I -|- Bấy giờ là mùa đông năm 1370, Đại Việt đang dưới sự cai trị của vương triều Trần mà hoàng đế là Trần Nhật Lễ. Dòng sông Đạo Lại (Đò Lèn) của phủ Thanh Hóa, một nhánh phụ lưu của sông Mã vẫn thản nhiên tuôn nước ra biển. Hai bên bờ sông, làng xóm xanh tươi cây lá uốn lượn theo dòng sông tạo nên bức tranh thủy mặc. Lênh đênh trên sông là những con thuyền xuôi ngược giang hồ tự do cuộc đời sông nước. Phía tây, dãy núi Hàm Rồng nhô lên kỳ vĩ. Trên trời, vài đàn chim sải cánh bay về phương Nam tránh rét. Những cánh đồng lúa mênh mông đang vào mùa thu hoạch phơi một màu vàng như những tấm thảm. Dòng sông Đạo Lại sáng hôm nay có sự bất thường. Trời vừa mới rạng đông đã có một chiếc thuyền lớn chở vài trăm thủy binh từ biển đi vào. Dân tình cho đó là thuyền của quân đội hay của quan viên nhà Trần đi du ngoạn. Dân tình đoán đúng nhưng chỉ đúng một nửa. Đó là thuyền của hoàng tử nhà Trần Cung Định Vương Trần Phủ, con của Trần Minh Tông và Anh Từ Phu Nhân. Vua Trần Minh Tông tại vị từ năm 1314 đến năm 1329, sau đó nhường ngôi cho Trần Hiến Tông và làm Thái thượng Hoàng từ năm 1329 đến năm 1357. Cung Định Vương Trần Phủ đi thuyền suốt đêm cùng Lê Quý Ly và vài trăm quân bản bộ là để chạy loạn, tránh cuộc truy sát của hoàng đế Trần Nhật Lễ.
Cung Định Vương cho thuyền thả neo ở phía tây đường cầu phao Đò Lèn, cách đường thiên Lý khoảng 4 dặm, hai người ăn sáng. Sau khi ăn sáng, Trần Phủ và Lê Quý Ly ngồi uống trà. Lê Quý Ly có dáng người văn quan võ tướng, tai dài, mắt sáng lanh lợi thông minh. Lê Quý Ly sinh năm Ất Hợi (1335), quê Đại Lại, Vĩnh Lộc, huyện Hà Trung, Thanh Hóa, dòng dõi Hồ Hưng Dật. Thân mẫu Lê Quý Ly là con gái Phạm Bân, tên là Phạm Thị Mỗ, người huyện Vĩnh Lộc, là quan thái y giỏi nhất trong triều Trần Anh Tông. Nhờ Phạm Bân, hai cô của Lê Quý Ly trở thành phi tần của Trần Minh Tông, một bà là Anh Từ phu nhân, sinh ra Cung Định Vương Trần Phủ. Một bà là Đôn Từ phu nhân sinh ra Cung Tuyên Vương Trần Kính. Trần Minh Tông rất sủng ái hai bà. Nhờ vậy, em của hai bà là Lê Quốc Kỳ, tức là thân phụ của Lê Quý Ly và bản thân Lê Quý Ly cũng được vào triều chính, trở thành quan lại trong triều đình. Như vậy, Lê Quý Ly là em họ ngoại của cung Định Vương Trần Phủ và Cung Tuyên Vương Trần Kính.
Bỗng Trần Phủ muốn uống rượu liền gọi:
-Bay đâu.
-Dạ.
-Đem vò rượu ngon ra đây.
-Dạ.
Gia nhân đem rượu ra rót đầy hai bát, Trần Phủ ngồi uống với Lê Quý Ly, vừa uống vừa suy ngẫm về sự suy vi của triều đại nhà Trần từ sau khi Thái thượng hoàng Trần Minh Tông băng hà…
Nhà Trần từ sau khi Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho đến nay đã trải qua 7 vị hoàng đế: thứ nhất là Thái Tông Trần Cảnh tại vị năm 1225 đến năm 1258, làm Thái thượng hoàng từ 1258 đến 1277. Người nối ngôi là Trần Thánh Tông, tên húy Trần Hoảng, tại vị từ 1258 đến năm 1278, làm Thái thượng hoàng từ 1278 đến năm 1290. Tiếp đó là vua Trần Nhân Tông, tên húy Trần Khâm, tại vị từ 1278 đến năm 1293, Thái thượng hoàng từ 1293 đến năm 1308. Kế vị là Trần Anh Tông, tên húy là Trần Thuyên, ở ngôi từ 1293 đến 1314, Thái thượng hoàng từ 1314 đến 1330. Vua thứ 5 là hoàng đế Trần Minh Tông, tên húy Trần Mạnh, tại vị từ năm 1314 đến năm 1329, Thái thượng hoàng từ 1329 đến năm 1357. 5 vị vua trên là những vị vua anh minh, tài giỏi, biết sử dụng nhân tài như Trương Hán Siêu, Đoàn Nhữ Hải, Nguyễn Trung Ngạn, Trần Nhật Duật, Phạm Sư Mạnh. Trong các đời vua đó, pháp luật nghiêm minh, duy trì chăm lo phát triển kinh tế, văn hóa, quân sự, chính trị. Cho nên Đại Việt trong nhiều thập kỷ qua không ngừng phát triển và cường thịnh. Hoàng đế thứ 6 của nhà Trần là Trần Hiến Tông, tại vị từ 1329 đến 1341 thì băng hà khi mới 22 tuổi. Hoàng đế Trần Dụ Tông lên thay ở ngôi 28 năm, từ năm 1341 đến năm 1369. Trần Dụ Tông lên ngôi lúc 5 tuổi, lớn lên ham mê hưởng lạc, say mê bài bạc, say mê xây cất cung điện nguy nga tráng lệ. Trần Dụ Tông đưa cơ nghiệp nhà Trần vào thời kỳ lụn bại suy vong. Chơi bời quá độ nên cơ thể Trần Dụ Tông suy nhược, không thể có con nối nghiệp cho nên nuôi con nuôi của người anh là Trần Nguyên Dục làm con. Con nuôi của Trần Nguyên Dục là Trần Nhật Lễ. Nguyên mẹ của Trần Nhật Lễ là đào kép, vợ của kép hát Dương Khương. Cô ta múa vở Vương Mẫu hiến bàn đào, thân hình rất đẹp, Trần Nguyên Dục si mê, buộc nàng ta bỏ chồng về với mình khi nàng đã có mang 3 tháng với Dương Khương. Sau khi Nhật Lễ sinh ra, Trần Nguyên Dục tự nhận là con của mình.
Khi Trần Dụ Tông bệnh nặng, triều đình muốn lập con thứ ba của Trần Minh Tông là Cung Định Vương Trần Phủ lên ngôi nhưng Hiển Từ hoàng hậu khăng khăng đòi lập Trần Nhật Lễ vì nhầm đó là cháu thực sự của mình. Triều đình đành phải nghe theo.
Trần Nhật Lễ lên ngôi, tôn thái hậu làm Thái hoàng thái hậu, Trần Nguyên Trác làm thượng tướng Thái tể. Vị vua này bỏ bê chính sự, ham mê tửu sắc và hát xướng. Trần Nhật Lễ muốn đổi lại họ Dương và như vậy là nhà Trần diệt vong, ngai vàng và triều đình là của họ Dương. Thái hoàng thái hậu muốn truất phế Dương Nhật Lễ nhưng Lễ ra tay trước, ngầm sai bỏ thuộc độc giết chết Thái hoàng thái hậu. Hoàng tộc nhà Trần bất bình, hoảng loạn. Thái tể Trần Nguyên Trác cùng con là Trần Nguyên Tiết với hai cháu trai là con của Thiên Ninh công chúa âm mưu đột nhập vào cung bắt Dương Nhật Lễ nhưng công việc bại lộ, Trần Nguyên Trác cùng các con và các cháu bị Dương Nhật Lễ giết hại. Triều đình chấn động. Cung Định Vương Trần Phủ dù có con gái là hoàng hậu của Lễ nhưng sợ bị giết nên đã ngầm với em là Cung Tuyên Vương Trần Kính, Chương Túc Quốc thượng hầu Trần Nguyên Đán, công chúa Thiên Ninh cùng đem quân bản bộ về sông Đạo Lại để dấy quân bắt Dương Nhật Lễ cứu cơ nghiệp nhà Trần.
Canh giờ sau thám mã vào báo làm đứt dòng suy tưởng của Trần Phủ:
-Bẩm Cung Định Vương, thuyền của Chương Túc Quốc thượng hầu Trần Nguyên Đán đã tới ạ.
-Cho cập vào thuyền của ta và mời Chương Túc Quốc Thượng hầu sang đây.
-Dạ.
Thuyền cập vào xong thì Trần Nguyên Đán bước sang thuyền của Trần Phủ. Trần Phủ và Lê Quý Ly ra đón:
-Kính chào Chương Túc hầu.
-Không dám, xin chào Cung Định Vương.
Lê Quý Ly chắp tay chào Trần Nguyên Đán
-Kính chào Chương Túc hầu.
-Không dám, kính chào tiên sinh.
Nếu Cung Định Vương là người mặt vuông mắt sáng, quắc thược nghiêm nghị, có vẻ hà khắc thì Trần Nguyên Đán là người có vẻ phong lưu nho nhã. Ba người vừa xong một lượt trà thì gia nhân vào báo:
-Dạ bẩm Cung Định Vương có thuyền của Cung Tuyên Vương Trần Kính và Thiên Ninh công chúa đến ạ.
Mời hai người vào.
Một lát sau Trần Kính và Thiên Ninh công chúa bước vào. Trần Phủ, Lê Quý Ly và Trần Nguyên Đán đứng dậy:
-Chào Thiên Ninh công chúa, chào Cung Tuyên Vương.
-Dạ, xin chào Cung Định Vương và Chương Túc Quốc Thượng hầu và Lê tiên sinh.
-Xin mời ngồi.
-Đa tạ, đa tạ.
Năm người xong một lượt trà. Trần Phủ nói:
-Kính thưa các vị, nhà Trần ta từ khi tiên đế Trần Dụ Tông qua đời đã đưa Trần Nhật Lễ lên ngôi. Trần Nhật Lễ là con nuôi của Trần Nguyên Dục, anh của Trần Dụ Tông. Nhưng Trần Nhật Lễ là con nuôi nên họ Dương-Dương Nhật Lễ. Đã không phải họ Trần nhưng khi lên ngôi lại là hôn quân, ăn chơi vô độ, say sưa bài bạc, ca hát, bất nhân, bất nghĩa. Lễ đã bỏ thuốc độc giết chết thái hoàng thái hậu, người đã kiên quyết đưa Nhật Lễ lên ngôi, đã xuống tay tàn sát Thượng tướng quốc Thái tể Trần Nguyên Trác, con của ngài là Trần Nguyên Tiết và hai cháu, chính là hai con của Thiên Ninh công chúa, đã giết cả chồng của em gái ta là Huy Ninh công chúa. Sự tàn sát tôn thất nhà Trần chưa dừng lại ở đó... Dương Nhật Lễ còn muốn đổi sang họ Dương, cải chính từ vương triều Trần sang vương triều họ Dương. Nhà Trần đứng trước nguy cơ diệt vong và tôn thất nhà Trần đứng trước tình thế vô cùng nguy cấp, đứng trước hiểm họa. Hôm nay ta hội quân với các ngài và với công chúa Thiên Ninh tính kế diệt trừ Dương Nhật Lễ, bảo vệ vương triều, trừ đi một tai họa cho con cháu họ Trần. Công chúa và ba ngài có cao kiến gì không?
