IV
Mùa đông năm 1885, làng Dương Trạch, Khoái Châu, Hưng Yên chìm trong giá rét. Gió khua xào xạc trên những lũy tre, những rặng nhãn bao quanh xóm làng. Lá vàng rơi lả tả xuống những mái tranh nghèo. Gió lùa trên những bãi sậy mênh mông, bát ngát. Những rừng sậy nhô lên từng đợt như những đợt sóng màu vàng cỏ úa. Đời Tự Đức, đê Văn Giang vỡ 18 lần, dân cư đói khát bỏ làng mà đi tha phương. Từ đó, những cánh đồng phì nhiêu của các huyện Văn Giang, Khoái Châu, Yên Mỹ, Mỹ Hào lau sậy mọc um tùm thành rừng, mênh mông bát ngát.
Làng Dương Trạch, phủ Khoái châu là căn cứ thứ hai của cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy do Đinh Gia Quế lãnh đạo. Gọi là làng nhưng phần lớn đất đai là lau sậy um tùm, hiểm yếu, có chỗ lau sậy cao tới 3m, là một căn cứ chống Pháp lợi hại. Trong Đại bản doanh mái lợp bằng lá sậy, cột tre, vách đất hoặc cũng bằng lá sậy. Đinh Gia Quế ngồi ghế chủ nhân sau một cái bàn gỗ đã cũ, các tướng lĩnh ngồi hai hàng, giữa là những tấm ván cũ kê thành bàn dài. Trên bàn đặt những bộ ấm đun nước và những cái cốc. Ngồi hàng ghế tướng lĩnh sát gần với Đinh Gia Quế là danh sĩ Nguyễn Đình Mai, Đinh Văn Vinh là con trai của Đinh Gia Quế. Tiếp theo bàn bên tả là Đốc Sung, Đề Tính, Đốc Cọp, bên hữu là cử nhân Nguyễn Hữu Đức, Đề Ban, Đề Bần, Đốc Chính. Bốn vị đây là tướng lĩnh của triều đình ở Bắc Kỳ. Khi triều đình Tự Đức năm 1883 ra lệnh bãi binh không chống Pháp thì đã tham gia khởi nghĩa Bãi Sậy với Đinh Gia Quế.
Đinh Gia Quế sinh năm 1825 tại làng Nghiêm Xá, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông, theo Nho học, đỗ khóa sinh và đi dạy học ở làng Thọ Bình, tổng Bình Dân, huyện Đông Yên, phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Đinh Gia Quế là ông thầy đức độ, có uy tín trong vùng nên triều đình phong chức chánh tổng, sau thăng lên làm chánh tuần huyện Đông Yên, phủ Khoái châu.
Sau khi đánh chiếm thành Hà Nội lần hai năm 1882, ngày 28 tháng 3 năm 1883, một toán nhỏ quân Pháp tiến xuống uy hiếp thành Hưng Yên. Tuần phủ Nguyễn Đức Đạt, Án sát Tôn Thất Phiên hèn nhát tháo chạy, Pháp chiếm thành không mất một viên đạn. Phẫn nộ trước sự hèn nhát của quan lại, Đinh Gia Quế bỏ quan dựng cờ khởi nghĩa, chiêu mộ nghĩa quân chống Pháp xâm lược. Lá cờ thêu tám chữ:" Nam đạo Cần Vương bình Tây phạt tội”. Đinh Gia Quế tự xưng là Đổng nguyên nhung.
Đinh Gia Quế cho xây ở quê ngài là thôn Thọ Bình một cái thành chu vi 5 mẫu, có tường gạch bao quanh. Chung quanh thành có nhiều hầm hào và giao thông hào tỏa ra khắp nơi để nghĩa quân vận động chiến đấu. Trong thành có nhà kho, trường tập bắn, luyện võ nghệ. Đại bộ phận nghĩa quân do các tướng chỉ huy đóng rải rác ở các làng Bãi Sậy chung quanh thành.
Suốt hai năm, từ năm 1883 đến mùa xuân 1885, nghĩa quân đã đánh Pháp nhiều trận lớn ở phủ Khoái Châu, Mỹ Hào, Văn Giang, Ân Thi, Tiên Lữ. Nghĩa quân khống chế đường 5 Hà Nội-Hải Phòng, tấn công các đồn bốt, chặn đánh các đoàn xe, phục kích tiêu diệt các toán quân Pháp đi tuần tiễu, các toán thám báo của Pháp. Nghĩa quân đã đánh bại nhiều cuộc càn quét lớn của giặc vào Bãi Sậy, gây cho chúng nhiều thiệt hại như đánh bại cuộc càn quét của thiếu tướng Đô ni ê thuộc lữ đoàn Nê gờ ri ê. Năm 1884, nghĩa quân đánh bại cuộc càn quét của tướng Đơ Cuốc xi. Pháp phải phối hợp với đại Việt gian Hoàng Cao Khải mở càn quét nhưng thiệt hại lớn, phải cho xây dựng nhiều đồn bốt chung quanh Bãi Sậy để bao vây nghĩa quân như đồn Bần Yên Nhân, Ứng Lôi, Đình Cao, Bằng Nang, Phó Nham, An Vi, Bình Phú, Thổ Hoàng...
Mùa xuân năm 1885, quân Pháp mở nhiều cuộc càn quét giữa lúc Đinh Gia Quế đang lâm bệnh nặng. Ông cho dời bản doanh về làng Dương Trạch, phủ Khoái Châu, và hôm nay đang họp các tướng để bàn bạc.
Ngồi trên ghế chủ nhân, chủ tọa cuộc họp quan trọng này quyết định sự tồn vong của Bãi Sậy là Đinh Gia Quế. Đinh Gia Quế khoác áo bông, dáng người mệt mỏi. Ông uống một cốc chè nóng và nói với các tướng lĩnh:
-Vừa rồi cuộc tấn công của Hoàng Cao Khải vào căn cứ thì ta bị ốm nặng nên nghĩa quân bị thiệt hại nặng. Ta nay chỉ sống tính theo ngày giờ. Sự nghiệp cứu nước của Bãi Sậy không thể không có chủ tướng mới. Hôm nay, ta cùng các tướng hãy chọn lấy một người tài giỏi thay ta gánh vác, nếu không thì sự nghiệp của chúng ta sẽ tan nát bởi bàn tay của giặc Pháp và bọn Việt gian.
Danh sĩ Nguyễn Đình Mai nói:
-Chủ tướng quả nhiên là không được khỏe, nay thuộc hạ đề cử cử nhân Nguyễn Hữu Đức, người có đức có tài có thể đảm đương gánh vác được nhiệm vụ khó khăn này.
Nguyễn Hữu Đức dáng phong lưu của một nhà Nho nói:
-Cảm tạ sự đề cử của đại nhân Nguyễn Đình Mai, nhưng xét thấy tại hạ tài hèn sức mọn, không thể gánh vác được việc lớn của Bãi Sậy. Nay tại hạ xin đề cử một người có thể ngồi vào ghế chủ tướng của chúng ta.
Đinh Gia Quế yếu ớt hỏi nhỏ:
-Ai vậy? Xin ngài cử nhân cứ nói rõ?
Nguyễn Hữu Đức đáp:
-Người đó không ai khác là quan Hiệp thống quân vụ Bắc Kỳ Đại thần Nguyễn Thiện Thuật, cháu đời thứ 30 của khai quốc công thần nhà Hậu Lê Nguyễn Trãi.
Đốc Sung hỏi:
-Tại hạ đã nghe danh người này lâu rồi. Xin ngài cử nhân nói rõ hơn.
Nguyễn Hữu Đức đáp:
-Cũng là người trong làng Nho nên tôi biết rõ Nguyễn Thiện Thuật. Nguyễn Thiện Thuật sinh năm 1844, quê quán làng Xuân Dục, tổng Bạch Sam, huyện Đường Hào, tỉnh Hưng Yên trong một gia đình nhà Nho nghèo, sớm nổi danh vì tài văn võ. Năm 1870 Nguyễn Thiện Thuật thi đỗ tú tài, năm 1874 được triều đình cử làm Bang biện. Năm 1876 Nguyễn Thiện Thuật đậu cử nhân và được bổ làm tri phủ Từ Sơn, Bắc Ninh, năm Kỷ Mão 1879 được bổ nhiệm chức Tán tương quân vụ Hải Dương, năm 1881 giữ chức Chánh sứ sơn phòng tỉnh Hưng Hóa kiêm chức Tán tương quân vụ tỉnh Sơn Tây. Nguyễn Thiện Thuật làm quan công minh, thanh liêm và có tài cai trị. Năm 1882, giặc Pháp tấn công Hà Nội lần hai, nhà Nguyễn đầu hàng, hạ lệnh cho tướng lĩnh quan lại Bắc Kỳ bãi binh, không được chống Pháp. Nguyễn Thiện Thuật kháng chỉ, cùng một số sĩ phu, văn thân, tướng lĩnh yêu nước chiêu mộ nghĩa quân chống Pháp. Năm 1883, Nguyễn Thiện Thuật lên Hưng Hóa-Tuyên Quang cùng Nguyễn Quang Bích đánh Pháp. Năm 1884 thành Hưng Hóa thất thủ, Nguyễn Thiện Thuật lên Lạng Sơn đánh giặc cùng thủ lĩnh Lã Xuân Oai, tuần phủ Lạng Sơn-Cao Bằng. Năm 1885, thành Lạng Sơn thất thủ, Nguyễn Thiện Thuật sang Long Châu, Trung Quốc. Cùng năm 1885 ngài về nước, nhiệt liệt hưởng ứng chiếu Cần Vương của hoàng thượng Hàm Nghi, đã yết kiến hoàng thượng tại sơn phòng Hà Tĩnh, được hoàng thượng Hàm Nghi phong chức “Bắc Kỳ Hiệp thống Quân vụ đại thần Gia trấn trung tướng quân". Tôi nhớ không nhầm thì Nguyễn Thiện Thuật đã vài lần tới tổng hành dinh của quân ta ở Bãi Sậy đàm đạo việc chống Pháp với chủ tướng Đinh Gia Quế.
Đinh Gia Quế nhớ ra:
-Đúng rồi, hôm làm lễ tế cờ khởi nghĩa Bãi Sậy của ta, Nguyễn Thiện Thuật có tới dự, được ngài đó làm chủ tướng thì ta ra đi cũng yên tâm, Nhưng nay ngài ấy đang ở đâu?
Nguyễn Hữu Đức đáp:
-Bẩm chủ tướng, nay đại bản doanh của Nguyễn Thiện Thuật đang ở Đông Triều, Quảng Ninh.
Đinh Gia Quế ôm ngực ho một cơn dài, hết cơn ho mới hỏi:
-Các đại nhân có tán thành mời Nguyễn Thiện Thuật về làm chủ tướng Bãi Sậy không?
