#Tiểu Thuyết Lịch Sử, #Việt Nam Diễn Nghĩa,#HẬU TRẦN ĐÁNH GIẶC MINH



I -|- Thời gian đã vào cuối mùa thu năm 1407, gió đã bắt đầu se lạnh, cây cối ngã màu vàng nhạt và trút lá vàng rơi lả tả trong không gian. Vùng Mô Độ (Yên Mô, Ninh Bình) đồi núi cao thấp nhấp nhô lặng im phủ đầy sương trắng. Sương phủ bạt ngàn xuống dinh cơ của hào trưởng Trần Triệu Cơ. Ruộng vườn chen đồi núi mênh mông. Khu nhà ở lợp ngói xây gạch sang trọng cổ xưa vươn đà đao đầu rồng phượng lên bầu trời màu xám chen giữa cây cau cao vút, cây mít, rặng tre đung đưa theo gió.

Trong gian nhà ngói ba gian to rộng nhất của khu trang viên, gian giữa kê bàn thờ gia tiên họ Trần, có nhiều bàn cao thấp từ trong ra ngoài, các bàn thờ màu gụ, sơn son thếp vàng, trên đặt nhiều bát hương màu sứ trắng vẽ rồng phượng uốn quanh màu xanh vàng. Các bát hương đã đầy tàn hương. Trên bàn thờ trong cùng đặt các tay ngai, bài vị sơn son thếp vàng và đặt các lư hương bằng đồng màu vàng óng ánh. Quanh bàn thờ treo hoành phi câu đối sơn đen, chữ Hán màu vàng lung linh.

 Gian giữa bên ngoài cạnh dưới bàn thờ đặt một chiếc bàn gỗ lim hình chữ nhật màu gụ, hai bên đặt hai chiếc tràng kỷ khảm trai khắc hoa lá lóng lánh. Bàn ghế rộng nhưng sáng nay chủ nhân của điền trang là hào trưởng Trần Triệu Cơ đang ngồi một mình uống trà sau bữa ăn sáng. Trần Triệu Cơ vừa uống nước nhâm nhi vừa suy nghĩ về thời cuộc, thời cuộc cay đắng tan nát làm ông thấy vị chè không ngon như ông uống thường ngày.

Vậy là tháng 5 năm 1407, cuộc kháng chiến của nhà Hồ thất bại, cha con Hồ Quý Ly chạy đến Kỳ Anh, Hà Tĩnh thì bị quân Minh bắt được đưa về Trung Quốc, không rõ sống chết ra sao, nước Đại Việt đã mất vào tay quân Minh. Quân Minh giết chóc dân Việt vô cùng tàn bạo, lấy thịt rán mỡ, lấy ruột quấn vào các gốc cây, bắt những người tài giỏi về Kim Lăng làm nô lệ, hoạn thiến đàn ông Việt để tiêu diệt nòi giống, đốt và cướp sách vở, tàn phá hủy diệt nền văn hóa, mặt nạ “Phù Trần diệt Hồ” đã rơi xuống, lộ rõ bộ mặt tàn bạo lang sói với dân Việt vô tội.

Trần Triệu Cơ uống cạn ly chè và đặt ly xuống thở dài. Trong  thời từ Bắc Thuộc đến nay, khi dân tộc đứng trước nguy cơ diệt vong thì các đại hào trưởng các đời  phải đứng ra dương ngọn cờ cứu nước. Vì vậy ta cũng phải đứng ra dương cờ khởi nghĩa. Nhưng bắt đầu từ đâu, tìm ai để tôn lên làm hoàng đế, con cháu tôn thất nhà Trần nay có còn ai không, tìm họ ở đâu để tôn phò mà hiệu triệu thiên hạ? Chợt có người gia nhân vào cắt đứt dòng suy nghĩ của Trần Triệu Cơ:

-Dạ, thưa chủ nhân có một vị khách muốn vào gặp.

-Cho vào ngay.

-Dạ, Tuân lệnh chủ nhân.

Vài khắc sau, gia nhân dẫn người khách vào. Trần Triệu Cơ nhìn người đó khoảng 30 tuổi, cao tầm thước, dáng người nho nhã. Nhìn ra thì đó là Giản Định Vương, Trần Triệu Cơ vội vã đứng dậy chắp tay cúi chào:

-Kính chào Giản Định Vương, cơn gió lành nào đưa ngài tới đây vậy?

Giản Định Vương chắp tay:

-Đã lâu rồi không có dịp ghé thăm trang trại của ngài. Đại nhân vẫn khỏe mạnh đấy chứ.

-Đa tạ, đa tạ, xin kính mời Giản Định Vương ngồi.

-Đa tạ, đa tạ.

-Bay đâu.

-Dạ.

-Rót nước mời Giản Định Vương.

-Dạ.

-Còn nữa, chuẩn bị rượu để ta nâng chén với Giản Định Vương.

-Dạ. Tuân lệnh chủ nhân.

Sau mấy lượt trà thì hai người cùng ăn cơm uống rượu, sau đó lại uống trà và đàm đạo. Trần Triệu Cơ biết Giản Định Vương tên húy là Trần Ngỗi, con thứ của Thái Thượng Hoàng Trần Nghệ Tông, là đệ của Trang Định Vương Trần Ngạc, người đã bị sát hại năm 1397, trong vụ huyết án Trần Nghệ Tông giết vua Trần Phế Đế và các đại thần mưu giết Hồ Quý Ly. Sau khi Hồ Quý Ly xác lập nhà Hồ, Giản Định Vương được phong là Nhật Nam Quận Vương.

Như vậy, Giản Định Vương là hoàng tử chính cống, dòng dõi Thái thượng hoàng Trần Nghệ Tông. Giản Định Vương về đây là phù hợp với công việc khởi nghĩa sắp tới của Trần Triệu Cơ, đi tìm một hoàng tộc nhà Trần làm hoàng đế, làm ngọn cờ tập hợp bách tính khởi nghĩa. Nhưng không biết bụng dạ ngài ta thế nào, có muốn làm đại nghĩa hay không hay là chỉ trốn chạy sự truy lùng của giặc Minh, hay là do thám của giặc, để ta tìm hiểu xem, đại sự không thể vội vã, sẽ chết cả ba họ.

  Trần Triệu Cơ uống xong chén trà, đặt ly xuống và hỏi Giản Đinh Vương:

-Quân Minh lấy được Đại Việt, đang treo bảng tìm dòng dõi nhà Trần để trao lại ngai vàng, Giản Định Vương xứng đáng sao ngài lại không ra trình diện?

Giản Đinh Vương cũng cạn ly đặt xuống bàn và thở dài:-“Phò Trần diệt Hồ”, sau đó treo bảng chiêu dụ dòng dõi nhà Trần ra để phò tá thực ra chỉ là một sự lừa bịp. Sau khi lấy được nước Việt, chúng giết dân ta một cách tàn khốc, rán thịt lấy mỡ, lấy ruột quấn lên cây mua vui. Chúng dụ con cháu họ Trần ra là để giết hại. Cứ như vậy trong vài năm nữa, người Việt sẽ không còn nòi giống nữa, đừng nói đến chuyện sống sót mà làm nô lệ cho chúng.

Trần Triệu Cơ cũng thở dài và nói:-Quả nhiên giặc Minh rất tàn bạo. Bây giờ Giản Định Vương định thế nào?

-Thưa đại nhân, ta định đến nơi nào có cuộc khởi nghĩa sẽ tham gia, sẽ đem quân ra trận giết giặc để thỏa chí căm thù này với quân giặc, trả thù cho những người vô tội bị chúng sát hại.

-Giản Định Vương có lòng muốn cứu nước thì quý hóa quá. Nhưng với xuất thân là hoàng tử của ngài nên làm hoàng đế và kêu gọi hào kiệt, bách tính theo về, lập một triều đình mà đánh giặc.

  Giản Định Vương đáp:

-Chỉ hư danh là hoàng tử, vương này vương nọ nhưng hiện chỉ có hai bàn tay trắng, ta cũng chưa biết tính sao.

  Chợt một gia nhân tay cầm một tờ giấy vào báo:

-Dạ bẩm chủ nhân, lệnh truy nã Giản Định Vương của quân Minh rải và dán khắp nơi, gia nô nhặt được một tờ đây ạ.

-Đưa ta xem.

Trần Triệu Cơ cầm tờ giấy thì đó là lệnh truy nã Giản Định Vương của Trương Phụ. Lệnh truy nã viết: “Nhà Minh sang để “Phò Trần diệt Hồ” nhưng rất ít tôn thất nhà Trần hợp tác, như các hoàng tử của Thái thượng hoàng Trần Nghệ Tông không cộng tác, còn bỏ trốn, như hoàng tử của ngài là Giản Định Vương. Lệnh truy nã bắt về để trị tội. Kẻ nào chứa chấp coi như tòng phạm. Chủ tướng Trương Phụ".

Trần Triệu cơ đưa tờ truy nã cho Giản Định Vương. Ngoài chữ viết thì bản truy nã còn vẽ cả hình của Giản Định Vương bằng mực đen. Giản Định Vương cầm xem và nói:-Chúng đã bức họ Trần và dân Việt đến bước đường cùng rồi.

Đến đó Trần Triệu cơ mới biết được chính xác là Giản Định Vương đang chạy trốn thật, liền uống một ly trà và nói:-Tại hạ có lời này không biết nói vương có nghe không?

-Trần đại nhân có gì dạy bảo?

Trần Triệu Cơ đáp:-Không dám, không dám. Từ xưa đến nay: “Quốc gia lâm nguy thất phu hữu trách”. Kẻ thất phu hạ đẳng của xã hội còn có trách nhiệm khi đất nước lâm nguy, huống chi tại hạ và vương không thể trốn tránh, làm ngơ trước nguy cơ diệt chủng, diệt vong của đất nước, của dân tộc Việt. Cho nên từ lâu, tại hạ đã có ý muốn dựng cờ khởi nghĩa, chỉ hiềm chưa tìm được ai dòng dõi nhà Trần để tôn làm minh chủ phò tá. Nay gặp vương là trời đã đem vương đến cho tại hạ, cho nghiệp lớn được khởi sự.

Nói xong Trần Triệu cơ đứng dậy, quỳ lạy và nói:

-Hoàng thượng vạn vạn tuế.

-Hoàng thượng Giản Định Đế vạn tuế.

  Giản Định Vương vội vã đứng dậy, đỡ Trần Triệu Cơ lên và nói:

-Đại nhân đừng làm vậy.

Trần Triệu Cơ nói:-Ngài không muốn làm ngọn cờ khởi nghĩa cứu nước, cứu dân sao? Trong lúc nước sôi lửa bỏng thế này ngài định chạy trốn mãi sao? Thần và nghĩa quân sẽ tôn ngài làm Giản Định Đế, thiết lập vương triều Hậu Trần để huy động cả nước đánh đuổi giặc Minh. Ngài không đồng ý sao? cứ chạy trốn mãi cho đến ngày quân Minh bắt thì chết vô ích sao?

Giản Định Vương khi đó mới tỉnh ra và nói:

-Đa tạ khanh đã nghĩ tới dân, tới nước. Ta đồng ý và cùng với ái khanh khởi sự việc lớn.

