Đó là tháng tư năm Quý Sửu 713, năm Khai Nguyên thứ nhất đời Đường Huyền Tông (712-750), nhà Đường, trang Đường Lâm, phong Châu, An Nam Đô hộ phủ chìm trong màn đêm nóng bức của mùa hè, bóng tối bao trùm khắp nơi. Không gian bị phủ một màn nhung đen nên trở nên mơ hồ và mong manh. Trong màn đen ấy, bầu trời như cao vút xa xăm mênh mông, có những ngôi sao như những viên ngọc lưu ly nhấp nhánh. Trời cuối tháng, trăng muộn nhưng ánh sáng nhạt nhòa ban đêm vẫn thấy miền trung du Đường Lâm với những đồi núi quanh co huyền bí nhấp nhô phủ phục như những con quái vật khổng lồ. Những rừng cây không ngủ trong đêm âm thầm huyền bí lắc lư theo gió hát lên những bản nhạc xạc xào muôn thuở quen thuộc nhưng xa xăm. Làng xóm tối om chìm trong giấc ngủ. Tiếng chó sủa lúc xa xôi, lúc gần như cầm canh trong đêm vắng. Tuy vậy, nằm sâu trong xóm có một căn nhà vẫn leo lét ánh đèn dầu. Ánh đèn hắt ra ngoài sân vàng vọt dưới những tàn lá của khóm tre, cây mít, cây cau, bụi trầu không rậm rạp quanh nhà. Đó là căn nhà của Phùng Hạp Khanh, một hào trưởng có tiếng của xứ Đường Lâm.
Trong căn nhà ngói khang trang, dưới ánh đèn dầu lạc, gian giữa nổi bật lên bàn thờ gia tiên họ Phùng với những tay ngai, bài vị, lư hương đặt ngay ngắn trên những chiếc bàn gỗ rộng. Tất cả đều toát lên những hình ảnh trang nghiêm với màu sắc sơn son thếp vàng, ánh sáng hắt vào càng thêm lấp lánh, lung linh chói lọi. Phía dưới và trước bàn thờ đặt chiếc bàn và hai ghế tràng kỷ gỗ lim. Bộ bàn ghế được chạm khắc hoa lá và khảm ngọc trai cầu kỳ đẹp mắt. Trên bàn đặt một chiếc ấm và 4 chiếc bát uống trà xanh. Hào Trưởng Phùng Hạp Khanh, người khỏe mạnh lực lưỡng như một võ quan, mặt vuông tai lớn càng tăng thêm vẻ uy nghi và hiểu biết. Ngồi đối diện với ông bên kia bàn là ba thanh niên một gái hai trai. Cô gái khoảng 20 tuổi, mắt phượng mày ngài, mặt hoa da phấn, mười phần đoan trang xinh đẹp. Còn hai chàng thanh niên khoảng 17, 18 tuổi, khôi ngô tuấn tú. Đó là ba người con của em gái Phùng Hạp Khanh. Cô gái tên là Phạm Thị Uyển, là chị, còn hai người em trai của nàng là Phạm Huy và Phạm Miễn, cả ba đều tinh thông binh pháp và giỏi cung kiếm. Bà mẹ của ba thanh niên là Phùng Thị Thảo, hiệu Diệu Hoa, còn cha là Phạm Huyên, hiệu Minh Đức. Cả nhà họ Phùng và họ Phạm đều có tinh thần yêu nước và căm thù bọn ngoại bang xâm lược đang thống trị đất nước mình. Bách tính nước Nam này thật là bất hạnh, đau khổ từ khi An Dương Vương làm mất nước năm 179 trước công nguyên, hết nhà Triệu Nam Việt rồi đến nhà Hán, hết nhà Hán đến nhà Đông Ngô, hết nhà Đông Ngô thì sang nhà Tấn, nhà Tùy, nhà Lương và từ năm 618 đến nay thì lại nằm dưới ách thống trị tàn bạo của nhà Đường. Với ách thống trị của Triều đại nào thì chính sách bóc lột, áp bức, đàn áp đều tàn khốc và man rợ như nhau. Đến đời Đường, dân Nam càng khổ vì sưu cao thuế nặng, binh dịch, lao dịch không lúc nào ngớt, cống phẩm quanh năm triền miên, lại thêm chính sách thủ tiêu văn hóa Việt, buộc dân cư theo phong tục văn hóa Hán, cùng với đó là chính sách làm suy nhược nòi giống, thủ tiêu nòi giống Việt để cho người Hán thay thế người Việt trên mảnh đất này ngày càng được nhà cầm quyền tiến hành ráo riết thâm độc. Dưới ách thống trị của nhà Đường, đặc biệt là đưới thời của Tiết độ sứ Quang Sở Khách tàn bạo, bách tính Việt sôi sục căm thù và liên tục nổi dậy đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong thời thế hỗn loạn này, bà Phùng Thị Thảo và ông Phạm Huyền rất lo lắng cho tương lai của ba đứa trẻ, con gái có thể bị bắt làm tì tiếp, làm nô tì, nô lệ, con trai thì có thể bị bắt làm lao dịch hoặc đi lính Đường chống lại dân tộc mình. Hai ông bà giao ba đứa con cho ông bác Phùng Hạp Khanh để ông trau dồi võ nghệ, kiến thức, bảo vệ và dìu dắt ba cháu đi đúng con đường của dân tộc.
Đêm nay, bốn bác cháu thức khuya là để bàn bạc và quyết định một công việc quan trọng. Đó là việc bốn bác cháu có nên vào Diễn Châu để tham gia cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan đã bùng nổ và đang lan rộng khắp An Nam Đô hộ phủ. Tin Mai Thúc Loan khởi nghĩa chống giặc Đường ở Hùng Sơn, Sa Nam, Diễn Châu đang làm chấn động An Nam Đô hộ phủ, từ miền Nam đến miền Bắc, các hào trưởng yêu nước, thanh niên trai tráng ở các châu, huyện đang lần lượt kéo về tụ nghĩa ở Sa Nam. Phùng Hạp Khanh vừa nhâm nhi bát nước chè xanh vừa trầm ngâm suy nghĩ, Phạm Thị Uyển thì tay vẫn vân vê tờ cáo thị, lời kêu gọi khởi nghĩa của Mai Thúc Loan đang truyền ra khắp nước. Phạm Huy, Phạm Miễn thì ngồi im lặng. Phùng Hạp Khanh đặt bát nước xuống bàn nói với Phạm Thị Uyển:
-Cháu đọc lại lời kêu gọi khởi nghĩa của chúa công Mai Thúc Loan xem nào.
-Dạ vâng ạ
Và nàng đọc: “ Trong cõi thiên địa bao la, trời đã vạch sẵn giang sơn ranh giới đất đai cho mọi giống người để lập nên những quốc gia xã tắc riêng biệt. Nay vua chúa nhà Đường không hiểu đạo trời, cậy sức mạnh người đông đi chiếm giang sơn xã tắc của người Việt, đẩy dân Việt vào muôn trùng khổ ải và đứng trước họa diệt vong nòi giống. Hỡi các anh hùng hào kiệt Lạc Việt, hãy đứng dậy đem hết sức quyết sống mái với giặc Đường tàn bạo, đem lại giang sơn cho người Việt. Tại hạ là Mai Thúc Loan bất tài nhưng vì bách tính quyết dương cao lá cờ đánh đuổi giặc Đường. Các anh hùng hào kiệt nếu có lòng vì nghĩa lớn xin về Sa Nam, Diễn Châu tụ nghĩa cùng tại hạ mưu việc lớn, cứu dân thoát cảnh lầm than, thống khổ bởi họa ngoại bang nô dịch. Nay kính cáo-Mai Thúc Loan”.
Phạm Thị Uyển đọc xong. Bốn bác cháu lại chìm trong cảm xúc căm thù quân cướp nước, thương dân thương nước trào dâng. Phạm Huy hỏi:
-Mai chúa công là người thế nào hở bác?
Phùng Hạp Khanh nói:
-À phải, trước khi bác cháu ta có quyết định đi Diễn Châu hay không, các cháu phải biết qua về Mai chúa công. Mai chúa công tên thật là Mai Phượng, húy là Thúc Loan, năm nay tuổi chắc chỉ bằng tuổi bác. Hai cụ thân sinh, cụ ông là Mai Hoàn, còn gọi là Mai Sinh, cụ bà là Mai An Hòa, còn gọi là Vương Thị. Hai ông bà quê gốc là ở Mai Phụ, huyện Thiên Lộc, Hoan Châu. Sau đó, hai ông bà lưu lạc đến Ngọc Trừng, huyện Nam Đường, Diễn Châu. Nhưng cụ Mai Hoàn mất sớm khi Mai Thúc Loan còn nhỏ. Năm Mai Thúc Loan 10 tuổi cùng mẹ đi hái củi trên rừng, cụ Mai An Hòa bị hổ vồ chết. Mồ côi cả cha và mẹ nên Mai Thúc Loan sớm làm đủ nghề để kiếm sống, lấy củi bán, cày thuê, cuốc mướn, ở đợ. Được cái Mai Thúc Loan là người có sức khỏe phi thường. Tương truyền khi thấy hổ ăn thịt mẹ, Mai Thúc Loan đã đánh nhau với hổ, hổ dữ phải thua chạy. Mai Thúc Loan nghe nói có dáng hổ, tay vượn, dáng đi hùng dũng, tiếng nói sang sảng. Sau đó, Mai Thúc Loan được người bạn của bố là ông Đinh Thế nhận làm con nuôi, lớn lên, Mai thúc Loan giỏi côn quyền, võ nghệ, binh pháp, giỏi cung kiếm, là thợ săn và tay đấu vật giỏi nhất vùng, thường giành dật được những giải đấu vật, là tay thợ săn giỏi, từng giết được hổ để trừ hại cho dân nên dân vô cùng mến phục và tin yêu. Ông Đinh Thế đã gả con gái xinh đẹp là Đinh Ngọc Tô cho Mai Thúc Loan, chia tài sản ruộng đất cho hai vợ chồng. Do giỏi công việc nông trang nên tài sản của hai vợ chồng Mai Thúc Loan ngày càng tăng lên, trở nên giàu có. Mai Thúc Loan là người thương dân, yêu nước. Hai vợ chồng lo giúp đỡ người nghèo, mở lò vật, lập phường săn, chiêu mộ trai tráng trong vùng mưu việc lớn. Ông được nhân dân trong vùng tôn là Soái trưởng Giao Châu. Các anh hùng hào kiệt khắp nước đã về tụ nghĩa rất đông, quân số nay có thể hàng năm, bảy vạn người…
Phùng Hạp Khanh kể say sưa, ba người cháu ngồi nghe cũng say sưa mê mải. Phạm Thị Uyển nói:
-Mai đại nhân đúng là con người kiệt xuất, lại yêu nước, yêu dân. Được chiến đấu dưới lá cờ của Mai chúa công cũng thỏa chí anh hùng.
Phạm Huy nói:
-Vậy bác cháu ta về Diễn Châu đầu quân cho Mai đại nhân thôi.
Phạm Miễn nói:
-Đúng đấy, vào Diễn Châu đi thôi. Chần chừ là bọn Đường đến bắt chúng ta đi lao dịch hoặc binh dịch đánh lại Mai đại nhân đấy.
Phùng Hạp Khanh thấy ba cháu sốt sắng thì vui vẻ đáp:
-Phải, bác cháu ta chuẩn bị hành trang mai lên đường sớm.
Rôi ông gọi:
-Người đâu!
Một gia nhân bước vào:
-Dạ, chủ nhân?
Phùng Hạp Khanh nói:
-Ngươi hãy chọn lấy bốn con ngựa khỏe. Mai bốn bác cháu ta có việc đi xa
-Dạ, rõ, thưa chủ nhân.
Sáng hôm sau, bốn bác cháu dậy ăn sáng xong, khi không còn gia nhân trong phòng ăn thì Phùng Hạp Khanh nói nhỏ với Phùng Phu nhân:
-Bà phải bí mật không nói cho ai biết, kể cả gia nhân trong nhà và láng giềng, tôi và ba cháu vào Diễn Châu tham gia đánh quân Đường dưới cờ của Mai đại Nhân. Bà chịu khó chờ chúng tôi vài năm. Nhớ bảo trọng.