Các tướng đồng thanh đáp:
-Chúng thuộc tướng đồng ý.
Đinh Gia Quế nói với Nguyễn Hữu Đức:
-Quân sư hãy thay ta viết một phong thư mời Bắc Kỳ Hiệp thống quân vụ Đại thần Nguyễn Thiện Thuật về làm chủ tướng Bãi Sậy.
-Thuộc hạ tuân lệnh.
Đông Triều, một sáng mùa đông, Hiệp thống quân vụ Đại thần Nguyễn Thiện Thuật đang ngồi trong bản doanh cùng các tướng bàn việc thống nhất các lực lượng chống Pháp ở Bắc Kỳ, chợt có tùy tướng vào báo:
-Dạ, bẩm chủ soái, có tướng Đốc Cọp, người của ngài Đinh Gia Quế ở Bãi Sậy đem thư đến.
-Cho mời vào.
-Dạ, tuân lệnh.
Một người cao lớn khỏe mạnh, đầu chít khăn nâu, quân phục màu nâu bước vào cúi đầu chắp tay nói:
-Kính chào Hiệp thống quân vụ đại thần, chào các tướng quân. Tại hạ là Đốc Cọp, vâng lệnh của chủ tướng Bãi Sậy Đinh Gia Quế muốn trao một phong thư cho ngài Hiệp thống quân vụ.
Các tướng và Nguyễn Thiện Thuật đứng dậy đáp lễ:
-Chào tướng quân.
Nguyễn Thiện Thuật nói:
-Mời tướng quân ngồi dùng nước.
Đốc Cọp trao thư, ngồi vào ghế và nói;
-Đa tạ Hiệp thống quân vụ đại thần, đa tạ các tướng quân.
Trong khi Đốc Cọp uống nước thì Nguyễn Thiện Thuật bóc thư ra đọc. Thư viết: “Tại hạ là Đinh Gia Quế kính thư Hiệp thống quân vụ đại thần, tại hạ đã chỉ huy nghĩa quân Bãi Sậy chống Pháp được 3 năm. Nay đã 60 tuổi, mệnh trời sắp hết, bệnh già vô phương cứu chữa, như ngọn đèn trước gió, tắt trong nay mai. Tại hạ mất đi nhưng không đành để cho Bãi Sậy tan rã khi chí phục thù cứu nước của các tướng sĩ đang dân cao. Tại hạ và các tướng nhất trí mời ngài về làm chủ tướng Bãi Sậy, dựng cao cờ nghĩa, thống nhất lực lượng Cần Vương Bắc Kỳ để chiến thắng quân xâm lược Pháp, cứu dân, cứu nước thì tôi dưới suối vàng mới yên tâm nhắm mắt. Khẩn thiết chờ được hồi âm. Kính thư-Đinh Gia Quế".
Nguyễn Thiện Thuật xem xong thư, lại đọc to một lần nữa cho các tướng nghe, sau đó hỏi:
-Ngài Đinh Gia Quế ốm nặng khó qua khỏi, ngài muốn mời ta về làm chủ tướng Bãi Sậy, không biết ý các tướng thế nào?
Nhà Nho Ngô Quang Huy nói:
-Ta đang có chủ trương thống nhất toàn bộ lực lượng Cần Vương Bắc Kỳ vào một đầu mối để có sức mạnh đánh Pháp. Nay chủ tướng nên đi Bãi Sậy một chuyến xem sao. Dù ngài Đinh Gia Quế không mệnh hệ gì thì ta cũng sẽ liên kết được với Bãi Sậy là điều rất nên làm để chống Pháp.
Các tướng đều nói:
-Chủ tướng nên đi Bãi Sậy một chuyến.
Nguyễn Thiện Thuật nói:
-Vậy ta cùng năm tay súng do Đốc Cọp dẫn đường, dùng sáu con ngựa khỏe, đêm nay xuất phát. Mọi việc ở bản doanh do quân sư Ngô Quang Huy phụ trách.
-Chúng thuộc tướng tuân lệnh.
Ăn cơm chiều xong, năm tay súng hộ vệ Nguyễn Thiện Thuật lên ngựa do Đốc Cọp dẫn đường phi nước đại trong đêm từ Đông Triều về Bãi Sậy. Khoảng 2 giờ sáng thì tới nơi, gặp quân canh, Đốc Cọp nói:
-Đây là ngài Hiệp thống quân vụ, ta đi đón từ Đông Triều về, mau cho nấu bảy suất cơm và thu xếp chỗ nghỉ ngơi.
-Dạ, tuân lệnh ngài Đề đốc.
Sớm hôm sau, cử nhân Nguyễn Hữu Đức và danh sĩ Nguyễn Đình Mai tiếp cơm sáng Nguyễn Thiện Thuật. Sau đó khoảng 9 giờ sáng khi được báo Đinh Gia Quế cho mời. Nguyễn Hữu Đức, Nguyễn Đình Mai dẫn Nguyễn Thiện Thuật vào phòng của Đinh Gia Quế. Đinh Gia Quế gầy gò nằm trên giường không dậy được, biết Nguyễn Thiện Thuật đến liền nói:
-Tại hạ không thể ngồi tiếp Hiệp thống quân vụ đại thần được, kính mời ngài xá lỗi.
Nguyễn Thiện Thuật cầm tay Đinh Gia Quế và nói:
-Đổng Nguyên nhung lâm bệnh, tại hạ tới thăm quá muộn, thất lễ, thất lễ, xin xá tội, xá tội.
Đinh Gia Quế nói:
-Bay đâu.
-Dạ.
-Lấy ghế cho quan Hiệp thống.
-Dạ.
Sau khi Nguyễn Thiện Thuật ngồi xuống ghế bên cạnh giường, Đinh Gia Quế nói:
-Trong thư tại hạ đã nói rồi, nay ta không thể gánh vác công việc Bãi Sậy được nữa, mong quan Hiệp thống quân vụ hãy đứng đầu nghĩa quân ở đây để tiếp tục cuộc kháng chiến chống Pháp.
Nguyễn Thiện Thuật nói:
-Đây là sứ mệnh quá lớn, nhưng để không phụ sự ủy thác, tín nhiệm của ngài Đổng nguyên nhung và các tướng Bãi Sậy, không phụ sự ủy thác của hoàng thượng Hàm Nghi, tại hạ xin tuân lệnh của ngài.
Đinh Gia Quế cầm bàn tay Nguyễn Thiện Thuật, bàn tay của ông lạnh giá. Ông nói yếu ớt:
-Đa tạ, đa tạ.
Tiếng nói của Đinh Gia Quế ngừng bặt, đầu nghẹo sang một bên, hai mắt mở to không chớp. Trái tim của người anh hùng Cần Vương Bãi Sậy đã ngừng đập sau khi đã ký thác được sự nghiệp cho Hiệp thống quân vụ, người đại diện cho hoàng thượng Hàm Nghi tại Bắc Kỳ, hưởng thọ 60 tuổi (1825-1885).
Nguyễn Hữu Đức bảo một người lính cận vệ:
-Đổng nguyên nhung đã từ trần, đi báo cho hai phu nhân Nguyễn Thị Hương, Nguyễn Thị Thảo, công tử Đinh Văn Vinh và hai tiểu thư Đinh Thị Duyên và Đinh Thị Hằng.
-Dạ, tuân lệnh quân sư.
Một lát sau, hai phu nhân, hai tiểu thư và công tử của Đinh Gia Quế đến. Nguyễn Hữu Đức giới thiệu với họ:
-Xin giới thiệu với hai phu nhân, hai tiểu thư và công tử, đây là ngài Hiệp thống quân vụ Nguyễn Thiện Thuật.
Hai phu nhân, hai tiểu thư và công tử cúi đầu chắp tay chào Nguyễn Thiện Thuật. Nguyễn Hữu Đức nói tiếp:
-Dạ, bẩm Hiệp thống, đây là hai phu nhân, hai tiểu thư và công tử của Đổng nguyên nhung.
Nguyên Thiện Thuật cúi đầu chắp tay:
-Tại hạ mới tới thăm Đổng nguyên nhung tối hôm qua, sáng nay mới gặp Đổng Nguyên nhung một canh giờ. Đáng tiếc ngài đã sớm ra đi. Tại hạ xin thay mặt toàn bộ tướng lĩnh, quân sĩ Cần Vương Bắc Kỳ, hoàng thượng Hàm Nghi, quan phụ chính Tôn Thất Thuyết chia buồn với gia đình, với hai phu nhân, hai tiểu thư và công tử.
Hai vị phu nhân, hai tiểu thư và công tử chắp tay cúi đầu:
-Xin đa tạ Hiệp thống quân vụ.
Nguyễn Thiện Thuật nói:
-Tại hạ xin ra ngoài để gia đình gặp Đổng Nguyên nhung lần cuối.
Nguyễn Thiện Thuật, Nguyễn Hữu Đức, Nguyễn Đình Mai và mọi người ra ngoài. Trong phòng của Đinh Gia Quế vọng ra tiếng khóc than thảm thiết của hai phu nhân, hai tiểu thư, công tử, người nhà và của các gia tướng!
Nguyễn Đình Mai nói:
-Xin Hiệp thống quân vụ với tư cách là chủ tướng mới của Bãi Sậy hãy đứng ra làm chủ tang lễ cho Đổng nguyên nhung.
Nguyễn Thiện Thuật nói:
-Xin đa tạ quân sư. Vậy thì ngày hôm nay chuẩn bị. Ngày mai cho tướng sĩ Bãi Sậy và các thủ lĩnh Cần Vương xa gần đến viếng, trưa quá ngọ, giờ lành đưa Đổng nguyên nhung về nơi an nghỉ. Ta sẽ thông báo cho các lực lượng Cần Vương Bắc Kỳ được biết để họ mặc niệm, chia buồn.
-Tuân lệnh chủ tướng.
* *
*
Nguyễn Thiện Thuật ở lại căn cứ Dương Trạch, phủ Khoái Châu lo liệu tang lễ cho Đinh Gia Quế khoảng sáu ngày. Sau khi xong việc, Nguyễn Thiện Thuật nói với Nguyễn Hữu Đức, Nguyễn Đình Mai và các tướng:
-Ta muốn trở lại căn cứ chính của Bãi Sậy ở làng Thọ Bình, tổng Bình Dân, huyện Đông Yên, phủ Khoái Châu làm Tổng hành dinh của toàn bộ phong trào Cần Vương Bắc Kỳ. Các tướng quân thấy thế nào?
Nguyễn Đình Mai nói:
-Như vậy là hợp lý, nơi đó xưa chính là Tổng hành dinh thời chủ tướng Đinh Gia Quế. Vì bị bất lợi trong cuộc chống càn năm 1885 mới chuyển về đây. Tuy nhiên, đại bộ phận nghĩa quân ta vẫn hoạt động khắp Bãi Sậy và các làng chung quanh.