Công cúa Thiên Ninh khóc và nói:
-Mong các thân vương bắt giết Dương Nhật Lễ, báo thù cho thái hoàng thái hậu, cho Thái tể Trần Nguyên Trác, đại công tử Trần Nguyên Tiết và các cháu đã bị Dương Nhật Lễ sát hại. Hu!Hu!hu!...
Trần Kính nói:
-Sau vụ của Thái tể Trần Nguyên Trác, nay hẳn là Dương Nhật Lễ đã đề phòng, không dễ gì đột nhập được vào Tử cấm thành. Quân bản bộ của bốn chúng ta chỉ được 400 người, ngang nhiên tuyên chiến thì không đủ số lượng chống lại quân triều đình đông hàng vạn. Không biết có cách gì ít đổ máu hơn không?
Cả bốn người đang trầm ngâm suy nghĩ, chợt có thám mã của Trần Phủ về báo:
-Dạ, bẩm Cung Định Vương, tin chính xác là Dương Nhật Lễ đưa xa giá ra Nam Định đánh bạc và chơi bời.
Trần Phủ vỗ bàn:
-Thật là trời giúp ta chuyến này. Ngươi nói rõ hơn, đánh bạc ở nhà ai thôn nào?
-Dạ thưa, ở nhà hào trưởng Trần Mai, thôn Gia Hưng, Vụ Bản, Nam Định.
-Tốt, lui ra, có tin gì mới báo tiếp.
-Dạ.
Trần Phủ nói tiếp:
-Rắn đã ra khỏi hang. Ăn cơm xong chúng ta phải cho thuyền ra đi ngược lên Vị Hoàng, giả làm lái buôn, đêm khuya bao vây đột nhập vào nhà Trần Mai bắt Dương Nhật Lễ. Với cấm quân ai đầu hàng thì tha, ai chống cự thì giết.
-Dạ, tuân lệnh Cung Định Vương.
Sau khi cơm nước xong, ba thuyền nhổ neo rời sông Đạo Lại, ra cửa sông đi lên phía bắc. Trong đêm, ba thuyền vào cửa biển Vị Hoàng, 4 người cùng 400 lính lặng lẽ lên bờ, âm thầm tiến vào bao vây nhà hào trưởng Trần Mai. Đêm đã từ canh ba chuyển sang canh tư, vài tiếng gà eo óc, vài tiếng chó sủa xa xa. Thôn làng chìm trong giấc ngủ say. Bóng đêm mịt mù, gió mùa đông khua xạc xào lạnh lẽo. Một đám lính ngự lâm đi tuần phía ngoài của lũy tre trang viên. Thốt nhiên những bóng đen nhảy ra và ghì cổ, chụp những chiếc khăn vào miệng chúng. Những chiếc khăn này có tẩm thuốc mê. 10 tên lính ngự lâm gục xuống. 10 bóng đen thay trang phục ngự lâm và đi qua vọng gác:
-Ai?
-Mày mù à, chúng tao vừa đi tuần về.
Tên lính gác mở cửa. Lính ngự lâm giả dí dao vào cổ:
-Hoàng thượng ở phòng nào, dẫn đường thì tha chết.
-Dạ, xin dẫn đường, xin tha mạng.
400 lính im lặng tràn vào. Vài tên lính ngự lâm đứng cạnh phòng Dương Nhật Lễ bị giết chết ngay. Đến cửa phòng tên lính nói:
-Đây là phòng hoàng thượng.
Trần Phủ cùng 5 người lính đạp cửa xông vào. Dưới ngọn đèn dầu vàng khè, Dương Nhật Lễ trong chăn đang ôm một mỹ nhân. Chơi bời trác táng và đêm lạnh khiến Dương Nhật Lễ ngủ say như chết, khi Trần Phủ chĩa gươm lật chăn ra mới thức dậy, thấy gươm đã chĩa vào cổ liền kêu lên:
-Bay đâu, thích khách, cứu giá.
Định thần lại Dương Nhật Lễ run run:
-À, Cung Định Vương, xin ngài tha mạng, ta là con rể của ngài mà.
Trần Phủ quát:
Đốn mạt, hôn quân vô đạo, dậy mặc quần áo, chịu trói để về Thăng Long.
-Dạ, dạ, đa tạ nhạc phụ tha mạng.
Sau khi Dương Nhật Lễ mặc quần áo, Trần Phủ ra lệnh:
-Trói lại, đưa về Thăng Long
-Dạ.
Bên ngoài bọn lính ngự lâm thức dậy đã thấy gươm kề cổ, vội lạy xin tha mạng và đầu hàng. Gia đình hào trưởng Trần Mai cả nhà thức dậy, ra sân quỳ lạy như tế sao:
-Xin tha mạng, xin tha mạng.
Trần Phủ nói:
-Nhà ngươi tổ chức ăn chơi bài bạc, trác táng làm hư hỏng hoàng thượng, tội gì đây?
Cả nhà Trần Mai lạy lia lịa:
-Xin tha mạng, xin tha mạng.
Trần Phủ nói:
-Ta sẽ tha mạng nhà ngươi với một điều kiện.
-Dạ.
-Nấu cơm cho ta và tất cả binh lính ăn, ăn xong chúng ta còn về Thăng Long.
-Dạ, xin tuân lệnh, đa tạ thân vương.
Cơm xong, Trần Phủ, Trần Kính, Lê Quý Ly, Trần Nguyên Đán, Thiên Ninh công chúa cùng 400 quân bản bộ, cùng 100 lính ngự lâm đưa Dương Nhật Lễ bị trói xuống thuyền theo đường sông Luộc về Thăng Long. Cuộc đảo chính thành công mà không đổ máu vì con rắn đã rời hang ổ đi Nam Định trác táng chơi bời. Đó là tháng 10 năm 1370, Dương Nhật Lễ lên ngôi chưa được 1 năm. Đoàn thuyền đi gần trưa thì tới Thăng Long. Chiều hôm đó Trần Phủ cho thiết triều. Ngai vàng bỏ trống. Dương Nhật Lễ bị trói quỳ trước văn võ bá quan. Quan nội thị đọc tờ bố cáo: “ Dương Nhật Lễ từ khi lên ngôi không chăm lo việc nước mà sa vào ăn chơi trác táng dâm dật, cờ bạc, lại vô cớ giết hại thái hoàng thái hậu, giết quan Thái tể Trần Nguyên Trác, đại công tử Trần Nguyên Tiết và hai con của Thiên Ninh công chúa, lại mưu đổi triều đại họ Trần sang triều đại họ Dương. Tội ác của Dương Nhật Lễ trời không dung đất không tha. Nay giáng xuống làm Hôn Đức Công, đuổi ra khỏi cung về trang ấp, không được tham dự triều chính. Khâm thử”.
Đọc hết bố cáo, quan nội thị gọi:
-Lính đâu.
-Dạ.
-Đem Dương Nhật Lễ đi đuổi ra khỏi hoàng thành.
-Tuân lệnh.
Cấm quân lôi Dương Nhật Lễ đi. Quan nội thị nói tiếp:
-Kính mời bá quan văn võ nghe chỉ của Anh Tư Hoàng thái phi.
Bá quan văn võ ra khỏi ghế, quỳ nghe: “Phụng thiên thừa vận, nay ngôi vua bỏ trống, xét thấy Cung Định Vương Trần Phủ, hoàng tử thứ ba của Tiên đế Trần Minh Tông tài đức hơn người, trong lúc xã tắc nguy nan, triều đình nghiêng ngửa vì loạn giặc Nhật Lễ, Cung Định Vương đã cùng Cung Tuyên Vương Trần Kính, Chương Túc Quốc Thượng Hầu Trần Nguyên Đán, Thiên Ninh công chúa hội quân ở sông Đạo Lại Thanh Hóa bắt gọn Dương Nhật Lễ đang đi trác táng ở Nam Định, trừ hại cho triều đình, bảo vệ được ngai vàng nhà Trần khỏi bị thay sang họ Dương. Nay Trần Phủ xứng đáng ngồi vào ngôi báu, gánh vác trọng trách cho sơn hà xã tắc. Khâm thử”.
Trần Phủ bước lên quỳ nhận chỉ, quan nội vụ khoác áo long bào, đội vương miện cho Trần Phủ. Áo bào và vương miện màu vàng quả nhiên làm cho Trần Phủ nổi ánh hào quang rạng rỡ vẻ đế vương. Bá quan văn võ quỳ xuống tung hô chúc mừng:
-Chúc mừng hoàng thượng, hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.
-Miễn lễ, các ái khanh bình thân.
-Tạ ơn hoàng thượng.
Trần Phủ nói:
-Ta nay đăng cơ hoàng đế Đại Việt, lấy đế hiệu Trần Nghệ Tông, niên hiệu Thiệu Khánh. Năm 1370 là năm Thiệu Khánh thứ nhất .
Bá quan văn võ lại tung hô:
-Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.
-Miễn lễ, các ái khanh bình thân.
-Tạ ơn hoàng thượng.
Tên lính gác mở cửa. Lính ngự lâm giả dí dao vào cổ:
-Hoàng thượng ở phòng nào, dẫn đường thì tha chết.
-Dạ, xin dẫn đường, xin tha mạng.
400 lính im lặng tràn vào. Vài tên lính ngự lâm đứng cạnh phòng Dương Nhật Lễ bị giết chết ngay. Đến cửa phòng tên lính nói:
-Đây là phòng hoàng thượng.
Trần Nghệ Tông(1321 - 1394) Nguồn: thuvienlichsu.com
Trần Phủ cùng 5 người lính đạp cửa xông vào. Dưới ngọn đèn dầu vàng khè, Dương Nhật Lễ trong chăn đang ôm một mỹ nhân. Chơi bời trác táng và đêm lạnh khiến Dương Nhật Lễ ngủ say như chết, khi Trần Phủ chĩa gươm lật chăn ra mới thức dậy, thấy gươm đã chĩa vào cổ liền kêu lên:
-Bay đâu, thích khách, cứu giá.
Định thần lại Dương Nhật Lễ run run:
-À, Cung Định Vương, xin ngài tha mạng, ta là con rể của ngài mà.
Trần Phủ quát:
Đốn mạt, hôn quân vô đạo, dậy mặc quần áo, chịu trói để về Thăng Long.
-Dạ, dạ, đa tạ nhạc phụ tha mạng.
Sau khi Dương Nhật Lễ mặc quần áo, Trần Phủ ra lệnh:
-Trói lại, đưa về Thăng Long
-Dạ.
Bên ngoài bọn lính ngự lâm thức dậy đã thấy gươm kề cổ, vội lạy xin tha mạng và đầu hàng. Gia đình hào trưởng Trần Mai cả nhà thức dậy, ra sân quỳ lạy như tế sao:
-Xin tha mạng, xin tha mạng.
Trần Phủ nói:
-Nhà ngươi tổ chức ăn chơi bài bạc, trác táng làm hư hỏng hoàng thượng, tội gì đây?
Cả nhà Trần Mai lạy lia lịa:
-Xin tha mạng, xin tha mạng.
Trần Phủ nói:
-Ta sẽ tha mạng nhà ngươi với một điều kiện.
-Dạ.
-Nấu cơm cho ta và tất cả binh lính ăn, ăn xong chúng ta còn về Thăng Long.
-Dạ, xin tuân lệnh, đa tạ thân vương.
