về rừng núi Cửu Chân, xây dựng căn cứ, lấy lại sức tấn công, quét sạch giặc thù để trả thù nhà nợ nước.

   Trưng Trắc nói thêm:

  -Dù khó khăn đến mấy chúng ta vẫn không thể bỏ những chiến sĩ bị thương. Phải cáng họ đi hết không để sót một người.

  Một nữ tướng thưa:

  -Như vậy sẽ rất khó khăn khi rút lui, thưa Trưng Vương.

  - Dù khó khăn chúng ta vẫn phải mang theo những đồng đội của mình. Chúng ta là quân đội đại nghĩa, không thể bỏ đồng đội của mình trong giờ phút nguy nan.

  Các tướng dạ ran trở ra chuẩn bị.

  Canh ba đêm đó, Trưng Vương và Trưng Nhị Vương cưỡi lên hai con voi quen thuộc, chiến bào màu đỏ, áo giáp đồng vàng óng, đội mũ đâu mâu có gắn khăn tang, để tang cho Hoàng thái hậu Thiện Man. Hai  Trưng  Vương đi giữa gần một vạn quân vũ khí tua tủa. Tiền quân đi trước mở đường, hậu quân đi sau. Hàng trăm quân còn khênh những chiếc cáng cáng đồng đội bị thương đi giữa để được bảo vệ. Tiền quân mở đường đi về hướng Cửu Chân. Tiền quân của quân Việt đã chạm trán và giao chiến với quân Hán ở cửa  ngõ phía Nam khi quân Việt tràn ra ngoài. Phía quân Hán bắn vút lên trời mấy phát tên châm lửa. Quân Hán các nơi thấy tín hiệu, biết quân Việt đã phá vòng vây ở phía Nam. Hàng vạn quân Hán kể cả Mã Viện đều chạy tới cửa Nam, nơi quân Hán và quân Việt đang giao chiến dữ dội. Tiếng reo hò vang dậy, tiếng trống đồng và thanh la của quân Việt, tiếng trống thùng thùng của quân Hán, tiếng binh khí chạm nhau vang động trời đất trong đêm khuya. Trên từng bước chân voi của Trưng Vương và Trưng Nhị Vương đều phải bước qua hàng trăm xác giặc mà tiến. Trời đã bắt đầu sáng nhưng vẫn là buổi sáng u ám. Hai con voi của Trưng Vương và Trưng Nhị Vương vẫn sải những bước dài. Hai vạn quân Hán đã chết nhưng gần một vạn quân Việt và các nữ tướng cũng đã hy sinh gần hết. Phía sau lưng hai Trưng Vương vẫn vang lên tiếng bước chân chạy, tiếng reo hò của quân Hán truy sát. Bổng nhiên, không gian tối sầm, trên không trung sấm sét nổ ran, gió thổi ào ào như giông bão. Thốt nhiên, bầu trời sáng lóa đến mức 1000 quân Việt và một vài tướng lĩnh phải nhắm mắt, không nhìn thấy gì được nữa. Trong tiếng gió gào chớp giật sấm ran, có tiếng nói hùng tráng xa xăm vang vọng khắp bầu trời:

  -Ta là Sơn tinh và Thủy Tinh, được lệnh của các vua Hùng đón hai đứa cháu  anh hùng về cùng tiên tổ.

  Sau tiếng nói là một trận gió cuốn theo với sấm vang chớp giật. Đột nhiên không gian và bầu trời im lặng. Mọi người mở mắt ra thì không thấy hai Trưng Nữ Vương trên mình voi nữa. Trên mình voi chỉ còn hai người quản tượng và hai chiếc lọng vàng. Hôm ấy là ngày  6 tháng 2 năm Quý Mão (43). Nơi mà hai Trưng Nữ Vương đi về cõi bất diệt với tiên tổ, thần thánh nay là xã Hát Môn (Phúc Thọ - Hà Tây cũ, nay là ngoại thành Hà Nội), bên bờ Hát Giang (sông Đáy). Hai con voi được đưa về núi Nghĩa Lĩnh nhưng không chịu ăn uống và chỉ hai ngày sau nước mắt của chúng chảy ròng ròng mà chết theo chủ. Những nghĩa quân của Hai Bà Trưng đã mai táng hai con voi như hai chiến sĩ đồng đội của mình.