Phùng Phu nhân buồn rầu nắm tay Phùng Hạp Khanh, nói nhỏ:
-Tướng công và các cháu nhớ bảo trọng nha.
Trước khi lên ngựa, chị em Phạm Thị Uyển ôm lấy bá mẫu tạm biệt. Phùng Hạp Khanh thì dặn gia nhân ở nhà giúp đỡ Phùng phu nhân cho tốt. Các gia nhân đều nói:
-Dạ chủ nhân, nô tì tuân lệnh chủ nhân.
Rồi bốn bác cháu lên ngựa, phi về hướng Tống Bình và từ Tống Bình đi về hướng Nam theo đường thiên lý về Diễn Châu. Phùng phu nhân và các gia nhân nhìn theo bốn người ngựa xa dần trong gió bụi của một sớm mùa hề năm 713.
IISau một ngày và một đêm hành trình, vượt 400 dặm đường từ Đương Lâm, cuối cùng bác cháu Phùng Hạp Khanh cũng đã tới được Diễn Châu. Bốn bác cháu vào quán ăn cơm xong, Phùng Hạp Khanh hỏi bà hàng cơm:
-Thưa cụ, cụ cho tôi hỏi thăm đường về núi Hùng Sơn?
Bà già tươi cười miệng nhai trầu bỏm bẻm:
-Không biết bao nhiêu người đã hỏi về Hùng Sơn, về nơi Mai chúa công phải không? Nhưng Đại nhân không phải lên Hùng Sơn nữa. Tuần trước, quân của Mai chúa công đã tấn công lấy được trị sở của quân Đường là Vạn An ở Sa Nam. Đại nhân cứ đến Vạn An, Mai chúa công đã ở đấy rồi. Toàn bộ Diễn Châu, Hoan Châu và Phúc Lộc Châu đã được giải phóng rồi.
-Thật vậy à bá mẫu. Đa tạ bá mẫu.
-Không dám, không dám.
Bốn bác cháu lên ngựa về thành Vạn An. Dọc đường họ thấy những người dân Diễn Châu đi lại ngoài đường vui mừng, phấn khởi cười nói. Họ vui mừng vì quê hương được Mai chúa công giải phóng khỏi ách thống trị tàn bạo của giặc Đường. Cuối cùng, bốn bác cháu cũng đến được cổng thành Vạn An. Thành được che chở nghiêm ngặt bởi địa thế núi sông hiểm trở, bởi những người lính quân phục màu nâu gươm giáo thay phiên nhau đi tuần tra, thay phiên nhau cầm giáo đứng gác. Phùng Hạp Khanh và ba người cháu xuống ngựa, tiến lại cổng thành, lại gần người lính. Người lính tiến ra hỏi lễ phép:
-Đại nhân, tiểu thư và công tử đi đâu? Muốn gặp ai?
Phùng Hạp Khanh đáp:
-Chúng tôi muốn đến đầu quân, tham gia cuộc khởi nghĩa của Mai chúa công.
Người lính gác nói với người lính đang ngồi trong buồng gác:
-Đệ vào báo cho đại nhân Phòng Hậu ra có khách
-Dạ.
Người lính đi và một lát sau trở về cùng một người đàn ông khoảng hơn 30 tuổi, mặc võ phục màu nâu, áo giáp đồng, đội mũ đâu mâu nhọn bằng đồng, lưng mang gươm. Người đó chắp tay chào Phùng Hạp Khanh và nói:
-Tiểu tướng là Phòng Hậu, người được Mai chúa công cử ra đón đại nhân, tiểu thư và các đệ.
Phùng Hạp Khanh chắp tay thi lễ:
-Đa tạ, tại hạ là Phùng Hạp Khanh, ba người này là cháu của tại hạ. Chúng tôi ở Đường Lâm thuộc Phong Châu. Nay chúng tôi về đây định đầu quân cho sự nghiệp của Mai chúa công. Đã nghe đại danh của Phòng đại nhân từ lâu rồi, nay mới được gặp. Hân hạnh, hân hạnh.
Phòng Hậu đáp:
-Hân hạnh, hân hạnh. Trước hết xin mời Phùng đại nhân, tiểu thư và hai đệ vào phòng khách nghỉ ngơi rồi mai sẽ ra mắt Mai chúa công.
-Đa tạ, đa tạ Phòng đại nhân.
Phòng Hầu gọi:
-Người đâu!
Một người lính chạy ra:
-Dạ, Tướng quân.
-Dắt bốn con ngựa vào chuồng cho thóc và nước cho nó ăn uống tử tế, rõ chưa.
-Dạ.
Bốn con ngựa bị người lạ dắt đi mắt luôn ngoái nhìn những chủ nhân. Phòng Hậu dẫn bốn bác cháu Phùng Hạp Khanh vào sâu trong nội thành. Ba bác cháu nhận một phòng có ba giường, Phạm Thị Uyển được một phòng riêng. Bốn Bác cháu ăn cơm chiều xong, tối nghỉ ngơi để hôm sau còn gặp mặt Mai Thúc Loan.
Sáng hôm sau, bốn bác cháu ăn sáng xong, Phòng Hậu báo cho Phùng Hạp Khanh biết buổi chiều hôm nay Mai chúa công mời bốn bác cháu tới dự buổi gặp mặt với các tướng lĩnh. Phạm Thị Uyển bảo bác:
-Tranh thủ sáng nay, bác đưa chúng cháu đi thăm phong cảnh thành Vạn An, mới nhìn qua mà cháu thấy rất đẹp và đầy kỳ thú.
Phạm Huy và Phạm Miễn cũng đồng thanh nói:
-Phải đó bác, bác dẫn chúng cháu đi.
Phùng Hạp Khanh cười nói:
-Bác cũng đang muốn đi xem, bác cháu ta cùng đi.
Thành Vạn An vốn là trấn trị Diễn Châu của nhà Đường. Thành nằm trên vùng đất Sa Nam, thuộc Vận Diên Nam Đường, trong một thung lũng rộng lớn. Chung quanh được bao bọc những dãy núi đá như Hùng Sơn, Liên Sơn…Các dãy núi đó không liền nhau nên bị cắt ra tạo nên những cồn cát, những quả đồi thấp. Trên những đồi và cồn đó Mai Thúc Loan đã cho nghĩa quân đắp những bức thành, những chiến lũy cao lên bằng núi, nối liền mạch với nhau tạo nên những bức tường thành vừa của thiên nhiên, vừa do con người tạo ra vô cùng vững chắc. Chất liệu xây dựng những bức thành nhân tạo đó là đất sét nhào với đá nhỏ tròn hình trái cây nên gọi là đá trái. Phía Nam của thành là dòng sông Lam bắt nguồn từ Ai Lao chảy qua Nam Diễn Châu tại Vạn An và xuôi về Nam là Hoan Châu rồi đổ ra biển ở cửa Hội. Sông Lam chảy từ Tây sang Đông thành, tạo nên chiến lũy bảo vệ thành ở phía Nam. Ở mạn Tây và Tây Bắc là vùng hồ Nón rộng bao la che chắn. Thành còn được dãy Thiên Nhẫn cùng một chiến lũy dài 2 dặm, án ngự bảo vệ phía Nam. Phía ngoài những dãy núi là đồn trại của quân lính bảo vệ thành mà trung tâm là Vệ Sơn. Biểu Sơn hình quả bầu bảo vệ cánh tả, Lưu Sơn bảo vệ mặt trước, Ngọc Đái Sơn hình đai ngọc cạnh thành Vạn An là đồn Tổng chỉ huy, thống lĩnh cả hai đạo thủy bộ. Kế liền với thành Vạn An phía Tây là thung lũng Rậm. Từ Cồn Vệ bơi theo mạn trái sông Lam là thung lũng Rậm rộng hàng chục mẫu vuông được dãy Hùng Sơn bao bọc. Đây là căn cứ quan trọng sau thành Vạn An, là nơi khởi nghĩa đầu tiên của Mai Thúc Loan được gọi là căn cứ Hùng Sơn.
Bốn bác cháu say mê trước cảnh đẹp hùng vĩ muôn màu của vùng Vạn An, của Diễn Châu. Những dãy núi xanh ngắt mù sương, huyền bí trong cây lá um tùm bí ẩn như là huyền thoại. Những mặt hồ, mặt sông rộng lớn soi bóng những núi non, cây cối chung quanh và còn mọc lên giữa những lòng hồ. Sông Lam xanh biếc mơ màng uốn lượn quanh co soi bóng cổ thành lung linh sóng nước. Đang là mùa hạ, ánh nắng ban mai rải xuống khắp không gian làm cho sông nước, cây lá núi non như rạng rỡ thêm. Gió chạm vào cây, cây đung đưa và hát lên bản nhạc xạc xào muôn thuở.
Vạn An không chỉ có phong cảnh đẹp, địa thế hiểm trở chống giặc thù mà con người nơi đây cũng đang tấp nập rộn ràng chuẩn bị cho một cuộc chinh chiến lớn giải phóng dân tộc. Thung lũng Rậm phía sau thành Vạn An là một thao trường lớn. Nơi đây, hàng vạn binh sĩ đang ngày đêm luyện tập võ nghệ, luyện gươm giáo, luyện bắn cung. Họ tung những chiếc đĩa bằng đất sét lên cao, hoặc là đặt những hình nộm cho các chiến sĩ bắn cung và nỏ. Những hình nộm bằng rơm rạ còn là mục tiêu cho binh sĩ tập đâm chém. Thành thạo hơn thì họ dùng gươm giáo gỗ đấu với nhau. Kém võ mà bị đối phương chém, đâm tuy không chết thì cũng bị đau. Có những nơi nghĩa quân đang đấu vật, rèn luyện sức khỏe. Những lính kỵ binh thì đang phi ngựa và đấu với nhau như là đang xung trận đấu với tướng giặc. Khắp thung lũng, tiếng reo hò, tiếng trống trận, tiếng chiêng, tiếng ngựa hí vang lừng không khi nào ngớt. Thành Vạn An, ven sườn đồi núi, ven thung lũng, ven bờ sông là những trại lính khổng lồ. Những doanh trại là nhà ở của binh lính và các tướng lĩnh. Phần lớn là doanh trại màu nâu bạt ngàn, cờ vàng rợp trời đất. Nhưng nổi bật lên có những vùng rộng lớn là doanh trại màu trắng, cờ trắng, rồi còn có cả màu xám, cờ xám. Phạm Thị Uyển hỏi Phùng Hạp Khanh:
-Bác ơi, chỉ có thủy quân và bộ binh mặc màu nâu như nhau, sao lại có doanh trại màu trắng và quân phục trắng, cờ trắng và cả màu xám hả bác?
Phùng Hạp Khanh chưa biết trả lời sao thì may quá gặp được mấy người lính. Ba thanh niên và Phùng Hạp Khanh tiến lại hỏi:
-Xin chào tiểu tướng
Mấy người lính chắp tay:
-Xin kính chào đại nhân, tiểu thư và công tử.
-Tiểu tướng xin cho hỏi sao lại có doanh trại, quân phục và cờ màu trắng và màu xám trong màu nâu, đó là binh chủng gì ạ?
Người lính đáp:
-Dạ thưa đại nhân, đó không phải là binh chủng gì mà màu trắng là sắc phục của quân đội Lâm Ấp, còn màu xám là sắc phục của quân đội Chân Lạp. Mai chúa công đã liên minh với vua Lâm Ấp và Chân Lạp và họ đã cử quân đội tới cùng ta đánh giặc Đường.
Phùng Hạp Khanh nói:
-À ra thế, Mai chúa công thật anh minh. Xin đa tạ đã chỉ giáo, đa tạ...
-Không dám, không dám...
Bốn bác cháu trở về. Phạm Thị Uyển vẫn băn khoăn:
-Sao vua Lâm Ấp và Chân Lạp lại chịu liên minh với ta để đánh giặc Đường hở bác?