Cơm xong, Trần Phủ, Trần Kính, Lê Quý Ly, Trần Nguyên Đán, Thiên Ninh công chúa cùng 400 quân bản bộ, cùng 100 lính ngự lâm đưa Dương Nhật Lễ bị trói xuống thuyền theo đường sông Luộc về Thăng Long. Cuộc đảo chính thành công mà không đổ máu vì con rắn đã rời hang ổ đi Nam Định trác táng chơi bời. Đó là tháng 10 năm 1370, Dương Nhật Lễ lên ngôi chưa được 1 năm. Đoàn thuyền đi gần trưa thì tới Thăng Long. Chiều hôm đó Trần Phủ cho thiết triều. Ngai vàng bỏ trống. Dương Nhật Lễ bị trói quỳ trước văn võ bá quan. Quan nội thị đọc tờ bố cáo: “ Dương Nhật Lễ từ khi lên ngôi không chăm lo việc nước mà sa vào ăn chơi trác táng dâm dật, cờ bạc, lại vô cớ giết hại thái hoàng thái hậu, giết quan Thái tể Trần Nguyên Trác, đại công tử Trần Nguyên Tiết và hai con của Thiên Ninh công chúa, lại mưu đổi triều đại họ Trần sang triều đại họ Dương. Tội ác của Dương Nhật Lễ trời không dung đất không tha. Nay giáng xuống làm Hôn Đức Công, đuổi ra khỏi cung về trang ấp, không được tham dự triều chính. Khâm thử”.
Đọc hết bố cáo, quan nội thị gọi:
-Lính đâu.
-Dạ.
-Đem Dương Nhật Lễ đi đuổi ra khỏi hoàng thành.
-Tuân lệnh.
Cấm quân lôi Dương Nhật Lễ đi. Quan nội thị nói tiếp:
-Kính mời bá quan văn võ nghe chỉ của Anh Tư Hoàng thái phi.
Bá quan văn võ ra khỏi ghế, quỳ nghe: “Phụng thiên thừa vận, nay ngôi vua bỏ trống, xét thấy Cung Định Vương Trần Phủ, hoàng tử thứ ba của Tiên đế Trần Minh Tông tài đức hơn người, trong lúc xã tắc nguy nan, triều đình nghiêng ngửa vì loạn giặc Nhật Lễ, Cung Định Vương đã cùng Cung Tuyên Vương Trần Kính, Chương Túc Quốc Thượng Hầu Trần Nguyên Đán, Thiên Ninh công chúa hội quân ở sông Đạo Lại Thanh Hóa bắt gọn Dương Nhật Lễ đang đi trác táng ở Nam Định, trừ hại cho triều đình, bảo vệ được ngai vàng nhà Trần khỏi bị thay sang họ Dương. Nay Trần Phủ xứng đáng ngồi vào ngôi báu, gánh vác trọng trách cho sơn hà xã tắc. Khâm thử”.
Trần Phủ bước lên quỳ nhận chỉ, quan nội vụ khoác áo long bào, đội vương miện cho Trần Phủ. Áo bào và vương miện màu vàng quả nhiên làm cho Trần Phủ nổi ánh hào quang rạng rỡ vẻ đế vương. Bá quan văn võ quỳ xuống tung hô chúc mừng:
-Chúc mừng hoàng thượng, hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.
-Miễn lễ, các ái khanh bình thân.
-Tạ ơn hoàng thượng.
Trần Phủ nói:
-Ta nay đăng cơ hoàng đế Đại Việt, lấy đế hiệu Trần Nghệ Tông, niên hiệu Thiệu Khánh. Năm 1370 là năm Thiệu Khánh thứ nhất .
Bá quan văn võ lại tung hô:
-Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.
-Miễn lễ, các ái khanh bình thân.
-Tạ ơn hoàng thượng.
II
Thăng Long một buổi sáng mùa xuân năm 1371, trong cung, Công chúa Nhất Chi Mai (Huy Ninh công chúa) đang ngồi uống trà sau khi ăn sáng thì có thị nữ vào báo:
-Dạ bẩm công chúa, có hoàng thượng giá đáo.
-Mời hoàng thượng vào.
-Dạ.
Trần Nghệ Tông bước vào. Công chúa quỳ hành lễ:
-Hoàng thượng vạn tuế.
Trần Nghệ Tông nói:
-Đứng dậy đi anh em trong nhà, muội không cần đa lễ.
-Đa tạ hoàng thượng. Mời hoàng thượng ngồi. Bay đâu dâng trà.
-Dạ.
Trần Nghệ Tông và công chúa ngồi. Sau một lượt trà, Trần Nghệ Tông nói:
-Tiên đế và thân mẫu sớm qua đời rồi đến Hiến Tông Trần Vương cũng sớm qua đời, anh em cùng mẹ cùng cha chỉ còn huynh và muội. Phu quân muội lại bị Dương Nhật Lễ giết hại. Huynh thấy cần phải lo cho muội kẻo sống cô đơn một mình, không nơi nương tựa, khổ cho hiện nay và cả sau này.
Công chúa Huy Ninh đặt ly trà uống cạn xuống bàn và nói:
-Đa tạ huynh đã quan tâm đến muội. Hình như huynh đã tìm được cho muội một đám nào rồi phải không? Thân em là cành vàng lá ngọc, cũng hơi khó cho huynh rồi.
Trần Phủ đặt ly trà và hỏi:
-Muội có biết người em họ ngoại của chúng ta là Lê Quý Ly không?
Công chúa đáp:
-Dạ, muội có biết nhưng không rõ ràng và không được nhiều. Huynh nói muội nghe thêm chút.
Trần Nghệ Tông nói:
-Lê Quý Ly quê quán ở Hà Trung, Thanh Hóa, là cháu của hai thân mẫu nhà ta, phải gọi Anh Từ Thái phi và Đôn Từ Thái phi là cô ruột. Như vậy Lê Quý Ly là em họ ngoại của chúng ta. Lê quý Ly có vóc dáng là văn quan, lại có dáng võ tướng, năm này 35 tuổi, có tài năng. Vừa rồi chính Lê Quý Ly đã cùng anh chạy vào Thanh Hóa hội quân và chính Lê Quý Ly đã bàn kế sách tấn công Nam Định để bắt sống Dương Nhật Lễ, đóng góp lớn cho cuộc chính biến, diệt trừ tai họa cho triều đình. Huynh định bồi dưỡng cho anh ta thăng tiến làm chỗ dựa cho vương triều đang suy yếu như hiện nay.
Huy Ninh công chúa nói:
-Được như vậy thì tốt quá, gái đã một đời chồng còn mong gì hơn. Nhưng huynh đã hỏi Lê Quý Ly chưa?
-Muội đồng ý thì mai huynh sẽ nói.
- Đa tạ huynh.
Hôm sau trong cung của mình, Trần Nghệ Tông ngồi uống trà sau khi ăn sáng và bảo quan nội thị:
-Đi mời Cung Tuyên Vương Trần Kính vào đây.
-Dạ.
Trần Kính là con của Đôn Từ Thái phi, em ruột của Anh Từ thái phi là thân mẫu của Trần Nghệ Tông, Trần Hiến Tông và Huy Ninh công chúa, cùng là thái phi của vua Trần Minh Tông. Trần Hiến Tông đã mất năm 1341. Vậy Trần Kính là em cùng cha khác mẹ với Trần Nghệ Tông.
Một lát sau Cung Tuyên vương Trần Kính bước vào vội quỳ hành lễ:
-Hoàng thượng vạn tuế, vạn tuế.
-Miễn lễ, đứng dậy đi.
-Tạ hoàng thượng.
Sau một lượt trà, Trần Nghệ Tông đặt chén xuống và nói:
-Đệ này, công chúa Huy Ninh em gái của chúng ta thì đệ đã rõ, còn trẻ tuổi, nhan sắc, chưa có con cái gì, phu quân đã bị Dương Nhật Lễ giết chết. Ta định gả muội ấy cho Lê Quý Ly. Đệ thấy thế nào?
Cung Tuyên Vương nói:
-Được như vậy thì tốt quá. Chỉ sợ tỉ ấy không đồng ý.
-Hôm qua ta đã nói với muội ấy rồi. Muội ấy đã ưng thuận.
-Thế còn Lê Quý Ly?
-Để ta gọi Lê Quý Ly đến nói chuyện.
Rồi Trần Nghệ Tông gọi:
-Người đâu.
-Dạ.
-Đi gọi Lê Quý Ly vào đây.
-Dạ, tuân lệnh hoàng thượng.
Một lát Lê Quý Ly bước vào quỳ hành lễ:
-Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.
-Miễn lễ. Ái khanh bình thân.
-Tạ hoàng thượng.
-Kính chào Cung Tuyên Vương.
-Xin chào đệ. Mời ngồi.
-Đa tạ Cung Tuyên Vương.
Sau khi ba người cạn một chầu nước, Trần Nghệ Tông nói:-Đệ gọi hai mẫu thân ta là cô ruột, như vậy đệ là em bên ngoại của chúng ta. Thế hoàn cảnh gia thất của đệ thế nào rồi?
Lê Quý Ly đáp:
-Dạ bẩm hoàng thượng, bẩm Cung Tuyên Vương, đệ đã có một thiếp, còn con cái thì chưa có ạ.
Trần Nghệ Tông nói:
-Ta có một em gái là công chúa Huy Ninh, chồng đã bị Dương Nhật Lễ giết chết, cũng chưa có con cái gì. Ta muốn gả cho đệ để thành phu thê. Nếu được như vậy càng thắt chặt thêm tình huynh đệ của chúng ta. Đệ thấy thế nào?
Lê Quý Ly chắp tay đáp:
-Đa tạ hoàng thượng, đa tạ Cung Tuyên Vương, được như vậy thì còn gì bằng. Nhưng công chúa là cành vàng lá ngọc, e rằng…
Trần Nghệ Tông ngắt lời:
-Đệ đừng e ngại, ta đã hỏi công chúa rồi và muội ấy đã tỏ ra đồng ý.
Lê Quý Ly vội quỳ xuống chắp tay và nói:
-Vậy xin hai huynh hãy nhận của đệ một lạy, cảm tạ hai huynh đã tán thành.
Sau cuộc trò chuyện đó, ba ngày sau khi chuẩn bị đầy đủ, hôn lễ của Lê Quý Ly và Huy Ninh công chúa được tiến hành ba ngày ròng rã tưng bừng náo nhiệt khắp kinh thành, cỗ bàn thịnh soạn, rượu như nước, xôi thịt như núi. Triều đình và dân kinh thành đều nói Lê Quý Ly gặp vận may hiếm có nhờ Anh Từ Thái phi và Đôn Từ thái phi là hai cô ruột là phi của Trần Minh Tông mà được vào triều đình, nay nhờ cuộc hôn nhân mà thành phò mã, được Trần Nghệ Tông vô cùng yêu quý tin cậy. Dưới con mắt của Trần Nghệ Tông, Lê Quý Ly là một cây cột lớn có thể chống đỡ được ngôi nhà của vương triều Trần đang lung lay sụp đổ, hoặc dã sử không chống đỡ nổi thì Lê Quý Ly cũng có thể thay thế lập một triều đại mới vững mạnh hơn để ổn định thiên hạ, giữ vững sơn hà xã tắc, bảo đảm an toàn cho tôn thất nhà Trần. Trong tầm nhìn, Trần Nghệ Tông đang muốn đóng vai trò như Lý Huệ Tông chuẩn bị chuyển giao vương triều vào tay một người như Thái Tông Trần Cảnh xưa. Cho nên sau hôn lễ, ngoài quan hệ anh em bên ngoại, nay quan hệ giữa Trần Nghệ Tông với Lê Quý Ly thêm mối quan hệ anh em rể, Lê Quý Ly thành phò mã của triều đình. Sau này, khi đã có con là công chúa Lê Thánh Ngâu (Hồ Thánh Ngâu), Lê Quý Ly gả cho con út của Trần Nghệ Tông là vua Trần Thuận Tông thì lại thêm mối quan hệ thông gia nữa. Mối quan hệ chồng chéo này cộng thêm sự tín nhiệm đặc biệt của Trần Nghệ Tông có một không hai đã mở đường cho Lê Quý Ly đi đến nắm đại quyền và đi thẳng tới ngai vàng vào năm 1400.
