I
Năm 1925, Phan Bội Châu, nhà cách mạng Việt Nam nổi tiếng bị thực dân Pháp bắt ở Thượng Hải, Trung Quốc và bị đưa về xử ở Hà Nội. Tòa Đề hình xử cụ Phan Phan Bội Châu tử hình, do phong trào đấu tranh sôi sục rầm rộ của nhân dân Việt Nam suốt ba kỳ, Pháp giảm án xuống chung thân và sau đó đành phải giảm xuống án treo và đưa về giam lỏng ở Huế. Từ đó Phan Bội Châu trở thành “ Ông già Bến Ngự”.
Tại dốc Bến Ngự có ba gian nhà gianh là nơi Phan Bội Châu ăn ở, sáng tác, dạy học trò, tiếp đón bạn hữu xa gần tới thăm. Dốc Bến Ngự nằm bên bờ tả của sông An Cựu. Thẳng dòng sông An Cựu thì ra được sông Hương. Để đỡ cô liêu, Phan Bội Châu đã mua một con đò và có khi thuê người, có khi tự mình chèo chống, Phan Bội Châu thả hồn theo sông nước sông An Cựu, sông Hương mênh mông tươi đẹp. Phan Bội Châu hòa mình với thiên nhiên để cho lòng bớt diệu vợi, dồn tâm trí vào trước tác.
Một buổi sáng tháng mười năm 1928, có một người đàn ông khoảng gần 30 tuổi, đầu chít khăn đen, áo dài đen, quần trắng, đi giầy đen thuê đò sang dốc Bến Ngự. Sau khi trả tiền đò để lên bờ, người đó hỏi người lái đò:
-Phiền cụ, đây có phải là nhà của “Ông già Bến Ngự” Phan Bội Châu không ạ?
Ông già lái đò đáp:
-Phải, đó là nhà của Phan Sào Nam tiên sinh. Nhưng cậu là…?
-Dạ, tôi muốn gặp Phan tiên sinh để mượn vài cuốn sách. Đa tạ cụ, đa tạ...
-Không dám, không dám.
Người lái đò đẩy sào cho đò rời bến sau khi người khách đã lên bờ. Bạn bè thân hữu, học trò, sinh viên đến gặp Phan tiên sinh nhiều cho nên chuyện đó cũng không có gì là lạ. Con mắt cú vọ của mật thám Pháp vẫn bám sát cụ Phan nhưng không ngăn cản được khách khứa đến thăm ngày càng đông đúc. Khi không cần thiết, thực dân Pháp cũng cố làm ra vẻ tôn trọng “Nhân quyền”.
May quá, sớm nay trời se lạnh, sương mù trắng xóa cho nên Phan Bội Châu ở nhà, không đi dạo đò trên sông Hương. Thấy có khách bước vào cái sân nhỏ trước nhà, Phan Bội Châu bước ra. Người thanh niên nhìn thấy Phan Bội Châu là một ông già râu dài, gương mặt điềm đạm, dịu hiền, người thẳng, áo dài đen, mũ dạ, đôi mắt sáng, khuôn mặt cương nghị phong trần của phong sương đời cách mạng bôn ba 20 năm từ Nhật Bản đến Trung Hoa mà mới ba năm làm “Cư sĩ” cũng chưa thể xóa nhòa được. Phan Bội Châu còn đang ngạc nhiên vì khách không phải là người quen thì người thanh niên đã cúi mình hành lễ:
-Xin kính chào Phan Sào Nam tiên sinh. Tại hạ là Đặng Đình Điền, người của Đảng Việt Nam Quốc Dân Đảng, nói rõ hơn là người của Chủ tịch đảng Nguyễn Thái Học.
Nghe đến Nguyễn Thái Học thì Phan Bội Châu không ngạc nhiên nữa. Tháng trước, bạn bè thân hữu đến đây đã nói tin về Nguyễn Thái Học, một sinh viên trẻ tuổi yêu nước đã đứng ra thành lập Việt Nam Quốc Dân Đảng để đánh đổ thực dân Pháp, giành độc lập dân tộc bằng phươg pháp bạo động vũ trang. Nghĩ tới đó Phan Bội Châu mĩm cười:
-Xin chào, khách quý, khách quý, hân hạnh, xin mời ngài vào nhà.
Đặng Đình Điền cúi mình đáp:
-Đa tạ, đa tạ Phan tiên sinh.
Đặng Đình Điền bước vào ngôi nhà mái lợp gianh, rộng ba gian. Vách trát bằng bùn nhào với rơm trát vào phên tre, đòn tay kèo cột bằng tre. Gian giữa sát tường đặt bàn thờ có bài vị sơn son, có ba bát hương bằng sứ và ba lư hương đồng màu đã cũ. Trên cao hơn treo ảnh Tôn Trung Sơn, lãnh tụ Trung Quốc Cách mạng Đồng minh hội, sau này là Trung Hoa Quốc Dân Đảng. Tôn Trung Sơn là người đã dùng vũ lực lật đổ chế độ phong kiến Mãn Thanh năm 1911, đưa Trung Quốc từ chế độ quân chủ sang chế độ Trung Hoa cộng hòa Dân quốc hiện nay. Trước bàn thờ kê chiếc bàn gỗ đơn sơ, hai bên kê hai chiếc ghế tràng kỷ màu gụ nhưng cũng đơn sơ. Hai gian còn lại hai bên kê hai chiếc giường thụt vào sát tường bên trong. Trên bàn bừa bộn những sách, cũng bừa bộn những bản thảo mà Phan Bội Châu đang viết. Đặng Đình Điền chợt trông thấy một bìa cuốn sách dầy lộ ra là cuốn "Chu dịch”. Góc vách giáp sân bên tả có một lối ra vào, chắc là lối đi xuống bếp. Phan Bội Châu rót nước ra hai chén và nói:
-Mời Đặng tiên sinh uống nước. Lão phu vừa mới pha còn nóng.
-Đa tạ, đa tạ Phan tiên sinh.
Trong khi Đặng Đình Điền uống nước thì Phan Bội Châu gọi:
-Học trò đâu.
Một cậu thiếu niên khoảng 15-16 tuổi từ dưới bếp chạy lên khoanh tay:
-Dạ, thầy gọi con.
-Chào khách đi, đây là Đặng tiên sinh từ Hà Nội vào.
Người thiếu niên khoanh tay cúi đầu:
-Dạ, học trò chào Đặng tiên sinh.
Đặng Đình Điền đáp lễ:
-Xin chào, đa tạ, đa tạ.
Phan Bội Châu nói:
-Hôm nay nhà ta có khách quý, con nấu ba suất cơm, nấu cho ngon vào, mua thêm chai rượu nữa.
-Dạ, con vâng lời thầy.
Sau bữa cơm, trưa chủ khách nghỉ ngơi, khoảng 1 giờ Phan Bội Châu và Đặng Đình Điền vừa uống trà vừa đàm đạo. Cây lá trong vườn quanh nhà khua xào xạc, gió se lạnh từ sông An Cựu, từ sông Hương lùa vào Bến Ngự hoang vắng cô liêu. Phan Bội Châu hỏi:
-Đặng tiên sinh biết nhiều về Nguyễn Thái Học không, kể lão phu nghe nào. Danh tiếng vị lãnh tụ trẻ tuổi này tôi nghe mấy năm nay nhưng chưa biết nhiều.
Đặng Đình Điền uống xong chén nước và nói:
-Dạ, thưa Phan tiên sinh, anh Nguyễn Thái Học sinh năm 1902 tại làng Thổ Tang, phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên. Cha là cụ Nguyễn Văn Hách, mẹ là cụ Nguyễn Thị Quỳnh. Gia đình sống bằng nghề nông, nghề dệt vải và buôn bán vải. Năm 10 tuổi, Nguyễn Thái Học đi học chữ Hán, năm 11 tuổi đi học chương trình tiểu học Pháp-Việt tại thị xã Vĩnh Yên. Năm 19 tuổi, Nguyễn Thái Học thi đậu vào trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội, nhận học bổng của Chính phủ bảo hộ Pháp. Sau khi tốt nghiệp trường này, anh thi vào trường Cao đẳng Thương mại thuộc Đại học Đông Dương học từ năm 1925 đến năm 1927.
Đặng Đình Điền dừng lại uống nước và nói tiếp:
-Anh là người có tinh thần yêu nước từ thời thiếu niên do chứng kiến và nghe về những tấm gương chống Pháp của phong trào Cần Vương, phong trào nông dân Yên Thế của cụ Hoàng Hoa Thám, của Đội Cấn, của phong trào Đông du của Phan tiên sinh. Trong khi đi học, anh không khuất phục nền giáo dục của Pháp, giáo dục để biến dân ta thành nô lệ. Nguyễn Thái Học sớm có tư tưởng dùng vũ lực vũ trang để lật đổ nền bảo hộ của Pháp. Anh thường nói không có cách mạng hòa bình. Trong khi Pháp dùng võ lực thống trị nước ta thì phải dùng võ lực lật đổ chúng. Anh say mê con đường vũ trang bạo động vũ trang với tư tưởng “Sát thân thành nhân”, “Không thành công cũng thành nhân”.
Trong thời gian học ở Cao đẳng Thương mại, Nguyễn Thái Học tham gia thành lập nhóm “Nam Đồng Thư Xã”, tiếp xúc với một số sinh viên cùng chí hướng như Phó Đức Chính, lúc này là sinh viên trường Cao đẳng Công chánh, Hồ Văn Mịch, sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm. Cũng trong thời gian ở Cao đẳng Thương mại, Nguyễn Thái Học đã gửi thư cho Toàn quyền Đông Dương Va ren, kêu gọi chính quyền bảo hộ Pháp hãy tiến hành những cải cách tiến bộ ở Đông Dương như ông ta đã hứa khi mới sang nhận chức. Anh cũng gửi thư cho Quốc hội Pháp đòi cải cách kinh tế, chính trị, xã hội ở Việt Nam. Nhưng Toàn quyền Đông Dương và Quốc hội Pháp im lặng đã làm cho Nguyễn Thái Học và các cộng sự thất vọng và càng củng cố quyết tâm con đường duy nhất để giành độc lập dân tộc là con đường bạo động vũ trang. Vũ trang bạo động để đánh đổ thực dân Pháp, đánh đổ phong kiến tay sai, thiết lập chế độ cộng hòa dân chủ trên toàn cõi Đông Dương.
Tháng Mười năm 1927, Nguyễn Thái Học cùng một số đồng chí như Hồ Văn Mịch, Phó Đức Chính, Lê Văn Phúc, Hoàng Văn Tùng, Hoàng Phượng Trân (Nhượng Tống) thành lập chi bộ đầu tiên của Việt Nam Quốc Dân Đảng, lấy tên là chi bộ Nam Đồng Thư Xã do Nguyễn Thái Học làm chi hội trưởng. Dự cuộc họp này có 10 người.
Chi bộ Nam Đồng Thư Xã tích cực vận động tuyên truyền thu hút đảng viên, cho nên trong một thời gian ngắn đã có 18 chi bộ ở 4 tỉnh Bắc Kỳ và Trung Kỳ với 200 đảng viên. Trụ sở của Nam Đồng Thư Xã ở nhà số 6, đường 96 khu Nam Đồng (nay là đường Trúc Bạch) do Phạm Tuấn Tài, Phạm Tuấn Lâm, Nhượng Tống phụ trách. Hoạt động của Nam Đồng Thư Xã giống như Đông Kinh Nghĩa Thục trước đó, xuất bản, trước tác, dịch thuật những sách cổ vũ lòng yêu nước như "Cách mạng Trung Hoa", "Lịch sử Tôn Dật Tiên”, “chủ nghĩa Tam dân”. Tới Nam Đồng Thư Xã còn có Phó Đức chính, Lưu Văn Phùng. Họ thường bàn về chính trị trong và ngoài nước.
Tháng 12 năm 1927, Nguyễn Thái Học triệu tập cuộc họp của chi bộ Nam Đồng Thư Xã ở làng Thể Giao, Hà Nội và tuyên bố thành lập Việt Nam Quốc dân Đảng với mục đích là dùng vũ lực lật đổ nền bảo hộ của Pháp và chế độ phong kiến, thành lập nước Việt Nam độc lập với thiết chế cộng hòa dân chủ, giúp đỡ các dân tộc bị nước ngoài thống trị đấu tranh giải phóng dân tộc, đặc biệt đối với Lào và Cao Miên. Đại hội đã bàn về điều lệ Đảng, bầu ra Tổng Bộ lâm thời. Đại hội đã bầu Nguyễn Thái Học làm Chủ tịch Đảng, Nguyễn Thế Nghiệp làm Phó chủ tịch. Đại hội cũng bầu ra các Ủy Ban giúp cho Tổng Bộ về mặt chuyên môn: Ủy Ban Tổ chức do Phó Đức Chính làm Trưởng Ban, Ủy Ban Tuyên truyền do Nhượng Tống làm Trưởng Ban, Ủy Ban đối ngoại do Hồ Văn Mịch làm Trưởng Ban, Nguyễn Ngọc Sơn làm Phó Trưởng Ban, Ủy Ban Tài chính do Đặng Đình Điền làm Trưởng Ban, Ủy Ban ám sát do Nguyễn Văn Nho làm Trường Ban, Hoàng Văn Tùng là Phó Trưởng Ban, Ủy Ban Trinh sát do Phạm Tiềm làm Trưởng Ban.
Phan Bội Châu hỏi:
-Sao không có Ủy Ban binh vụ?
Đặng Đình Điền đáp:
-Dạ thưa tiên sinh, Ủy ban này chưa có vì chưa tìm được ai giỏi quân sự.
Phan Bội Châu nói:
-Đảng muốn dùng vũ lực lật đổ thực dân Pháp thì phải có Ban Binh vụ để chuẩn bị lực lượng, chuẩn bị vũ khí, súng ống, đạn dược. Ban này là vô cùng cần thiết.
-Dạ, Phan tiên sinh dạy phải lắm, học trò sẽ về nói với Nguyễn Thái Học chọn người lập ngay. Đại hội còn bàn về Cương lĩnh tổng quát của Đảng, đại lược cũng giống như chủ nghĩa Tam dân của ngài Tôn Trung Sơn.
Đặng Đình Điền dừng lại uống nước. Phan Bội Châu hỏi:
-Còn người trong Tổng Bộ, anh còn biết ai nữa không, như Nguyễn Thế Nghiệp, Phó Đức Chính?
Đặng Đình Điền đáp:
-Dạ, thưa Phan tiên sinh, Phó Đức Chính là một trong những người sáng lập Việt Nam Quốc Dân Đảng. Anh sinh năm 1907 trong một gia đình Nho học. Quê anh ở làng Đa Ngưu, xã Tân Tiến, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Bố là Phó Duy Chấn. Cụ Chấn có tới bốn người con: Phó Đức Chỉ là con cả, tiếp là Phó Đức Ước, Phó Thị Quy và út là Phó Đức chính. Tháng 12 năm 1927, Phó Đức Chính tham gia thành lập Việt Nam Quốc Dân Đảng, Trưởng Ban Tổ chức của Đảng. Sau khi tốt nghiệp trường Cao Đẳng Công Chánh, anh Chính được bổ nhiệm sang Lào làm việc. Ngày 9 tháng 12 năm 1928, Phó Đức Chính là Phó Chủ tịch Đảng.
Phan Bội Châu lại hỏi:
-Ạnh có biết nhiều về ngài Phạm Tuấn Tài không?
Đặng Đình Điền đáp:
-Dạ thưa tiên sinh, anh Phạm Tuấn Tài sinh năm 1905, quê quán ở Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Năm 1926, Phạm Tuấn Tài cùng anh là Phạm Tuấn Lâm thành lập Nam Đồng Thư Xã, chuyên xuất bản các sách tuyên truyền chủ nghĩa yêu nước như “Gương thiếu niên”, “Gương phục quốc”, “Gương thành bại”, “Trưng Nữ Vươg diễn nghĩa”, “Trung Quốc cách mạng”, sách dịch của Tôn Trung Sơn. Cho nên Nam Đồng Thư Xã là nơi hội tụ những sinh viên yêu nước. Phạm Tuấn Tài là một trong những yếu nhân sáng lập ra Việt Nam Quốc Dân Đảng. Như vậy, Nam Đồng Thư Xã là tiền thân của Việt Nam Quốc Dân Đảng.
Ngừng một lát Phan Bội Châu hỏi:
-Anh từ Hà Nội xa xôi vào đây, Chủ tịch Nguyễn Thái Học có nhắn nhủ gì lão phu không?
Đặng Đình Điền nghe hỏi mừng rỡ trình bày vào việc chính:
-Dạ, Phan tiên sinh là một nhà cách mạng tiền bối tăm tiếng lừng lẫy, thế hệ hậu sinh như học trò vô cùng kính phục, quý mến. Anh Nguyễn Thái Học có nhờ học trò gửi lời thăm sức khỏe đến Phan tiên sinh và nhờ Phan tiên sinh ba việc...
Phan Bội Châu nói:
-Đa tạ, đa tạ. Anh về nói với Nguyễn Thái Học lão phu gửi lời cảm tạ. Lão phu cả đời bôn ba vì nước nhưng trăm việc thì thất bại cả trăm, có gì giúp được cho hậu thế các anh, lão phu sẽ hết sức. Anh nói có ba việc gì vậy?
-Dạ thứ nhất, kính mời Phan tiên sinh làm Chủ tịch danh dự của Đảng Việt Nam Quốc Dân Đảng. Thứ hai, hiện nay ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ có nhiều tổ chức yêu nước, nhiều đảng phái nhưng có chung một mục đích cuối cùng là giành độc lập tự do cho đất nước. Nhờ Phan tiên sinh đem uy tín của mình tác động để Việt Nam Quốc Dân Đảng có thể thống nhất với các tổ chức, các đảng phái đó thì sức mạnh sẽ tăng lên hơn là hoạt động riêng rẽ. Thứ ba, cũng nhờ Phan tiên sinh dùng uy tín của mình mở ra mối liên lạc giữa Việt Nam Quốc Dân Đảng với các chính khách, các đảng phái nước ngoài, như các ngài Khuyển Dưỡng Nghị, Cung Kỳ Di Tàng ở Nhật Bản, đặc biệt là với Tưởng Giới Thạch, Uông Tinh Vệ ở Trung Hoa thì Việt Nam Quốc Dân Đảng sẽ tăng thêm uy tín và sức mạnh.
Phan Bội Châu uống thêm một chén nước rồi gật gù:
-Đa tạ, đa tạ đã tin tưởng lão phu. Cả ba việc mà Chủ tịch Nguyễn Thái Học đề đạt lão phu xin nhận. Lão phu sẽ là chủ tịch danh dự của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Về việc đối ngoại, lão phu sẽ viết thư cho các vị ấy nhưng kết quả xa vời quá, không chắc chắn có hiệu quả gì. Còn việc hợp nhất giữa Việt Nam Quốc Dân Đảng với các tổ chức yêu nước, tuy cùng một mục đích giành độc lập dân tộc nhưng hệ tư tưởng, cương lĩnh khác nhau đã là khó rồi. Chỉ có một tổ chức có thể hợp nhất với Việt Nam Quốc Dân Đảng được.
