II.

  Đó là đầu tháng 10 năm 1885, sơn phòng thượng Âu Sơn, Hương Khê, Hà Tĩnh chìm trong cây lá đồi núi mịt mùng, những làn gió lạnh thấu xương thổi thốc tháo khắp non ngàn, lá cây khua xạc xào, lá vàng rơi lả tả. Sương giăng trắng xóa che đi những tia mặt trời le lói. Rừng núi càng thêm âm u thần bí.

  Triều đình kháng chiến Hàm Nghi từ Sơn phòng Cam Lộ, Quảng trị nhưng không an toàn nên xa giá đã ra đây từ tháng 9 năm 1885.Trong căn nhà lợp lá cọ vách nứa, vua Hàm Nghi đang ngồi uống trà với Tôn Thất Thuyết. Tôn Thất Đạm và Tôn Thất Thiệp đứng bảo vệ hai bên. Chợt có Lê Trực vào báo:

-Dạ, bẩm hoàng thượng, bẩm quan Phụ chính, có quan Tham biện sơn phòng, Tán lý quân vụ Hà Tĩnh Phan Đình Phùng từ căn cứ Vụ Quang xin vào gặp.

  Vua Hàm Nghi nói:

-Cho mời vào.

-Dạ.

  Phan Đình Phùng đi vào. Vua Hàm Nghi nhìn thì đó không phải là võ tướng mà là một văn quan đàng hoàng, nho nhã. Phan Đình Phùng quỳ hành lễ:

-Hoàng thượng vạn vạn tuế.

  Vua Hàm Nghi nói:

Miễn lễ, khanh đứng dậy đi.

-Tạ hoàng thượng.

  Phan Đình Phùng đứng dậy và nói:

-Chào quan Phụ chính.

Tôn Thất Thuyết nói:

-Mời quan Tham biện Tán lý quân vụ ngồi.

-Đa tạ quan Phụ chính.

  Tôn Thất Thuyết nói với vua Hàm Nghi:

-Hoàng thượng còn chưa biết, còn thần với quan Tham biện là quan đồng triều. Đại nhân Phan Đình Phùng đây là Đình Nguyên Tiến sĩ, đỗ vào năm 1877, quê ở làng Đông Thái, huyện La Sơn, phủ Đức Thọ, Hà Tĩnh, từng giữ chức Ngự sử dưới triều tiên đế Tự Đức và Dục Đức. Đại nhân là người đầu tiên hưởng ứng chiếu Cần Vương của hoàng thượng, giúp vua đánh giặc cứu nước.

  Vua Hàm Nghi gật đầu hài lòng:

-Quả là một trung thần một lòng vì vua vì nước.

  Tôn Thất Thuyết mời:

-Mời ngài Tham biện xơi nước.

-Đa tạ, kính mời hoàng thượng, kính mời quan Phụ chính.

  Trong khi Phan Đình Phùng uống nước, Tôn Thất Thuyết nói tiếp:

-Mong đại nhân bỏ qua việc ta cách chức Ngự sử và cho ngài về quê khi ngài phản đối ta phế vị vua thân Pháp Dục Đức.

  Phan Đình Phùng đặt chén xuống và nói:

-Quan Phụ chính khi đó cũng vì triều đình, vì đất nước mà thôi. Ta mà để bụng thì đã không tới đây gặp ngài.

  Tôn Thất Thuyết nói:

-Thực ra ta biết ngài là bậc trung nghĩa nên cho về quê để gây dựng phong trào kháng Pháp ở Hà Tĩnh mà thôi.

-Đa tạ quan Phụ chính tin tưởng.

  Tôn Thất Thuyết hỏi tiếp:

-Hôm nay hoàng thượng triệu ngài vào đây là muốn biết phong trào Cần Vương ở Hà Tĩnh phát triển thế nào sau chiếu Cần Vương lần 2 ban xuống tại sơn phòng Hà Tĩnh?

  Phan Đình Phùng đáp:

-Tâu hoàng thượng, thưa quan Phụ chính, sau khi hoàng thượng xuống chiếu Cần Vương lần 2 thì ở Hà Tĩnh có khởi nghĩa của Lê Ninh ở làng Trung Lễ, Đức Trung, La Sơn, phủ Đức Thọ. Thứ hai là cuộc khởi nghĩa của Cao Thắng ở Hàm Lai, Sơn Lễ, Hương Sơn, thứ ba là khởi nghĩa của Lê Trạch và Nguyễn Chanh ở Can Lộc, thứ tư là khởi nghĩa của Ngô Quảng và Hà Văn Mỹ ở Nghi Xuân, thứ năm là khởi nghĩa của Nguyễn Hữu Thuận ở Thạch Hà, Hà Tĩnh. Ở Nghệ An có khởi nghĩa của Nguyễn Xuân Ôn và Lê Doãn Nhạ.

  Vua Hàm Nghi nói:

-Lê Ninh thì ta biết. Đầu tháng 10 vừa qua nghĩa quân của ngài ấy đã hạ thành Hà Tĩnh, bắt giết bố chánh Lê Đại phản nghịch, thân Pháp, đã kháng chỉ không ra đón ta khi xa giá về sơn phòng Hà Tĩnh. Sau chiến công này ta đã phong Lê Ninh làm Bang biện quân vụ.

  Tôn Thất Thuyết nói:

-Cha của Lê Ninh là Lê Khanh từng làm bố chánh Quảng Bình. Nhà Lê Ninh có 7 anh em yêu nước đều đi theo phong trào Cần Vương, thành những tướng lĩnh tài năng như Lê Diên, Lê Trực, Lê Võ, Lê Phác, Lê Hoạt, Lê Phất. Con Lê Ninh là Lê Nghệ còn nhỏ cũng đã tham gia đánh giặc. Thầy dạy võ nghệ gia đình Lê Ninh là Lê Năng. Họ đã khởi nghĩa từ chiếu Cần Vương lần thứ nhất mà hoàng thượng ban ở Tân Sở, Quảng Trị.

  Phan Đình Phùng nói:

-Tâu hoàng thượng, thần không chỉ biết mà còn hợp tác với Lê Ninh trong trận đánh bảo vệ căn cứ Đông Thái, thuộc La Sơn của thần và căn cứ Đại Đồn Trung Lễ của Lê  Ninh.

