VI.
Tháng 11 năm 1895, gió lạnh như cắt thổi từng đợt khắp không gian Hà Nội và khắp Bắc Kỳ của Liên Bang Đông Dương. Trong căn phòng sang trọng của phủ Thống sứ Bắc Kỳ, A gu stin Phơ rét mới được bổ nhiệm đang ngồi trên chiếc ghế mà bao tiền nhiệm đã ngồi. Trước mặt vẫn là chiếc bàn gỗ màu gụ trang trí kiểu Á Đông khảm trai bóng loáng. Trên trần nhà hoa văn kiểu La Mã được soi sáng bởi những chùm đèn pha lê rực rỡ. A. Phơ rét ngồi nhâm nhi chén rượu vang suy nghĩ vấn đề đang nóng bỏng nhất Bắc Kỳ là vấn đề khởi nghĩa nông dân Yên Thế. A. Phơ rét gọi:
- Người đâu.
- Dạ.
- Đem bản báo cáo tình hình giữa quân Pháp và quân Yên Thế năm 1895 lên đây.
- Dạ, tuân lệnh Thống sứ.
Lát sau người sĩ quan phòng lưu trữ đem tài liệu vào phòng.
- Dạ, bẩm Thống sứ, đây là báo cáo ngài cần ạ.
- Cảm ơn.
Người nhân viên đi ra. A. Phơ rét rót một cốc rượu nữa, ngồi vào ghế tựa cạnh chiếc bàn con và đọc. Tài liệu viết: “ Mặc dù Hiệp ước giảng hòa đã được ký kết giữa Pháp và quân Yên Thế, nhưng các lực lượng có quan hệ với Đề Thám ở Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Phúc Yên vẫn không ngừng chiến. Tháng 2 năm 1895, Đề Nguyên ở Thái Nguyên đã tấn công đồn Tam Đảo, giết chết lính điện đài Hôn lây và bắt Sa bót về Kẻ Thượng của Phùng Ba Chỉ. Đêm 23 tháng 2 năm 1895, Thống Luận, một tướng của Đề Thám chỉ huy 40 lính dùng thuyền tấn công quân Pháp ở Phả Lại.
Tháng 2 năm 1895, Phủ Bắc Giang tách khỏi tỉnh Bắc Ninh và thành lập tỉnh riêng với trấn trị là Phủ Lạng Thương.
Đêm 30 tháng 4 năm 1895, Đốc Thu cùng em là Đốc Xuyết chỉ huy nghĩa quân tấn công thành Bắc Ninh, giết chết lính đưa thư, nhân viên thuế đoan Mun hun, hai hiến binh là Véc đi ê và Nê ghi.
Tháng 8 năm 1895, một số nghĩa quân rời bỏ Lương Tam Kỳ ở Thái Nguyên, về với Đề Thám. Đề Thám vẫn tiếp tục liên hệ với Đề Công và Thương Lâm ở Tam Đảo.
Ngày 4 tháng 10 năm 1895, quân Yên Thế tấn công một số làng ở Bắc Ninh và trấn trị Phủ Lạng Thương, Bắc Giang. Ngày 13 tháng 10 cùng năm, quân của Thống Luận và Thống Trứ tấn công khu vực phủ Đa Phúc”.
Đọc hết báo cáo, Thống sứ A. Phơ rét uống thêm một hớp rượu và gọi:
-Người đâu.
Người sĩ quan cận vệ xuất hiện:
- Dạ, ngài Thống sứ.
- Cho gọi tướng Bi sô, Công sứ Bắc Ninh, Tổng đốc Bắc Ninh, Khâm sai đại thần Bắc Kỳ Lê Hoan và Đại tá Ga li en ni bảo 8 giờ ngày mai về phủ Thống sứ họp.
- Dạ, tuân lệnh Thống sứ.
Sáng hôm sau, đúng 8 giờ, vẫn trong căn phòng lộng lẫy của phủ Thống sứ, A. Phơ rét ngồi bàn chủ tọa, dưới là Tướng Bi sô, Đại tá Ga li en ni, Tổng đốc Bắc Ninh Vũ Quang Nhạ, Công sứ Bắc Ninh Ma hê, Khâm sai đại thần Lê Hoan. Trên bàn đặt những cốc rượu săm pa nhơ. A. Phơ rét nâng cốc:
-Ta mới ngồi vào ghế Thống sứ được mấy ngày, hôm nay có cuộc họp quan trọng cũng là ngày hội ngộ đầu tiên giữa ta và các ngài. Nào, xin mời các ngài nâng cốc mừng cuộc hội ngộ.
Tất cả đứng dậy nâng cốc:
-Xin chúc mừng ngài Thống sứ.
-Đa tạ, đa tạ.
Mọi người cạn, đặt cốc xuống bàn và ngồi xuống. A. Phơ rét nói với sĩ quan giúp việc:
-Hãy phát cho các ngài ở đây mỗi người một bản báo cáo về tình hình chiến sự năm 1895 mà hôm qua ta đọc.
-Dạ.
Sau khi mỗi người đã cầm một bản báo cáo, A. Phơ rét nói:
-Các ngài hãy đọc lướt qua sẽ thấy tình hình Yên Thế nguy hiểm như thế nào?
Sau khi mọi người đã đọc nhanh, Thống sứ A. Phơ rét nói tiếp:
-Chúng ta là một nhà nước quy trách nhiệm cho người đứng đầu cấp. Đã 10 năm nay không dẹp được cuộc nổi dậy của nông dân một huyện. Nay quy trách nhiệm, giới quân sự Bắc Kỳ, Công sứ Bắc Ninh, Tổng đốc Bắc Ninh, Khâm sai đại thần Bắc Kỳ còn gì để nói?
Tướng Bi sô nói:
-Thưa ngài Thống sứ, giới quân sự ở Bắc Kỳ xin chịu trách nhiệm, nhưng khách quan mà nói, chúng ta đứng trước một đối thủ rất giỏi tổ chức chiến tranh du kích, giỏi phân tán, giỏi đánh nhỏ, giỏi vận động chiến, lại có một chỉ huy là Đề Thám giỏi về quân sự, giỏi tổ chức chiến đấu. Các thủ lĩnh và nghĩa quân là những nông dân mang khí chất của anh hùng hảo hán, không sợ chết, rất trung thành với minh chủ. Súng trường bắn nhanh, đến đại bác các cỡ của quân ta họ cũng không sợ. Họ lại dựa vào dân, được dân che dấu, giúp đỡ, cung cấp lương thực, nhân lực. Cho nên thuộc cấp cho rằng, muốn đánh bại Yên Thế phải đàn áp dân không thương tiếc, tách dân ra khỏi Đề Thám. Lại nữa, mỗi cuộc càn quét tấn công, phải tăng đại bác lên hàng trăm, quân số phải lên hai vạn thì mới có thể đè bẹp được Yên Thế.
Thống sứ A. Phơ rét nói:
-Ngài Bi sô đã đưa ra những giải pháp mà chúng ta cần phải nghiên cứu, tham khảo. Thế nào, ngài Đại tá Ga li en ni có cao kiến gì không?
Đại tá Ga li en ni đáp:
-Thuộc cấp tán thành các biện pháp quân sự của tướng Bi sô. Ngoài tăng đại bác lên hàng trăm, quân số lên hàng vạn, khi tấn công còn phải bao vây bốn phía. Nhưng lưu ý hiện nay đường sá không có, rất hạn chế cho hàng vạn quân hành quân tấn công, như là vận chuyển lương thực, thực phẩm dài ngày, cả tháng, có khi cả năm. Cho nên, suốt 10 năm nay chúng ta cứ tấn công càn quét dù là thắng lợi hay thất bại đều rút về, tạo điều kiện cho quân khởi nghĩa hồi phục, lại củng cố để tồn tại. Vì thế, suốt 10 năm nay không dẹp được Yên Thế, một phần là do không có đường sá thuận tiện. Không có đường sá thì làm sao kéo hàng trăm khẩu pháo hạng nặng, hạng nhẹ vào rồi lại kéo ra, chưa nói là phải có xe tải lớn để chở đạn dược, thuốc men cứu thương, lương thực, thực phẩm, nước uống vào. Cho nên, chiến thuật tác chiến của tướng Bi sô là hay nhưng trong 5 năm, 10 năm tới mà không mở đường sá thì cũng không thực hiện được. Trách nhiệm khi đó không chỉ thuộc giới quân sự mà còn thuộc cả Chính phủ Đông Dương, tức là Chính phủ rất chậm chạp trong việc khai mở thuộc địa cả về kinh tế và phục vụ quân sự.
A. Phơ rét nói:
-Ý kiến của ngài Đại tá Ga li en ni không chỉ để cho giới quân sự mà cả cho Chính phủ Đông Dương phải tham khảo. Đó là mở mang đường sá không chỉ phục vụ khai thác kinh tế mà còn để phục vụ quân sự. Nhưng trong khi đường sá Yên Thế chưa được mở mang thì chúng ta vẫn phải mở những chiến dịch càn quét, chả lẽ vì đường sá khó khăn mà chúng ta để cho quân Yên Thế yên ổn lớn mạnh lên sao? Có ngài nào còn cao kiến gì không?
Im lặng. Một lát sau A. Phơ rét nói tiếp:
-Trong khi còn nhiều khó khăn thì giới quân sự vẫn phải tiến hành nhiệm vụ của mình. Nào, chúc các ngài thành công.
Tất cả đứng dậy nâng cốc:
-Đa tạ ngài Thống sứ.
-Đa tạ, đa tạ.
Rồi bọn người cạn cốc.
Sau cuộc họp ở phủ Thống sứ, giới quân sự chóp bu cử Đại tá Ga li en ni làm chỉ huy cuộc càn quét vào Yên Thế. Ga li en ni điều pháo thuyền đến sông Thương, con sông ngăn giữa Yên Thế và Lạng Giang, giữa Lục Liễu và Bố Hạ để bao vây Yên Thế theo đường thủy. Sau đó trong Tổng hành dinh quân Pháp ở Nhã Nam, Ga li en ni ra lệnh:
-Thiếu tá Hốp bơ nghe lệnh:
-Có thuộc cấp.
-Thiếu ta dẫn 200 tay súng, 20 đại bác tiến theo đường Mỏ Trạng, Bố Hạ tấn công Đề Thám.
-Thuộc cấp tuân lệnh.
-Thiếu tá Rông đô ni.
-Có thuộc cấp.
-Thiếu tá dẫn 200 lính cùng 20 đại bác theo đường Bố Hạ-Nhã Nam tấn công Đề Thám.
-Thuộc cấp tuân lệnh.
-Thiếu tá Rô giê.
-Có thuộc cấp.
-Thiếu tá đem 50 lính lê dương, 300 lính khố đỏ, 20 khẩu sơn pháo 80 ly cùng lính cứu thương, lính cầu đường theo đường Nhã Nam tấn công quân Yên Thế.
-Thuộc cấp tuân lệnh.
Trong khi đó, tại tổng hành dinh đồn Hố Chuối, Đề Thám đang họp với các tướng lĩnh bàn cách đối phó với cuộc tấn công quy mô lớn của Pháp. Đề Thám uống xong chén trà và nói;
-Các thủ lĩnh uống trà đi.
Trong khi mọi người đang uống trà thì Cả Dinh tay cầm phong thư vào báo:
-Dạ bẩm, Ga li en ni gửi thư cho nghĩa phụ.
-Đưa ta xem.
-Dạ.
Đề Thám bóc thư đọc, thì ra đó là một tối hậu thư. Thư viết: "Nếu ngài không muốn bị tấn công và bị tiêu diệt thì ngay lập tức hạ vũ khí đầu hàng. Ta hẹn ngài 8 giờ sáng ngày mai, tức là ngày 19 tháng 11 năm 1895 phải tới hành dinh của ta ở Nhã Nam trình diện”.
Đề Thám đọc bức tối hậu thư cho các thủ lĩnh nghe, mọi người hầm hầm tức giận.
Đề Thám nói tiếp:
-Theo tin thám mã báo về, cuộc tấn công lần này khác với mọi lần là địch chia thành nhiều cánh quân nhằm bao vây chúng ta. Dưới sông Thương có tàu chiến, nhiều con đường giáp Lạng Sơn-Yên Thế đã được mở tạo điều kiện thuận lợi cho địch hành quân và kéo pháo vào. Cho nên để phá tan vòng vây của Pháp ở Yên Thế, ta phải đánh mạnh ở khắp nơi, từ Yên Thế đến Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Nguyên, Phúc Yên, Vĩnh Yên, Tam Đảo, Đa Phúc. Sau đây các tướng nghe lệnh:
-Tướng quân Cả Tuyển.
-Có thuộc tướng.
-Tướng quân đem 50 tay súng đến phối hợp với thủ lĩnh Đề Công ở Tam Đảo đánh địch.
-Thuộc tướng tuân lệnh.
-Tướng quân Đề Nguyên.
-Có thuộc tướng.
-Tướng quân đem 50 lính đến Vĩnh Yên phối hợp với thủ lĩnh Phùng Ba Chỉ ở đó đánh giặc.
-Thuộc tướng tuân lệnh.
-Tướng quân Bang Kinh.
-Có thuộc tướng.
-Tướng quân đem quân bản bộ của mình đến Phúc Yên phối hợp với thủ lĩnh Thống Trứ ở đó đánh giặc.
-Thuộc tướng tuân lệnh.
-Tướng quân Đề Cân.
-Có thuộc tướng quân.