Nguyễn Thiện Thuật nói:
-Vẫn cho một bộ phận ở lại căn cứ Dương Trạch do ngài Đề Tính chỉ huy, còn lại trở về căn cứ Thọ Bình ngay đêm nay. Cần phải đem theo lương thực, vũ khí.
-Tuân lệnh chủ tướng.
Canh khuya, nghĩa quân và các tướng lĩnh hành quân trở lại thành cũ giữa lòng Bãi Sậy. Đêm yên tĩnh. Một màn đêm bao phủ không gian và bao phủ rừng sậy mênh mông bát ngát. Gió làm cho rừng sậy dập dờn như những làn sóng biển đen ngòm, tạo nên những âm thanh xạc xào, huyền bí. Nghĩa quân len lỏi theo những đường nhất định, bí mật đi về căn cứ. Nếu không thuộc đường sẽ sa vào cạm bẫy do chính nghĩa quân đã đặt để ngăn chặn quân Pháp. Từng mảng lớn của rừng sậy bị giặc Pháp đốt cháy trong những trận càn còn trơ ống sậy gốc đen thui nham nhở giữa rừng sậy vàng úa mênh mông.
Sớm hôm sau, Hiệp thống quân vụ Nguyễn Thiện Thuật chủ tọa cuộc họp tại Bãi Sậy bàn về việc liên kết toàn bộ phong trào Cần Vương Bắc Kỳ, đẩy phong trào chống Pháp lên một cao trào mới. Nguyễn Thiện Thuật ngồi ghế chủ nhân trước một chiếc bàn gỗ đơn sơ. Các tướng lĩnh của Bãi Sậy ngồi hai hàng ghế, giữa cũng đặt những tấm gỗ dài làm bàn. Trên bàn đặt nhưng bộ ấm chén uống nước. Bên tả, gồm các tướng Nguyễn Thiện Kế (em Nguyễn Thiện Thuật), Đốc Cọp, Đốc Sung, Đề Ban, Đội Văn, Đề Tính, Bà Đốc Huệ, nhà Nho Ngô Quang Huy (Hàm Nghi phong là Tán Lý quân vụ Bắc Kỳ), nhà Nho Nguyễn Hữu Đức, danh sĩ Nguyễn Đình Mai, Nguyễn Thiện Dương, Đốc Chính, Đề Dần, Vũ Văn Đông. Bên hữu gồm các tướng Lãnh Điều, Lãnh Bộ, Lãnh Ngữ, Nguyễn Cao, Đốc Vinh, Đinh Văn Vinh (con trai Đinh Gia Quế). Trên tường treo lá cờ đỏ từ thời Đinh Gia Quế, trên cờ viết tám chữ: “Nam đạo Cần Vương, bình Tây phạt tội”. Lá cờ đỏ ấy cũng tung bay theo gió trên cột cờ trước cửa đại bản doanh.
Sau khi các thủ lĩnh dùng một lượt trà, Nguyễn Thiện Thuật nói:
-Thưa các quý vị, hôm nay ta họp tại đây để làm tròn và thực hiện chủ trương liên kết, phối hợp tác chiến giữa các lực lượng Cần Vương ở đồng bằng Bắc Kỳ. Các lực lượng đặt dưới sự chỉ huy chung là Bãi Sậy. Bãi Sậy sẽ là trung tâm của phong trào kháng Pháp. Các lực lượng kháng Pháp ở các địa phương phải phối hợp hành động với trung tâm Bãi Sậy, thực hiện ý chỉ của hoàng thượng Hàm Nghi và quan Phụ chính đại thần Tôn Thất Thuyết. Có sự chỉ đạo chung, có thống nhất hành động mới tạo sức mạnh đánh thắng Pháp và tay sai. Cách đây sáu ngày, ta đã gửi thư đi các nơi đề nghị hợp nhất, thống nhất hành động. Ta đã nhận được hồi âm của các thủ lĩnh nghĩa quân Thái Bình, Nam Định Tạ Hiện, thủ lĩnh nghĩa quân Trại Sơn, Hai Sông Đốc Tít (1886 được hoàng thượng Hàm Nghi phong là Đề đốc quân vụ Hải Dương) ở Đông Triều, thủ lĩnh nghĩa quân Cát Bà Tiến Đức, thủ lĩnh Lưu Kỳ của nghĩa quân Lục Nam, của Đốc Kiệt, chỉ huy nghĩa quân Bắc Ninh, Đốc Khoát, Đốc Giang chỉ huy nghĩa quân Vĩnh Yên. Tất cả các thủ lĩnh đều đồng ý thống nhất chỉ huy và hành động. Đó là những tin mừng. Thực ra, đáp ứng nhu cầu thực tế chiến đấu đòi hỏi, sự thống nhất, liên kết này đã được ngài Tán lý quân vụ Ngô Quang Hưng cùng Tướng Nguyễn Cao, Tạ Hiện xây dựng lực lượng ba tỉnh Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh thành Đại nghĩa đoàn, còn gọi là Tam tỉnh nghĩa quân. Nay trên cơ sở đó chúng ta phát triển thêm sự gia nhập của nghĩa quân Đông Triều của Đốc Tít (Nguyễn Đức Hiệu), nghĩa quân Cát Bà của Tiến Đức, liên kết với nghĩa quân Vĩnh Yên, Phú Thọ, Thái Nguyên của Đốc Khoát, Đốc Giang.
Dừng lại uống một ly trà, NguyễnThiện Thuật nói tiếp:
-Nhiệm vụ của các thủ lĩnh địa phương là khi Bãi Sậy bị giặc càn quét thì phải đánh sau lưng Pháp để địch trước mặt sau lưng đều bị đánh. Ngược lại khi một địa phương nào bị Pháp tấn công thì Bãi Sậy và các địa phương khác phải tấn công hỗ trợ đánh sau lưng Pháp.
-Công việc thứ hai là tại căn cứ Bãi Sậy nay ta giao trách nhiệm cho mỗi tướng chỉ huy nghĩa quân và bảo vệ một vùng. Tuy nhiên vẫn phải chi viện phối hợp với các thủ lĩnh ở các địa phương khác khi một địa phương bị giặc càn quét, hiệp đồng chiến đấu để diệt địch. Để thực hiện kế sách trên các tướng lĩnh nghe lệnh:
-Tán lý quân vụ Ngô Quang Huy.
-Có thuộc tướng.
-Hoàng thượng Hàm Nghi đã phong ngài làm Tán lý quân vụ Hải Dương, được coi là một trong số các lãnh tụ cao cấp của phong trào Cần Vương, được coi là thủ lĩnh thứ hai của nghĩa quân Bãi Sậy. Nay ta giao cho ngài phụ trách mặt trận Hải Dương và nam Bắc Ninh.
Ngô Quang Huy chắp tay đáp:
-Thuộc tướng tuân lệnh.
-Tướng quân Đốc Chính.
-Có thuộc tướng.
-Ta cử ngài là chỉ huy trưởng, tướng quân Đề Dần là phó phụ trách mặt trận huyện Mỹ Hào và toàn bộ phía đông của tỉnh Hưng Yên và phía tây tỉnh Hải Dương.
Đốc Chính và Đề Dần đáp:
-Chúng thuộc tướng tuân lệnh.
-Tướng Đốc Sung và Đề Ban nhận lệnh:
-Có thuộc tướng.
-Nay ta cử Đốc Sung là chỉ huy trưởng, ngài Đề Ban là chỉ huy phó chỉ huy mặt trận Văn Giang, Văn Lâm và bắc Hưng Yên.
-Chúng thuộc tướng tuân lệnh.
-Tướng Đề Tính, Đốc Cọp nghe lệnh:
-Có thuộc tướng.
-Ngài Đốc Cọp làm chỉ huy trưởng, Đề Tính làm phó, phụ trách mặt trận Khoái Châu và miền đông Hà Nội.
-Chúng thuộc tướng tuân lệnh.
-Ngài Đội Văn và tướng Vũ Văn Đồng nghe lệnh.
-Có thuộc tướng.
-Tướng quân Đội Văn làm trưởng, ngài Vũ Văn Đồng là phó phụ trách mặt trận Mỹ Hào và toàn bộ phía nam tỉnh Hưng Yên như các huyện Ân Thi, Kim Động, Phủ Cừ.
-Chúng thuộc tướng tuân lệnh.
-Các tướng chỉ huy từng vùng sau đây về các địa phương rà soát lại công sự, trận địa phòng thủ để gia cố, sửa chữa hoặc xây dựng thêm. Ra sức tích lũy vũ khí, lương thực, vận động nhân dân để họ đóng góp lương thực, gia nhập nghĩa quân. Trong tác chiến lấy đánh du kích là chính, tấn công tiêu diệt đồn bốt địch để phá thế bao vây của chúng, phải hỗ trợ giữa các địa phương để tác chiến diệt giặc.
Các tướng đồng thanh đáp:
-Chúng thuộc tướng tuân lệnh.
Nguyễn Thiện Thuật nói tiếp:
-Các tướng lĩnh sau đây nghe lệnh:
-Nguyễn Thiện Kế.
-Có thuộc tướng.
-Tướng Mậu Duyệt.
-Có thuộc tướng.
-Tướng Lãnh Điều.
-Có thuộc tướng.
-Tướng Lãnh Lô.
-Có thuộc tướng.
-Tướng Lãnh Ngữ.
-Có thuộc tướng.
-Tướng Nguyễn Cao.
-Có thuộc tướng.
-Tướng Đốc Vinh.
- Có thuộc tướng.
-Quân sư Nguyễn Hữu Đức.
-Có thuộc tướng.
-Quân sư Nguyễn Đình Mai.
-Có thuộc tướng.
-Tướng quân Ngô Quang Chước.
-Có thuộc tướng.
-Tướng quân Đinh Văn Vinh.
-Có thuộc tướng.
-Nữ tướng Đốc Huệ.
-Có thuộc tướng.
-Tướng quân Quản Kỳ.
-Có thuộc tướng.
Tất cả các tướng này thuộc Tổng hành dinh Bãi Sậy, chỉ huy nghĩa quân tại đây, sẵn sàng nghe ta điều động bảo vệ căn cứ hoặc chi viện cho các mặt trận Đông-Tây-Nam- Bắc ở các địa phương..
-Chúng thuộc tướng tuân lệnh của Hiệp thống quân vụ đại thần.
Xế chiều, cuộc hội nghị kết thúc bằng một bữa cơm rượu tại Tổng hành dinh chiêu đãi các thủ lĩnh. Sau đó, các tướng đã nhận nhiệm vụ rời bản doanh đi về các địa phương đã được phân công. Trời mùa đông xám ngắt. Gió mùa đông xô từng đợt vào rừng sậy. Rừng sậy mênh mông ngã từng đợt dập dờn như sóng đại dương gào thét đòi trả hận thù của đất nước đã mất vào tay ngoại bang.