Đặng Đình Điền sốt ruột hỏi:
-Da thưa Phan tiên sinh, tổ chức nào ạ, ai là Chủ tịch ạ?
-Đó là Hội Việt Nam Dân Quốc do Nguyễn Khắc Nhu sáng lập và lãnh đạo. Hội này cũng có tư tưởng dùng vũ lực võ trang để lật đổ chế độ bảo hộ của Pháp, thành lập nền cộng hòa dân chủ.
-Xin tiên sinh nói rõ hơn ạ.
-Nguyễn Khắc Nhu sinh năm 1882, quê quán ở làng Song Khê, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang trong một gia đình Nho học. Năm 13 tuổi, Nguyễn Khắc Nhu mồ côi cha nhưng vẫn vượt mọi khó khăn theo con đường khoa cử. Năm 1913, lúc anh 31 tuổi thi khảo hạch để thi hương, được xếp thứ nhất cả trấn Kinh Bắc nên người ta gọi là Đầu Xứ Nhu hay Xứ Nhu. Năm 1903, khi lão phu lên Yên Thế thăm Hoàng Hoa Thám, chính Nguyễn Khắc Nhu đã dẫn đường cùng lên hội kiến với "Hùm thiêng Yên Thế”. Sau đó Xứ Nhu dạy học ở quê nhà. Năm 1904, khi lão phu khởi xướng phong trào Đông Du, Nguyễn Khắc Nhu đã cùng 17 thanh niên yêu nước tham gia. Sau khi phong trào Đông Du thất bại, Nguyễn Khắc Nhu có sang Trung Quốc tìm lão phu nhưng rất tiếc không gặp nên lại trở về Việt Nam. Từ năm 1908 đến năm 1922 làm Tổng sứ ở Thịnh Liệt, sau lại sang Lạc Gián Hà Nội, rất quan tâm tìm người cùng chí hướng để làm cách mạng. Sau năm 1922, Xứ Nhu về làm thầy thuốc ở quê nhà, có hô hào thực hiện một số cải cách ở thôn quê như loại bỏ các hủ tục, viết bài cho các báo. Năm 1926, khi biết lão phu về Bến Ngự, Nguyễn Khắc Nhu có liên hệ và đã thành lập Hội Quốc Dân dục tài ở Hà Nội, mô hình như kiểu Đông Kinh Nghĩa Thục nhưng không được phép hoạt động. Đầu năm 1927, Nguyễn Khắc Nhu thành lập Hội Việt Nam Quốc Dân, cương lĩnh và mục đích gần giống với Việt Nam Quốc Dân Đảng của các anh, cũng dùng vũ trang để lật đổ nền bảo hộ của Pháp, giành độc lập, dân chủ, tự do cho Việt Nam. Cho nên Việt Nam Quốc Dân Đảng có thể hợp nhất với hội này để thêm sức mạnh.
Đặng Đình Điền nói:
-Vậy thì tốt quá, mong tiên sinh làm trung gian cho hai tổ chức hợp nhất.
Phan Bội Châu nói:
-Để tôi viết thư cho Nguyễn Thái Học và Nguyễn Khắc Nhu, nhờ anh chuyển hai bức thư cho hai người.
-Dạ, đa tạ, đa tạ tiên sinh đã giúp đỡ.
Ăn cơm xong, trong khi Đặng Đình Điền ngồi uống trà và xem những đầu sách mà Phan Bội Châu là tác giả chồng chất trên bàn thì Phan Bội Châu ngồi viết thư dưới ngọn đèn dầu vàng khè leo lét. Canh giờ sau, Phan Bội Châu đưa cho Đặng Đình Điền hai phong thư và nói:
-Bức thư này lão phu gửi cho Chủ tịch Đảng Nguyễn Thái Học, còn lá thư này gửi cho Nguyễn Khắc Nhu để hai bên làm quen với nhau mà hợp nhất. Đây là hai lá thư tối mật không thể làm mất hay làm rơi, không thể để lọt vào tay Pháp.
-Đa tạ tiên sinh, tiên sinh yên tâm.
Rồi Đặng Đình Điền cho hai lá thư vào chiếc áo sẽ mặc bên trong, có hai lần vải và khâu vào: -Sớm mai học trò sẽ mặc cái áo này vào trong. Cũng may nay là mùa đông có thể mặc nhiều áo.
Sớm hôm sau, ăn sáng xong, 7 giờ Đặng Đình Điền từ biệt Phan Bội Châu. Đặng Đình Điền vòng tay cúi chào và nói:
-Đa tạ Phan tiên sinh, xin cáo biệt, kính chúc ngài khỏe mạnh, hẹn ngày hội ngộ.
Phan Bội Châu bỗng trở nên buồn bã và nói:
-Xin cáo biệt, chúc thượng lộ bình an.
-Dạ, đa tạ, đa tạ Phan tiên sinh.
Đặng Đình Điền bước xuống con đò, đò rời khỏi Bến Ngự. Trên dốc Bến Ngự, Phan Bội Châu đứng nhìn theo. Gió lạnh se sắt, sương trắng rải miên man trên sông An Cựu và trên sông Hương. Xa xa núi Ngự Bình mờ nhạt màu xanh. Đặng Đình Điền ngó lại thấy bóng Phan Bội Châu mờ dần trên Bến Ngự cô liêu xa vắng, lòng anh thấy nao nao một nỗi buồn không rõ nguồn cơn.
II
Hà Nội, mùa đông gió lạnh thổi rét như cắt, gió lung lay cành lá những cây cổ thụ xà cừ, sấu và những cây bàng, cây phượng. Gió làm lá vàng trút xuống khỏi cành rơi lả tả trên đường phố. Phố phường nhà cao, nhà thấp chìm trong gió. Hồ Trúc Bạch và Hồ Tây vắng người, vài con thuyền đánh cá trôi như những mái lều nhỏ nhoi nghèo nàn trên mặt nước. Trên đường phố, những chiếc xe hai bánh chở khách do phu xe kéo chạy nặng nề, những chiếc ô tô của Pháp đưa các quan chức đến công sở làm lá khô, cát bụi cuốn theo xe tung mù mịt.
Ngôi nhà hai tầng trên phố Trúc Bạch, trụ sở của Nam Đồng Thư Xã, cũng là trụ sở bí mật của Tổng Bộ Việt Nam Quốc Dân Đảng chìm trong cây lá. Đặng Đình Điền từ Huế về và đến trụ sở sớm để chuyển hai lá thư của Phan Bội Châu cho Nguyễn Thái Học. Canh giờ sau, khi Đặng Đình Điền đang uống trà thì cửa mở, Nguyễn Thái Học bước vào, đó là một thanh niên hơi cao, khỏe mạnh, dáng mạnh mẽ, uy nghi và đẹp với khuôn mặt vuông, đôi mắt sáng. Đặng Đình Điền vội đứng dậy:
-Xin chào Chủ tịch.
Nguyễn Thái Học bắt tay Đặng Đình Điền và hỏi:
-Anh về khi nào, có gặp được Phan tiên sinh không? Cụ có khỏe không?
Đặng Đình Điền rút hai bức thư trong áo và đáp:
-Phan tiên sinh khỏe, cụ gửi lời thăm sức khỏe anh và các anh trong Đảng. Đây là hai lá thư Phan tiên sinh gửi cho anh và cho Nguyễn Khắc Nhu, Chủ tịch Hội Quốc Dân Việt Nam.
Nguyễn Thái Học vội bóc bức thư có tên mình ra đọc. Thư viết: “Trước hết, lão phu gửi lời cảm ơn tới Chủ tịch Đảng, ngài Nguyễn Thái Học còn nhớ tới lão phu mà cử phái viên vào thăm. Lão phu suốt một đời bôn ba khắp Nhật Bản và Trung Hoa mong cứu nước, nhưng hành động của lão phu 100 lần là 100 lần thất bại, nay bị quản thúc, đúng nghĩa là “Ông già Bến Ngự” vui thú với cảnh sông nước của sông Hương và núi Ngự Bình, nhưng lòng vẫn mong lớp hậu thế theo bước trên con đường cứu nước. Vì thế, khi nghe tin Việt Nam Quốc Dân Đảng được thành lập, lão phu thực sự vui mừng. Chúc Tổng Bộ và ngài Chủ tịch mạnh khỏe, chúc Đảng ta vững mạnh và hoàn thành sứ mệnh vẻ vang là giải phóng dân tộc. Có ba việc mà ngài Chủ tịch ngỏ lời. Thứ nhất, lão phu đồng ý nhận là Chủ tịch danh dự của Đảng, lão phu thấy thật là vinh hạnh, sẽ tuân theo mệnh lệnh và nhiệm vụ mà Đảng giao phó. Thứ hai là công tác đối ngoại với những nhân vật Nhật Bản và Trung Hoa Dân Quốc, lão phu sẽ viết thư cho Khuyển Dưỡng Nghị và Tưởng Giới Thạch, kết quả thế nào thì còn phải chờ đợi. Còn việc thứ ba thì ở Việt Nam hiện nay có nhiều tổ chức, nhiều đảng phái yêu nước, nhưng trước hết Đảng ta nên kết hợp với tổ chức Hội Quốc Dân Việt Nam do ngài Nguyễn Khắc Nhu lãnh đạo. Hội này có tư tưởng và Cương lĩnh chính trị là dùng vũ trang bạo động lật đổ nền bảo hộ của Pháp, giành độc lập, tự do, dân chủ cho Việt Nam. Nguyễn Khắc Nhu là người quen của lão phu, là người của phong trào Đông Du trước kia nên có lẽ thuận lợi trong việc kết hợp. Lão phu có gửi cho ngài Nguyễn Khắc Nhu một bức thư. Khi các ngài đến liên hệ nên đem lá thư này đến sẽ thuận lợi. Nay kính thư-Phan Bội Châu”.
Nguyễn Thái Học vừa đọc xong thư thì Phó Đức Chính, Phạm Tuấn Tài, Phạm Tiềm, Hồ Văn Mịch đến. Sau một lượt trà, mọi người đều hỏi thăm Đặng Đình Điền trong chuyến đi Huế. Đặng Đình Điền nói lại như đã nói cho Nguyễn Thái Học nghe. Nguyễn Thái Học nói:
-Mọi việc Phan tiên sinh đã nói rõ trong bức thư này. Anh Chính đọc cho mọi người cùng nghe.
Phó Đức Chính đọc xong thư nói:
-Tốt rồi, Phan tiên sinh nhận lời làm Chủ tịch danh dự của Đảng, tăng thêm uy tín của Đảng. Còn việc hợp nhất với Hội Quốc Dân Việt Nam liệu có khó khăn không? Các anh có biết ngài Nguyễn Khắc Nhu nhiều hơn không? Trong thư Phan tiên sinh chỉ nói ngài Nguyễn Khắc Nhu đã tham gia phong trào Đông Du thôi.
Đặng Đình Điền nói:
-Tôi đã được Phan tiên sinh kể về hoạt động của ngài Nguyễn Khắc Nhu. Tôi kể lại cho các anh nghe thêm.
Mọi người vừa uống trà vừa nghe Đặng Đình Điền kể. Kể xong Đặng Đình Điền nói:
-Hợp nhất hai tổ chức này không khó vì ngài Nguyễn Khắc Nhu có tư tưởng chính trị giống với Cương lĩnh của Đảng ta.
Nguyễn Thái Học hỏi:
-Ngoài Nguyễn Khắc Nhu là Chủ tịch, trong Hội Quốc Dân Việt Nam còn thành viên nào là yếu nhân của hội không? Anh Phạm Tiềm là Trưởng Ban trinh sát, anh có biết không?
Phạm Tiềm đặt chén nước xuống bàn và đáp:
-Thưa anh, trong Hội Quốc Dân Việt Nam ngoài ngài Nguyễn Khắc Nhu, trong ban lãnh đạo còn có hai chị em ruột, cô chị là Nguyễn Thị Giang, cô em là Nguyễn Thị Bắc. Nguyễn Thị Giang sinh năm 1906, cô Nguyễn Thị Bắc sinh năm 1908. Hai chị em quê quán ở thị xã Phủ Lạng Thương, tỉnh Bắc Giang. Bố là cụ Nguyễn Văn Cao đã mất năm 1925. Gia đình đã có người tham gia phong trào Cần Vương. Riêng Cụ Nguyễn Văn Cao đã tham gia Đông Kinh Nghĩa Thục, bị Pháp bắt và đày ra Côn Đảo. Mẹ là bà Nguyễn Thị Lưu. Gia đình có 7 người con cả trai và gái. Gia đình vốn quê ở một làng dệt tỉnh Hà Đông, sau dời lên buôn bán ở nhà số 2, phố Thọ Xương, thị xã Phủ Lạng Thương. Chịu ảnh hưởng truyền thống yêu nước của gia đình, sau khi học xong lớp nhất thì cô Giang và cô Bắc được Nguyễn Khắc Nhu kết nạp vào tổ chức Hội Quốc Dân Việt Nam. Hội này đầu tiên giống Hội Quốc Dân Dục Tài, hoạt động như Đông Kinh Nghĩa Thục, đào tạo nhân tài và bồi dưỡng, khuấy động tinh thần yêu nước cho thanh niên. Đầu năm 1927, ngài Nguyễn Khắc Nhu đổi Hội Quốc Dân Dục Tài thành Hội Quốc Dân Việt Nam. Ngoài đào tạo, tuyên truyền, hội này còn mở xưởng chế tạo vũ khí, lựu đạn, súng ống đạn dược chuẩn bị cho một cuộc khởi nghĩa vũ trang.
Dừng lại uống chén trà xong, Phạm Tiềm nói tiếp:
-Tôi thấy việc sáp nhập sẽ thuận lợi vì thứ nhất có thư của Phan tiên sinh, thứ hai Nguyễn Khắc Nhu cũng đang muốn tìm nhiều đồng chí cùng chí hướng để làm cách mạng, thứ ba và là cơ bản, tư tưởng và hành động của họ giống hệt Cương lĩnh của Đảng ta.
Nguyễn Thái Học nói:
-Vậy thì ta hợp nhất với Hội Quốc Dân Việt Nam để tăng thêm lực lượng, có ai phản đối không?
Tất cả giơ tay đồng ý.
Nguyễn Thái Học nói:
-Trước tiên anh Hồ Văn Mịch, anh Nguyễn Ngọc Sơn là trưởng, phó Ủy ban đối ngoại đi cùng anh Đặng Đình Điền, cầm theo lá thư của Phan tiên sinh đến gặp ngài Nguyễn Khắc Nhu, sau đó mọi việc sẽ tính sau tùy theo quan điểm của Hội Quốc Dân Việt Nam.
Ba người cùng đáp:
-Tuận lệnh Chủ tịch.
Sớm hôm sau, Hồ Văn Mịch, Nguyễn Ngọc Sơn, Đặng Đình Điền cải trang thành những sinh viên đi vào thư viện của hội Quốc Dân Việt Nam để đọc sách. Thấy vắng người, Hồ Văn Mịch nói với người thủ thư:
-Nhờ anh chuyển giúp lá thư quan trọng này của ngài Phan Bội Châu cho ngài Nguyễn Khắc Nhu.
Người thủ thư nhìn chữ viết trên phong bì, nhận ra đúng chữ của Phạn Bội Châu mà anh đã thấy và đọc nhiều, anh nhận thư đi ra và nói:
-Ba ngài chờ chút.
Sau đó theo một hành lang kín đáo, biết không ai theo dõi, anh mở cửa một căn phòng ở góc khuất và bước vào. Một người đàn ông khoảng hơn 40 tuổi, dáng vẻ trí thức nho nhã, đội khăn thếp đen, mặc áo dài đen, quần lụa trắng ngồi ở bàn làm việc. Người thủ thư nói:
-Thưa Chủ tịch, ngài có thư của ngài Phan Sào Nam tiên sinh.
Người ngồi ở cạnh bàn chính là Nguyễn Khác Nhu, nghe nói có thư của Phan Bội Châu vội vã cầm và bóc ra xem. Thư viết: “Gửi cố nhân, anh Nguyễn Khắc Nhu thân mến, nếu không tính năm 1903, anh dẫn đường cho lão phu lên Yên Thế gặp “Hùm thiêng Yên Thế" Hoàng Hoa Thám thì cũng đã gần 20 năm rồi không gặp lại cố nhân. Sau lần Đông Du ở Nhật Bản thất bại năm 1908, lão phu đã bôn ba sang Trung Quốc theo đủ thứ chủ nghĩa, lập đủ thứ tổ chức để mong giải phóng dân tộc mà không thành công. Lão phu nghe nói anh có sang Trung Quốc tìm lão phu, rất tiếc không gặp được nhau. Lão phu bây giờ đã thành “ Ông già Bến Ngự”, không biết đến khi nào gặp lại cố nhân.
Đọc đến đây, Nguyễn Khắc Nhu thấy ngèn nghẹn trong cổ họng, nước mắt chừng ứa ra. Ông cố gắng đọc tiếp: “Vừa rồi có anh Đặng Đình Điền, phái viên của ngài Nguyễn Thái Học, Chủ tịch Việt Nam Quốc Dân Đảng vào gặp lão phu và mời làm Chủ tịch danh dự của Đảng. Lão phu đã nhận lời. Việc thứ hai là ngài Nguyễn Thái Học nhờ lão phu dùng mối quen biết mà thống nhất các tổ chức yêu nước để thêm sức mạnh mà lo đại sự. Lão phu nghĩ tổ chức Hội Quốc Dân Việt Nam của anh có thể thống nhất, sáp nhập với Việt Nam Quốc Dân Đảng thì tốt vì hai tổ chức cùng chung tư tưởng, cương lĩnh và mục đích giống nhau. Lão phu nghĩ như vậy, còn mọi việc tùy anh lựa chọn. Chúc anh khỏe mạnh và Hội Quốc Dân Việt Nam ngày càng thịnh vượng phát triển để hoàn thành sứ mệnh vẻ vang của mình là giải phóng dân tộc. Cố nhân, Phan Bội Châu".
Nguyễn Khắc Nhu đọc xong thư, hỏi người thủ thư:
-Người đưa thư đâu rồi?
-Dạ bẩm Chủ tịch, có ba người đang chờ ngoài phòng đọc.
-Ra mời họ vào đây.
-Dạ.
Hồ Văn Mịch, Nguyễn Ngọc Sơn, Đặng Đình Điền theo chân người thủ thư đi vào phòng. Ba người cúi chào Nguyễn Khắc Nhu:
-Xin chào ngài Nguyễn Khắc Nhu.
Nguyễn Khắc Nhu đứng dậy khỏi ghế bắt tay ba người:
-Xin chào, xin chào.
Sau khi chia chủ khách ngồi vào bàn tiếp khách, xong một lượt trà, Nguyễn Khắc Nhu lần lượt hỏi quý danh ba người. Sau khi biết tên ba người, Nguyễn Khắc Nhu nói:
-Tôi là Nguyễn Khắc Nhu, chủ tịch Hội Quốc Dân Việt Nam, vừa rồi các ngài đã chuyển cho tôi bức thư của Phan Bội Châu tiên sinh. Trong ba ngài, ngài nào vừa vào Huế gặp cụ?