VII

Phần lớn các tướng lĩnh của Trưng Vương đã hy sinh tại Lãng Bạc và Cấm Khê. Sau khi Mê Linh và Cấm Khê thất thủ, số còn lại không nhiều nhưng vẫn bất khuất kháng chiến khắp nơi trên đất Hùng Lạc và hy sinh cho đến người cuối cùng. Đó là các tướng Ngọc Trinh công chúa (Ả Chàng), kháng chiến và hi sinh tại Gò May ( Vĩnh Hòa, Vĩnh Tường, Tây Vu, quận Giao Chỉ). Hoàng công chúa Trần Năng (Ả Nàng), chức Trưởng Lĩnh Trung Quân, chồng là Hùng Bảo Hộ Quốc Công, sau năm 43 tiếp tục chống Mã Viện và hi sinh tại Tuyền Liệt (Phượng Lâu, Tây Vu, quận Giao Chỉ). Đề Nương Công chúa Hồ Đề, chức phó Nguyên Soái,Trấn Viễn Đại tướng quân. Sau trận quân ta thua ở Lãng Bạc, Hồ Đề đã chặn đánh Mã Viện và Lưu Long ở sông Cầu để đại quân rút lui. Sau trận Cấm Khê, Hồ Đề dựa vào rừng núi phía Bắc Long Uyên (Thái Nguyên) chống cự 100 ngày nữa mới quyên sinh. Nga Sơn công chúa Lê Thị Hoa, chức Bình Nam Đại tướng quân, năm 43 hi sinh tại Nga Sơn, Cửu Chân. An Bình công chúa Nái Sơn, khi phá vây ở Cấm Khê đã tuẫn tiết tháng 2 năm quý Mão (43). Khâu Ni công chúa Nàng Ả là nhà sư theo Trưng Vương, lập công lớn ở Luy Lâu, bị bệnh qua đời trước 43 ở Tây Vu, quận Giao Chỉ. Nhập Nội Bạch Hạc Thủy công chúa Nàng Nội, năm 43 hi sinh tại Bạch Hạc, Tây Vu. Nàng Nước, chức Trung Dũng đại Tướng quân, tham gia trận Lãng Bạc, trận Cấm Khê, tuẫn tiết  ở Cấm Khê.  Nghi Hòa công chúa (nàng Quỳnh), chức Hổ Oai Đại tướng quân, Tiên Phong phó tướng, Quế Nương công chúa (nàng Quế), chức Phó Tiên Phong. Năm 43, hai nàng Quỳnh và Nàng Quế đánh giặc và hy sinh ở Vũ Ninh. Nguyệt Điện Tế thế công chúa Đàm Ngọc Nga (nàng Trăng), chức Tiền Đạo tả tướng quân, qua đời trước năm 43. Đông Cung công chúa (nàng Xuân), Nhập nội Trưởng quản quân Cơ Nội các, năm 43 chống Mã Viện và hi sinh  tại Tây Vu. Ông Cai ( đàn ông giả nữ để đánh giặc), được phong Đại tướng, tiếp tục chống Mã Viện và hi sinh năm 43. Thánh Thiên Công chúa (nàng Chủ), chức Bình Ngô Đại Tướng quân, sau năm 43 đánh Mã Viện ở Hợp Phố và hi sinh. Thiều Hoa, Đông Cung công chúa, chức Tiên Phong Hữu tướng, lập công trong trận Luy Lâu, tiếp tục kháng chiến ở Vũ Ninh và hi sinh năm 43. Đô Dương, tiếp tục  kháng chiến chống Mã Viện ở Cửu Chân và hi sinh năm 43. Hoàng Cống, Hùng Tướng công, được phong thực ấp ở Thùy Trung Châu (Bạch Trữ),  lui về Bạch Trữ ( huyện Mê Linh), tiếp tục kháng chiến và hy sinh ngày 11 tháng chạp năm 43. Gia Hưng công chúa, Trung