Tôn Thất Thuyết nói:

-Bây giờ nhiệm vụ của ngài là phải liên kết các cuộc khởi nghĩa thành một phong trào thống nhất mới thắng lợi được, muốn vậy phải có danh nghĩa quyền lực để chỉ huy quân Cần Vương bốn tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hóa. Hoàng thượng hãy phong Phan Đình Phùng làm Thống đốc quân vụ đại thần, chỉ huy quân Cần vương bốn tỉnh.

  Vua Hàm Nghi nói:

-Ta phê chuẩn.

 Phan Đình Phùng quỳ lạy đáp:

-Đa tạ hoàng thượng, thần tuân chỉ.

  Sau lần gặp vua Hàm Nghi và nhận trọng trách nặng nề to lớn, các thủ lĩnh ở Hà Tĩnh là Lê Ninh ở La Sơn, Nguyễn Duy Chanh, Nguyễn Duy Trạch ở Can Lộc, Cao Đôn ở Thạch Hà, Cao Thắng ở Cồn Chùa, Hương Khê đều về Đông Thái, huyện La Sơn, trở thành tướng của Phan Đình Phùng. Trước khi về với Phan Đình Phùng, các thủ lĩnh dưới sự lãnh đạo của Lê Ninh đã tấn công hạ thành Hà Tĩnh. Đêm mùa đông cuối năm 1886, toàn bộ vùng làng Đông Thái và chung quanh chìm trong bóng tối, cây cối, làng mạc ban đêm như mênh mông vô tận. Vài vì sao lấp lánh trên bầu trời lạc lõng. Gió lạnh thổi se sắt, rét cắt da cắt thịt. Doanh trại của nghĩa quân trải bạt ngàn trong đêm. Chỉ còn những người lính canh gác hoặc tuần phòng là còn thao thức với những ánh lửa lập lòe xé rách màn đêm. Trống canh đã điểm canh hai vang lên trong đêm trường tĩnh mịch.

Cao Thắng đứng dậy:

-Dạ bẩm Thống đốc quân vụ, qua thời gian ngài ra Bắc, chúng tướng ở nhà đã làm được ba việc lớn. Thứ nhất là di chuyển căn cứ lên miền núi, xây dựng đồn lũy kiên cố, cụ thể là xây được bốn khu căn cứ vững chắc. Thứ nhất là căn cứ Cồn Chùa ở Sơn Lâm, Hương Sơn, thứ hai là căn cứ Thượng Bồng, Hạ Bồng ở Tây Nam huyện La Sơn, thứ ba là căn cứ Trùng Khê, Trí Khê thuộc Hương Khê, thứ tư là căn cứ Vụ Quang, phía Tây Hương Khê, thứ năm là hệ thống đồn lũy dựa vào núi Thiên Nhẫn và núi Giăng Màn.

chhatinh24h-232-1655732217.jpg
 Tượng đài Phan Đình Phùng và nghĩa quân tham gia pghong trào Cần Vương chống Pháp tại Núi Động Voi, Tổ dân phố 3, Thị trấn Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh được khánh thành ngày 23/1/2022. Nguồn: hatinh24h.com.vn

 

Việc tiếp theo là chúng ta đã tập trung chế tạo vũ khí hiện đại gần như của Pháp. Chúng ta đã biết rằng quân Pháp trang bị cho bộ binh hơn hẳn chúng ta. Ngoài đại bác bắn xa, trúng đích, đạn rơi xuống thì nổ, phá hoại và sát thương rất khủng khiếp, bộ binh của chúng cũng được trang bị súng trường hiện đại. Chúng ta chưa thể chế tạo được đại bác như của giặc, nhưng có thể chế tạo được súng bộ binh như súng trường 1784 của Pháp, bắn nhanh, hiệu quả chiến đấu cao. Thưa Thống đốc quân vụ, chúng ta đã chế tạo được hơn 1000 khẩu súng trường hiện đại như vậy ạ.

  Phan Đình Phùng ngạc nhiên:

-Giỏi lắm, các tướng quân lấy mẫu từ súng trường của Pháp à?

-Dạ, bẩm Thống đốc quân vụ, trên đường Nghệ An-Hương Sơn, quân ta đã phục kích tiêu diệt đoàn lính áp tải những hòm bạc để trả lương cho lính đóng ở đồn Phố Châu, đã tiêu diệt 2 sĩ quan Pháp, 15 lính Việt, thu 17 súng trường, 600 viên đạn cùng mấy nghìn đồng bạc. 17 khẩu súng là súng bộ binh bắn nhanh của Pháp. Thuộc tướng đã cho tháo một khẩu ra thành từng bộ phận, xem xét kích thước của từng bộ phận và cho thợ rèn cứ theo kích thước đó mà rèn, mà đúc.

-Nguyên vật liệu thì tướng quân lấy ở đâu?

-Dạ, đồng, sắt thì thu gom trong dân như mâm đồng, nồi đồng đem dát mỏng mà cuốn lại. Thuốc súng thì từ diêm tiêu đào trong các hang núi. Lúc đầu chất lượng súng không đạt, thuộc tướng phải cử Cao Đạt sang Xiêm La học cách làm súng của người Anh và mua thuốc nổ. Nòng súng phải làm bằng thép non và khoan bằng thép già.

-Thợ rèn làm súng người ở đâu?

-Dạ, đó là các thợ rèn ở hai làng Trung Lương và Văn Trung, sau huy động cả thợ làng Vân Chàng.

-Súng này có hiệu quả bằng súng 1784 của Pháp không?

-Dạ, bẩm Thống đốc quân vụ, súng của ta kém hơn vì làm bằng phương pháp thủ công, lò xo kém nên bắn được 6 phát phải dội nước cho lò xo nguội mới bắn tiếp được, thứ hai là nòng không có rãnh xoắn (khương tuyến) nên đạn không đi xa được. Tuy vậy, súng này vượt trội hơn hẳn súng hỏa mai và mọi loại súng lạc hậu nhồi thuốc và đạn từ họng súng của ta, tốc độ bắn nhanh và chính xác không kém súng trường của Pháp.

  Phan Đình Phùng gật đầu:

-Đúng như tướng quân nói, đại bác của Pháp quá hiện đại. Tất cả các thành lũy của ta kiên cố như thành Gia Định, Đại Đồn Chí Hòa…đều bị đại bác chúng phá tan cho quân tràn vào. Đại bác của ta thì lạc hậu, không sát thương được chúng. Khi chúng tràn vào, quân ta chỉ có gươm, dao chưa lại gần để giết chúng thì đã bị súng bắn tay của chúng sát hại. Chế tạo súng trường kiểu Pháp phải có một nền công nghiệp máy móc hiện đại. Các tướng quân với thợ rèn nông thôn mà chế tạo được súng như vậy là quá giỏi, quá xuất sắc. Vũ khí này sẽ năng cao hiệu quả chiến đấu của quân ta. Nhưng 1.000 khẩu thì quá ít vì quân số của ta có thể lên tới vài nghìn. Có thể đúc súng nhiều hơn được không? Tướng quân Cao Thắng?