-Tạ ơn hoàng thượng đã nghĩ tới dân tới nước.

Trần Triệu Cơ đứng dậy và nói:-Ngày mai thần sẽ dựng cờ khởi nghĩa, hoàng thượng hãy ra Bố cáo thành lập nhà Hậu Trần và hoàng thượng là Giản Định Đế, huy động bách tính, hào kiệt về với triều đình đánh giặc Minh.

-Đa tạ khanh đã vì đất nước, vì dân, vì giang sơn nước Việt.

  Ăn cơm chiều xong, vua tôi lại ngồi bàn việc khởi sự suốt đêm, chè cạn bao nhiêu ấm mà vẫn không thôi bàn luận.

  Vậy là ngày 12 tháng 10 năm Đinh Dậu 1407, Trần Ngỗi lên ngôi hoàng đế lập ra nhà Hậu Trần, lấy đế hiệu là Giản Định Đế, niên hiệu Hưng Khánh, năm 1407 là năm Hưng Khánh thứ nhất, lấy lại quốc hiệu là Đại Việt, lấy Mô Độ, Yên Mô Ninh Bình làm thủ đô kháng chiến, phong Trần Triệu Cơ làm Thái sư. Nghe tin Giản Định Đế khởi nghĩa, trai tráng, hào kiệt khắp nơi căm thù giặc Minh tàn ác lần lượt kéo về Mô Độ tham gia khởi nghĩa giết giặc. Không gian Yên Mô Ninh Bình rộn ràng tiếng trống ngũ liên, cờ vàng bay phấp phới, ba quân gươm giáo sáng lòa ngày đêm luyện tập.

  Một sáng, Giản Định Đế và Thái phó Trần Triệu Cơ đang ngồi trong hành dinh bàn việc quân cơ thì có thám mã về báo:

-Dạ bẩm hoàng thượng.

-Có việc gì nói ngay.

-Dạ, tướng giặc Trương Phụ đang đem 10 vạn quân tiến đánh Mô Độ.

  Giản Định Đế hỏi Triệu Cơ:

-Thái phó xem quân ta đã được 7 vạn chưa?

-Dạ bẩm hoàng thượng, chỉ mới được 5 vạn thôi ạ. Thần cho rằng quân ta ít, chưa luyện tập được bao nhiêu. Tốt nhất ta rút quân vào Hà Tĩnh, chờ quân ta lớn mạnh mới có thể quyết chiến được.

< p> Giản Định Đế nói:

-Khanh nói chính hợp ý ta.

Ngay hôm đó, Giản Định Đế ra lệnh cho triều đình và quân đội hành quân vào Chi La, Hà Tĩnh. Tại Hà Tĩnh, các hào kiệt và trai tráng đua nhau đầu quân đứng dưới lá cờ đại nghĩa. Một sáng, Trần Triệu Cơ và Giản Định Đế đang ngồi bàn việc trong hành dinh thì có thám mã về báo:

-Dạ bẩm hoàng thượng, có hai tướng là Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân từ Hóa Châu kéo quân ra gia nhập khởi nghĩa, đang chờ xin vào gặp.

-Cho vào ngay.

-Dạ.

  Đặng Tất, Nguyễn Cảnh Chân đi vào, theo sau là hai chàng thanh niên trẻ tuổi và một thiếu nữ xinh đẹp bước vào quỳ hành lễ:

-Hoàng thượng vạn vạn tuế.

-Miễn lễ, các ái khanh đứng dậy đi.

-Tạ ơn hoàng thượng.

-Xin chào Thái sư.

-Không dám, xin chào hai tướng quân, hai công tử và tiểu thư.

-Vị nào là Đặng Tất?

-Dạ, bẩm hoàng thượng, chính là thần. Thần vốn phục vụ cho quân Minh ở Hóa Châu, chức Đại Tri châu, nghe danh hoàng thượng đưa xa giá về đây chiêu mộ nhân tài đánh giặc, thần đã giết tên quan nhà Minh, đem quân về đây phò xa giá  hoàng thượng.

  Giản Định Đế nhìn Đặng Tất, đó là một người khoảng 50 tuổi, mặt vuông mắt sáng, ra dáng là một võ quan có tài. Giản Định Đế nói:

-Được khanh về dưới cờ đại nghĩa sẽ làm cho thanh thế quân ta thêm mạnh, nay phong khanh là Quốc công phò tá nhà Hậu Trần. Khanh hãy hết lòng vì nhà Hậu Trần và vì nước.

-Đa tạ hoàng thượng, thần sẽ hết lòng vì hoàng thượng, vì đất nước.

-Thế còn khanh là Nguyễn Cảnh Chân, phải không?

-Bẩm hoàng thượng, chính là thần. Thần xưa là tướng của nhà Hồ. Khi nhà Hồ sụp đổ, thần lẩn tránh mãi mới thoát được sự truy nã của giặc Minh. Nay nghe tin xa giá hoàng thượng về đây, thần về xin đứng dưới cờ đại nghĩa giết giặc.

  Giản Định Đế nhìn Nguyễn Cảnh Chân, đó là một người khoảng gần 50 tuổi, tai dài mặt rộng, dáng võ quan. Giản Định Đế nói:

-Tốt, nay phong khanh làm Đồng Tri khu mật Tham mưu Quân sư. Khanh hãy đem hết sức mình mà chiến đấu dưới cờ đại nghĩa của Hậu Trần.

-Tạ, hoàng thượng, thần sẽ cố hết sức vì nhà Hậu Trần, vì giang sơn xã tắc, vì hoàng thượng.

  Giản Định Đế hỏi:

-Thế còn hai thanh niên và một đại tiểu thư đây là con của hai khanh à?

  Đặng Tất chỉ người thanh niên dáng nho nhã và thiếu nữ bên cạnh:

-Dạ bẩm hoàng thượng, đây là con trai thần tên là Đặng Dung, còn đây là con gái thần tên là Đặng Thiên Thư ạ.

  Còn Nguyễn Cảnh Chân chỉ chàng thanh niên người đậm, mắt sáng nói:

-Dạ bẩm hoàng thượng, đây là con trai thần tên là Nguyễn Cảnh Dị ạ.

  Giản Định Đế gật đầu nói:

-Ta phong hai chàng thanh niên Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị làm tướng trong quân đội.

  Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị quỳ và nói:

-Đa tạ hoàng thượng, chúng thần sẽ hết sức vì hoàng thượng.

  Giản Định Đế gọi:

-Người đâu.

-Dạ.

-Bố trí ba phòng ở cho ngài Nguyễn Cảnh Chân và Nguyễn Cảnh Dị một phòng, một phòng cho ngài Đặng Tất và Đặng Dung, một phòng cho tiểu thư Đặng Thiên Thư.

-Dạ, thần tuân chỉ.

-Còn nữa.

-Làm mâm rượu lên đây để ta và Thái sư cạn chén với bốn tướng quân và tiểu thư.

-Đa tạ hoàng thượng.

  Một tuần sau, Trần Triệu Cơ nói với Giản Định Đế:

-Tâu hoàng thượng, thần có việc riêng vì hoàng thượng, không biết có nên nói hay không?

-Ái khanh cứ nói:

-Dạ muôn tâu, đã là triều đình thì phải có hậu cung, nay triều đình nhà Hậu Trần đã có mà hậu cung chưa có, thần nghĩ như vậy là khiếm khuyết trong cung đình.

-Ý khanh muốn nói là Trẫm còn thiếu hoàng hậu chăng?

-Thần muốn nói chính là ý đó. Vừa rồi quan Quốc công Đặng Tất có đại tiểu thư Đặng Thiên Thư nhan sắc cá lặn nhạn sa. Hoàng thượng nên rước về mà lập làm hoàng hậu.

  -Đa tạ ái khanh đã lo cho ta nhưng mà lên ngồi hoàng đế là để lo việc cứu nước, thứ hai là chắc gì Đặng Quốc công sẽ đồng ý.

-Cứu nước là việc lâu dài, còn hậu cung khiếm khuyết là triều đình khiếm khuyết, không nên. Để hạ thần hỏi Đặng Quốc công xem sao.

-Thôi thì tùy ái khanh.

Một tuần sau, Thái sư Trần Triệu Cơ đến tư dinh của Đặng Tất. Đặng Tất ra đón. Sau một lượt trà, Thái sư nói:

-Thưa ngài Đặng Quốc công, nhà Hậu Trần đã được thành lập mà hậu cung của hoàng thượng còn trống vắng, triều đình mà khiếm khuyết như vậy là không nên. Hạ quan có ý này không biết có nên nói hay không?

  Đặng Tất nói:

-Xin mời Thái sư cứ nói.

-Trai lớn lấy vợ, gái lớn lấy chồng. Đặng tiểu thư nhà ta đã lớn. Đặng Quốc công có thể cho phép hoàng thượng đón về làm hoàng hậu cho hậu cung được không?

  Đặng Tất vui vẻ đáp:

-Đa tạ Trần Thái sư đã quan tâm, được như vậy thì còn gì bằng, nhưng không biết ý hoàng thượng thế nào?

-Ngài yên tâm, trước khi đến đây ta đã gặp hoàng thượng và Người đã đồng ý.

-Đa tạ Trần Thái sư, vậy xin nhờ Thái sư tác thành.

  Nhờ sự tác thành của Trần Triệu Cơ mà tiểu thư Đặng Thiên Thư về hậu cung, trở thành hoàng hậu của Giản Định Đế. Tiệc cưới tưng bừng suốt bốn ngày đêm, xôi thịt cỗ bàn như núi, rượu như mưa.

Tháng 12 năm 1407, gió lạnh mùa đông tràn ngập khắp miền Trung và Hà Tĩnh, bầu trời xám xịt không một ánh nắng. Trong hành dinh ở Chi La (Hà Tĩnh), Giản Định Đế đang thiết triều. Giản Định Đế nói:

-Chúng ta phải mở rộng khởi nghĩa bằng cách đánh chiếm Nghệ An và Diễn Châu. Nay cử Đặng Quốc Công và Nguyễn Tri Khu quân sư đem quân tiến đánh Nghệ An và Diễn Châu.

-Hạ thần tuân chỉ.

Lại nói thành Nghệ An do Trần Nhật Chiêu, thành Diễn Châu do Trần Thúc Giao là hai con trai của Trần Nguyên Đán, tôn thất lớn của nhà Trần đã đầu hàng quân Minh chấn giữ. Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân đem 5 vạn quân tiến về thành Nghệ An. Cách thành nửa dặm đã thấy Trần Nhật Chiêu đem 3 vạn quân, phần lớn là người Việt dàn trận đứng chờ. Đặng Tất nói:

-Nguyễn Tri Khu Quân sư đem 2 vạn quân bí mật bất ngờ đánh mặt sau, ta dẫn 3 vạn quân đánh mặt trước thì quân giặc phải tan vỡ.

-Mạt tướng tuân lệnh.

Đặng Tất dàn trận đối diện với quân của Trần Nhật Chiêu. Đặng Tất trỏ kiếm sang mắng Trần Nhật Chiêu:

-Đã là tôn thất của nhà Trần sao lại đầu hàng quân giặc làm hại dân, hại nước, xuống ngựa đầu hàng may ra toàn tính mạng.