Dũng đại tướng quân, Đô đốc trưởng thủy quân trấn Bắc Nam Hải. Bà có trận thủy chiến lừng lẫy ở quận Uất Lâm (Quảng Tây) đánh quân Hán Mã Viện. Sa Giang, Động Đình Công, chức Trung Nghĩa Đại tướng quân, Tổng Trấn Trường Sa, Tiếp tục kháng chiến và hi sinh ở Phong Đô, Tứ Xuyên?. Nhu Mẫu công chúa Lê Thị Lan, chức Trấn Tây tướng quân, Phó Thống lĩnh đạo binh Hán Trung?, hy sinh cuối năm 43. Ả Tú, Ả Huyền, Ả Cát đã tham gia chiến đấu ở Lãng Bạc. Trong cuộc chiến đấu quyết liệt ở phòng tuyến Cấm Khê, ba nữ tướng đều hi sinh anh dũng vào ngày 2 tháng Chạp năm 42. Sau khi quân ta thua nặng ở hồ Lãng Bạc, bốn tướng Hồng Nương phá vây chạy về quê hương, đóng ở núi Tam Phong, Tuân La, Cao Lậu (Ninh Bình) rồi mất trên núi. Sau khi Cấm Khê thất thủ, vợ chồng Đông Cung công chúa Xuân Nương, chức Nhập nội Trưởng quân cơ nội các cùng chồng là Thi Bằng (em Thi Sách) lui về phòng tuyến Hương Nha, (Tam Nông), Tây Vu, quận Giao Chỉ. Thi Bằng hy sinh tại mặt trận, còn Xuân Nương sau đó cũng tuẫn tiết, gieo mình xuống sông Thao. Đại tướng Hùng Bàn cùng 5000 quân đánh giặc ở Lãng Bạc (Vũ Ninh), chém hơn 109 đầu giặc. Hùng Bàn hy sinh  ngày 12-2 năm 43. Sau trận Cấm Khê, Mã Viện sai phó tướng Lưu Long đến đánh Đàm Luân, căn cứ của Ngọc Phượng công chúa Lê Ngọc Trinh, chức Chinh Thảo đại tướng quân. Lê Ngọc Trinh chỉ huy quân đánh kịch liệt. Ngọn cờ thêu chim phượng mang dòng chữ “Quần thoa hào kiệt, dũng lược tuyệt trần” bay tới đâu giặc chết tới đó. Lưu Long phải rút quân chạy qua sông Đáy. Ba tháng sau, giặc do Mã Viện chỉ huy bất ngờ tấn công. Nàng tả xung hữu đột, giết nhiều tướng giặc. Nhưng quân ta hy sinh hết. Ngọc Nương bị thương nhảy xuống hồ sen tuẫn tiết. Năm 43, Nguỵêt Nga công chúa thoát vòng vây Cấm Khê, thu thập tàn quân về đóng ở khu Lương Đống, gần trang Dưỡng Mông. Đầu tháng 9 quân giặc bốn mặt tấn công. Khu căn cứ Lương Đống thất thủ. Nguyệt Nga công chúa hy sinh ngày 9-9 Quý Mão (43) tại Đường Hào, An Định, quận Giao Chỉ. Trong chiến tranh năm 43, Phật Nguyệt công chúa, chức Thao Giang thượng Tả tướng Thủy quân, chỉ huy tác chiến trên sông Đuống. Sau khi quân ta thất trận ở Lãng Bạc, phải rút về Cấm Khê, thủy quân giặc từ Lục Đầu Giang theo sông Thiên Đức (sông Đuống) ra sông Hồng đuổi theo thủy quân ta. Tả tướng thủy quân Phật Nguyệt đã chặn đánh giết nhiều giặc, tung hoành trên thượng nguồn sông Thao khiến địch kinh hoàng. 