-Tướng quân đem 50 tay súng đến Đa Phúc phối hợp với thủ lĩnh Thống Luận ở đó đánh giặc,
-Thuộc tướng tuân lệnh.
-Tướng quân Đốc Thu.
-Có thuộc tướng.
-Tướng quân đem 50 tay súng tấn công Pháp ở Bắc Ninh, Hỗ trợ cho Đốc Khế, Đốc Hậu.
-Thuộc tướng tuân lệnh
-Tướng quân Thống Ngô.
-Có thuộc tướng.
-Tướng quân đem 50 tay súng tấn công trấn trị Phủ Lạng Thương.
-Thuộc tướng tuân lệnh.
-Các tướng Cả Trọng, Cả Dinh, Ba Điều, Quản Khôi do Cả Trọng chỉ huy đánh giặc ở đồn Hữu Nhuế.
-Xin tuân lệnh.
-Các tướng Cả Huỳnh, Đốc Xuyết, Lý Bảo, quân sư Hoàng Điển Ân cùng ta đánh giặc ở đồn Hố Chuối.
-Xin tuân lệnh.
Đề Thám hỏi Đặng Thị Nhu:
-Phu nhân nói xem lương thực và súng đạn còn nhiều không?
Đề đốc phu nhân đáp:
-Bẩm tướng công, qua hòa hoãn một năm với Pháp, với số tiền chuộc Sét nây, thiếp đã tổ chức mua súng đạn từ Trung Quốc về đủ dùng tư nay đến 1897, gạo thóc thu hoạch từ đồn điền Phồn Xương đủ dùng cũng đến thời gian đó.
Đề Thám hài lòng:
-Vậy vũ khí lương thực thì ta yên tâm rồi
-Đa tạ tướng công.
-Nữ tướng Đặng Thị Nhu nghe lệnh:
-Có thuộc tướng.
Trong khi chiến đấu, tướng quân phải tổ chức chu cấp hậu cần, cơm nước, thuốc men, cứu thướng đầy đủ cho toàn quân.
-Thuộc tướng tuận lệnh.
Trong hành dinh của Pháp ngày 29 tháng 11 năm 1895, Đại tá Ga li en ni, Tổng chỉ huy cuộc tấn công ngồi chờ Hoàng Hoa Thám đến đầu hàng theo tối hậu thư rất sốt ruột. 8 giờ, 9 giờ rồi 10 giờ trôi qua một cách nặng nề chậm chạm. Đã 10 giờ hơn mà không thấy bóng dáng Đề Thám cùng các thủ lĩnh Yên Thế xuất hiện, Ga li en ni tức giận ra lệnh:
-Ba cánh quân nhất loạt bao vây và tấn công vào đồn Hữu Nhuế, Hố Chuối.
-Tuân lệnh Đại tá.
Ngay trưa hôm đó, đạo quân thứ 3 do Đại úy Rô mông chỉ huy đã tiến tới pháo đài Dụ Lâm. Đạo quân thứ 2 do Đại úy A đô lin chỉ huy tiến tới Bãi Mẹt. Đạo quân thứ nhất do Đại úy Gơ răng my chỉ huy đến Bãi Mẹt và tách ra đi về Hố Chuối. Đại bác nổ vang, gầm thét trút lửa vào căn cứ Hữu Nhuế và Hố Chuối, Phồn Xương. Tiếng đại bác xen lẫn với tiếng súng trường, súng hỏa mai, xen lẫn tiếng kèn xung trận của quân Pháp, xen lẫn tiếng trống, tiếng tù và, tiếng sáo sắt của quân Yên Thế như sóng gầm thác đổ. Miền tây bắc Bắc Giang hỗn loạn âm thanh, đạn rơi máu đổ, khói lửa ngút trời, bầu trời bỗng nhiên đỏ như máu. Cuộc chiến giữa những kẻ xâm lăng với những người nông dân khát khao tự do độc lập ruộng đất thật là dai dẳng và khốc liệt. Lần này, cuộc chiến kéo dài tới ba năm: 1895-1897. Trong phủ Thống sứ, Thống sứ Bắc Kỳ Lê ông Bu lô sơ cuối cùng nhận được bản báo cáo về chiến sự vào cuối năm 1897. Báo cáo viết:
“- Ngày 6 tháng 1 năm 1896, Đốc Khế chỉ huy 50 tay súng giao chiến với quân Pháp do Đại úy Rông đô ni chỉ huy ở Long Vân, Yên Thế.
-Ngày 6 tháng 2, quân ta giao chiến với quân của Đốc Khế, Thống Luận và Tổng Trụ.
-Quân ta bị quân Yên Thế phục kích ở Suối Câu, một Giám binh, một hạ sĩ quan Pháp và hai lính khố xanh bị thương.
-Trong trận đánh ở núi Phú Đồ ngày 8 tháng 2, ta bắt được vợ con của Đốc Khế, Đốc Hậu khiến cho ngày 16 tháng 2, Đốc Khế, Đốc Hậu phải ra hàng để cứu vợ con.
-Ngày 21 tháng 2 năm 1896, quân ta kịch chiến với quân Đề Thám ở Trại Tre, Yên Thế, cùng ngày đó có cuộc giao tranh giữa 150 tay súng Yên Thế, trong đó có Đề Thám, Tổng Luận và Đề Cần chỉ huy ở Dốc Nghè.
-Trong chiến trận, một số thủ lĩnh của Yên Thế đã ra hàng, đó là Đốc Tục, Đốc Vân, Đốc Hy, Tổng Luận.
-Tháng 7 đầu tháng 8 năm 1896, quân ta đánh nhiều trận với quân Yên Thế ở Thái Nguyên, kịch liệt nhất là trận Hùng Sơn và Phổ Yên.
-Ngày 15 tháng 8, quân Yên Thế đánh phá đồn điền của Gô be ở Bắc Ninh.
-Ngày 2 tháng 10, 100 lính khố xanh và 70 lính Pháp do Đại úy Lo răng chỉ huy đã kịch chiến với quân Yên Thế tại làng Quạt.
-Ngày 10 tháng 1 năm 1897 một đoàn xe vận tải của ta do Trung úy Ma ti va chỉ huy bị chặn đánh ở gần Minh Lý.
-Ngày 30 tháng 1 năm 1897, quân Yên thế tấn công nơi đồn trú của Trung úy La ba ri e coi việc đắp con đường Chợ Mới ở Bắc Kạn.
-Ngày 25 tháng 2 năm 1897, giao chiến giữa quân Yên Thế và quân Pháp do Quản đốc đồn mỏ Na Lương là Ra bi nô chỉ huy, Pháp thiệt hại nặng.
-Tháng 4 năm 1897, một toán lính khố xanh hành quân bị tấn công.
-Ngày 2 tháng 6 năm 1897, Quản đốc đồn Đức Thắng là Bô ve bị quân Yên Thế phục kích bắn chết.
-Ngày 22 tháng 9 năm 1897, một toán lính khố đỏ do Trung úy Mu sê di bị chặn đánh ở Bình Trạm.
Tóm lại, trong 3 năm, 1895 đến 1897, các cuộc càng quét bao vây của Pháp không thu được kết quả, không giết được Đề Thám, không làm nghĩa quân tan rã. Nghĩa quân Yên thế còn hoạt động mạnh ở khắp Yên Thế, Bắc Giang, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Bắc Kạn.”
Thống sứ Bắc Kỳ đọc xong báo cáo chiến sự, cầm chén rượu vừa uống vừa trầm ngâm suy nghĩ thì có sĩ quan tùy tùng vào báo:
-Dạ bẩm Thống sứ, có thư của Chính phủ Pháp.
-Đưa ta xem.
-Dạ.
.Thống sứ L. Bu lô sơ bóc thư đọc, thì ra đó là bản Chỉ thị. Chỉ thị viết: “Tại Đông Dương, từ nay, nước Pháp sẽ bắt đầu thực hiện chương trình khai thác thuộc địa vì các cuộc phản loạn hầu hết đã bị dập tắt. Chương trình gồm khai thác các mỏ vàng, bạc, quặng kim loại, đặc biệt là than đá. Thứ hai là mở hệ thống giao thông vận tải đường bộ, đường sắt nối các trung tâm như Sài Gòn, Hà Nội đi các tỉnh, phục vụ cho vận chuyển hàng hóa và các cuộc hành quân quân sự. Thứ ba là xây dựng các nhà máy điện để phục vụ đời sống, phục vụ cho phát triển công nghiệp nhẹ và công nghiệp nặng. Thứ tư, khai thác ruộng đất để trồng các cây công nghiệp như cao su, cà phê, lúa gạo để xuất khẩu. Về tài chính, Chính phủ Đông Dương phải duy trì các thứ thuế thời phong kiến và tăng lên nhiều lần để bóc lột không thương tiếc dân bản xứ, đồng thời phải ra sức đặt ra nhiều thuế mới ở tất cả các ngành nghề của dân bản xứ. Về nhân công, thuê nhân công thuộc địa với giá rẻ mạt nhưng tăng giờ làm lên 17 đến 18 giờ một ngày. Ngân hàng chính quốc sẽ cho Đông Dương vay để cho dân bản địa vay với giá cắt cổ. Kết hợp lối bóc lột phong kiến với lối bóc lột kiểu tư bản là đặc điểm của bóc lột thuộc địa, là kiểu bóc lột tàn khốc nhất trong lịch sử xã hội loài người nhưng nó bảo đảm thu lợi nhuận cao nhất cho giới tài phiệt Pháp.
Với cuộc khởi nghĩa Yên Thế, chưa dập tắt được thì nên giảng hòa để Đề Thám không phá hoại đường đã có, không tấn công khi ta xây dựng đường sá mới, nhất là đường sắt, đường bộ Hà Nội-Thái Nguyên, Hà Nội- Lạng Sơn, khi ta khai thác mỏ, đặc biệt là mỏ than lộ thiên Quảng Ninh. Giảng hòa để tìm cơ hội đi lại với nhau khiến Đề Thám mất cảnh giác mà ám sát, giảng hòa để hưu chiến, lâu năm, Đề Thám già đi, có thể nản chí chiến đấu mà đầu hàng như trường hợp Thân Bá Phức. Không chỉ Đề Thám mà các tướng lĩnh của Đề Thám cũng sẽ lung lay ý chí mà ra hàng vì cuộc sống cho gia đình, con cái họ. Như vậy, hòa hoãn chỉ có lợi cho ta, làm cho nghĩa quân Yên Thế tan rã theo thời gian.
Toàn quyền hãy ra lệnh cho Thống sứ Bắc Kỳ, Công sứ và Tổng đốc Bắc Ninh, Bắc Giang và các cơ quan quân sự Bắc Kỳ thực hiện chỉ thị này”.(Thay mặt chính phủ Pháp, Bộ trưởng Bộ thuộc địa Pháp).
Dưới bản chỉ thị có bút tích của Toàn quyền Đông Dương viết và đã ký; “Yêu cầu Thống sứ Bắc Kỳ triển khai thực hiện đúng chỉ thị của Chính phủ Pháp”.
Thống sứ Bắc Kỳ đọc xong chỉ thị gật gù:
-Hay, chinh phục Đại Nam đã gần 40 năm nay, nay đã đến lúc khai thác, bóc lột để làm giàu cho giới tài phiệt Pháp. Ha!Ha!Ha!..
Thống sứ cầm bút viết xuống dưới chỉ thị: “Yêu cầu Ngài Khâm sai đại thần Bắc Kỳ phải triển khai thực hiện đúng quy định của chính Phủ Pháp. Ngài chỉ thị cho Tổng Đốc, Công sứ Bắc Ninh, Bắc Giang và giới quân sự Bắc Kỳ thực hiện giảng hòa với Đề Thám, càng sớm càng tốt”. (Thống sứ Bắc Kỳ L. Bu lô sơ).
L. Boulloche gọi:
-Thư ký đâu.
Một nữ thư ký người Pháp tóc vàng xuất hiện:
-Dạ, ngài Thống sứ.
-Bản Chỉ thị của Chính phủ Pháp và của Toàn quyền Đông Dương, ta đã ghi vào đây rồi, gửi cho Khâm sai đại thần Bắc Kỳ và Công sứ Bắc Ninh. Gửi ngay, không được quên.
-Dạ, ngài yên tâm.
Lê Hoan đang ngồi trong phủ, bàn việc với Công sứ Bắc Ninh Ma hê, hai người vừa uống xong cốc rượu vang thì có tùy tùng vào báo:
-Dạ, bẩm ngài Khâm sai, bẩm Công sứ, có thư của Thống sứ Bắc Kỳ.
-Đưa ta xem.
Lê Hoan bóc thư ra thì trong có bản Chỉ thị của Chính phủ Pháp gửi Toàn quyền Đông Dương, lại có Chỉ thị của Toàn quyền Đông Dương gửi Thống sứ Bắc Kỳ, lại có chỉ thị của Thống sứ gửi Khâm sai đại thần Bắc Kỳ, Công sứ, Tổng đốc Bắc Ninh, Bắc Giang tìm cách thực hiện bằng được giảng hòa với Đề Thám để có hòa bình, để thực hiện chương trình khai thác thuộc địa ở vùng này và các vùng Thái Nguyên, Lạng Sơn, Quảng Ninh. Xem xong Lê Hoan đưa cho Công sứ:
-Ngài xem đi để thực hiện.
Khi Ma hê xem xong, hỏi Lê Hoan:
-Làm thế nào để lại liên hệ với Đề Thám đây?