* *
*
Mùa đông năm 1885, trong Tổng hành dinh của quân Pháp tại Hà Nội, Thống tướng Rút xen O le Cuốc xi vừa cạn xong cốc rượu săm pa nhơ thì có sĩ quan tùy tùng vào báo:
-Dạ, bẩm Thống tướng, quân Bãi Sậy đã chiếm thành Hải Dương và lực lượng đang lan tỏa khắp Hải Dương và Hưng Yên ạ.
Thống tướng O le Cuốc xi đập bàn:
-Ra lệnh cho quân ta tấn công vào Bãi Sậy.
-Dạ, tuân lệnh Thống tướng.
Nhận lệnh của O le Cuốc xi, thiếu tướng Nê gờ ri ê, trung tá Đôn ni ê cùng Hoàng Cao Khải với 2.000 quân mở cuộc càn quét lớn vào Bãi Sậy. Quân Pháp từ Hà Nội vượt sông Hồng sang Hưng Yên. Trước mắt thiếu tướng Nê gờ ri ê, trung tá Đôn ni ê, Hoàng Cao Khải và quân Pháp ngút ngàn mênh mông lau sậy. Gió mùa đông bắc lạnh lẽo thổi thốc tháo từng đợt làm cho rừng sậy ngã nghiêng từng đợt như sóng đại dương. Từng đàn chim cò, vạc vỗ cánh từ rừng sậy bay lên, bay về phía chân trời xa xăm. Nê gờ ri ê, Đôn ni ê, Hoàng Cao Khải đều biết trong rừng sậy rậm rạp mênh mông là căn cứ của nghĩa quân, chứa nhiều cạm bấy, hầm hố, hầm chông, quân Pháp vào đó là vào cõi chết. Nê gờ ri ê nói:
-Bãi Sậy bao trùm bốn huyện Hưng Yên, ta làm sao đủ quân mà tấn công hết. Trước mắt chúng ta tập trung tấn công Khoái Châu, nơi có đại bản doanh của Nguyễn Thiện Thuật.
Hoàng Cao Khải nói:
-Thiếu tướng nói chí phải, ta nên tấn công Khoái Châu.
Nê gờ ri ê nói:
-1.000 quân Việt thuộc đường hơn cho đi trước, quân Pháp theo sau hỗ trợ.
Đôn ni ê nói:
-Tuân lệnh thiếu tướng.
1.000 quân khố xanh đi trước, 1.000 quân Pháp đi sau, Nê gờ ri ê, Đôn ni ê, Hoàng Cao Khải đi sau cùng. Càng tiến vào sâu, bùn càng lầy lội, lau sậy um tùm che lấp mắt. Ngửa mặt lên là trời, nhìn xuống là sậy che kín mắt. Thốt nhiên, từ bốn phương tám hướng của rừng sậy vang lên những tiếng súng nổ chát chúa, đạn bay vèo vèo vào quân khố xanh và quân Pháp. Hàng chục tên gục xuống, máu tuôn xối xả. Quân Pháp chĩa súng bắn vu vơ vào rừng sậy. Chim chóc bay loạn xạ theo tiếng súng nổ đạn bay. Hoàng Cao Khải, Nê gờ ri ê, Đôn ni ê không biết quân Bãi Sậy có chết ai không nhưng trước mắt chúng, lính khố xanh và lính Pháp vẫn thi nhau gục xuống. Hoàng Cao Khải nói:
-Hơn trăm lính của ta đã chết rồi, nếu còn vào sâu chắc 2.000 lính chết hết, kể cả chúng ta.
Nê gờ ri ê nói:
-Sai lầm của ta là không có ai dẫn đường. Bãi Sậy quả nhiên là huyền bí. Ta ra lệnh rút lui.
Giữa lúc đó, tiếng trống ngũ liên, tiếng tù và vang lên, vọng khắp không gian ghê rợn. Quân giặc hoảng hốt chạy như bị ma đuổi, hồn xiêu phách lạc. Nê gờ ri ê, Đôn ni ê, Hoàng Cao Khải và 1.500 quân còn lại chạy một mạch về Hà Nội. Đó là tháng 10 năm 1885.
Thất bại trong cuộc càn quét vào Bãi Sậy, Thống tướng O le Cuốc xi họp với thiếu thướng Nê gờ ri ê, trung tá Đôn ni ê, Hoàng Cao Khải là tư lệnh quân khố đỏ. O le Cuốc xi nói:
-Nay muốn phá được Bãi Sậy, trước tiên phải dùng chiến thuật tiêu diệt tay chân của Bãi Sậy, tức là thủ lĩnh các địa Phương, làm cho Nguyễn Thiện Thuật cô lập. Trước mắt phải mở một chiến dịch tiêu diệt căn cứ Trại Sơn của Đốc Tít, một trong những đội quân và căn cứ mạnh ở Đông Triều.
Hoàng Cao Khải và Đôn ni ê nói:
-Thống tướng nói phải lắm.
Nê gờ ri ê nói:
-Nhưng đánh vào căn cứ Trại Sơn của Đốc Tít không phải là dễ dàng. Các vị hãy nhìn đây.
Hoàng Cao Khải, O le Cuốc xi, Đôn ni ê nhìn theo ngón tay chỉ của Nê gờ ri ê trên tấm bản đồ đông- bắc Đại Nam trên tường:
-Căn cứ này do Đốc Tít cho xây dựng năm 1882 tại làng Trại Sơn, dưới chân núi đá vôi hiểm trở, bốn bề có sông nước bao quanh. Trại Sơn án ngữ một vị trí giao thông quan trọng, là tam giác nối Hải Phòng, phủ Kinh Sơn và Hải Dương. Phía bắc Trại Sơn có sông Kinh Thầy, phía nam, phía tây có sông Hán và sông Con. Phía bắc Trại Sơn còn có căn cứ thứ hai của Đốc Tít là căn cứ Hai Sông. Địa thế hiểm trở nên ngày xưa hai căn cứ này là sào huyệt của bọn lục lam thảo khấu. Đốc Tít và Nguyễn Thiện Thuật đã diệt trừ bọn thảo khấu, bảo vệ bách tính nên dân vùng này rất ủng hộ Đốc Tít và Nguyễn Thiện Thuật.
Trung tá Đôn ni ê hỏi:
-Đốc Tít là người thế nào, thưa Thống tướng? Nghe có vẻ như một anh hùng hảo hán vậy?
Nê gờ ri ê chỉ vào Hoàng Cao Khải:
-Ngài kinh lược sứ Hoàng Cao Khải đây nắm chắc về Đốc Tít. Ngài nói về Đốc Tít cho trung tá nghe đi.
Hoàng Cao Khải vuốt bộ râu đen, mở cái miệng nhọn ra nói:
-Đốc Tít tên thật là Nguyễn Đức Hiệu, dòng dõi nhiều đời của Mạc Đăng Dung, người cướp ngôi nhà Hậu Lê năm 1527, lập ra nhà Mạc. Năm 1592 nhà Mạc bị chúa Trịnh Tùng phò tá nhà Lê Trung Hưng (1533-1789) tiêu diệt. Con cháu nhà Mạc, để tránh bị nhà Trịnh truy sát đã đổi thành rất nhiều họ, trong đó có họ Nguyễn. Cho nên Đốc Tiết còn có tên là Mạc Đăng Tiết, được vua Hàm Nghi phong là Đề đốc quân vụ tỉnh Hải Dương. Người Pháp đã phiên âm Tiết thành Tít nên gọi là Đốc Tít. Đốc Tít sinh năm 1853 ở An Lưu Thượng, huyện Hiệp Sơn, phủ Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. Năm 1882, Đốc Tít chống lại chính quyền bảo hộ Pháp, lập căn cứ ở Hai Sông (sông Kinh Thầy và sông Bạch Đằng). Năm 1885, Đốc Tít đặt ông ta và nghĩa quân Trại Sơn, Hai Sông (Đông Triều) dưới sự lãnh đạo chung của Nguyễn Thiện Thuật ở Bãi Sậy trong một cố gắng thống nhất quản lý và hành động của quân Cần Vương Bắc Kỳ theo chỉ dụ của vua Hàm Nghi. Ngài Thống tướng chọn mũi tấn công vào Đốc Tít là chính xác. Trại Sơn, Hai Sông là chỗ dựa chủ yếu của Bãi Sậy. Mất hai căn cứ này thì Bãi Sậy sẽ nguy khốn.
Nê gờ ri ê nói:
-Theo tin tình báo báo về thì quân Đốc Tít hiện có khoảng 1.000 tay súng, 40 tướng lĩnh, 20 ở Trại Sơn, 20 ở Hai Sông. Đốc Tít còn liên kết với nghĩa quân Tiến Đức ở Cát Bà. Căn cứ hiểm địa, lực lượng hùng mạnh nên Đốc Tít đã làm mưa làm gió suốt miền đông-bắc. Đốc Tít từng cho quân đánh các đồn quân ta ở Uông Bí, Quảng Ninh, đồn Tương Sơn, An Hải, Hải Phòng, đánh huyện lỵ Gia Lộc, Tứ Kỳ, Kinh Môn, Hải Dương, đánh tàu chiến trên sông Đá Bạc (Hải Phòng). Quân Đốc Tít đi đến đâu cũng dương cao lá cờ đỏ viết: "Linh Sơn động chủ, xướng nghĩa bình Tây”.
Ni gờ ri ê dừng lại, tu hết cốc rượu săm pa nhơ, đặt cốc xuống, mắt lóe lên những tia hằn học, nói tiếp:
-Cho nên muốn đánh được Trại Sơn, Hai Sông thì không chỉ có bộ binh, còn phải huy động cả đại bác và công binh.
O le Cuốc xi gọi:
-Lính đâu.
-Dạ, thưa Thống tướng.
-Cho gọi đại tá Phan con và đại tá Phê rơ tới đây.
-Dạ, tuân lệnh.
Một lát sau đại tá Phan con và đại tá Phê rơ tới:
-Xin chào Thống tướng, chào các ngài.
Nê gờ ri ê, Đôn ni ê, Hoàng Cao Khải và O le Cuốc xi đáp:
-Chào hai đại tá.
O le Cuốc xi nói với Phan con:
-Chúng ta sẽ mở chiến dịch đánh Đốc Tít ở Đông Triều. Ngài Phan con chỉ huy pháo binh hỗ trợ trung tá Đôn ni ê và ngài Kinh lược sứ Hoàng Cao Khải chỉ huy bộ binh tiến đánh Trại Sơn.
-Tuân lệnh Thống tướng.
-Đại tá Phe rơ.
-Có thuộc cấp:
-Đại tá chỉ huy đại đội công binh, có nhiệm vụ đi trước, phá chiến lũy, hỗ trợ cho bộ binh và pháo binh quân ta tấn công Trại Sơn.