10-2 Quý Mão (43), Phật Nguyệt đem quân bộ đánh quân Hán, song đó chỉ là cánh quân nghi binh, đại quân giặc do Lưu Long chỉ huy đã bao vây đại đồn của Phật Nguyệt. Đại Đồn bị tiêu diệt. Phật Nguyệt hai tay hai kiếm mở vòng vây và lao thẳng người ngựa xuống sông Thao.Trong cuộc chiến năm 42, Xà Nương được lệnh bảo vệ sông Hồng, giữ cửa sông Đuống. Sau khi quân ta thất bại ở Lãng Bạc, Mã Viện chỉ huy quân bộ, phó tướng Lưu Long chỉ huy quân thủy đuổi theo hai Trưng Nữ Vương. Thủy quân địch bị quân Xà Nương công chúa chặn đánh dữ dội, ghìm chân địch tạo điều kiện cho quân hai Bà Trưng rút về Cấm Khê. Xà Nương công chúa cùng 20 nữ binh đã hy sinh trong trận đánh khốc liệt ở cửa sông Đuống. Tướng giặc Hồ Điền đã bị Phùng Thị Chính, Trưởng nội thị tướng quân đánh lui năm 40, nay dò được tung tích đem quân vây bắt bà. Bà giao tàn binh cho thân tín rồi một ngựa chạy về quê hương là quận Giao Chỉ. Giặc đuổi ráo riết, Phùng Thị Chính nhảy xuống sông tuẫn tiết. Mã Viện đem quân sang, Trưng Vương sai Ngọ Công cầm quân đánh chiến thắng mấy trận liền. Nhưng rồi Ngọ Công  mất. Trưng Vương phong cho Nguyệt Nang công chúa, vợ Ngọ Công làm Thống lĩnh tiền quân kiêm Tri thủy bộ, cầm quân đánh giặc. Sau khi Cấm Khê mất, Nguyệt Nang công chúa chạy về sông Thạch Trụ, Đông Ngàn, xuống thuyền nhẹ chạy đến sông nhánh và tuẫn tiết. Tả tướng Thủy quân Thao Giang, Phật Nguyệt phòng thủ ở sông Thao và  hy sinh ở Tây Vu. Nữ tướng Hàn Hãn hi sinh ở Cấm Khê ngày 10-8 năm 42. Nữ Tướng Lê Minh Nương  hi sinh ngày 8-3 năm 43. Sau khi Cấm Khê thất thủ, Hàn Già và Lê Đậu Nương rút về Văn Bút nhưng bị quân Mã Viện bao vây, hai vị tuẫn tiết. Trinh Thục công chúa, Bát Nàn kiêm Uy viễn Đại tướng quân Vũ Thị Thục tham gia nhiều trận đánh ở Lục Hải. Sau khi Cấm Khê thất thủ, Trinh Thục công chúa đưa  quân về Tiên La, lập phòng tuyến, đánh thắng nhiều trận. Tổ Hoài Đức đưa quân tới, Thục Nương giao chiến với Tổ Hoài Đức. Yếu thế, bà chạy đến gốc đa gò Kim Quy  thuộc Tiên La, Trang Phượng Lâu, huyện Tây Vu, quân Giao Chỉ rồi  tự sát. Chiến tranh năm 43, Đăng Châu công chúa, chức Trấn Nam Đại tướng quân Phương Dung, cùng chồng là Đào Kỳ tác chiến ở bắc sông Đuống, hỗ trợ cho bộ binh hai bà lui về Cấm Khê. Sau Cấm Khê, Mã Viện, Lưu Long đem quân đánh Đào Kỳ. Chúng khiêu chiến rồi rút chạy, Đào Kỳ, Phương Dung đuổi theo và lọt vào vòng vây của chúng. Đào Kỳ, Phương Dung  hi sinh gần Cổ Loa, hôm đó là 16-8 năm Quý Mùi (43).