-Dạ, bẩm Thống đốc quân vụ, sắt, đồng lấy trong dân chúng ở Hà Tĩnh đã cạn kiệt, ta lại chưa khai thác được sắt, đồng, mà có khai thác được cũng chưa có công nghiệp luyện kim để luyện quặng thành sắt, thép thì mới dùng được. Ngành luyện kim này chúng ta chưa có ạ.

  Phan Đình Phùng buồn bã thở dài:

-Sự bảo thủ của triều đình đã giam hãm đất nước trong vòng lạc hậu, nghèo đói. Khi ta ở  triều đình, chứng kiến bao nhiêu lần ông Nguyễn Tường Tộ dâng sớ xin cải cách, duy tân đất nước đều bị các quan lại bảo thủ gạt đi. Hoàng thượng Tự Đức nghe theo bọn quan lại bảo thủ này nên bây giờ đất nước và chúng ta chịu hậu quả nặng nề là mất nước.

  Phan Đình Phùng buồn bã lại thở dài, lại uống nước tiếp. Cao Thắng và các tướng lĩnh cũng buồn bã im lặng. Một lát sau Phạn Đình Phùng mới nói:

-Thôi được, mưu sự tại nhân, thành bại tại thiên. Ăn cơm trưa xong, Thống lĩnh Cao Thắng cho dựng 5 bia, cho 5 xạ thủ bắn thử súng mới ta xem. Còn ngày mai ta sẽ cùng tướng quân đi xem các căn cứ mà tướng quân đã cho xây dựng.

-Dạ, thuộc tướng tuân lệnh Thống đốc quân vụ.

  Sau cơm trưa, tại thao trường Núi Nưa, căn cứ Vụ Quang, Cao Thắng cho dựng 5 cái bia bằng cót nứa, mỗi bia là một hình người cao 1m, giữa bia là một vòng tròn đen nhỏ làm tâm điểm. 5 người lính đứng cách xa 300m. Cuộc thử súng mới này có Phan Đình Phung tới xem. Khi người lính cầm cờ giơ lên và hạ xuống, một loạt tiếng nổ vang lên, 5 tia chớp vọt ra khỏi 5 nòng súng. 5 người lính chạy lại nhổ 5 cái bia đem lại cho Phan Đình Phùng xem. 5 viên đạn trúng vào vòng tròn đen giữa bia tạo nên lỗ thủng ngọt sắc và cháy xém. Phan Đình Phùng kinh hãi, còn toàn quân reo hò sung sướng. Phan Đình Phùng nói:

-Khá lắm, không kém gì súng trường của Pháp.

  Ngày hôm sau và mấy ngày tiếp theo, Cao Thắng và một vài lính cận vệ dùng ngựa dẫn Phan Đình Phùng đi thị sát đại bản doanh Ngàn Trươi và các căn cứ thành lũy mà Cao Thắng đã thiết kế và cho xây dựng.

  Sau bữa ăn sáng, tại tổng hành dinh Vụ Quang, Phan Đình Phùng họp và nói với các tưỡng lĩnh:

-Ta sẽ chọn căn cứ Vụ Quang làm tổng hành dinh của cuộc khởi nghĩa. Thứ hai, ngay lập tức các tướng quân cho người đưa tờ hịch của ta đến tất cả các thủ lĩnh nghĩa quân ở Hà Tĩnh, Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hóa về Vụ Quang họp để thống nhất hành động đánh Pháp.

  Các tướng đồng thanh đáp:

-Chúng thuộc tướng tuân lệnh Thống đốc quân vụ Đại thần.

                                    *        *

                                        *

Bấy giờ là tháng 9 năm 1889, những làn gió lạnh thổi cây lá reo lên xào xạc, cây cối đu đưa và rắc những lá vàng bay lả tả. Núi rừng Hà Tĩnh càng thêm âm u, huyền bí. Trên con đường từ Nghệ An lên Vụ Quang, thi thoảng có những tốp người ngồi trên lưng ngựa, mặc thường phục lái buôn phi nước đại về bản doanh Hương Khê của Phan Đình Phùng. Đó là những thủ lĩnh của nghĩa quân Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa theo lời mời của Thống đốc quân vụ Đại thần Phan Đình Phùng về Vụ Quang thống nhất lực lượng, hành động chống giặc cứu nước. Ngay gần Tổng hành dinh Vụ Quang, trên các ngã đường thấp thoáng có những đội quân mai phục sẵn sàng đánh chặn quân Pháp tấn công, bảo vệ cho cuộc họp, bảo vệ các thủ lĩnh.

  Sau khi đến nơi, các thủ lĩnh được bố trí nơi ăn, nơi nghỉ, được Phan Đình Phùng và các tướng lĩnh Hương Khê như Cao Thắng, Tiến sĩ Phan Trọng Mưu, Cử nhân Phan Quảng Cư, Nguyễn Chanh, Nguyễn Trạch, Lê Văn Tạc, Phan Đình Can, Phan Đình Phong, Nguyễn Mục, Phan Bá Niên... tiếp đón trọng thị. Ngoài các toán quân mai phục bịt các con đường vào Vụ Quang, Cao Thắng còn cho 500 binh sĩ bí mật bảo vệ, qua hai ngày họp bàn, 15 thủ lĩnh các địa phương phát biểu. Ngày cuối cùng, Tiến sĩ Phan Trọng Mưu, người ghi chép cuộc thảo luận đọc lời kết luận coi như nghị quyết của các thủ lĩnh như sau:

Thứ nhất, các thủ lĩnh đồng lòng tôn Đình nguyên tiến sĩ, Thống đốc quân vụ đại thần Phan Đình Phùng làm Tổng chỉ huy nghĩa quân bốn tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa.

Thứ hai, dưới quyền chỉ huy của Thống đốc quân vụ đại thần có 15 quân thứ ở các tỉnh:

1.Khê thứ thuộc nghĩa quân Hương Khê do thủ lĩnh Nguyễn Thoại chỉ huy.

2.Can thứ là nghĩa quân ở huyện Can Lộc, Hà Tĩnh do thủ lĩnh Nguyễn Chanh và Nguyễn Trạch chỉ huy.