-Thuộc cấp tuân lệnh.
O le Cuốc xi đứng dậy nâng cốc:
-Nào mời các ngài cạn ly, chúc cho cuộc tấn công Trại Sơn thắng lợi.
-Đa tạ Thống tướng.
Các ly chạm nhau kêu leng keng, cả bọn ngửa cổ tu rượu, rượu màu nâu mà đỏ như máu người bản xứ tuôn vào cổ họng bọn cướp nước và tên đại Việt gian bán nước.
Căn cứ Trại Sơn ở vùng đông-bắc chìm trong mùa đông giá rét. Nước các con sông Kinh Thầy, sông Hán, sông Con là những chi nhánh của sông Bạch Đằng vây quanh hang động núi non trùng điệp. Rừng núi chìm trong màu xanh và sương mù huyền bí. Những rừng sậy trên các sườn núi các đảo nhấp nhô lung lay theo gió, tạo ra bản nhạc vi vu của miền đông-bắc.
Trong hành dinh của quân Trại Sơn ở chùa Kim Liên, Đốc Tít đang ngồi cùng các tướng. Đốc Tít ngồi nghế chủ, trước mặt là chiếc bàn gỗ màu nâu, phía trước là các tướng ngồi hai hàng ghế dọc, giữa là những chiếc bàn dài. Trên bàn đặt các bộ ấm chén uống nước. Đốc Tít người cao lớn uy nghi. Ông vừa uống xong cốc nước thì thám mã vào báo:
-Dạ, bẩm chủ tướng, một tiểu đoàn quân Pháp và lính khố đỏ, có cả công binh, pháo binh do Tướng Nê gờ ri ê chỉ huy cùng quan ba Phan Con, Phê rơ, Đôn ni ê, Hoàng Cao Khải đang tấn công Trại Sơn.
Đốc Tít ra lệnh:
-Ta sẽ chỉ huy chung ở chùa Kim Liên. Tướng Lê Phụng Hiểu .
-Có thuộc tướng.
-Tướng quân ra Hang Thung, lợi dụng địa thế cao chỉ huy các tay súng tiêu diệt giặc.
-Thuộc tướng tuân lệnh.
-Tướng quân Trần Đức Phong.
-Có thuộc tướng.
-Tướng quân lên núi Hưng, từ trên cao nã đạn vào quân Pháp, nhớ chờ chúng đến gần hãy bắn, không được vung phí đạn vô hiệu quả.
-Thuộc tướng tuân lệnh.
Tướng quân Nguyễn Hữu Lan và Tướng quân Nguyễn Đức Thiệu.
-Có thuộc tướng.
-Hai tướng quân đem 500 tay súng đi vòng tấn công quân Pháp từ phía sau.
-Thuộc tướng tuân lệnh.
Lại nói quân Pháp đến bên ngoài Trại Sơn bị sông bao bọc mà không có tàu bè tiến vào. Nê gờ ri ê ra lệnh:
-Pháo binh dàn bên bờ sông mà nã đại bác vào Trại Sơn.
-Tuân lệnh.
-Trung tá Đôn ni ê.
-Có thuộc cấp.
-Trung tá cùng Khâm sai Hoàng Cao Khải dàn bộ binh theo con đường nhỏ duy nhất ở hướng tây-bắc đột kích vào Trại Sơn.
-Thuộc cấp tuân lệnh.
-Đai tá Phê rô
-Có thuộc cấp.
-Trung tá dẫn công binh phá chướng ngại vật cho bộ binh tiến vào.
-Thuộc cấp tuân lệnh.
Dàn thế trận xong Nê gờ ri ê ra lệnh khai hỏa. Những khẩu đại bác trên bờ các sông Kinh Thầy, sông Con, sông Hán gầm thét, nhã đạn và khói lửa vào Trại Sơn. Khi đạn rơi xuống lại nổ, tạo nên những đợt tàn phá giết chóc. Sau khi pháo binh ngừng bắn phá, bộ binh Pháp và lính khố đỏ xông lên. Tiếng hô a lát xô xen lẫn tiếng xung phong cùng với tiếng súng hỗn loạn. Trại Sơn im lặng chờ quân Pháp tới gần, hàng loạt đạn như mưa từ Hang Thung, từ núi Hưng xả xuống. Vô số quân Pháp và quân khố đỏ gục xuống bên sườn núi. Nê gờ ri ê ra lệnh;
-Ngừng tấn công.
-Pháo binh tiếp tục bắn.
Một giờ sau ngừng tiếng pháo, Nê gờ ri ê lại ra lệnh:
-Bộ binh tiếp tục tấn công.
Bộ binh Pháp và lính Khố đỏ lại lổn nhổn bò lên. Quân Đốc Tít lại nã đạn xuống. Bộ binh Pháp và lính khố đỏ thương vong nặng nề. Cứ giằng co như vậy đến hai tuần, bộ binh chết hàng trăm. Nê gờ ri ê tức giận nói:
-Không có tàu chiến không thể đổ bộ vào được Trại Sơn. Rút lui.
Vừa rút, Nê gờ ri ê nghiến răng trỏ lên Trại Sơn nói:
-Đốc Tít, chờ đấy, lần sau ta đem tàu chiến đến, Trại Sơn phải chết.
Sau trận này, uy danh Đốc Tít lừng lẫy khắp miền đông-bắc và đồng bằng Bãi Sậy. Đó là tháng 1 năm 1886. Sau trận này quân Đốc Tít với 1.000 tay súng tấn công đồn Đông Triều ngày 10 tháng 7 năm 1886. Ngày 19 tháng 9 năm 1886, nghĩa quân đánh đồn Uông Bí thu được nhiều lương thực, vũ khí.
Tại tổng hành dinh căn cứ Bãi Sậy, Nguyễn Thiện Thuật liên tục nhân được những tin tức thắng lợi của nghĩa quân. Quân sư Nguyễn Hữu Đức báo;
-Dạ bẩm Hiệp thống quân vụ, quân ta ở Trại Sơn Đông Triều do Đốc Tít chỉ huy đã đánh bại cuộc tấn công của Pháp do Nê gờ ri ê và Hoàng Cao Khải chỉ huy, sau đó nghĩa quân đã tấn công đồn Đông Triều, đồn Uông Bí thắng lợi.
Quân sư Ngô Quang Huy vào báo:
-Bẩm Hiệp thống quân vụ, tháng 9 năm 1886, quân ta còn tấn công đồn Bần Yên Phú, đã mở rộng hoạt động đánh Pháp lên gần Hà Nội và Bắc Ninh. Tháng 10 năm 1886, quân ta đánh đồn Quỳnh Côi ở hữu ngạn sông Luộc, thu được nhiều súng đạn. Tháng 12 năm 1886, quân ta đã chặn đánh binh đoàn Ba di nê ở vùng Kẻ Sặt tại Lạc Đạo Hải Dương. Chúng thua trận, tức giận quay ra đốt phá rất nhiều xã của vùng này.
Nguyễn Thiện Thuật tức giận nói:
-Bọn người này thật tàn bạo dã man, cần phải đánh mạnh để trả thù cho bách tính.
Bấy giờ là mùa đông năm 1888, Thống sứ Bắc Kỳ Sác lơ Lui Oa rơ nét đang ngồi trong dinh theo dõi chiến sự của quân Pháp và quân Cần Vương Bãi Sậy. Tin thất bại của quân Pháp dồn dập được báo về. Thống sứ vừa cạn cốc rượu vang thì có sĩ quan tùy tùng vào báo:
-Dạ, bẩm Thống sứ, Thống tướng O le Cuốc xi ra lệnh tấn công căn cứ Trại Sơn của Đốc Tít, đã huy động bộ binh, pháo binh, công binh nhưng bị thất bại và bị thiệt hại nặng.
Thống sứ Bắc Kỳ Sác lơ Oa rơ nét đập bàn, chiếc cốc rung lên:
-Thống tướng O le Cuốc xi thật là đồ ăn hại. Cho gọi tướng Lô bai rô dơ tới đây.
-Dạ, tuân lệnh Thống sứ.
Một lát sau Lô bai rô dơ tới:
-Thuộc cấp chào Thống sứ.
-Mời thiếu tướng nghe lệnh: Nay bổ nhiệm thiếu tướng làm tư lệnh trấn áp phong trào Cần Vương Bãi Sậy thay cho thống tướng O le Cuốc xi không hoàn thành nhiệm vụ.
-Thuộc cấp tuân lệnh.
Thống sứ Bắc Kỳ rót thêm một cốc rượu và nói:
-Mời tướng quân nâng cốc. Chúc tướng quân hoàn thành sứ mệnh.
-Đa tạ Thống sứ.
Hai tên chạm cốc và ngửa cổ cạn ly.
Sau khi nhậm chức, Lô bai rô dơ ra lệnh:
-Đại tá công binh Phơ rét.
-Có thuộc cấp.
-Đại tá cho xây dựng nhiều đồn bốt nhỏ để bao vây Bãi Sậy, tách sự quan hệ của dân chúng với nghĩa quân của Nguyễn Thiện Thuật.
-Thuộc cấp tuân lệnh.
-Trung tá Đôn ni ê.
-Có thuộc cấp.
-Lúa đã chín, trung tá cho quân Pháp cùng quân khố đỏ của Hoàng Cao Khải đi gặt hết lúa của dân Hải Dương và Hưng Yên để họ không thể nộp lương thực cho nghĩa quân.
-Thuộc tướng tuân lệnh.
Ngày 12 tháng 11 năm 1888, Đôn ni ê, giám binh Nây, chỉ huy đồn Mỹ Hào, bang tá Nguyễn Hữu Hào cùng Hoàng Cao Khải dẫn lính về gặt lúa ở Lưu Trung, tổng Lưu Trung Xá. Quân Pháp và lính khố đỏ đang gặt lúa thì ở cánh đồng bên cạnh có 800 phu gặt lúa, tay liềm, tay hái cũng tràn xuống gặt. Lát sau quân Pháp mãi làm thì đoàn phu gặt đã tiến lại gần, bao vây và rất nhanh rút súng bắn xối xả vào quân pháp và lính khố đỏ. Thì ra đó là nghĩa quân Bãi Sậy do Nguyễn Thiện Kế, Nguyễn Văn Sung, Vũ Văn Đồng chỉ huy, theo lệnh của Nguyễn Thiện Thuật đến diệt Pháp để giữ lúa cho dân và cũng là cho nghĩa quân. Súng nổ vang trời, khói bốc mù mịt. Nhiều đàn chim vội dáo dác bay lên trời. Bị đánh bất ngờ, giám binh Nây chết tại trận cùng 30 tên Pháp và khố đỏ. Bang tá Nguyễn Hữu Hào, Hoàng Cao Khải, Đôn ni ê thoát thân chạy về Kẻ Sặt, sau đó chạy về Hải Dương.