Đặng Đình Điền đáp:
-Thưa ngài, tôi vừa đi Huế và có vinh dự được ở với Phan tiên sinh ba ngày ở ngôi nhà Bến Ngự.
Nguyễn Khắc Nhu hỏi:
-Người có khỏe không?
-Dạ, thưa ngài, Người khỏe nhưng lòng vẫn nặng ưu tư về sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Nguyễn Khắc Nhu nói:
-Tôi có nghe về ngài Nguyễn Thái Học và việc thành lập Việt Nam Quốc Dân Đảng. Nếu có thể được, các ngài cho tôi biết thêm về ngài Nguyễn Thái Học không?
Hồ Văn Mịch nói đôi nét về Nguyễn Thái Học cho Nguyễn Khắc Nhu nghe. Nghe xong Nguyễn Khắc Nhu nói:
-Trong thư Phan tiên sinh có đề nghị tôi sáp nhập Hội Quốc Dân Việt Nam với Việt Nam Quốc Dân Đảng, không biết ý của Tổng Bộ Việt Nam Quốc Dân Đảng thế nào, nhất là ý của ngài Chủ tịch Nguyễn Thái Học?
Hồ Văn Mịch đáp:
-Thưa ngài Nguyễn Khắc Nhu, tôi và anh Nguyễn Ngọc Sơn đây phụ trách Ủy Ban đối ngoại của Đảng, anh Nguyễn Thái Học có ủy quyền cho chúng tôi nói với ngài rằng Tổng Bộ Việt Nam Quốc Dân Đảng và bản thân Chủ tịch Nguyễn Thái Học rất tán thành hợp nhất nên cử chúng tôi sang đây gặp ngài để thu xếp.
Nguyễn Khắc Nhu nói:
-Tư tưởng và phương pháp cách mạng của Việt Nam Quốc Dân Đảng hoàn toàn phù hợp với Hội Quốc Dân Việt Nam. Cho nên tôi hoàn toàn tán thành việc sáp nhập hội vào Việt Nam Quốc Dân Đảng để cùng đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Hồ Văn Mịch nói:
-Đa tạ ngài Nguyễn Khắc Nhu đã vì mục đích lớn là giải phóng dân tộc. Bước tiếp theo là phải có một cuộc họp giữa hai Tổng Bộ hoặc là một cuộc Đại hội Đại biểu toàn quốc của hai Tổ chức để sáp nhập.
Nguyễn Khắc Nhu hỏi:
-Việt Nam Quốc Dân Đảng hiện nay có bao nhiêu chi bộ và đảng viên?
Hồ Văn Mịch đáp:
-Dạ thưa ngài Nguyễn Khắc Nhu, Việt Nam Quốc Dân Đảng hiện có 120 chi bộ và hơn 1.000 đảng viên ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ.
Nguyễn Khắc Nhu trầm ngâm suy nghĩ một lát rồi nói:
-Chúng ta hoạt động bí mật, mật thám của Pháp nhiều như kiến, cho nên nếu không cần thiết thì không nên triệu tập Đại hội toàn quốc. Theo tôi thì chỉ cần gặp nhau giữa hai Tổng Bộ là được. Chỉ còn địa điểm sao cho xa Hà Nội, bảo đảm bí mật an toàn.
Đặng Đình Điền nói:
-Nay cũng đã là cuối năm rồi, chờ sang năm mới nhiều người du xuân ở Đền Hùng, các anh đóng vai những người đi du xuân thì tiện nhất, bọn mật thám ít để ý, nghi ngờ.
Nguyễn Khắc Nhu nói:
-Ý kiến hay lắm. Vậy thì mùng 5 tết âm lịch, 10 giờ tập trung ở Đền Thượng, sau đó vào một nơi vắng vẻ mà tiến hành hội nghị.
Nguyễn Ngọc Sơn nói:
-Thời gian như vậy cũng hay lắm.
Nguyễn Khắc Nhu nói:
-Vậy ba ngài nhớ thời gian, địa điểm và nói lại cho ngài Nguyễn Thái Học và Tổng Bộ của Đảng, nếu có gì thay đổi phải báo ngay cho chúng tôi. Không báo lại thì chúng tôi cứ thế mà thực hiện.
-Chúng tôi nhớ rồi. Đa tạ, đa tạ, cáo biệt.
-Cáo biệt, hẹn ngày gặp lại.
* *
*
Chưa đến ngày lễ hội Đền Hùng là ngày 10 tháng 3 âm lịch nhưng theo thông lệ của người Việt từ nghìn xưa, cứ mùng 4, mùng 5 tết trở đi là dập dìu tài tử giai nhân khắp nơi đổ về Đền Hùng thắp hương cầu lộc, cầu phúc và đi hái lộc đầu xuân mong một năm mới may mắn. Du khách diện những trang phục mới mà mỗi người sắm được. Đàn ông thì đầu buộc khắn thếp lụa đen, áo lụa dài đen, quần lụa trắng, đi giầy tây. Lại có người diện trang phục tây, com lê màu xám, màu ka ki vàng, màu dạ đen, áo trong là sơ vin đủ màu thắt ca la vát, đi giầy da đen. Những cô gái xinh tươi sặc sỡ như những cánh bướm đủ màu sắc, áo tứ thân nâu, xanh, hồng để lộ ra màu yếm đào, yếm nâu, yếm đen khoe bộ ngực nở nang đầy mùa xuân phơi phới, váy dài, lưng thắt khăn màu xanh càng lộ rõ tấm thân lưng ong thắt đáy. Những mái tóc dài óng ả được cuốn tròn trong những chiếc khăn lụa đen và quấn duyên dáng trên đầu, lộ ra bộ mặt bầu bầu, má hồng, môi thắm. Trên nẻo đường từ cổng đi vào đền Hạ và đường đi lên Đền Trung, cao nữa và khuất nẻo vòng vèo là Đền Thượng, người đi suốt ngày không ngớt. Trên đường núi quanh co đó không chỉ có tài tử giai nhân mà còn những cụ già chống gậy cố đi gặp Tổ Tiên, những em nhỏ nhảy nhót tung tăng đi chơi tết. Toàn bộ những khu đồi núi rừng linh thiêng phủ đầy cây lá xanh tươi của những cây cổ thụ: Cây chò, cây mỡ, cây xà cừ, cây bồ đề và trăm nghìn cây nhiệt đới không tên tạo nên rừng xanh đầy huyền bí linh thiêng. Sương trắng rải khắp vùng Nghĩa Lĩnh, núi Hy Cương, Núi Hy Sơn, Bảo Thiếu Lĩnh, Bảo Thiếu Sơn, núi Cả thuộc phủ Lâm Thao, nắng xuân vàng vọt, không khí trong mát với những làn gió xuân nhè nhẹ.
Chiếc xe ngựa dừng lại ở đoạn đường giáp với con đường có cổng leo lên núi để lên Đền Hạ, Đền Trung, Đền Thượng. Từ trên xe bước xuống là Đặng Đình Điền, Hồ Văn Mịch, Phó Đức Chính, Nguyễn Thái Học và Sư Trạch, người bảo vệ của Nguyễn Thái Học. Sau khi trả tiền xe, Đặng Đình Điền nhìn quanh tìm kiếm. Chợt Đặng Đình Điền nói:
-Kia rồi, anh Học, ngài Nguyễn Khắc Nhu kia rồi.
Vừa nói, Đặng Đình Điền vừa đi trước, bốn người theo sau tiến lại gần góc đường, nơi Nguyễn Khắc Nhu đang đứng đợi. Nguyễn Thái Học trông thấy một người đàn ông khoảng 45 tuổi, dáng nhà Nho, đầu đội khăn thếp đen, mặc áo dài đen, quần trắng, đi giầy đen. Người đó có đôi mắt thông minh sáng quắc. Nguyễn Thái Học còn trông thấy đứng cạnh Nguyễn Khắc Nhu là hai cô gái xinh đẹp hơi giống nhau. Cả hai đều quấn tóc cài trâm, áo tứ thân màu gụ, váy màu lụa đen, yếm đào, thắt dây lưng màu xanh lộ rõ thân hình lưng ong thắt đáy. Thốt nhiên, đôi mắt của cô gái có dáng cao hơn vô tình chạm vào đôi mắt của Nguyễn Thái Học làm anh như bị choáng váng thôi miên. Hồ Văn Mịch quay lại nói với Nguyễn Thái Học:
-Giới thiệu với anh Học, đây là ngài Nguyễn Khắc Nhu, Chủ tịch Hội Quốc Dân Việt Nam.
Nguyễn Thái Học bắt tay Nguyễn Khắc Nhu:
-Xin chào ngài Nguyễn Khắc Nhu, tôi là Nguyễn Thái Học, còn đây là anh Phó Đức Chính, đây là anh Đặng Đình Điền, đây là anh Hồ Văn Mịch, hai người này ngài đã biết rồi, đây là anh Sư Trạch.
Bắt tay xong mọi người, Nguyễn Khắc Nhu quay lại phía hai cô gái:
-Giới thiệu với các ngài, đây là cô Nguyễn Thị Giang, cô chị và đây là cô Nguyễn Thị Bắc, cô em, là hai chị em ruột, quê ở thị xã Phủ Lạng Thương, Bắc Giang. Hai người ở trong Tổng Bộ của Hội Quốc Dân Việt Nam.
Nguyễn Thái Học đưa tay bắt tay cô Giang và nói:
-Xin chào tiểu thư.
Cô Giang đáp:
-Xin chào ngài Nguyễn Thái Học.
Bốn mắt chạm nhau, hai bàn tay nắm chặt lấy nhau. Cô Giang bỗng nhiên thấy như có luồng điện chạy khắp cơ thể làm cô bàng hoàng, má bỗng ửng hồng, mắt long lanh. Nguyễn Thái Học vội rút tay ra và bắt tay cô Bắc:
-Xin chào tiểu thư.
Cô Bắc e lệ đáp:
-Xin chào ngài Nguyễn Thái Học.
Sau khi Nguyễn Thái Học bắt tay cô Bắc xong, Nguyễn Khắc Nhu nói:
-Xin mời ngài Nguyễn Thái Học và các ngài, chúng ta lên núi thắp hương dâng các vua Hùng nhân ngày năm mới.
Nguyễn Thái Học và Nguyễn Khắc Nhu đi trước, năm người đi sau, Sư Trạch, cận vệ của Nguyễn Thái Học đi sau bảo vệ. Mọi người đi qua cổng gạch, có xà ngang bắc qua và có mái sơn son, trên xà ngang có ghi chữ vàng “Cao Sơn Cảnh hành”, sau đó leo lên đường núi giữa rừng đến Đền Hạ, mái ngói rêu phong, lá xuân khua xào xạc. Cạnh Đền Hạ là chùa Thiên Quang. Thắp hương xong, khi ra ngoài, cô Giang hỏi:
-Thưa ngài Nguyễn Thái Học, Đền Hạ thờ vua nào đấy ạ?
Nguyễn Thái Học mĩm cười, nhẹ nhàng đáp:
-Thưa tiểu thư, theo huyền thoại, Đền Hạ là nơi mẹ Âu Cơ sinh ra cái bọc 100 trứng, sau đó nở ra 100 người con. 50 người theo cha là Lạc Long Quân xuống biển, 50 người ở lại cùng mẹ Âu Cơ khai sơn mở rừng dựng nước, đó là các vua Hùng của nhà nước Văn Lang. Đền Hạ do đó là nơi ghi lại công đức của cha mẹ khai sinh ra giống Lạc Hồng. Mọi người dân đất Việt đều chung từ một bọc mà ra nên gọi là Đồng bào.
-Thế còn Đền Trung và Đền Thượng mà chúng ta sắp tới?
-Đền Trung là nơi các vua Hùng họp với các quan Đại thần, gọi là các Lạc Hầu, họp với các quan trấn trị các địa phương gọi là Lạc tướng để bàn việc nước. Lạc tướng đứng đầu các bộ, bộ là đơn vị hành chính lớn nhất của Văn Lang. Dưới Bộ là các công xã nông thôn đứng đầu là Bồ chính, dưới công xã nông thôn là thôn bản đứng đầu là già làng trưởng bản. Còn đền Thượng chính thức là nơi thờ tổ của Bách Việt, cụ thể là Hùng Vương thứ VI.
Cô Bắc nói:
-Ngài Nguyễn Thái Học đúng là “Đại Giáo sư”, quá uyên bác.
Phó Đức Chính nói:
-Trong Đảng, mọi người đều gọi anh Học là "Đại Giáo sư". Sao cô Bắc cũng biết?
-Em cứ nói mò vậy mà đúng hả?
Mọi người cười ran.
Đến Đền Thượng là mọi người đã ở đỉnh cao nhất của núi Nghĩa Lĩnh nên lúc này tầm mắt đã bao quát tất cả các ngọn núi linh thiêng. Đó là các dãy núi Cả, núi Hy Cương, núi Bảo Thiếu Lĩnh, Bảo Thiếu Sơn ngút ngàn màu xanh hùng vĩ. Sau khi mọi người đã thắp hương dâng các vua Hùng xong, Nguyễn Thái Học nói:
-Bây giờ chúng ta đi về hướng tây nam, nơi đó có giếng Ngọc, xưa dùng làm gương cho các công chúa Tiên Dung, Ngọc Hoa soi, chải tóc làm đẹp.
Mọi người theo Nguyễn Thái Học đi xuống một đoạn dốc, quả nhiên có một cái giếng đường kính khoảng 2m, nước trong vắt và sâu thăm thẳm. Gương còn đây nhưng còn đâu bóng dáng các nàng công chúa xưa. Các nàng đã đi vào huyền thoại.
Đi khoảng 100m nữa mọi người đến một thung lũng hẹp nhưng bằng phẳng, cây che phủ um tùm, dưới đất có thảm cỏ xanh. Nguyễn Khắc Nhu nói:
-Cũng đã đến giờ ăn cơm trưa rồi. Cô Giang và cô Bắc cho mọi người ăn đi, vừa ăn vừa họp ở đây cũng được. Có được không, thưa ngài Nguyễn Thái Học?
Nguyễn Thái Học đáp:
-Dạ được, chỗ này đẹp quá.
Cô Giang trải một miếng vải màu nâu rộng ra nền cỏ. Cô Bắc mở tay nải lôi ra nào là xôi, nào là bánh chưng, nào là giò lợn, lại có cả chai rượu làng Vân Bắc Ninh và vài cái chén con. Nguyễn Thái Học và Nguyễn Khắc Nhu nâng chén chúc nhau và chúc mọi người, cả tám người cùng nâng chén chúc lẫn nhau và cạn rồi ăn trưa. Ăn xong, Nguyễn Thái Học bảo Sư Trạch;
-Anh đi vòng quanh xem chừng, chúng tôi bắt đầu họp.
-Dạ.
Sư Trạch đi vòng quanh xa xa cảnh giới. Nguyễn Thái Học nói:
-Kính thưa ngài Nguyễn Khắc Nhu, vừa rồi phái viên Việt Nam Quốc Dân Đảng là anh Đặng Đình Điền vào Huế để nhờ bậc tiền bối cách mạng là Phan tiên sinh làm Chủ tịch danh dự của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Phan tiên sinh đã đồng ý nên tôi thông báo tin mừng là tiên sinh Phan Bội Châu là Chủ tịch danh dự của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Thứ hai, nhờ ngài dùng mối quan hệ của mình để kết hợp các tổ chức yêu nước cho thêm phần sức mạnh, cùng thực hiện mục đích chung là giải phóng dân tộc. Phan tiên sinh đã viết thư cho tôi và cho ngài Nguyễn Khắc Nhu để sáp nhập hai tổ chức Hội Quốc Dân Việt Nam và Việt Nam Quốc Dân Đảng. Qua lần gặp gỡ giữa đại diện Việt Nam Quốc Dân Đảng với ngài Nguyễn Khắc Nhu, hai Tổng Bộ đã sơ bộ đồng ý hợp nhất. Ngài Nguyễn Khắc Nhu có ý kiến chỉ giáo gì không?
Nguyễn Khắc Nhu nói:
-Từ giờ phút này, tôi tuyên bố Hội Quốc Dân Việt Nam không còn tồn tại, chúng tôi và các hội viên trở thành đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng, sẽ phục tùng mọi mệnh lệnh và hoàn thành mọi nhiệm vụ do Đảng giao phó, chịu mọi sự quản lý chặt chẽ của Đảng, hy sinh vì lợi ích của Đảng và lợi ích dân tộc.
Nguyễn Thái Học nói:
-Tôi thay mặt cho Việt Nam Quốc Dân Đảng thừa nhận ngài Nguyễn Khắc Nhu, các cô Nguyễn Thị Giang, Nguyễn Thị Bắc và tất cả các hội viên của Hội Quốc Dân Việt Nam chính thức là đảng viên của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Nay thay mặt Tổng Bộ Việt Nam Quốc Dân Đảng cử ngài Nguyễn Khắc Nhu là Phó Chủ tịch Đảng kiêm Trưởng Ban lập pháp, giám sát của Đảng, cô Nguyễn Thị Giang làm Tổng thư ký của Đảng, cô Nguyễn Thị Bắc là Trưởng Ban tuyên truyền, binh vận và liên lạc của Đảng ở các cơ sở Bắc Giang, Bắc Ninh, Phú Thọ, Yên Bái và Vĩnh Yên. Mong ngài Nguyễn Khắc Nhu, cô Giang và cô Bắc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần xây dựng Đảng vững mạnh để bước vào thời kỳ Tổng khởi nghĩa, giải phóng dân tộc.
Cả ba người cùng nói:
-Cảm tạ ngài Chủ tịch Đảng đã tín nhiệm, chúng tôi sẽ đem hết sức mình hoàn thành nhiệm vụ.
Trời đã ngả về chiều, núi rừng Nghĩa Lĩnh đã âm u hơn gần như tắt nắng. Cả tám người đi xuống Đền Hùng, bắt hai xe ngựa về ga Tiên Kiên của Lâm Thao và lên xe lửa về Hà Nội.