3.Lai thứ là nghĩa quân ở tổng Lai Thạch, huyện Can Lộc do thủ lĩnh Phan Đình Nghinh chỉ huy.

4.Hương thứ là nghĩa quân ở huyện Hương Sơn do thủ lĩnh Nguyễn Giao chỉ huy.

5.Nghi thứ là nghĩa quân ở huyện Nghi Xuân do thủ lĩnh Ngô Quảng, Hà Văn Mỹ chỉ huy.

6.Cẩm thứ là nghĩa quân ở huyện Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh do thủ lĩnh Hoàng Bá Xuyên chỉ huy.

7.Thạch thứ là nghĩa quân ở huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh do thủ lĩnh Võ Phát chỉ huy.

8.Diệm thứ là nghĩa quân ở làng Tình Diệm, Hương Sơn, Hà Tĩnh do thủ lĩnh Cao Đạt chỉ huy.

9.Lễ thứ là nghĩa quân ở làng Trung Lễ, huyện La Sơn, Hà Tĩnh do thủ lĩnh Nguyễn Cấp chỉ huy.

10.Kỳ thứ là nghĩa quân huyện Kỳ Anh do thủ lĩnh Võ Phát chỉ huy.

11. Anh thứ là nghĩa quân ở huyện Anh Sơn, Nghệ An do thủ lĩnh Nguyễn Mậu chỉ huy.

12. Diễn thứ là nghĩa quân ở huyện Diễn Châu, Nghệ An do thủ lĩnh Lê Trọng Vinh chỉ huy.

13. Thanh thứ là nghĩa quân ở Thanh Hóa do thủ lĩnh Cầm Bá Thước chỉ huy.

14.Bình thứ là nghĩa quân ở Quảng Bình do thủ lĩnh Nguyễn Thu chỉ huy.

15.Lệ thứ là nghĩa quân ở huyện Lệ Thủy, Quảng Bình do thủ lĩnh Nguyễn Bì chỉ huy.

-Như vậy, chúng ta có 15 quân thứ, mỗi quân thứ có từ 100 đến 500 binh sĩ. Những thủ lĩnh chỉ huy quân thứ là 15 vị, hôm nay đều có mặt đông đủ tại đây, đều là những tướng lĩnh có năng lực, uy tín và một lòng vì nước, vì dân. Chúng tôi tin rằng các ngài sẽ hoàn thành tốt sứ mệnh của mình.

  Ngừng một lát, Phan Trọng Mưu nói tiếp:

-Toàn bộ nghĩa quân trong 15 quân thứ trang bị giống nhau, đó là quân phục màu nâu, lưng buộc đai màu xanh, cờ hiệu là cờ ngũ săc, cờ của triều đình hoàng thượng Hàm Nghi. Trang bị vũ khí là những vũ khí thông thường gươm, dao, súng hỏa mai. Nhưng Cao Thắng và các tướng lĩnh ở Hương Khê đã sáng tạo và rèn được 1.000 khẩu súng trường bắn nhanh kiểu của Pháp 1784, chiến đấu rất hiệu quả. Nay chia đều cho 15 quân thứ. Về địa phương, các ngài dựa theo đó mà đúc nhiều thêm thì tốt. Về lương thực, chúng ta phải dựa vào sự đóng góp của bách tính. Sau đây xin các vị thủ lĩnh nghe Thống đốc quân vụ Đại thần, Đình nguyên Tiến sĩ căn dặn các vị vài lời.

Nguyễn Thân ngừng lại. Khâm Sứ Trung Kỳ nói:

-Đúng vậy, ngài Toàn quyền đã chỉ thị cho bản Khâm sứ Trung Kỳ thành lập bộ máy điều hành chiến tranh để dập tắt cuộc nổi dậy của Phan Đình Phùng.                                                                                  Khâm sứ Trung Kỳ dừng lại uống thêm một cốc rượu rồi nói:

-Ngài Hoàng Cao Khải, ngài cùng làng Đông Thái, huyện La Sơn với Phan Đình Phùng nên biết rõ về ông ta, ngài hãy nói qua về ông ta để các ngài ở đây được rõ thêm.

canvuong-1655992179.jpg
Nghĩa quân tham gia phong trào Cần Vương chống thực dân Pháp. Nguồn: Internet.

 

 Hoàng Cao Khải nói:

-Dạ bẩm, Phan Đình Phùng sinh năm 1847, quê ở làng Đông Thái, huyện La Sơn, phủ Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh trong một gia đình có truyền thống Nho học. Cha của Phan Đình Phùng là Phan Đình Tuyến, đỗ Phó bảng, bác là Phan Đình Thông là chí sĩ, bác thứ hai là cử nhân Phan Đình Thuật, chú là Phan Đình Vận đỗ Phó bảng. Năm 1876 Phan Đình Phùng đỗ cử nhân, năm 1877 đỗ Đình nguyên tiến sĩ, sau được bổ nhiệm làm tri phủ Yên Khánh, Ninh Bình, do tính tình cương trực thẳng thắn nên được bổ nhiệm Ngự sử triều đình thời vua Tự Đức. Năm 1883, do việc phản đối Tôn Thất Thuyết phế truất vua Dục Đức nên bị cách chức, đuổi về quê. Năm 1884, vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết phục chức, phong Phan Đình Phùng làm Tham Biện sơn phòng Hà Tĩnh. Năm 1885, tại sơn phòng Hà Tĩnh, vua Hàm Nghi phong Phan Đình Phùng chức Thống đốc quân vụ đại thần, lãnh đạo toàn bộ quân Cần Vương bốn tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa. Con người ông ta là quan văn nhưng khí tiết kiên trung, bất khuất, một lòng vì vua, vì nước mà không quản sống chết hiểm nguy. Về quân sự, ông ta là người biết tổ chức, lại biết dùng nhân tài. Hiện nay, Hương Khê là lá cờ đầu của Phong trào Cần Vương không chỉ ở miền Trung mà còn là cả miền Bắc.

Hoàng Cao Khải dứt lời thì Khâm sứ Trung Kỳ Se ra phin nói:

-Các ngài đã biết Phan Đình Phùng là người thế nào rồi đấy, văn võ song toàn, kiên trung bất khuất. Con người như vậy khó mà dụ dỗ mua chuộc, đe dọa được, chỉ có thể khuất phục bằng sức mạnh. Ngài Nguyễn Thân đây là đại diện cho triều đình, khâm mệnh đại thần nghe lệnh.