Ngày 9 tháng 2 năm 1888, trong một cuộc đụng độ giữa quân Bãi Sậy do Nguyễn Thiện Dương chỉ huy với quân Pháp do viên đội Phi li pê chỉ huy. Súng nổ vang trời, khói lửa mù mịt. Thốt nhiên, Nguyễn Thiện Dương kêu lên một tiếng và gục xuống. Nguyễn Thiện Kế chạy lại đỡ em thì Nguyễn Thiện Dương đã hy sinh. Đó là một cái tang đau thương của gia đình Nguyễn Thiện Thuật, của toàn quân Bãi Sậy. Nguyễn Thiện Thuật họp các tướng và hỏi:
-Tên Phi li pe chỉ huy đồn nào?
Nguyễn Thiện Kế thưa:
-Dạ, hắn ở đồn Bản Yên, xã Đòn Ghềnh ạ.
Nguyễn Thiện Thuật nói:
-Đề Tính, Đội Văn nghe lệnh.
-Dạ, có thuộc tướng.
-Đêm nay hai tướng quân vây đồn Bản Yên, giết chết tên Phi li pe để ngày mai tế vong linh trong lễ tang của Nguyễn Thiện Dương.
-Thuộc tướng tuân lệnh.
Đêm đó, năm tên lính đồn Bản Yên đi tuần quanh đồn, bỗng nhiên từ trong bóng đêm bị quân mai phục khống chế dí dao vào cổ đâm chết không kịp kêu. Năm người lính Bãi Sậy thay quân phục đi vào cổng đồn. Lính gác hỏi:
-Ai?
-Mày mù à, chúng tao là lính tuần tiễu, bây giờ trở về. Mở cổng.
Lính gác mở cổng đồn, lập tức bị đâm chết. Quân của Đội Tính, Đội Văn tràn vào đồn. Đội Văn nắm cổ áo một tên lính dí dao vào cổ hỏi:
-Đồn trưởng Phi li pe ở đâu? Nói tao tha mạng.
Tên lính sợ hãi dẫn đường. Đến cửa phòng, Đội Văn đạp cửa xông vào. Phi li pe vừa giật mình tỉnh giấc, Đội Văn bấm cò, ngực Phi li pe hứng trọn một băng đạn, máu tuôn ra đầm đìa. Toàn bộ lính trong đồn 21 tên bị tiêu diệt. Đội Văn cắt đầu Phi li pe về đặt lên bàn thờ Nguyễn Thiện Dương trong ngày tang lễ.
Năm 1887, Nguyễn Thiện Thuật trong hành dinh nhận được tin báo:
-Dạ, bẩm Hiệp thống quân vụ, thủ lĩnh nghĩa quân Thái Bình và Nam Định Tạ Hiện bị giặc bắt và bị xử chém ngày 2 tháng 2 năm 1887 rồi ạ.
Lại có tin báo;
-Dạ, bẩm Hiệp thống quân vụ, nghĩa quân Thái Bình đã chặn đánh và tiêu diệt được tên quan hai Na ni en và đội quân của hắn ở Bình Bắc, trả thù cho Đô thống Tạ Hiện ạ.
Lại có tin báo:
-Dạ, bẩm Hiệp thống quân vụ, thủ lĩnh Nguyễn Cao bị giặc bắt và bị xử chém ở Vườn Dừa Hà Nội ngày 14 tháng 4 năm 1887 ạ.
Nguyễn Thiện Thuật nói:
-Quân sư Ngô Quang Huy.
-Dạ, có thuộc tướng.
-Quân sư hãy viết bài văn tế Nguyễn Cao cùng những thủ lĩnh như Tạ Hiện và những nghĩa quân đã hy sinh để nâng cao lòng căm thù giặc của quân ta, kiên quyết chiến đấu để trả thù cho đồng đội.
-Thuộc tướng tuân lệnh.
Tháng 12 năm 1888, tin tức chiến sự liên tiếp bay về phủ Thống sứ Bắc Kỳ. Tháng 12, Hà Nội chìm trong gió rét. Thống sứ Bắc Kỳ Sác lơ Oa rơ nét uống xong cốc rượu và gọi sĩ quan tùy tùng vào bảo:
-Hãy đem cho ta bản Tổng kết chiến sự ở Bắc Kỳ năm 1888.
-Thuộc cấp tuân lệnh.
Thống sứ Bắc Kỳ giở tập tài liệu ra xem. Tài liệu viết:
-“ Đêm 1 rạng ngày 2 tháng 2 năm 1888, 200 quân Bãi Sậy đã giao chiến với quân Pháp ở chợ Tông Long, tỉnh Hải Dương.
Đêm 26 tháng 3 năm 1888, quân Bãi Sậy đã tiêu diệt đồn Bình Phú ở Hưng Yên.
Đêm 26 rạng ngày 27 tháng 4 năm 1888, nghĩa quân Bắc Ninh do Đốc Kiệt chỉ huy đã tập kích quân Pháp ở Đa Phúc. Tại Vĩnh Phúc lại nổi lên 500 tay súng hoạt động mạnh ở sông Cà Lồ.
Từ 25 tháng 6 năm 1888 đến ngày 16 tháng 7 năm 1888, 200 nghĩa quân Bãi Sậy đã giao chiến với quân Pháp ở gần đồn Hà Châu, Hưng Yên. Giữa Hà Nội và Bắc Ninh rất nhiều đội du kích có từ 30 đến 50 tay súng hoạt động, đánh Pháp ngay ở bến đò sông Đuống.
Nghĩa quân của Đội Văn, Bãi Sậy đã tấn công quân Pháp giáp ranh Bắc Ninh và Hà Nội, cắt đứt đường giao thông Bắc Ninh-Hải Dương, tiêu diệt, tất cả những toán quân do thám của Pháp.
Ngày 23 tháng 7 năm 1888, 500 tay súng đã tiêu diệt toàn bộ đội quân của quan hai Sân đi ê khi họ từ Bắc Ninh đến Hà Hội.
Ngày 11 tháng 9 năm 1888, Đốc Tít tấn công đồn Uông Bí.
Cuối tháng 9 năm 1888, Nghĩa quân Bắc Giang đánh đồn Lâm, An Châu, Bình Hội.
Ngày 10 tháng 10 năm 1888, nghĩa quân đã đánh đồn Lương Tài, cách Hải Dương 6 km về phía tây.
Ngày 11 tháng 11 năm 1888, 300 tay súng nghĩa quân đã tấn công đồn Dương Hòa, Hưng Yên do Nây làm đồn trưởng.
Ngày 12 tháng 11 năm 1888, quân Bãi Sậy do Ngô Quang Huy chỉ huy đánh quân Pháp gặt lúa của dân ở Liêu Trung. Đôn trưởng Nây tử trận. Hoàng Cao Khải phải chạy vào chùa Liêu Trung, giả làm nhà sư mới chạy thoát.
Đêm 27 rạng 28 tháng 11 năm 1888, nghĩa quân Đội Văn tấn công quân Pháp ở bến đò Đuống, nghĩa quân Hải Phòng đánh chiếm đồn núi Voi.
Ngày 2 tháng 12 năm 1888, 400 tay súng nghĩa quân tấn công cùng một lúc hai đồn: Đồn Tứ Kỳ và Yên Phương, cách Hải Dương 12 km về phía nam”.
Xem xong bản Báo cáo tình hình chiến sự, Thống sứ Bắc Kỳ Sác lơ Oa rơ nét nói với thiếu tướng Lô bai rô dơ:
-Cứ tưởng bắt được vua Hàm Nghi ở Sơn phòng Hà Tĩnh năm 1888 thì phong trào Cần Vương sẽ tan rã. Không ngờ Hàm Nghi đã bị đi đày ở An giê ri, bắc Châu Phi mà ảnh hưởng ngài còn lớn ở Đại Nam như vậy. Lính đâu.
-Dạ, bẩm Thống sứ.
-Cho mời ngài Hoàng Cao Khải đến đây.
-Dạ.
Một lát Hoàng Cao Khải đến:
-Chào ngài Thống sứ.
-Chào ngài Kinh lược đại thần. Ngài đi dẹp loạn ở Bãi Sậy khó nhọc quá. Mời ngài ly rượu săm pa nhơ nhân gặp mặt.
Hoàng Cao Khải vẻ ngượng ngùng đáp:
-Không dám, không dám, chúng tôi đã cố hết sức mà chưa dẹp được Bãi Sậy, lại chịu nhiều tổn thất về binh lính và sĩ quan, mong Thống sứ thông cảm.
Sau khi hai bên cụng và cạn ly, Thống sứ Bắc Kỳ nói:
-Ngài Kinh lược sứ này, ta vừa đọc xong báo cáo tình hình chiến sự năm 1888 của phòng tình báo phủ thống sứ, quân Bãi Sậy ngày càng hoạt động táo tợn và rộng khắp trong khi vua Hàm Nghi, linh hồn của phong trào Cần Vương đã bị bắt. Nay ta ra lệnh thành lập đạo quân tuần cảnh do ngài làm Tư lệnh trưởng, ngài Mu sơ li ê làm Cảnh sát sứ để thống nhất lực lượng Việt-Pháp, tăng cường sức mạnh để đè bẹp quân Bãi Sậy, lực lượng chủ chốt của Cần Vương Bắc Kỳ.
Hoàng Cao Khải đáp:
-Đa tạ Thống sứ, thật là một giải pháp kịp thời để hành động quân sự của chúng ta thắng lợi.
Thống sứ đáp:
-Ta tin tưởng vào ngài và ngài Mu sơ li ê.
Sau khi Hoàng Cao Khải và Mu sơ li ê cầm quân đi, thống sứ vẫn nhận được tin tức qua báo cáo của phòng tình báo phủ Thống sứ: “Quân Pháp đánh nhau với quân Bãi Sậy ở Đông Nhu, viên quan khố xanh Lơ ô le bị tử trận. Tháng 3 năm 1889, nghĩa quân do Ngô Quang Huy chỉ huy cùng em là Ngô Quang Chước đánh Pháp ở bắc Hải Dương, bắc Hưng Yên, Vĩnh Phúc (Kim Anh), Sơn Tây, Thái Nguyên, đánh những trận lớn ở Quế Võ, Từ Sơn, Bắc Ninh.
Tranh minh họa lãnh tụ cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy– Đốc Tít.