Lê Hoan nói:
-Lại dùng cách như đã làm năm 1894 trong cuộc hòa hoãn lần thứ nhất thôi. Nhưng lần này không phải dùng đến tù binh Yên Thế nữa. Chỉ cần một tên lính khố xanh cầm cờ trắng đến đưa thư và nhận thư của Đề Thám. Quân Yên Thế đã quen rồi, thấy cờ trắng biết là đến giao thiệp, họ sẽ không bắn đâu.
Công sứ Ma hê nói:
-Ngài Khâm sai cứ làm như vậy đi.
Lê Hoan gọi:
-Người đâu.
-Dạ, ngài Khâm sai.
-Đem giấy mực ra đây.
-Dạ.
Có giấy mực Lê Hoan ngồi viết thư cho Đề Thám. Viết xong, Lê Hoan đưa cho Ma hê:
-Ngài đọc lại xem có cần bổ sung gì không?
Công sứ Ma hê đọc. Thư viết: “Kính gửi tướng quân Đề đốc Hoàng Hoa Thám. Chiến tranh xung đột giữa quân Pháp và quân Yên Thế của tướng quân ở Yên Thế Bắc Giang đã mấy chục năm, gây nhiều tổn thất nặng nề cho cả hai bên, cho nên quân Pháp muốn ngừng chiến giảng hòa để Yên Thế và Bắc Giang được hưởng hòa bình. Điều kiện giảng hòa và ngừng bắn là:
1.Nghĩa quân Yên Thế, Không được tấn công quân Pháp và quân triều đình ở Bắc Giang và ở các tỉnh khác.
2. Không được tấn công đường bộ, đường sắt và các phương tiện giao thông của Pháp và của triều đình.
3. Không được tấn công vào các cơ sở kinh tế của Pháp như hầm mỏ, nhà máy, trang trại của Pháp ở bất cứ đâu.
4. Phải nộp lại vũ khí cho Chính phủ Pháp bất cứ lúc nào.
5. Về quyền lợi của nghĩa quân Yên Thế:
-Ngài Đề Thám và nghĩa quân được quyền kinh doanh, phát triển kinh tế ở vùng Thượng Yên Thế.
-Vùng thượng Yên Thế danh nghĩa do chính quyền bảo hộ Pháp quản lý. Tuy nhiên quân Pháp, quân Triều đình không bao giờ được hành quân hoặc tấn công vào đó.
-Vùng Thượng Yên Thế được giao thông kinh tế và đi lại với các vùng khác, được giao lưu quan hệ bạn bè, anh em với người của các vùng khác trong toàn Đại Nam.
Trấn trị Bắc Ninh ngày 10 tháng 12 năm 1897
Đại diện Chính phủ Đông Dương:
Khâm sai đại thần Bắc Kỳ Lê Hoan, Công sứ Bắc Ninh Ma hê.
Đại diện nghĩa quân Yên Thế: Đề đốc tướng quân Hoàng Hoa Thám.
Ma hê đọc xong nói:
-Ngài viết như vậy là được.
Lê Hoan gọi:
-Người đâu.
-Dạ, ngài Khâm sai.
-Đưa văn bản này chép làm hai bản. Rõ chưa?
-Dạ, rõ.
Lê Hoan nói thêm:
-Ta phải viết thêm một bức thư nữa cho Đề Thám.
Lê Hoan viết xong đưa cho Ma hê. Ngài đọc lại đi.
Ma hê đọc lại. Thư viết: “Khâm sai đại thần Bắc Kỳ Lê Hoan kính gửi ngài Đề đốc Hoàng Hoa Thám. Chiến sự mãi làm hai bên thiệt hại và mệt mỏi. Nay người Pháp có ý ngừng bắn giảng hòa. Ta đã thảo ra bản Hiệp định đình chiến. Vì điều kiện cách trở khó khăn không hỏi ý kiến ngài được. Để đỡ tốn thời gian đi lại, ngài Đề đốc đọc văn bản này nếu đồng ý thì ký vào coi như văn bản chính thức, trên cơ sở đó, hai bên sẽ ngừng bắn lâu dài. Ký xong, ngài giữ một văn bản, gửi lại cho ta một văn bản làm bằng cớ mà thực hiện”. (Kính thư, Khâm sai đại thần Lê Hoan, Công sứ Bắc Ninh Ma hê).
Xong văn bản giấy tờ, Lê Hoan gọi:
-Người đâu.
-Dạ.
-Gọi một người lính khỏe mạnh lên đây.
-Dạ.
Người lính khố xanh khỏe mạnh lên, Lê Hoan cẩn thận căn dặn:
-Nhà ngươi đem gói công văn lên đồn Hữu Nhuế trao cho Đề Thám, để lại cho Đề Thám một bản, còn cầm một bản có chữ ký của Đề Thám về cho ta. Nhớ dùng một con ngựa tốt, một là cờ trắng, khi gần đến nơi thì cắm cờ trắng lên để họ biết là người đi đàm phán, họ sẽ không bắn. Xong công việc, nhà ngươi sẽ được trọng thưởng, trước hết cầm 5 lạng bạc này mà đi đường. Ta đợi nhà ngươi, gắng hoàn thành công vụ. Rõ chưa. Chúc thượng lộ bình an.
-Dạ, đa tạ ngài Khâm sai.
-Đa tạ ngài Công sứ.
Người lính đi ra và phi ngựa về phương Bắc. Lê Hoan ra tận cổng nhìn theo cho đến khi người ngựa khuất theo gió bụi mờ.
Ba ngày sau, người lính quay trở về, trao một văn bản có chữ ký của Đề Thám cho Lê Hoan. Vậy là quân Pháp và Đề Thám lại bước vào cuộc ngừng bắn, giảng hòa lần 2 bắt đầu từ tháng 12 năm 1897. Tin tức này đã tràn ngập trên trang nhất các báo ở Pháp và ở Đông Dương, gây xôn xao dư luận và thanh thế cho phong trào Yên Thế.
VII.
Trong đồn Phồn Xương, một sáng tháng 5 năm 1903, Đề Thám sau khi ăn sáng xong đang ngồi uống trà với Đề đốc Phu nhân Đặng Thị Nhu, với Cả Trọng, cả Dinh và quân sư Hoàng Điển Ân trong căn phòng duy nhất được xây gạch, lợp ngói khang trang dùng để tiếp khách. Phòng đặt những bàn lớn màu gụ khảm trai, đặt những ghế tràng kỹ cũng màu gụ hoa văn họa tiết. Đề Thám uống xong một cốc trà Bản Ven rồi nói:
-Theo thám mã của ta ở quán rượu nam sông Thương báo về, trưa nay Phồn Xương của ta có khách quý tới thăm.
Phu nhân Đặng Thị Nhu hỏi:
-Ai vậy tướng công?
-Là Giải nguyên Phan Bội Châu, hiệu là Phan Sào Nam.
Phu nhân hỏi tiếp:
-Phan Bội Châu là người thế nào? Tướng công nói qua về ngài ấy đi.
Hoàng Hoa Thám uống thêm chén trà rồi đáp:
-Phan Bội Châu là một danh sĩ, một nhà yêu nước nổi tiếng, hiện ngài đang tìm con đường cứu nước. Ngài sinh năm 1867 tại làng Đan Nhiễm, xã Xuân Hòa, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Năm Canh Tý 1900, Phan Bội Châu đỗ đầu trong cuộc thi hương Nghệ An nên gọi là Giải nguyên. Phan Bội Châu có lòng yêu nước. Năm 17 tuổi đã viết bài hịch “Bình Tây thu Bắc” đem dán ở cây đa đầu làng để hưởng ứng phong trào chống Pháp. Năm 1885, khi chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi ban ra, Phan Bội Châu đã cùng bạn là Trần Văn Lương lập ra đội sĩ tử Cần Vương để hưởng ứng nhưng bị Pháp khủng bố. Sau khi đỗ giải nguyên, Phan Bội Châu hình thành con đường cứu nước mới. Ở nước ta, sau khi mất nước, các nhà yêu nước vắt óc ra tìm đường con đường cứu nước. Ở nước ta, hiện nay có ba xu hướng cứu nước, một là khởi nghĩa vũ trang, dựa vào sức mình để giải phong đất nước, thứ hai là con đường của Phan Bội Châu, ngài cũng bạo động cứu nước nhưng muốn dựa vào Nhật Bản, nhờ Nhật Bản giúp Việt Nam đánh Pháp. Ngài chuẩn bị thành lập Hội Duy Tân ở Quảng Nam vào năm sau, năm 1904, Minh chủ là Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, một người thuộc dòng tộc nhà Nguyễn. Nghe nói Phan Bội Châu đang vận động thanh niên yêu nước sang Nhật Bản học tập, phong trào này gọi là phong trào Đông Du. Có lẽ sau chuyến thăm Yên Thế, Phan Bội Châu sẽ xuất dương sang Nhật Bản, tìm con đường cứu nước.
Cả Trọng hỏi:
-Thế còn xu hướng thứ ba là gì? Ai là người khởi xướng thưa cha?
Đề Thám nhâm nhi chén trà rồi đáp:
Xu hướng thứ ba là xu hướng ôn hòa, còn gọi là xu hướng “Pháp-Việt đề huề” của nhà chí sĩ yêu nước Phan Chu Trinh, biệt danh là Phan Tây Hồ. Ngài Phan Chu Trinh sinh năm 1872 ở làng Tây Lộc, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Ngài là người học giỏi. Năm Canh Tý 1900, Phan Chu Trinh đỗ cử nhân, năm 1901 đỗ Phó bảng. Ngài cũng đang khổ công tìm con đường cứu nước. Ngài cho rằng dân trí ta, dân khí ta thấp nên chưa thể nói đến tự mình độc lập, cho nên cần thuyết phục người Pháp phải ra sức nâng cao dân trí, nâng cao đời sống kinh tế cho người Việt Nam. Khi trình độ dân trí, dân khí đã cao thì mới nói đến chuyện giành độc lập và giữ được độc lập. Trình độ dân trí, dân khí thấp, cuộc sống nghèo khổ, có giành được độc lập cũng mất vào tay kẻ khác. Cho nên, ngài kịch liệt phản đối dùng biện pháp vũ lực vũ trang chống Pháp. Cùng mục đích chống Pháp giành độc lập tự do nhưng Phan Chu Trinh và Phan Bội Châu đối lập quan điểm với nhau. Phan Chu Trinh nới với Phạn Bội Châu: Bất bạo động, bạo động tắc tử, bất vọng ngoại, vọng ngoại dã ngu. Tuy hai ngài dù còn trẻ tuổi nhưng các quan điểm có ảnh hưởng lớn đến lòng yêu nước hiện nay, bách tính cả nước đều mến mộ và chịu ảnh hưởng tư tưởng hai ngài. Ở Hà Nội, do ảnh hưởng tư tưởng các ngài ấy mà ngài Lương Văn Can đã mở trường Đông Kinh Nghĩa Thục chuyên giảng dạy sách vở thơ văn yêu nước của Phan Bội Châu và của những chí sĩ yêu nước khác. Ta đã sai người liên hệ với Lương Văn Can xem Yên Thế có thể giúp được gì cho Trường Đông Kinh Nghĩa Thục không, ví dụ như về tài chính nhưng chưa thấy hồi âm. Ngài Phan Chu Trinh cũng đang có ý tới thăm Yên Thế của ta đấy.
Đề đốc phu nhân Đặng Thị Nhu nói:
-Trăm con đường chết mới tìm được một con đường sống. Ngài Phan Sào Nam thì sắp tới, thế còn ngài Phan Tây Hồ thì bao giờ tới?
Hoàng Hoa Thám đáp:
-Ngài Phan Chu Trinh hẹn sẽ thăm Yên Thế vào năm 1906.
Rồi gọi:
-Lính đâu.
-Dạ.
-Thu xếp một căn phòng đầy đủ tiện nghi cho ngài Phan Bội Châu nghỉ tạm mấy ngày.
-Dạ.
Vừa khi đó thì có lính vào báo:
-Dạ bẩm chủ tướng, người của ta ở quán rượu nam sông Thương đã đem khách về.
Đề Thám nói:
-Vậy để ta ra ngoài đón.
Hoàng Hoa Thám và mọi người đi ra phía cổng chính của đồn Phồn Xương, thấy người của quán rượu nam sông Thương là nơi liên lạc với bên ngoài của Yên Thế đi với hai người, một người khoảng 36 tuổi, dáng rạng rỡ của một văn thần khoa bảng, đầu đội khăn thếp đen, áo lụa đen, quần trắng, đi giầy vải đen. Một người mới khoảng 21 tuổi, mặc âu phục, quần ka ki nâu, áo sơ vin trắng, thắt cà vạt đỏ. Ba người đã đi qua cổng vào bên trong chiến lũy thành ngoài. Hoàng Hoa Thám vội tiến lại gần chắp tay:
-Xin chào đại nhân.
-Xin chào công tử.
Người thám mã dẫn đường vội nói với hai người cùng đi:
-Đây là Đề đốc tướng quân Hoàng Hoa Thám.
Hai người khách vội vòng tay:
-Xin kính chào Đề đốc tướng quân.
Người thám mã nói với Đề Thám:
-Đây là tiên sinh Phan Bội Châu.