  Nguyễn Thân chắp tay đáp:

-Dạ, có lão phu.                                                          

-Nay ta chỉ định ngài chỉ huy toàn bộ lực lượng lính khố xanh của bốn tỉnh tiến hành các chiến dịch tiêu diệt quân Cần Vương. Giúp việc và phối hợp với ngài Nguyễn Thân có công sứ Nghệ An Luýt xơ, ngài Hoàng Cao Khải đại thần triều đình. Các sĩ quan Pháp phải đặt dưới quyền điều động chỉ huy của ngài Nguyễn Thân. Tuy nhiên các đơn vị lính khố xanh và lính Pháp được đặt dưới sự chỉ huy trực tiếp của các sĩ quan Pháp. Các sĩ quan Pháp ngoài tác chiến còn phải tham mưu cho ngài Khâm mạng Triều đình Nguyễn Thân. Chúng ta vừa dùng biện Pháp quân sự vừa sử dụng biện pháp đánh vào lòng người như thuyết phục dụ hàng Phan Đình Phùng, dụ hàng không được thì đào mồ mã cha ông, bắt những người thân đe dọa để phải ra đầu hàng. Việc dụ hàng giao cho ngài Đại thần Hoàng Cao Khải, đồng hương cùng làng với Phan Đình Phùng đảm nhận là tốt nhất. Về quân sự, ngài Nguyễn Thân là người Việt, hiểu rõ cách tác chiến của người Việt, hơn nữa ngài đã có nhiều kinh nghiệm trong cuộc đàn áp những cuộc khởi nghĩa ở Nam Trung Kỳ, ngài có thể nói qua chiến thuật tác chiến với quân Cần Vương Hương Khê cho ta và các ngài ở đây nghe xem.

Nguyễn Thân hơi vênh bộ mặt gian ngoan:

-Ta phải biết chỗ dựa về nhân lực, lương thực, vũ khí của tất cả phong trào Cần Vương là ở chỗ liên hệ với bách tính. Muốn làm cho phòng trào Hương Khê suy yếu, sức cùng kiệt, cuối cùng bị tiêu diệt là bao vây, không cho tràn xuống đồng bằng, bao vây cắt đứt mối liên hệ giữa bách tính Hà Tĩnh, Nghệ An với nghĩa quân thì họ sẽ kiệt sức. Chính phủ Đông Dương phải không tiếc sức lực, của cải để xây một hệ thống đồn bốt dày đặc, kiên cố, kiên quyết không để họ tấn công phá đồn, bốt. Thứ hai, cùng với bao vây là mở các cuộc càn quét lớn để tiêu diệt từng căn cứ một và cuối cùng tiêu diệt đại bản doanh của Phan Đình Phùng ở Vụ Quang và Ngàn Trươi. Còn nhiều vấn đề khác nữa nhưng đấy là hai chiến thuật chủ yếu nhất để dập tắt phong trào này. Còn đối với dân chúng, chúng ta có chính quyền, bắt các chánh tổng, lý trưởng rào làng, kiểm soát đi lại, không cho  dân chúng tiếp tế lương thực, cung cấp nguyên vật liệu cho Cao Thắng chế tạo súng và vũ khí, không cho con em họ gia nhập nghĩa quân. Làm được như vậy, chỉ hai năm, Hương Khê sẽ kiệt quệ, khốn đốn, lão phu sẽ sớm bắt được Phan Đình Phùng.

  Khâm sứ Trung Kỳ cười ha hả:

-Ha!Ha!Ha!...Đúng là không ai hiểu người Việt bằng người Việt. Chính phủ Đông Dương sẽ bỏ tiền xây dựng đồn, bốt bằng xi măng cốt thép quanh Vụ Quang và Ngàn Trươi. Các công sứ Nghệ An và Hà Tĩnh phải ép bọn cấp dưới bắt dân rào làng, kiểm soát chặt chẽ. Kẻ nào không tuân theo giết. Các ông không làm được điều đó các ông bị kỷ luật. Nào chúc mừng ngài Nguyễn Thân thắng lợi, sớm bình định được xứ bảo hộ Trung Kỳ.                                     

*    *

                                     *                                     

  Rừng núi Hương Khê, căn cứ Vụ Quang-Ngàn Trươi tháng 7 năm 1893 chìm trong nắng, gió thổi làm rừng lá xanh chuyển động xạc xào, lá vàng rơi xuống đầy đất. Khí trời trong rừng mà nóng bức, đôi khi lại xen những trận gió lào nóng như rang, khô không khốc.

  Trong căn nhà vách nứa giữa núi vụ Quang, chung quanh cây lá rậm rạp. Đó là căn nhà của cụ Phan Đình Phùng, Thống đốc quân vụ đại thần, tổng chỉ huy của 15 quân thứ Cần Vương bốn tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa. Chung quanh căn nhà là doanh trại của nghĩa quân bảo vệ cho đại bản doanh. Dưới bóng các tán cây và trên lán các doanh trại, những lá cờ vàng ngũ sắc bay phấp phới. Những sắc lính quân phục màu nâu, thắt lưng xanh, vũ khí trong tay thay nhau tuần phòng. Chung quanh doanh trại, có tiếng hí của ngựa, tiếng voi gầm và cả tiếng vượn hú, tiếng chim kêu. Bản nhạc rừng còn nghe tiếng ầm ào của thác nước các sông đang đổ về sông Vụ Quang ào ào ngày đêm không ngớt.

  Trong căn phòng đơn sơ vách nứa, mái cỏ gianh, bốn người đang ngồi uống nước quanh bộ bàn ghế làm bằng gỗ thơ sơ. Cụ Phan Đình Phùng ngồi một bên, đối diện với Tổng binh Cao Thắng. Ngồi cùng Cao Thắng có Đề đốc Cao Nữu, Đề đốc Nguyễn Niên. Sau một lượt trà, Phan Đình Phùng nói:

-Tổng binh có tình hình gì về chiến sự, xin cứ trình bày.