Đốc Tít (sinh năm 1853 – mất năm 1916), tên thật là Mạc Văn Tích (Tiết), còn gọi là Nguyễn Xuân Tiết (hay Nguyễn Đức Hiệu), tự Tất Thắng, người làng Yên Lưu Thượng, tổng Yên Lưu, huyện Hiệp Sơn, phủ Kinh Môn, tỉnh Hải Dương (nay thuộc thôn Yên Lưu Thượng, xã An Lưu, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương). Nguồn: haiphonghoc.com
Ngày 11 tháng 4 năm 1889, viên quan Đơ mốt bị nghĩa quân giết chết, giám binh Lăm be rơ bị trọng thương. Quân Pháp đang khiếp sợ, đã gọi Nguyễn Thiện Thuật là "Vua Bãi Sậy”. Trong khi đó, nghĩa quân Vĩnh Yên do Đốc Khoát chỉ huy, Đốc Giang đứng đầu hoạt động mạnh ở phủ Vĩnh Tường, giam chân quân Pháp ở Kim Đề
Tháng 5 năm 1889, Đốc Tít chặn đánh nhiều đoàn tàu của Pháp trên sông Kinh Thầy, lấy được nhiều lương thực, súng đạn.
Đêm 23 rạng ngày 24 tháng 7 năm1889 viên quan khố xanh Ê sô bị giết ở làng Hoàng Vân. Ngày 18 tháng 10 năm 1889, chính Nguyễn Thiện Thuật đã bắn viên quan Mô ti lông bị thương.
Đêm 11 rạng 12 cùng năm, nghĩa quân Vĩnh Yên đã tiến đánh phủ Quốc Oai, gần sông Đáy. Hoàng Cao Khải, Tổng đốc Hải Dương cùng Mu sơ li ê đem 1.500 quân đánh Đốc Tít ở Hai Sông. Đốc Tít không chỉ đứng vững mà còn đem quân đánh thành Hải Dương" .
Đọc xong báo cáo, Thống sứ gọi sĩ quan tùy tùng:
-Người đâu.
-Dạ.
-Cho gọi Hoàng Cao Khải, Thiếu tướng Nê gơ ri ê, đại tá Đôn ni ê và Mu sơ li ê.
Sau khi mọi người đến đã đầy đủ, Thống sứ Bắc Kỳ nâng cốc:
-Mời ngài Kinh lược sứ, các tướng quân cạn chén bởi cuộc hội ngộ.
-Đa tạ Thống sứ.
-Đa tạ thống sứ.
Cả bọn cạn cốc xong, Thống sứ Lui Oan nét tơ nói:
-Chúng ta đã thành lập quân tuần cảnh, trong các cuộc hành quân đã dùng pháo binh, bộ binh, công binh nhưng không có kết quả. Trong năm 1889, quân Bãi Sậy còn tấn công khắp nơi, gây cho ta nhiều tổn thất. Các ngài có cao kiến gì để chiến thắng quân Bãi Sậy đây?
Hoàng Cao Khải nói:
-Tại hạ được biết quân Bãi Sậy tồn tại và hoạt động được là do dân chúng tiếp tế lương thực, đưa con em tòng quân cho Nguyễn Thiện Thuật. Muốn tiêu diệt được Bãi Sậy cần phải cô lập nghĩa quân, tức là phải xây dựng đồn bốt kiên cố, hỏa lực dày đặc, cắt đứt mối liên hệ giữa Bãi Sậy với bách tính. Thứ hai là Bãi Sậy và các căn cứ khác ở các địa phương có nhiều sông ngòi vây quanh, cho nên mỗi trận đánh phải có tàu chiến thì mới đem đại bác vào gần, chở quân đổ bộ thì mới thực hiện được chiến dịch thắng lợi.
Ngừng một lát, Hoàng Cao Khải nói tiếp:
-Muốn bắt cọp phải triệt phá hang cọp. Có thể cho phóng hỏa đốt toàn bộ rừng sậy như quân ta đã phóng hỏa đốt toàn bộ lũy tre ở Ba Đình Nga Sơn để tiêu diệt được nghĩa quân Phạm Bành, Đinh Công Tráng.
Thống sứ hỏi:
-Các ngài còn kế sách gì khác không?
Tướng Nê gờ ri ê nói:
-Ngài kinh lược sứ là người Việt nên hiểu cách đánh của người Việt, cứ thực hiện khi tấn công ngoài bộ binh, công binh, Pháo binh thì có tàu chiến để đổ bộ và pháo kích có hiệu quả, thứ hai là xây đồn bao vây Bãi Sậy thì chắc là hiệu quả.
Thống sứ Bắc Kỳ nói:
- Ngài Thiếu tướng nói phải. Công cuộc chinh phục Đại Nam của chúng ta từ năm 1858 đến nay thu được thắng lợi, xác lập được nền bảo hộ của nước Pháp ở đây một phần là do sự cộng tác của một bộ phận quan lại người Việt như ngài Kinh lược sứ nhiều kinh nghiệm đây. Nay mai tiêu diệt được phong trào Cần Vương, ngài sẽ được chính phủ Đông Dương tặng thưởng xứng đáng với công lao, ngài sẽ “Vinh thân phì gia"”như người Việt thường nói.
Câu ‘Vinh thân phì gia” làm cho Hoang Cao Khải không hài lòng, nhưng tay sai đâu dám làm phật lòng chủ. Chẳng qua Thống sứ là người Pháp, không hiểu được sự thâm trầm của câu chữ Nho đó mà thôi. Hoàng Cao Khải đành chắp tay nói:
-Đa tạ ngài Thống sứ, lão phu không dám.
Thống sứ đứng dậy nâng cốc;
-Có kế sách mới rồi. Chúc các ngài thắng lợi.
-Đa tạ thống sứ
-Đa tạ thống sứ.
* *
*
Mùa hạ năm 1889, vùng Bãi Sậy chìm trong nắng, gió. Rừng sậy vẫn mênh mông và hoang vu, dập dờn từng đợt như sóng biển màu xám. Trong Tổng hành dinh, Nguyễn Thiện Thuật được thám mã báo[A1] :
-Dạ bẩm Hiệp thống quân vụ, tướng Lãnh Điền, Lãnh Lộ đã hy sinh trong cuộc giao tranh chống Hoàng Cao Khải xây đồn bốt bao vây Bãi Sậy.
Lại có tin cấp báo:
-Da bẩm Hiệp thống quân vụ, Tướng Lãnh Ngữ, Đề Tính hy sinh trong cuộc chiến chống giặc xây đồn bốt.
Nguyễn Hữu Đức nói:
-Bẩm chủ tướng, do quân Pháp xây đồn lũy bao vây dày đặc, bách tính không thể tiếp viện lương thực nên lương thực Bãi Sậy đã gần cạn kiệt.
Nguyễn Thiện Thuật hỏi:
-Vũ khí, đạn dược thế nào?
-Dạ, cũng thiếu thốn mà không bù đắp được.
-Còn nhân lực và quân lính?
-Dạ, do bị bao vây, con em các nơi không thể đến gia nhập nghĩa quân, quân số đã giảm mà không bù đắp được.
Lại có tin thám mã báo:
-Dạ bẩm chủ tướng, căn cứ Hai Sông do Đốc Tít chỉ huy đang bị Hoàng cao Khải vây đánh. Lần này chúng dùng cả tàu chiến nên tình hình rất nguy ngập ạ.
Nguyễn Thiện Thuật hỏi Nguyễn Hữu Đức:
-Quân sư cử 1.000 quân do Đốc Vinh chỉ huy đến cứu Hai Sông.
-Dạ, tuân lệnh Hiệp thống quân vụ.
Hôm sau, Đốc Vinh vào gặp Nguyễn Thiện Thuật:
-Dạ bẩm Hiệp thống quân vụ, sau một ngày chiến đấu, thuộc tướng không thể phá được đồn bốt kiên cố bao vây đi tiếp viện cho Hai Sông, lại còn làm 200 nghĩa sĩ hy sinh, thuộc tướng xin chịu tội.
Nguyễn Thiện Thuật nói:
-Đứng dậy đi, tội không phải do tướng quân mà ở tên Hoàng Cao Khải đã áp dụng chiến thuật của tên đại Việt gian Nguyễn Thân bao vây bằng lô cốt kiên cố đàn áp Phan Đình Phùng. Trong cuộc xâm lược của ngoại bang, bọn Việt gian cực kỳ lợi hại, nguy hiểm.
-Dạ, Hiệp thống nói phải.
Lại có một tùy tướng vào báo:
-Dạ, bẩm Hiệp thống quân vụ, có thư của Hoàng Cao Khải ạ.
Nguyễn Thiện Thuật mở thư ra đọc. Thư viết: “Kính chào quan Hiệp thống quân vụ đại thần Trung tướng quân, tại hạ là Hoàng Cao Khải kính thư. Tại hạ được hoàng thượng Đồng Khánh cho nhân danh hoàng thượng hạ chỉ dụ khuyên ngài về với triều đình và chính quyền bảo hộ Pháp. Triều đình và người Pháp hứa bảo đảm tính mạng của ngài và gia đình, bảo đảm vinh hoa phú quý của ngài. Nay kính thư. Kinh lược sứ Bắc Kỳ Hoàng Cao Khải”.
Nguyễn Thiện Thuật nói với các tướng:
-Hoàng Cao Khải biết ta đang khó khăn, viết thư dụ hàng. Người đâu.
-Dạ
-Đem giấy, bút mực ra đây.
Nguyễn Thiện Thuật cầm bút viết thư xong gọi:
-Người đâu.
-Dạ.
-Đem thư này bắn tên sang phía quân Hoàng Cao Khải
-Dạ, tuân lệnh.
Hoàng Cao Khải khi đó đang cùng các sĩ quan Pháp tiến đánh Hai Sông của Đốc Tít. Sĩ quan tùy tùng vào báo:
-Dạ bẩm quan Kinh lược sứ, có thư hồi đáp của Nguyễn Thiện Thuật.
-Đưa đây ta xem.
-Dạ.
Khải nhận thư, bóc ra đọc. Thư viết: “Dù ngươi có nhân danh Đồng Khánh thì cũng chỉ là một phường bán nước để vinh thân phì gia, thành tội đồ muôn đời của dân tộc, của lịch sử, bị muôn đời nguyền rủa. Vì vậy, ta “Bất khẳng thụ chỉ” (không chịu nhận chỉ).
Hoàng Cao Khải đọc xong, mặt mày tím tái, mắt tối xầm lảo đảo ngã vật xuống đất. Lính cận vệ vội đỡ lên chiếc giường dã chiến. Một lát sau, Khải tỉnh dậy thét:
-Ta xóa sổ Hai Sông xong sẽ tiêu diệt Bãi Sậy.
Khải nghiến răng làm cho hai má đã hóp nay càng hóp lại, mắt long lên sòng sọc:
-Ta sẽ thiêu chết quân Bãi Sậy.
Lúc bấy giờ là tháng 7 năm 1889. Trời mùa hè nắng như thiêu đốt vùng Hai Sông. Hoàng Cao Khải quyết tâm tiêu diệt căn cứ này, liền ra lệnh:
Tán lý Lê Xuân Dục
-Có thuộc tướng.