Nhờ những mối quan hệ đặc biệt đó, Lê Quý Ly thăng tiến nhanh chóng. Tháng 5 năm 1371, trong một buổi thiết triều, Lê Quý Ly được Trần Nghệ Tông phong chức Khu mật viện Đại sứ đứng đầu Khu mật viện, chính thức được tham dự triều chính. Tháng 9 năm 1371, Trần Nghệ Tông lại phong cho Lê Quý Ly tước hiệu Trung Tuyên Quốc Thượng hầu.
Năm 1371, Trần Nghệ Tông xuống chiếu phong cho em cùng cha khác mẹ là Cung Tuyên Vương Trần Kính lên ngôi, đế hiệu là Trần Duệ Tông. Trần Nghệ Tông làm Thái thượng hoàng nhưng vẫn nắm toàn bộ quyền lực trong nước. Trần Nghệ Tông cử Lê Quý Ly làm tham mưu quân sự.
Mùa đông năm 1376, Thăng Long chìm trong gió rét. Vua Trần Duệ Tông đang ngồi trong cung uống trà thì có quan nội thị vào báo:
-Dạ bẩm hoàng thượng, có thám mã từ phương Nam về cấp báo.
-Cho vào.
-Dạ.
Thám mã vào quỳ hành lễ:
-Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.
-Miễn lễ, có việc gì đứng dậy nói ngay đi.
-Dạ bẩm hoàng thượng, vua Chiêm Thành là Chế Bồng Nga đem 5 vạn quân đánh phá biên giới phía Nam ạ.
-Rồi, lui ra ăn uống nghỉ ngơi đi.
-Đa tạ hoàng thượng.
-Người đâu?
-Dạ.
-Gọi Tướng quân Đỗ Tử Bình vào đây.
-Dạ.
Đỗ Tử Bình vào quỳ gối hành lễ:
-Hoàng thượng vạn vạn tuế.
-Bình thân.
-Tạ ơn hoàng thượng.
-Hiện nay, vua Chiêm Thành là Chế Bồng Nga đem 5 vạn quân xâm phạm biên giới phía Nam. Ái khanh đem 10 vạn quân vào chống giặc.
-Dạ, thần tuân chỉ.
Đỗ Tử Bình kéo 10 vạn quân vượt qua đèo Hải Vân vào Quảng Nam đối diện với doanh trại của Chế Bồng Nga. Nhìn thấy quân Việt đông gấp bội, khí thế hùng mạnh, mưu sĩ của Chế Bồng Nga nói:
-Quân Việt đông và hùng mạnh, hoàng thượng nên giảng hòa chờ dịp khác chúng suy yếu hãy đánh cũng chưa muộn.
Chế Bồng Nga nói:
-Nhà ngươi nói phải lắm. Ngươi hãy dẫn một phái đoàn, đem 10 mâm vàng sang đại quân Việt giảng hòa.
Đỗ Tử Bình rút quân về nhưng giấu 10 mâm vàng và tâu với Trần Duệ Tông:
-Dạ, bẩm hoàng thượng, Chế Bồng Nga ngạo mạn không thần phục, lại thách hoàng thượng đem quân vào giao đấu một trận. Cho nên thần vội rút quân về bẩm hoàng thượng.
Trần Nghệ Tông nghe nói nổi giận đập bàn:
-Thằng vua mọi rợ này láo xược. Bay đâu:
-Dạ.
-Lệnh chuẩn bị 12 vạn đại binh, trẫm thân chinh chinh phạt Chế Bồng Nga.
-Dạ, tuân chỉ.
Tháng 12 năm 1376, 12 vạn quân do Trần Duệ Tông chỉ huy theo đường biển tiến vào Nam. Mùa đông bầu trời u ám, sóng lừng vỗ vào hàng trăm chiến thuyền tung bọt trắng xóa. Cờ phiến vàng rực bay bát ngát trên biển. Hành quân hai ngày hai đêm, quân Việt đổ bộ lên cửa biển Thi Nại (Quy Nhơn). Sớm hôm sau thám mã về báo:
-Dạ bẩm hoàng thượng, có sứ giả Chiêm Thành đến.
-Cho vào.
Viên sứ giả Chiêm Thành vào quỳ hành lễ:
-Hoàng thượng vạn tuế vạn tuế.
Trần Duệ Tông nói:
-Ngươi đến có việc gì? Về bảo với vua nhà ngươi đem quân giao chiến như lời thách đấu.
-Dạ bẩm hoàng thượng, vua chúng tôi nghe đại quân của hoàng thượng đến đây đã hoảng sợ bỏ chạy vào đất cực Nam, kinh đô Đồ Bàn bỏ trống. Mong hoàng thượng vào lập vua mới, mãi mãi thần phục Đại Việt để yên lòng bá tính.
Trần Duệ Tông nói:
-Được, ta sẽ tiến vào Đồ Bàn.
Trần Húc can:
-Có thể có mưu kế, xin hoàng thượng cẩn trọng.
Trần Duệ Tông nói:
-Ta có 12 vạn quân, cho dù Chế Bồng Nga có quỷ kế gì ta cũng đập tan. Tiến quân vào Đồ Bàn, xuất phát.
-Tuân lệnh hoàng thượng.
Quân Việt chỉ để lại 3 vạn quân coi thuyền, còn 9 vạn quân theo Trần Duệ Tông hành quân vào Đồ Bàn. Thốt nhiên lá cờ soái bị gió thổi đổ gục, các tướng lĩnh đều rợn người cảm thấy điều không lành. Quân Việt từ Thi Nại vào Đồ Bàn phải qua một khu núi non hiểm trở, cây cối rậm rạp. Quân Việt đang đi, thốt nhiên có những phát tên lửa bắn lên trời. Quân Việt còn đang ngơ ngác thì hàng vạn mũi tên từ hai bên sườn núi bắn ra. Hàng nghìn quân Việt gục xuống, thây đổ, máu phun chan hòa. Trần Duệ Tông đi trung quân, lại có lọng vàng, có cờ soái nên quân Chiêm Thành cứ nhằm vào đó mà bắn. Trần Duệ Tông bị nhiều phát tên, chết ngay tại trận. Đại quân Việt tan tác, số chết, số mở đường máu rút ra Thi Nại lên thuyền chạy ra Bắc. Trần Húc, em của Trần Nghệ Tông, phò mã nhà Trần bị bắt và đầu hàng, Chế Bồng Nga không giết, lại gả công chúa cho. Trần Húc thành lưỡng quốc phò mã. Lê Quý Ly khi đó đi hậu quân, phụ trách lương thực, cũng vội vã bỏ chạy về nước. Đỗ Tử Bình đi hậu quân không cứu Trần Duệ Tông cũng tháo chạy. Ngoài mất vua, mất vài vạn quân, trận này nhà Trần còn mất các tướng có năng lực như Nguyễn Lạp Hòa, hành khiển Phạm Huyền Linh, tướng quân Đỗ Lễ…Tất cả đều cùng Trần Duệ Tông và vài vạn quân hy sinh trong một ngày. Đó là tháng 12 năm 1376, Trần Duệ Tông khi đó mới 39 tuổi (1337-1376), ở ngôi được 4 năm. Sau trận này nhà Trần càng suy yếu nhiều mặt nhưng kiệt quệ về quân sự, không thể gượng dậy được nữa.
Sang năm 1377, Thái thượng hoàng Trần Nghệ Tông làm lễ chiêu hồn cho Trần Duệ Tông và xây mộ gió ở Chiêu Lăng. Trần Nghệ Tông lập con trưởng của Trần Duệ Tông là Kiến Đức Đại Vương Trần Hiện mới 16 tuổi, cháu gọi Trần Nghệ Tông bằng bác lên ngôi, đế hiệu là Trần Phế Đế.
Sau trận đại thắng, giết chết vua Trần Duệ Tông, Chế Bồng Nga biết binh lực nhà Trần đã suy yếu, liền mở các cuộc tấn công bằng đường biển vào Đại Việt năm 1377, 1378. Cả hai lần quân Chiêm Thành không gặp một sự kháng cự nào đáng kể của quân Đại Việt. Cả hai lần Quân Chiêm Thành vào được Thăng Long. Thái thượng hoàng Trần Nghệ Tông, vua Trần Phế Đế đem triều đình chạy lên Bắc Giang. Khi rút đi, quân Chiêm Thành đốt nhiều lâu đài cung điện, cướp hết vàng bạc châu báu, bắt về Chiêm Thành nhiều đàn bà con gái làm nô tì.
Trong một buổi sáng năm 1379, Trần Nghệ Tông đang ngồi uống trà trong hành cung thì có nội thị vào báo:
-Dạ bẩm Thái thượng hoàng, có Lê Quý Ly muốn vào gặp.
-Cho vào.
-Dạ.
Lê Quý Ly vào quỳ hành lễ:
-Thái thượng hoàng vạn tuế, vạn vạn tuế.
-Miễn lễ, bình thân, ngồi đi.
-Tạ Thái thượng hoàng.
Sau một ly trà, Lê Quý Ly nói:
-Thần tuân chỉ Thái thượng hoàng, khổ công đi tìm nhân tài về quân sự cho triều đình, nay có con của sư phụ của thần là Nguyễn Đa Phương có tài cầm quân chiến trận, có thể cùng thần cầm quân chống lại Chế Bồng Nga.
Trần Nghệ Tông nói:
-Vậy thì phong Nguyễn Đa Phương làm tướng, Phạm Cự Luận làm Quyền Đô sự giúp khanh. Ta phong khanh giữ chức Tư không kiêm hành khu mật Đại sự. Ái khanh hãy lo liệu chống lại giặc Chiêm Thành cho có hiệu quả.
-Đa tạ Thái thượng hoàng, thần sẽ hết lòng tận trung báo quốc, đền đáp công ơn Thái thượng hoàng.
Tháng 3 năm 1380, nắng hè rải xuống Thăng Long như thảm lụa, nắng lọt qua những rặng cây xanh lọt xuống hoàng thành. Gió mùa xuân đưa nhẹ làm lá cây khua xào xạc. Trong cung của điện Càn Nguyên, Thái thượng hoàng Trần Nghệ Tông đang ngồi uống trà, chợt có quan nội thị vào báo:
-Dạ, bẩm Thái thượng hoàng, có thám mã từ phía nam về xin cấp báo.
-Cho vào ngay.
-Dạ.
Thám mã vào quỳ hành lễ:
-Thái thượng hoàng vạn tuế.
-Miễn lễ, có gì nói ngay đi.
-Dạ bẩm Thái thượng hoàng, quân Chiêm Thành đã đánh vào Thanh Hóa và Nghệ An, tình hình vô cùng nguy cấp ạ.
-Nhà ngươi lui ra.
-Dạ.
-Ngườiđâu.
-Dạ.
-Cho mời quan Tư không Lê Quý Ly vào đây.
-Dạ.
Lê Quý Ly bước vào quỳ hành lễ:
-Thái Thượng hoàng vạn tuế, vạn tuế.
-Miễn lễ, ngồi đi.
-Đa tạ Thái thượng hoàng.
Sau khi hai người cạn mỗi người một ly trà, Trần Nghệ Tông nói:
-Hiện nay, quân Chiêm Thành đã tấn công Nghệ An, Thanh Hóa, ta phong thêm cho khanh chức Nguyên Nhung hành hải Tây Đô thống chế, cầm quân cùng Đỗ Tử Bình vào Thanh-Nghệ chống giặc.
Lê Quý Ly vội quỳ và nói:
-Đa tạ Thái thượng hoàng yêu mến, thần sẽ cố hết sức đuổi giặc.
-Ta chờ tin thắng trận ở khanh.
-Thần sẽ không làm Thái thượng hoàng thất vọng.