Phùng Hạp Khanh giải thích
- Lâm Ấp là nước ở phía Nam nước ta, còn Chân Lạp là nước ở Tây Nam nước ta. Quân phong kiến Trung Quốc đã nhiều lần thống trị và gây cực khổ cho dân hai nước đó, nhà Đường đã từng uy hiếp hai quốc gia đó nên họ chịu liên minh với ta để chống Đường.
Phạm Thị Uyển nói:
-Theo bác đi đầu quân lần này, ba chị em cháu học được nhiều điều bổ ích, bổ ích...
Ngoài thành vạn An, các thung lũng không chỉ là thao trường mà còn là nơi sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi khổng lồ. Trong các thung lũng, bạt ngàn bò, dê, trâu, ngựa, có cả voi, những trang trại rộng lớn nuôi lợn, gà, vịt. Có những thung lũng bạt ngàn lúa đang độ vàng ươm chuẩn bị vào mùa thu hoạch. Đó là những nơi cung cấp lương thực thực phẩm, phương tiện đi lại, chiến đấu cho nghĩa quân. Ngoài thành Vạn An, các thung lũng còn là những công xưởng may quân phục, rèn vũ khí, rèn áo giáp, sản xuất cung tên cho nghĩa quân. Vạn An đúng nghĩa là một kinh đô thời chiến tranh, nơi đầu não để vận hành một bộ máy quân sự hết công suất cho cuộc chiến tranh giải phóng.
Vạn An còn là nơi thu hút, hội tụ các anh hùng hào kiệt, các hào trưởng yêu nước trong cả An Nam Đô hộ phủ về đây để mưu việc lớn. Hàng ngày tướng Phòng Hậu, người phụ trách công việc đón khách của Mai chúa công đã tất bật bận rộn tiếp không bao nhiêu anh hùng hào kiệt từ Nam- Bắc kéo về tụ nghĩa. Nhìn guồng máy của Vạn An vận hành, Phùng Hạp Khanh và ba người cháu của ông không khỏi khâm phục tài tổ chức của Mai Thúc Loan, lãnh tụ chủ chốt của thành vạn An, của cuộc khởi nghĩa. Trong tình cảm của Phạm Thị Uyển đã ghi nhận những điều tốt đẹp về Mai Thúc Loan mặc dù nàng chưa gặp lần nào.
III
Trưa hôm đó sau bữa cơm, Phòng Hậu báo cho Phùng Hạp Khanh đến chiều, Mai chúa công mời ba bác cháu cùng dự họp với các tướng lĩnh, chuẩn bị cho việc tấn công giải phóng miền Bắc. Nhận được tin báo khi về phòng, Phạm Thị Uyển không ngủ trưa được, thốt nhiên nàng thấy hồi hộp xao xuyến không hiểu vì sao.
Chiều, ba bác cháu đi đến một gian phòng bề thế đứng giữa thành Vạn An. Ngôi nhà lợp ngói vẩy rồng, cột to hai người ôm bằng gỗ lim nâu bóng, tường xây bằng đá, mái cao, bốn góc có bốn đà đao cong vút uốn lượn theo kiến trúc Trung Hoa. Chính giữa kê một bàn lớn theo chiều ngang, trước bàn lớn đặt hai dãy bàn theo chiều dọc cùng hai dẫy ghế tràng kỷ làm chỗ ngồi. Bàn và ghế làm bằng gỗ quý chạm khắc hoa lá cầu kỳ, tinh xảo đẹp mắt và cổ xưa. Thành Vạn An là trị sở của Diễn Châu và ngôi nhà này là đại sảnh để quan Thứ sử họp quan lại bàn việc công của châu. Bác cháu Phùng Hạp khanh đến tương đối sớm. Sau đó các tướng lần lượt đến ngồi hết cả hai hàng ghế. Phạm Thị Uyển quan sát thì chỉ có một người mà nàng đã biết, đó là người đã đón bác cháu nàng là Phòng Hậu. Còn có cả hai nữ tướng, một người xinh đẹp quý phái khoảng 30 tuổi, một người chỉ bằng tuổi nàng, cũng có hai tướng thanh niên, một người chỉ bằng tuổi Phạm Huy và Phạm Miễn. Người đến trước và đến sau đều đứng dậy thi lễ chào hỏi nhau nghiêm trang và vui vẻ. Đến sau cùng là một người đàn ông khoảng 40 tuổi, cao lớn lực lưỡng, da ngăm ngăm đen, mắt phượng mày ngài, tai dài, dáng đi như hổ, tiếng nói vang như chuông. Thấy người đó mọi người đều đứng dậy chắp tay và đồng thanh:
-Xin chào chúa công.
-Xin kính chào chúa công.
Người đó chắp tay đáp lễ:
-Đa tạ, đa tạ. Xin mời các tướng quân an tọa.
Phạm Thị Uyển cũng đứng dậy theo mọi người và đoán người đó có lẽ là Mai Thúc Loan.
Phạm Thị Uyển đoán không sai. Sau khi thi lễ và chào hỏi xong, mọi người an tọa. Người đó ngồi vào chiếc ghế đặt cạnh chiếc bàn kê ngang hướng về mọi người. Sau khi mời mọi người hết một lượt nước chè, người đó cất tiếng sang sảng:
-Xin tự giới thiệu, tại hạ là Mai Phượng, húy là Thúc Loan, chư vị tướng quân cứ gọi là Mai Thúc Loan. Hôm nay tụ hội về đây gồm những anh hùng hào kiệt yêu nước nhằm mục đích là lật đổ ách thống trị của nhà Đường, đặc biệt là tên Tiết độ sứ tàn ác Quang Sở Khách để giải phóng dân tộc, cứu giống nòi khỏi họa diệt vong. Hôm nay về đây tụ nghĩa có đại nhân Phùng Hạp Khanh, hào trưởng vùng Đường Lâm, huyện Mê Linh, Phong Châu.
Phùng Hạp Khanh đứng dậy chắp tay thi lễ vài chào mọi người.
Mai Thúc Loan nói tiếp:
-Xin giới thiệu với tướng quân Phùng Hạp Khanh, đây là tướng quân Phòng Hậu, tướng quân Thôi Thặng, tướng quân Đàn Vân Du, Tướng quân Mao Hoành, tướng quân Tùng Thụ, tướng quân Tiết Anh, tướng quân Hoắc Đan, tướng quân Khổng Qua, tướng quân Cam Hề, tướng quân Sĩ Lâm, tướng quân Bộ Tân. Tất cả các tướng quân đều quê ở Diễn Châu, Hoan Châu và Phúc Lộc Châu.
Tất cả những người được Mai Thúc Loan giới thiệu đều đứng lên chắp tay thi lễ Phùng Hạp Khanh. Phùng Hạp Khanh chắp tay thi lễ và nói:
-Nghe đại danh các tướng quân từ lâu, nay mới được gặp, hân hạnh, hân hạnh...
Các tướng quân cũng chắp tay đáp lại:
-Đa tạ, đa tạ tướng quân.
Mai Thúc Loan nói tiếp:
-Giặc Đường không chỉ là kẻ thù của dân Việt mà cũng là kẻ thù của hai dân tộc láng giềng của chúng ta là Lâm Ấp và Chân Lạp. Tại hạ đã cử tướng Tiết Anh đi Lâm Ấp, tướng Hoắc Đan đi đến Chân Lạp, ngỏ lời cùng thiết lập liên minh quân sự để chống kẻ thù chung. Vì thế, khởi nghĩa của chúng ta được sự liên minh và ủng hộ của hoàng đế hai nước Lâm Ấp và Chân Lạp. Mỗi nước đã cử 5 vạn quân và 1 đại tướng đến tụ nghĩa với chúng ta. Tại hạ hân hạnh giới thiệu đây là đại tướng Chu Hưng, vâng chỉ của Hoàng đế Lâm Ấp Phạm Hồ Dĩnh, đem 5 vạn quân đến Vạn An tụ nghĩa.
Một người cao lớn, mặc chiến bào màu trắng, chít khăn trắng đứng dậy thi lễ. Các tướng Việt cũng đứng dậy thi lễ.
Mai Thúc Loan nói tiếp:
-Tại hạ cũng hân hạnh giới thiệu đây là Đại tướng Tham Ninh, vâng chỉ hoàng đế Chân Lạp là Hồ A Khiêm đem 5 vạn quân đến Vạn An tụ nghĩa.
Một tướng cũng cao lớn, mặc chiến bào màu xám, chít khăn xám đứng dậy thi lễ. Các tướng Việt cũng đứng dậy đáp lễ.
Mai Thúc Loan nói tiếp:
-Về tụ nghĩa với chúng ta có những anh hùng hào kiệt trung niên nhưng cũng có những bậc thanh niên anh hùng. Có ba tướng quân trẻ tuổi cùng đi với tướng quân Phùng Hạp Khanh. Xin mời tướng quân Phùng Hạp Khanh giới thiệu ba tướng quân trẻ tuổi cho các chư vị đây hân hạnh được biết.
Phùng Hạp Khanh đứng dậy:
-Bẩm Mai chúa công, đa tạ chúa công đã quan tâm, thưa các chư vị tướng quân. Tại hạ có một người em gái tên là Phùng Thị Thảo. Và đây là ba đứa con của em gái tại hạ, có nghĩa là các cháu gọi tại hạ là bác. Cha các cháu là Phạm Huyền. Cháu đầu là Phạm Thị Uyển, năm nay cháu 22 tuổi.
Phạm Thị Uyển đứng dậy chắp tay cúi đầu:
-Cháu xin kính chào các chú và các bác ạ. Xin kính chào và đa tạ Mai chúa công.
Phùng Hạp Khanh nói tiếp:
-Cháu thứ hai, em của Phạm Thị Uyển là Phạm Huy, năm nay cháu 20 tuổi. Còn đây là cháu út, năm nay cháu 18 tuổi, cháu tên là Phạm Miễn. Cả ba cháu đều biết chữ nghĩa, biết chút võ nghệ côn quyền nên dứt khoát đòi theo tại hạ đi tụ nghĩa.
Phùng Hạp Khanh vừa dứt lời thì cả Phạm Huy và Phạm Miễn đều đứng dậy chắp tay vái chào thi lễ:
-Chúng cháu kính chào các chú và các bác ạ. Kính chào Mai chúa công và xin đa tạ sự quan tâm của chúa công.
Mọi người đều làm động tác đáp lễ Phạm Thị Uyển và hai chàng thanh niên.
Mai Thúc Loan trỏ tay chỉ vào người nữ tướng xinh đẹp và nói:
-Xin giới thiệu với các chư vị tướng quân, đây là phu nhân của tại hạ, tên là Đinh Ngọc Tô, người gắn bó với tại hạ từ thuở hàn vi cho đến bây giờ. Ngoài việc gia đình phu nhân cũng xin tham gia vào nghĩa lớn.
Phu nhân Đinh Ngọc Tô mặc áo chiến bào màu xanh, tóc búi cao cài trâm bạc, khoảng hơn 40 tuổi, mắt phượng mày ngài, da như trứng gà bóc. Bà có nét đẹp cao sang nhưng toát ra khí chất mạnh mẽ. Đinh Ngọc Tô đứng dậy cúi đầu thi lễ:
-Xin kính chào các quý vị tướng quân, xin đa tạ, đa tạ.
Mai Thúc Loan trỏ vào bốn thanh niên, một thanh nữ xinh đẹp, ba chàng trai khôi ngô tuấn tú, ngồi ở hàng ghế cuối và nói:
-Xin giới thiệu với quý vị tướng quân, bốn tướng quân trẻ ngồi dưới kia là tiểu thư và công tử, con của tại hạ với phu nhân Đinh Ngọc Tô. Cô chị là Mai Thị Câu, năm nay 20 tuổi, cháu thứ hai là Mai Bảo Sơn, năm nay 18 tuổi, cháu thứ ba là Mai Kỳ Sơn cùng song sinh với em là Mai Thúc Huy, năm nay hai cháu 17 tuổi.