-Tán lý hãy đem quân đóng ở xã Mai Động, chặn đường ra vào của quân Đốc Tít.
-Thuộc tướng tuân lệnh.
-Tán lý Đào Trọng Kỳ.
-Có thuộc tướng.
-Tán lý đem quân đóng ở xã Quỳ Khê chặn đường sau lưng của Đốc Tít, không cho quân Hai Sông rút vào núi Đông Triều.
-Thuộc tướng tuân lệnh.
-Tán tương Nguyễn Đức Vinh.
-Có thuộc tướng.
-Tán tương đem quân đóng ở xã Hương Động, chặn cửa đường sông của Đốc Tít.
-Thuộc hạ tuân lệnh.
-Trung tá Đôn ni ê.
-Có ta.
-Trung tá đem 10 pháo hạm dàn ở các đoạn sông Kinh Thầy, Sông Con, sông Hán, sông Bạch Đằng bao vây, tiến vào gần căn cứ Hai Sông mà bắn.
-Tuân lệnh.
-Trung tá My sơ li ê:
-Có ta.
-Trung tá chỉ huy binh sĩ Pháp cùng ta đánh vào trước mặt Hai Sông.
-Tuân lệnh.
-Trung tá Phê ri.
-Có.
-Trung tá chỉ huy đội công binh đi trước bộ binh và quân tuần cảnh mở đường khi cần thiết.
-Tuân lệnh.
Căn cứ Hai Sông bị bao vây bốn mặt, lương thực, đạn dược đã hết, chỉ còn có 200 tay súng. Tướng của Đốc Tít và Lê Phụng Hiểu, Trần Đức Phong ra hàng nói cho Khải biết tình hình nguy ngập của Đốc Tít. Khải nhân cơ hội viết thư dụ Đốc Tít hàng. Đốc Tít hẹn Khải mở cuộc đàm phán với điều kiện Pháp không được tàn sát các tướng lĩnh và những nghĩa quân đã theo ông. Khải đồng ý. Địa điểm đàm phán được quy định tại làng Phù Liêu Nội, xã Phù Ninh.
Ngày 12 tháng 8 năm 1889, Đốc Tít đến đàm phán thì quân của Khải bất ngờ bao vây chĩa súng vào Đốc Tít, tướng Nguyễn Hữu Lan và Nguyễn Đức Thiệu. Cùng lúc đó Hoàng Cao Khải xuất hiện:
-Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn, ngài nên bỏ súng xuống thì hơn.
Đốc Tít cả giận mắng:
-Đồ đại Việt gian bán nước hại dân, còn chơi trò lật lọng tráo trở, bần tiện.
Khải thản nhiên đáp:
-Trong chính trị, trong chiến tranh, dùng mưu lừa nhau là chuyện thường tình trong binh pháp. Tướng quân chinh chiến cả đời sao không hiểu điều đó?
Đốc Tít và các tướng bị bắt. Pháp muốn ông đem quân đánh Đề Thám, ông cự tuyệt. Tháng 1 năm 1890, Pháp đày Đốc Tít sang An giê ri và ông tạ thế tại đây năm 1916, thọ 63 tuổi (1853-1916). Thi hài ông sau này được con gái và họ hàng thân hữu đưa về an táng tại quê nhà An Lưu, Thượng Huyền, huyện Hiệp Sơn, phủ Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.
Tổng hành dinh Bãi Sậy, một ngày đông cuối tháng 12 năm 1889, trời u ám, gió lạnh bắt đầu tràn về, rừng sậy tràn ngập gió heo may xào xạc, từng đàn chim từ phương Bắc bay về phương Nam tránh rét. Chủ tướng Nguyễn Thiện Thuật đang ngồi cùng tướng lĩnh bàn về chiến sự, chợt có tin về báo:
-Dạ, bẩm chủ tướng, đạo quân của quân sư Ngô Quang Huy và em là Ngô Quang Chước đã bị Hoàng Cao Khải đánh tan. Hai thủ lĩnh chạy lên Phủ Lạng Thương, Ngô Quang Huy đã mất ở đó ngày 1 tháng 4 năm 1889 rồi ạ.
Lại có tin báo:
-Dạ bẩm chủ tướng, Hoàng Cao Khải đã chiếm được căn cứ Hai Sông, Đốc Tít đã bị giặc bắt nhưng Đề đốc không đầu hàng Pháp.
Lại có tin về báo:
-Dạ bẩm Hiệp thống quân vụ, Đội Văn đã hàng Pháp nhưng tháng 9 năm 1889 đã quy tụ được 1.000 nghĩa quân đầy đủ súng đạn về Yên Thế, Bắc Giang theo Đề Thám nhưng đi đến Bắc Ninh, bị Việt gian báo cho Pháp, Đội Văn bị bắt và bị Pháp xử tử tại Hà Nội ngày 7 tháng 11 năm 1889. Chỉ có các tướng là Lãnh Giám, Lãnh Giới, Lãnh Thiết, Lãnh Bối là về được Yên Thế.
Lại có tin báo:
-Bẩm chủ tướng, lương thực và đạn dược chỉ còn được hai ngày nữa, mong chủ tướng định đoạt.
Nguyễn Thiện Thuật nói:
-Do hoàn cảnh của đất nước và thời cuộc mà sự nghiệp giúp vua cứu nước của Bãi Sậy đã suy tàn. Có lẽ chúng ta phải phá vòng vây lên Yên Thế với Đề Thám thì có thể tiếp tục đánh Pháp, cứu dân, cứu nước.
Các tướng đồng thanh nói:
-Xin nghe lệnh của Hiệp thống quân vụ.
Đêm hôm sau vào một đêm tối mịt mùng, Đốc Cọp, Đốc Sung đi tiên phong bát ngờ tấn công đồn giữa nam Bắc Ninh và Văn Lâm. Quân Pháp bị bất ngờ chỉ trong đồn bắn ra, do đó nghĩa quân và Nguyễn Thiện Thuật vào được làng Bích Khê, huyện Gia Lương. Nguyễn Thiện Thuật nói với Nguyễn Thiện Kế và các tướng:
-Bây giờ ta giao quân Bãi Sậy cho Nguyễn Thiện Kế chỉ huy. Ta sẽ sang Trung Quốc phối hợp với quan Phụ chính Tôn Thất Thuyết xây dựng lực lượng, huy động súng đạn, vũ khí đưa về nước để có nguồn lực kháng chiến. Còn ở trong nước, Pháp và Hoàng Cao Khải thực hiện đồn lũy bao vây, tách chúng ta khỏi bách tính thì cuộc khởi nghĩa nào cũng sẽ thất bại. Rộng lớn như khởi nghĩa Phan Đình Phùng. Mạnh mẽ và thế hiểm như Ba Đình của Phạm Bành và Đinh Công Tráng, gan dạ anh hùng như Bãi Sậy của ta đều bị bao vây mà lần lượt thất bại.
Nguyễn Thiện Kế nói:
-Hiệp thống quân vụ nói phải nhưng phải cho vài tướng lĩnh đi cùng để bảo vệ huynh.
Nguyễn Thiện Thuật nói:
-Không cần đâu. Hiện nay nhân lực còn thiếu cho chiến đấu. Đường sang Trung Quốc ta đã quen rồi.
Rồi đêm đó, sau vài ly rượu, các thủ lĩnh chia tay chủ tướng kính yêu của mình, đứng nhìn Nguyễn Thiện Thuật bóng xa mờ vào trong đêm.
Quân Bãi Sậy ở Gia Lương chưa kịp hành quân lên Yên Thế thì đã bị Hoàng Cao Khải cho quân truy kích và bao vây. Quân Bãi Sậy chiến đấu quyết liệt nhưng hy sinh hết. Nguyễn Thiện Kế bị Pháp bắt ở Chợ Sơn, Tiên Sơn, Bắc Ninh và bị đày đi Côn Đảo. Mãi năm ông 70 tuổi, Pháp mới đưa ông về quản thúc ở quê nhà. Nguyễn Thiện Kế tạ thế năm 1937, thọ 88 tuổi (1849-1937). Cùng năm 1890, thủ lĩnh Đốc Vinh là người cuối cùng của Bãi Sậy bị Pháp bắt và xử tử.
Nguyễn Thiện Thuật sang Trung Quốc có gặp được Tôn Thất Thuyết, sau ông bị bệnh và tạ thế ngày 25 tháng 5 năm 1926, thọ 82 tuổi (1844-1926), mai táng ở Hương Quán Kiều, ngoại vi thành Nam Ninh (Quảng Tây), trên bia mộ có ghi: "Việt Nam cách mạng cố tướng quân Nguyễn Thiện Thuật chi mộ”. Năm 1990, Việt Kiều chuyển mộ ông về Hương Đại Linh, phía Nam thành phố Nam Ninh. Ngày 3 tháng 1 năm 2005, dòng họ Nguyễn đưa hài cốt của Nguyễn Thiện Thuật về quê nhà, Xuân Dục, Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. Người anh hùng Cần Vương yên nghỉ trong lòng đất mẹ thương yêu.
Khởi nghĩa Bãi Sậy kết thúc cũng là kết thúc phong trào Cần Vương chống pháp. Toàn bộ giai cấp phong kiến Việt Nam đã đầu hàng, bán nước làm tay sai cho Pháp. Chỉ còn một số người trong giai cấp phong kiến, những văn thân, sĩ phu yêu nước kiên quyết chống giặc, quên cả bản thân, gia đình, bất chấp hy sinh gian khổ đứng ra lãnh đạo phong trào Cần Vương. Do nhân tố chủ quan và khách quan, phong trào Cần Vương dù anh dũng nhưng đã thất bại trước một thế lực xâm lược mới. Dù thất bại, nhưng Phong trào Cần Vương đã nêu cao khí phách anh hùng của nhân dân ta, kiên quyết chống ngoại xâm, làm chậm bước tiến bình định và thống trị của Pháp ở Việt Nam, để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý giá cho những cuộc đấu tranh về sau.
Tiếng súng của Phong trào Cần Vương đã tắt, Đại Nam đã mất vào tay bọn xâm lăng dã man, tàn bạo thời Cận đại, nhưng bầu trời Đại Nam vẫn chứa đầy giông bão sấm sét sẵn sàng giáng xuống đầu bọn cướp nước và bè lũ bán nước. Trong bầu trời giông bão đó sáng chói những tên tuổi Trương Công Định, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Hữu Huân, Hàm Nghi, Tôn Thất Thuyết, Phan Đình Phùng, Phạm Bành, Đinh Công Tráng, Hà Văn Mao, Cầm Bá Thước, Trần Xuân Soạn, Nguyễn Thiện Thuật, Nguyễn Xuân Ôn và nhiều lãnh tụ Cần Vương khác. Họ trở thành bất tử trong lòng Dân Tộc Việt Nam.
(Hết tập VI)