  Sau trận Lãng Bạc, Đông Triều công chúa Lê Chân, Trấn Đông Đại tướng quân lui về hoạt động ở An Biên, rồi rút về căn cứ Lạt Sơn, Huyện Khúc Dương, quận Giao Chỉ, chặn đánh thủy quân Hán. Lưu Long, Mã Viện tập trung đánh phá căn cứ Lạt Sơn. Trong trận huyết chiến ngày 25-4-43, Lê Chân hy sinh.

 Năm 43, ba chị em bà Dưỡng chiến đấu ở Lãng Bạc, quân ta thua, rút về Cấm Khê. Trong một trận ác chiến, ông Bạc tử trận. Bà Dưỡng và ông Bỉnh rút về Hương Canh, Huyện Mê Linh, mai táng cho ông Bạc và huyết chiến với giặc tại Hương Canh. Bà Dưỡng trọng thương. Hai người chạy đến Xuôi Ngành thì hai chị em đều tuẫn tiết. Sau trận Cấm Khê, Vĩnh Gia công chúa đem quân lập phòng tuyến ở Giang Tân, Huyện Tây Vu. Nhưng phòng tuyến Giang Tân tan vỡ, Vĩnh Gia rút về Nại Tử Châu. Vĩnh Gia đến trang Mạnh Trâu giáp Nại Tử Châu và mất ngày 10-11 Quý Mão. Tại mặt trận Cấm Khê, Thánh Thiên Công chúa, chức Bình Ngô Đại tướng quân, một ngày chém 100 quân giặc. Nhưng quân ta chỉ còn hơn 200 người. Thánh Thiên rút về thành Ngọc Lâm. Quân Hán bao vây, Thánh Thiên cùng binh sĩ giao chiến với quân Hán, chém 10 tướng, nhưng sức kiệt, Thánh Thiên chạy đến sông Nhật Đức và nhảy xuống sông tuẫn tiết. Sau thất bại ở Lãng Bạc, Bà Trưng rút về Cấm Khê. Trần Nang và Thiên Bảo chặn địch ở sông Thiên Đức cho đại quân rút lui. Sau Cấm Khê, Trần Nang, Thiên Bảo hi sinh tại quê nhà Thái Lai, huyện Mê Linh. Sau chiến thắng năm 40, Thiện Nhân, Thiện Khánh được Trưng Vương phái về trấn giữ Hải Đông. Hai nàng tới làng Huề Trì ( Yên Phụ, Kinh Môn) xây dựng căn cứ. Mùa xuân năm 43  Thiện Nhân, Thiện Khánh chặn đánh địch ở sông Bạch Đằng. Sau đó hai Nữ tướng lui quân về cùng chiến đấu ở Lãng Bạc. Quân ta thua lui về Cấm Khê. Sau Cấm Khê, Thiện Nhân, Thiện Khánh rút quân về Huề Trì tiếp tục chiến đấu được vài tháng. Giặc Hán tấn công vào Huề Trì, hai nữ tướng hi sinh ở cánh đồng Mực, Huề Trì. Sau trận Cấm Khê, Thục Côn công chúa mở đường máu lui về Vị Hoàng. Quân Hán theo dòng sông Hồng đuổi theo. Quân ta chiến đấu anh dũng nhưng nghĩa quân hy sinh hết. Thục Côn nhảy xuống sông tự vẫn. Nàng Tía, năm 43 tấn công giặc Hán ở cửa Thần Phù Cửu Chân và hy sinh.

  Tổng cộng khoảng 96 tướng lĩnh đã tham gia cuộc khởi nghĩa của Hai Trưng Nữ Vương, trong đó chỉ vài tướng lĩnh đàn ông, còn lại là nữ tướng. Các tướng lĩnh này đã khởi nghĩa và chiến đấu trước năm 40. Năm 40 về tụ nghĩa dưới ngọn cờ của hai Trưng Nữ Vương và chiến đấu trên khắp các chiến trường, tham gia tất cả những trận đánh lớn nhỏ từ năm 40 đến năm 43. Sau khi Cấm Khê thất thủ, hàng chục vị tướng lĩnh còn tiếp tục cùng nghĩa quân chiến đấu ở các địa phương cho đến cuối năm 43.

    Sự thất bại của triều đình Mê Linh năm 43 đã khép lại trang lịch sử huy hoàng, mở ra những trang lịch sử đen tối tiếp theo của người Lạc Việt và Âu Việt, nước Hùng Lạc lại bị nhà Đông Hán đô hộ. Sau khi nhà Đông Hán sụp đổ, Trung Quốc lâm vào cục diện Tam quốc (220-280) thì Hùng Lạc lại bị nhà Đông Ngô thống trị. Trong thời kỳ Tam quốc, dưới thời Đông Ngô, kế tục truyền thống bất khuất của hai Trưng Nữ Vương, phụ nữ Lạc Hùng lại viết tiếp một trang lịch sử oanh liệt chống ngoại xâm. Đó là cuộc nổi dậy của bà Triệu Thị Trinh, tức Nhụy Kiều Tướng quân lừng lẫy anh hùng.