Trần Nhật Chiêu không nói, thúc ngựa múa gươm xông ra. Trong quân Đặng Tất, Đặng Dung thúc ngựa múa giáo xông ra. Hai ngựa xáp vào nhau, giáo gươm chạm nhau tóe lửa. Hai người đánh nhau khoảng 20 hiệp, bỗng nhiên trong trận Trần Nhật Chiêu rối loạn. Quân của Chiêu bị quân Nguyễn Cảnh Chân đánh mặt sau. Quân Minh hỗn loạn đại bại bị chém bị giết gần hết, số còn lại đầu hàng, Trần Nhật Chiêu bị bắt. Còn một ít quân trong thành thấy Trần Nhật Chiêu bị bắt bị trói đem về, vội kéo cờ trắng đầu hàng.

Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân để Nguyễn Cảnh Dị và 1 vạn quân ở lại giữ thành Nghệ An, còn lại kéo quân ra đánh thành Diễn Châu. Trần Thúc Giao đang ngồi uống rượu trong dinh thì có thám mã về báo:

-Dạ bẩm tướng quân, thành Nghệ An đã mất, quân Hậu Trần đã bắt được tướng quân Trần Nhật Chiêu rồi ạ.

Trần Thúc Giao ra lệnh:

-Ra lệnh đóng cửa thành cố thủ, chờ viện binh từ Thanh Hóa đến, ngoài đánh vào, trong đánh ra chúng phải chết.

-Tuân lệnh chủ tướng.

Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân kéo quân đến trước cửa thành Diễn Châu, thấy cổng thành đóng, nhìn lên thấy Trần Thúc Giao đang đứng trên mặt thành quan sát. Thốt nhiên dưới cổng thành một ngọn cờ trắng lộ ra khi hai cánh cổng thành mở toang. Thì ra đó là nhóm quân Việt đầu hàng để về với quân Hậu Trần. Đặng Tất ra lệnh:

-Vào thành, ai đã đầu hàng thì không được giết.

Quân Việt tràn vào thành, toàn bộ quân hạ khí giới đầu hàng. Trần Thúc Giao bị bắt. Giản Định Đế kéo về thành Nghệ An làm thủ đô kháng chiến, ra lệnh chém Trần Thúc Giao và Trần Nhật Chiêu cùng 600 quân.

Đặng Tất can:-Bẩm bệ hạ, chỉ nên chém Trần Nhật Chiêu và Trần Thúc Giao để răn đe lũ bán nước, làm tay sai cho giặc, còn 600 quân đã đầu hàng thì nên tha để còn chiêu dụ người Việt trong hàng ngũ quân Minh về với chính nghĩa.

Giản Định Đế nói:

-Phải giết hết để răn để những kẻ phản quốc. Bay đâu

-Dạ.

-Đem chém hết bọn hàng binh.

-Tuân lệnh.

Trần Nhật Chiêu, Trần Thúc Giao bị chém cùng 600 hàng binh. Máu chảy đầu rơi. Có tiếng la hét trong số người bị chém:

-Chúng ta đã đầu hàng theo về nghĩa lớn sao còn giết chúng ta, còn ai là người Việt trong quân Minh còn dám đầu hàng theo về các ngươi nữa.

Đặng Tất, Nguyễn Cảnh Chân và triều đình nhìn cảnh tượng đó đều thở dài lắc đầu, nghĩ thầm: “Không ngờ hoàng thượng lại u mê lạm sát như vây. Chiến lược đánh vào lòng người thất bại và đại nghiệp khó mà thành công.”. Sự rạn nứt giữa hai đại thần, trụ cột của triều đình bắt đầu từ đó. Những nhát kiếm của Giản Định Đế chém vào hàng quân người Việt đã đầu hàng nghĩa quân như chém vào mối quan hệ giữa Đặng Tất, Nguyễn Cảnh Chân với nhà vua.

Mùa xuân năm 1408, Giản Định Đế đang ngồi trong thành Nghệ An thì có thám mã về báo:

-Dạ bẩm hoàng thượng.

-Có việc gì nói.

-Dạ, có việc khản cấp, Trương Phụ và Mộc Thạnh đem 10 vạn quân đang tiến vào đánh Nghệ An.

-Chúng hành quân đến đâu rồi?

-Dạ, chúng đến Thanh Hóa rồi ạ.

-Cho mời Đặng Quốc công và Nguyễn Quân sư vào đây.

-Dạ.

  Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân vào và quỳ hành lễ:

-Hoàng thượng vạn tuế.

-Miễn lễ, các ái khanh bình thân.

-Tạ hoàng thượng.

chngcanhchan-1652967106.jpg
Tranh phác họa danh tướng Nguyễn Cảnh Chân. Ảnh tư liệu. Nguồn: Internet.

 

  Hai người ngồi, sau một lượt trà, Giản Định Đế nói:

-Theo tin thám mã báo về, Trương Phụ và Mộc Thạnh đã đem 10 vạn quân vào đánh Nghẹ An, chúng đã đến Thanh Hóa rồi. Hai khanh có kế gì chống giặc không?

Nguyễn Cảnh Chân nói:

-Dạ bẩm hoàng thượng, quân ta ít, chỉ có 5 vạn quân, phần lớn là lính mới không thể chống lại 10 vạn quân tinh nhuệ của giặc. Theo ý thần nên rút khỏi Nghệ An, đi vào vùng Hóa Châu để bảo toàn lực lượng. Đợi giặc rút đi ta lại quay về.

  Đặng Tất nói:

-Theo ý thần, Trương Phụ quân số đông nhưng đang trên đường hành quân, ta có thể chọn nơi nào địa thế hiểm trở mai phục bất ngờ tiêu diệt chúng thì có thể thu được thắng lợi lớn.

  Giản Định Đế nói:

-Kế rút lui của Nguyễn Quân sư là vẹn toàn hơn cả. Ta quyết định rút vào Hóa Châu. Đặng Quốc công và Nguyến Quân sư nghe lệnh.

-Có hạ thần.

-Cho Đặng Dung cầm 1 vạn quân đi tiên phong. Đặng Tất cầm 3 vạn quân đi trung quân bảo vệ trẫm và hoàng gia, Nguyễn Quân sư và Nguyễn Cảnh Dị dùng 1 vạn quân đi hậu quân.

-Chúng thần tuân chỉ.

  Trương Phụ hành quân đến Diễn Châu thì thám mã về báo:

-Dạ bẩm chủ tướng, Giản Định Đế đã rút quân chạy vào phía nam rồi ạ.

  Trương Phụ ra lệnh.

-Hành quân thần tốc đuổi gấp.

-Dạ, tuân lệnh.

  10 vạn người ngựa của quân Minh không đi nữa mà chạy trên đường thiên lý chật hẹp. Tiếng bước chân người, ngựa khua vang động, cờ bay phấp phới, bụi cuốn mù trời. Mộc Thạnh nhắc Trương Phụ:

-Đường đi rất nhiều đoạn hiểm trở, cây cối rậm rạp, tướng quân cho do thám kẻo quân ta lọt vào trận địa mai phục.

  Trương Phụ nói với Mộc Thạnh:

-Tướng quân dẫn 1 vạn quân đi tiên phong, có nghi vấn mai phục phải báo về ngay.

-Mạt tướng tuân lệnh.

Quân Minh đuổi đến bờ bắc sông Gianh, cầu pháo đã bị quân Giản Định Đế phá. Trong quân không có thủy quân. Tướng trấn giữ sông Gianh của Giản Định Đế là Phạm Thế Căng ở bắc sông ra đầu hàng quân Minh. Trương Phụ hỏi:

-Giản Định Đế qua sông được mấy ngày rồi?

  Phạm Thế Căng nói:

-Bẩm tướng quân, Giản Định Đế qua sông đã 3 ngày rồi ạ.

  Trương Phụ nói:

-Kẻ kia đã chạy trốn đến cuối đất cùng trời. Ta đã dẹp xong cuộc loạn này ở Giao Chỉ. Phạm Thế Căng nghe lệnh:

  Phạm Thế Căng cúi đầu chắp tay:

-Có mạt tướng.

-Ta phong người làm Tri phủ Tân Bình. Giản Định Vương có hành động gì phải nhanh chóng báo ra Đông Quan cho ta. Rõ chưa?

-Đa tạ, mạt tướng xin tuân lệnh.

  Trương Phụ rút quân về Đông Quan, trao quyền cho Mộc Thạnh và về nước.

*      *

 *

 Tháng 4 năm 1408, nắng của miền Trung Bộ rải xuống như đổ lửa, trong tổng hành dinh ở Hóa Châu, Giản Định Đế đang họp bàn với các tướng Trần Triệu Cơ, Đặng Tất, Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Chân, Nguyễn Cảnh Dị, Trần Quý Khoáng. Giản Định Đế nói:

-Ta muốn tiến quân ra Bắc, chiếm lại Nghệ An, Diễn Châu, Thanh Hóa rồi tiến ra giải phóng Đông Đô, hoàn thành nhiệm vụ giải phóng đất nước.

  Đặng Tất nói:

-Theo tin thám mã, từ Hóa Châu ra đến Nghệ An, lực lượng đồn trú của Minh rất yếu, chúng ta có thể giải phóng từ bắc sông Gianh ra đến Nghệ An rồi sẽ tính sau.

  Giản Định Đế hỏi:

-Ý của Thái sư Trần Triệu Cơ và Nguyễn Quân sư thế nào?

  Trần Triệu Cơ đáp:

-Thần đồng ý tiến quân ra Bắc.

  Nguyễn Cảnh Chân nói:

-Thần cũng tán thành tiến quân ra Bắc.

  Giản Định Đế nói;

-Vậy các ái khanh nghe lệnh:

-Tướng Đặng Dung.

-Có thần.

-Khanh đem 2 vạn quân đi tiên phong mở đường.

-Thần tuân chỉ.

-Quốc Công Đặng Tất.

-Có hạ thần.

-Khanh đem 3 vạn quân đi trung quân hộ giá.

-Thần tuân chỉ.

-Quân sư Nguyễn Cảnh Chân.

-Quân sư Nguyễn Cảnh Chân, tướng Nguyễn Cảnh Dị đem 2 vạn quân đi hậu quân

-Hạ thần tuân chỉ.

_Thái sư Trần Triệu Cơ.

-Có hạ thần.

-Khanh lo quân lương để dọc đường không nấu nướng, hành quân cho nhanh, nên cho quân mang theo lương khô như bánh đa, giò, bánh chưng, phải mang cỏ khô cho ngựa. Mỗi người lính tự mang thức ăn nước uống cho mình. Kỵ binh phải tự mang cỏ thóc cho ngựa của mình.

-Thần tuân chỉ.