Hai người mừng rỡ lại cúi đầu chào nhau lần nữa. Hoàng Hoa Thám dẫn Phan Bội Châu và người trẻ tuổi về nhà khách. Đến nơi, mọi người chia ghế chủ khách ngồi. Đề Thám không cần gọi thì người lính cận vệ đã đem trà lên rót vào các chén. Hoàng Hoa Thám nói:
-Xin mời tiên sinh.
-Xin mời công tử.
-Dạ, kính mời Đề đốc tướng quân.
Xong một lượt trà, Phan Bội Châu nói:
-Nghe đại danh của tướng quân đã lâu, nay mới được gặp, nghe vùng Yên Thế chấn động nước Pháp và Đông Dương nay mới được đặt chân tới, hân hạnh, hân hạnh.
Đề Thám nói:
-Ở nơi rừng núi xa xôi nay lão phu cũng nghe danh tiên sinh từ lâu rồi. Tiên sinh quyết chí tìm con đường cứu nước mới, bái phục, bái phục.
Phan Bội Châu đáp:
-Không dám, không dám.
Và chỉ vào người thanh niên trẻ tuổi:
-Xin giới thiệu với Đề đốc tướng quân, đây cũng coi như học trò của tại hạ, quý danh là Nguyễn Khắc Nhu, quê quán ở làng Song Khê, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang, gia đình có truyền thống Nho học và anh Nhu đây cũng đang theo đòi nghiên bút. Anh rất tích cực ủng hộ và đi theo con đường bạo động cứu nước của tại hạ. Nếu thành lập Hội Duy Tân thì anh sẽ là thành viên đầu tiên.
Đề Thám gật đầu nhìn Nguyễn Khắc Nhu, thấy từ trong đôi mắt sáng thông minh của người thanh niên toát ra một tinh thần khảng khái. Đề Thám nói:
-Quý hóa quá, vậy công tử là đồng hương với lão phu rồi, rất hân hạnh được đón tiếp.
Nguyễn Khắc Nhu vội khoanh tay cúi mình:
-Dạ, đa tạ Đề đốc tướng quân, hậu sinh thật là vinh hạnh.
-Tiên sinh và công tử đi đường xa mệt, cũng đã đến bữa cơm trưa, xin kính mời tiên sinh và công tử dùng chén rượu nhạt rồi nghỉ ngơi, chiều ta đàm đạo tiếp. Người đâu.
-Dạ.
Đi mời bà Ba, Cả Trọng, Cả Dinh, Cả Tuyển, Thống Luận, Lý Bảo, Hoàng Điển Ân đến dùng rượu với tiên sinh Phan Bội Châu và công tử cho vui.
-Dạ, tuân lệnh tướng quân.
Trong bữa cơm trưa, Phan Bội Châu, Nguyễn Khắc Nhu được làm quen với Đề đốc Phu nhân Đặng Thị Nhu, một nữ tướng nổi tiếng của nghĩa quân Yên Thế mà Phan Bội Châu đã nghe danh, Thống Luận, Lý Bảo, Hoàng Điển Ân, Cả Dinh, Cả Trọng và những người chủ chốt trong gia đình Đề Thám. Phan Bội Châu nói:
-Xin kính chào Đề đốc phu nhân và các tướng quân. Phu nhân nổi danh trong chỉ huy đánh Pháp. Tại hạ nghe tiếng từ lâu, nay mới được gặp, hân hạnh, hân hạnh.
Đề đốc phu nhân đáp:
-Đa tạ, đa tạ, tinh thần yêu nước và tìm đường cứu nước của Phan tiên sinh đang được cả nước và chúng tôi ngưỡng mộ, thật ngưỡng mộ.
Phan Bội Châu đáp:
-Không dám, không dám.
Chén rượu hội ngộ giữa các anh hùng thật là vui vẻ.
Chiều sang, sau một lượt trà, Phan Bội Châu nói:
-Tại hạ muốn đi tham quan phong cảnh của đồn Phồn Xương, có được không tướng quân?
Đề Thám nói:
-Được Phan tiên sinh hạ cố tới nơi xa xôi hẻo lánh này thật là vinh hạnh cho lão phu. Bây giờ lão phu mời tiên sinh và công tử đi thăm phong cảnh Phồn Xương.
-Đa tạ tướng quân.
Theo chân Đề Thám, Phan Bội Châu và Nguyễn Khắc Nhu đi thăm toàn bộ đồn Phồn Xương, còn có thể gọi là thành Phồn Xương thì đúng hơn. Đề Thám dẫn hai người lên đỉnh của trung tâm thành nội, nơi có cột cờ trên đỉnh quả đồi nên phóng tầm mắt nhìn ra được bốn hướng của Phồn Xương. Hoàng Hoa Thám nói với Phan Bội Châu và Nguyễn Khắc Nhu:
-Thưa Phan tiên sinh và công tử, đồn Phồn Xương thuộc xã Hữu Xương, còn gọi là Cầu Gồ, Yên Thế, tỉnh Bắc Giang. Đồn được xây dựng năm 1894-1895. Đồn cách trấn trị tỉnh Bắc Giang, tức là Phủ Lạng Thương 30 km về phía tây. Đồn lấy đồi Phồn Xương làm trung tâm. Đồn rộng khoảng 3.600m2, chạy theo hướng bắc-nam hình chữ nhật. Hai vòng thành ngoài từ sườn đồi phía đông chạy ôm lấy chân đồi lên đỉnh đồi phía bắc, hình thành vòng cung bảo vệ cho thành nội. Thành nội dài 140m, cao 4m, dầy 0,8m. Dãy tường thành nội nằm trên đỉnh đồi cũng là hình chữ nhật. Mặt đông của thành nội dài 71m, mặt bắc dài 85m, chân thành dầy 2m, cao 3m, mặt thành dầy 1m. Chung quanh thành ngoại và nội có lỗ châu mai ở tư thế đứng hay quỳ đều bắn được, Mặt ngoài của thành nội dốc thoai thoải như mái nhà. Khoảng cách giữa thành nội và thành ngoài rộng là 20m, hẹp là 10m. Đồn Phồn Xương có 5 cổng, mỗi cổng trước mặt là tường chắn kiên cố, lối ra khỏi cổng là rẽ hai bên. Cổng có cửa gỗ lim dầy, chắc chắn. Giữa hai thành nội và ngoại là hệ thống giao thông hào để binh sĩ vận động chiến đấu. Giao thông hào còn nối với cổng sau ra những cánh rừng để có thể rút lui khi cần thiết. Ngoài đồn chính thì chung quanh còn có các đồn phụ như đồn An Đông, đồn Trái Cọ, Hồ Lẫy, Cả Gan, Hà Triều Nguyệt bao quanh trên địa bàn hai xã Phồn Xương và Tân Hiệp. Trong vòng thành nội với không gian rộng là nhà khách, nhà kho, nhà ở, nhà bếp, toàn là nhà gianh, vách trát bùn đất trộn rơm bám vào xương là nan tre. Chỉ có căn nhà tiếp khách là xây bằng gạch lợp ngói khang trang. Từ bắc đồn xuống phía nam là nhà ở của gia đình Đề Thám gồm 5 gian chạy theo hướng tây-đông. Nhà thứ hai là hình vuông, bốn mặt để trống là nhà họp các tướng lĩnh, thiết đãi khách khứa, tiệc tùng. Hai dãy nhà sát cạnh tây-đông của thành là nhà ở của nghĩa quân. Tiếp đó tám gian nhà là bếp và chuồng ngựa sát cạnh thành phía nam.
Phan Bội Châu và Nguyễn Khắc Nhu nhìn bao quát không gian của đồn Phồn Xương. Chỗ bãi sân rộng có cột cờ với lá cờ màu vàng tung bay theo gió trên đỉnh cột. Đối diện với đồn Phồn Xương là đền thờ để nghĩa quân hành lễ ngày rằm, ngày tết. Toàn bộ đồn chìm dưới những tán lá của cây bạch đàn, của mít, của những rừng vải xanh mát. Nắng mùa hạ chan hòa, trời tháng năm trong vắt. Xa xa, những dãy núi mờ mờ trong sương trắng. Những cánh đồng lúa vàng rộng mênh mông trĩu bông đã đến mùa thu hoạch. Đó là những cánh đồng do nghĩa quân tự sản xuất để có lương thực cho mình. Bây giờ Phan Bội Châu mới rõ Phồn Xương không chỉ là pháo đài chiến đấu mà còn được gọi là đồn điền lúa gạo.
Sáng hôm sau, ăn sáng và uống trà nước xong, Đề Thám dẫn Phan Bội Châu và Nguyễn Khắc Nhu đi tham quan thao trường, nơi nghĩa quân Yên Thế đang ngày đêm luyện tập dù đã hoà hoãn với Pháp, ngừng bắn đã được 7 năm nhưng vẫn phải sẵn sàng chiến đấu nếu Pháp bội ước tấn công. Trên thao trường tập bắn, Phan Bội Châu và Nguyễn Khắc Nhu thấy nghĩa quân phần lớn đã sử dụng súng trường bắn nhanh, rất ít súng kíp và súng hỏa mai. Phan Bội Châu hỏi:
-Thưa tướng quân, súng đạn ta tự chế tạo hay mua ở đâu?
Đề Thám đáp:
-Thường là mua ở Trung Quốc, ở hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây. Bây giờ nghề buôn bán vũ khí cũng nhiều, súng đạn không phải là hiếm.
Đề Thám dẫn hai người đến bãi thao trường bên cạnh, nơi đó có khoảng 200 nghĩa quân quân phục màu nâu, thắt đai đen, tay mỗi người cầm một cây côn bằng sắt, to như đoạn trúc nhỏ, dài 1m, có chiếc dài tới 2m đang luyện võ. Khi lại gần thì Phan Bội Châu ngạc nhiên vì trên tay mỗi nghĩa quân là những ống sắt có dùi lỗ như lỗ sáo. Phan Bội Châu hỏi:
-Thưa tướng quân, đây là võ gì mà côn sắt lại rỗng và có lỗ như ống sáo?
Hoàng Hoa Thám cười đáp:
-Thưa Phan Sào Nam tiên sinh, các thủ lĩnh Yên Thế và nghĩa quân phần lớn là người trong giới giang hồ võ lâm. Quân Pháp vì sợ dân ta học võ và biết võ nên chúng lùng bắt và tù đày họ. Họ đã trốn ra và tìm đứng chiến đấu dưới lá cờ nông dân Yên Thế, đấu tranh vì độc lập tự do và ruộng đất. Cho nên nghĩa quân, tướng lĩnh ngoài tập bắn súng, tập võ gươm giáo, còn luyện môn võ gia truyền hàng trăm năm nay của Yên Thế là bài võ “Thiết địch thần phong”, tức là những cây sáo này được đúc bằng sắt, có chiếc dài 1m, có chiếc 2m. Sáo sắt này được sử dụng như một loại nhạc cụ. Người võ sĩ dùng khí lực, vận công thổi vào thì tiếng sao dồn dập như bão táp mưa sa, như sóng dội thác gào. Lúc đổi nhịp thì tiếng sáo như gió thổi vi vu, như lá khua xào xạc, như nước chảy êm ái mơ hồ. Khi xung trận, chiếc sáo thành chiếc côn, lại như dao kiếm. Khi giao đấu thì “Thiết địch thần phong" có đầy đủ 25 chiêu thức và 13 phép biến hóa được gọi là “Thập tam kiếm pháp” vô cùng huyền diệu.
Phan Bội Châu nói:
-Lại huyền diệu như vậy sao? Thật xứng danh Yên Thế là quê hương của “Hùm thiêng Yên Thế” khiến quân Pháp kinh hồn bạt vía, bách tính cả nước ngưỡng mộ, kính phục. Ngưỡng mộ, ngưỡng mộ.
Đề Thám nói:
-Không dám, không dám, tiên sinh quá khen.
Rồi Đề Thám gọi người chỉ huy quân “Thiết địch thần phong”.
-Cả Dinh đâu.
Cả Dinh bước lại gần ba người.
-Con chào nghĩa phụ, chào hai đại nhân.
Đề Thám nói với Phan Bội Châu:
-Đây là Cả Dinh, nghĩa tử của lão Phu, còn con đã biết rồi, đây là Phan Sào Nam tiên sinh, nhà yêu nước nổi tiếng, từ Nghệ An ra thăm Yên Thế ta. Còn đây là ngài Nguyễn Khắc Nhu, học trò của Phan tiên sinh. Con hãy cho một võ sĩ khá nhất thổi bài: “Bóng trăng Phồn Xương” cho tiên sinh và công tử nghe.
Cả Dinh đáp:
-Dạ, con vâng lời nghĩa phụ.
Cả Dinh quay lại cho nghĩa binh ngồi xuống nghỉ và hỏi:
-Ai có thể thổi được bài “Ánh trăng Phồn Xương” cho chủ tướng và Phan tiên sinh nghe không?
Cả 200 cánh tay giơ lên, Cả Dinh lúng túng không biết chọn ai. Người đội trưởng đứng lên nói:
-Thưa thủ lĩnh, nếu ngài bằng lòng, tại hạ xin thổi.
Cả Dinh nói:
-Các hạ thổi cho tốt vào.
-Đa tạ, xin tuân lệnh thủ lĩnh.