  Cao Thắng khi đó gần 30 tuổi, đôi mắt sáng, thông minh, đầy gan dạ nói:

-Dạ, bẩm Thống đốc quân vụ đại thần, như ngài đã biết, ngày 3 tháng 3 năm 1892, quân ta giao chiến kịch liệt với đội quân của giám binh Huy nhi. Tháng 1 năm nay (1893), quân ta đã đánh bại cuộc càn quét rất lớn của Pháp vào Trường Vật và Ngàn Trươi. Địch từ ba hướng Bắc, Đông, Nam tấn công lại. Ngày 7 tháng 1 năm 1893, cánh quân của Đơ su la giơ ở hướng Bắc bị chặn lại, cánh quân của Ha ghe ở hướng Nam bị chặn đánh ở Khê Thượng. Ngày 23 tháng 1, Lăm be vào Khe Ngọn cũng bị chặn đánh. Ngày 6 tháng 2 quân ta tiêu diệt 1 sĩ quan Pháp và 20 lính khố xanh của Buốc gioa và Ha ghe. Tham chiến trận này còn có các sĩ quan Pháp Ma ri a ni, Rô be, Đi lanh ghết tơ cùng 85 lính khố xanh. Ngày 29 tháng 3 năm 1893, quân ta do Đề Thắng chỉ huy giao tranh với quân của Buốc gioa ở Mỹ Duệ. Đầu tháng 4, quân ta do Đề Nam chỉ huy đánh với quân của Buốc gioa và Rô be ở gần Mỹ Đức. Ngày 28 tháng 4, Rô be đánh vào Trại Chè, quân ta luồn về đồng bằng đánh đồn Trung Lương, Kim Chúc, huyện Can Lộc, đánh đồn Tri Bản, gần đồn Hương Khê và nhiều nơi khác ở huyện Nghi Xuân.

  Ngày 12 và 15 tháng 5 năm 1893, Đề Nam đánh Huy nhi, Đờ su la giơ, Đi lanh ghết phơ ở gần trấn trị Hà Tĩnh. Quân ta tấn công đồn Khiêm Ích của tên Ma ri a ni. Ngày 7 tháng 7 cùng năm, Đốc Trạch đánh Ma ri a ni, cách đồn Nam Huân 6-7 km.

  Cao Thắng ngừng lại uống nước và nhìn Phan Đình Phùng. Phan Đình Phùng hỏi:

-Qua chiến sự nửa đầu năm 1893, Tổng binh có nhận xét gì về ta và địch không?

  Cao Thắng trả lời:

-Dạ bẩm, quân ta dùng các chiến thuật tấn công đồn, mai phục, tập kích, diệt Việt gian, chống càn quét nhưng vẫn bị bao vây ở miền núi, không mở rộng phạm vi xuống đồng bằng được, không thể trở thành phong trào của toàn cõi Trung Kỳ, các Quân thứ cũng không phối hợp tác chiến được. Trong khi đó, Quân Pháp nắm được chính quyền, sử dụng nó làm công cụ, huy động nhân tài vật lực trong toàn quốc để bao vây chúng ta bằng những đồn bốt kiên cố bê tông cốt thép. Chúng dùng chính quyền để buộc nhân dân Nghệ An-Hà Tĩnh rào làng, kiểm soát chặt chẽ bá tính, không cho họ cung cấp lương thực, vũ khí và nhân lực cho chúng ta, chúng đang đánh vào điều kiện sinh tử của chúng ta là mối quan hệ với bách tính. Mất quan hệ với bách tính, chúng ta sẽ tự suy yếu dần và sẽ thất bại.

  Phan Đình Phùng nghe chăm chú, lộ vẻ đăm chiêu trên nét mặt:

-Vậy Tổng binh có giải pháp gì để cứu vãn tình thế không?

  Cao Thắng đáp:

-Dạ bẩm Thống đốc quân vụ, để thoát thế bị bao vây, nối lại mối quan hệ với dân chúng, chúng ta phải vừa hoạt động ở miền núi, vừa phải hoạt động ở đồng bằng, trước hết là đồng bằng Nghệ An và Hà Tĩnh để phá thế bao vây của địch, dùng lực lượng của dân chúng mà lật đổ chính quyền địch ở hai tỉnh này và sau đó là toàn bộ BắcTrung Kỳ, thậm chí giải phóng cả Bắc Kỳ. Khi đó sự nghiệp Cần Vương chắc chắn sẽ thành công.

Phan Đình Phùng lại hỏi:

-Làm thế nào để tiếp cận được với đồng bằng Nghệ An và Hà Tĩnh?

Cao Thắng đáp:

-Trước hết, xin Thống đốc quân vụ cho thuộc tướng đem 1.000 quân đánh chiếm thành Nghệ An. Từ thành Nghệ An sẽ đánh chiếm toàn tỉnh Nghệ An và sau đó là tỉnh Hà Tĩnh.

Ngày hôm sau, 3.000 quân dưới sự chỉ huy của Nguyễn Thân, khâm mạng đại thần, công sứ Đuy vin li ê đại diện chính phủ Đông Dương, Đinh Nho Quang, tuần phủ Hà Tĩnh hành quân về Hương Khê. Cùng đi có các sĩ quan Pháp, các tên giám binh Cốt tô, Huy nhi, Ha ghê, Đờ su la giơ, Cô đen và 12 thiếu úy khố xanh và nhiều súng đạn, vũ khí hiện đại mở cuộc càn quét, bao vây và tấn công căn cứ của nghĩa quân Hương Khê là Ngàn Trươi, Núi Quạt và Vụ Quang. Binh lửa cháy suốt 10 năm trời trên mảnh đất Nghệ An, Hà Tĩnh bây giờ sắp thành một cơn bão táp dữ dội của cả hai bên.

chpdphung-1656251113.jpg
Tượng đài chí sĩ yêu nước Phan Đình Phùng và nghĩa quân tại huyện Vũ Quang - Hà Tĩnh. Nguồn: vuquang.hatinh.gov.vn

 

  Trong Tổng hành dinh Vụ Quang của nghĩa quân Hương Khê, mùa đông tháng 10 năm 1895, Thống đốc quân vụ Phan Đình Phùng đang ngồi uống trà sau bữa ăn sáng. Ông đã biết được những khó khăn của nghĩa quân do sự xây dựng đồn bốt kiên cố, do rào làng kiểm soát dân tàn bạo của quân giặc. Nghĩa quân do vậy thiếu lương thực nghiêm trọng, thiếu vũ khí, thiếu quân số, nhiều tướng lĩnh tài năng, gan dạ như Cao Thắng đã hy sinh, bản thân Phan Đình Phùng cũng đang bị bệnh hiểm nghèo và ốm yếu. Ông hiểu rằng đây là giai đoạn cuối cùng của cuộc khởi nghĩa. Nhưng ông cho rằng ông và hàng chục tướng lĩnh, hàng nghìn nghĩa quân đã dấn thân vào con đường trung nghĩa, bảo toàn khí tiết, trả món nợ núi sông, sát thân thành nhân thì có sợ gì. Vì thế ông và các thủ lĩnh vẫn ung dung tự tại. Chợt có Nguyễn Niên vào báo:

-Bẩm Thống đốc quân vụ, công sứ Nghệ An và Nguyễn Thân cùng nhiều sĩ quan Pháp đem 3.000 quân Pháp và khố xanh đang hành quân tới đây mở cuộc càn quét, tấn công lớn vào căn cứ của ta.