  Mùa hè nắng chang chang nhưn đổ lửa xuống con đường thiên lý. Bảy vạn quân đi, người ngựa làm bụi cuốn mù trời, cờ vàng bay phấp phới. Nghĩa quân nhanh chóng vượt qua đèo Hải Vân. Đoàn quân đi dài dằng dặc qua những sườn núi đá cheo leo, gió thổi lồng lộng, dưới chân núi sóng vỗ xanh rờn từng đợt vào vách đá tung bọt trắng xóa. Xa xa phía đông mênh mông biển trời bát ngát. Nghĩa quân nhanh chóng tiến xuống sông Nhật Lệ. Tại đây bách tính nghe nói quân Hậu Trần đến, liền đem thuyền bè và gỗ tre bắc cầu phao cho quân qua sông. Đại quân vừa qua sông Nhật Lệ được hai dặm thì thám mã về báo:

-Dạ bẩm hoàng thượng, Phạm Thế Căng, tướng của ta đã đầu hàng quân Minh, nay đang mai phục đón đánh quân ta, cách Nhật Lệ về phía bắc 2 dặm.

  Giản Định Đế hỏi Đặng Tất:

-Phạm Thế Căng mai phục chặn mất đường, Quốc công có kế gì phá giặc không?

  Đặng Tất đáp:

-Bẩm hoàng thượng, cử cho 2.000 quân đi trước, mang theo cờ hiệu của hoàng thượng. Hoàng thượng chịu khó đi sau. Khi lọt vào ổ mai phục, 2.000 quân hãy nằm xuống tránh tên. Đợi quân Minh xông xuống, 2.000 quân hãy vùng dậy, ta cho quân đánh đàng sau chúng, trong đánh ra, ngoài đánh vào thì giặc phải chết.

  Đặng Tất dặn tướng đi tiên phong vào nơi mai phục:

-Khi thấy tên lửa của giặc bắn lên trời thì tất cả phải nằm xuống, rõ chưa?

-Dạ rõ.

2.000 quân cảm tử đi đầu, theo sau là đại quân. Quân mai phục Phạm Thế Căng thấy có xe kéo kiệu vàng, lọng vàng và cờ vàng đoán là của Giản Định Đế hô to:

-Tất cả nhằm kiệu vàng bắn.

  2.000 quân Hậu Trần lọt vào ổ mai phục, khi thấy tên lửa bắn lên trời vội nằm xuống. Tất cả tên đạn hầu như dồn vào chiếc kiệu vàng, ngựa trúng tên lồng lên. Phạm Thế Căng hô to:

-Tràn xuống giết.

  2.000 quân vùng dậy. Quân của Đặng Tất cũng vừa kịp đến tản ra hai bên sau lưng quân Minh. Quân Phạm Thế Căng lọt vào vòng vây, trong đánh ra ngoài đánh vào. Cuộc hỗn chiến kịch liệt gần cửa sông Nhật Lệ, gươm giáo chạm nhau tóe lửa, tiếng reo hò vang động, đầu rơi máu chảy, mặt đất Tân Binh ngập máu. Quân Minh bị tiêu diệt hết. Phạm Thế Căng và Đông Cao bị bắt. Giản Định Đế ra lệnh:

-Lôi ra chém.

-Tuân lệnh.

  Phạm Thế Căng kêu:

-Xin hoàng thượng tha mạng.

Giản Định Đế nói:

-Bọn đầu hàng giặc bán nước thì không thể tha.

  Giết xong Phạm Thế Căng và Đông Cao, Nghĩa quân tiếp tục hành quân ra Nghệ An mà không gặp một sự kháng cự nào của quân Minh, thanh thế nghĩa quân Hậu Trần rất lớn, huy động được quân các lộ Thuận Hóa, Tân Bình, Nghệ An, Diễn Châu, Thanh Hóa. Giản Định Đế ra lệnh:

-Đặng Quốc công và Nguyễn Quân sư nghe lệnh:

-Có hạ thần.

-Hai khanh đem đại quân ra bắc giải phông Đông Đô.

-Hạ thần tuân chỉ.

  Giản Định Đế nói tiếp:

-Thái sư Trần Triệu Cơ nghe lệnh:

-Có hạ thần.

-Ái khanh ở lại coi Nghệ An, Diễn Châu, ta sẽ xa giá ra ngoài Bắc để tham chiến.

-Thần tuân chỉ.

Giản Định Đế nói tiếp:

-Tướng quân Trần Quý Khoáng.

-Có thần.

-Ta phong tướng quân làm Nhập nội thị Trung, trông coi đất từ Hà Tĩnh đến Tân Bình, Thuận Hóa, Hóa Châu. Hãy làm tròn chức trách để ta an tâm chinh chiến ngoài Bắc.

-Thần tuân chỉ.

dangtat2-1653055244.jpg
Mộ Đặng Tất ở làng Thế Vinh (Phú Mậu, Phú Vang, Thừa Thiên Huế). Nguồn: hoangthanhthanglong.vn

 

  Lại nói Đặng Tất, Nguyễn Cảnh Chân đem quân ra đến Nam Định, Đặng Tất ra lệnh:

-Tướng Đặng Dung nghe lệnh.

-Có Dung nhi.

-Tướng quân đem 1 vạn quân đánh quân Minh ở đồn Bình Than.

-Mạt tướng tuân lệnh.

-Tướng quân Nguyễn Cảnh Dị nghe lệnh.

-Có mạt tướng.

-Tướng quân đem 1 vạn quân đánh cửa Hàm Tử, sau đó chặn đường ở Lục Đầu Giang, uy hiếp ngoại vi Đông Đô.

-Mạt tướng tuân lệnh.

                                                    *        *

                                                          *                                                 

  Quân Minh đã được Minh Thành Tổ tăng viện có đến 10 vạn quân ở thành Đông Quan. Kiều Quốc công Mộc Thạnh đang trong hành dinh thì thám mã về báo:

-Dạ bẩm Kiều Quốc công, quân Hậu Trần đã tiến vào Nam Định, đông khoảng 7 đến 8 vạn, ngoài ra còn có hai cánh quân đang đánh Bình Than, Hàm Tử Quan, uy hiếp Đông Quan ạ.

  Mộc Thạnh nói với Mã Kỳ:

-Tướng quân đóng cửa thành Đông Quan cho chặt, ta đem 10 vạn quân tiêu diệt quân Hậu Trần thì dẹp được giặc, Đông Quan cũng được giải cứu.

  Mã Kỳ nói:

-Mạt Tướng sẽ giữ được Đông Quan. Chúc Kiều Quốc Công mã đáo thành công.

  Mộc Thạnh cùng các tướng Binh bộ thượng thư Lưu Tuấn, Đô đốc Thiêm sự Lữ Nghị, Đô ty Giao Chỉ Hoàng Trung kéo 10 vạn quân về Nam Định, đóng ở Bô Cô, đoạn phía tây của cửa sông Đáy, thủy binh đậu dưới sông. Đối diện với quân Minh, phía đông ngay cửa sông Đáy là 7 vạn quân Hậu Trần ở bờ bắc. Quân Hậu Trần đóng cọc ngang bờ sông và ngang dưới sông ngăn quân Minh. Như vậy hai bên cách nhau nửa dặm đường và một rào chắn.

  Đêm 30 tháng 12 năm 1408, trời bỗng nhiên nổi mưa to gió lớn. Đặng Tất lợi dụng giông gió mưa to cho hai vạn quân vòng sang phía tây sau quân Minh, sau đó nhổ cọc rào chắn, bắn pháo hiệu cùng 5 vạn quân phía đông đánh ép lại. Quân Minh bị đánh bất ngờ cả phía trước và sau lưng, thế trận tan vỡ. Giản Định Đế tự tay đánh trống thúc quân Việt xông lên chém giết. Trong mưa gió, tiếng reo hò, tiếng trống vang động, tiếng gươm giáo chạm nhau tóe lửa, thây đổ máu tuôn, quân Minh đại bại. Cuộc chém giết của quân Việt diễn ra từ giờ Tỵ (11 giờ) đến giờ Thân (2 giờ). Các tướng giặc cao cấp như Thượng thư bộ binh Lưu Tuấn, Đô đốc Thiên sự Lữ Nghi, Đô ty Giao Chỉ Hoàng Trung, Tham chính ty bổ Giao Chỉ Lưu Dục, Đô chỉ huy sứ Liễu Tông đều tử trận, gần 10 vạn quân Minh bị giết. Mộc Thạnh mở đường máu mới chạy thoát, dẫn tàn quân về thành Cổ Lộng (Hải Dương). Chiến thắng oanh liệt này tại Bô Cô của quân Việt đã làm chấn động cả nước, cơ đồ thống trị của quân Minh có nguy cơ sụp đổ. Giản Định Đế ra lệnh:

-Quốc công Đặng Tất và Quân sư Nguyễn Cảnh Chân dẫn 5 vạn quân tiến đánh Đông Đô, giải phóng đất nước.

  Không ngờ Đặng Tất đáp:

-Bẩm hoàng thượng, quân ta dù thắng oanh liệt ở Cô Bô nhưng chưa đủ sức đánh Đông Đô giải phóng đất nước. Chúng ta hãy tập trung đánh các đồn ở đồng bằng và chung quanh, sau đó tiến vào  Đông Đô cũng chưa muộn.

  Giản Định Đế giận dữ nói:

-Không nhân đà thắng chẻ tre đánh ra Đông Đô khiến kẻ địch như sét đánh không kịp bưng tai còn đợi đến khi nào?

  Nguyễn Cảnh Chân đồng quan điểm với Đặng Tất cũng nói:

-Bẩm hoàng thượng cứ tiêu diệt quân Minh, giải phóng đồng bằng rồi vào Đông Đô cho chắc thắng.

  Giản Định Đế thở dài nói:

-Các ái khanh không chớp thời cơ khi quân Minh còn ít, đang hoảng sợ, chờ đến khi chúng tăng viện 10 vạn, 20 vạn sang cứu viện thì làm sao mà đánh được Đông Đô?

  Đặng Tất nói:

-Khi đó quân ta đã lên 20 vạn thì còn sợ gì quân Minh.

  Giản Định Đế tức giận bỏ hành dinh ra ngoài.

  Vua tôi Hậu Trần còn chưa thống nhất theo sách lược nào thì quân Minh từ Đông Đô cứu Mộc Thạnh ở Cổ Lộng chạy về Đông Đô. Từ Trung Quốc, 10 vạn quân Minh cũng tăng viện gấp cho Đông Đô, phòng thủ chắc chắn. Trong khi đó Đặng Tất chia quân vây các thành ngoài Đông Đô và gửi hịch đi các lộ, kêu gọi bách tính tham gia nghĩa quân để đánh bại quân Minh.

 Việc vua tôi bất đồng sách lược đã làm cho Giản Định Đế không hài lòng, nghi kỵ Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân có ý khác. Một tối, Giản Định Đế đang ngồi uống trà trong hành dinh thì có nội thị vào báo:

-Dạ bẩm hoàng thượng, có hoạn quan Nguyễn Quỹ và học trò Nguyễn Mộng Trang xin vào gặp.

-Cho vào.

  Hoạn quan Nguyễn Quỹ và học trò Nguyễn Mộng Trang vào quỳ hành lễ:

Hoàng thượng vạn vạn tuế.

-Miễn Lễ, đứng dậy đi.

-Tạ ơn hoàng thượng.

-Hai khanh có việc gì chăng?

  Hoạn quan Nguyễn Quỹ nói:

-Dạ, chúng thần có việc liên quan đến hoàng thượng và nhà Hậu Trần.

-Nói đi.