Người đó bước ra cúi chào Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu và Nguyễn Khắc Nhu, đặt cây sáo sắt dài 2m lên môi và bắt đầu vận công thổi, 10 ngón tay bắt đầu nâng lên hạ xuống ở các lỗ sáo. Tiếng sáo bắt đầu vang lên cao vút, nghe như tiếng chuông cực lớn của chùa vang lên, sau đó như tiếng khánh đá bạc trầm xuống, rồi âm thanh bỗng dồn dập như bão táp mưa sa, vang lên như sấm sét, như sóng biển nức nở gào thét tuôn trào, lại như nước từ thác cao dội xuống căm hờn tức tửi, lại như có tiếng cồng chiêng, tiếng trống thôi thúc, tiếng quân reo ngựa hí, tiếng gươm dao chạm nhau dữ dội. Thốt nhiên âm thanh chùng xuống như mưa gió mây bay, vi vu trầm lắng như lá rừng xào xạc, như tiếng dân ca muôn thuở của mọi làng quê, như tiếng ru của mẹ từ nghìn xưa. Tiếng sáo như hội tụ đủ âm thanh của các nhạc cụ dân gian, có dư âm của đàn bầu buồn thảm, của đàn tì bà nức nở, có tiếng réo rắt tơ lòng của tiếng nhị, có tiếng thôi thúc của trống đồng, của cồng chiêng, của trống con, trống lớn, của phách nhịp, của tù và và tiếng mõ reo. "Thiết địch thần phong" thể hiện hết các giai điệu của “Mãng xà truy lão hổ”, “Tống điểu thượng lâm”, “Dạ xoa thăm hải”. Tiếng sáo còn mang tâm sự buồn mênh mang của người anh hùng trong thời loạn lạc, nước mất nhà tan. Phan Bội Châu mơ màng như đang ở trong một thế giới hư hư ảo ảo.
Tiếng sao vừa dứt, Phan Bội Châu giật mình thoát khỏi hư ảo, thoát khỏi giấc mơ, trở lại hiện thực, liền tiến lại gần viên đội vừa thổi sáo:
-Đa tạ, đa tạ đã cho nghe bài “Ánh trăng Phồn Xương” tuyệt vời, bái phục, bái phục.
Người đội trưởng chắp tay:
-Không dám, không dám. Đa tạ, đa tạ tiên sinh.
Hoàng Hoa Thám nói:
-Khá lắm, khắ lắm, nghe tiếng sáo biết được nội lực thâm hậu của các hạ. Các hạ tên gì?
-Dạ bẩm chủ tướng, thuộc hạ tên Ban ạ.
-Khá lắm, ta phong các hạ chức Lãnh binh.
Người đội chắp tay cúi đầu:
-Đa tạ chủ tướng.
Hoàng Hoa Thám nói với Cả Dinh:
-Nghĩa tử chọn hai người giao đấu bằng côn sáo để cho tiên sinh Phan Sào Nam và công tử thưởng thức võ nghệ tuyệt diệu của “Thiết địch thần phong”.
-Con vâng lời nghĩa phụ.
Cả Dinh gọi:
-Binh sĩ Đán.
-Dạ.
-Binh sĩ Dũng.
-Dạ.
Hai binh sĩ hãy dùng côn sắt giao đấu, nhớ không được giết chết hoặc làm đồng đội bị thương. Đánh sao cho đẹp mắt là được.
-Tuân lệnh thủ lĩnh.
Hai người bước ra bãi rộng, cúi chào Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu và Nguyễn Khắc Nhu, một người dùng cây sáo 1m, một người dùng cây sáo 2m. Hai người lùi xa nhau, tay cầm ngang ống sáo, xuống tấn, bất ngờ họ cùng thét lên và lao vào nhau giao đấu. Bụi cuốn tung mù, trời đất như tối tăm, mù mịt. Hai người xoay tròn nhanh như chong chóng đến mức không trông thấy rõ hình thù của họ, chỉ thấy gió cuốn ào ào, cát dưới mặt đất bị cuốn tung lên như bão cát. Hai cây sáo chạm nhau tóe lửa, kêu lên như tiếng sét. Cả hai đã dùng 15 chiêu thức của võ sáo là “Thượng bộ hợp địch” cho đến “Hợp địch quy quyền” biến ảo khôn lường trong công và thủ. Công thì mạnh như bão gió, thủ thì kín như tường thành, trong đó đã sử dụng “Thập tam kiếm pháp”, 13 phép dùng đoản côn như dùng kiếm. Hai người đã dùng phép “Tiễn”, cả người và côn bay lên trời và lao xuống tấn công nhanh như chớp, lại dùng phép “Trừu”, dùng côn bổ xuống, đâm chém vào mạnh như núi đổ đá lao, lại biến hóa thành phép “Đồi”, đưa côn lên cắt cổ đối phương, khi đó ngọn côn nằm ngang chém vào mạnh như tên đạn.
Kết thúc cuộc đấu, hai võ sĩ trên không trung nhảy ra xa đối thủ và vẫn ở thế xuống tấn phòng thủ đề phòng đối phương tấn công bất ngờ. Sau đó hai người thu côn, tiến lại chào Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu và Nguyễn Khắc Nhu. Phan Bội Châu nói:
-Thật là kỳ diệu, kỳ diệu.
Hai người lính đáp:
-Đa tạ, đa tạ Phan đại nhân.
Hoàng Hoa Thám nói:
-Võ giỏi lắm. Đúng là “Thiết địch thần phong”. Nay phong hai người lên chức Đội.
-Đa tạ chủ tướng.
-Đa tạ chủ tướng.
Trên đường dẫn hai người ra tham quan đồn điền Phồn Xương, Hoàng Hoa Thám nói với Phan Bội Châu và Nguyễn Khắc Nhu:
-Ngoài võ sáo “Thiết địch thần phong”, người Yên Thế của lão phu còn giỏi nhiều môn võ nghệ khác như "Ngọc nữ xuyên thoa", "Hồ điệp song phi” mà vũ khí là cây trâm cài đầu của phụ nữ, món võ này dùng cho nữ giới kỳ bí, hữu dụng, hiệu quả chiến đấu cao. Vũ khí còn có “Thiết phiễn” là dùng cây quạt sắt che mưa, quạt mát nhưng khi cần có thể đâm, chém như gươm, rất thích hợp cho giới võ lâm chu du thiên hạ mang theo bên mình thuận tiện. Xưa vợ ba Cai Vàng còn có môn võ dùng hai cây đũa cả nấu và xới cơm lợi hại như hai thanh gươm, sau truyền cho nhà sư ở chùa Lèo, Yên Thế, nhà sư đã truyền dạy cho bà Ba Cẩn nhà tôi. Bà ấy rất tinh thông món võ này, từng dùng đũa cả đánh cho bọn lính Âu-Phi, cũng là những võ sĩ chạy dài khi chúng dám trêu ghẹo chị em Yên Thế.
Phan Bội Châu nói:
-Bái phục, bái phục, thật là độc nhất vô nhị ở Yên Thế.
-Ta đi tham quan bên ngoài đồn Phồn Xương, xin mời Phan tiên sinh và công tử.
Ba người rời thành nội, đi vào con đường giữa thành nội và thành ngoại. Hai thành là những tường đất chình, dầy cao lừng lững. Khoảng đất trống giữa hai thành là hào giao thông chằng chịt. Vòng thành ngoài uốn vòng cung ôm lấy thành nội đầy lỗ châu mai cao thấp. Hai người đi ra cổng chính của thành ngoài nhưng vẫn không nhìn thấy bên ngoài vì bị bức tường bên ngoài dầy và cao chắn. Muốn ra ngoài phải rẽ trái hoặc rẽ phải. Hai bên cổng có lính gác. Hai người lính bồng súng chào Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu và Nguyễn Khắc Nhu. Phan Bội Châu và Nguyễn Khắc Nhu chắp tay đáp lễ. Ra khỏi cổng, trước mắt Phan Bội Châu và Nguyễn Khắc Nhu, trời đất không gian như được mở rộng, bạt ngàn bao la một miền trung du trù phú xanh tươi với những đồi chè Bản Ven, với làng xóm quanh co ẩn dưới những vườn cam, vườn bưởi, na, đặc biệt là vườn vải. Ở Yên Thế, cam Bố Hạ nổi tiếng khắp nơi. Phong cảnh còn nên thơ hơn khi giữa huyện là dòng sông Sỏi lững lờ trôi, hai bên là những ruộng lúa bạt ngàn đang mùa thu hoạch. Hoàng Hoa Thám nói với Phan Bội Châu và Nguyễn Khắc Nhu:
-Kia là những nghĩa quân đang gặt lúa do họ gieo trồng làm lương thực, còn nhưng người dân cũng đang thu hoạch cho gia đình của họ. Cuộc chiến đấu của nghĩa quân Yên Thế không chỉ vì tự do độc lập mà còn để bảo vệ ruộng đất khỏi vào tay bọn địa chủ Pháp, bảo vệ nông dân Yên Thế khỏi sưu cao thuế nặng do thực dân Pháp đặt ra. Cho nên, người nông dân thuộc vùng kiểm soát của nghĩa quân có cuộc sống tương đối no đủ, bình đẳng, nông nghiệp, chăn nuôi, thủ công nghiệp phát triển. Vì thế, họ ra sức bảo vệ, giúp đỡ và gia nhập nghĩa quân, không quản hy sinh, tốn kém.
Ngừng một lát, Hoàng Hoa Thám nói tiếp:
-Trước đây, khu vực Yên Thế là hoang hóa, dân cư các nơi do nghèo đói, do chiến tranh, do trốn tránh sự áp bức bóc lột của chính quyền mà lưu lạc lên đây sinh cơ lập nghiệp, cũng là nơi hội tụ của các anh hùng hảo hán, cho nên người dân ở đây coi trọng tín nghĩa, trọng nghĩa kinh tài. Ngoài người Kinh, Yên Thế có đến bảy, tám dân tộc thiểu số nhưng coi nhau như anh em một nhà.
Phan Bội Châu nói:
-Đúng là “Tứ hải giao huynh đệ”.
Hoàng Hoa Thám nói:
-Đúng như Phan tiên sinh nói. Về địa lý, Yên Thế đông giáp Hữu Lũng của Lạng Sơn, đông-nam giáp Lạng Giang mà ranh giới giữa hai huyện là con sông Thương, phía nam và tây nam giáp Tân Yên, tây-tây bắc và phía bắc giáp Thái Nguyên. Theo tay chỉ của Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu và Nguyễn Khắc Nhu nhìn xa xa. Xa mờ là núi Cai Kinh, rồi núi Bái Sơn vươn lên bầu trời mùa hạ chan hòa ánh nắng, phảng phất màn sương. Sông Sỏi, một nhánh nhỏ từ đầu nguồn sông Thương chia đôi Yên Thế, lững lờ đưa nước về xuôi. Miền trung du Yên Thế thật là một bức tranh thiên nhiên kỳ vĩ như xứ Nghệ Nam Đàn của ông. Con người ở đây suốt 30 năm chiến tranh chống Pháp vẫn kiên cường bất khuất, sẵn sàng đương đầu với những tai họa mà quân xâm lăng ngoại quốc đang rình rập trút xuống bất cứ lúc nào.
Chiều xuống dần, mặt trời đang ngả về tây, cả vùng Yên Thế vàng rực và tím dần trong hoàng hôn. Thôn dã thanh bình, nhộn nhịp, tiếng xe bò lăn lóc cóc chở lúa về thôn, người đi phiên chợ chiều nhộn nhịp bước chân với những tà áo tứ thân bay trước gió. Xa xa có tiếng chó sủa, tiêng gà kêu, tiếng chim hót tạo ra khúc nhạc làng quê yên vui. Vài con diều bay lơ lững trên không trung, tiếng sáo vi vút tỏa khắp không gian như tiếng “Địch thần phong” với bài “Ánh trăng Phồn Xương” du dương, huyền ảo, đa tình. Chợt thấy một ngôi đền. Phan Bội Châu hỏi:
-Thưa tướng quân, kia là đền thờ ai đấy ạ.
Hoàng Hoa Thám đáp:
-Đó là đền Thề, nơi thờ các anh hùng nghĩa sĩ Yên Thế hy sinh trong những trận đánh giặc Pháp, cũng là nơi mỗi lần ra trận, lão phu và nghĩa quân làm lễ tế cờ ở đây.
-Tại hạ muốn vào thắp nén hương dâng lên các anh hùng nghĩa sĩ, được không, thưa tướng quân?
-Được mà, chúng ta cùng vào.
Cũng như bao ngôi đền khác của Đại Nam, đền Thề xây gạch, lợp ngói, bốn góc mái của chái có những đầu đao hình rồng nhô lên trời. Trên đỉnh nóc đền có hai con rồng dài chầu mặt nguyệt ở chính giữa. Đền có ba gian tiền ngang thông với gian hậu nằm dọc phía sau, bài vị câu đối sơn son thếp vàng lóng lánh, lư hương đồng vàng, những bát hương sứ trắng có rồng cuộn màu xanh. Ông từ giữ đền vội ra hành lễ:
-Chào Đề đốc tướng quân, chào hai đại nhân.
Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Nguyễn Khắc Nhu đáp lễ. Hoàng Hoa Thám nói:
-Đây là Phan Sào Nam tiên sinh từ Nghệ An ra, tiên sinh muốn thắp hương dâng lên nghĩa sĩ Yên Thế chúng ta.
-Đa tạ, đa tạ ngài, đa tạ tướng quân.