Trời chưa sáng, 300 chiến thuyền, 3 vạn thủy binh do Lê Quý Ly chỉ huy đã rời khỏi cửa Nam Triệu sông Cấm đè sóng tiến về nam. Trời tháng 5 bình minh rực rỡ rải nắng xuống đại dương, sóng biển từng đợt tung bọt trắng xóa vỗ vào mạn những con thuyền và tan ra ngầu bọt trắng. Cờ vàng trên thuyền tung bay phấp phới rợp trời. Thuyền của Lê Quý Ly đi trung quân, trên cột buồm có lá cờ chữ “Soái” màu đỏ tung bay phần phật. Trong căn phòng rộng của tàu, Lê Quý Ly cùng tướng chỉ huy quân Thần vũ là Nguyễn Kim Ngao và tướng chỉ huy quân Thị vệ là Đỗ Dã Kha đang nghiên cứu địa hình sông Mã, nơi thủy quân Chiêm Thành đang tập kết. Theo tin tức thám mã báo về thì thủy quân Chiêm Thành đang chiếm đóng một nhánh sông Mã đổ ra cửa biển Lạch Trường. Phía bắc nhánh sông này giáp Nga Sơn, phía nam giáp Hậu Lộc. Lê Quý Ly nhìn sơ đồ rồi nói:
-Hiện nay thủy quân Chiêm Thành đang ở Lạch Trường là nhánh giữa của sông Mã, ta cho thủy quận ta rẽ vào sông Đò Lèn là nhánh phía bắc Lạch Trường đi vào sông Mã. Ban đêm ta từ sông Mã rẽ vào bất ngờ tấn công phía tây Lạch Trường tiêu diệt quân Chiêm. Quân Chiêm thất bại phải tháo chạy ra biển về nước. Ta sẽ thu được thắng lợi.
Hai tướng đều nói:
-Kế của Tổng đô thống chế hay lắm.
Xế chiều, Lê Quý Ly cho đoàn chiến thuyền rẽ vào sông Đò Lèn, nhánh phía bắc của sông Mã, nằm giữa hai huyện Hà Trung và Nga Sơn rồi lên sông Mã, sau đó từ hướng tây rẽ vào sông Lạch Trường. Đến canh ba Lê Quý Ly lệnh cho chiến thuyền dàn hàng ngang lao tới bắn lửa và tên vào chiến thuyền của Chiêm Thành. Hàng chục thuyền của Chiêm Thành bốc cháy. Lính tráng thức dậy thì bị hàng nghìn mũi tên của quân Đại Việt tiêu diệt hoặc bị lửa thiêu chín, xác nổi đầy sông. Quân Chiêm Thành đại bại, còn vài chục thuyền vội chạy ra biển và chạy về nước.
Đạo bộ binh Đại Việt 3 vạn người do Đỗ Tử Bình đến nơi thì chiến dịch đã kết thúc. Từ đó, Đỗ Tử Bình cáo ốm, không nắm binh quyền nữa. Lê Quý Ly với chức Nguyên Nhung hành hải Tây Đô Thống chế đã thống lĩnh toàn bộ quân đội nhà Trần.
Thăng Long, một sáng năm 1382, trong cung Trần Nghệ Tông đang bàn công việc với vua Trần Phế Đế, Lê Quý Ly và Nguyễn Đa Phương. Trần Nghệ Tông nói:
-Theo tin thám mã từ phía nam về báo, thủy quân Chiêm Thành do Chế Bồng Nga chỉ huy đang vượt biển tiến ra bắc, chưa biết chúng sẽ đánh vào sông nào, phủ nào. Các ái khanh có kế sách gì chống giặc không?
Lê Quý Ly nói:
-Bẩm Thái thượng hoàng, bẩm hoàng thượng, chưa rõ chúng đổ bộ đánh phá ở đâu nên trước hết cử một tướng đem một đạo thủy binh chặn ở cửa Thần Phù, một đạo bộ binh đóng ở núi Long Đại (Hàm Rồng), Thanh Hóa đề phòng chúng đổ bộ lên bờ.
Trần Nghệ Tông nói:
-Khanh nói phải lắm. Tướng quân Nguyễn Đa Phương.
-Dạ, có thần.
-Khanh đem đạo thủy binh đến chờ giặc ở cửa Thần Phù.
-Thần tuân chỉ.
-Tây Đô thống Lê Quý Ly.
-Dạ, có thần.
-Khanh chỉ huy đạo bộ binh đến đợi giặc ở núi Long Đại, phủ Thanh Hóa.
-Thần tuân chỉ.
Thủy binh và bộ binh Đại Việt hành quân thần tốc. Khi quân Chiêm Thành còn hành trình trên biển Nghệ An thì thủy quân Đại Việt đã chờ ở cửa biển Thần Phù, còn bộ binh đã dàn trận ở chân núi Long Đại. Khi trông thấy thủy quân Việt, Chế Bồng Nga ra lệnh:
-Dàn đội hình cánh cung chuẩn bị chiến đấu.
-Tuân lệnh hoàng thượng.
Bên thủy quân Việt, Nguyễn Đa Phương ra lệnh:
-Dàn đội hình tam giác tiến vào đội hình địch.
-Tuân lệnh chủ tướng.
Hàng trăm chiến thuyền Việt biến thành đội hình tam giác, mũi nhọn đi đầu, hai cánh đi hai bên và cạnh đáy phía sau bảo vệ cho lâu thuyền của chủ tướng ở giữa. Nguyễn Đa Phương ra lệnh:
-Dùng tạc đạn, tên lửa và tên đánh vào giữa đội hình của địch.
-Tuân lệnh chủ tướng.
Thủy quân Việt dũng mãnh lao tới, tạc đạn tới tấp ném vào đoạn giữa của đội hình thủy binh Chiêm Thành. Quân Chiêm Thành chết cháy, đoạn giữa của thế trận Chiêm Thành rối loạn tan tác tháo chạy, hai cánh cung vì thế không hợp thành thế bao vây được, cũng cố thoát thân mà chạy về phương nam. Cả biển Thần Phù đỏ ngầu máu giặc, xác giặc và xác thuyền. Quân Chiêm đại bại. Quân Việt lao thuyền đuổi đánh đến biển Nghệ An mới dừng lại.
Sau trận chiến thắng đó, Trần Nghệ Tông phong Nguyễn Đa Phương chức Kim Ngô Vệ Đại tướng quân.
Mùa hạ năm 1383, tháng 6, trời nắng như đổ lửa xuống Thăng Long. Trần Nghệ Tông đang ngồi uống trà ở cung trong điện Càn Nguyên, hai bên có hai người lính đứng quạt, chợt có quan nội thị vào báo:
-Dạ bẩm Thái thượng hoàng, thám mã về báo vua Chiêm Thành Chế Bồng Nga lại đem thủy binh tiến ra bắc đánh chúng ta.
-Cho gọi Lê Quý Ly vào đây.
-Dạ.
Lê Quý Ly vào quỳ hành lễ:
-Thái thượng hoàng vạn vạn tuế.
-Miễn lễ, ái khanh bình thân.
-Tạ ơn Thái thượng hoàng.
-Chế Bồng Nga lại đem thủy binh ra đánh Đại Việt, chiến thuyền đang tiến ra bắc. Ái khanh hãy đem thủy binh ra chống giặc.
-Thần tuân chỉ.
Lê Quý Ly đem thủy binh đi chặn giặc. Không ngờ Chế Bồng Nga cho Lã Khải chỉ huy đạo bộ binh bí mật hành quân theo đường bộ, giặc tiến ra đến Quốc Oai rồi mà triều đình mới biết. Trần Nghệ Tông ra lệnh cho tướng Mật Ôn đem quân ra đánh. Mật Ôn bại trận và bị bắt. Quá hoảng sợ, Trần Nghệ Tông, Trần Phế Đế và triều đình bỏ kinh thành chạy lên Bắc Ninh. Trước khi đi, Trần Nghệ Tông ra lệnh cho Nguyễn Đa Phương:
-Khanh hãy chỉ huy quân đội bảo vệ Thăng Long.
-Thần tuân chỉ.
Nguyễn Đa Phương ra sức phòng thủ kinh đô, giặc Chiêm Thành không xâm phạm được nhưng 6 tháng sau, tháng 12 năm 1383, Chế Bồng Nga mới rút bộ binh và thủy binh về nước.
Trần Nghệ Tông và triều đình trở lại Thăng Long. Khu ngoại vi kinh thành tre gai và chiến lũy ngổn ngang. Bên trong, những biệt thự lâu đài đã bị quân Chiêm Thành đốt phá hai lần trước chưa được sửa chữa nên vẫn nát tan ngổn ngang. Thăng Long đã trải qua nhiều lần bi thảm bởi giặc ngoại xâm xâm phạm, bởi chế độ suy yếu không bảo vệ được. Trong mấy lần chạy giặc ra vùng nông thôn, Thái thượng hoàng Trần Nghệ Tông mới thấy được cảnh nông thôn tiêu điều xơ xác trong nghèo đói. Từ thời Trần Dụ Tông lại đây, đã 9 lần vỡ đê mang lại lũ lụt mất mùa, hết lũ lụt lại sang hạn hán. Cho đến nay trải qua 10 trận đói khủng khiếp, thảo dân chết như rạ. Trong khi đó triều đình chỉ lo tăng thuế, thu thuế để ăn chơi trác táng sa đọa, bọn quan lại địa chủ ở nông thôn thả sức cướp đoạt ruộng đất của nông dân, nông dân bị biến thành nô tì, chịu sưu cao thuế nặng. Mỗi người đàn ông mỗi năm phải nộp 3 quan tiền thuế đinh. Không thể chịu đựng được nữa, nông dân đã nổi dậy chống lại triều đình như khởi nghĩa của Ngô Bệ ở Hải Dương, năm 1360 mới bị quân triều đình đàn áp. Năm 1379, Nguyễn Thanh tự xưng Linh Đức Vương, khởi nghĩa ở mạn Thọ Xuân, sông Chu Thanh Hóa, Nguyễn Kỵ tự xưng Võ Vương, khởi nghĩa ở Nông Cống Thanh Hóa, Nguyễn Bổ khởi nghĩa ở Bắc Giang khiến triều đình hao phí bao nhiều tiền bạc và sinh mạng binh lính mới đàn áp được. Trần Nghệ Tông thấy chưa bao giờ đất nước suy tàn hỗn loạn như ngày nay. Bên ngoài giặc Chiêm Thành liên tục tấn công, bên trong nông dân đói khổ. Triều đình kỷ cương pháp luật sụp đổ, kéo bè kéo cánh, quan lại chỉ lo cho bản thân và gia đình, không lo cho triều đình, không lo cho nước, cho dân. Một số trí thức đương thời nổi tiếng chán thời cuộc lui về rừng rú ở ẩn, xa lánh thời cuộc. Họ học cao biết rộng mà không ai hiến cho Trần Nghệ Tông một kế sách gì để ổn định triều chính, cứu vãn thời cuộc. Trong số thân vương học cao biết rộng có Trần Nguyên Đán. Trần Nghệ Tông gửi gắm biết bao hy vọng nhưng Trần Nguyên Đán đã xin về Côn Sơn ở ẩn, bưng tai nhắm mắt, đắm chìm trong mây núi chim muông hoa lá. Trần Nghệ Tông đã mấy lần xa giá tới thăm, hỏi về hậu vận đất nước, Trần Nguyên Đán đều không nói được gì. Trong mắt Trần Nghệ Tông, người có ý tưởng cải cách toàn diện để cứu vãn xã hội, chỉ có mỗi Lê Quý Ly. Có lẽ đó là con gười mà Trần Nghệ Tông có thể dựa vào để cứu vãn thiên hạ, cứu vãn thời cuộc. Nhưng chiến tranh binh lửa liên tục, chưa có thời gian để thử nghiệm những dự án của Lê Quý Ly. Đó là lý do vì sao ngài ra sức bảo vệ Lê Quý Ly và tạo điều kiện để Lê Quý Ly tiến lên nắm đại quyền.