Mai Thị Câu, Mai Bảo Sơn, Mai Kỳ Sơn, Mai Thúc Huy đều đứng dậy chắp tay thi lễ:
-Chúng cháu kính chào các chú, các bác, chào chị Phạm Thị Uyển và hai anh Phạm Huy, Phạm Miễn.
Mọi người thi lễ đáp lại bốn tướng trẻ.
Mai Thúc Loan nói tiếp:
-Quý vị tướng quân đã làm quen với nhau. Về đây tụ nghĩa, một lòng vì nghĩa lớn thì chúng ta coi nhau như một nhà, như huynh đệ, vào sinh ra tử có nhau. Còn nữa, đây là sự nghiệp cứu nước, cứu dân, trên mỗi bước đi đều gặp hiểm nguy, hy sinh gian khó, cho nên chúng ta phải có ý chí kiên cường sắt đá, không đầu hàng trước khó khăn nguy hiểm và quân thù.
Mai thúc Loan ngừng lại uống ngụm trà rồi nói tiếp:
-Về lực lượng hiện nay về tụ nghĩa đã có 5 vạn quân, 5 vạn quân của Chân lạp, 5 vạn quân của Lâm Ấp. Tổng cộng có khoảng 15 vạn quân. Đó là một lực lượng lớn. Chúng ta đã giải phóng và làm chủ Diễn Châu, Hoan Châu và Phúc Lộc Châu. Chúng ta sẽ được 5 ngày bắt đầu từ ngày mai các tướng quân phải chuẩn bị để chúng ta tiến quân ra Bắc, trước mắt là giải phóng Ái Châu và toàn bộ An Nam đô hộ phủ.
Tướng quân Phòng Hậu nói:
-Bẩm chúa công, tiến quân ra giải phóng miền Bắc là công việc cực kỳ trọng đại và khó khăn. Mạt tướng nghĩ việc đầu tiên mà chúng ta phải giải quyết là chúng ta đi chinh chiến thì phải ra lệnh cho tướng sĩ và bách tính. Muốn ra được mệnh lệnh thì danh phải chính thì ngôn mới thuận. Để lấy danh nghĩa và uy quyền ra mệnh lệnh cho tướng sĩ, hiệu triệu bách tính, thi hành quân kỷ trị nước thì phải có vua và đế. Cho nên vì lợi ích của dân, của nước, vì sự thắng lợi của công cuộc giải phóng, tại hạ thiết nghĩ chúa công phải lên ngôi hoàng đế để lấy hiệu lệnh điều hành việc quân và thiên hạ.
Phòng Hậu dứt lời, Thôi Thặng nói tiếp:
-Tướng quân Phòng Hậu nói chí phải. Bẩm chúa công, chúng ta về đây tụ nghĩa là để thực hiện chiến tranh giải phóng đất nước, rồi thắng lợi thì phải trị nước, kinh bang tế thế. Muốn làm chiến tranh và kinh bang tế thế thì phải thực hành pháp lệnh. Muốn vậy phải có hoàng đế ban hành và điều hành pháp lệnh để quân đội và bách tính thực thi. Mong chúa công suy xét.
Thôi Thặng dứt lời thì tất cả đều đồng thanh nói:
-Mong chúa công quyết định công việc hệ trọng này.
Mai Thúc Loan nói:
-Tại hạ muốn giải phóng xong đất nước rồi hãy xưng đế cũng chưa muộn. Nhưng các tướng quân nói cũng phải, việc xưng đế có thể làm trước để lấy danh nghĩa hiệu triệu tướng sĩ và bách tính.
Mọi người đều đồng thanh:
-Chúng thần chúc mừng hoàng thượng, chúc hoàng thượng vạn tuế, vạn tuế...
Do sự tôn phò của các anh hùng hào kiệt và các tướng sĩ, do nhu cầu điều hành cuộc chiến tranh giải phóng, ngày hôm sau, 15 tháng tư năm 713, Mai Thúc Loan lập đàn tế trời đất, thánh thần, tổ tiên Lạc Hồng và lên ngôi hoàng đế trước tướng lĩnh và ba quân ở thành Vạn An, tuyên bố đế hiệu là Mai Hắc Đế, lấy Vạn An là Kinh đô. Sắc phong Đinh Ngọc Tô làm hoàng hậu, Phạm Thị Uyển làm cung phi, Mai Thị Câu làm Ngọc Chân công chúa, Mai Bảo Sơn làm thái tử, Mai Kỳ Sơn, Mai Thúc Huy làm hoàng tử. Tuyên bố xóa bỏ tất cả những sưu thuế, lao dịch, cống nộp phi lý nặng nề của Nhà Đường ở An Nam Đô hộ phủ, xóa bỏ những chính sách phân biệt đối xử mọi hạng người trong xã hội, đặc biệt giữa người Hán và người Việt, xóa bỏ chính sách đồng hóa văn hóa. Triều đình Vạn An tuyên bố giải phóng toàn bộ đất nước trong nay mai.
Việc Mai Thúc Loan lên ngôi hoàng đế, tuyên bố xóa bỏ những chính sách tàn bạo về kinh tế, văn hóa, xã hội của giặc Đường đã làm toàn dân An Nam nức lòng phấn khởi vui mừng. Hào kiệt anh hùng trai tráng trong toàn cõi kéo về tụ nghĩa ngày càng đông.
Một ngày sau lễ đăng quang, Mai Hắc Đế thiết triều chính ngay ở gian đại điện giữa thành Vạn An. Mai Hắc Đế mặc áo chiến trận màu vàng, áo giáp đồng cũng màu vàng, đội vương miện vàng. Ngồi hai bên hàng ghế tả, hữu là những tướng lĩnh hôm trước. Nhưng hôm nay khi lên thiết triều họ phải cúi mình, chắp tay hành lễ:
-Chúng thần chúc mừng hoàng thượng. Hoàng thượng vạn tuế,vạn vạn tuế.
Mai Hắc Đế nói:
-Ta miễn lễ, các ái khanh bình thân.
-Đa tạ hoàng thượng.
Các tướng lĩnh an tọa. Ngồi đầu tiên ngay ở ghế đầu gần Mai Hắc đế là hoàng hậu Đinh Ngọc Tô. Bà mặc áo màu vàng, giáp đồng màu vàng, cài trâm vàng trên mái tóc búi cao.Ngồi bên trái hoàng đế là cung phi Phạm Thị Uyển. Nàng cũng trong bộ áo vàng, giáp đồng vàng rực rỡ như tiên giáng thế, lại như một võ tướng oai phong. Việc Phạm Thị Uyển được phong cung phi không phải là điều bất ngờ. Việc này đã được Mai Hắc Đế và Đinh Ngọc Tô trao đổi bàn bạc với các tướng lĩnh và đặc biệt với Phùng Hạp Khanh, ông bác và thay mặt gia đình cung phi. Đó còn là do nghi lễ cần thiết của một cung đình phải có. Nhưng điều quan trọng là Phạm Thị Uyển dù mới gặp nhưng đã có cảm tình tốt đẹp với vị anh hùng Mai Thúc Loan tiếng tăm lừng lẫy, một lòng hy sinh vì nước, vì bách tính. Cho nên tình cảm và trái tim của nàng cũng đồng nhịp với tình cảm và trái tim Mai Hắc Đế trong cuộc hôn nhân này. Khi mọi người đã an tọa, Mai Hắc Đế nói:
-Nay ta vì sự nghiệp giải phóng đất nước, giải phóng bách tính mà lên ngôi hoàng đế để gánh lấy trách nhiệm nặng nề. Nhưng việc nước là việc chung của các quần thần. Nay ta gia phong chức vụ cho các tướng lĩnh để cùng ta gánh vác trách nhiệm nặng nề này. Thái sư Phòng Hậu hãy tuyên đọc chiếu chỉ sắc phong.
Phòng Hậu đứng dậy:
-Thần tuân chỉ.
- Phụng Thiên thừa vận hoàng đế chiếu viết:
-Nay sắc phong Phòng Hậu chức Thái sư, Tổng quản các công việc triều chính; phong Tiết Anh làm Thị lang đại thần, phụ trách công việc bang giao với ngoại quốc mà trước mắt là với Lâm Ấp và Chân Lạp, phụ trách văn thư, chiếu thư, bố cáo của triều đình xuống cho các quan và bách tính trong nước; phong Thôi Thặng làm Đại tướng, Tả tiên phong; phong Đàn Vân Du làm Đại tướng, Hữu tiên phong; Phong Mao Hoành làm Đại tướng, Tả trung quân; phong Phạm Thị Uyển làm Đại tướng, Hữu trung quân; phong Tùng Thụ làm Đại tướng, Tổng trấn Ái Châu; phong Khổng Qua làm Đại tướng, Tổng trấn Hoan Châu; Phong Mai Bảo Sơn làm Đại tướng,Tống trấn Tống Bình, Giao Châu; phong Cam Hề làm Đại tướng, Tổng trấn Luy Lâu; Phong Bộ Tân làm Đại tướng, Tổng trấn Lục Châu; phong Phùng Hạp Khanh làm Đại tướng, Tổng trấn Phong Châu; phong Mai Thúc Huy làm Đại tướng, Tổng trấn Diễn Châu, phong Phạm Miễn làm Đại tướng, Tổng trấn Trường Châu; phong Ngọc Chân công chúa Mai Thị Câu làm Đại tướng, Tổng trấn Hồng Châu; phong Mai Kỳ Sơn làm Đại tướng, phó Tổng trấn Hồng Châu, Phong Hoắc Đan làm làm Đại tướng, Tổng trấn Phúc Lộc Châu; Phong Đinh Ngọc Tô làm Đại tướng, phụ trách Nội cung và quân lương; phong Tham Ninh làm Đại tướng cùng Đại Tướng Tùng Thụ giải phóng Ái Châu; phong Phạm Huy làm đại tướng, Tổng trấn Vạn An; Phong Chu Hưng làm Đại tướng, cùng Mai Bảo Sơn tiến đánh Tống Bình.
Các đại thần đứng dậy chắp tay:
-Chúng thần tạ ơn hoàng thượng. Hoàng thượng vạn vạn tuế...
-Miễn lễ.
Tạ ơn Hoàng thượng.
-Sáng ngày mai giờ Dần, toàn quân xuất phát tấn công giải phóng Ái Châu và miền Bắc. Bãi triều.
Một ngày tháng tư, bấy giờ là niên hiệu Mai Hắc Đế năm thứ nhất 713, thung lũng Rậm sau kinh thành Vạn An vẫn muôn cây xanh biếc cao thấp khác nhau, rừng núi trùng điệp nhận ánh nắng ban mai rải xuống trắng xóa lung linh, thường ngày vẫn là thao trường luyện tập của quân đội Mai Hắc Đế nên ngày nào cũng nhộn nhịp, ồn ào. Nhưng hôm nay ngày 15 tháng tư càng trở nên tưng bừng náo nhiệt. 10 vạn quân quân phục màu nâu, mũ đâu mâu nhọn hoắt, trên người mang đủ loại vũ khí gươm, giáo, kiếm, đại đao, cung tên, ba lô trên vai từng người lính nặng trĩu. Chen lẫn quân phục màu nâu là khoảng 10 vạn người quân phục màu trắng và máu xám. Đó là sắc phục của 10 vạn lính Chân Lạp và Lâm Ấp đến chiến đấu cùng quân Việt chống lại giặc Đường. Các tướng lĩnh trong chiến bào màu nâu, áo giáp đồng, mũ đâu mâu bằng đồng vàng chóe, vai mang cung tên và tay cầm đại đao, giáo, mác, gươm tùy sở trường của từng người. Họ cưỡi trên lưng những con ngựa màu đen và nâu cao to khỏe mạnh nom rất hùng dũng. Có hai tướng mặc chiến bào trắng và chiến bào xám. Người chiến bào trắng là Đại tướng Chu Hưng, Đại tướng quân Lâm Ấp, người chiến bào xám là Đại tướng Tham Ninh, đại tướng quân Chân Lạp. Tiếng trống da bò, tiếng chiêng đồng vang vọng, tiếng tù và rúc liên hồi đinh tai nhức óc vang vọng cả một vùng trời đất. Những lá cờ vàng thêu chữ Mai Hắc Đế đỏ chói bay phần phật rợp trời trên đầu hàng vạn binh lính nom càng thêm hùng tráng.