-Dạ, Quốc công Đặng Tất và Quân sư Nguyễn Cảnh Chân không nghe lệnh hoàng thượng là kháng chỉ, kháng chỉ có nghĩa là không coi hoàng thượng ra gì và như vậy là có lòng khác.

-Lòng khác là thế nào?

  Nguyễn Mộng Trang nói:

-Dạ, bẩm hoàng thượng, hai đại thần đó lập nhiều chiến công, thanh thế rất lớn át cả hoàng thượng, lại nắm binh quyền trong tay thì một lúc nào đó ngai vàng của hoàng thượng có còn không? Ở đời khi đã có quyền thế thì họ sẽ nhìn ngó ngai vàng. Hoàng thượng đã nhìn thấy bài học Hồ Quý Ly năm 1400 đối với anh của ngài là Trần Thuận Tông và cháu của ngài là Trần Thiếu Đế không?

  Giản Định Đế thở dài nói:

-Ta cũng bắt đầu có ý nghĩ như vậy. Bây giờ nên làm thế nào?

  Nguyễn Quỹ nói:

-Có câu “Thà ta phụ người chứ không để người phụ ta”. Hoàng thượng cứ triệu hai người vào hành dinh và mai phục võ sĩ giết chết là xong.

  Giản Định Đế thở dài:

-Thôi thì cũng đành như vậy thôi.

  Tháng 2 âm lịch năm 1409, bầu trời thật là u ám. Hành dinh của Giản Định Đế ở sông Hoàng Giang. Giản Định Đế sai quan nội thị:

-Khanh đi mời Quốc công Đặng Tất và Quân sư Nguyễn Cảnh Chân đến đây bàn việc.

-Thần tuân chỉ.

  Canh giờ sau Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân tới. Hai người quỳ hành lễ:

-Hoàng thượng vạn vạn tuế.

  Hai người chưa nói hết câu thì 4 võ sĩ mai phục trong trướng xông ra bẻ quặt tay hai người ra sau lưng. Đặng Tất bị chúng bóp cổ chết. Nguyễn Cảnh Chân dãy dụa chạy được vài bước ra ngoài cũng bị chúng chém chết.

  Giản Định Đế ra lệnh:

-Cho xác hai người vào bao tải ném xuống sông Hoàng Giang.

-Tuân lệnh hoàng thượng.

  Công việc chưa xong thì trời nổi giông gió, sấm chớp cực mạnh, lá cờ vàng của Giản Định Đế trước dinh bị gió cuốn rơi xuống đất và đẫm nước mưa như khóc hai vị đại thần trụ cột của nhà Hậu Trần bị chết oan khi sự nghiệp giải phóng dân tộc còn trùng trùng khó khăn trước mặt. Giản Định Đế nhìn cảnh tượng đó hãi hùng, ngửa mặt lên trời mà kêu:

-Ta sai rồi, ta sai rồi, rồi đây việc quân cơ ta lấy ai làm trụ cột. Than ôi!!!

  Tiếng kêu của Giản Định Đế hòa vào tiếng mưa rơi, tiếng gió rít nghe vô cùng bi thiết.

III

Lại nói hai tướng Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị đang ngồi trong hành dinh ở Bình Than uống trà. Đặng Dung lo lắng nói:

-Đêm qua ta mơ thấy phụ thân người đẫm máu về nói ta hãy rửa hận cho phụ thân. Không biết có điều gì chẳng lành xẩy ra?

  Nguyễn Cảnh Dị vừa bê chén trà chưa kịp uống, nghe Đặng Dung nói vậy cũng hốt hoảng nói:

-Chết rồi, đêm qua đệ cũng mơ thấy cha đệ về, người đẫm máu và cũng nói như vậy.

 Nguyễn Cảnh Dị vừa nói xong thì một trận gió dữ thổi qua, lá cờ soái ngoài sân trên cột rơi xuống đất. Chợt có lính gác vào báo:

-Dạ bẩm hai tướng quân, gió thổi mạnh làm lá cờ soái rách và rơi xuống đất rồi ạ.

  Hai người hoảng hốt vội chạy ra thì quả nhiên lá cờ soái đã rơi xuống đất đẫm nước mưa như máu. Hai người còn chưa hết ngạc nhiên thì có thám mã về báo:

-Dạ, bẩm hai tướng quân, Đặng Quốc công và Nguyễn Quân sư đã bị hoàng thượng giết chết, ném xác xuống sông Hoàng Giang rồi ạ.

  Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị kinh hãi:

-Hả, hoàng thượng giết vì tội gì?

-Dạ, nghe nói hai đại nhân kháng chỉ không chịu đem quân tiến đánh Đông Đô theo lệnh hoàng thượng.

Đặng Dung nói:

-Không thống nhất nhau về sách lược thì có thể bàn bạc, sao lại giết đại thần, lấy ai mà hoàng thượng dựa vào để tiếp tục kháng chiến đây?

  Nguyễn Cảnh Dị nói:

-Chắc là Giản Định Đế sẽ cho người bắt chúng ta và giết. Không lý gì giết cha mà lại để con lại, sai với nguyên tắc : “Nhổ cỏ nhổ tận gốc”.

  Đặng Dung hỏi:

-Bây giờ làm sao đây? Lệnh và quân bắt chúng ta chắc sắp đến rồi.

ch-trung-quang-1653144613.jpg
Trùng Quang Đế – Trần Quý Khoáng (chữ Hán: 重光帝, ? – 1414) là vị hoàng đế thứ hai được nhà Hậu Trần lập ra để chống cự sự đô hộ của nhà Minh sau năm 1407. Ông là con của Trang Định Vương Trần Ngạc, và là cháu nội vua Trần Nghệ Tông. Nguồn: Internet.

 

  Hai người lao lung suy nghĩ. Chợt Nguyễn Cảnh Dị nói:

 -Có cách này, hiện nay trấn thủ Hà Tĩnh là Nhập nội Thị trung Trần Quý Khoáng, cháu của Thái thượng hoàng Trần Nghệ Tông, con của Trang Định Vương Trần Ngạc bị Hồ Quý Ly giết trong vụ huyết án Trần Phế Đế. Ta hay đem quân vào đó tôn ngài ta lên làm vua, lập ra một nhà Hậu Trần mới để chống giặc.

  Đặng Dung nói:

-Không biết ngài ta có đồng ý không?

-Việc rất gấp, cứ đến, nếu ngài ta không đồng ý thì tính cách khác, chứ đứng đây chậm là chết chắc, lấy ai mà rửa hận cho hai cha.

  Đặng Dung thở dài nói:

-Thôi cũng đành như vậy thôi.

  Rồi ngay hôm đó, Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị nhổ trại, bỏ mặt trận Bình Than và Hàm Tử, kéo quân về Hà Tĩnh.

  Tháng 3, nắng đã chan hòa khắp miền Trung và Hà Tĩnh. Núi Giăng Màn, núi Quạt nhô lên xanh ngát, sông La nước vẫn cuồn cuộn màu xanh gợn sóng tuôn về đông. Một vài chiếc thuyền xuôi ngược vô định giang hồ lướt nhẹ trên sông.

  Nhập nội Thị trung Trần Quý khoáng, cháu gọi Giản Định Đế là chú đang ngồi trong hành dinh uống trà thì có gia nhân vào báo:

-Dạ, bẩm Nhập nội thị trung, có hai tướng quân là Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị đem quân từ ngoài Bắc vào xin được gặp.

-Cho mời vào ngay.

-Dạ.

Trần Quý Khoáng biết Đặng Dung là con của Quốc công Đặng Tất, còn Nguyễn Cảnh Dị là con Quân sư Nguyễn Cảnh Chân, hai người đang cùng cha của mình phò tá Giản Định Đế đánh quân Minh, giải phóng miền Bắc, sao lại kéo quân vào đây?

  Trần Quý Khoáng đang suy nghĩ thì Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị bước vào. Hai người thấy Trần Quý Khoáng còn trẻ, Khoảng hơn 20 tuổi nhưng có phong độ đế vương, mắt sáng, tai dài, mặt đẹp. Hai người chắp tay hành lễ:

-Kính chào quan Nhập nội thị Trung.

  Trần Quý Khoáng cũng chắp tay đáp lễ:

-Kính chào nhị vị tướng quân. Mời hai tướng quân ngồi.

-Đa tạ Nhập nội thị trung.

  Sau một lượt trà, Trần Quý Khoáng hỏi:

-Nhị vị tướng quân đang cùng Đặng Quốc công và Nguyễn Quân sư phò tá Giản Định Đế đánh giặc ở miền Bắc, sao lại đem quân ngược trở lại Hà Tĩnh? Có đại sự gì chăng? Mà sao trông hai tướng quân buồn thảm như vậy?

  Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị cùng quỳ xuống và nói:

-Xin vương gia cứu mạng.

-Đứng dậy đi, sao lại cứu mạng? Ai đe dọa hai tướng quân?

  Đặng Dung nói:

-Kính thưa Nhập nội Thị Trung, ngài đã nghe nói đến trận Cô Bô ở cửa sông Đáy, Nam Định, quân ta đã thắng lợi oanh liệt, tiêu diệt gần 10 vạn quận Minh và nhiều tướng lĩnh cao cấp của chúng rồi phải không?

  Trần Qúy Khoáng đáp:

-Ta đã nghe nói, thật là một trận thư hùng hiếm có.

  Đặng Dung nói tiếp:

-Sau trận thắng lớn đó, hoàng thượng muốn Đặng Quốc công và Nguyễn Quân sư đem quân đánh thẳng vào Đông Đô, nhưng hai đại thần lại muốn chia quân ra đánh các thành trước rồi mới đánh Đông Đô. Vì bất đồng về sách lược, Giản Định Đế nghe lời của hoạn quan Nguyễn Quỹ và Nguyễn Mộng Trang đã mai phục võ sĩ, gọi hai đại thần đến và giết chết vào ngày hôm qua và ném xác xuống sông Hoàng Giang. Khi đó hai chúng tôi đang ở mặt trận Bình Than và Hàm Tử Quan* sợ hoàng thượng truy sát giết hại mới chạy vào đây nhờ vương gia cứu mạng.

  Trần Quý Khoáng cả kinh:

-Hả, chỉ vì bất đồng một chút mà hoàng thượng giết đại thần trung nghĩa thì lấy ai mà mưu đại sự. Chú của ta đã làm hỏng việc lớn rồi. Than ôi! bao nhiêu xương máu của hàng vạn binh sĩ bị bọn hoạn quan phá hỏng hết rồi. Thôi được, hai tướng quân hãy ở lại đây.

  Nguyễn Cảnh Dị nói:

-Nhưng Giản Định Đế sẽ sai sứ vào đây đòi vương gia bắt hai chúng tôi, ngài tính thế nào?

-Hai tướng quân yên tâm. Dù có chiếu chỉ của hoàng thượng ta cũng nhất quyết không trao hai tướng quân cho ngài ta. Nếu ta trái lời thì thân xác ta như mũi tên này.

  Nói rồi Trần Quý Khoáng đi lại, rút mũi tên trong túi treo với cây cung ở tường ra và bẻ gãy làm đôi. Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị nói:

-Đa tạ vương gia đã cứu mạng.