Chợt có quan nội thị bước vào làm đứt dòng suy nghĩ của Trần Nghệ Tông:
-Dạ bẩm Thái thượng hoàng, có sứ thần nhà Minh xin vào gặp.
-Cho vào.
-Dạ.
Sứ thần nhà Minh bước vào hành lễ. Trần Nghệ Tông hỏi:
-Ngài từ nghìn dặm xa xôi tới đây có việc gì vậy?
-Dạ bẩm Thái thượng hoàng, quân đội nhà Minh chúng tôi đang chinh phạt Vân Nam, rất thiếu thốn lương thực. Xin Đại Việt cho lương thực tăng viện cho binh lính ở Lâm An.
Trần Nghệ Tông đáp:
-Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương lật đổ nhà Nguyên-Mông từ năm 1368 mà đến nay chưa lấy xong Vân Nam à?
-Dạ bẩm Thái thượng hoàng chưa ạ.
-Thôi được, ta sẽ cho lương thực, dù Đại Việt cũng đang rất khó khăn, dân tình đang đói khát. Còn cần gì nữa?
-Dạ hoàng thượng chúng tôi cần 50 con voi ạ.
-Rồi, sẽ có 50 con voi. Lui về dịch quán đi.
-Dạ, đa tạ Thái thượng hoàng.
Sứ thần nhà Minh đi ra. Lê Quý Ly bước vào:
-Thái thượng hoàng vạn tuế, vạn tuế.
Miễm lễ, ai khanh bình thân.
-Đa tạ Thái thượng hoàng.
Khi Lê Quý Ly ngồi bê ly nước, Trần Nghệ Tông nói:
-Tình cảnh đất nước bây giờ thật tan nát, hỗn loạn, nhân dân đói khổ, sưu cao thuế nặng, mất mùa đói kém liên miên, quan lại bất tài bất lực, chỉ lo cho bản thân, triều đình xa xỉ ăn chơi trác táng, coi của cải như bùn đất, coi dân như chó ngựa. Bên ngoài thì giặc Chiêm Thành liên tục tấn công gây chiến tranh tàn phá, cướp bóc. Bây giờ lại xuất hiện nguy cơ từ phía bắc, nhà Minh đã bắt đầu gây sức ép với nước ta. Vừa rồi sứ nhà Minh đòi chúng ta tiếp viện lương thực cho quân đội của họ đang chinh phục Vân Nam, còn đòi ta nộp thêm 50 con voi nữa. Không sớm thì muộn chúng sẽ tiến đánh xâm lược Đại Việt. Khanh có kế sách gì cứu vãn được thời cuộc, cứu đất nước không?
Lê Quý Ly đáp:
-Tâu Thái thượng hoàng, triều đình và đất nước đã bước vào cuộc khủng hoảng suy yếu toàn diện. Muốn cứu vãn không chỉ thực hiện một vài giải pháp mà phải cải cách toàn diện về kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa, quân sự, tài chính, còn nữa, cải cách không phải một sớm một chiều mà phải mất 10 năm hoặc lâu hơn nữa, thậm chí tiến hành thực hiện nhiều đời vua, nhiều đời Thái thượng hoàng với những biện pháp quyết liệt không nhân nhượng.
Lê Quý Ly dừng lại uống nước. Trần Nghệ Tông nói:
-Người tài hiện nay của đất nước, của triều đình không biết đi đâu hết, bây giờ ta muồn dùng mà không có. Khanh hãy suy nghĩ về các chính sách cải cách đi. Sự nghiệp nhà Trần và đất nước ta đã giao hết cho khanh rồi còn gì?
-Đa tạ Thái thượng hoàng, thần sẽ suy nghĩ, bao giờ hoàn thiện thần sẽ trình Thái thượng hoàng và khi có thời cơ thuận tiện sẽ tiến hành thực hiện.
-Để tăng thêm quyền lực cho khanh, ta phong khanh làm Đồng bình Chương sự, quyền ngang tể tướng để thực hiện cải cách.
-Người đâu.
-Dạ.
-Đem ra đây.
Nội thị đem ra một thanh gươm, một lá cờ đề 8 chữ: “Văn võ toàn tài, quân thần đồng đức”.
Lê Quý Ly quỳ xuống khấu đầu:
-Đa tạ Thái thượng hoàng. Thần xin dốc lòng dốc sức đền đáp sự tin cậy của Thái thượng hoàng.
-Đứng dậy đi.
Đó là năm 1387. Từ đó Thái thượng hoàng Trần Nghệ Tông tiếng là nắm đại quyền, nhưng mọi việc đều do Lê Quý Ly quyết định. Lê Quý Ly ra sức nắm các thứ quân và toàn bộ quân đội nhà Trần, cài cắm thân thích tay chân vào bộ máy nhà nước trung ương. Em Lê Quý Ly là Lê Quý Tỳ giữ chức Phán thủ Tri tả hữu ban sự, con cả Lê Quý Ly là Lê Nguyên Trừng giữ chức Tư đồ, Lê Hán Thương, con của Lê Quý Ly với công chúa Huy Ninh, em gái Trần Nghệ Tông nắm giữ chức Thái phó. Bộ máy do thám của Lê Quý Ly rải khắp các cơ quan triều đình và các địa phương, sẵn sàng báo về phủ Đồng Bình chương sự những tin tức nhanh nhất mọi động tĩnh của quan lại, tướng lĩnh, thậm chí của cả vua Trần Phế Đế. Thế lực của Lê Quý Ly bao trùm cả cung đình và cả nước. Triều đình nhà Trần suy yếu, bất lực, thực tế đã nằm gọn trong tầm kiểm soát và sai khiến của Lê Quý Ly. Vương thất nhà Trần biết rõ và lo ngại nhưng không dám nói, nói có khi rước họa vào người, họa có thể từ Lê Quý Ly, nhưng trước hết từ Thái thượng hoàng Trần Nghệ Tông vì Trần Nghệ Tông chỉ tin có một mình Lê Quý Ly. Niềm tin Lê Quý Ly là một nhà cải cách có thể cứu được đất nước, cứu vãn được thời cuộc làm cho Thái thượng hoàng hầu như mê muội. Sự xuống dốc không thể cứu vãn nổi của triều đình đã thúc đẩy Thái thượng hoàng tìm ra một giải pháp giải thoát giống như của Lý Huệ Tông, chuyển giao quyền lực cho một người tài giỏi như Trần Thái Tông ngày xưa, còn bây giờ người đó là Lê Quý Ly. Các tôn thất nhà Trần hầu hết đã rã rời, có người còn chạy theo và quy phục Lê Quy Ly như Trần Nguyên Đán, một quý tộc có thế lực, có danh vọng và tri thức lớn, cháu 5 đời của Chiêu Minh Đại Vương Trần Quang Khải, đem con gửi cho Lê Quý Ly và đi vào Côn Sơn ở ẩn, thoát ly khỏi cuộc chiến tàn khốc của đời sống chính trị chốn cung đình trong thời kỳ loạn lạc.
III.
Thăng Long đêm mùa hạ chìm trong bóng tối, cây lá nhuộm màu đêm theo gió xạc xào phủ lên những dãy phố, những lâu đài cung điện chập chờn trong những ánh đèn vàng khè. Trong một căn phòng của điện Thiên An, nơi ở của hoàng thượng Trần Phế Đế le lói ánh đèn. Có vài người ngồi quanh chiếc bàn trà bằng gỗ quý bóng loáng dưới ánh đèn. Ngồi ghế chủ là Trần Phế Đế mặc áo màu vàng, khoảng gần 30 tuổi, chung quanh là các đại thần Lê Á Phụ, Thái úy Trần Ngạc là con trưởng của Trần Nghệ Tông. Cả bốn người uống xong một lượt trà thì Trần Phế Đế bảo những người hầu:
-Các ngươi đi ra ngoài hết đi.
-Dạ.
Khi những người hầu ra ngoài hết, Trần Phế Đế đóng cửa lại. Bốn người uống một lượt trà nữa, Trần Phế Đế nói nhỏ:
-Hôm nay các ái khanh đến đây là đã tỏ ra đồng chí hướng, lo chung mối lo của trẫm và của tôn thất nhà Trần. Vốn là trong triều đình xuất hiện Lê Quý Ly là em họ ngoại của Thái thượng hoàng Trần Nghệ Tông, Trẫm gọi Lê Quý Ly bằng chú họ ngoại, đã xuất hiện một nguy cơ lớn từ dòng ngoại thích. Người này tài cán tầm thường nhưng không hiểu sao cả triều đình có bao nhiêu tôn thất mà Thái thượng hoàng chỉ tin cậy một mình Lê Quý Ly. Chỉ mấy năm thăng tiến đến bây giờ, Lê Quý Ly đã là tể tướng, nắm toàn bộ quyền lực chính trị và quân sự. Mọi quyết sách của Thái thượng hoàng đều dựa vào ý kiến của Lê Quý Ly, cho nên Lê Quý Ly hiện nay là người nắm quyền thực sự của triều đình, của đất nước. Nhà Trần đang đứng trước nguy cơ bị Lê Quý Ly cướp ngôi. Các ái khanh có kế sách gì để ngăn chặn nguy cơ này không?
Lê Á Phụ nói;
-Đúng như hoàng thượng nói, Lê Quý Ly từng bước được Thái thượng hoàng giao cho các chức vụ, thâu tóm được cả quyền chính trị và quân sự, tay chân cài cắm khắp triều đình và quân đội, kể cả lưới thám mã dò la tin tức rất chặt chẽ và nguy hiểm. Cái khó nhất là Lê Quý Ly nắm chắc được Thái thượng hoàng.
Thái úy Trần Ngạc nói:
-Có một dịp nào thuận tiện, hoàng thượng cho gọi Lê Quý Ly vào cung và bố trí phục binh đổ ra chém chết chắc thành công.
Trần Phế Đế nói:
-Thành công thì có thể nhưng sẽ ăn nói với Thái thượng hoàng như thế nào đây. Giết một viên đại thần mà ngài ta yêu mến tin cậy hơn cả con đẻ của mình thì ta chịu tội gì đây?
Lê Dữ Nghị nói:
-Vì ngai vàng nhà Trần, hoàng thượng đã làm thì không nên sợ mà đã sợ thì không nên làm.
Trần Phế Đế nói:
-Nếu các ái khanh đã đồng lòng cứu cơ nghiệp nhà Trần thì chờ cơ hội, ta sẽ cho phục binh, gọi Lê Quý Ly đến và giết chết.
Tất cả đều nói:
-Cứ như vậy, cứ như vậy.
-Đa tạ các ái khanh.
Cuộc nói chuyện bí mật đó đã bị tên hầu của Trần Phế Đế là Vũ Như Mai nhưng là thám mã của Lê Quý Ly đứng ngoài nghe trộm được. Vũ Như Mai liền mật báo cho Lê Quý Ly. Trong Phủ tể tướng, Lê Quý Ly chưa biết làm sao thì Nguyễn Đa Phương nói:
-Bình Chương nên tránh xa kinh đô, về núi Đại Lại, Vĩnh Lộc Thanh Hóa để nghe ngóng tình hình chờ xem biến động thế nào rồi mới hành động được.
Phạm Cự Luận nói:
-Không được, vô cớ bỏ triều đình mà đi là phạm tội. Vả lại đã ra ngoài mà hoàng thượng Trần Phế Đế gọi về thì vẫn phải về và họ giết lúc nào cũng được.
Lê Quý Ly hỏi:
-Vậy nên làm thế nào?