  Phan Đình Phùng nói:

-Có lẽ chúng đang quyết tâm đánh một trận lớn với chúng ta. Ta cũng phải đánh một trận lớn với chúng thôi. Tướng quân đi gọi Cao Nữu và tất cả các tướng lĩnh tới đại bản doanh.

-Dạ, thuộc tướng tuân lệnh.

  Khi các tướng đã đến đông đủ, Phan Đình Phùng nói:

- Các tướng đều biết, quân giặc dùng một binh lực lớn 3.000 tên đang tiến vào đây. Ta sẽ dùng kế “Sa nang úng thủy”đánh chúng một trận lớn. Bây giờ tất cả hãy theo ta.

-Dạ, tuân lệnh Thống đốc quân vụ.

  Phan Đình Phùng đi trước. Theo sau là Cao Nữu, Nguyễn Niên, Cao Đạn, Nguyễn Mục, Lê Văn Tạc, Phan Đình Can, Phan Đình Phong, Phan Quảng…Họ đi đến đoạn bờ sông Vụ Quang. Phía bắc bờ sông là con đường thượng đạo dẫn về trấn trị Hà Tĩnh, phía nam bờ sông là con đường dẫn tới núi Vụ Quang, Núi Quạt, Ngàn Trươi, núi Đại Hàm. Hai bờ sông không có cầu, muốn tới Vụ Quang phải lội qua sông vì nước tương đối cạn. Phan Đình Phùng và các tướng lĩnh đứng ở bờ Nam của sông quan sát, Một vùng núi Hương Khê trùng trùng điệp điệp, nhấp nhô cao thấp, uốn lượn xanh rờn cây lá và trắng xóa sương mù. Tháng 10 giá rét như cắt, gió rung cây xào xạc. Có tiếng chim rừng và tiếng nai kêu thảm thiết. Đây là đoạn sông tương đối bằng phẳng, hai bên bờ cây cối rậm rạp. Có con đường độc đạo duy nhất từ Hà Tĩnh tới Vụ Quang, Ngàn Trươi, Núi Quạt, núi Đại Hàm. Vài khúc gỗ mục theo nước trôi về xuôi, dập dềnh như cuộc đời giang hồ lữ thứ. Phan Đình Phùng lặng im nhìn dòng sông, nhìn núi rừng thân thương mà 10 năm trời chống giặc, ông đã cùng nghĩa quân Hương Khê gắn bó. Phan Đình Phùng nói với các tướng:

-Quân giặc muốn vào Vụ Quang, Ngàn Trươi phải lội qua đoạn sông này. Đây sẽ là mồ chôn hàng trăm quân giặc. Tướng quân Nguyễn Niên.

-Dạ có thuộc tướng.

-Tướng quân đem 200 quân lên thượng nguồn của sông, cách đây khoảng 3 km, cho lấy gỗ và đất đắp chặn dòng sông lại, đồng thời cưa cây thành từng đoạn dài khoảng 5m, khoảng 100 đoạn như vậy và thả ở bờ tây của con đập. Khi nghe dưới này nổ súng thì phá đập cho nước và gỗ lao xuống giết chết quân giặc. Đây là trận "Sa nang úng thủy”mà Hàn Tín, tướng của Hán Cao Tổ Lưu Bang dùng để phá quân Sở Bá Vương Hạng Vũ.

-Dạ, thuộc tướng tuân lệnh.

-Tướng quân Cao Nữu.

-Dạ, có thuộc tướng.

-Tướng quân đem 600 tay súng mai phục hai bên bờ sông, khi quân Pháp lội đến giữa sông thì bắn hạ, tiếng súng cũng là tín hiệu cho tướng quân Nguyễn Niên trên thượng nguồn phá kè đập cho nước và gỗ lao xuống diệt giặc.

-Thuộc tướng  tuân lệnh.

  Vài ngày sau công sứ Đu Vin li ê, Nguyễn Thân và Đinh Nho Quang đem 3.000 quân hướng về Vụ Quang. Khi đến bờ bắc sông Vụ Quang cho dừng lại. Nguyễn Thân hỏi Đinh Nho Quang:

-Đây là đâu?

-Dạ, bẩm khâm mệnh đại thần, đây là sông Vụ Quang, vượt qua sông này là tới Vụ Quang, Ngàn Trươi, Núi Quạt, núi Đại Hàm.

-Nước có sâu không, có lội được không?

-Dạ, nước nông, lội qua được.

-Cho một tên lính xuống thăm dò.

Tên lính khố xanh xắn quần lội qua, sang bờ bên kia sông và gọi:

-Bẩm quan lớn, nước nông lội qua được.

  Nguyễn Thân ra lệnh:

-Tất cả lội qua sông, tiến về Vụ Quang.

-Tuân lệnh Khâm mạng đại thần.

  Nguyễn Thân, Đinh Nho Quang, công sứ Đu Vi li ê đứng trên bờ ra lệnh cho hàng trăm tên lính khố xanh khoác súng qua vai, ba lô nặng trĩu chen nhau lội ra giữa sông. Chợt hai bên bờ sông súng nổ chát chúa. Đạn bay đỏ lửa dày đặc không cho binh lính thoát thân. Hàng chục lính trúng đạn đổ gục, máu tuôn đầy nước. Còn đang lúng túng thì bỗng nhiên nước và gỗ từ thượng nguồn lao xuống. Đoạn sông đang cạn phút chốc thành dòng sông mênh mông nước chảy xiết dữ dội. Nước làm quân lính chết đuối, hàng trăm khúc gỗ lao như tên bắn vào lính, lính bị đâm, bị va đập nát người mà chết. Tiếng kêu la dậy trời đất, vang động cả vùng núi rừng Hương Khê. Xác và máu đỏ ngầu bị dòng thác nước tiếp tục cuốn trôi về Đông. Nguyễn Thân, Đinh Nho Quang, công sứ Đu vin li ê cùng quân lính còn trên bờ hốt hoảng chạy ngược về hướng Hà Tĩnh. Chạy được 2 km, Nguyễn Thân cho dừng lại và điểm quân, thiếu mất 150 lính và 32 viên sĩ quan Pháp. Viên công sứ  Đu vin li ê sợ xanh xám mặt mày nói run run:

-10 năm đánh với Hương Khê, đây là trận ta bị thiệt hại nhiều nhất, tử trận tới 32 viên sĩ quan Pháp…

  Nguyễn Thân lồng lộn:

-Phan Đình Phùng, ta sẽ tính sổ với ngài.