Người thủ từ đốt hương đưa cho Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu và Nguyễn Khắc Nhu. Phan Bội Châu đặt lên bàn thờ 5 lạng bạc, cùng Hoàng Hoa Thám và Nguyễn Khắc Nhu cầm hương cúi đầu hành lễ, khấn vái rồi cắm hương vào các bát hương. Xong, ba người cúi đầu chào cụ thủ từ rồi đi về Phồn Xương. Ngày mai, Phan Bội Châu đã cáo biệt nên tối hôm đó Hoàng Hoa Thám với toàn thể gia đình và các tướng lĩnh Yên Thế đến dự tiệc. Phan Bội Châu trông thấy Đề đốc Phu nhân đem theo một bé gái mới khoảng 4 tuổi. Đứa bé bụ bẫm xinh đẹp chạy lon ton quanh phòng. Phan Bội Châu hỏi:
-Thưa Đề đốc phu nhân, đây là cháu thứ mấy của Đề đốc phu nhân với tướng quân ạ.
-Dạ, thưa Phan tiên sinh, nếu chưa tính con của chị cả, chị hai thì đây là đứa thứ nhất ạ. Cháu sinh năm 1901, tức nay đã 3 tuổi. Cháu tên là Hoàng Thị Thế ạ.
-Cháu ngoan quá. Chúc cháu hay ăn chóng nhớn, lớn lên giỏi giang như Đề đốc phu nhân.
-Đa tạ Phan tiên sinh. Tiên sinh ở lại Yên Thế chơi vài ngày nữa.
-Đa tạ Đề đốc phu nhân, công việc chuẩn bị lập Hội Duy Tân bận quá, rất tiếc là tại hạ chưa được xem Đề đốc Phu nhân biểu diễn bài võ “Ngọc nữ xuyên thoa”, “Hồ điệp song phi". Tiếc quá, thôi đành để dịp khác vậy.
-Đa tạ Phan tiên sinh, Yên Thế mong lại có dịp được đón Phan tiên sinh.
Đêm đó, mãi canh 2 tiệc tùng mới tàn. Khi còn lại Đề Thám, Phan Bội Châu và Nguyễn Khắc Nhu ngồi uống trà đàm đạo, Đề Thám hỏi:
-Công việc lập Hội Duy Tân có thuận lợi không, thưa Phan tiên sinh?
-Thưa tướng quân, lần này tại hạ về chuẩn bị tiếp, sang năm sẽ lập Hội, sau đó tại hạ sẽ sang Nhật Bản một chuyến, vì phong trào Đông Du do chúng tôi phát động, đến nay đã vận động được 200 thanh niên yêu nước qua Nhật học tập để về cứu nước rồi.
-Thứ hai, chiến dịch này vừa bao vây vừa tấn công, tấn công tiêu diệt kết hợp với nhích dần từng bước để bao vây. Muốn vậy phải đào chiến hào mà tiến, tránh bớt thương vong, cho đến khi chiến hào vào tận Phồn Xương, Hố Chuối, Hố Hom như chiếc dây thòng lọng thắt chặt quân Yên Thế.
-Bao vây như vậy sẽ cắt đứt mối liên hệ giữa quân khởi nghĩa với dân chúng, lâu dần sẽ thiếu thốn lương thực, đạn dược, nhân lực, cuối cùng kiệt sức mà bị tiêu diệt.
-Thứ nữa, Nghĩa quân Yên Thế còn có căn cứ ở Thái Nguyên, Tam Đảo, Vĩnh Yên, Phúc Yên. Các lần trước khi quân Yên Thế nguy nan thì lại về các căn cứ đó, thoát khỏi sự truy kích của quân ta. Lần này ta yêu cầu cho 1 vạn quân tấn công các căn cứ trên, trên thực tế là bao vây Yên Thế trên diện rộng, làm cho Quân Yên Thế không có nơi tẩu thoát.
-Về Tổng chỉ huy các lực lượng tấn công Yên Thế, ta chỉ định Đại tá Ba tai lơ, chỉ huy 2 vạn quân, 200 khẩu pháo 65 ly và 81 ly, chỉ huy pháo binh phối hợp ta chỉ định Thiếu tướng Pơ nay lan, là người có kịnh nghiệm bắn phá đồn lũy nơi rừng núi. Ta chỉ định tướng Đu sơ chỉ huy 1 vạn quân đánh phá Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Tam Đảo, Đa Phúc. Về vận tải vũ khí, lương thực, quân y, nước uống ta chỉ định Đại tá Rô be, ngài phải cung cấp mọi thứ đầy đủ cho chiến trường theo yêu cầu của Đại tá Ba tai lơ. Các ngài Công sứ, Tổng đốc Bắc Ninh, Bắc Giang có nhiệm vụ giúp đỡ, hỗ trợ cho quân đội trên mặt trận. Ta nhắc lại, tất cả những tướng lĩnh đã chỉ định phải tuân thủ đúng kỷ luật nhà binh, ai vi phạm sẽ đưa ra Toàn án quân sự.
Pi en dứt lời ngồi xuống bê cốc rượu uống. Thống sứ Bắc Kỳ hỏi:
-Các ngài khác có cao kiến gì nữa không?
Im lặng nặng nề, Thống sứ L. Mô ren nói tiếp:
-Kế hoạch của ngài Trung tướng Pi en thật là hoàn hảo. Ta chỉ nhắc lại là các tướng lĩnh được phân công phải hoàn thành nhiệm vụ được phân. Ta không muốn thấy ai ra Tòa án quân sự. Nào, xin mời các ngài nâng cốc, chúc Đại tá Ba tai lơ và tướng Bu sơ thắng lợi.
Tất cả bọn người nâng cốc dốc rượu vang vào miệng. Cuộc chiến tranh với Yên Thế dữ dội và khốc liệt bắt đầu
* *
*
Trong hành dinh của nghĩa quân Yên Thế ở đồn Phồn Xương, Đề Thám đang ngồi uống trà thì thám mã về báo:
-Dạ bẩm chủ tướng, giặc Pháp dùng 2 vạn quân, 200 đại bác do Đại tá Ba tai lơ đã bao vây 4 mặt và sẽ tấn công Phồn Xương, đồn Hố Chuối, đồn Hom ạ.
Lại có thám mã về báo:
-Dạ bẩm chủ tướng, 1 vạn quân Pháp do đại tá Đu sơ chỉ huy đã bắt đầu tấn công càn quét căn cứ của ta ở Thái Nguyên, Tam Đảo, Đa Phúc, Phúc Yên, Vĩnh Phúc ạ.
Hoàng Hoa Thám nói với cận vệ Lý Bảo:
-Tướng quân đi gọi các thủ lĩnh về đây họp gấp.
-Dạ, tuân lệnh chủ tướng.
Một lát sau, các thủ lĩnh tề tựu đông đủ. Sau khi mỗi người dùng một lượt trà, Đề Thám nói:
-Theo tin tức chính xác, quân Pháp đã mở một cuộc càn quét tấn công lớn, dùng tới 2 vạn quận và 200 pháo bao vây 4 mặt Phồn Xương, đồn Hố Chuối và đồn Hom. Tại Thái Nguyên, Tam Đảo, Đa Phúc, Phúc Yên, Pháp cũng dùng 1 vạn quân càn quét, tấn công bao vây. Như vậy, đây là cuộc tấn công quy mô lớn nhằm tiêu diệt bằng được chúng ta. Cái bất lợi của chúng ta là vùng Yên Thế Thượng không còn hiểm trở như 10 năm trước đây. Đường sá được mở rộng tạo điều kiện cho Pháp hành quân dễ dàng, xe cộ có thể tiếp viện lương thực, vũ khí cho quân lính của chúng. Cho nên nhìn chiến thuật thì quân Pháp sẽ bao vây chúng ta lâu dài cho đến khi chúng ta hết lương thực vũ khí và kiệt quệ. Chúng ta chỉ có 2.000 tay súng, chúng bao vây thì khó mà bổ sung nhân lực.
Hoàng Hoa Thám ngừng lại, uống tiếp chén trà và hỏi:
-Phu nhân Đặng Thị Nhu, lương thực, lúa gạo, vũ khí đạn được còn dùng được bao lâu nữa?
-Dạ, bẩm tướng công, lương thực lúa gạo chúng ta đủ dùng trong 8 tháng cho binh sĩ và cả gia đình của họ.
-Con đạn dược vũ khí?
-Dạ thưa tướng công, đạn và thuốc nổ cũng dùng được bằng ấy thời gian.
-Lương thực, đạn dược như vậy là được, nhưng cái yếu của ta là không có đại bác, lại phải chờ giặc vào gần mới tiêu diệt được, trong khi đó cái mạnh của Pháp là đại bác. Ta cho rằng lần này chúng sẽ bắn rất dữ dội, nhiều đợt trong ngày. Cho nên vẫn phải xuống hầm hào tránh đạn, chờ chúng ngừng bắn thì lên chiến đấu. Điều nữa, muốn cuộc tấn công của chúng không kéo dài thì phải đánh vào xe vận tải lương thực, vũ khí của chúng. Các tướng sau đây nghe lệnh.
-Đề đốc Tạ Văn Nguyên.
-Có thuộc tướng.
Đề đốc đem theo 20 tay súng, giả dân thường chặn đánh các đoàn xe vận tải từ Hà Nội lên Yên Thế.
-Thuộc tướng tuận lệnh.
-Đề đốc Tạ Văn Cần.
-Có thuộc tướng.
-Đề đốc cũng đem 20 tay súng phối hợp với Đề đốc Tạ Văn Nguyên tấn công các đoàn xe tải.
-Thuộc tướng tuân lệnh.
-Tướng quân Cả Trọng.
-Có thuộc tướng.
-Tướng quân chỉ huy quân phòng thủ đồn Hố Chuối.
-Thuộc tướng tuân lệnh.
-Tướng quân Bang Kinh.
-Có thuộc tướng.
-Tướng quân chỉ huy phòng thủ Đồn Hom.
-Thuộc tướng tuân lệnh.
-Tướng quân Ba Điều.
-Có thuộc tướng.
-Tướng quân chỉ huy phòng thủ cửa chính phía nam của đồn Phồn Xương.
-Thuộc tướng tuân lệnh.
-Tướng quân Đề Công.
-Có thuộc tướng.
-Tướng quân chỉ huy phòng thủ cửa đông đồn Phồn Xương.
-Thuộc tướng tuân lệnh.
-Còn lại các đồn bảo vệ chung quanh đồn Phồn Xương, tướng nào đã chỉ huy ở đó thì nay tiếp tục chỉ huy phòng thủ ở đó.
-Tướng quân Hoàng Điển Ân, Lý Bảo ở lại hành dinh Phồn Xương cùng ta chỉ huy chiến đấu
-Đề đốc phu nhân Đặng Thị Nhu, Quản Khôi, cùng tướng Cả Dinh do Đặng phu nhân chỉ huy, bảo đảm hậu cần cho nghĩa quân trong chiến đấu.
-Thần thiếp tuân lệnh tướng công.
Tất cả đồng thanh đáp:
-Chúng thuộc tướng tuân lệnh Đề đốc tướng quân.
Vừa khi đó trống, tù và, chuông ở chùa Lèo nơi tiền tiêu của Phồn Xương vang lên dồn dập báo hiệu quân Pháp đã tấn công. Các tướng vội về các vị trí chiến đấu đã được phân công. Ở tất cả các vị trí, các thủ lĩnh ra lệnh cho binh lính, gia đình các thủ lĩnh xuống hầm trú ẩn. Vừa xong thì hàng loạt đại bác Pháp đã gầm lên, tiếng nổ vang rền khắp Yên Thế, đạn bay khắp nơi, lửa khói dày đặc khắp khu vực Phồn Xương, Hố Chuối, Hố Hom, phá hủy cây cối, nhà cửa suốt hai giờ đồng hồ. Từng ấy thời gian, Pháp đã bắn tới khoảng 2.000 quả đạn. Khi đại bác ngừng thì tiếng kèn xung trận của quân Pháp vang lên, xen lẫn tiếng hô xung phong bằng tiếng Việt và tiếng Pháp. Trong đồn Phồn Xương, tiếng trống ngũ liên cũng thúc liên hồi, dồn dập. Tiếng trống báo hiệu cho nghĩa quân lên khỏi hầm trú ẩn, về các vị trí chiến đấu là các lỗ châu mai, chĩa súng ra ngoài, chờ quân Pháp tấn công tới. Từ các lỗ châu mai và các khe trống, nghĩa quân thấy quân Pháp và quân Việt đông như kiến cỏ đang xông lên. Nghĩa quân cứ nhằm mà bóp cò súng, đạn lửa bay ra như mưa, Hàng trăm quân Pháp trúng đạn gục xuống. Quân giặc nằm xuống nhưng sau đó lại xông lên, lại gục xuống do đạn ở đồn Phồn Xương và các đồn khác, xác lính chồng chất. Thốt nhiên tiếng kèn lại vang lên, nhìn ra thì thấy quân Pháp đang chạy ra xa các đồn khoảng 300 m, thì ra đó là tiếng kèn ngừng tấn công của chỉ huy Pháp.
Sáng hôm sau, Đề Thám đang ngồi uống trà thì có thám mã về báo:
-Dạ, bẩm chủ tướng, sau khi quân Pháp tấn công càn quét thì rút về, lần này lùi cách xa 200m, quân Pháp đóng trại, đào chiến hào để ở lại, bao vây Phồn Xương và các đồn khác lâu dài ạ.