Phạm Cự Luận đáp:
-Theo ý kiến của tại hạ thì Thái thượng hoàng vẫn đang tin cậy ngài tiến hành cải cách để cứu vãn đất nước, nên đã phong ngài đến chức tể tướng. Cho nên hoàng thượng không thể làm trái ý Thái thượng hoàng mà giết tể tướng, phá vỡ kế hoạch của Thái thượng hoàng. Thứ nữa, Thái thượng hoàng vốn không hài lòng việc hoàng thượng tự ý giết chết Quan phục Đại Vương Trần Húc đầu hàng quân Chiêm Thành, bị quân ta bắt được ở Nghệ An. Căn cứ vào điều đó, Bình Chương nên vào gặp Thái thượng hoàng mà trình bày biết đâu thoát nạn, lại có thể mượn tay Thái thượng hoàng trừ bỏ Trần Phế Đế và phe cánh. Nếu Thái thượng hoàng không nghe thì ta liệu cách khác cũng chưa muộn.
Lê Quý Ly nói:
-Cũng đành như vậy thử xem.
Trong cung, Thái thượng hoàng Trần Nghệ Tông đang ngồi uống trà sau bữa ăn sáng thì có quan nội thị vào báo:
-Dạ bẩm Thái thượng hoàng, có Lê Quý Ly xin vào gặp.
-Cho vào ngay.
Lê Quý Ly vào quỳ hành lễ. Trần Nghệ Tông nói:
-Miễn lễ, ngồi đi.
-Đa tạ Thái thượng hoàng.
Sau một lượt trà, Thái thượng hoàng hỏi:
-Ái khanh có việc gì không?
Dạ bẩm Thái thượng hoàng, thần nhận được một tin chính xác và khẩn cấp, cách đây hai hôm hoàng thượng đã bàn bạc với Lê Á Phụ, Thái úy Trần Ngạc, đại thần Lê Dữ Nghị sẽ gọi thần đến và cho phục binh giết chết vì nghi ngờ thần có quyền lực sẽ cướp ngôi nhà Trần.
Trần Nghệ Tông đang bê ly trà uống, vội vã đặt xuống bàn và hỏi:
-Có chuyện đó sao?
-Dạ, chính tên lính hầu hoàng thượng Vũ Như Mai nghe được và nói lại với thần. Thần được Thái thượng hoàng tin cậy cất nhắc đã thề một lòng trung thành với Thái thượng hoàng, với hoàng thượng để hoàn thiện kế hoạch cải cách chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa để Thái thượng hoàng thực hiện cứu vãn triều đình, cứu vãn đất nươc, đưa thiên hạ đến thái bình hưng thịnh. Nay công việc đang dở dang, vua bắt thần chết thì thần phải chết. Sau khi thần chết mong Thái thượng hoàng cẩn trọng và nhớ câu châm ngôn đã lưu truyền nhiều đời trong dân gian: “Chưa có ai bán con để nuôi cháu, chỉ thấy bán cháu để nuôi con”. Kính mong Thái thượng hoàng bảo trọng. Thần xin bái biệt.
Nói rồi Lê Quý Ly rập đầu xuống nền cung điện, máu chảy đầm đìa cả mặt. Trần Nghệ Tông thấy vậy vội nói:
-Ái khanh đứng dậy đi, trong thiên hạ và trong triều đình hiện nay chỉ còn mỗi khanh là đồng lòng, đồng chí hướng với ta để cứu đất nước, cứu lê dân bách tính. Ái khanh có thể đề ra cải cách toàn diện để làm điều đó. Hoàng thượng không chia sẻ nỗi lo của ta, không lo cho đất nước, chỉ lo cho cái ghế của mình, mưu giết hại tể tướng, như vậy là phá hoại công việc to lớn mà ta đang tiến hành. Hoàng thượng không xứng đáng là hoàng thượng nữa. Khanh cứ về đi, ta sẽ có kế hoạch bảo vệ khanh.
Lê Quý Ly lại rập đầu:
-Đa tạ Thái thượng hoàng đã cứu mạng.
Mấy hôm sau, Trần Phế Đế đang ngồi uống trà trong cung sau bữa ăn sáng thì có quan nội thị vào báo:
-Bẩm hoàng thượng, Thái thượng hoàng đã xa giá về Yên Sinh, cho gọi hoàng thượng đến để bàn việc.
Trần Phế Đế ngạc nhiên:
-Bàn việc nước sao không ở Tử cấm thành, lại ra Yên Sinh?
-Dạ, thần không rõ, thần chỉ truyền khẩu dụ.
-Ta biết rồi.
-Dạ, thần cáo lui.
Trần Phế Đế gọi:
-Người đâu.
-Dạ.
-Chuẩn bị xa giá đến Yên Sinh.
-Dạ.
Gần trưa, xa giá đến nơi, Trần Phế Đế đi vào cung của Thái thượng hoàng. Thái thượng hoàng đang ngồi uống trà và đợi. Trần Phế Đế đang định quỳ hành lễ thì Thái thượng hoàng quát:
-Bay đâu, bắt đứa phản nghịch này cho ta.
Bốn võ sĩ đã mai phục sẵn xông ra, bẻ quặt hai tay của hoàng thượng về phía sau và còng lại. Trần Phế Đế kêu:
-Thái thượng hoàng, cháu bị oan, cháu bị oan.
Thái thượng hoàng nói:
-Oan cái nỗi gì? Nhà ngươi đã bàn kín với Thái úy Trang Định Vương Trần Ngạc, Lê Á Phụ, Lê Dữ Nghị mưu giết tể tướng Lê Quý Ly có phải không? Còn nữa, Trần Húc là con đẻ của ta, là phò mã của Đại Việt, dù có đầu hàng giặc Chiêm Thành, dẫn giặc về đánh lại đất nước nhưng nếu muốn giết cũng phải hỏi bố nó một câu. Nhà ngươi không hỏi ta lấy một lời đã đem giết nó, vậy có coi ta ra gì không?
Trần Phế Đế đáp:
-Bẩm Thái thượng hoàng, cháu chỉ muồn giữ ngai vàng cho họ Trần. Còn về huynh Trần Húc bị giết là đúng vì phản quốc đầu hàng giặc, lấy công chúa của giặc, lại dẫn giặc về dày xéo non sông đất nước, lại xưng vương mưu lập một triều đình mới ở Nghệ An tháng 5 năm 1378.
Trần Nghệ Tông nói:
-Ngai vàng chỉ là của nhà Trần khi vua quan đủ tài đức đưa đất nước đến hưng thịnh, bá tính no ấm, thiên hạ thái bình. Khi không còn đủ khả năng làm được những điều đó thì phải thay thế, đưa vào những ai mà thực hiện được. Khi nhà Lê hết số đã phải trao ngai vàng cho Lý Thái Tổ, khi nhà Lý suy vi đã phải trao ngai vàng cho Trần Thái Tông. Nhà Trần ta hết thời vận cũng phải tìm người tài giỏi mà trao lại. Ngươi không hiểu được điều đó ư? Còn Trần Húc giết đi là đúng, trong các tội thì duy nhất tội phản quốc là không thể tha thứ. Nhưng ta bảo nhà ngươi giết nó sao không hỏi ta một lời? Nhà ngươi sợ ta tha thứ cho nó chăng?
-Vậy là Thái thượng hoàng đang dọn đường để trao ngai vàng vào tay Lê Quý Ly sao?
Thái thượng hoàng nổi giận:
-Hỗn xược. Bay đâu.
-Dạ.
-Đem hoàng thượng giam vào chùa Tư Phúc, chờ ta định đoạt sau.
-Dạ.
Nghe tin Thái thượng hoàng Trần Nghệ Tông giam Trần phế Đế vì mưu giết Lê Quý Ly, tôn thất nhà Trần, các tướng lĩnh, bách tính ai cũng bàng hoàng. Thực ra ai cũng biết rằng sớm muộn Lê Quy Ly cũng sẽ giành ngôi nhà Trần, nhưng không rõ vào thời điểm nào, có lẽ sau khi Trần Nghệ Tông chết? Các đại thần, tôn thất triều đình đa số mong giết được Lê Quý Ly nhưng không biết hành động ra sao vì sợ liên lụy. Vả lại, cơ nghiệp nhà Trần cũng đến hồi tan rã không một sức mạnh nào có thể ngăn cản được. Con đường giết Lê Quý Ly của Trần Phế Đế cũng chỉ là một biện pháp tạm thời. Con đường trao ngai vàng cho Lê Quý Ly của Thái thượng hoàng cũng là một giải pháp, một lối thoát chung cho Đại Việt mà trước đó thái hậu Dương Vân Nga đã chọn, sau nữa là Lý Huệ Tông đã thực hiện. Bây giờ Trần Nghệ Tông học theo con đường đó. Nhưng ai biết sau khi ngồi trên ngai vàng, Lê Quý Ly sẽ lập một triều đại thế nào, có đáp ứng được những nhiệm vụ mà đất nước và thiên hạ đang đòi hỏi hay không?
Dù sao cũng chưa có một Thái thượng hoàng nào vì một kẻ ngoại tộc mà bắt giam hoàng thượng còn đang tại vị, lại là cháu của mình.
Nghe nói hoàng thượng bị bắt giam, một số tướng lĩnh phẫn nộ. Tướng chỉ huy quân Thiết Liêm Nguyễn Khoái, Nguyễn Vân Nhi, tướng chỉ huy quân Thiết Giáp là Nguyễn Kha, Lê Lặc, tướng chỉ huy quân Thiết Sang Nguyễn Bát Sách họp bàn nhau cứu Trần Phế Đế. Nguyễn Bát Sách nói:
-Ta hãy đem số quân mà chúng ta có giải thoát hoàng thượng khỏi chùa Tư Phúc ở Yên Sinh đem về Thăng Long.
Tướng Lê Lặc nói:
-Nhưng như vậy chúng ta đã công khai chống lại Thái thượng hoàng, có khi bị chu di ba họ.
Mọi người con đang lúng túng thì có thám mã tâm phúc của Trần Phế Đế đến đi vào và nói:
-Có thư của hoàng thượng.
Nguyễn Khoái mở tờ giấy bé, trong đó Trần Phế Đế viết hai chữ: “ Giải giáp”.
Người thám mã đưa thư nói thêm:
-Hoàng thượng nói là không được làm trái ý của Thái thượng hoàng. Các tướng nên nghe lời hoàng thượng nếu không chuốc họa chu di tam tộc.
Lê Lặc nói:
-Nhưng như vậy hoàng thượng sẽ bị giết.
Mọi người im lặng thở dài. Tướng Nguyễn Kha buồn rầu nói:
-Chúng ta đành phải lỗi đạo quân thần rồi. Than ôi, sao trời lại bày đặt một sự việc oái ăm như vậy!!!
Tại Yên Sinh thám mã báo cho Trần Nghệ Tông:
-Dạ bẩm Thái thượng hoàng, tại Thăng Long, các tướng Nguyễn Khoái, Nguyễn Vân Nhi, Nguyễn Kha, Lê Lặc, Nguyễn Bát Sách định tập trung quân đội đến giải cứu cho hoàng thượng nhưng hoàng thượng ra lệnh không được chống lại lệnh của Thái thượng hoàng nên họ đã tự giải tán rồi.
Trần Nghệ Tông nói:
-Cháy nhà mới ra mặt chuột. Ta sẽ diệt hết phe cánh của Trần Phế Đế, mở đường đi tới đại cục mà không có vật cản nào. Bay đâu:
-Dạ.
-Truyền khẩu dụ của ta gọi các tướng Nguyễn Khoái, Nguyễn Vân Nhi, Nguyễn Kha, Lê Lặc, Nguyễn Bát Sách, Lê Anh Phụ, Trần Ngạc tới cung Yên Sinh yết kiến.
-Dạ.
Chiều hôm đó, tất cả các tướng là những người bàn việc giải thoát Trần Phế Đế và giết Lê Quý Ly đã về Yên Sinh gặp Thái thượng hoàng. Mọi người quỳ hành lễ:
-Thái thượng hoàng vạn vạn tuế.
Trần Nghệ Tông mắng:
-Các ngươi âm mưu với Trần Phế Đế mưu giết tể tướng, âm mưu dấy binh chống lại ta, làm chuyện phản nghịch. Bay đâu
-Dạ.