III
Qua vài tháng làm việc với vai trò là Tổng thư ký Đảng, cô Giang đã hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng giao cho. Cô Giang ngày càng thêm mến mộ Nguyễn Thái Học, con người không chỉ trẻ tuổi, đẹp trai, đỉnh đạc, đàng hoàng, được các đồng chí trong Đảng yêu mến. Dưới con mắt của cô Giang, Nguyễn Thái Học còn là con người tài ba xuất chúng. Anh nói tiếng Pháp hay và chuẩn đến mức người Pháp còn phải khâm phục. Nghe nói thời sinh viên khi chưa lập Đảng, anh đã gửi thư cho Toàn quyền Đông Dương Va ren yêu cầu tiến hành cải cách ở Đông Dương như ông ta đã hứa khi mới sang nhậm chức. Khi Toàn quyền im lặng, anh đã gửi thư cho Quốc hội Pháp nói về đời sống khổ cực của người dân thuộc địa Đông Dương dưới ách thống trị, bóc lột nặng nề của thực dân Pháp. Trong kiến thức xã hội, môn gì anh cũng biết sâu sắc và tường tận. Để xây dựng Đảng, Nguyễn Thái Học đã làm không biết bao nhiêu là công việc như thành lập tờ báo “Hồn cách mạng” phát hành bí mật. Tờ báo do Đoàn Trần Nghiệp (Ký Con) trông nom, ấn loát nhưng Nguyễn Thái Học phải đọc, duyệt, có khi còn phải viết bài. Anh còn gợi ý 32 tội ác của thực dân Pháp cho Nhượng Tống viết thành sách. Sách được truyền bá khắp Bắc-Trung- Nam Kỳ và chuẩn bị in để phát hành sang Trung Quốc. Nguyễn Thái Học còn phải lo tài chính cho Đảng, chỉ đạo cho Đặng Đình Điền, người là Trưởng Ban tài chính quyên tiền của anh em mở khách sạn ở số nhà 39 phố Hàng Bông để bổ sung tài chính cho Đảng. Nguyễn Thái Học còn viết “Tu chính điều lệ Đảng" để củng cố xây dựng Đảng. Anh nhấn mạnh căn dặn các đảng viên không được phản bội lời thề của mình trước lá cờ nửa vàng, nửa đỏ của Đảng. Phản bội lời thề là phản bội Đảng và bị Tòa án cách mạng tuyên án tử hình. Nguyễn Thái Học nhấn mạnh phải giữ bí mật của Đảng khi hành động. Anh còn dự kiến thành lập các đoàn thể quần chúng bên cạnh Đảng như đoàn thanh niên, hội phụ nữ để thu hút quần chúng vào con đường cách mạng. Nguyễn Thái Học còn chỉ đạo công tác binh vận, vận động lính khố xanh, khố đỏ ở các địa phương để họ đi theo cách mạng. Anh còn chỉ đạo mở các công xưởng bí mật đúc vũ khí, súng ống, đạn dược, bom và lựu đạn chuẩn bị cho khởi nghĩa vũ trang. Trong mắt cô Giang, Nguyễn Thái Học là con người có sức làm việc phi thường và trí tuệ của một “Đại Giáo sư” như anh em phong tặng. Bản thân cô Giang khi không biết và hỏi bất cứ điều gì đều được Nguyễn Thái Học trả lời khúc chiết rõ ràng khiến cô nghe mà không biết chán. Từ mến mộ khâm phục, cô Giang bỗng nhiên thấy khi xa Nguyễn Thái Học, cô khắc khoải nhớ thương. Tình cảm và trái tim của một cô gái đang tuổi lớn lên mách bảo, cô đã kêu lên: "Thôi chết rồi, mình đã yêu anh chàng này rồi". Đêm về, cô cố xua đuổi hình bóng Nguyễn Thái Học ra khỏi ý nghĩ nhưng không tài nào làm được. Rồi nhiều đêm cô thao thức, cô ước mơ, giấc ngủ cứ chập chờn hoặc có khi thức trắng đêm.
Có một hôm đã gần trưa, cô đang thu giấy tờ thì Nguyễn Thái Học đến. Anh ngồi xuống gần cô và hỏi:
-Cô Giang này.
-Dạ.
-Sao dạo này cô gầy và xanh xao vậy?
-Dạ, em ốm.
-Ốm bệnh gì?
-Em ốm tương tư.
-Tương tư ai vậy?
Nghe hỏi vậy, trái tim cô đập loạn xạ, một làn sóng mãnh liệt tuôn trào khiến cô không nén được nữa. Cô đặt bàn tay lên bàn tay Nguyễn Thái Học và nói:
-Em tương tư anh chứ còn ai nữa. Em chết mất thôi.
Rồi cô lao vào ôm Nguyễn Thái Học, cô hôn vào má, vào mắt, vào môi anh. Chờ cho cô dịu đi cơn xúc động mãnh liệt, Nguyễn Thái Học gỡ tay cô ra và nói:
-Giang này.
-Dạ.
-Anh cảm ơn tình cảm của em đối với anh nhưng chúng ta không thể đến với nhau…
Cô Giang hỏi khi nước mắt tuôn trào:
-Vì sao vậy anh?Anh không yêu em à?
-Anh cũng yêu em tha thiết, yêu ngay buổi gặp lần đầu, nhưng thân anh đã dấn bước vào con đường cách mạng, sống chết chỉ trong gang tấc, anh không thể để liên lụy, đau khổ cho em hoặc cho một người đàn bà nào khác. Cũng vì lý do đó mà anh đã ly dị một người vợ tên là Cửu ở quê do mẹ anh vun xới, bây giờ cô ấy được tự do và đã đi lấy chồng khác rồi. Từ đó, trái tim anh thật là thanh thản để nhẹ nhàng hiến thân cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Cô Giang lại lao vào ôm lấy Nguyễn Thái Học:
-Kệ, em bất chấp, miễn là anh yêu em là em hạnh phúc rồi. Mặc kệ con đường cách mạng hiểm nguy, nếu anh hy sinh thì em cũng chết theo anh để không còn đau khổ.
Nguyễn Thái Học thở dài:
-Em đã nói như vậy thì anh biết làm sao được, anh thương em quá!
-Vậy là anh đã chấp nhận rồi nha.
-Ừ, anh yêu em.
-Anh nói đi, em là vợ chưa cưới của anh.
-Ừ, em là hôn thê của anh.
-Anh là phu quân của em.
Từ đó qua những lần trò chuyện với bẹn bè, Nguyễn Thái Học đều nói nghiêm chỉnh rằng cô Giang là hôn thê của anh. Trong Tổng Bộ, trong Đảng đều mừng cho anh. Họ cũng hiểu rằng trai tài gái sắc gặp nhau thì khó mà tránh được tình yêu, cái gì đến thì cũng sẽ đến. Một hôm hai người gặp nhau, cô Giang ôm Nguyễn Thái Học hôn và nói:
-Hôm nọ anh nói yêu em, em nói yêu anh, đó mới là thổ lộ tâm tình chứ chưa phải là lời thề.
Nguyễn Thái Học ngạc nhiên hỏi:
-Thế nào mới là lời thề?
Cô Giang nói:
-Hôm nào chúng ta mời cha, mẹ và các đồng chí lên Đền Hùng bí mật làm lễ cưới, anh và em phải thắp hương dâng lên vua Hùng để các cụ chứng dám mới là lời thề.
-Rồi, tháng sau chúng ta sẽ làm lễ cưới ở Đền Hùng.
-Rồi sau đó?
-Sau đó anh sẽ đưa em về quê ở làng Thổ Tang, Vĩnh Tường, Vĩnh Yên thăm cha mẹ và gia đình để tổ tiên nhận con dâu. Cha mẹ và các em của anh chắc là quý con dâu, chị dâu lắm đây.
-Vì sao vậy?
-Vì em đẹp và dịu dàng, anh chưa thấy một người đàn bà nào nói dịu dàng, mềm mại, hay như em nói vậy.
-Rồi sao nữa?
-Anh sẽ đưa em về Phủ Lạng Thương thăm mẹ và các anh chị em.
-Hứa rồi đấy nha.
-Hứa rồi, quân tử nhất ngôn.
Sau khi đã thực hiện xong những việc đã hứa, hai người sống với nhau trong những ngày hạnh phúc. Một hôm, Nguyễn Thái Học nói:
-Anh có quà cho em.
-Quà gì vậy anh?
Nguyễn Thái Học lôi trong túi ra chiếc đồng hồ quả quýt có dây chuyền nhỏ bằng vàng, sau mặt đồng hồ có khắc chữ G. Cô Giang thích quá, tay cầm mà run run:
-Đẹp quá, cảm ơn anh yêu.
Nguyễn Thái Học lôi trong túi ra khẩu súng ngắn và nói:
-Đây không phải là quà, người Việt Nam ta kiêng tặng nhau dao và súng, nhưng anh cho em mượn vì trong hoạt động có nhiều nguy hiểm, em cầm mà phòng thân.
Cô Giang ứa nước mắt:
-Anh chu đáo quá, cảm ơn anh yêu.
-Lo cho em bây giờ là bổn phận của anh mà.
IV
Đêm mùa xuân năm 1929, Hà Nội chìm trong bóng tối, dù đã tháng hai âm lịch rồi nhưng gió vẫn còn se lạnh, mưa phùn bay lất phất làm cho mọi vật đều trở nên ẩm ướt dưới ánh đèn điện vàng khè, yếu ớt. Những con đường phố chìm dưới bóng cây. vài chiếc ô tô nhà binh Pháp chạy trên đường vội vã, vài người phu kéo xe chở khách chạy vội vã mệt nhoài.
Trong căn nhà nhỏ ở ngõ một con phố nghèo, ba đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng của thành bộ Hà Nội đang vừa uống nước vừa chụm đầu bàn tán. Đó là Nguyễn Văn Viên, Nguyễn Văn Lân và Nguyễn Đức Lung. Nguyễn Văn Viên vừa uống nước, tay cầm tờ báo tiếng Pháp, đọc rồi đặt tờ báo xuống bàn và nói:
-Hai ông xem đi, tên mộ phu Ba danh này mai ra Hà Nội, đi qua chợ Hôm.
Nguyễn Văn Lâm cầm tờ báo lên xem qua và nói:
-Đã mấy năm nay rồi, thằng này chuyên đi mộ phu ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, bán cho bọn chủ đồn điền trồng cao su ở Nam Kỳ, còn bán sang Tân Ca lê đô, Va nua tu, Ta hi ti, Tân thế giới, sang Miến Điện, sang Lào. Ở đó họ bị biến thành nô lệ lao động kiệt sức và gục chết trên đồng ruộng. Nghe nói thằng Ba danh trong nghề buôn nô lệ này thu được lợi không phải nhỏ.
Nguyễn Đức Lung nói:
-Hắn giả bộ mua người, thực ra hắn chuyên dụ dỗ, hứa hẹn rồi bắt cóc dân nghèo. Đó thực sự là một nghề buôn nô lệ ngay trong thời đại gọi là văn minh, dân ta quả là quá cực khổ trăm bề không khác gì trâu ngựa, hầu hết bị kiệt sức, chết gục khi đang làm việc. Thằng Ba danh đã gây không biết bao nhiêu tội ác.
Nguyễn Văn Viên nói:
-Tên này là Giám đốc Tổng nha nhân lực Đông Dương, là người then chốt trong việc tuyển dụng nhân lực, Cứ một người phu được ghi tên vào là hắn được từ 10 đến 20 đồng bạc Đông Dương. Tội ác của Ba danh được nhiều đảng cách mạng rải truyền đơn tố cáo nhưng nhà cầm quyền Pháp cho đó là việc của cá nhân chứ không phải là việc của chính quyền khiến dư luận càng phẫn nộ.
Ba người lại im lặng uống nước. Chợt Nguyễn Văn Lân nói:
-Tôi có ý này.
-Ý gì vậy?
-Ám sát tên Ba danh trả thù cho những đồng bào của ta bị hắn bắt làm nô lệ.
Nguyễn Đức Lung nói:
-Như vậy phải báo cáo cho anh Nguyễn Thái Học và phối hợp với ban ám sát do anh Nguyễn Văn Nho là Trưởng Ban chứ? Hay là báo cho Thành Bộ Hà Nội?
Nguyễn Văn Lân gạt đi:
-Thôi đi, các ông ấy không đồng ý đâu. Đảng ta đang trong thời kỳ xây dựng, củng cố, sợ Pháp nó lấy cớ khủng bố, các cơ sở Đảng chưa vững mạnh sẽ tan rã.
-Nhưng tự ý làm thì bị xử là vô kỷ luật?
-Vô kỷ luật gì thì không nói nhưng đây là giết một tên thực dân tội ác như núi thì vô kỷ luật gì?
-Thôi được, anh hùng hảo hán đầu đội trời, chân đạp đất chưa lập được công danh gì, thôi thì làm một việc kinh thiên động địa này vậy. Thế kế hoạch thế nào?
Nguyễn Văn Viên nói nhỏ, sợ có ai nghe được:
-Giờ giao thừa đêm mai, tức ngày 9 tháng 2 năm 1929, ba chúng ta đến chờ ở phố Huế, số nhà 110 của Giéc manh Xa xen lơ là tình nhân của Ba danh, tôi canh phòng bảo vệ bên ngoài, anh Nguyễn Đức Lung tiến lại giao phong thư có bản án tử hình cho nó, nhân cơ hội khi hắn nhận thư không đề phòng, anh Nguyễn Văn Lân nã súng vào hắn, bắn vào đầu hoặc vào tim, nếu không hắn không chết đâu.
-Hay, kế hoạch hoàn hảo.
Đường phố Hà Nội trong đêm giao thừa, người đi lại tấp nập ngược xuôi. Hình như người ta không ngủ trong đêm giao thừa thiêng liêng. Phố Huế cũng không ngoại lệ. Khi đó đã là 11giờ 30’, còn 30 phút nữa thì đến giao thừa. Ba danh từ ngõ nhà 110 khoác vai cùng tình nhân Xa xen lơ đi ra. Có hai người tiến nhanh lại gần hắn, một người tay cầm phong thư đưa cho hắn. Ba danh bị bất ngờ không hiểu thư gì, đưa tay cầm và đang giở ra đọc. Người bên cạnh nhanh như cắt rút súng ngắn bắn một phát vào đầu, phát thứ hai vào tim, máu tuôn xối xả. Ba danh chưa kịp ngã thì hai người đã nhanh chóng biến vào dòng người trong tiếng kêu thất thanh của Xa xen lơ. Cảnh sát ào đến xem xét thì Ba danh đã chết, chúng chỉ lấy được mảnh giấy kết án tử hình tên buôn nô lệ tàn ác.
Một buổi sáng, trong trụ sở bí mật của Việt Nam Quốc Dân Đảng, Nguyễn Thái Học đang ngồi với Tổng Bộ thì có Phạm Tuấn Tài vào báo:
-Báo cáo Chủ tịch, ba đảng viên của Thành Bộ Hà Nội là Nguyễn Văn Viên, Nguyễn Văn Lân và Nguyễn Đức Lung không được sự đồng ý của Thành Bộ Hà Nội, của Tổng Bộ Việt Nam Quốc Dân Đảng, tự ý ám sát chết tên Ba danh, trùm mộ phu ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ ở số nhà 110 phố Huế vào lúc 11giờ 30 phút, tức là đêm giao thừa ngày 9 tháng 2 dương lịch 1929. Tên Ba danh đã chết.
Nguyễn Thái Học hỏi:
-Ba đảng viên ám sát có bị bắt không?
-Dạ không, nhưng vụ ám sát làm chấn động Đông Dương. Sở Liêm phóng Đông Dương mở cuộc càn quét dữ dội. Chúng bắt được Riêng Sanh, một cựu sinh viên trường Bưởi giam vào Hỏa Lò. Khám trong người của hắn, Sở Liêm phóng Đông Dương tìm thấy một mảnh giấy ghi danh sách 200 đảng viên của Việt Nam Quốc Dân Đảng và đang mở cuộc truy lùng bắt bớ gắt gao.
Nguyễn Thái Học hỏi:
-Riêng Sanh có phải là đảng Viên Việt Nam Quốc Dân Đảng không?
-Dạ không phải.
Nguyễn Thái Học nói:
-Hắn không phải là thủ phạm, không phải là Đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng, tại sao trong túi áo của hắn lại có danh sách 200 đảng viên của ta. Đảng ta hoạt động bí mật cơ mà?
Nguyễn Khắc Nhu nói:
-Chúng không bắt được thủ phạm, cũng không biết được tổ chức nào ám sát, như vậy là chúng dàn cảnh bỏ danh sách 200 đảng viên của ta và bắt tên này để lấy cớ tấn công vào Đảng ta.
Nguyễn Thái Học nói:
-Anh Nhu nhận định không sai, nhưng hoạt động bí mật mà để chúng lấy được danh sách 200 đảng viên. Thôi, chúng ta đã bị kẻ nào đó phản bội bán đứng Đảng rồi. Nay tôi ra lệnh, chỉ thị cho tất cả các cơ sở Đảng phải rút vào bí mật hơn nữa. Anh Phó Đức Chính.
-Dạ.
-Anh làm một bước chấn chỉnh lại tổ chức Đảng.
-Dạ.
-Anh Phạm Tiềm.
-Dạ.
-Anh tìm cho bằng được tên phản bội chỉ điểm trong Đảng. Phát hiện ra phải thủ tiêu ngay.
-Dạ.
Tháng sau có tin báo của Phạm Tiềm, Trưởng Ủy Ban trinh sát:
-Báo cáo Chủ tịch, Sở Liêm Phóng Đông Dương đã bắt được 200 đảng viên của ta trong bản danh sách, hơn nửa số cơ sở đảng đã tan vỡ.
Tháng 7 năm đó lại có tin báo về:
-Báo cáo Chủ tịch, ngày 3 thang 7, Hội Đồng đề hình đã xét xử 227 đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng, đã đưa tên Bùi Tiên Mai là Đảng viên của ta ra đối chất làm chứng. Hội Đồng Đề hình đã tuyên án 72 người tù từ 2 đến 15 năm tù, thêm 5 năm biệt xứ. Như vậy, tên Bùi Tiên Mai là tên phản đảng nằm vùng, làm nội ứng cho sở mật thám Bắc Kỳ từ lâu rồi ạ.
Nguyễn Thái Học nói:
-Giao cho Tòa Án cách mạng của Đảng xử tử tên phản bội Bùi Tiên Mai. Bản án phải thi hành ngay lập tức.
-Dạ.
Tuần sau, Hoàng Văn Tùng, Phó Ủy Ban ám sát về báo:
-Dạ báo cáo Chủ tịch, hai ám sát viên của ta đã xử được tên Bùi Tiên Mai nhưng một đã hy sinh, một đã bị bắt.
Lại có tin từ Ban Trinh sát báo về:
-Dạ báo cáo anh, có hai đảng viên của ta là Nguyễn Văn Kinh và Nguyễn Văn Ngọc bị tra tấn dã man không vượt qua được đã khai ra rất nhiều cơ sở Đảng và tất cả những bí mật hoạt động của Tổng Bộ, thêm nhiều cơ sở Đảng bị phá và nhiều đảng viên bị bắt.
- Hồ Văn Mịch, người phụ trách chế tạo vũ khí báo cáo:
-Dạ, thưa anh, cơ sở chế tạo bom của ta ở làng Mỹ Điền, tỉnh Bắc Giang ngày 3 tháng 9 năm 1929, do sơ suất bén lửa đã phát ra tiếng nổ lớn, tường nhà bị sập đổ, mái nhà bị hất tung, người chế tạo bom đã chết, thân thể nát tan. Chủ nhà Lương Văn Trạm và nhiều đồng chí bị bắt.
-Dạ, báo cáo Chủ tịch, ngày 20 tháng 11 năm 1929, Pháp đào được 67 quả bom bỏ trong chum chôn dấu dưới đất.
-Ngày 23 tháng 12 năm 1929, tại Nội Viên, Tiên Du, Bắc Ninh, Pháp đào được 84 quả bom bỏ trong chum chôn ở gò cao.