20 vạn quân bắt đầu xuất phát đi theo hàng dọc rời kinh thành Vạn An tiến ra giải phóng miến Bắc. Quân đi rầm rập, bụi bay mịt mù không gian, cờ bay trong gió nắng chói lòa. Chính giữa hàng quân là chiếc xe bốn bành do hai con ngựa màu nâu khỏe mạnh kéo. Quanh xe có che lọng màu vàng. Trên lọng màu vàng có lá cờ thêu chữ ”Soái” màu đỏ tung bay phần phật. Ngồi trên xe là Mai Hắc Đế mặc chiến bào màu vàng, áo giáp đồng màu vàng, mũ đâu mâu nhọn màu vàng. Mai Hắc Đế tự thân chinh làm Tổng chỉ huy quân đội ra giải phóng miền Bắc. Ngồi cùng xe với hoàng đế là cung phi đại tướng Phạm Thị Uyển, nàng mặc áo chiến bào, áo giáp đồng và mũ đâu mâu cũng màu vàng. Nàng mặc quân phục thì đúng là một nữ tướng xinh đẹp và oai phong. Đi bên xe hộ giá là những đại tướng tả trung quân Mao Hoành và Mai Bảo Sơn, thái tử, Đại Tướng, tổng Trấn Tống Bình. Nhân dân Diễn Châu và Ái Châu trên đường hành quân của vua đã đem nước chè, bánh trái ra úy lạo đứng suốt dọc đường.
Sớm hôm sau, đại quân và xa giá của vua Mai Hắc Đế đã đến Ái Châu. Mai Hắc Đế cho gọi Đại tướng Tùng Thụ và Đại tướng Tham Ninh đến và chỉ dụ:
-Hai ái khanh dẫn 2 vạn quân Việt và 5 vạn quân Chân Lạp, do Đại tướng Tùng Thụ làm chủ tướng, Tham Ninh làm phó tướng, đánh chiếm thành trị sở Tư Phố, giải phóng Ái Châu.
Tùng Thụ và Tham Ninh chắp tay:
-Thần xin tuân chỉ
Mai Hắc Đế nói thêm:
-Ta không dừng lại Ái Châu mà phải nhanh chóng ra hạ thành Tống Bình, nếu chậm trễ quân Đường tăng viện sẽ rất khó khăn.
-Dạ, kính chúc hoàng thượng ca khúc khải hoàn.
-Ta cũng chờ đợi tin chiến thắng của hai ái khanh.
Đại quân và xa giá lại tiếp tục hành quân ra Bắc. Quân đi như vũ bão,bụi bay mù mịt trời đất, cờ bay theo gió vàng trời.Tùng Thụ và Tham Ninh nhìn theo, khi xa giá của vua đi khuất, hai người dẫn bảy vạn quân rẽ về hướng Tây, tiến về thành Tư Phố, trị sở của Ái Châu. Tùng Thụ và Tham Ninh dẫn quân đi dọc bờ sông Mã, dòng sông cuồn cuộn nước như từ trên trời đổ xuống chảy như ngựa phi về phía Đông. Những núi Rùa, núi Voi, núi Ngũ Hoa cao lừng lững trong mây như muôn thuở đợi chờ ai đó, xa xa núi Nưa, núi Trịnh, núi Vòm xanh bạt ngàn. Cách thành Tư Phố một dặm, hai Đại tướng đã thấy quân Đường dàn trận hình chữ nhất. Quân Đường mặc quân phục đen, áo giáp sắt. Có sáu tướng chiến bào màu xanh, áo giáp sắt đen, mũ đâu mâu bằng sắt đen nhọn hoắt trên đầu, tay cầm đại đao, kiếm, giáo. Tùng Thụ cho quân dàn trận và quát hỏi:
-Bọn giặc kia tên họ là gì? Thấy đại quân ta sao không đầu hàng, dám chống cự chết không đất mà chôn.
Một tướng trong quân Đường đáp:
-Ta là Tư mã Lưu Kim Bạch, còn đây là Thứ sử Lâm Duy Thăng. Bọn bay sao dám chống lại thiên triều, hãy xem thanh đại đao của ta đây.
Nói xong, Lưu Kim Bạch thúc ngựa màu đen múa đại đao xông ra. Bên quân Việt và Chân Lạp, Đại tướng Tham Ninh múa gươm cưỡi ngựa nâu xông ra như gió, hai bên đánh nhau khoảng 20 hiệp, Lưu Kim Bạch bị Tham Ninh đâm một nhát gươm vào cổ ngã lăn xuống đất.
Tùng Thụ giơ đại đao lên hô to:
-Toàn quân xông lên giết giặc!
Bảy vạn quân Việt và quân Chân Lạp xông lên, giao, kiếm lóe lên như chớp dưới ánh mặt trời, chiêng trống thanh la, tiếng reo hò của quân sĩ vang động trời đất. Quân Đường và quân Việt, quân Chân Lạp lăn xả vào nhau chém giết. Xác chết chồng chất, máu tuôn như suối. Quân Đường ít người núng thế quay đầu chạy về thành. Quân Việt và Chân Lạp ráo riết đuổi theo. Quân Đường chạy về đến nơi thì cổng thành đã bị đóng chặt. Trên mặt thành những lá cờ Đường đã bị những lá cờ vàng viết chữ Mai Hắc Đế thay thế tung bay. Quân Đường bị chính những người lính trên mặt thành bắn xuống chết như rạ. Trong bước đường cùng, toàn quân Đường vội buông vũ khí, quỳ xuống đầu hàng. Thứ sử Lâm Duy Thăng và các tiểu tướng đều tử trận, thành Tư Phố thất thủ, Ái Châu được giải phóng. Các quan chức Đường các huyện lỵ khắp Ái Châu kẻ thì chạy trốn về Trung Quốc, kẻ thì đầu hàng. Thì ra trong thành Tư Phố có một tốp người Việt bị bắt đi lính cho quân Đường. Họ đã ngày đêm trông chờ quân Mai Hắc Đế ra giải phóng quê nhà. Khi thấy quân Đường thua trận chạy về, họ đã giết lính gác cổng thành, cướp thành trì khiến cho quân giặc không có lối vào thành cố thủ và bị tiêu diệt. Đại tướng Tùng Thụ đã thưởng cho tốp lính Việt đó nhiều vàng bạc. Ai muốn về nhà thì cho, ai muốn theo quân của Mai Hắc Đế được sung vào quân ngũ.
Từ Ái Châu, xa giá và đại quân của Mai Hắc Đế đi hai ngày nữa thì đến Tống Bình, trị sở của An Nam Đô hộ phủ nhà Đường. Nghe tin Mai Hắc Đế có đến 15 vạn quân, Tiết Độ Sứ Quang Sở Khách, người đứng đầu bộ máy chính quyền nhà Đường ở An Nam vô cùng khiếp sợ, nói với Đại Tư mã Đặng Thiều Bằng:
-Tướng quân đem 4 vạn quân ra ngoài thành nghênh chiến, bản Tiết độ sứ sẽ đem 2 vạn quân ra tiếp ứng sau.
Đại Tư mã Đặng Thiều Bằng đáp:
-Mạt tướng tuân lệnh
Đặng Thiều Bằng đem 4 vạn quân ra cách thành Tống Bình một dặm dàn trận. Trong khi Đặng Thiều Bằng đem quân ra ngoài thành thì Tiết Độ sứ Quang Sở Khách ở lại gói ghém hành lý tư trang, vàng, bạc, ngọc ngà châu báu rồi cùng vài tùy tùng mở cổng thành chạy về phương Bắc. Hắn tự khen mình thật khôn ngoan sáng suốt vì đã cho vợ con thế thiếp chạy về Trung Quốc cách đây nửa tháng.
Mai Hắc Đế khi tiến vào thành Tống Bình gặp quân Đường dàn trận hình chữ nhất nghênh chiến, bèn dàn quân theo hình cánh cung. Trong tiếng chiêng trống vang lừng tinh kỳ phấp phới, Đặng Thiều Bằng quát to:
-Ai ra bắt bọn phản tặc cho ta?
-Có mạt tướng
Một tướng cưỡi ngựa nâu, người cao lớn mặc áo chiến bào đen, áo giáp đen múa đại đao phóng ngựa lao ra, nhìn kỹ thì là tiểu tướng Ngụy Hãn. Bên quân Việt Đại tướng tiên phong Thôi Thặng múa giao lớn xông ra, hai ngựa xáp nhau, đại đao chạm đao lớn tóe lửa. Được 10 hiệp, Thôi Thặng đưa một dao qua cổ, đầu Ngụy Hãn rơi xuống đất. Mai Hắc Đế trỏ kiếm ra lệnh cho quân Việt xông lên, Vì quân đông lại dàn trận vòng cung nên quân Việt vây bọc quân Đường vào giữa rồi ra sức chém giết. Quân Đường núng thế nhưng không thể chạy thoát vào thành. Một cuộc chém giết giáp lá cà trong chiến tranh Đường- Việt khủng khiếp diễn ra. Thây đổ chồng chất, máu phun lên trời và đổ xuống đất như suối. Hai canh giờ giáp chiến, 3 vạn quân Đường bị nát như thịt băm, máu ngập chiến trường. Số còn lại trong đám loạn quân vội buông vũ khí quỳ lạy đầu hàng. Đại Tư mã Đặng Thiều Bằng và các tiểu tướng đều tử trận. Mai Hắc Đế ra lệnh:
-Những lính nhà Đường đầu hàng không được giết.
Quân Việt tiến đến thành Tống Bình. Tên trên thành bắn xuống như mưa. Quân Việt cũng bắn lên áp đảo. Mai Hắc Đế cho người giơ cao thủ cấp của Đại Tư mã Đặng Thiều Bằng cho quân trên thành thấy và kêu gọi đầu hàng sẽ tha chết. Quân Đường đã đầu hàng được tha chết cũng kêu gọi quân trên thành. Quân Đường hoảng sợ đi tìm Thứ sử Quang Sở Khách. Mấy người lính nói:
-Tiết Độ Sứ đã bỏ thành chạy lên phương Bắc từ sớm rồi.
-Thế thì chúng ta đầu hàng để bảo toàn tính mạng.
Khi đó quân Đường mới mở cổng thành, quân Việt tràn vào tiếp quản. Với hàng binh của nhà Đường thì chu cấp cho quần áo, lương ăn để họ về Trung Quốc. Đó là tháng tư năm 714, đế hiệu Mai Hắc Đế năm thứ nhất
Tin tức quân Mai Hắc Đế chiến thắng giải phóng Ái Châu, Giao Châu, Tống Bình lan ra làm chấn động toàn bộ An Nam Đô Hộ Phủ. Quan chức người Hán trong bộ máy chính quyền châu, huyện đều bỏ chạy về Trung Quốc, hoặc có ở lại thì trao lại chính quyền cho các hào trưởng người Việt.
Sau chiến thắng, ngay trong Đại sảnh Tiết độ sứ ở Tống Bình, Mai Hắc Đế thiết triều và Khẩu dụ:
- Nay Cử Đại Tướng Phùng Hạp Khanh là Tổng trấn Phong Châu, lập tức đem 1 vạn quân giải phóng Phong Châu, cử Đại tướng Cam Hề là Tổng trấn Luy Lâu, ngay lập tức đem 1 vạn quân giải phóng Vũ Ninh và Lạng Châu, cử Đại tướng Bộ Tân là tổng Trấn Lục Châu, đem 1 vạn quân giải phóng Lục châu, cử Mai Bảo Sơn là Tống trấn Giao Châu, đem 1 vạn quân giải phóng Giao Châu, cử Ngọc Chân công chúa Mai Thị Câu làm Tổng trấn Hồng Châu, phong đại tướng Hoàng tử Mai Kỳ Sơn làm phó Tổng trấn Hồng Châu, phụ tá cho công chúa Ngân Châu, đem 1 vạn quân đi giải phóng Hồng Châu, phong Đại tướng cung phi Phạm Thị Uyển làm Đại Thần kiêm Thị lang phụ trách quân cơ.