Sau trận “Sa nang úng thủy” ở Sông Vụ Quang, Phan Đình Phùng dời Tổng hành dinh về núi Đại Hàm. Tháng 12 năm 1895, trong hành dinh, Phan Đình Phùng vừa uống trà vừa nghe tướng Nguyễn Niên báo cáo:

-Dạ, bẩm Thống đốc quân vụ, sau trận ở sông Vụ Quang, ngày 17 tháng 1 năm 1895, trong trận giao tranh ở Trường Vật, Đốc Trạch đã bắn chết tên sĩ quan Sa ma rang. Ngày 20 tháng 2, quân Huy nhi đã tấn công quân ta ở Làng Trai, Nghi Xuân. Ngày 10 tháng 5 cùng năm, tên Ma kê tấn công quân ta do Phan Đình Nghinh chỉ huy. Ngày 27 tháng 5, Lý Vỏ giao tranh với quân của tên thiếu núy Đô phe, Lý Vỏ hy sinh. Cuối tháng 5, thủ lĩnh quân ta ở phủ Diễn Châu bị giăc bắt. Tháng 6, có trận giao tranh quyết liệt giữa Đề Đạt, Phan Đình Nghinh với tên Huy nhi.

  Nguyễn Niên vừa nói tới đó thì có lính vào báo:

-Dạ bẩm, Thống đốc quân vụ, hàng nghìn quân khố xanh và quân Pháp đã bao vây Tổng hành dinh, tình hình rất nguy cấp.

  Phan Đình Phùng bảo Nguyễn Niên và Cao Nữu:

-Nào chúng ta ra cùng chiến đấu với binh sĩ.

  Phan Đình Phùng ung dung bước ra, bảo một người lính:

-Anh đưa ta một khẩu súng trường do Tổng binh Cao Thắng chế tạo, ta dùng thử.

-Dạ, kính mời Thống đốc quân vụ.

  Thấy Phan Đình Phùng ra chiến đấu, quân sĩ phấn khởi reo vang:

-Thống đốc quân vụ ra trận, đánh mạnh lên anh em ơi…

  Dưới chân núi Đại Hàm, lính khố xanh, lính Pháp đông như kiến cỏ đang bị các sĩ quan Pháp đốc thúc tiến lên sườn núi dốc, vừa leo vừa bắn. Nghĩa quân từ trên cao lợi thế nã đạn xuống. Lính khố xanh và lính Pháp chết và lăn xuống sườn đồi chồng chất. Nhưng giặc quá đông, súng đạn nhiều, tốc độ bắn nhanh, chính xác nên nghĩa quân hy sinh nhiều. Nơi rừng xanh núi cao, tiếng súng vang lên như sấm sét, đạn bay lên bay xuống đỏ lừ. Khói súng như hỏa hoạn tuôn lên lan tỏa mù mịt, ngạt thở. Phan Đình Phùng cùng với cây súng do Cao Thắng chế tạo cũng đã bắn hạ được hàng chục tên giặc. Ông cùng nghĩa quân can đảm đã chiến đấu được 15 ngày. Ngày thứ 15, thốt nhiên ông thấy đau nhói ở bụng, nhìn xuống thì máu chảy đầm đìa. Ông gục xuống. Nguyễn Niên và Cao Nữu cùng kêu lên:

-Thống đốc quân vụ bị thương.

  Cao Nữu vội cỡi thắt lưng xanh ra buộc vết thương cho Phan Đình Phùng và ra lệnh:

-Tất cả rút về núi Quạt.

-Tuân lệnh Đề đốc.

  Về núi Quạt, Cao Nữu, Nguyễn Niên và các tướng lĩnh ra sức chạy chữa vết thương cho Phan Đình Phùng nhưng không qua khỏi. Sáng 28 tháng 12 năm 1895 (21-1-1896), Phan Đình Phùng mở mắt, nói với các tướng lĩnh nghĩa quân:

-Ta đã không làm tròn sự ủy thác của hoàng thượng Hàm Nghi. Cho ta tạ tội với trời đất, tổ tiên và hoàng thượng.

  Nói xong Phan Đình Phùng nhắm mắt qua đời, thọ 49 tuổi.

  Nghĩa quân xót thương, mai táng Phan Đình Phùng ở núi Quạt. Hàng trăm nghĩa quân mang khăn trắng khóc thương, đến viếng suốt 3 ngày, Cờ vàng treo ủ rũ. Tiếng trống và tiếng kèn ai điếu thê lương. Trời mùa đông xám xịt u buồn, những cơn gió lạnh và mưa phùn như trời rơi lệ khóc người anh hùng trung nghĩa. Khắp một dải đất từ miền Trung đến miền Bắc, các văn thân, sĩ phu, chí sĩ, bách tính đều rơi lệ thương tiếc Phan Đình Phùng, coi như ngày đại tang với non sông đất nước.

  12 ngày sau khi Phan Đình Phùng tạ thế, Nguyễn Thân mới vào được Núi Quạt. Thân cho khai quật mộ người anh hùng Cần Vương, đốt thành than, trộn vào thuốc súng bắn xuống sông La. Hành động này của Nguyễn Thân một lần nữa lại gây phẫn nộ cho bách tính cả nước đối với tên đại Việt gian. Ở đời ác giả ác báo. Nguyễn Thân sau khi về hưu ở làng Thu Hà, Quảng Ngãi, ngày đêm bị ám ảnh bởi những việc làm của mình mà phát điên phát dại, sống một cuộc đời sống không bằng chết trong lâu đài sang trọng của mình.

  Còn Phan Đình Phùng dù mộ ông không còn nhưng tên tuổi ông sống vĩnh viễn trong lòng nhân Hà Tĩnh và nhân dân đất Việt, là thần tượng anh hùng bất khuất của dân tộc. Ai vinh quang, ai bần tiện lố bịch, lịch sử thật là công bằng khi phán xét. Hiện tượng của Nguyễn Thân là lời cảnh báo cho những kẻ vì vinh thân phì gia mà bán nước thì chuốc lấy sự nhục nhã, bị nguyền rủa muôn đời.