-Dạ, thưa Chủ tịch, tất cả các cơ sở sản xuất bom ở Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Dương, Bạch Mai, ấp Thái Hà - Hà Nội đã bị lộ. Quân Pháp càng khủng bố gắt gao. Có lẽ chúng đã đánh hơi được Đảng đang chuẩn bị tổng khởi nghĩa.
Lại có tin báo:
-Dạ báo cáo lại có thêm 200 đảng viên của ta bị bắt giam, bị tra tấn rất dã man ạ.
Lại có tin báo:
-Dạ báo cáo Chủ tịch, lại có thêm 50 cơ sở Đảng bị Pháp tấn công tan vỡ ạ.
Trước tình hình khẩn trương nguy cấp đó, Nguyễn Thái Học bàn với những nhân vật chủ chốt trong Tổng Bộ:
-Pháp tấn công dữ dội, chúng kiên quyết tiêu diệt chúng ta, chúng ta phải phát động tổng khởi nghĩa, nếu không Đảng sẽ bị tiêu diệt.
Phạm Tuấn Tài nói:
-Nhưng mà việc chuẩn bị khởi nghĩa chưa hoàn tất, nếu mà khởi nghĩa chưa chắc đã thành công.
Nguyễn Thái Học nói:
-Chúng ta đã dấn thân vào con đường cứu nước thì xá gì, tổng khởi nghĩa không thành công thì cũng thành nhân.
Nguyễn Khắc Nhu nói:
-Nếu ngài đã quyết tâm tổng khởi nghĩa thì nên triệu tập Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc để quyết định.
Nguyễn Thái Học nói:
-Ngài nói phải lắm, ngài Phó Đức chính là Trưởng Ban tổ chức hãy thông báo triệu tập Đại hội Đảng toàn quốc đi, địa điểm tại làng Đức Hiệp, phủ Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh vào ngày 10 tháng 1 năm 1930.
-Tuân lệnh ngài Chủ tịch.
* *
*
Tháng 1 năm 1930, còn là mùa đông nên nắng không gay gắt, nắng chan hòa rải khắp vùng sông Đuống, làng xóm hai bên bờ sông xanh mướt bóng cây. Những cây cau cố vươn lên cao nhất, phô hàng trăm đốt và khoe buồng quả xanh, quả bé như những con chim chích chi chít bậu quanh, những rặng nhãn trùm lên những mài nhà gianh ẩn mình, che đi những cảnh nghèo nàn trong sương nắng. Trên dòng sông Đuống, những con đò như những con thoi đưa chở khách ngược xuôi đi hội đền làng Đức Hiệp, phủ Thuận Thành bên bờ Nam sông Đuống. Dòng sông xanh ngát vẫn vô tình đưa nước về xuôi theo năm tháng.
Hòa lẫn với khách bộ hành đông đúc đi dự lễ hội đền, các đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng cải trang và bí mật tới địa điểm Đại hội trong căn nhà rộng rãi chìm trong vườn vải do Thị Bộ Bắc Ninh bố trí. Do bị khủng bố nên chỉ được 200 đại biểu, chủ yếu là các chi bộ ở Bắc Kỳ về dự. Thị Bộ Bắc Ninh bố trí người gác tất cả các ngã đường về làng Đức Hiệp, có địch hay mật thám thì phải đốt pháo báo hiệu, lại bố trí một tiểu đội giấu súng ngắn và bom nhỏ bí mật mai phục bảo vệ vòng trong. Các đại biểu cũng được phát mỗi người một khẩu súng ngắn giấu trong người. Mọi người tự túc ăn uống, chủ yếu là đem theo bánh chưng, giò, trưa ăn xong vào họp ngay.
Trong căn nhà lá cọ ba gian đủ chỗ cho 200 đại biểu, không có bàn ghế, chỉ trải chiếu và ngồi xuống nền nhà. Chỉ có một cái bàn gỗ đơn sơ giành cho diễn giả đứng nói mà thôi. Mọi thành viên dự họp không được ghi chép, chỉ cố vận dụng trí óc mà nhớ. Trước mặt mọi người, bức vách chái nhà có treo lá Đảng kỳ của Việt Nam Dân Quốc dài 2m, rộng 1m, nửa trên là màu vàng, nửa dưới là màu đỏ. Bắt đầu khai mạc, Phó Đức Chính nói:
-Kính mời các đại biểu đứng dậy làm lễ chào cờ.
Mọi người đứng dậy nghiêm trang chào cờ. Tiếp theo là 3 phút mặc niệm những đảng viên đã hy sinh trong những đợt khủng bố của Pháp từ 1929 đến đầu 1930.
Mở đầu Đại hội, Trưởng ban tổ chức Phó Đức Chính giới thiệu:
-Kính mời ngài Chủ tịch Đảng Nguyễn Thái Học lên làm việc với Đại hội.
Một ông già nhưng dáng đi khỏe mạnh, đàng hoàng bước lên cạnh chiếc bàn đơn sơ, người đó mặc bộ quân áo com lê màu xám, áo sơ vin trắng, thắt cà vạt màu đỏ. Lại đến chiếc bàn, người đó bỏ kính đen, tháo bộ râu ra. Mọi người bấy giờ vui sướng nhận ra Nguyễn Thái Học. Có tiếng nói:
-Ngài Chủ tịch hóa trang khéo quá.
-Chắc là em Tổng thư ký hóa trang cho Chủ tịch.
Mọi người cười vui vẻ.
Trong thời kỳ khủng bố, không chỉ Nguyễn Thái Học mà những đồng chí trong Tổng Bộ đều phải hóa trang khi ra ngoài. Nguyễn Thái Học nói:
-Thưa các ngài, các ngài đã biết, dù không được Thành bộ Hà Nội và Tổng Bộ cho phép, ba đảng viên của Đảng đã tự động ám sát chết tên Ba danh, một tên trùm mộ phu tàn ác ở Bắc và Trung Kỳ. Đó là ba đảng viên Nguyễn Văn Viên, Nguyễn Văn Lân, Nguyễn Đức Lung. Dù không bắt được ba người, không có bằng chứng gì là vụ ám sát do Đảng ta tiến hành, nhưng Pháp đã bắt một cựu sinh viên trường Bưởi là Riêng Sanh và lấy ra một tờ danh sách 200 đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng trong túi người này. Như vậy, Pháp đã dàn cảnh để lấy cớ tấn công tiêu diệt đảng ta. Nhưng từ đâu ra được danh sách 200 đảng viên? Bây giờ câu trả lời đã rõ là do tên Bùi Tiên Mai phản bội, chỉ điểm. Ngay đợt khủng bố đầu tiên Pháp đã bắt và xử 227 đảng viên của ta. Sau đó, một số đảng viên không chịu được những đòn tra tấn dã man của Pháp đã đầu hàng và khai ra như tên Kinh, tên Ngọc, tên đội Dương. Những tên phản bội Đảng đã bị Tòa án cách mạng tối cao của Đảng xử tử, nhưng vẫn không thể hết được những tên chỉ điểm, những tên phản bội lời thề. Cho đến nay, sau nhiều lần bắt bớ khủng bố, hàng trăm đảng viên đã bị bắt tù đày, giết hại, giam cầm, hàng trăm cơ sở Đảng đã bị phá vỡ. Tình hình hiện nay, Đảng ta đang đứng trước nguy cơ tan rã và bị tiêu diệt. Trước tình hình nguy cấp đó, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương họp ở Lạc Đạo tháng 4 năm 1929 đã nhất trí chuyển từ giai đoạn xây dựng, phát triển Đảng sang giai đoạn chuẩn bị tổng khởi nghĩa để cứu Đảng. Nhưng tình hình không chỉ dừng lại để ta chuẩn bị mà trước tình hình khẩn cấp hiện nay chúng tôi dự tính chuyển sang giai đoạn tổng khởi nghĩa. Mong các ngài thảo luận cho ý kiến để Đại hội ra được quyết định đúng đắn.
Sau lời phát biểu của Nguyễn Thái Học, không khí chìm hẳn xuống, sự lo lắng cho vận mệnh của Đảng bao trùm hội trường. Trong đầu đại biểu nào cũng có một câu hỏi với tình hình bất lợi như bây giờ thì tổng khởi nghĩa có thể thắng lợi được không hay đưa Đảng đến bờ diệt vong? Lê Hữu Cảnh đứng lên nói:
-Tôi phản đối tổng khởi nghĩa. Ngài Chủ tịch Đảng Nguyễn Thái Học vừa nói đến tình hình của Đảng khó khăn về mọi mặt, nhất là việc chuẩn bị lực lượng chưa hoàn tất. Không có thời cơ, không có thiên thời, không có địa lợi, không có nhân hòa thì tổng khởi nghĩa lúc này là thất bại, là Đảng bị tiêu diệt.
Tiếp theo Lê Hữu Cảnh thì Nguyễn Đôn Lâm đứng dậy:
-Tôi tán thành ý kiến của ngài Lê Hữu Cảnh, chúng ta chưa xây dựng được lực lượng, tổng khởi nghĩa là thất bại, hơn nữa sau đó sẽ tai hại vô cùng là Đảng bị tan rã và không tồn tại.
Tiếp theo sau ý kiến của Lê Hữu Cảnh, Nguyễn Đôn Lâm thì còn khoảng 10 ý kiến nữa phản đối tổng khởi nghĩa. Ý kiến của Tổng Bộ và Ban chấp hành Trung ương phát biểu, đa số đều tán thành tổng khởi nghĩa. Cuộc tranh luận giữa hai luồng ý kiến kéo dài và gay gắt và hình như không có hồi kết. Nguyễn Thái Học nói:
-Thực ra nói rằng chúng ta chưa đủ lực lượng cũng không đúng, chúng ta có hàng trăm chi bộ dân sự, hàng chục chi bộ nhà binh, lẽ nào ngồi chờ bị Pháp dần dần tiêu diệt hết? Cho dù tổng khởi nghĩa “Không thành công thì cũng thành nhân".
Nguyễn Đôn Lâm hỏi:
-Xin ngài Chủ tịch giải thích “Không thành công cũng thành nhân” là như thế nào ạ?
Nguyễn Thái Học đáp:
-Trước hết khi thành lập Việt Nam Quốc Dân Đảng, những đảng viên vào Đảng đều không không quản sự hy sinh của bản thân để làm con người yêu nước, trung với nước, vì dân và vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, như vậy dù sự nghiệp không thành công nhưng chúng ta đã làm được con người vì dân vì nước là bậc thang giá trị bậc nhất trong bảng giá trị của con người, sử sách sẽ ghi tên họ vạn đại thiên thu. Đó là nghĩa thứ nhất của “Không thành công cũng thành nhân”. Ý nghĩa thứ hai là sự kiện tổng khởi nghĩa của chúng ta sẽ làm chấn động nước Pháp, chấn động thế giới, chấn động Đông Dương, nói lên tinh thần bất khuất của dân tộc Việt Nam. Chúng ta hy sinh nhưng tấm gương của chúng ta sẽ cổ vũ thế hệ hiện tại và mai sau đứng lên đấu tranh không ngừng để giành độc lập dân tộc, tiêu diệt quân thù. Chúng ta là cầu nối để các thế hệ sau đi đến đài chiến thắng. Chưa nói đến những trang lịch sử của 1.000 năm đấu tranh chống phong kiến Trung Quốc để giải phóng đất nước, chỉ nói đến lịch sử gần đây, từ khi Pháp xâm lược cho đến nay, các ngài Trương Công Định, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Hữu Huân, vua Hàm Nghi, Tôn Thất Thuyết, Phan Đình Phùng, Đinh Công Tráng, Phạm Bành, Nguyễn Thiện Thuật, gần đây nhất là Hoàng Hoa Thám và nhiều người nữa, tôi không có thời gian kể hết. Các ngài ấy đều biết lực lượng quá chênh lệch so với Pháp, nhưng các ngài đã chiến đấu cho đến viên đạn cuối cùng, cho đến hơi thở cuối cùng. Đó là gì? Đó là vì tinh thần "Không thành công cũng thành nhân". Chúng ta đã lập Đảng cách mạng, chúng ta đã vào Đảng cách mạng là chúng ta đã sẵn sàng tinh thần "Không thành công cũng thành nhân”, sẵn sàng “Sát thân thành nhân”. Tại sao chúng ta còn chần chừ do dự trong giờ phút quyết định này?
Nguyễn Thái Học dừng lại. Dù là họp bí mật nhưng hội trường vang lên tiếng vỗ tay như tràng pháo mãi không dứt. Sau khi tràng vỗ tay dứt, Nguyễn Thái Học hỏi:
-Còn đại biểu nào phát biểu?
Im lặng. Vài phút sau, Nguyễn Thái Học nói:
-Đảng đã dân chủ bàn bạc. Bây giờ chúng ta lấy biểu quyết của đại biểu. Ai không tán thành tổng khởi nghĩa, xin giơ tay?
Khoảng 30 cánh tay giơ lên. Nguyễn Thái Học đếm và nói:
-30 đại biểu. Ai đồng ý tổng khởi nghĩa giơ tay?
Nguyễn Thái Học đếm và nói:
-170 đại biểu. Như vậy đa số các đại biểu tán thành tổng khởi nghĩa. Tôi thay mặt Đảng tuyên bố, Việt Nam Quốc Dân Đảng bước vào thời kỳ tổng khởi nghĩa lật đổ nền bảo hộ của Pháp, giành độc lập dân tộc, xây dựng thiết chế cộng hòa, độc lập, dân chủ, tự do ở Việt Nam.
Nguyễn Thái Học đọc lời “Hiệu triệu tổng khởi nghĩa”.
Nguyễn Thái Học dứt lời, một tràng vỗ tay lại vang lên như pháo nổ mùa xuân. Các đại biểu chào Đảng kỳ rồi Đại hội bế mạc. Các đại biểu tản về các địa phương triển khai "Nghị quyết Tổng khởi nghĩa" của Đảng ở các chi bộ cơ sở.
Sau Đại hội Đảng ở làng Đức Hiệp, để xúc tiến tổng khởi nghĩa, ngày 26 tháng 1 năm 1930, Hội nghị ban chấp hành Trung ương họp tại làng Mỹ Xá, phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Hội nghị này đã quyết định khởi nghĩa ở một số nơi là đô thị và những điểm quân sự quan trọng của Pháp như Sơn Tây, Hải Dương, Hải Phòng, Kiến An, Bắc Ninh, Đáp Cầu, Phả Lại, Hưng Hóa, Lâm Thao, Hà Nội. Không lâu sau, Hội nghị bí mật của Tổng Bộ ở Yên Tử, Quảng Ninh chỉ định chỉ huy khởi nghĩa ở các địa phương:
Yên Bái do Trần Văn Liêm, Thanh Giang và Nguyễn Văn Khôi chỉ huy.
Hưng Hóa và Lâm Thao do Nguyễn Khắc Nhu chỉ huy.
Sơn Tây do Phó Đức Chính chỉ huy.
Phả Lại, Hải Dương do Nguyễn Thái Học chỉ huy
Hải Phòng, Kiến An do Hồ Văn Mịch chỉ huy.
Hà Nội do Đoàn Trần Nghiệp chỉ huy.
Hội nghị cũng lập ra Tổng Bộ chiến tranh là cơ quan chỉ đạo cao nhất trong tổng khởi nghĩa.
Ngày khởi nghĩa được ấn định vào ngày 10 tháng 2 năm 1930.
VII
Đang là mùa xuân nên thị xã Yên Bái không khí mát mẻ, nắng vàng nhạt rải xuống muôn cây lá. Dòng sông Hồng vẫn như một giải lụa muôn thuở mềm mại đưa nước về xuôi. Vài con thuyền của ngư dân trôi nổi kiếp giang hồ lang thang đây đó. Vài đàn chim tung cánh trên trời bay về tổ ấm phương xa. Trên các đường phố đang là lễ hội đền Tuần Quán nên người đi lễ hội, đi chơi xuân đông đúc. Nghĩa quân của Việt Nam Quốc Dân Đảng cũng dấu vũ khí trong người, súng bom trong quang gánh hòa vào dòng người về nơi quy định. Trước đó vài ngày, cô Nguyễn Thị Giang, Nguyễn Thị Bắc cùng vài chiến sĩ nữ đã quang gánh giả đi buôn bán chuyển vũ khí từ Lâm Thao về Yên Bái bằng đường xe lửa.
Chỉ huy khởi nghĩa Yên Bái là Nguyễn Văn Khôi, Thanh Giang và Trần Văn Liêm. Chỉ huy lính khố đỏ, khố xanh đi theo cách mạng là Ngô Hải Hoàng (Cai Hoàng), Cai Thuyết. Trong hành dinh khởi nghĩa, Trần Văn Liêm ra lệnh:
-Ngài Nguyễn Văn Khôi.
-Có.
-Ngài dẫn 30 tay súng đánh chiếm thị xã Yên Bái
-Tuân lệnh.
-Ngài Thanh Giang.
-Có.
-Ngài bí mật đem 30 nghĩa quân đến gần đồn Dưới của Pháp, báo cho Cai Hoàng biết 1 giờ đêm nay tấn công, chiếm xong đồn Dưới thì đánh chiếm đồn Trên ở trên cao.
-Tuân lệnh.
Trần Văn Lâm nói thêm.
-Nhớ là đánh đến đâu treo Đảng kỳ đến đó và phát bài “Hịch kêu gọi Tổng Khởi nghĩa” của Đảng.
-Rõ, tuân lệnh.
Màn đêm buông xuống dần, thị xã trung du chìm vào yên tĩnh. Chỉ còn những tên lính Pháp đi tuần tiễu về đêm bước đi trên đường phố. Đúng một giờ đêm ngày 9 tháng 2 năm 1930, nghĩa quân nổ súng bắn chết bọn lính đi tuần rồi đánh chiếm nhà ga, bưu điện. Trong đêm, lá cờ nửa vàng nửa đỏ bay phấp phới trên nóc nhà bưu điện và nhà ga. Một bộ phận nghĩa quân tiến đánh dinh Công sứ pháp và dinh Tổng đốc Yên Bái nhưng quân Pháp đóng cửa cố thủ, không nghênh chiến.
Nghe tiếng súng nổ trong thị xã, Thanh Giang ra lệnh nổ súng tấn công đồn Dưới, lính khố đỏ do Cai Hoàng chỉ huy cùng nổi dậy. Ngay loạt đạn đầu, nghĩa quân đã giết chết quan ba Ju đam, quan một Rô be, viên quản Cu neo, viên đội Sơ va li ê, sĩ quan Bu hi ê. Một số sĩ quan Pháp bị thương nặng. Cai Hoàng ra lệnh:
-Chiếm kho vũ khí và lấy súng đạn nhanh.
-Tuân lệnh.
Thanh Giang hỏi Cai Hoàng:
-Đồn Trên tên nào chỉ huy?
-Đồn Trên do tên Trung tá Ai mơ Lơ Ta công chỉ huy.
Thanh Giang ra lệnh:
-Ngài chỉ huy tấn công chiếm đồn Trên.
-Tuân lệnh.