-Vì có công lao liên minh với quân Việt lật đỏ ách thống trị của nhà Đường, nay phong Chu Hưng và Tham Ninh chức Đại thần lưỡng quốc Đại tướng quân.
- Các quan chức người Hán từ châu, huỵện đã bỏ chạy hoặc ở lại đều phải thay thế bằng quan lại người Việt. Các quan chức người Việt từ hương, xã, thôn nếu muốn phục vụ cho chính quyền mới mà thanh liêm đều được giữ nguyên chức vụ. Các Đại thần Thị lang phụ trách tổ chức chính quyền phải nhanh chóng tổng hợp và trình lên cho trẫm quyết trong năm nay. -Nay giao cho các đại tướng xét công lao của các tùy tướng và các chiến sĩ, chu cấp ruộng đất cho gia đình quân nhân sinh sống, những liệt sĩ đã hy sinh trong các trận đánh, cha mẹ vợ con được chu cấp tiền bạc và ruộng đất. Đại tướng các đơn vị, các Thị lang nội chính Đại thần phải nhanh chóng tổng hợp, định chế độ trình cho trẫm quyết ngay trong năm nay, không được chậm trễ.
- Nay đại xá thiên hạ và miễn tô thuế cho bách tính trong hai năm.
Khâm thử.”
Chúng thần xin tuân chỉ. Đa tạ Hoàng thượng. Hoàng thượng vạn vạn tuế.
Sau đó, tuân theo chỉ dụ, các tướng thống lĩnh các đạo quân của mình tiến về các châu đã được phân nhiệm, giải phóng và sau đó trấn trị, thực hiện những chủ trương của triều đình Vạn An để dân an cư, phát triển kinh tế, xây dựng đời sống no ấm yên vui.
Sau chiến thắng, Mai Hắc Đế xây dựng đất nước và củng cố phát triển mọi mặt về kinh tế, hành chính, quân sự và văn hóa. Chọn những tướng lĩnh trung thành, tài năng làm Tổng trấn 12 châu. Để làm thế hỗ trợ cho Tống Bình, Giao Châu và Vạn An, Mai Hắc Đế cho Ngọc Chân công chúa Mai Thị Câu lấy chồng ở vùng Điều Yêu, Hồng Châu, Hoàng Tử Mai Kỳ Sơn cũng lấy vợ ở Hồng Châu. Họ Phùng của Phùng Hạp Khanh và họ Phạm của cung phi Phạm Thị Uyển ở Đường Lâm Phong Châu cũng là một thế tạo sức mạnh cho Giao Châu và Tống Bình. Mai Hắc Đế không dời Kinh Đô ra Tống Bình mà vẫn chọn kinh đô Vạn An cũng là do lý do phòng thủ, chống lại cuộc phản công của nhà Đường có thể xẩy ra bất cứ lúc nào. Trong 10 năm giải phóng, kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp, buôn bán được phục hồi phát triển, giao thông mở mang, giảm nhẹ thuế má cho dân, xã hội thanh bình, bách tính no ấm, đời sống yên vui.
Trong khi An Nam Đô hộ phủ, thuộc địa nhà Đường nổi dậy giành độc lập dưới sự lãnh đạo của Mai Hắc Đế thì Triều đình của Đường Huyền Tông vẫn chưa khắc phục xong hậu quả của những cuộc đấu tranh giành quyền lực sau cái chết của Đường Cao Tông Lý Trị.
Nhà Đường do Đường Cao Tổ Lý Uyên sáng lập sau khi khi lật đổ nhà Tùy năm 618. Tiếp đến Đường Thái Tông Lý Thế Dân kế vị. Sau khi Đường Thái Tông mất, năm 649, Đường Cao Tông Lý Trị kế vị. Do Lý Trị Đường Cao Tông bạc nhược, năm 656 Võ Hậu đã nắm quyền lực tối cao nhà Đường. Sau khi Đường Cao Tông mất, Võ Hậu đã phế truất ngôi vị của Đường Trung Tông Lý Hiển, phế truất Đường Duệ Tông Lý Đán năm 690 và Võ Hậu chính thức lên ngôi hoàng đế, đế hiệu là Võ Tắc Thiên, đổi Quốc hiệu Đường ra Chu, dời kinh đô từ Trường An đến Lạc Dương. Năm 705, các đại thần phát động chính biến lật đổ Võ Tắc Thiên, khôi phục lại ngai vàng cho Đường Duệ Tông Lý Đán. Năm 712, Đường Dụê Tông nhường ngôi cho Thái tử Lý Long Cơ, đế hiệu Đường Huyền Tông (Đường Minh Hoàng 712-756). Thời Đường Huyền Tông chính là thời quật khởi của An Nam Đô hộ Phủ, Mai Thúc Loan xưng đế mà Đường Huyền Tông không thể cất quân đàn áp vì còn bận dẹp loạn của bè đảng Võ Tắc Thiên như Võ Tam Tư và Thái Bình công chúa. Sau khi đã chấn chỉnh bộ máy nhà nước, ổn định tình hình chính trị, xã hội, Đường Huyền Tông mới có thời gian bàn về An Nam Đô hộ phủ. Trong một buổi thiết triều, Đường Huyền Tông nói:
-Xứ An Nam đô hộ phủ xa xôi nhưng là thuộc địa của Trung Nguyên Đại Đường ta, nhưng 10 năm nay Mai Thúc Loan xưng đế, đuổi Tiết Độ Sứ Quang Sở Khách chạy về Trường An. Do công việc nội tình của triều đình, ta không thể cử binh chinh phạt. Nay tình hình cho phép cử binh bình định An Nam. Các Khanh hãy tiến cử cho ta một tướng tài giỏi về quân sự khả dĩ mang lại chiến thắng, thu An Nam đô hộ phủ về lại với triều đình.
Tể tướng Diêu Nguyên Chi bước ra:
-Thần xin bẩm tấu.
-Thừa tướng tiến cử ai?
-Dạ, bẩm hoàng thượng, thần xin tiến cử Nội quan Dương Tư Húc, quê ở Thạch Hà, La Châu, dù là nội quan nhưng nổi tiếng kinh nghiệm chinh chiến. Người này có thể đem về chiến thắng cho hoàng thượng.
Đường Huyền Tông nói:
-Trẫm biết Dương Tư Húc đảm đang công việc nội cung giỏi nhưng về việc binh nhung không rõ tài năng thế nào. Người đâu, cho triệu Dương Tư Húc nghị triều!
Một lát sau Dương Tư Húc bước vào. Đó là một hoạn quan cao lớn, lực lưỡng, khuôn mặt gian ác, dáng dấp là một võ quan. Dương Tư Húc quỳ xuống hành lễ:
-Chúc Thánh thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.
Đường Huyền Tông nói:
-Miễn lễ, Ái khanh đứng dậy đi!
-Tạ ơn hoàng thượng.
-An Nam đô hộ phủ là thuộc địa của ta nhưng đã 10 năm nay làm loạn, Mai Thúc Loan cướp chính quyền và xưng đế, đuổi Tiết Độ Sứ Quang Sở Khách chạy về Trường An. Nay Trẫm muốn chinh phạt An Nam. Tể tướng Diêu Nguyên Chi đã tiến cử ái khanh làm chủ soái. Nay ái khanh có đảm nhận được nhiệm vụ khó nhọc đó không?
Dương Tư Húc đáp:
-Tạ ơn hoàng thượng đã tín nhiệm thần. Thần sẽ cố hết sức nhưng thần có một thỉnh cầu.
-Ái Khanh có gì thỉnh cầu?
-Tâu hoàng thượng, thần muốn Tiết Độ sứ Quang Sở Khách cùng đi An Nam với thần vì Tiết độ sứ đã sang An Nam, thông thạo đường đất, thông thạo tình hình. Thần cần Tiết độ sứ để hướng đạo và chỉ dẫn khi thần đến một xứ sở xa xôi lạ lẫm và ương ngạnh này.
-Chuẩn tấu. Người đâu, cho gọi Quang Sở Khách vào!
Quang Sở Khách vào, quỳ và hành lễ:
-Thần Quang sở Khách, Chúc hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.
Miễn lễ, khanh đứng dậy đi!
-Nội quan tuyên đọc chiếu chỉ.
Viên nội quan nói to:
-Dương Tư Húc, Quang Sở Khách nghe tuyên chỉ!
Dương Tư Húc và Quang Sở Khách quỳ nghe tuyên chiếu.
Nội quan đọc: ”Phụng thiên thừa vận, hoàng đế chiếu viết: Nay sai quan Tả Giám môn Vệ tướng quân là Dương Tư Húc và quan Đô hộ là Quang Sở Khách cầm đầu 20 vạn quân thủy bộ chinh phạt An Nam đô hộ phủ. Hạn phải xuất quân ngay, không được chậm trễ. Khâm thử.
Trường An-Niên hiệu Khai Nguyên năm thứ 10 (722).”
Nội quan đọc xong, trao chiếu chỉ cho Dương Tư Húc. Dương Tư Húc và Quang Sở Khách cùng lạy:
-Đội ơn hoàng thượng, chúng thần tuân chỉ.
Đường Huyền Tông đứng dậy:
-Bãi triều!
IVNgay trong ngày hôm sau, Dương Tư Húc đã tập trung được 20 vạn quân theo chỉ dụ của Đương Huyền Tông. Dương Tư Húc nói với Quang Sở Khách, giọng khàn khàn của một hoạn quan :
-Đường Huyền Tông đúng là vị minh quân sáng suốt, xứng đáng được bách tính gọi là Đường Minh Hoàng. Người chỉ dụ cho ta phải đi theo con đường của Mã Viện hành quân cách ngày nay đã gần 800 năm, có nghĩa là chúng ta cũng phải đánh theo cách của Mã Viện.
Quang Sở Khách hỏi:
-Đi theo cách của Mã Viện, đánh theo cách của Mã Viện có nghĩa là đi và đánh như thế nào? Xin nguyên soái chỉ bảo.
Dương Tư Húc cười có vẻ nhạo báng Quang Sở Khách:
-Ngài làm Tiết độ sứ An Nam đô hộ phủ mà không hiểu biết lịch sử xứ đó thì thất bại là phải. Xưa, Phục ba tướng quân Mã Viện đi chinh phạt hai Trưng Nữ Vương xứ đó đã hành quân theo đường Khâm Châu để vào Lục Châu, từ Lục Châu vào Hồng Châu rồi dụ quân địch tới Kiếp Bạc, mặt khác cho thủy quân bí mật theo sông Bạch Đằng và sông Kinh Thầy tiến lên Lục Đầu Giang đánh tập hậu sau lưng. Bị đánh trước mặt và sau lưng nên quân Việt dù chiến đấu anh dũng thế nào cũng bị đánh bại. Trận đó là trận Lãng Bạc, trận quyết định để sau này Mã Viện đánh bại được hai Trưng Nữ Vương năm 43.
Quang Sở Khách nói:
-Nguyên soái đúng là giỏi thuộc lịch sử An Nam và lịch sử Hán triều. Lần này nguyên soái cũng vận dụng kinh nghiệm của Mã Viện để đánh Mai Hắc Đế chăng?
Dương Tư Húc nói:
-Bài học lịch sử này đã được Trần Bá Tiên, tướng của nhà Lương vận dụng đánh bại Lý Nam Đế của nước Vạn Xuân thế kỷ thứ VI. Trần Bá Tiên cũng đi từ Khâm châu vào Lục Châu và cũng đánh tập hậu Lý Nam Đế ở Hồng Châu.
-Nguyên Soái có định dùng chiến thuật đánh tập hậu này để tiêu diệt Mai Hắc Đế không?