Hoàng Hoa Thám lên đỉnh đồn Phồn Xương nhìn xuống. Chung quanh đồn, cách bán kính khoảng 200m, doanh trại màu vải xanh san sát vây quanh, trước doanh trại là chiến hào, sau lưng là hàng trăm khẩu đại bác chĩa vào các đồn Phồn Xương, Hố Chuối, Đồn Hom. Sau đại bác, dưới những con đường lớn là hàng trăm xe tải chở đạn dược, cuốc xẻng, lương thực...Từ chiến hào chính vòng quanh Phồn Xương, nhiều chiến hào chạy thẳng vào các đồn đang được đào. Đúng như dự đoán của Hoàng Hoa Thám, quân Pháp lần này sẽ càn quét tấn công và bao vây lâu dài chứ không hết đợt tấn công sẽ rút về như những lần trước. Vào thời kỳ này, các đường lớn đã được mở mang quanh Yên Thế, cho nên Pháp có thể vận tải lương thực và đạn dược để phục vụ cho cuộc tấn công lâu dài.
Về hành dinh, Hoàng Hoa Thám vừa uống trà vừa suy nghĩ cách đối phó với quân Pháp. Cách tốt nhất là cắt đứt đường tiếp tế của chúng. Đã cử hai toán quân đi đánh chặn các đoàn xe vận tải, nhưng quân số ít, không có bom mìn, chắc không hoàn thành được công việc. Không biết tình hình của Đề đốc Nguyên, Đề đốc Cần thế nào? Đồn Phồn Xương đã bị bao vây, tin tức của các thám mã đưa về thật khó khăn. Đề Thám thấy tiếc rằng Yên Thế chưa chế tạo được đại bác, bom mìn.
Tiếng đại bác của quân Pháp đã cắt đứt dòng suy nghĩ của Hoàng Hoa Thám. Kể từ đó, quân Pháp bắn đại bác vào các đồn không theo một thời gian nhất định nào. Những năm trước, mỗi lần bắt đầu tấn công mới bắn. Nhưng lần này có ngày chúng bắn vào buổi sáng, có ngày chúng bắn vào buổi trưa, có ngày chúng bắn vào buổi chiều, có ngày chúng bắn vào buổi tối, có ngày chúng bắn nhiều lần. Chiến thuật này làm cho quân Yên Thế vô cùng căng thẳng, sinh hoạt đảo lộn, không biết chúng bắn khi nào để xuống hầm trú ẩn, gây thiệt hại nặng nề về nhà cửa, nhân lực. Quân Yên Thế có 2.000 tay súng, qua mấy tháng bắn phá của giặc, chỉ còn lại 1.500 tay súng, thương binh chồng chất, không đủ phương tiện y tế để chạy chữa. Các chướng ngại che chở cho các đồn đã bị hủy, các rừng cây đã bị đại bác đốt cháy, các chiến lũy che chắn cho các đồn đã bị phá hủy. Các đồn bây giờ lộ thiên, đại bác của Pháp bắn phá càng chính xác, đến lượt nhà cửa cũng bị đạn đại bác phá hủy và thiêu cháy. Có lần Đề Thám cho nghĩa quân ban đêm theo chiến hào tập kích doanh trại của quân Pháp, chưa đến nơi đã bị đại bác Pháp hạ nòng bắn, nghĩa quân hy sinh nhiều phải rút về.
Tháng 9 năm 1909, một thiệt hại lớn với nghĩa quân Yên Thế là tướng quân Cả Trọng, con cả của Hoàng Hoa Thám với bà vợ cả là phu nhân Tảo đã hy sinh. Cả Trọng là một tướng lĩnh tài năng, dũng cảm, bắn giỏi, giỏi tổ chức chiến đấu. Rồi đến Cả Tuyển, Cả Huỳnh, Tướng Ba Điều, Ba Cần đều bị bắt trong trận quyết chiến ở Hố Hom, Hố Chuối, lại thêm hai nhân vật quan trọng của nghĩa quân là Cả Dinh, Cai Sơn đã ra hàng quân Pháp.
Đến tháng 11 năm 1909, Hoàng Hoa Thám hỏi Đặng phu nhân:
-Phu nhân xem lương thực còn không?
-Dạ thưa tướng công, bị bao vây, nông dân Yên Thế không tiếp viện được nên gạo và lương thực chỉ còn 10 ngày nữa là hết ạ.
-Còn đạn dược?
-Dạ, đạn dược thường mua và chuyển theo con đường Trung Quốc và con đường của Kỳ Đồng, Kỳ Đồng đã bị Pháp bắt đi đày, còn con đường từ Trung Quốc cũng bị bao vây nên không thể vào được, cũng chỉ còn dùng trong 10 ngày nữa ạ.
Hoàng Hoa Thám nói:
-Đồn Phồn Xương mất trong nay mai. Tối mai phu nhân đem con của chúng ta là Hoàng Thị Thế, Hoàng Văn Vi cùng vợ con các tướng lĩnh đi theo con đường mật đạo, qua vòng vây và về Lạng Sơn hay Thái Nguyên, Bắc Cạn, ta sẽ tìm phu nhân và các con sau. Ta sẽ cử 20 tay súng đi hộ vệ cho phu nhân.
Phu nhân Đặng Thị Nhu buồn rầu nói:
-Thiếp không đi, thiếp ở lại sống chết với tướng công
Hoàng Hoa Thám cảm động nói:
-Đa tạ phu nhân, cả đời xông pha chiến trận vì độc lập của dân tộc, vì tự do và ruộng đất của nông dân, gặp được phu nhân ta thực là hạnh phúc và mãn nguyện. Ta đâu muốn rời xa nàng. Nhưng vì con cái của chúng ta, vì trẻ thơ và gia đình các tướng lĩnh, ta mong phu nhân gác lại nỗi buồn mà dẫn con đi.
Phu nhân Đặng Thị Nhu gần như ứa lệ trong đôi mắt đẹp nói:
-Đa tạ tướng công, thiếp cũng may mắn, hạnh phúc vì gặp được tướng công, nhưng thôi vì các con, vì gia đình các tướng lĩnh, thiếp đành xa tướng công vậy. Thiếp mong tướng công bảo trọng, sớm gặp lại hai con và thiếp.
Tối hôm sau, khi cơm chiều xong, phu nhân Đặng Thị Nhu, bên hông mang súng ngắn, lưng mang địu cõng con trai Hoàng Văn Vi hai tuổi, bên vai mang túi hành lý, tay dắt con gái Hoàng Thị Thế mới tám tuổi cùng các phu nhân và những đứa trẻ của các tướng lĩnh từ biệt Hoang Hoa Thám và các thủ lĩnh rời đồn Phồn Xương. Hoàng Hoa Thám nói:
-Phu nhân bảo trọng.
Rồi Đề Thám ôm con gái Hoàng thị Thế vào lòng và nói:
-Con gái ngoan bảo trọng.
Hoàng Thị Thế đáp trong tiếng khóc:
-Con nhớ cha lắm. Cha bảo trọng.
Phu nhân Đặng Thị Nhu chưa bao giờ khóc, nhưng buổi chia biệt hôm nay bà rỏ nước mắt mà nói ngẹn ngào:
-Tướng công nhớ bảo trọng.
Nói xong phu nhân không dám nhìn Hoàng Hoa Thám, vội dắt tay bé Thế đi, các phu nhân địu con cũng đi theo. Hoàng Hoa Thám đứng nhìn phu nhân và 2 con, các phu nhân và các con của các tướng lĩnh cùng 20 người lính đi xa dần trong bóng đêm.
Sáng hôm sau một người lính đi theo bảo vệ đoàn của Đặng phu nhân chạy về báo:
-Dạ bẩm chủ tướng.
Hoàng Hoa Thám hỏi:
-Có việc gì mà ngươi hốt hoảng vậy?
-Dạ không may rồi, đoàn của phu nhân và chúng tôi đi đến Chợ Gồ thì bị quân Pháp mai phục, phu nhân ra lệnh cho các phu nhân khác bế con chạy, còn mình thì ở lại cùng 20 lính chúng tôi chiến đấu để họ chạy thoát. Phu nhân bảo bé Thế nằm xuống cạnh gốc cây, còn phu nhân thì dùng khẩu súng ngắn cùng chúng tôi bắn nhau với quân giặc. Trong quân Pháp có lính Việt từng là nghĩa quân Yên Thế nói cho quân Pháp biết phu nhân là ai nên chúng ra lệnh không được bắn chết phu nhân mà phải bắt sống để buộc chủ tướng ra hàng. Qua một giờ chiến đấu, tất cả 19 người lính của ta hy sinh, tại hạ bị thương đánh phải nằm im. Phu nhân lấy súng của tại hạ tiếp tục bắn gục nhiều tên pháp, nhưng súng hết đạn, phu nhân đã dùng võ công “Ngọc nữ xuyên thoa” phóng ra 5 mũi trâm cài đầu giết chết 5 tên pháp. Sau đó hết trâm, bọn pháp xông vào định bắt thì phu nhân dùng đôi đũa cả dắt bên mình đánh chết ba tên Pháp nữa. Bọn pháp phải bắn vào cánh tay cho phu nhân bị thương mới bắt được, bé Hoàng Thị Thế và bé Hoàng Văn Vi cũng bị bắt.
Hoàng Hoa Thám hỏi:
-Bây giờ chúng đang giam phu nhân ở đâu?
-Dạ, bẩm chủ tướng, gần Chợ Gồ ạ.
Hoang Hoa Thám gọi:
-Người đâu.
-Dạ, chủ tướng.
-Đi gọi ngài Thống Luận và Hoàng Điển Ân vào đây. Đem người lính xuống trạm cứu thương chữa vết thương cho anh ta.
-Dạ, đa tạ chủ tướng.
Thống Luận và Hoàng Điển Ân vào, Hoàng Hoa Thám nói:
-Quân sư và tướng quân hãy chỉ huy chiến đấu bảo vệ đồn Phồn Xương. Phu nhân bị mai phục và đã bị bắt tối qua. Ta phải đi cứu phu nhân và hai con nhỏ đang bị giam giữ ở Chợ Gồ.
Hoàng Điển Ân nói:
-Chủ tướng nên cử một thủ lĩnh đem quân đi cứu phu nhân là được.
Hoàng Hoa Thám nhất quyết đòi đi. Cuối cùng Thống Luận nói:
-Ta hiểu tình nghĩa của chủ tướng với Đặng phu nhân. Thôi chủ tướng đi đi cho trọn tình nghĩa.
Đề Thám dẫn theo 20 tay súng theo đường độc đạo ra Chợ Gồ. Vừa lên khỏi mặt đất đi được một đoạn thì hai bên đường súng nổ, 5 nghĩa quân gục xuống chết ngay tại trận. Đề Thám và nghĩa quân còn lại nằm xuống bắn nhau với Pháp. Tiếng súng nổ ran, khói lửa mịt mùng, hai bên bắn nhau kịch liệt. Phía Pháp, 50 tên đã gục xuống. Một giờ sau, quân Pháp không còn nghe tiếng súng bên nghĩa quân. Chúng bò ra xem thì nghĩa quân đã gục xuống hy sinh hết. Chúng đổ xô ra và lật mặt từng người lên xem nhưng không thấy thi hài Đề Thám. Chúng cho rằng Đề Thám không đi cứu Đặng phu nhân mà chỉ cử một thủ lĩnh đi. Vậy là Đề Thám còn ở Phồn Xương.
Cùng ngày hôm đó, Ba tai lơ ra lệnh tổng tấn công đồn Phồn Xương. Đại bác bốn phía nổ rầm trời, sau đó tiếng kèn thúc bộ binh xông lên. Quân Yên Thế chống cự kịch liệt, tiêu diệt hàng trăm tên Pháp nhưng cuối cung hy sinh gần hết. Chiều hôm đó quân Pháp chiếm được Phồn Xương, đồn làm quân Pháp khiếp sợ nhất trong bao nhiêu năm đã thất thủ. Quân Pháp cố lật thi hài các nghĩa quân đã hy sinh lên xem đề tìm Đề Thám. Chúng tìm đi tìm lại mọi ngõ ngách mà tuyệt nhiên không thấy Đề Thám đâu. Đề Thám đã biến mất kỳ lạ trong vòng vây của chúng.
Với một lực lượng so sánh chênh lệch quá lớn giữa quân Pháp và Yên Thế, quân Pháp có nguồn lực toàn bộ Đông Dương, còn quân Yên Thế chỉ có vùng Thượng Yên Thế mà đã anh dũng chiến đấu trong 31 năm làm chấn động nước pháp, chấn động Đông Dương. Khởi nghĩa Yên Thế lên đỉnh cao nhất của phong trào nông dân chống pháp xâm lược do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo cơ bản đã kết thúc vào ngày 11 tháng 11 năm 1909 khi đồn Phồn Xương thất thủ.
X.
Vào một buổi sáng năm 1913, trong quán nước gần đồn Phồn Xương có hai cụ già ngồi uống rượu với lạc rang. Một cụ râu, tóc bạc phơ, đầu đội khăn đen, mình mặc áo đen, quần dài trắng. Một cụ râu tóc chỉ mới muối tiêu, đầu buộc khăn nâu, áo dài nâu, quần nâu. Hai cụ khi đã có hơi men vào thì không biết sợ là gì. Cụ buộc khăn nâu hỏi cụ buộc khăn đen:
-Xin hỏi thực cụ, cái đầu người thằng Pháp treo ở cổng đồn Phồn Xương, chúng rêu rao là đầu của ngài Đề Thám, cụ nghĩ có đúng không?
Cụ buộc khăn đen đặt chén xuống và nói:
-Sau trận Phồn Xương ngày 11 tháng 11 năm 1909, cụ Đề Thám biệt tăm, quân Pháp truy lùng suốt 4 năm nay mà không bắt được, từ đó có nhiều huyền thoại về cái chết của ngài.