Cai Hoàng chỉ huy quân khố đỏ cùng nghĩa quân tấn công đồn Trên nhưng Ta con cố thủ, lại thêm quân khố xanh ở đây vào phút quyết định đã thay đổi thái độ, không nổi dậy theo, lại nổ súng chống nghĩa quân. Đạn từ đồi cao bắn xuống như mưa. Quân khởi nghĩa thương vong nhiều mà khi trời đã sáng vẫn không chiếm được đồn Trên
Trong đồn, 7 giờ sáng 10-2-1929 Ta con ra lệnh:
-Ngài quan ba Rô ca.
-Có thuộc cấp.
-Ngài dẫn một cánh quân tấn công quân phiến loạn trước mặt.
-Thuộc cấp tuân lệnh.
-Ngài quan một Va ren.
-Có thuộc cấp.
-Ngài chỉ huy một cách quân tấn công sườn bên phải quân phiến loạn.
-Thuộc cấp tuân lệnh.
-Ngài đội On li vi ê.
-Có thuộc cấp.
-Ngài dẫn một toán quân tấn công sườn trái quân phiến loạn
-Thuộc cấp tuân lệnh.
Quân Pháp mở cổng đồn từ trên cao vây bọc ba hướng tấn công nghĩa quân. Đồng thời Pháp điều máy bay lên bay thấp và xả đạn từ trên đầu nghĩa quân. Nghĩa quân bị đánh từ ba hướng và trên không trung nên hy sinh gần hết, còn một số phải rút vào rừng.
Ta con chiếm lại đồn Dưới. Quân khởi nghĩa chỉ làm chủ được thị xã Yên Bái và đồn Dưới được một đêm. Quân Pháp bắt được 4 cai, 22 lính khố đỏ cùng 25 nghĩa quân. Chúng còn nhặt được những tờ “Hịch kêu gọi khởi nghĩa” ở trại lính và nhiều nơi trong thị xã:
“Đuổi giặc Pháp về nước Pháp,
Đem nước Nam trả lại người Nam
Cho trăm họ khỏi lầm than
Được thêm phần hạnh phúc”.
Tại Hưng Hóa, trong đêm ngày 9 tháng 2 năm 1930, Nguyễn Khắc Nhu ra lệnh:
-Ngài Phạm Nhuận.
-Có thuộc cấp.
-Ta sẽ phụ trách đánh đồn Hưng Hóa, ngài đem quân đánh phủ huyện Lâm Thao.
-Thuộc cấp tuân lệnh.
Phạm Nhuận kéo 100 quân đi. Mỗi nghĩa quân có băng vàng ghi chữ “Quân cách mạng” quấn vào cánh tay. Trong đêm, lá cờ nửa đỏ nửa vàng tung bay theo bước của nghĩa quân.
3 giờ sáng ngày 10 tháng 2 năm 1930, nhận được pháo hiệu bắn lên báo giờ khởi sự, Nguyễn Khắc Nhu ra lệnh:
-Hỡi quân cách mạng vinh quang, hãy tấn công đồn Hưng Hóa, tiêu diệt kẻ thù.
-Tuân lệnh.
Nghĩa quân nổ súng vào đồn. Phó chỉ huy Thúy của nghĩa quân đọc “Hịch kêu gọi khởi nghĩa” kêu gọi binh lính quay súng về với cách mạng. Trong đồn bắn ra, Nguyễn Khắc Nhu ra lệnh:
-Ném bom vào đồn.
Nghĩa quân ném bom tự chế vào đồn nhưng chất lượng thuốc nổ kém, vỏ bom phần lớn đúc bằng xi măng nên không có hiệu quả sát thương cao. Nguyễn Khắc Nhu ra lệnh:
-Rút về Lâm Thao hỗ trợ cho Phạm Nhuận.
Tại Lâm Thao do bị tấn công bất ngờ, tri phủ Đỗ Kim Ngọc chạy trốn. Phạm Nhuận ra lệnh:
-Chiếm công đường của phủ
-Tuân lệnh.
Nghĩa quân tiến vào treo cờ vàng đỏ lên nóc phủ đường, thu súng đạn, công văn, giấy tờ nhưng vẫn chưa tiêu diệt được lính lệ đang cố thủ ở lô cốt cạnh công đường. Hai bên bắn nhau dữ dội cho đến sáng. 10 giờ sáng thì có lính về báo:
-Dạ báo cáo chỉ huy, Công sứ Hưng Hóa So vét đem quân tiếp viện đã đến nơi.
Phạm Nhuận ra lệnh:
-Chuẩn bị đánh quân tiếp viện.
Quân của Nguyễn Khắc Nhu vừa tới cũng tham chiến. Hai bên nổ súng vào nhau kịch liệt. Phủ Lâm Thao ngập tràn khói lửa và tiếng nổ vang như pháo rền vang. Công sứ Chauvet bị một phát đạn vào vai kêu lên một tiếng và gục xuống. Nhưng quân Pháp đông như kiến cỏ. Quân khởi nghĩa hy sinh gần hết. Nguyễn Khắc Nhu bị thương ở đùi, máu chảy đầm đìa, quân Pháp xông vào bắt sống, ông rút chốt quả tạc đạn và nằm đè lên để tự sát. Tạc đạn nổ, Nguyễn Khắc Nhu chỉ bị thương vào bụng và vào ngực, quân Pháp nhồi ruột ông bị lồi ra vào bụng và bắt ông đem lên thuyền trở về Hưng Hóa. Ra đến giữa sông, Nguyễn Khắc Nhu nhảy xuống sông tự vẫn nhưng quân Pháp lại vớt ông lên, đưa về giam ở nhà lao Hưng Hóa. Nguyễn Khắc Nhu đập đầu vào tường mà chết. Đó là ngày 11 tháng 2 năm 1930, khi đó ông mới 49 tuổi.
Sau Yên Bái, đến lượt khởi nghĩa Hưng Hóa thất bại, một số nghĩa quân bị bắt trong đo có Bùi Văn Mai, Ủy viên Trung ương Đảng.
Tại hành dinh của tổng khởi nghĩa đặt tại Hải Dương, sáng 13 tháng 2 năm 1930, Nguyễn Thái Học đang ngồi theo dõi diễn biến của khởi nghĩa ở các địa phương thì có liên lạc về báo:
-Dạ bẩm Chủ tịch, các tỉnh Yên Bái, Hưng Hóa vẫn khởi nghĩa theo kế hoạch cũ ạ.
Nguyễn Thái Học hỏi:
-Vì sao vậy, ta đã ra lệnh hoãn khởi nghĩa đến 15 tháng 2 cơ mà?
-Dạ liên lạc viên của ta dọc đường bị Pháp bắt cho nên ngài Thanh Giang ở Yên Bái và Nguyễn Khắc Nhu ở Hưng Hóa không nhận được lệnh thay đổi thời gian ạ.
Lại có liên lạc viên về báo
-Dạ báo cáo Chủ tịch, khởi nghĩa Yên Bái, quân ta đã làm chủ thị xã, chiếm được đồn Dưới nhưng đến sáng quân Pháp ở đồn Trên phản công, chúng lại cho máy bay bắn trên đầu, quân ta hy sinh gần hết, còn lại rút vào rừng, Khởi nghĩa Yên Bái đã thất bại rồi ạ.
Lại có tin về báo:
-Dạ báo cáo Chủ tịch, khởi nghĩa Hưng Hóa, quân ta đã chiếm được phủ đường phủ Lâm Thao nhưng hôm sau quân Pháp từ Phú Thọ lên phản công. Nghĩa quân bị hy sinh gần hết, ngài Nguyễn Khắc Nhu bị bắt vào nhà lao Hưng Hóa nhưng đã đập đầu vào tường tự sát, ngài Bùi Xuân Mai bị bắt rồi ạ.
Trái tim Nguyễn Thái Học bỗng đau nhói:
-Hả, Nguyễn Khắc Nhu tự sát chết rồi sao?
-Dạ, thưa Chủ tịch.
Lại có tin báo về:
-Dạ, thưa Chủ tịch, kế hoạch tấn công đồn Chùa Thông ở thị xã Sơn Tây bị lộ, ngài Phó Đức Chính bị Pháp bắt ngày 10 tháng 2 năm 1930 rồi ạ.
Do bị hoãn lại theo kế hoạch mới cho nên các cuộc khởi nghĩa ở miền xuôi mãi tới 14 tháng 2 năm 1930 mới bùng nổ. Tại Thái Bình, đêm 14 tháng 2, nghĩa quân đánh chiếm được phủ đường Phủ Dực nhưng tên tri huyện Trương Trọng Hiền trốn thoát. Nghĩa quân đã đốt giấy tờ, sổ sách, chiếm kho súng đạn và tự giải tán. Tại Vĩnh Bảo, Hải Phòng, nghĩa quân do Trần Quang Diệu chỉ huy đã phục kích bắn bị thương tri huyện Hoàng Gia Mô, cháu nội Hoàng Cao Khải, bắt sống và xử tử tại Vĩnh Bảo. Tại Vĩnh Bảo kế hoạch khởi nghĩa bị lộ. Tên công sứ La xa len và Phó Công sứ L. Gô re đã bắt giam toàn bộ lính khố đỏ đi theo cách mạng nên họ không nổi dậy phối hợp được. Tại Hà Nội, đội cảm tử của Đoàn Trần Nghiệp đã đặt 2 quả bom ở nhà Chánh mật thám Ac nu, đặt ở Hỏa Lò 8 quả, Sở Sen Đầm 2 quả, cảnh sát quận 1 hai quả, cảnh sát quận 2 hai quả, Bọm nổ nhưng không tên Pháp nào thiệt mạng. Đoàn Trần Nghiệp bị Pháp bắt ở Nam Định do đội Tảo phản bội chỉ điểm và bị hành quyết tại Hà Nội.
Trong những tháng đầu năm 1930, Toàn quyền Đông Dương Pi e Pa ki ê chịu nhiều áp lực nặng nề bởi cuộc tổng khởi nghĩa của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Chính phu Pháp dọa cách chức Toàn quyền nếu như không dẹp được phiến loạn. Hàng tập báo tại Pháp và tại Đông Dương lần lượt đăng bài chỉ trích Chính quyền Đông Dương. Thậm chí báo chí của Đảng Xã Hội, Đảng Cộng Sản Pháp còn ca tụng sự bất khuất anh dũng của cuộc khởi nghĩa, của nhân dân Việt Nam. Cuộc khởi nghĩa của Việt Nam Quốc Dân Đảng quả nhiên đã làm chấn động nước Pháp và Đông Dương.
Sáng hôm nay sau bữa ăn sáng, Toàn quyền P. Pa ki ê gọi điện cho Thống sứ Bắc Kỳ Ro bin, giọng của Pa ki ê gay gắt:
-Ngài xử lý cuộc bạo loạn của Việt Nam Quốc Dân Đảng thế nào rồi?
-Thưa ngài Toàn quyền, thuộc cấp đang xử lý ạ.
-Đang đang cái gì, ngài chờ cho đến khi chúng nổ bom hoặc tấn công vào phủ Toàn quyền, hay phủ Thống sứ của ngài chăng?
-Dạ không thể…
-Thế nào là không thể, trên đời này không có cái gì là không thể. Ta ra lệnh cho ngài trong một thời gian ngắn phải thực hiện: thứ nhất, bắt hết những nhân vật chủ chốt của Việt Nam Quốc Dân Đảng, nhất là Nguyễn Thái Học. Truy nã khắp nơi, phong tỏa tất cả những nơi mà chúng đã nổi dậy và khủng bố ác liệt, dùng máy bay ném bom vào những nơi nghi ngờ chúng đang trú ẩn như các làng Cổ Am, Võng La, Xuân Lững, Sơn Đường, Kha Lẫm là những nơi từng là cơ sở cách mạng, nay có thể là nơi chúng đang về lẩn trốn và được che dấu. Thứ hai, đàn áp và quản thúc tất cả các làng Thổ Tang, Bắc Giang là quê hương của Nguyễn Thái Học và Nguyễn Khắc Nhu. Quản thúc và canh phòng nghiêm ngặt gia đình Nguyễn Thái Học và Nguyên Khắc Nhu. Dùng máy bay trinh sát và tuần tra gắt gao các tỉnh Yên Bái, Phú Thọ, Hải Dương, Kiến An, Hải Phòng, Sơn Tây. Thứ ba, chặn tất cả các con đường sang biên giới với nước Tàu, đề phòng Việt Nam Quốc Dân Đảng, nhất là các lãnh tụ chạy sang Trung Quốc.
-Dạ thưa toàn quyền, thuộc cấp đã rõ.
-Ngài cẩn thận cái ghế Thống sứ của ngài. Ngài hãy đọc các báo ở Pháp và ở Đông Dương đi. Ngài cai quản Bắc Kỳ như vậy sao?
-Dạ thưa Toàn quyền, thuộc cấp đã biết rồi ạ.
Toàn quyền Pa ki ê dập máy, vẫn chưa hết tức giận:
-Người đâu.
-Dạ.
-Ra lệnh cho các báo không được đưa tin cuộc đàn áp khốc liệt của chính quyền Đông Dương với cuộc nổi loạn của Việt Nam Quốc Dân Đảng, nhất là những cuộc ném bom vào các làng sắp tới. Tờ báo nào trái lệnh, đóng cửa.
-Nhưng thưa ngài, còn quyền tự do ngôn luận do chính chúng ta đưa ra thì sao a?
-Đây là thuộc địa, thuộc địa thì làm gì có tự do dân chủ, các tòa án xét xử cũng không có luật sư, có luật sư cũng không được bào chữa. Chúng ta chỉ tuyên bố để mị dân, để đánh bóng chế độ mà thôi.
-Dạ.
Sáng ngày 16 tháng 2 năm 1930, cả làng Cổ Am đang bình yên, bỗng người ta nghe trên không trung có tiếng động cơ gầm rít và sau đó 10 chiếc máy bay nhào xuống cắt bom. Bom xé gió rơi xuống rồi nổ như sấm sét tạo nên những quầng lửa đốt cháy nhà cửa, sát hại hàng loạt con người vô tội. Phút chốc, cả làng biến thành biển lửa và chết chóc. Tiếng la hét vang trời chuyển đất. Pháp đã trút xuống làng Cổ Am 700 kg bom. Những ngày tiếp theo Pháp cho máy bay ném bom thảm sát các làng Võng La, Xuân Lững, Sơn Dương, Kha Lẫm. Ném bom thảm sát những người vô tội là vết nhơ bẩn nhục nhã nhất trong lịch sử thực dân ở thuộc địa của Pháp. Ấy vậy mà các báo ở Đông Dương im lặng trước tội ác dã man này. Chỉ có tờ “Phụ Nữ tân văn” của bà Nguyễn Đức Thuận (Cao Thị Khanh) mới dám đưa tin tức về tội ác này.
VIII
Hoàng hôn tím dần đang bao trùm vùng Bắc Ninh, các mái nhà trong thôn làng đang đỏ lửa bữa cơm chiều tối, chim dáo dác bay về tổ ấm, gió xuân se lạnh. Sông Đuống tím dần in bầu trời vàng rực vẫn êm ả tuôn nước về Lục Đầu Giang.
Trong căn nhà nhỏ của Lê Hữu Cảnh ở một làng nam Bắc Ninh, khó khăn lắm Nguyễn Thị Giang mới gặp được Nguyễn Thái Học trong cơn phong ba của lùng sục, khủng bố, bắt bớ, đàn áp. Phu thê gặp nhau trong sự mừng mừng mừng tủi tủi lo âu lẫn lộn. Người này lo cho người kia. Sau một lần nước, cô Giang khuyên Nguyễn Thái Học:
-Anh tạm thời lánh sang Trung Quốc một thời gian, chúng lùng sục anh rất gắt gao, em lo quá.
Nguyễn Thái Học cầm tay cô Giang và nói:
-Anh là Chủ tịch Đảng, trong lúc nước sôi lửa bỏng này anh phải ở lại để xây dựng lại Đảng, xây dựng lại phong trào cách mạng, động viên những đồng chí còn hoạt động, những đồng chí đã bị bắt giam trong tù. Có chết cũng là “sát thân thành nhân”. Em yêu đừng lo lắng.
Cô Giang đã biết tính khí vị phu quân của mình đã nói là làm, không thể thay đổi được lòng kiên trì sắt đá của anh. Cô nén dòng cảm xúc lo lắng của mình. Nguyễn Thái Học lại nói:
-Tối nay, anh phải đi Cẩm Phả, Quảng Ninh, có lẽ để bắt đầu xây dựng, củng cố lại Đảng từ đó.
-Vâng, vậy để em nấu cơm cho anh ăn rồi đi.
Bữa cơm có ba người ăn, thêm cả Sư Trạch là người bảo vệ cho Nguyễn Thái Học từ khi thành lập Đảng. Cơm xong thì trời đã tối. Nguyễn Thái Học và cô Giang chia tay nhau. Cô có linh cảm là chuyến đi này lành ít dữ nhiều. Tiếng cô rung lên trong tay Nguyễn Thái Học:
-Anh đi phải nhớ cẩn thận, nhớ bảo trọng.
-Anh nhớ rồi, em bảo trọng, đừng lo cho anh nhiều.
Nguyễn Thái Học và Sư Trạch bước đi. Cô Giang còn dặn theo:
-Hai anh nhớ bảo trọng.
-Em nhớ bảo trọng.
Hai bóng người xa dần trong bóng đêm. Khuya hai người mới đến trại Cổ Vịt, Chí Linh, Hải Dương, nếu mà đi tiếp, đêm, mật thám sẽ nghi ngờ, vả lại cũng sẽ không có đò qua sông Bạch Đằng vào giờ này. Hai người vào một quán trọ nghỉ, sáng hôm sau, ăn sáng xong lại lên đường. Khắp nơi thôn làng, thị trấn, thị xã đâu đâu cũng dán ảnh Nguyễn Thái Học, lệnh truy nã và số tiền thưởng 5.000 đồng Đông Dương, phong phẩm hàm cho kẻ nào bắt được Chủ tịch Việt Nam Quốc Dân Đảng. Đường sá khi đó đã đông người đi lại. Hai người qua một chốt của cảnh sát, xuất trình giấy tờ và thẻ căn cước. Một tên cảnh sát nói:
-Chiếc mũ phớt và kính râm làm chúng tôi không nhận rõ mặt, mời hai ngài bỏ mũ và kính ra.
Nguyễn Thái Học bỏ mũ và kính ra. Tên mật thám săm soi rất kỹ và nói:
-Ngoài bộ râu ra còn nhìn ngài hao hao giống Nguyễn Thái Học.
Một tên nói:
-Có khi đó là râu giả. Ngài cho chúng tôi sờ bộ râu được không?