-Cũng tùy. Ta cũng sẽ cho quân hành quân theo đướng Khâm Châu rồi vào Lục Châu và Hồng Châu. Thủy quân cũng sẽ theo sông Bạch Đằng đổ bộ lên Lục Đầu Giang. Nếu Mai Hắc Đế cho quân đến Hồng Châu, ta cũng sẽ dùng chiến thuật đánh tập hậu tạo quyết định cho thắng lợi trong cuộc chinh phạt này.
Dương Tư Húc nói thêm:
-Còn nữa, Hoàng thượng có nói để cho quân ta thêm sức mạnh, ta được quyền phục chức cho những quý tộc quan lại người Hán bị tội và từng bị đày sang An Nam để họ chiêu tập binh mã người Hán ở đó, chiến đấu hỗ trợ cho quân đội ta, trong đánh ra, ngoài đánh vào để nắm chắc phần thắng lợi.
Quang Sở Khách nói:
-Nguyên soái tính toán như thần.
Dương Tư Húc nói:
-Còn phải xem thực tế trên chiến trường như thế nào đã. Chiến tranh không thể nói trước được điều gì.
Nghe thám mã báo Dương Tư Húc, nguyên soái nhà Đường đem 15 vạn quân theo đường Khâm Châu đã tràn vào Lục Châu, 5 vạn thủy binh Đường đang tiến vào sông Bạch Đằng, Đại tướng Bộ Tân, Tổng binh Lục Châu đem 3 vạn quân chặn giặc. Ngọc Chân Công chúa Mai Thị Câu, Đại tướng hoàng tử Mai Kỳ Sơn, Tổng Binh và phó Tổng Binh Hồng Châu cũng đem 3 vạn quân tiếp ứng cho Bộ Tân. Trước thế mạnh của giặc, 3 vạn quân Việt phải lui về Hồng Châu. Tại đây, quân Việt bị 15 vạn quân địch do Dương Tư Húc chỉ huy đánh mặt trước từ phía Đông sang, sau lưng bị 5 vạn thủy binh Đường đổ bộ từ Lục Đầu Giang đánh tập hậu sau lưng từ phía Tây. Một trận chém giết kinh hoàng giữa quân Việt và quân Đường đã diễn ra. Xác lính Việt và lính Đường chồng chất. Máu chảy thành suối. Tiếng thanh la, tiếng trống, tiếng reo hò của binh lính rung chuyển vùng trời phía Đông, hữu ngạn sông Lục Đầu Giang. Sau hai canh giờ chiến đấu, 4 vạn quân Việt hy sinh, 5 vạn quân Đường cũng bỏ mạng. Đại Tướng Cam Hề, Tổng binh Vũ Ninh đã nhanh chóng đem 3 vạn quân ứng cứu, mở đường máu mới cứu được Ngọc Chân công chúa Mai Thị Câu, Hoàng tử Mai Kỳ Sơn và Đại tướng Bộ Tân cùng một vạn quân rút về Tống Bình.
Dương Tư Húc nói với Quang Sở Khách:
-Tiết Độ sứ hãy đem binh thuyền cùng 5 vạn thủy binh vượt biển tiến vào Diễn Châu để ngăn chặn không cho Mai Hắc Đế đem quân ra Bắc cứu Tống Bình. Chúng ta phải phân tán lực lượng của Mai Hắc Đế, khi thấy binh thuyền của ta đang tiến vào, Mai Hắc Đế không thể bỏ Vạn An mà ra Bắc. Tiết độ sứ vào đến nơi không tiến công vội, chờ ta phá xong thành Tống Bình, chiếm Giao Châu sẽ cùng phối hợp tấn công thành Vạn An. Như vậy quân Việt đầu và cuối không tiếp ứng được cho nhau sẽ bị tiêu diệt.
Quang Sở Khách nói:
-Nguyên soái nói chí phải, thật là diệu kế, diệu kế.
Tại kinh thành Vạn An, khi nghe thám mã báo, 15 vạn quân Đường do Dương Tư Húc chỉ huy đã tràn vào Lục Châu, Mai Hắc Đế cử Đại tướng cung phi Phạm Thị Uyển đem 5 vạn quân đi tiên phong ra Bắc trước, Mai Hắc Đế sẽ dẫn đại quân đi sau tiếp ứng cho các mặt trận. Phạm Thị Uyển đi được một ngày rồi, Mai Hắc Đế đang định xuất phát thì thám mã báo:
-Dạ, cấp báo, Thủy quân Đường do Quang Sở Khách chỉ huy đang vượt biển tiến vào Diễn Châu, tiến đánh kinh thành Vạn An.
Mai Hắc Đế đành phải bỏ kế hoạch tiến quân ra Bắc, ra lệnh chuẩn bị chiến đấu phòng thủ Vạn An.
Lại nói Đại tướng cung phi Phạm Thị Uyển đem 5 vạn quân đi gấp ra miền Bắc, khi đến Tống Bình đã nghe thám mã báo, đại quân của Ngọc Chân công chúa, Hoàng tử Mai Kỳ Sơn và Đại Tướng Bộ Tân, Đại Tướng Cam Hề đã bại trận ở Hồng Châu. Ngọc Chân công chúa, hoàng tử và hai đại tướng đang cùng quân mã rút về Tống Bình, 10 vạn quân Đường đang đuổi theo ở phía sau.
Phạm Thị Uyển nhanh chóng đem quân lên tiếp ứng, đón được công chúa, Hoàng tử và hai đại tướng cùng 5 vạn tàn quân ở gần phía Bắc thành Tống Bình. Phạm Thị Uyển nói:
-Chúng ta hãy vào thành Tống Bình cố thủ, chờ đại quân của Mai Hắc Đế ra, trong đánh ra ngoài đánh ra để tiêu diệt địch.
Đang khi đó lại có thám mã về báo:
-Dạ cấp báo, 5 vạn thủy binh Đường vượt biển vào Diễn Châu sắp tấn công thành Vạn An nên hoàng thượng không ra Bắc được, phải ở lại phòng thủ Vạn An. Mặt trận miền Bắc và Tống Bình giao cho Đại tướng cung phi làm chủ soái quyết định.
Phạm Thị Uyển nói:
-Như vậy nếu chúng ta cố thủ ở thành Tống Bình, không có quân cứu viện, cuối cùng cũng thất thủ. Chi bằng dốc toàn lực đánh một trận sống mái với quân thù để báo đền nợ nước.
-Phạm Thị Uyển lại nói với công chúa Ngọc Chân và hoàng tử Mai Kỳ Sơn:
-Trận đánh này rất bất lợi cho quân ta, cho nên để giảm bớt tổn thất không nên có, ta ra lệnh cho công chúa Ngọc Chân và hoàng tử Mai Kỳ Sơn đem 2 vạn quân đi gấp về Vạn An giúp phụ hoàng bảo vệ kinh đô.
Ngọc Chân công chúa nói:
-Chúng con xin mẫu thân đem quân về giúp phụ hoàng, chúng con xin ở lại.
Hoàng tử Mai Kỳ Sơn cũng nói:
-Chúng con xin ở lại, Mẫu thân hãy đem quân về.
Phạm Thị Uyển nói:
-Ta đã nhận chiếu dụ của hoàng thượng làm chủ soái ở đây, không thể bỏ sứ mệnh vua giao mà đi được. Các con hãy về. Đây là quân lệnh, không nghe theo sẽ chiếu theo quân lệnh mà trừng phạt.
Công chúa và hoàng tử cúi đầu:
-Dạ, chúng con tuân lệnh.
Rồi công chúa Ngọc Chân ôm Phạm Thị Uyển mà gạt nước mắt. Nàng biết đây có thể buổi tạm biệt, cũng có thể là buổi vĩnh biệt Đại tướng cung phi, người mà nàng vô cùng yêu mến kính trọng như mẫu thân của nàng. Hai chị em gạt nước mắt từ giã các tướng, từ giã cung phi, đem 1 vạn quân đi về Nam trong gió bụi.
Phạm Thị Uyển thở phào nhẹ nhõm. Bà làm như vậy để ngăn chuyện không may có thể xẩy ra trong trận huyết chiến sắp tới, giảm nhẹ sự đau buồn cho Mai Hắc Đế, cho hoàng hậu Đinh Ngọc Tô. Nàng biết gia đình nhà vua ít nhất sẽ có hai người thân yêu ruột thịt ngã xuống trong trận đánh Tống Bình này: Nàng và Hoàng thái tử Mai Bảo Sơn.
Thám mã báo giặc đã đến gần. Phạm Thị Uyển ra lệnh dàn trận phía Bắc thành Tống Bình và nói:
-Ta và các tướng sĩ đã dấn thân vào con đường đấu tranh giải phóng đất nước, giải phóng bách tính thì đã không tính đến chuyện tiếc bản thân. Hôm nay đã đến bước đường này, ta và các tướng sĩ phải đánh một trận cho quân giặc khiếp đảm muôn đời. Ai run sợ thì ta cho về quê hương sống một cuộc đời nô lệ, ai không run sợ thì ở lại cùng ta chết một các oanh liệt, trả món nợ với non sông.
5 vạn nghĩa quân tướng sĩ đồng thanh hô vang như sấm:
-Chúng tôi nguyện cùng Chủ soái chiến đấu đến cùng, đánh cho quân thù khiếp đảm muôn đời.
Dương Tư Húc và hơn 10 vạn lính đã đến nơi. Hắn tưởng quân Việt đã rút vào thành Tống Bình cố thủ, nhưng khi thấy 5 vạn quân Việt dàn trận với một khí thế đằng đằng sát khí, hắn hơi chột dạ. Hắn đã biết tinh thần chiến đấu dũng mãnh của quân Việt ở trận Hồng Châu vừa qua. 3 vạn quân Việt hy sinh nhưng 5 vạn quân Đường đã bỏ mạng, dù quân Đường ở vào thế số đông áp đảo. Kỳ lạ hơn là 5 vạn quân này do một nữ tướng trẻ tuổi xinh đep, môi hồng má phấn chỉ huy. Nàng cưỡi con ngựa đẹp màu trắng, mình mặc chiến bào vàng, áo giáp đồng vàng, chân đi guốc màu vàng, tay cầm hai thanh kiếm, đầu đội mũ đâu mâu nhọn mạ vàng, oai phong lẫm liệt đứng hiên ngang đầu trận chờ đợi quân Đường. Dương Tư Húc tưởng như đang đối diện với Trưng Nữ Vương tái thế. Mà sao cái nước Việt xa xôi lắm Bà Trưng đến vậy? Nhưng Dương Tư Húc theo kinh nghiệm chiến trận, quân số đông mà gặp đối thủ ít quân hơn thì cứ cho xông ào lên chém giết, không cần quan tâm đến sinh mạng binh lính. Cái cốt trên chiến trường là chiến thắng. Nghĩ như vậy hắn không dàn trận theo phép thông thường mà khi gần quân Việt hắn vung đại đao lên và thét:
-Xông lên giết!
Hơn 10 vạn quân Hán ào lên như bão táp. Quân Việt không hề run sợ cũng xông lên. Một cuộc chiến giáp lá cà khủng khiếp nhất trong chiến tranh Đường -Việt diễn ra ngay trước thành Tống Bình. Tiếng chiêng, trống, tiếng tù và, tiếng quân reo vang động, tiếng gươm giáo chạm nhau tóe lửa phát ra âm thanh ghê rợn, quân Việt và quân Hán chém giết nhau hỗn loạn, thây người gục đổ, máu tuôn như suối. Sau hai canh giờ hỗn chiến, 5 vạn quân Việt đã hy sinh anh dũng nằm xuống nhưng họ cũng đã buộc bảy vạn quân Đường gục ngã. Cung phi Phạm Thị Uyển tả xung hữu đột, hai thanh gươm trong tay cung phi múa như mưa sa bão cuốn và không biết bao nhiêu đầu quân Đường đã rụng xuống. Khi biết các Đại tướng Cam Hề, Bộ Tân, Khổng Qua đã ngã xuống và 5 vạn quân sĩ cũng đã hy sinh hết, Phạm Thị Uyển đánh mở đường máu ra bờ sông Hồng. Khi đến bờ sông, con ngựa trắng của cung phi tung vó bay lên không trung rồi sau đó cả người và ngựa rơi xuống dòng sông, nước sông Hồng chảy xiết đã đưa nàng về với tổ tiên Trưng Trắc Vương, Trưng Nhị Vương, Nhụy Kiều Tướng quân và bao nhiêu anh hùng liệt sĩ khác đã hy sinh vì nước.