  Trần Quý Khoáng gọi:

-Bay đâu.

-Dạ, vương gia.

-Làm cơm rượu ngon đem lên đây ta tiếp hai tướng quân. Còn nữa, 2 vạn lính của hai tướng quân nhập với quân ta và cho họ ăn uống tử tế. Cho cả ngựa mới vào ăn nữa.

-Dạ, tuân lệnh vương gia.

-Còn nữa, đi báo cho tướng quân Nguyễn Súy vào ăn cơm với ta.

-Dạ.

  Một lát sau thì nhà bếp đem cơm rượu đến. Đi theo vào còn có tướng Nguyễn Súy. Trần Quý Khoáng nói với Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị:

-Đây là tướng quân Nguyễn Súy, cánh tay đắc lực của ta.

-Còn đây là hai tướng Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị, con trai của Quốc Công Đặng Tất và Quân sư Nguyễn Cảnh Chân.

-Xin chào hai tướng quân.

-Không dám, xin chào tướng quân.

  Trần Quý Khoáng nâng chén:

-Xin cạn ly mừng cuộc hội ngộ.

-Đa tạ, đa tạ, kính mời vương gia, kính mời tướng quân.

-Xin mời hai tướng quân.

  Đêm đó về phòng riêng, Đặng Dung nói với Nguyễn Cảnh Dị:

-Thế nào Giản Định Đế cũng cho người vào lệnh cho Trần Quý Khoáng bắt chúng ta. Trần Quý Khoáng nếu không bắt chúng ta thì phạm tội kháng chỉ, sẽ bị Giản Định Đế giết hại và giết cả hai chúng ta. Làm thế nào bây giờ.

  Nguyễn Cảnh Dị nói:

-Chỉ có một lối thoát cho Trần Quý Khoáng và cho cả hai chúng ta.

-Lối thoát như thế nào?

-Ở Bình Than đệ đã nói với huynh rồi, tôn Trần Quý Khoáng lên ngôi, lập ra một triều Hậu Trần mới, làm như vậy Giản Định Đế không thể giết được Trần Quý khoáng, cũng không thể giết được hai chúng ta. Chúng ta lại có thể thu hút nhân lực chống Minh thắng lợi.

  Đặng Dung nói:

-Thật là diệu kế, diệu kế. Ngày mai gặp chúng ta cố dùng lời lẽ thuyết phục Trần Quý Khoáng lên ngôi.

  Nguyễn Cảnh Dị nói:

-Đã kháng chỉ, ngài ta không lên ngôi cũng chết.

  Hôm sau, sau bữa cơm sáng, bốn người ngồi uống trà, Trần Quý Khoáng nói:

-Hôm qua hoàng thượng phái người đưa khẩu dụ vào đây ra lệnh ta bắt hai tướng quân giải ra ngoài Bắc. Ta đã từ chối.

  Đặng Dung nói:

-Đa tạ vương gia đã cứu mạng nhưng như vậy ngài đã mang tội kháng chỉ, tính mạng ngài bị đe dọa nghiêm trọng rồi. Ngài định ứng phó như thế nào để thoát khỏi sự nguy hiểm này?

  Trần Quý Khoáng nói:

-Ta cũng chưa nghĩ ra được cách gì, cùng lắm thì chết thôi, có câu “Vua bảo thần chết thì thần phải chết”.

  Nguyễn Cảnh Dị nói:

-Chúng ta còn trẻ, còn phải chống giặc Minh đền nợ nước, không thể chết uổng phí vì sự u mê của một hoàng thượng được. Tôi có kế sách này, vừa thoát chết, lại vừa lo được việc cứu nước, cứu dân.

-Kế gì?

-Xem ra Giản Định Đế cũng không phải là một minh quân tài giỏi gì có thể đưa cuộc kháng chiến chống Minh thắng lợi, lại hay đa nghi giết hại trung thần. Nay mai nghe bọn gian thần, có thể quay lại giết hại cả vương gia nữa. Theo mạt tướng, chúng ta nên lập một nhà Hậu Trần mới. Vương gia hãy lên ngôi hoàng đế. Làm như vậy có hai điều lợi, một là chúng ta không bị sát hại, thứ hai là quyền lãnh đạo kháng chiến sẽ vào tay ngài, sáng suốt thu dụng nhân tài và phát triển lực lượng may ra mới thành công được.

  Trần Quý Khoáng nói:

-Như vậy sẽ có hai triều đình Hậu Trần, lực lượng sẽ chia rẽ.

  Tướng Nguyễn Súy nói:

-Cứ lập triều đình mới rồi mời hoàng thượng Giản Định Đế về làm Thái thượng hoàng, như vậy thống nhất thành một triều đình mà  Giản Định Đế vẫn là người ngồi cao nhất.

Đặng Dung nói:

-Hay, ý kiến tướng quân Nguyễn Súy thực chu toàn.

  Trần Quý Khoáng nói:

-Như vậy cũng được.

  Ngày 17 tháng 3 năm 1409, tại hành dinh ở Chi La (Đức Thọ, Hà Tĩnh), Trần Quý Khoáng đội vương miện, mặc áo hoàng bào ngồi lên ngai vàng. Nguyễn Cảnh Dị, Đặng Dung, Nguyễn Súy và các tướng hành lễ:

-Hoàng thượng vạn vạn tuế.

  Trần Quý Khoáng nói:

-Miễn lễ, các ái khanh bình thân.

-Tạ ơn hoàng thượng.

  Trần Quý Khoáng nói tiếp:

-Ta nay đăng quang hoàng đế lập ra nhà Hậu Trần, đế hiệu Trùng Quang hoàng đế. Năm 1409 là năm Trùng Quang thứ nhất. Tôn Giản Định Đế làm Thái thượng hoàng, lấy lại quốc hiệu Đại Việt. Nay phong Nguyễn Súy làm Thái phó, Nguyễn Cảnh Dị làm Thái bảo, Đặng Dung làm Đồng bình chương sự, Nguyễn Chương làm Tư mã. Quan nội thị:

-Có hạ thần.

-Khanh hãy viết bố cáo, nội dung như ta vừa nói cho khắp nơi thiên hạ biết.

-Thần tuân chỉ.

Giản Định Đế đang ngồi uống trà trong hành dinh ở Ngự Thiên (Thái Bình) thì thám mã về báo:

-Dạ bẩm hoàng thượng, tại Chi La Hà Tĩnh, Trần Quý Khoáng đã lập ra một nhà Hậu Trần mới và bố cáo khắp thiên hạ. Đây là bản “Bố cáo” ạ.

  Giản Định Đế đọc xong “Bố cáo”, tức giận nói:

-Trần Quý Khoáng, ngươi chỉ là thằng cháu của ta, dám kháng chỉ không bắt Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị, lại lập triều đình mới đối lập với ta.

canh-di-1653225380.jpg
Nguyễn Cảnh Dị (阮景異, ? – 1414) là một trong những danh tướng của nhà Hậu Trần chống giặc nhà Minh. Nguồn: honguyenvietnam.vn

 

  Lại có quan nội thị vào báo:

 -Dạ, bẩm hoàng thượng, có sứ giả của Trùng Quang Đế xin vào gặp:

-Cho vào ngay.

-Dạ.

  Người bước vào là Thái phó Nguyễn Súy. Nguyễn Súy quỳ hành lễ:

-Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.

-Bình thân, đứng dậy nói đi.

-Bẩm hoàng thượng, thần là Nguyễn Súy, Thái phó của triều đình Trùng Quang Đế. Thần được lệnh của Trùng Quang Đế ra đón hoàng Thượng về Chi La làm Thái thượng hoàng.

  Giản Định Đế nói:

-Ta đã đọc bản bố cáo của các ngươi, ta đã biết mời ta về làm Thái thượng hoàng nhưng ta không đi.

  Nguyễn Súy nói:

-Hoàng thượng vào để thống nhất triều đình. Có thống nhất được triều đình thì mới thống nhất được lực lượng, có thống nhất lực lượng thì mới mong có sức mạnh đánh bại quân Minh, giải phóng đất nước. Mong hoàng thượng lấy đất nước làm trọng. Hoàng thượng không muốn chiến thắng giặc Minh sao?

Giản Định Đế áp đảo để che đi sự đuối lý của mình:

-Ta không đi, ngươi về đi, đừng để ta nổi giận.

-Vậy thần xin cáo lui, hẹn ngày gặp lại.

  Nguyễn Súy ra đi nhưng không về Hà Tĩnh mà lại về Nam Định, nơi Thái phó đã tập kết 3 vạn quân ở đó đề phòng Giản Định Đế không nghe theo thì đánh úp và bắt cóc về. Đêm đó, Nguyễn Súy dẫn 3 vạn quân hành quân thần tốc, canh ba bao vây doanh trại Ngự Thiên, bắt lính đi tuần, lính gác rồi đốt đuốc bắc loa kêu gọi:

-Ta là Thái phó Nguyễn Súy của triều đình Trùng Quang Đế. Ta ra đây đón hoàng thượng Giản Định Đế về làm Thái thượng hoàng của nhà Hậu Trần ở Chi La, Hà Tĩnh. Cùng là quân nhà Hậu Trần nên chúng ta sẽ không đánh nhau. Yêu cầu các nghĩa sĩ bỏ vũ khí để ta mời hoàng thượng về làm Thái thượng hoàng. Các nghĩa sĩ cùng về luôn và vẫn là quân của nhà Hậu Trần.

  Nghe vậy quân của Giản Định Đế hò reo bỏ hết dao kiếm, không chống cự nữa, chạy hết sang quân của Nguyễn Súy, chỉ còn lại trơ trọi một mình Giản Định Đế và vài quan nội giám. Giản Định Đế cuối cùng đành phải lên xe ngựa, theo quân Nguyễn Súy về nhập với triều đình Trùng Quang Đế. Trùng Quang Đế tôn Giản Định Đế làm Thái thượng hoàng. Đó là ngày 20 tháng 4 năm 1409.

  Trong một sáng, Trùng Quang Đế đang ngồi uống trà trong hành dinh thì có quan nội giám báo:

-Dạ, bẩm hoàng thượng, có một người dân là là Nguyễn Trạo muốn gặp hoàng thượng báo chuyện cơ mật.

-Cho vào ngay.

  Người dân vào hành dinh, quỳ hành lễ:

-Hoàng thượng vạn tuế.

-Đứng dậy.

-Tạ ơn hoàng thượng.

-Nhà ngươi có việc gì nói đi.

-Dạ, thảo dân tên là Nguyễn Trạo phát giác được tại thượng nguồn sông La, thái hậu của Giản Định Đế cùng với hành khiển Lê Triệt và Lê Nguyên Đỉnh đang chuẩn bị dấy quân để đánh hoàng thượng.

-Quan nội thị đâu.

-Dạ, hoàng thượng.

-Lấy 10 lạng bạc thưởng cho Nguyễn Trạo.

-Đa tạ hoàng thượng.

-Cho gọi Thái bảo Nguyễn Cảnh Dị vào.

  Nguyễn Cảnh Dị vào hành lễ. Trùng Quang Đế nói:

-Khanh hãy đem 1 vạn quân vào phía tây sông La diệt Lê Triệt và Lê Nguyên Đỉnh, theo lời xui giục của Thái hậu Hưng Khánh đang chuẩn bị làm loạn, đánh úp vào chúng ta.