Không cần chờ Nguyễn Thái Học đồng ý, hắn sờ vào và mạnh tay rứt bộ râu ra và kêu lên:
-Nguyễn Thái Học, Nguyễn Thái Học…
Tiếng kêu của hắn đứt quảng vì bị một viên đạn của Sư Trạch từ sau bắn tới, lại một tên nữa trúng đạn gục xuống. Nguyễn Thái Học cũng rút súng ra. Nhưng từ phía sau, bọn cảnh sát đã bắn vào chân hai người. Hai người bị thương không chạy được, bọn cảnh sát đông vô kể từ bốn phía ập lại. Cuộc đấu súng khiến vài tên cảnh sát gục xuống nhưng chúng quá đông, chỉ vài phút sau Nguyễn Thái Học và Sư Trạch bị bắt. Chúng nhanh chóng khóa tay hai người bằng khóa sắt. Tin bắt được Nguyễn Thái Học làm chấn động Đông Dương. Thực dân Pháp thì mừng rỡ nhưng Việt Nam Quốc Dân Đảng hoàn toàn sụp đổ về tinh thần và tan rã. Đó là ngày 20 tháng 2 năm 1930. Chúng đưa Nguyễn Thái Học và Sư Trạch lên nhà giam Yên Bái. Ngày 28 tháng 3 năm 1930, Hội đồng đề hình xét xử ở Yên Bái, kết án 34 người trong Việt Nam Quốc Dân Đảng tù khổ sai chung thân, 50 người bị lưu đày, 40 người bị tử hình, trong đó có Nguyễn Thái Học. Không lâu sau, Chính phủ Pháp chuyển Nguyễn Thái Học và một số đồng chí về nhà tù Hỏa Lò, Hà Nội.
Khi nhận được tin dữ Nguyễn Thái Học bị bắt ở ấp Cổ Vịt, Hải Dương, cô Giang bàng hoàng gục xuống. Nếu không có một nghị lực kiên cường của một chiến sĩ cách mạng thì cô đã không còn trụ vững được nữa. Lòng cô đau buồn như xé. Cô hồi ức lại những kỷ niệm của người chồng yêu quý dào dạt chảy về trong tâm tưởng. Cô nhớ lại bố anh Học là cụ Nguyễn Văn Hách, mẹ là bà Nguyễn Thị Quỳnh. Bố mẹ sinh được sáu người con, anh Học là con trai cả, thứ hai là em gái Nguyễn Thị Bình, Thứ ba là Nguyễn Thị Ưu, em trai thứ tư là Nguyễn Văn Nho, thứ năm là em Nguyễn Văn Lâm, cả hai đều là đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng và hiện đang bị Pháp truy nã, em út là Nguyễn Thái Nỉ, năm nay mới khoảng 4 đến 5 tuổi mà thôi. Cô Giang nhớ lại những lần anh Học đưa cô về thăm gia đình ở làng Thổ Tang, phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên, cả nhà đều quý mến con dâu và chị dâu bởi không phải cô chỉ xinh đẹp mà còn do đặc tính của cô là dịu dàng, hiền lành, đảm đang, khéo léo, thông minh và tài năng. Bao giờ về thăm cô cũng mua quà cho thầy mẹ, cho các em, đặc biệt là cho bé Nỉ. Làng anh Học có ngôi đền Thổ Tang cổ kính, đi qua đền rẽ vào con đường nhỏ thì vào được nhà anh. Nhà có một cái lợp gianh, một cái lợp lá cọ. Khi về, cả nhà nhường cho cô và anh Học căn nhà lợp lá cọ, gọn gàng sạch sẽ thoáng mát. Đây cũng là nơi anh Học tiếp khách khứa, bạn bè từ Sơn Tây và Việt Trì về. Cô Giang nhớ lại khi về quê có những đêm không thể quên được ở sân đình làng Thổ Tang. Nghe cô Giang và anh Học về, thanh niên trai gái kéo về đông đúc, có cả lính khố đỏ, lính khố xanh đến để nghe cô Giang và anh Học ngâm thơ. Anh học thì giỏi diễn thuyết. Mọi người đến còn là để nghe anh nói về thời sự, nói về nỗi cực khổ của dân mình, đặc biệt là nông dân ở các làng quê nghèo đói, thất học. Khi về thăm quê, anh em họ hàng đều khen anh và cô thật là một đôi trai tài gái sắc. Lần cuối cùng cô và anh Học về thăm nhà là mùa thu năm 1929.
Cô Giang ứa nước mắt nhìn hai kỷ vật mà Nguyễn Thái Học để lại cho cô: khẩu súng ngắn, một băng đạn để cô tự bảo vệ mình trong khi hoạt động và chiếc đồng hồ quả quýt gắn với sợi dây chuyền vàng nhỏ. Vật kỷ niệm còn đây, sao anh đã vội xa em? Cô Giang ôm mặt nức nở.
* *
*
Hà Nội đêm 16 tháng 6 năm 1930, ánh mặt trời đã tắt, bóng đêm bao trùm thành phố. Cây cối đứng im không một làn gió, nhà cửa, đường phố chìm trong ánh đèn điện vàng khè. Một vài chiếc xe kéo tay chở khách chạy ì ạch. Trong thời buổi loạn ly, người dân lo sợ ít khi ra đường.
Trước cổng nhà tù Hỏa Lò đêm nay đông lính, súng ống lưỡi lê tuốt trần xếp hai hàng bên lối vào nhà tù. Bên đường, một chiếc xe tải bọc lưới sắt chờ sẵn. Tên chỉ huy Arnox tiến vào xà lim án tử hình, mở danh sách và đọc tên từng người. Người đó đứng dậy thì lập tức bị xích hai tay và đưa lên xe bọc lưới sắt. Người đầu tiên là Bùi Tư Toàn, một nông dân tham gia Việt Nam Quốc Dân Đảng, người thứ 13 cũng là người cuối cùng là Nguyễn Thái Học. Nguyễn Thái Học bị hai tên lính xích tay và kèm ra xe. Anh nói to:
-Xin chào các anh ở lại, chúng tôi đi đây, vĩnh biệt.
Tiếng hô của các tù nhân vang động khu Hỏa Lò:
-Chào những anh hùng, vĩnh biệt các anh.
-Đả đảo khủng bố. Đả đảo. Đả đảo.
-Đả đảo thực dân Pháp.
-Đả đảo bọn giết người.
-Việt Nam muôn năm.
-Việt Nam vạn tuế.
Trong đêm vắng, tiếng cửa nhà tù đóng mạnh. Tiếng dùi cui đập vào cửa sắt nhà tù đe dọa. Xe rồ máy chạy vội ra ga Hàng Cỏ. Sau đó chúng đưa 13 người lên một toa xe lửa riêng biệt, không có hành khách. Trên toa đã có sẵn 30 lính lê dương súng đạn đầy mình ngồi chắn hai đầu toa chở 13 người. Ngồi chung với 13 người là hai cố đạo người Pháp tên là Méc lét và Đô nét. Nguyễn Thái Học hỏi hai cố đạo:
-Hai ngài có biết họ đưa chúng tôi đi đâu không?
-Họ đưa các ông lên Yên Bái để tử hình bằng máy chém.
Hà Văn Lạc hỏi:
-Sao chúng không bắn chúng ta ở Hà Nội, lại đem lên tận Yên Bái?
Nguyễn Thái Học đáp:
-Một là chúng sợ dư luận Hà Nội, hai là chúng đe dọa Yên Bái vì Yên Bái là trung tâm của cuộc tổng khởi nghĩa vừa qua. Nhưng không sao, chúng ta hy sinh ở Yên Bái càng làm cho khởi nghĩa Yên Bái mang tính chất anh hùng ca bi tráng. Lịch sử sẽ gọi cuộc tổng khởi nghĩa của chúng ta là Khởi Nghĩa Yên Bái.
Bùi Tư Toàn hỏi:
-Cái máy chém này nó từ đâu mà ra anh Học?
Nguyễn Thái Học đáp:
-Thời Trung đại, bọn phong kiến châu Âu và Pháp rất tàn ác, chúng chế tạo ra 50 cái máy chém để giết hại nhân dân và những người chống lại chúng. Cấu tạo máy chém thường có hai cái khung sắt cao khoảng 3m, trên cao treo lưỡi dao nặng và cực sắc, dưới có bệ kê đầu người, khi tên đao phủ bấm nút thì lưỡi dao lao xuống, đầu người văng xuống và máu phun lên.
Mọi người đều nói:
-Tàn ác quá, chúng xưng là văn minh sao tàn ác như thời trung cổ mọi rợ vậy?
Nguyễn Văn Nhật nói:
-Anh Học cái gì cũng biết, đúng là “Đại Giáo sư”.
Nguyễn Thái Học nói thêm:
-Trước đó, bọn đao phủ Pháp đã giết hại các đồng chí của chúng ta như Đặng Văn Lương, Đặng Văn Tiếp, Nguyễn Thanh Thuyết, Ngô Hải Hoàng bằng máy chém ở Yên Bái.
Đỗ Văn Sứ nói:
-Các anh đi trước chắc là sẽ đón chúng ta long trọng đây.
Mọi người cùng cười vang.
Nguyễn Thái Học hỏi hai cố đạo:
-Hai ngài đi với chúng tôi lên Yên Bái để làm gì?
Méc lét ngập ngừng một lát rồi đáp:
-Chúng tôi đi theo để rửa tội cho các ngài.
Nguyễn Thái Học nói:
-Bọn thực dân Pháp và các ngài nhầm rồi, yêu nước, hy sinh cho sự nghiệp cứu nước, giành độc lập dân tộc thì làm gì có tội. Các ngài về hỏi người Pháp xem yêu nước Pháp thì có tội không?
Hai cố đạo im lặng.
Nửa đêm 16 tháng 6 năm 1930, tàu chở 13 chiến sĩ đến Yên Bái.
Tối hôm đó, tại Hà Nội, cô Giang trực tiếp chứng kiến bọn Pháp đưa Nguyễn Thái Học và 12 đồng chí lên xe và sau đó lên xe lửa đi Yên Bái. Một giờ sau, cô Giang cải trang thành đàn ông, đem theo một quả tạc đạn, giắt khẩu súng ngắn vào người và đáp chuyến tàu theo sau. 4 giờ sáng ngày 17 tháng 6, cô Giang đã đến gần pháp trường Yên Bái.
5 giờ kém 15, lính pháp đã áp tải 13 chiến sĩ ra khu đất trống, có 400 lính lê dương cầm súng đứng vòng quanh pháp trường. Có khoảng 100 người đến đứng vòng ngoài bọn lính. Cô Giang cải trang thành đàn ông, mắt đeo kính đen, đầu đội mũ phớt đứng dưới một gốc cây to, trông vào pháp trường mà khóc, nước mắt đầm đìa, nhưng cô cố lau đi để nhìn rõ các anh từng người một hiên ngang bước lên máy chém. Hành hình bằng máy chém là hành hình dã man nhất thời kỳ trung cổ. Người bị hành hình bị trói quặt tay ra sau lưng, lên máy chém bị đặt nằm úp sấp, đầu kê vào cái bệ giữa hai khung sắt, tên đao phủ bấm cho dao rơi xuống cực mạnh, cắt đầu đứt văng xa rơi vào cái thùng cách 3 m mà chúng đặt sẵn, máu trong người phun lên cao do bất ngờ bị ngắt dòng tuần hoàn.
Sự tàn bạo của Pháp không làm các chiến sĩ nhụt chí khí kiên cường bất khuất, những con người đã quyết tâm và say sưa lý tưởng "Không thành công cũng thành nhân”, “Sát thân thành nhân”. Bùi Tư Toàn, một đảng viên xuât thân từ nông dân bước lên máy chém đầu tiên. Anh ung dung thản nhiên hút thuốc bước lên máy chém. Anh vừa hô xong "Việt Nam vạn tuế” thì dao rơi xuống, máu anh phun lên đỏ rực. Bùi Văn Chuẩn bật lên tiếng thét căm hờn: "Đả đảo thực dân Pháp”. Nguyễn Văn An vì tay bị xích phía sau nên anh gật đầu chào mọi người và hô vang "Việt Nam vạn tuế”. Hà Văn Lạc hơi cúi mình chào mọi người và hô vang "Đả đảo thực dân Pháp”. Đỗ Văn Tư trừng mắt nhìn bọn lính Pháp, nhìn tên đao phủ Cai Công và hô đả đảo thực dân Pháp còn giở dang thì máu đã phun lên đỏ sắc cầu vòng. Đào Văn Nhật quay đầu dặn con phải nhớ mối thù này, phải tiếp bước cha anh trả thù nhà nợ nước. Ngô Văn Du ngẩng cao đầu kiêu ngạo bước lên. Bùi Văn Cửu lặng lẽ nhìn trời và hô vang "Việt Nam Vạn Tuế", tiếng hô vang vọng khắp không gian. Nguyễn Văn Tiềm rung tay cho xích kêu vang và hô đả đảo thực dân Pháp. Nguyễn Đức Thịnh bước đi hiên ngang với tiếng hô "Việt Nam vạn tuế". Nguyễn Như Liên thoáng nở nụ cười ngạo nghễ trước mặt bọn thực dân, xem thường cái chết. Phó Đức Chính bảo hai tên lính Pháp áp tải:
-Cho ta nằm ngửa để xem lưỡi dao tội ác của thực dân Pháp như thế nào?
Hai tên lính chiều ý anh, cho anh nằm ngửa. Anh vừa dứt tiếng hô "Việt Nam Vạn tuế" thì lưỡi dao tội ác đã rơi xuống.
Nguyễn Thái Học là người cuối cùng bước lên máy chém. Anh bước đi ung dung thanh thản, đàng hoàng. Anh vừa đi vừa đọc vang bài thơ bằng tiếng Pháp:
-Chết vì tổ quốc
Cái chết Vinh quang
Lòng ta sung sướng
Trí ta nhẹ nhàng.
Hết đọc thơ, anh nói lớn:
-Không thành công cũng thành nhân, Việt Nam vạn tuế.
Anh vừa dứt tiếng hô thì lưỡi dao tội ác đã lao xuống, máu của anh đỏ chói phun lên cao hòa với 12 dòng máu của các đồng chí tạo nên một dòng thác đỏ thắm bầu trời. Dòng máu của các anh hòa với dòng máu anh hùng bất khuất của biết bao thế hệ nòi giống Lạc Hồng. Những cái chết oai hùng lẫm liệt của các anh khiến quân thù khiếp sợ, làm chấn động dư luận Đông Dương và nước Pháp.
Các yếu nhân của Việt Nam Quốc Dân Đảng đã hy sinh. Quân Pháp đem thi hài 13 người chôn chung một mộ ở Yên Bái. Việt Nam Quốc Dân Đảng hoàn toàn bị Pháp tiêu diệt và tan rã. Hàng trăm đảng viên bị tàn sát, bị tù đày ra Côn Đảo hoặc các nhà tù tàn khốc nhất Đông Dương. Một số đảng viên khác tiếp tục con đường cách mạng như Trần Huy Liệu, Tô Chấn (anh của Tô Hiệu), Nguyễn Văn Lâm (em Nguyễn Thái Học) đã đi theo Đảng Cộng Sản Đông Dương, tiếp tục con đường cách mạng giải phóng dân tộc. Trần Huy Liệu gia nhập Việt Nam Quốc Dân Đảng năm 1928, giữ chức Bí thư Kỳ Bộ Nam Kỳ. Ông bị Pháp bắt và đày đi Côn Đảo. Tại đây ông giác ngộ chủ nghĩa Cộng sản. Năm 1936 ra tù, Trần Huy Liệu gia nhập Đảng Cộng Sản Đông Dương. Tô Chấn gia nhập Việt Nam Quốc Dân Đảng năm 1927, bị bắt và bị đày ra Côn Đảo. Ông trở thành đảng viên của Đảng Cộng sản Đông Dương trong nhà tù. Năm 1936, ông vượt ngục cùng nhóm Ngô Gia Tự và bị chìm xuồng, hy sinh trên biển.
IX
Làng Thổ Tang trong một đêm tháng 6, bóng tối bao trùm lên mọi cây lá, cây đa, cây mít, cây xoan, cây cau, cụm tre, trong tối lá khua xào xạc theo gió. Đường làng vắng vẻ, tiếng chó sủa vang lên giận dữ. Tin tức Nguyễn Thái Học, một thanh niên yêu nước tài ba của làng bị Pháp giết hại ở Yên Bái làm cả làng đau buồn, tang tóc không chỉ riêng nhà ông Hách, bà Quỳnh mà tang chung của cả làng, cả tổng. Vừa tối cả làng các nhà đều đóng cửa chìm trong tang tóc.
Trong căn nhà nhỏ của bà dì, em bà Quỳnh cách xa ngôi đền Thổ Tang khoảng 100m cũng chìm trong tối u buồn. Mấy đêm nay, bà không ngủ được, đôi khi lại khóc vì thương ba đứa cháu của mình Nguyễn Thái Học đã hy sinh, còn thằng Nguyễn Văn Nho, Nguyễn Văn Lâm đang bị truy nã không biết thế nào, rồi còn thương anh Hách, chị Quỳnh, nghĩ đến đó bà lại khóc. Chợt bà nghe có tiếng gõ cửa nhẹ và tiếng gọi nhỏ:
-Dì ơi, dì ơi.
Bà dì đứng bên trong hỏi nhỏ:
-Ai đấy?
-Cháu là Giang đây mà.
Bà dì nghe đúng tiếng cô Giang vội mở cửa. Cô Giang bước vào nhà. Bà dì vội đóng cửa lại. Dưới ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn dầu bà thấy cô Giang mặc giả trang phục đàn ông, khi cô bỏ mũ phớt ra thì trên đầu lộ ra chiếc khăn trắng để tang Nguyễn Thái Học. Cô Giang ôm lấy bà dì và khóc nghẹn lời:
-Dì ơi, anh Học bị chúng giết hại rồi.
Hai người ôm nhau mà khóc, một lát cô Giang nói:
-Cháu định về nhà bố mẹ nhưng bị mật thám, cảnh sát vây chặt nhà nên cháu không về được. Cháu nhờ dì sang báo cho bố mẹ cháu bí mật sang đây để cháu gặp lần cuối để cháu đi.
Bà dì nói:
-Cháu về đây là nguy hiểm quá, nhưng thôi dì sẽ giúp, may ra đêm khuya rồi không còn bọn mật thám và lính nữa.
Cô Giang dặn:
-Nhưng dì phải cẩn thận, nếu thấy chúng còn lảng vảng thì thôi nha.
-Dì biết rồi.
Dì đi rồi, cô Giang hồi hộp chờ đợi, một lát sau dì về, ông Hách và bà Quỳnh cùng tới. Cô Giang đứng dậy:
-Con chào cha, con chào mẹ.
Rồi cô khóc.
-Cha mẹ ơi, anh Học hy sinh rồi, còn em Nho, em Lâm thì không có tin tức.
Nói xong cô ôm lấy bà Quỳnh, hai mẹ con và bà dì lại nức nở. Ông Hách vẫn giữ bình tĩnh. Ông hỏi:
-Con định dự liệu thế nào?
Cô Giang gạt nước mắt:
-Dạ, thưa cha, mẹ, thưa dì, con về đây để gặp cha mẹ lần cuối, con sẽ đi xa.
Rồi cô móc túi lấy ra hai bức thư, chiếc đồng hồ quả quýt có dây nhỏ bằng vàng, phía sau đồng hồ có khắc chữ G.