Cụ khăn nâu vội hỏi:
-Huyền thoại thế nào?
-Có lời đồn sau trận Phồn Xương, ngài cùng hai thủ hạ thân tín đã đi vào nơi rừng núi hoang vu không ai biết mà sống một cuộc đời ẩn dật, say sưa với cảnh thiên nhiên kỳ thú. Lại có lời đồn ngài đã bị bệnh hiểm nghèo mà tạ thế ở trong rừng núi nào đó. Lại có lời đồn ngài đã đến Tam Đảo, Thái nguyên, vào nhà một bạn cũ ngủ lại, đêm bị thằng phản đồ bổ cuốc vào đầu ngài và đem cho Pháp lấy thưởng. Lại có lời đồn ba thằng tay sai của Pháp tiếp cận được và hạ sát ngài và đem đầu treo ở cửa đồn Phồn Xương.
Cụ buộc khăn nâu hỏi:
-Vậy cái thủ cấp đó có phải là đầu của Đề Thám không?
Cụ Khăn đen đáp:
-Bách tính Yên Thế đều khằng định, đó không phải là đầu của ngài vì dân Yên Thế quen ngài lâu đã rõ. Đó là đầu của một ông sư bị Pháp giết, treo lên nói là của Đề Thám để thị uy, hù dọa dân chúng. Ta cũng quen ngài Đề Thám, ta quen mặt ngài và ta cho đó không phải là thủ cấp của ngài. Đó là sự lừa bịp dã man và bần tiện.
Hai cụ già im lặng, thở dài và uống liên tục cho vơi nổi lòng, cuối cùng cụ chít khăn đen nói:
-Tôi cam đoan là ngài còn sống. Ngài là một tướng lĩnh tài năng, suốt đời chiến đấu cho tự do độc lập của đất nước, ruộng đất của nông dân thì ngài sẽ sống mãi trong lòng nông dân, trong lòng dân tộc. Ngài không bao giờ chết. Ngài là trang anh hùng hào kiệt bất tử thiên thu.
Rồi hai cụ gặt gù:
-Phải, ngài Hoàng Hoa Thám không bao giờ chết, bất tử thiên thu. Ngài vẫn là “Hùm thiêng Yên Thế”.
* *
*
Gần 80 năm sau, mùa xuân năm 1989, tết âm lịch đã đi qua hai tuần rồi nhưng miền Yên Thế, Bắc Giang vẫn còn là năm mới. Trời se lạnh, sương mờ ảo phủ trên những đồi núi. Nắng nhàn nhạt màu vàng hoe rải xuống những vườn vải, vườn cam, vườn nhãn vui mừng rung theo gió, vui mừng vì một mùa đông rét mướt qua đi. Những đàn chim tung cánh trên trời bay về tổ ấm. Những đàn chim chích bé bằng quả cau bay sà xuống đậu khắp nơi. Trên đường làng, dòng xe đạp, xe máy đi chơi xuân, đi tham quan di tích chống Pháp của Hoàng Hoa Thám đổ về Phồn Xương như trẩy hội. Những tà áo đủ màu bay phấp phới trong nắng xuân.
Trong quán nước gần đồn Phồn Xương của bà lão hôm nay đông khách. Hai cụ già đến trước đã có được chỗ ngồi riêng gần cửa sổ thoáng mát nhìn ra ngoài rặng nhãn xanh tươi đầy đàn chim chích. Hai cụ vừa uống rượu vừa ngắm cảnh. Một cụ bận áo sơ vin vàng quần âu cũng màu vàng, một cụ áo sơ vin xanh quần âu đen. Cụ áo vàng hỏi cụ áo xanh:
-Bây giờ ta sẽ lên Phồn Xương thắp hương cho ngài Đề Thám, cho Đề đốc phu nhân và còn cho ai nữa cụ?
Cụ áo xanh đáp: -Bây giờ còn thắp cho bà Hoàng Thị Thế, con gái của ngài Đề Thám và Đề đốc phu nhân Đặng Thị Nhu. Bà Thế vừa mất năm 1988, mai táng ở gần Phồn Xương, nhưng bài vị cũng được đưa vào đồn Phồn Xương cho gần cha mẹ.
-Thế nghe nói còn đứa con trai của hai cụ thì còn không?
Cụ áo xanh nói:
-Thôi để tôi kể đầu đuôi cho cụ nghe.
-Vâng cụ kể đi.
Cụ áo xanh uống thêm chén rượu rồi nói:
-Cô Hoàng Thị Thế sinh năm 1901, còn cậu em trai tên là Hoàng Văn Vi sinh năm 1908. Trong một cuộc huyết chiến với quân Pháp ở Chợ Gồ để bảo vệ cho vợ con các tướng lĩnh Yên Thế chạy thoát, phu nhân Đặng Thị Nhu đã bảo Hoàng Thị Thế khi đó mới 8 tuổi nằm xuống cạnh một gốc cây to, vừa địu Hoàng Văn Vi trên lưng khi đó mới 2 tuổi, cùng 20 người lính hộ vệ đánh nhau với Pháp. Bà đã hạ sát được nhiều tên Pháp, nhưng 20 người lính lần lượt hy sinh. Bà lấy súng của họ tiếp tục chiến đấu. Trong lính Pháp hôm đó có một hàng binh Yên Thế biết đó là bà Ba Cẩn, tức Đề đốc phu nhân nên đã nói cho quân Pháp biết. Chỉ huy của chúng ra lệnh không được bắn chết bà mà phải bắt sống để dụ Đề Thám ra hàng. Cuối cùng đạn hết, Đề đốc phu nhân đã dùng võ công "Ngọc nữ xuyên thoa”, phóng 5 cái trâm cài đầu giết chết thêm 5 tên Pháp, hết trâm, bà dùng hai đôi đũa cả xới cơm đập chết thêm 3 tên Pháp nữa. Cuối cùng, một tên phải bắn vào cánh tay cho bà bị thương mới bắt được bà và hai con nhỏ. Đó là ngày 10 tháng 11 năm 1909. Đến tháng 2 năm 1910, Pháp đem ba mẹ con bà về giam ở Hỏa Lò, Hà Nội. Sau đó Pháp quyết định đày bà đi Guyane (Nam Mỹ). Trên đường đi, Đề đốc phu nhân đã nhảy xuống biển tự vẫn. Năm đó bà khoảng 50 tuổi.
Nghe đến chuyện đau lòng đó, hai ông già bỗng nhiên im lặng, thở dài và uống rượu. Một lát sau, cụ áo vàng lại hỏi:
-Thế còn cậu bé Hoàng Văn Vi thì thế nào?
Cụ áo xanh đáp:
-Trong các tướng lĩnh của Đề Thám có ngài Thống Luận, lại là anh nuôi của Đề đốc phu nhân. Sau khi Yên Thế thất bại, ngài Thống Luận phải ra hàng Pháp để xin nuôi bé Vi, nhưng mỗi bước đi của hai người đều có lính đi kèm. Khi được 15 tuổi, Pháp cho Hoàng Văn Vi lên Trường Bách Nghệ Hà Nội học nghề. Ông Vi say mê máy móc nhưng Pháp bắt ông phải học nghề mộc. Sau khi học xong, Hoàng Văn Vi về quê và lấy con gái ngài Thông Luận, sống ở Bắc Giang. Hoàng Văn Vi có hai người con là Hoàng Thị Hải và Hoàng Thị Điệp. Hoàng Văn Vi mất năm 1945, khi mới 37 tuổi.
Cụ áo vàng và áo xanh lại uống rượu. Một lát, cụ áo xanh kể tiếp:
-Ngài Thống Luận xin nuôi cả cô Hoàng Thị Thế nữa nhưng Pháp không cho. Một người lính già của Đề Thám thương con của chủ tướng còn bé quá đành phải ra đầu thú và xin nuôi Hoàng Thị Thế. Pháp đồng ý. Sau đó Pháp cho bà được theo học trường Tây học Bắc Kỳ. Năm 1917, bà được Toàn quyền Đông Dương An be Xa rô nhận là con nuôi và đưa bà sang Pháp học ở Trường Nội Trú Jeanne Dare ở Biarritz. Bà lấy tên Pháp là Marie Beatrice Des Tham. Học xong, Hoàng Thị Thế trở về Bắc Kỳ, làm thủ thư tòa Thống sứ Hà Nội với tư cách là viên chức Pháp. Đó là năm 1925-1927. Bà được sống chung với em là Hoàng Văn Vi và các cháu.
Sau đó An be Xa rô đưa bà trở lại Pháp. Tổng thống Pháp Pôn Đu me thành cha đỡ đầu của bà và cấp cho bà một khoản trợ cấp đủ sống dư dật.
Năm 1930, bà Hoàng Thị Thế bước chân vào lĩnh vực điện ảnh. Bà đóng phim trong bộ phim Louis Mercan Toa, dựa theo truyện ngắn của Willian Sonal Rset Mang ham. Từ đó báo chí và công chúng gọi bà là “Công chúa Trung Hoa”, vì bà xinh đẹp hơn cả mẹ mình là Đề đốc phu nhân Đặng Thị Nhu.
Ngày 14 tháng 8 năm 1931, bà kết hôn với Jean Joberph Bernard Bourges, 24 tuổi. Hôn lễ cử hành tại tòa thị chính Saint ở Cauderan. Người làm chứng là Thượng nghị sĩ Toàn quyền thuộc địa Pháp và Đại sứ Pháp. Sau đó, bà sống cùng chồng ở số nhà 42, đường Moscou-Pari. Chồng bà lúc này là Giám đốc công ty Xi mê na và quảng cáo ở Châu Phi nên ông ta có nhiều năm sống ở châu Phi.
Năm 1931, bà Hoàng Thị Thế được quay trong bộ phim thư hai doJack Salvatori thực hiện, cũng là chuyện tình của tác giả William.
Ngày 6 tháng 5 năm 1932, Tổng thống Pháp Pôn Đu me bị ám sát và bị thương. Chính bà Hoàng Thị Thế đã sơ cứu đầu tiên cho cha đỡ đầu của mình.
Ngày 12 tháng 10 năm 1932, bà đi du lịch và về Sài Gòn, đô thị miền Nam tổ quốc của mình. Ngày 14 tháng 5 năm 1935, bà sinh con trai đầu tiên, tên là Jean Marie Albert Arthua. Năm đó, bà đóng vai trong phim của Maurice De Canonga (Bí mật của Lục Bảo). Năm 1940 bà ly dị chồng.
Năm 1962, chính quyền Việt Nam cộng hòa của Ngô Đình Diệm cử Trần Lệ Xuân sang Pháp thuyết phục bà về sống ở Sài Gòn. Cũng năm đó, chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa cử Phó thủ tướng Phan Kế Toại qua Pháp mời bà về sống ở miền Bắc. Bà quyết định về miền Bắc cho gần quê hương Bắc Giang thân yêu của bà. Năm 1962, bà từ Pháp về quê hương Bắc Giang, sống một thời gian rồi về Hà Nội. Thời gian sống ở Bắc Giang, bà có viết cuốn Hồi ký "Kỷ niệm thời thơ ấu của tôi” bằng tiếng Pháp. Nhà thơ Lê Kỳ Anh (Hoàng Cầm) dịch ra tiếng Việt. Năm 1975, Ty văn hóa Hà Bắc xuất bản. Trong nhà bà có treo bức tranh một tố nữ thổi sáo bên rặng tre. Bà rất quý bức tranh, ai vào bà cũng nói đó là bức tranh do Thủ tướng Phạm Văn Đồng tặng. Có lẽ bức tranh đã làm bà nhớ lại “Thiết địch thần phong" với bài “Ánh trăng Phồn Xương" của nghĩa quân yên Thế.
-Trong loạn ly, bà Hoàng Thị Thế vẫn luôn mang nặng nỗi lòng nhớ quê hương và muốn trở về đất nước thương yêu. Vượt qua hàng vạn dặm đường cách trở của hai châu lục, cuối cùng bà đã thực hiện được ước vọng thiêng liêng đó. Bà đã trở về đất tổ Yên Thế, được tự tay cắm những cây hương, những bông hoa lên bàn thờ của cha mẹ kính yêu của mình: Tướng quân Hoàng Hoàng Hoa Thám và phu nhân Đặng Thị Nhu.
Bà Hoàng Thị Thế tạ thế ngày 9 tháng 12 năm 1988, thọ 87 tuổi, mai táng tại quê hương Phồn Xương, Yên Thế, Bắc Giang. Qua bao năm lưu lạc, cuối cùng bà được trở về với đất mẹ thương yêu.
Rồi hai con bà từ Pháp, vượt vạn dặm xa xôi về Phồn Xương thắp hương thăm mẹ và ông bà ngoại. Quả nhiên, tình yêu của con cháu giành cho ông bà và mẹ không có biên giới quốc gia.
Cụ áo vàng nghe xong nói:
-Cuộc đời bà Hoàng Thị Thế cứ như một thiên tiểu thuyết, xứng đáng là đứa con gái của ngài Đề Thám và Đề đốc phu nhân Đặng Thị Nhu anh hùng. Mà cụ có trí nhớ thật tài tình. Xin chúc cụ một ly.
Hai cụ lại uống và chìm đắm trong thế giới của Yên Thế, của Phồn Xương, của gia đình anh hùng Hoàng Hoa Thám.