Sau khi đạo quân của Cung Phi Phạm Thị Uyển bị tiêu diệt, Dương Tư Húc tiến đánh thành Tống Bình. Chỉ buổi chiều hôm đó, Quân Đường phá được cổng thành. Thành Tống Bình thất thủ. 2 vạn quân Việt hy sinh trong đó có cả Đại tướng hoàng tử Mai Bảo Sơn. Dương Tư Húc hầu như đã tiêu diệt được những đạo quân chủ lực của chính quyền Mai Hắc Đế ở miền Bắc. Nhưng Dương Tư Húc vô cùng kinh hãi và khâm phục tinh thần chiến đấu dũng cảm bất khuất của người Việt. Hắn thị uy dọa dẫm người Việt bằng cách bóc da đầu da mặt tù binh rồi mới giết chết. Hắn đem thi hài các chiến sĩ Việt chôn chung, đắp mộ tập thể cao lên và đặt bia đá gọi là ”Kình quán”.
Chiếm được thành Tống Bình và Giao Châu nhưng chỉ qua hai trận đánh lớn ở Hồng Châu và Tống Bình, Dương Tư Húc đã mất 8 vạn quân, chỉ còn 7 vạn quân nữa phải chia ra trấn trị đàn áp các nơi, vậy là còn 3 vạn bộ binh và 5 vạn thủy binh của Quang Sở Khách để tấn công Vạn An. Dương Tư Húc cho người về Trường An xin thêm viện binh. Tuy nhiên, không bỏ lỡ thời cơ, Dương Tư Húc không chờ viện binh sang mà đem 3 vạn quân tiến vào Diễn Châu. Dọc đường, Dương Tư Húc sáp nhập thêm đạo quân người Hoa 2 vạn người trên đất Việt do viên quan bị lưu đày tại đây là Chi Nễ chiêu mộ để hỗ trợ cho Dương Tư Húc theo chỉ dụ của Đường Huyền Tông. Đến Ái Châu, Dương Tư Húc sai tùy tướng là Tiết Bá đem 2 vạn quân đánh thành Tư Phố. Còn Dương Tư Húc tiến thẳng vào Diễn Châu. Quân Đường hầu như không gặp một sự kháng cự nào bên phía triều đình Vạn An. Đến Diễn Châu, Dương Tư Húc hợp với 5 vạn thủy quân của Quang Sở Khách, tổng cộng được 8 vạn quân tấn công thành Vạn An.
Còn cách thành Vạn An khoảng 1 dặm, Dương Tư Húc đã thấy khoảng 5 vạn quân Việt dàn trận, cờ vàng bay phấp phới. Trước hàng quân có nhiều tướng soái cưỡi ngựa, áo chiến bào nâu, áo giáp đồng, đội mũ đâu mâu đồng, cầm nhiều loại vũ khí khác nhau như gươm, đại đao, búa...lưng mang cung tên. Đứng giữa các tướng Việt là một người cao lớn, oai phong lẫm liệt, mặc áo chiến bào vàng, áo giáp đồng, mũ đâu mâu màu vang, tay cầm đại đao, cưỡi con ngựa màu nâu khỏe mạnh, trên đầu có lá cờ màu vàng viết chữ đen ”Mai Hắc Đế”. Dương Tư Húc cho dàn trận rồi quát:
-Có ai ra bắt bọn phản tặc cho ta? -Có mạt tướng .
Nói xong, trong hàng quân Đường một tướng cưỡi ngựa đen múa đại đao xông ra. Mọi người nhìn ra thì đó là tùy tướng Võ Tuyên. Bên quân Việt, tướng Mao Hoành cưỡi ngựa xám múa đôi song búa xông ra, miệng thét:
-Bọn giặc Đường phải đền tội này.
Hai người hai ngựa xáp nhau, búa chạm đại đao tóe lửa, chỉ được 20 hiệp tướng nhà Đường Võ Tuyên bị Mao Hoành chém một búa vào mặt ngã lăn xuống đất.
Lập tức, Mai Hắc Để chỉ gươm về phía trước, 5 vạn quân Việt xông lên giáp chiến với 8 vạn quân Đường. Tiếng thanh la, tiếng trống, tiếng tù và, tiếng quân reo hò vang động cả một vùng trời Diễn Châu. Trời đất như tối sầm, tiếng binh khí chạm nhau khô khốc rùng rợn, đầu rơi, thây đổ, máu tuôn như nước, thây chất thành núi. 5 vạn quân Việt phải đương đầu với 8 vạn quân Đường, nhưng quân Việt tỏ ra là những chiến binh sắt đá, không hề nao núng, vẫn lăn xả vào chém giết quân thù. Quân Đường cậy thế đông, định tuồn ra hai cánh tả hữu vây bọc quân Việt vào giữa để tiêu diệt. Mai Hắc Đế thấy tình thế bất lợi liền khua trống thu quân. Quân Việt mở đướng máu, hộ giá Mai Hắc Đế rút vào thành Vạn An. Quân Đường đuổi ráo riết và bao vây hai mặt thành, phía Nam chúng dùng thủy binh bao vây trên sông Lam, phía Đông là bộ binh, phía Tây và phía Bắc thành bị núi án ngữ và quân Việt chốt chặt nên chúng không bao vây được. Tại trận đánh này quân Đường mất thêm 3 vạn, phía quân Việt 2 vạn chiến sĩ đã hy sinh.
Bao vây thành Vạn An nhưng Dương Tư Húc không tấn công ngay mà mục đích bao vây là cắt đứt mọi nguồn tiếp tế lương thực từ bên ngoài vào thành, thứ nữa là chờ viện binh của quân đường từ Trung Quốc tới, khi đó với quân số áp đảo, hắn sẽ dùng chiến thuật biển người mà tấn công. Dương Tư Húc biết rằng hắn đang ở thế chủ động, thế công, còn Mai Hắc Đế đang ở thế bị động, thế phòng thủ. Thời gian càng làm cho khó khăn của quân Việt chồng chất, không thể khắc phục được và cuối cùng sẽ thất bại. Một mặt cấm vận lương thực thành Vạn An, mặt khác, Dương Tư Húc ra lệnh cho quân đội ngày đêm cướp bóc, vơ vét lương thực, thực phẩm của dân Việt khắp Diễn Châu để nuôi quân đội Đường, để dân chúng không còn mà cung cấp cho Vạn An. Tên hoạn quan này đã học được cách lấy chiến tranh nuôi chiến tranh của cha ông hắn từ xưa trên đất Việt.
Trong thành Vạn An, tình hình triều đình và quân đội ngày càng khó khăn. Trước hết là thiếu lương thực, thực phẩm. Lương thực do quân đội sản xuất ra và dự trữ đã hết, thứ nữa là thuốc men không có để chạy chữa cho các tướng sĩ và quân lính bị thương. Bản thân Mai Hắc Đế cũng lâm bệnh và đột ngột qua đời ngày 13 tháng 1 năm Quý Hợi (723) càng làm cho tình hình thêm bi đát. Trước tình hình đó, Thái sư Phòng Hậu và Hoàng hậu Đinh Ngọc Tô bàn bạc và quyết định rút quân đội và triều đình vào căn cứ Hùng Sơn. Tại Hùng Sơn, triều đình, tướng lĩnh và quân đội lặng lẽ mai táng cho Mai Hắc Đế trong sự đau đớn thương tiếc tuột độ của mọi người, tiếp đến là mai táng cho các tướng lĩnh và các chiến sĩ bị thương mà không qua khỏi. Vì Hoàng thái tử Mai Bảo Sơn đã hy sinh ở thành Tống Bình nên Thái sư Phòng Hậu và Hoàng hậu Đinh Ngọc Tô cùng triều đình đưa Mai Thúc Huy (hoàng tử út) lên ngôi, đế hiệu là Mai Thiếu Đế. Đó là tháng 9 năm Quý Hợi 723.
Sau khi được Đường Huyền Tông cử thêm 10 vạn viện binh sang, Dương Tư Húc ra lệnh mở cuộc tấn công mạnh vào thành Vạn An. Cuộc chiến đấu bảo vệ thành của quân Việt hầu như không đáng kể. Quân Đường nhanh chóng phá cổng thành tràn vào nhưng đó là một thành trì, một kinh đô trống rỗng. Qua dò hỏi, Dương Tư Húc biết được Mai Hắc Đế đã mất, Mai Thiếu Đế kế vị đã cùng triều đình rút vào căn cứ Hùng Sơn. Dương Tư Húc ra lệnh tấn công vào Hùng Sơn. 5000 quân Việt đã anh dũng chiến đấu đến người cuối cùng để bảo vệ triều đình và Mai Thiếu Đế. Gần như toàn bộ triều đình, kể cả hoàng hậu Đinh Ngọc Tô, vua Mai Thiếu Đế, các đại thần, các tướng lĩnh cũng đã cầm gươm chiến đấu giết giặc và hy sinh oanh liệt trong căn cứ Hùng Sơn.
Lại nói công chúa Ngọc Chân, hoàng tử Mai Kỳ Sơn, khi được lệnh của cung phi Phạm Thị Uyển rời khỏi mặt trận Tống Bình, đem theo 1 vạn quân, hai người không đi về Diễn Châu mà lại bí mật về căn cứ của hai người ở Hồng Châu. Tháng 10 năm Quý Hợi 723, được thám mã về báo Mai Hắc Đế đã mất, thành Vạn An thất thủ, hoàng Hậu Đinh Ngọc Tô, vua Mai Thiếu Đế và toàn bộ triều đình, quân đội đã hy sinh ở căn cứ Hùng Sơn. Được tin, công chúa, hoàng tử và bách tính vô cùng thương xót, căm thù giặc. Bách tính ở căn cứ Điều Yêu (An Hải, Lục Châu) tôn phò Mai Kỳ Sơn lên ngôi, đế hiệu là Bạch Đầu Đế (vì vua thương xót phụ hoàng, phụ mẫu và các anh em, tóc trở nên bạc trắng như cước). Hai chị em tiếp tục kháng chiến chống giặc Đường. Trong một trận đánh quyết chiến với giặc, vua Bạch Đầu Đế bị trúng tên độc mà hy sinh. Công chúa Ngọc Chân cũng quyên sinh trên một dòng sông ở miền biển Đông Bắc. Đó là tháng 11 năm Quý hợi 723.
Trong thời gian từ 712 đến 723 là thời gian trị vì của Đường Huỵền Tông (712-756), là thời gian hưng thịnh hùng mạnh nhất của nhà Đường, mà triều Đường lại là triều đại hưng thịnh nhất trong số các triều đại phong kiến Trung Quốc.Trong hoàn cảnh như vậy mà Mai Thúc Loan khởi nghĩa, đã giành thắng lợi, giành độc lập cho đất nước được 10 năm trời, xây dựng một triều đại xưng đế, độc lập đàng hoàng thì đó là một kỳ tích, một chiến công hiển hách. Hàng vạn chiến sĩ và tướng lĩnh đã không tiếc thân mình, hy sinh cho sự nghiệp vĩ đại là độc lập dân tộc, cả gia đình Mai Hắc Đế đã không chút đắn đo, suy tính đều hy sinh anh dũng cho sự nghiệp vĩ đại ấy: Mai Hắc Đế, hoàng hậu Đinh Ngọc Tô, cung phi Phạm Thị Uyển, công chúa Ngọc Chân Mai Thị Câu, Mai Thiếu Đế, Bạch Đầu Đế và hoàng Thái tử Mai Bảo Sơn.
Gia đình và triều đại Mai Hắc Đế đã để lại những trang sử vàng bất tử, những tên người bất tử trong lòng dân tộc Việt Nam.