-Dạ, đây là hai bức thư của con, một bức gửi cha mẹ, một bức gửi cho anh Học. Trong lễ 49 ngày, cha hóa vàng cho anh Học để anh nhận được. Đây là chiếc đồng hồ anh Học tặng con, nay con gửi lại cha mẹ làm kỷ vật của gia đình.
Ông Hách cảm thấy điều chẳng lành khi cô Giang gửi thư và kỷ vật. Ông nói:
-Vật anh Học tặng con thì con giữ lại, sao lại đưa cho cha mẹ, con chớ có nghĩ và làm điều dại dột đấy nha. Con phải sống tiếp tục hoạt động cách mạng báo thù cho anh Học.
Cô Giang quỳ vái lạy hai ông bà:
-Đứa con dâu bất hiếu, xin cha mẹ tha thứ cho con.
Lát sau cô nói:
-Đêm khuya rồi, thôi cha mẹ về đi.
Ông Hách đứng dậy:
-Con nhớ bảo trọng nha, cha mẹ rất thương con. Có điều kiện thì con về với cha mẹ.
-Dạ, con cảm ơn cha em mẹ.
Bà Quỳnh lại ôm cô Giang và khóc:
-Con bảo trọng, đi đâu, ở đâu con luôn nhớ cha mẹ rất thương con. Con nhớ bảo trọng.
-Con cảm ơn cha mẹ, cha mẹ và các em nhớ bảo trọng.
Mờ sáng hôm sau, cô Giang từ biệt bà dì. Bà dì nói:
-Để dì nấu cơm con ăn rồi hãy đi.
Cô Giang đáp:
-Con cảm ơn dì, không cần cơm nước đâu. Dì nhớ bảo trọng, vĩnh biệt dì.
Hai dì cháu lại ôm nhau khóc. Dì nói:
-Cháu đi đâu khi có điều kiện thì về thăm cha mẹ, dì và các em của thằng Học nha.
-Đa tạ dì, dì nhớ bảo trọng.
Cô Giang ra đi. Chung quanh cô làng Thổ Tang ghi biết bao nhiêu kỷ niệm sâu đậm giữa cô và Nguyễn Thái Học. Cô tìm đến quán nước mà cô và Nguyễn Thái Học hay ngồi mỗi khi đi dạo. Bà già bán nước đã mở cửa. Cô Giang là vị khách đầu tiên, cô ngồi xuống ghế và nói:
-Chào bà, bà cho con bát nước.
Bà bán nước thấy khách trang phục đàn ông nhưng lại nói giọng nữ êm dịu trong trẻo mềm mại, bà nghe quen quen. Bà hỏi:
-Sao ông khách lại có giọng giống giọng cô cháu tôi là Giang vậy?
Cô Giang nói:
-Cháu là cháu Giang đây bà.
Bà lão cầm tay cô Giang òa khóc:
-Nghe tin cháu Học bị Pháp giết, cả làng, cả tổng ai cũng thương tiếc đau buồn. Cháu đã về đây thì ở lại với cha mẹ để an ủi và chăm nom. Ông bà Hách, Quỳnh thương con bây giờ ốm yếu lắm.
-Dạ, cháu về thăm cha mẹ cháu rồi cháu lại đi ạ.
Uống xong bát nước, cô Giang ôm lấy bà hàng nước:
-Cháu vĩnh biệt bà, bà bảo trọng.
-Cháu đi đâu? Nhớ bảo trọng.
-Dạ, cháu cảm ơn bà.
Bà hàng nước nhìn theo cô Giang, nước mắt lưng tròng.
Cô Giang rẽ phải, cách quán nước không xa là cây đa cổ thụ. Dưới gốc cây đa này, cô và Nguyễn Thái Học để lại biết bao kỷ niệm thuở tình yêu say đắm và cả sau này khi thành phu thê. Dưới bóng cây đa này, đã bao đêm hai người ngồi tình tự, bàn việc trăm năm, bàn việc Đảng, việc nước. Lúc này cô ngồi xuống cạnh gốc cây và chỉ biết khóc. Biết tìm anh ở đâu anh ơi. Sao mà em vô tích sự thế này, không phá được nhà tù Hỏa Lò, không cướp được pháp trường để cứu anh và các đồng chí. Sao mà em bất lực vô tích sự thế này. “Thân không giúp ích cho đời, thù không trả được cho người tình chung”. Anh đã đi xa rồi, em sẽ đi theo anh để trọn lời thề đã hứa. Thù của anh, của em và của đất nước thôi đành nhờ thế hệ mai sau. Thôi vĩnh biệt cha mẹ, vĩnh biệt các em, vĩnh biệt quê hương. Anh Học ơi hãy đón em, em đi với anh đây. Cô Giang mơ màng như Nguyễn Thái Học đang vẫy tay, anh đang chờ em yêu. Cô đã rút khẩu súng ngắn lúc nào mà không biết và kề vào đầu, cô kêu lên:
-Đón em, anh yêu, em đi với anh đây.
Và cô ấn cò súng. Sau tiếng nổ vang, cô gục xuống, máu chảy đầm đìa. Khẩu súng rơi xuống bên cạnh. Trời bỗng nhiên sầm tối, cây đa gió đưa xào xạc khóc gào. Cô Giang đã đi gặp Nguyễn Thái Học. Hôm đó là ngày 19 tháng 6 năm 1930. Khi đó cô mới 24 tuổi.
Cô Giang đi một lúc thì bà hàng nước nghe tiếng súng nổ ở phía cây đa nơi bà trông thấy cô Giang vừa đi ra. Linh tính báo điều chẳng lành. Bà vội chạy ra thì thấy cô Giang vẫn ngồi tựa vào gốc cây đa nhưng đã chết. Bà vội vuốt mắt cho cô, khóc lóc rồi vội chạy vào nhà ông Hách và kêu lên:
-Ông Hách, bà Quỳnh ơi, cháu Giang đã tự sát chết ở cây đa đầu làng rồi.
Cả nhà ông Hách hốt hoảng chạy ra gốc cây đa. Bà Quỳnh ôm cô Giang mà khóc:
-Con tôi, sao lại như vậy con ơi!
Và bà ngã xuống cạnh cô Giang ngất xỉu.
Bọn mật thám và cảnh sát gạt dân làng ra chen vào. Tên đội sau khi nhìn mặt nhận dạng rồi nói:
-Đúng là cô Giang, phu nhân của Nguyễn Thái Học, Tổng thư ký Việt Nam Quốc dân Đảng.
Quân Pháp lập tức cho chôn thi hài cô Giang ngay và lập vọng gác để canh không cho dân làng đến đốt hương viếng cô. Tuy nhiên trên mộ của người Liệt nữ bao giờ cũng có những bông hoa đỏ thắm. Ông Hách về nhà nén đau thương, bóc thư của cô Giang ra đọc. Bức thứ nhất cô Giang viết: “Ngày 17 tháng 6 năm 1930. Thưa thầy mẹ. Con chết vì hoàn cảnh bó buộc, không báo được thù nhà, rửa nhục cho nước. Sau khi đã đem tấm thân trinh bạch dâng cho chồng con ở đền Hùng, giờ con tìm về quê cha đất tổ, mượn phát súng này mà kết liễu cuộc đời con. Đứa con dâu bất hiếu kính lạy”.
Bức thư thứ hai, cô Giang viết: “Anh là người yêu nước! Không làm tròn được nghĩa vụ cứu nước, anh giữ lấy tấm linh hồn cao cả để về chiêu binh rèn lính ở dưới suối vàng! Phải chịu đựng nhục nhã mới có ngày vẻ vang. Các bạn đồng chí phải sống lại sau anh để đánh đổ cường quyền mà cứu đồng bào đau khổ!
Thân không giúp ích cho đời
Thù không trả được cho người tình chung.
Dẫu rằng đường đời trẻ trung
Quyết vì dân chúng thề lòng hy sinh
Con đường tiến bộ mênh mông
Éo le hoàn cảnh buộc mình biết sao!
Bây giờ hết kiếp thơ đào
Gian nan bỏ mặc đồng bào từ đây
Dẫu rằng chút phận thơ ngây
Sổ đồng chí đã có ngày ghi tên.
Chết đi dạ những buồn phiền
Nhưng mà hoàn cảnh truân chiên buộc mình
Đảng kỳ phấp phới trên thành
Tủi thân không được chết vinh dưới cờ
Cực lòng lỡ bước sa cơ
Chết sầu chết thảm có sầu xót xa!
Thế ru! Đời thế ru mà
Đời mà ai biết người mà ai hay”.
Cô Giang chết được mấy hôm thì bà Nguyễn Thị Quỳnh do đau buồn mà cũng ra đi với các con vài ngày sau đó!
Cái chết của Nguyễn Thái Học, cô Giang và những lãnh tụ, đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng gây xúc động và thương xót, đau buồn trong lòng người dân khắp ba kỳ. Tại Huế, “ Ông già Bến Ngự"”Phan Bội Châu xúc động đau buồn đã viết bài văn tế Nguyễn Thái Học và Nguyễn Thị Giang và những bài thơ lâm li về cô Giang.
X
Cuộc tổng khởi nghĩa của Việt Nam Quốc Dân Đảng đã gây áp lực cho toàn bộ bộ máy bạo lực của Pháp ở Đông Dương, phải căng mình ra đối phó, kể cả sau khi khởi nghĩa đã thất bại, mật thám càng phải căng mình dò la bắt bớ. Cảnh sát phải bố trí chặn tất cả các ngã đường để nhận mặt, đón bắt các lãnh tụ Việt Nam Quốc Dân Đảng, nhất là Nguyễn Thái Học. Quân đội thì lo đàn áp, canh phòng, tòa án thì lo xét xử, các nhà giam chật ních người bị bắt, bị giam. Riêng sở mật vụ của Juaren cũng mệt nhoài vì công việc. Người của sở phải lo do thám, chỉ điểm bắt bớ rồi lo tổng hợp tình hình báo cáo lên cấp trên. Hôm nay, 30 tháng 6 năm 1931, vừa ăn sáng xong, Chánh mật thám Juaren phải vội vã đọc hồ sơ của các vụ bắt bớ, các vụ xét xử để viết báo cáo trình Thống sứ Bắc Kỳ Ro bin. Hồ sơ các vụ bắt bớ các lãnh đạo và các đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng ngày càng dầy cộm. Juaren chú ý các vụ án và bắt bớ trọng điểm để viết báo cáo là được. Các hồ sơ viết: “Ngày 11 tháng 2 năm 1930, Nguyễn Khắc Nhu đập đầu tự sát ở nhà lao Hưng Hóa.
Ngày 15 tháng 2 năm 1930, Phó Đức Chính bị bắt ở làng Nam An, tổng Cảnh Thượng, Huyện Tùng Thiện, tỉnh Sơn Tây và bị giam vào Hỏa Lò Hà Nội, bị kết án tử hình. Phó Đức Chính từ chối chống án với câu nói nổi tiếng: “Đại sự không thành, chết là vinh, còn chống án làm gì vô ích”.
Ngày 27 tháng 2 năm 1930, 15 nghĩa quân bị bắt, bị đưa ra xét xử, 4 người bị tử hình, còn lại là lưu đày 15 năm tù ra côn Đảo.
Ngày 8 tháng 3 năm 1930, Đặng Văn Cường, Đặng Văn Tiếp, Nguyễn Thanh Thuyết (Cai Thuyết), Ngô Hải Hoàng (cai Hoàng) bị xử chém tại Yên Bái.
Nguyễn Thị Bắc, em gái Nguyễn Thị Giang bị bắt vào ngày 20 tháng 3 năm 1930 tại Yên Bái, bị xét xử trước Hội đồng Đề hình Yên Bái. Trước viên Chánh tòa Ô xi ê, Nguyễn Thị Bắc đã đanh thép nói: "Này người đại diện cho công lý của nước Pháp, nếu xử ta thì hãy về giật đổ tượng thánh nữ Jeanne Dare, nữ thánh yêu nước Pháp chống ngoại xâm. Ta yêu tổ quốc Việt Nam chống xâm lược, sao các ngươi lại đem xử?”. Nguyễn Thị Bắc bị kết án tù 5 năm và bị đày đi Côn Đảo.
Ngày 23 tháng 3 năm 1930, Tòa đề hình ở Yên Bái xét xử 87 người, trong số đó 13 người bị tử hình
Ngày 17 tháng 6 năm 1930, Lãnh tụ Việt Nam Quốc Dân Đảng Nguyễn Thái Học và 12 yếu nhân của Đảng bị xử bằng máy chém tại Yên Bái.
Ngày 19 tháng 6 năm 1930, Tổng thư ký Việt Nam Quốc Dân Đảng Nguyễn Thị Giang, phu nhân của Nguyễn Thái Học dùng súng ngắn tự sát tại làng Thổ Tang, phủ Vĩnh Tường, Vĩnh Yên.
Ngày 30 tháng 6 năm 1931, Trần Quang Diệu (Riệu), Vũ Văn Giáo, Trần Nhật Đông và một số người khác bị xử chém tại Hải Dương.
Tháng 7 năm 1930, hội Đồng đề hình xử Phạm Tuấn Tài 5 năm tù, lưu đày ra Côn Đảo.
Ngày 7 tháng 9 năm 1930, Đỗ Thị Tâm trong Ban ám sát bị bắt ở phố Hàng Bông, cùng với Nguyễn Thị Vân 16 tuổi, bị giam vào Hỏa Lò. Nguyễn Thị Tâm đã nuốt giải yếm tự sát.
Ngày 22 tháng 11 năm 1930, Nguyễn Văn Toại và Lý Đổng Chi bị xử chém tại Phú Thọ.
Đoàn Trần Nghiệp sau khi đặt bom ở Hà Nội chạy về Nam Định thì bị bắt. Ngày 9 tháng 3 năm 1931, Đoàn Trần Nghiệp cùng Lương Ngọc Tốn, Nguyễn Văn Nho (em Nguyễn Thái Học), Nguyễn Quang Triều, Nguyễn Minh Luân, Nguyễn Trung Bằng, Phạm Văn Khuê bị chém trước cổng nhà tù Hỏa Lò, Hà Nội.
Ngày 23 tháng 6 năm 1931, Lê Hữu Cảnh bị hành hình trước cửa ngục thất Hỏa Lò, Hà Nội.
Cho đến lúc này, các lãnh tụ Việt Nam Quốc Dân Đảng hầu hết đã bị bắt và bị tử hình, một số người tự sát, hàng trăm đảng viên bị bắt, hầu hết bị đày ra Côn Đảo hoặc vào các nhà tù khốc liệt nhất Đông Dương, hàng trăm chi bộ đảng đã bị phá tan. Cho đến nay, Việt Nam Quốc Dân Đảng về cơ bản đã bị tiêu diệt".
Đọc xong, Chánh mật thám Junle gọi:
-Người đâu.
Một nữ thư ký người Pháp tóc vàng hoe bước ra:
-Ngài cho gọi.
-Cô đem các tài liệu này tổng hợp thành một bản báo cáo theo thứ tự thời gian để gửi lên phủ Thống sứ Bắc Kỳ ngay ngày mai.
-Dạ.
Người thư ký đi ra, Chánh mật thám rót ra một cốc rượu vang, uống và suy nghĩ. Cái chết hiên ngang của lãnh tụ Việt Nam Quốc Dân Đảng Nguyễn Thái Học và các đồng chí của anh đã làm cho những tên thực dân như Junle kinh hoàng cảm phục. Hắn biết rằng chiến thắng của chúng chỉ là tạm thời. Lửa đã nung nấu âm ỉ ở xứ thuộc địa Đông Dương và không bao lâu nữa, núi lửa này sẽ phun lên, thiêu đốt, làm sụp đổ chế độ thuộc địa tàn bạo của chúng mà không một bạo lực nào có thể ngăn chặn nổi.
XI
Sáu năm sau, vào mùa hè năm 1936, nắng chói chang rải khắp miền Yên Bái, rải xuống ngôi mộ chung của 13 yếu nhân của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Những tán lá xà cừ, bạch đàn đung đưa theo gió, những cây phượng nở đầy hoa như máu của các anh hùng kết tụ lại. Trên mộ các anh, những cây hương mà ai đó mến mộ đã đem tới vẫn tỏa hương thơm.
Vào một ngày hè, có một người đàn ông và một người đàn bà đến ngôi mộ chung thắp hương dâng lên thành kính. Đó là cô Nguyễn Thị Bắc và người chồng của cô là Phạm Quang Sáu. Cô Bắc sau khởi nghĩa Yên Bái đã bị kết án tù 5 năm và đày đi Côn Đảo. Năm 1936 cô được trả tự do về quê nhà và kết hôn với anh Sáu, xưa cũng là đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng. Hai vợ chồng mở cửa hàng tạp hóa ở thị xã Bắc Ninh. Cửa hàng của hai vợ chồng cô Bắc là nơi liên lạc giữa các nhà yêu nước với nhau. Bên mộ các đồng chí của mình, bên mộ người anh rể kính yêu là Nguyễn Thái Học, cô Bắc đã khóc nhiều. Hương thơm và những giọt lệ của người em chắc cũng làm cho Nguyễn Thái Học và các đồng chí bên kia thế giới mĩm cười. Gió cuốn khói hương thơm ngát. Trong nắng mơ màng, cô Bắc nhớ lại bao kỷ niệm oanh liệt ngày xưa của các anh. Cô Bắc và chồng cũng về làng Thổ Tang thắp hương dâng lên và khóc trước mộ cô Nguyễn Thị Giang, người chị gái kính yêu của mình và vào thăm gia đình anh Học.
Cô Bắc mất năm 1943, khi mới 35 tuổi.
Phạm Tuấn Tài bị Pháp bắt ngay sau cuộc ám sát trùm mộ phu Ba danh. Tháng 7 năm 1930, Hội đồng Đề hình tuyên án ông và một số đồng chí 5 năm tù và bị đày ra Côn Đảo. Trong tù, Phạm Tuấn Tài bí mật ra các tờ báo “Tiếng gọi”, “Tiếng rên”, “Tiếng gào”. Ông bị bệnh lao do đời sống khắc nghiệt của nhà tù. Năm 1936, Phạm Tuấn Tài ra tù và mất ngày 20 tháng 7 năm 1937 ở Nam Định khi mới 32 tuổi. Phạm Tuấn Tài để lại bài thơ “Xà lim oán” nói lên sự uất hận căm thù nhà tù thực dân đã đày đọa giết hại những người con yêu nước của dân tộc.
Ông Nguyễn Văn Lâm, em trai Nguyễn Thái Học, một trong những yếu nhân của Việt Nam Quốc Dân Đảng đã thoát khỏi sự truy lùng của Pháp, đã lấy vợ và có con. Sau cách mạng Tháng Tám, Ông đã tham gia vào quân đội Nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng Sản Đông Dương lãnh đạo. Ông tham gia nhiều trận đánh, trong đó có trận đánh sông Lô. Ông đã hy sinh trên chiến trường vào đầu những năm kháng chiến khi thực dân Pháp quay lại xâm lược Việt Nam lần thứ hai (1946-1954), tiếp nối xứng đáng con đường vì nước quên thân mà các anh hùng liệt sĩ đã đi.
Hà Nội 19 tháng 8 năm 2021
(Hết tập VII)