-Thần tuân chỉ.

  5 ngày sau, Nguyễn Cảnh Dị giải Lê Triệt và Lê Nguyên Đỉnh cùng 700 tù binh về. Trùng Quang Đế sai giết Lê Triệt và Lê Nguyên Đỉnh, còn tha cho 700 quân, sung vào làm lính.

IV.

Tháng 7 năm 1409, trời nắng như đổ lửa, Trùng Quang Đế và Thái thượng hoàng Giản Định Đế đem quân ra Bắc đánh quân Minh. Quân Minh rút vào các thành cố thủ. Thái thượng hoàng đóng quân ở Hạ Hồng, Ninh Giang, Hải Dương, Trùng Quang Đế đóng quân ở Bình Than. Trong hành dinh, Trùng Quang Đế đang ngồi bàn việc quân với Đặng Dung, Nguyễn Súy, Nguyễn Cảnh Dị thì có thám mã về báo:

-Dạ, bẩm hoàng thượng, hào kiệt và bách tính Hải Dương nhiệt liệt hoan nghênh và ủng hộ quân ta, chỉ có tên tri phủ Tam Giang, phía tây Hưng Yên Đỗ Duy Trung là kiên quyết chống lại.

  Trùng Quang Đế ra lệnh:

-Cho tiêu diệt tên phản quốc đó đi.

-Tuân lệnh hoàng thượng.

  Thấy tình hình quân Minh nguy kịch, Minh Thành Tổ lại sai Anh Quốc Công Trương Phụ đem 10 vạn quân sang cứu viện. Trương Phụ tấn công quân Hậu Trần ở Hạ Hồng do Giản Định Đế chỉ huy. Chiến sự đang tiếp diễn thì có thám mã về báo cho Trùng Quang Đế:

-Dạ bẩm hoàng thượng, Thái thượng hoàng bị Trương Phụ tấn công đã bỏ quân chạy một mình ạ.

-Chạy về hướng nào?

-Dạ, chạy về hướng nam ạ.

  Trùng Quang Đế nói:

-Tướng Nguyễn Súy đem 2 vạn quân đi cứu Thái thượng hoàng.

-Dạ, thần tuân chỉ.

  Nguyễn Súy đem quân đuổi theo Thái thượng hoàng nhưng không kịp. Giản Định Đế rơi vào ổ mai phục của quân Minh ở Hoàng Giang, bị Trương Phụ bắt, bị giải về Kim Lăng, Trung Quốc và bị giết chết. Giản Định Đế ở ngôi 3 năm, làm Thái thượng hoàng 5 tháng, thọ 35 tuổi.

Tháng 8 năm 1409, Trương Phụ tấn công quân Hậu Trần ở Bình Than, Hàm Tử Quan. Quân Việt thiếu lương thực, lâm vào tình trạng khó khăn. Trùng Quang Đế ra lệnh rút về Nghệ An.

  Tháng 5 năm 1410, Trùng Quang Đế đem quân ra Bắc lần 2. Quân Việt tiến vào La Châu, Hạ Hồng, Hải Dương. Quân Minh do Đô đốc Thiên sự Giang Hạo đem quân ra ngoài thành dàn trận chờ quân Việt. Trần Trùng Quang ra lệnh:

-Dàn trận.

  Quân Việt dàn trận. Đô đốc Giang Hạo bên quân Minh múa giáo xông ra. Bên hàng quân Việt, Thái phó Nguyễn Súy múa gươm xông ra. Hai ngựa xáp nhau, kiếm chạm giáo tóe lửa. Hai bên giao đấu 20 hiệp không phân thắng bại. Trùng Quang Đế phất cờ và hô:

-Xông lên giết giặc.

  Quân Việt hò reo xông lên như thác lũ. Quân Minh Khiếp sợ bỏ chạy, Giang Hạo cũng gạt kiếm chạy theo loạn quân. Quân Việt truy kích đến Bình Than. Quân Minh rút xuống thuyền. Quân Hậu Trần dùng tên lửa bắn xuống thuyền, vài chục thuyền quân Minh bốc cháy, số còn lại chạy về Lục Đầu Giang. Mặt trận bắc Bình Than, Lỗ Lược tướng quân Đồng Mạc, người Thanh Hóa đã phá được quân Minh và bắt sống tướng giặc là Tả Địch. Đồng Mạc được Trùng Quang Đế cử cai quản phủ Thanh Hóa. Khắp nơi ở đồng bằng sông Hồng, các hào trưởng Nguyễn Ngân Hà, Lê Nghị, Lê Khang, Đỗ Cối, Nguyễn Hiếu đã huy động dân chúng đánh quân Minh, gây cho chúng nhiều tổn thất nặng. Trong hành dinh ở Bình Than, Trùng Quang Đế nhận được nhiều tin cấp báo:

-Dạ, bẩm hoàng thượng, quân ta thua to ở Hàm Tử Quan.

-Dạ, bẩm hoàng thượng, tướng Nguyễn Cảnh Dị thua trận ở Hạ Hồng và Trương Phụ đang tiến đánh Bình Than.

  Trùng Quang Đế nói:

Ra lệnh cho các đạo quân rút về Nghệ An.

-Tuân lệnh hoàng thượng.

  Trong hành dinh ở Nghệ An, Trùng Quang Đế ra lệnh:

-Cho gọi Hồ Bối vào đây.

-Dạ.

  Hồ Bối vào quỳ hành lễ:

-Hoàng thượng vạn tuế, vạn tuế.

  Hồ Bối là anh rể của Trùng Quang Đế, lấy Quốc tỉ trưởng công chúa là chị của hoàng thượng. Trùng Quang Đế nói:

-Ái khanh đứng dậy đi.

-Tạ hoàng thượng.

  Sau một lượt trà, Trùng Quang Đế nói:

-Ái khanh đem 2 vạn quân cùng với Đồng Mặc đánh quân Minh ở Thanh Hóa, mở rộng địa bàn giải phóng của ta.

-Thần tuân chỉ.

  Trung Quang Đế lại gọi tiếp:

-Người đâu.

-Dạ, hoàng thượng.

-Gọi Đại hành khiển Nguyễn Nhật Tư, Thẩm hình Lê Ngân vào đây.

-Dạ.

  Nguyễn Nhật Tư và Lê Ngân bước vào:

-Hoàng thượng vạn vạn tuế.

-Bình thân. Hai ái khanh ngồi đi.

-Tạ ơn hoàng thượng.

  Sau khi vua tôi xong một lượt trà, Trùng Quang Đế nói:

-Nay ta chủ trương mở thêm mặt trận ngoại giao, thương lượng để nhà Minh công nhận độc lập của nước ta, công nhận nhà Hậu Trần. Hai khanh lĩnh sứ mệnh đi sứ sang Kim Lăng.

-Hạ thần tuân chỉ.

  Trong cung ở Kim lăng, hoàng đế nhà Minh Minh Thành Tổ ngồi trên ngai vàng thiết triều, có nội thị vào báo:

-Dạ, bẩm hoàng thượng, có hai sứ giả của nhà Hậu Trần từ Giao Chỉ sang muốn vào gặp.

-Cho vào.

-Dạ.

  Nguyễn Nhật Tư và Lê Ngân bước vào quỳ hành lễ:

-Hoàng thượng vạn tuế.

-Đứng dậy nói đi.

-Tâu hoàng thượng, năm 1407, hoàng thượng sai 20 vạn quân chiến đấu sang Đại Việt để “Phò Trần diệt Hồ”. Nay nhà Hồ đã bị diệt, cháu của Thái thượng hoàng Trần Nghệ Tông là Trần Quý Khoáng nay đã lập nhà Hậu Trần, phù hợp với ý muốn của hoàng thượng. Nay chúng tôi là sứ giả của Trần Trùng Quang sang đây đề đạt hoàng thượng công nhận nhà Hậu Trần, chấm dứt chiến tranh cho bách tính hai nước khỏi đau thương.

  Minh Thành Tổ cười ha hả:

-Chính quan lại nước các ngươi đã báo dòng dõi nhà Trần đã bị Hồ Quý Ly giết hết rồi, không còn ai. Nhà Hậu Trần chỉ là giả mạo gây mầm phản loạn ở Giao Chỉ.

  Nguyễn Nhật Tư đáp:

-Bẩm hoàng thượng, quan lại nào báo cáo, đó là lời của bọn Việt gian phản quốc khai báo theo yêu cầu của Trương Phụ. Đây là ngọc bội của Trần Quý Khoáng, cháu nội của Trần Nghệ Tông, ai dám bảo hoàng đế Trần Trùng Quang là giả mạo?

  Nguyễn Nhật Tư vừa nói vừa giơ ngọc bội của hoàng đế Trần Quý Khoáng. Minh Thành Tổ đuối lý thét:

-Bắt hai thằng giặc này lại cho ta.

  Lê Ngân nói:

-Hai bên giao tranh, không giết sứ giả. Điều cơ bản đó mà hoàng thượng không biết ư? Còn nói “Phù Trần diệt Hồ” cái gì? Chỉ là cái cớ để xâm lược Đại Việt và gây tội ác như núi của nhà Minh.

  Minh Thành Tổ càng phát điên thét:

-Lôi ra chém nhanh.

-Dạ.

  Bốn tên võ sĩ lôi Nguyễn Nhật Tư và Lê Ngân ra. Hai người vẫn vừa đi vừa quay lại quát lớn:

-Lũ xâm lược tàn bạo dã man, chúng mày sẽ bị trời tru đất diệt.

Biết tin hai sử giả đã bị Minh Thành Tổ giết, Trùng Quang Đế vô cùng thương xót, truy phong thành thần hoàng, cho bách tính dân làng thờ phụng, chu cấp cho con cháu. Nhưng nhà vua không nản chí, lại gọi:

-Người đâu.

-Dạ, hoàng thượng.

-Cho gọi Hành khiển Hồ Ngạn Thần và Thẩm hình Bùi Nột Ngôn vào đây.

-Dạ.

  Hồ Ngạn Thần và Bùi Nột Ngôn bước vào hành lễ:

-Hoàng thượng vạn vạn tuế.

-Bình thân, hai ái khanh ngồi đi.

-Tạ hoàng thượng.

dangdung-1653312035.jpg
Tranh minh họa Đặng Dung (1373-1414) là danh tướng nhà Hậu Trần. Nguồn: Internet

 

  Sau một lượt trà, Trùng Quang Đế nói:

-Hai ái khanh hãy vì Đại Việt, vì nhà Hậu Trần đi sứ sang nhà Minh một lần nữa.

-Tạ hoàng thượng, chúng thần tuân chỉ.

-Hai khanh đem theo “Biểu văn” của trẫm, lễ vật vàng bạc châu báu, trong đó có hai tượng người bằng vàng để cống phẩm cho nhà Minh.

-Hạ thần tuân chỉ.

Hai người sang Kim Lăng, gặp lúc Minh Thành Tổ đang thiết triều trong cung điện, được cho vào gặp, vội quỳ hành lễ:

-Hoàng thượng vạn tuế.

-Miễn lễ, hai ngươi đứng dậy đi.

-Tạ ơn hoàng thượng.

-Hai ngươi có gì tâu đi.

  Hồ Ngạn Thần nói:

-Dạ bẩm hoàng thượng, chúng thần là sứ giả của nhà Hậu Trần, xin dâng biểu của Trùng Quang Đế và cống phẩm cho hoàng thượng.

  Minh Thành Tổ rút kinh nghiệm lần trước, biết sứ giả là những người cương liệt, không nên để hoàng đế mà bị sỉ nhục trước triều đình, liền nói:

-Quan nội thị đâu.

-Dạ.

-Nhận cống phẩm và “Biểu văn” đi.

-Dạ.

  Minh Thành Tổ đọc “Biểu văn” của Trùng Quang Đế và nói:

-Hai ngươi hãy nghe khẩu dụ:

 Hồ Ngạn Thần và Bùi Nốt Ngôn quỳ. Minh Thành Tổ nói:

-Nay phong Trần Trùng Quang làm Bố chính sứ quận Giao Chỉ. Hồ Ngạn Thần làm Tri phủ Nghệ An, Bùi Nốt Ngôn làm Tri phủ Diễn Châu.

  Bùi Nốt Ngôn không nói, chỉ có Hồ Ngạn Thần nói:

-Tạ ơn hoàng thượng.

  Minh Thành Tổ nói:

-Hai ngươi đi đường mệt nhọc, nay cho về dịch quán sứ thần ngoại quốc nghỉ ngơi rồi lên đường về nước.

-Tạ ơn hoàng thượng.

  Hai người về dịch quán nghỉ ngơi. Tối hôm đó, Hồ Nguyên Trừng tới thăm. Hồ Ngạn Thần nói:

-Xin chào Tả tướng quốc.

  Hồ Nguyên Trừng chắp tay nói:

-Tả tướng quốc gì nữa chứ, nước đã mất, nhà đã tan, triều đình Đại Hồ đã sụp đổ, ta vì muốn cứu cha, chú, em và cháu nên phải nhận làm việc trong Bộ công, chế tạo thuốc súng và hỏa khí cho nhà Minh. Xa nước mấy năm ta rất nhớ quê nhà. Hai đại nhân có thể nói tình hình đất nước cho ta nghe chút được không?

  Hồ Ngạn Thần đặt ly nước uống cạn xuống và bắt đầu kể tình hình Đại Việt và nhà Hậu Trần từ khi nhà Hồ sụp đổ, đất nước bị nhà Minh xâm lược cho đến nay cho Hồ Nguyên Trừng nghe.

  Đêm đã khuya, Hồ Nguyên Trừng nói:

-Ta nhớ nước, nhớ nhà nhưng không biết bao giờ về lại, mà không chắc là về được nữa. Chúc hai đại nhân thượng lộ bình an.

-Chúc Tả tướng quốc bình an, bảo trọng.

  Hai người về thuật lại chuyến đi sứ cho Trùng Quang Đế nghe. Trùng Quang Đế biết là chuyến đi không thành công vì nhà Minh phong cho nhà vua chức giả tạo, vẫn không công nhận nhà Hậu Trần và độc lập của Đại Việt. Khi chỉ còn hai người, Bùi Nột Ngôn nói lại việc Hồ Nguyên Trừng đến thăm cho Trùng Quang Đế nghe, cả việc Hồ Ngạn Thần đã kể lại tình hình Đại Việt và nhà Hậu Trần từ sau khi mất nước cho đến nay. Trùng Quang Đế nói:

-Đem nội tình trong nước nói cho người ở nước ngoài là không nên. Võ sĩ đâu.

-Dạ.

-Bắt Hồ Ngạn Thần giam vào ngục.

-Dạ.

  Hồ Ngạn Thần bị bắt giam và vài ngày sau thì bị thắt cổ chết trong nhà ngục.

  Tháng 6 năm 1412, trời nắng như đổ lửa, Trương Phụ và Mộc Thạnh dẫn 10 vạn quân tiến vào đánh quân Hậu Trần ở miền Trung. Trước thế mạnh của quân Minh, quân Hậu Trần ở Nam Định và Ninh Bình do Nguyễn Súy, Hồ Bối, Đặng Dung chỉ huy bàn cách đối phó. Nguyễn Súy nói:

-Quân giặc rất mạnh, cứ rút về Nghệ An rồi tính sau.

  Đặng Dung nói:

-Giặc tuy mạnh nhưng đang hành quân, ta tìm địa điểm hiểm yếu mai phục đánh bất ngờ chắc tiêu diệt được chúng.

  Nguyễn Súy không nghe, cùng Hồ Bối rút lui, Đặng Dung đành phải rút theo. Quân Minh không gặp một sức kháng cự nào của quận Việt. Trương Phụ chiếm Thanh Hóa, Diễn Châu và tiến vào Nghệ An. Trùng Quang Đế ra lệnh:

-Nay thế giặc rất mạnh, tạm thời rút lui vào Hóa Châu, đợi địch hết lương thực, suy yếu thì ta phản công.

  Quân Hậu Trần rút vào Nam. Trương Phụ chiếm được thành Nghệ An, bắt được đại thần nhà Hậu Trần là Thái bảo Nguyễn Biểu. Trương Phụ hỏi:

-Tại sao ngài không chạy theo Trùng Quang Đế, ở đây đây làm gì?

  Nguyễn Biểu đáp:

-Ta ở lại làm gì là việc của ta, sao nhà ngươi hỏi làm gì?

-Nhà ngươi muốn chết rồi.

Nguyễn Biểu đáp:

-Ta thà chết đi còn hơn sống chung với bọn giặc tàn bạo như các ngươi.

Trương Phụ quá tức giận, hai mắt lồi ra quát:

-Bay đâu.

-Dạ.

-Lôi ra chém.

  Hai tên lính lôi Nguyễn Biểu ra chém, Nguyễn Biểu vẫn không ngừng chửi rủa Trương Phụ và giặc Minh cho đến khi máu chảy đầu rơi, hai mắt vẫn trừng trừng nhìn Trương Phụ căm hờn. Trong khi đó Thái phó nhà Hậu Trần là Phan Quý Hữu đầu hàng Trương Phụ được 5 ngày thì chết. Con Hữu là Phan Quý Lưu được Trương Phụ cho làm Tri phủ Nghệ An. Lưu đã kể lại toàn bộ khó khăn của triều đình Hậu Trần, còn vẽ cả sơ đồ vùng Hóa Châu cho Trương Phụ. Sau khi hiểu tình hình, Trương Phụ nói với Mộc Thạnh:

-Lần này bằng mọi giá phải tấn công vào Hóa Châu dẹp bằng được Trùng Quang Đế, nếu không khi ta về Trung Quốc, quân kia sẽ quay lại thì sự khó nhọc kéo dài.

  Mộc Thạnh nói:

-Anh Quốc công nói phải lắm.

 Trương Phụ ra lệnh cho quân Minh dốc tận lực đuổi theo quân Hậu Trần. Nắng miền Trung Trung Bộ như đổ lửa, càng vào nắng càng gay gắt, bụi cuốn mù mịt, tiếng chân người chân ngựa rầm rập trên đường thiên lý. Sau 21 ngày, quân Minh đuổi kịp quân Hậu Trần. Đến một đoạn đường dài rừng rậm, núi non hiểm trở, Mộc Thạnh nói với Trương Phụ:

-Địa thế hiểm trở, tướng quân đề phòng có mai phục.

  Trương Phụ xem sơ đồ do Phan Quý Lưu cung cấp thì địa danh trước mặt có tên là Thái Đà. Trương Phụ nói:

-Kiều Quốc công nói phải lắm, cứ cho 1 vạn quân tiên phong đi qua, ta đi xa xa phía sau, quân trước không bị mai phục thì ta cứ hành quân.

  Mộc Thạnh nói:

-Vậy cũng được.

1 vạn quân Minh dong cờ dóng trống đi trước qua Thái Đà mà không thấy động tĩnh gì. Trương Phụ ra lệnh:

-Không có quân mai phục, toàn quân truy kích tiếp.

 Do đường hẹp nên quân Minh phải đi kéo dài. Khi 2 phần 3 đội hình đã lọt đã lọt vào núi Thái Đà thì có những tên lửa bắn lên trời. Hàng vạn mũi tên từ hai bên đường, vách núi nhắm vào quân Minh mà bắn. Hàng nghìn quân Minh gục xuống chết, máu tuôn như suối. Kèm theo tên thì có đá núi to nhỏ lăn xuống đè lên  quân Minh, đầu vỡ, xương tan. Canh giờ sau thì quân Hậu Trần hai bên đường xông ra chém giết. Dù bị chết nhiều nhưng quân Minh vẫn còn đông ở phía sau và 1 vạn quân đi tiên phong phía trước quay lại, thành ra quân Hậu Trần lại lọt vào vòng vây phía nam phía bắc và bên trong giặc đánh ra. Tuy vậy quân Việt vẫn chiến đấu quyết tử. Tiếng gươm giáo chạm nhau, tiếng reo hò vang động núi non và biển Thái Đà. Ba canh giờ sau, vài vạn quân Minh bị giết gục xuống nhưng gần 7 vạn quân Việt hy sinh gần hết, số còn lại chạy lên núi để trốn. 8 vạn quân Minh bị tiêu diệt nhưng Trương Phụ vẫn còn 2 vạn, Trương Phụ dốc tàn binh truy kích. Trận Thái Đà oanh liệt nhưng nhà Hậu Trần không còn quân đội nữa. Vua tôi thoát khỏi Thái Đà chạy trốn. Tháng 11 năm 1413 Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị chạy qua Lào định sang Xiêm La nhưng bị quân Minh bắt. Nguyễn Cảnh Dị mắng Trương Phụ:

-Thằng giặc xâm lược tàn bạo kia, ta lâu nay muốn giết ngươi, nay không may bị ngươi bắt, nhưng ngươi đừng mừng vội, sẽ có hậu thế của ta bắt ngươi trả giá.

  Trương Phụ tức giận thét;

-Bay đâu

-Dạ.

-Mổ bụng người này lấy gan cho ta ăn.

-Dạ.

  Trương Phụ giết Nguyễn Cảnh Dị và Phụ ăn gan, Khi đó Nguyễn Cảnh Dị mới 36 tuổi

  Trùng Quang Đế và Nguyễn Súy chạy sang Lào nhưng cũng bị quân Minh bắt. Cuộc kháng chiến của nhà Hậu Trần nhằm giải phóng dân tộc thất bại. Nhà Hậu Trần bị tiêu diệt. Đó là năm 1413.

  Tháng 4 năm 1414, quân Minh đưa Trùng Quang Đế, Đặng Dung, Nguyễn Súy từ Đông Quan đi theo đường biển về Kim Lăng. Trùng Quang Đế cùng các tướng lĩnh nhảy xuống biển tự vẫn. Năm đó Trùng Quang Đế mới khoảng 25 tuổi, Đặng Dung  41 tuổi, Nguyễn Súy 37 tuổi. Giờ đó biển bỗng nổi bão dông. Sóng gào lên những nỗi uất hận của những người anh hùng và đón nhận những người con ra đi vì nước.

(Hết tập IV- A)