-Đem tất cả ra ngoài chém.
-Tuân chỉ.
Các đao phủ lôi các tướng ra ngoài và chém chết hết. Sau khi giết hết các tướng và các đại thần thì Trần Nghệ Tông ra lệnh cho Trần Phế Đế thắt cổ mà chết tháng 2 năm 1388. Trần Phế Đế tên húy là Trần Hiện, còn gọi là Trần Nhật Vĩ, con của Trần Duệ Tông Trần Kính, cháu gọi Trần Nghệ Tông là bác, là vị hoàng đế thứ 11 của nhà Trần, ở ngôi 11 năm (1377-1388), thọ 27 tuổi (1361-1388), tên hiệu Giản Hoàng, tước hiệu Linh Đức Đại Vương, lăng mộ ở phường Đại Dương, ngoại thành Thăng Long.
Trang Định Vương Trần Ngạc, con của Trần Nghệ Tông, không đến Yên Sinh mà theo đường biển trốn ra Vạn Ninh. Trần Nghệ Tông sai Khiển Ninh vệ Đại tướng quân Nguyễn Nhân Liệt đuổi bắt và giết hại theo lệnh Lê Quý Ly. Đó là năm 1391. Trần Ngạc được phong là Mẫn Vương. Sau này biết Trần Ngạc bị giết, Trần Nghệ Tông hỏi ai giết, Nguyễn Nhân Liệt sợ thắt cổ chết.
Nhập nội Hành Khiển tả ly Lê Dữ Nghị bị đày ra Trại Đầu và sau cũng bị Lê Quý Ly bí mật sát hại.
Sau vụ sát hại Trần Phế Đế, phe cánh các đại thần và các tướng lĩnh chống đối Lê Quý Ly trong triều đình bị đập tan bởi bàn tay cứng rắn của Thái thượng hoàng, tôn thất nhà Trần và triều đình không còn ai dám âm mưu chống đối nữa. Trần Nghệ Tông đã thực hiện được lời hứa xuất sắc là bảo vệ Lê Quý Ly khỏi mọi đe dọa. Triều đình nhà Trần càng suy nhược tinh thần, cạn kiệt nhân lực, bước vào thời kỳ thoi thóp.
Trần Nghệ Tông đưa con út của mình là Chiêu Định Vương Trần Ngung, còn gọi là Trần Nhật Hỗn lên ngôi, đế hiệu là Trần Thuận Tông, khi lên ngôi mới 11 tuổi. Đó là ngày 27 tháng 12 năm 1388. Nhà Trần càng lún sâu vào thời kỳ tan rã, sức cùng lực kiệt. Lê Quý Ly tiến thêm một bước nữa thâu tóm toàn bộ quyền lực, chỉ một bước nữa là tới ngai vàng. Để tăng thêm mối liên kết với Trần Nghệ Tông, Lê Quý Ly xin Thái thượng hoàng cho Trần Thuận Tông kết hôn với con gái của mình với công chúa Huy Ninh là Lê Thánh Ngâu (Hồ Thánh Ngâu). Công chúa Huy Ninh là em gái ruột của Thái thượng hoàng, sau khi lấy Lê Quý Ly, sinh được hai con, con trai là Lê Hán Thương, con gái là Lê Thánh Ngâu. Lê Thánh Ngâu phải gọi Trần Nghệ Tông là bác, bây giờ trở thành con dâu, trở thành Khâm Thánh hoàng hậu. Con trai cả của Lê Quý Ly là Lê Nguyên Trừng giữ chức Tư Đồ, Lê Hán Thương giữ chức Thái phó. Em trai Lê Quý Ly là Lê Quý Tỳ làm Phán thủ tri tả hữu ban sự. Lê Quý Ly còn đưa những người tâm phúc của mình giữ các chức vụ trọng yếu như Phạm Cự Luận làm Thiên Tư khu mật viện, Phạm Phiếm, em Phạm Cự Luận, cùng Vương Khả Tuân, Dương Chương, Hàn Tử Tây, Nguyễn Sùng, Nguyễn Thư, Nguyễn Cảnh Tuấn, Đỗ Tư Mãn đều là những tay chân đắc lực của Lê Quý Ly. Vây cánh của Lê Quý Ly bao trùm. Trong cung của Vua Trần Thuận Tông cũng đã có con gái của Lê Quý Ly là hoàng hậu Lê Thánh Ngâu.
Tôn thất, các đại thần nhà Trần nhìn thấy nguy cơ Lê Quý Ly sắp lấy ngai vàng đã rõ, thời cơ có lẽ là khi Thái thượng hoàng Trần Nghệ Tông băng hà. Còn Trần Nghệ Tông thì Lê Quý Ly chưa dám làm gì. Nhưng mọi việc trong triều đinh đều do Lê Quý Ly quyết định, chi phối. Mùa đông tháng 10 năm 1389, có thám mã về báo:
-Bẩm Thái thượng hoàng, vua Chiêm Thành Chế Bồng Nga đem thủy binh đã đánh vào Thanh Hóa ạ.
Trần Nghệ Tông ra lệnh:
-Bay đâu.
-Dạ.
-Gọi Lê Quý Ly đến đây.
-Dạ.
Lê Quý Ly vào quỳ hành lễ:
-Thái Thượng hoàng vạn vạn tuế.
-Miễn lễ, ngồi đi
-Đa tạ Thái thượng hoàng.
Sau khi Lê Quý Ly ngồi uống cạn một chén trà, Trần Nghệ Tông nói:
-Thủy binh Chiêm Thành do Chế bồng Nga chỉ huy đã đánh vào Thanh Hóa, ái khanh có biết không?
-Dạ, thần đã biết.
-Ái khanh hãy làm tổng chỉ huy cùng Nguyễn Đa Phương và Phạm Khả Vĩnh đem binh thuyền ra chặn giặc.
-Thần tuân chỉ.
-Ta chờ tin thắng trận của khanh.
-Đa tạ Thái thượng hoàng.
Mùa đông, biển và trời một màu xám ngắt, sóng lồng lên dữ dội đập vào mạn chiến thuyền hàng trăm chiếc của quân Đại Việt đang tiến vào nam, cờ vàng bay theo gió phấp phới trên các cột buồm, bay trên đầu các chiến binh mặc áo giáp, gươm giáo đầy mình đứng dưới thuyền. Chiếc thuyền to lớn sang trọng chở Lê Quý Ly, Nguyễn Đa Phương, Phạm Khả Vĩnh đi đầu. Lê Quý Ly nói với hai tướng:
-Thủy binh Chế Bông Nga đang đóng ở đầu nguồn sông Bản Nha (Đò Lèn), tối nay ta từ biển vào bất ngờ tấn công, chắc sẽ diệt được chúng, chí ít là đuổi chúng tháo chạy theo sông Lạch Trường ra biền mà chạy về nước.
Phạm Khả Vĩnh nói:
-Kế này của Đồng Bình chương sự hay lắm.
Bính lính Việt được ăn cơm chiều rồi gần tối binh thuyền của quân Đại Việt tắt hết đèn từ cửa biển theo sông Đò Lèn tiến vào. Chiến thuyền của quân Chiêm Thành đậu san sát ở thượng nguồn, đèn đóm sáng trưng, cờ bay phấp phới, chiêng trống vang lừng. Nhưng khi quân Đại Việt lại gần thì gặp một đoạn đê chắn ngang ngăn nước. Phía bên trong quân Chiêm Thành cho phá đập, nước bị ngăn bây giờ tràn xuống như thác đổ, tràn lên thuyền, nhấn chìm khoảng hai phần ba chiến thuyền quân Đại Việt, hàng vạn binh lính và nhiều tướng lĩnh chìm theo thuyền trôi ra biển. Thì ra quân Chiêm đã đắp đập ngăn nước dụ chiến thuyền Đại Việt vào mà xả nước tiêu diệt. Quân Đại Việt thiệt hại nặng nề. Thuyền của Nguyễn Đa Phương, Phạm Khả Vĩnh và Lê Quý Ly đi sau, được các chiến thuyền đi trước chắn sóng nên thoát chết. Lê Quý Ly thu nhặt tàn quân ra biển và bảo hai tướng Nguyễn Đa Phương và Phạm Khả Vĩnh:
-Hai tướng quân thu nhặt tàn quân, tổ chức chống cự với giặc, ta về Thăng Long xin thêm viện binh.
Nguyễn Đa Phương, Phạm Khả Vĩnh thu nhặt tàn quân và đóng ở của biển Đò Lèn không biết nên đánh hay lui. Trong khi đó binh thuyền Chế Bồng Nga từ thượng nguồn sông Đò Lèn ra sông Mã và vòng theo cửa Lạch Trường ra biển. Chế bồng Nga đang định tấn công ra bắc thì bỗng nhiên sắc trời thay đổi, vòi rồng nối từ đám mây đen trên trời xuống biển phía đông đen ngòm, biển gào lên thê lương dữ dội. Chế Bồng Nga hỏi thầy chiêm tinh đi theo:
-Trời bốn phương đen ngòm tăm tối, lại có vòi rồng là hiện tượng gì?
-Dạ bẩm hoàng thượng, hiện tượng này là sắp có cơn bão cực lớn sắp ập vào.
Chế Bồng Nga hoảng sợ nói:
-Gặp bão chúng ta sẽ bị tiêu diệt hết. Rút về nước nhanh.
Quân Chiêm Thành dương hết cỡ buồm, chèo hết lực chạy nhanh về phương nam.
Trần Nghệ Tông thấy Lê Quý Ly thua trận chạy về liền hỏi:
-Thua trận này thủy binh ta thiệt hại lớn về người và chiến thuyền, trách nhiệm thuộc về ai?
Lê Quý Ly đáp:
-Dạ bẩm Thái thượng hoàng, thần nghe lời của Nguyễn Đa Phương nên ra nông nổi này.
Thái thượng hoàng gọi:
-Bay đâu.
-Dạ.
-Cho gọi Nguyễn Đa Phương vào đây.
-Dạ.
Nguyễn Đa Phương vào quỳ hành lễ:
-Thái Thượng hoàng vạn tuế, vạn vạn tuế.
Trần Nghệ Tông hỏi:
-Tại sao nhà ngươi lại bày kế để Lê Quý Ly trúng kế “Đa nang úng thủy” của Chế Bồng Nga mà bại trận thê thảm như vậy.
Nguyễn Đa Phương trả lời:
-Dạ tâu Thái thượng hoàng, thần không bày kế, là do Lê Quý Ly tự quyết định, thua trận này là do Lê Quý Ly bất tài về quân sự, không cho do thám, không nắm chắc tình hình quân giặc.
Trong vụ này, Trần Nghệ Tông vốn muốn bao che cho Lê Quý Ly, quy trách nhiệm cho cấp dưới nên khi nghe Nguyễn Đa Phương nói vậy, Thái thượng hoàng liền trấn áp:
-Đã có tội còn đổ trách nhiệm lên cấp trên. Bay đâu.
-Dạ.
-Lột áo mũ, cách chức, giáng xuống làm lính thường.
Bốn võ sĩ lôi Nguyễn Đa phương ra ngoài. Nguyễn Đa Phương vừa bị lôi đi vừa ngoái cổ lại kêu:
-Thần bị oan, Thái thượng hoàng, thần bị oan…
Nguyễn Đa Phương đi rồi, Lê Quý Ly nói với Trần Nghệ Tông.
-Dẫu sao Nguyễn Đa Phương cũng là một tướng tài, nên giết đi kẻo nay mai hắn đầu hàng Chiêm Thành thì nguy cho Đại Việt.
Vài ngày sau, Nguyễn Đa Phương, một trong những tướng tài còn lại ít ỏi của Đại Việt bị thắt cổ chết ở nhà riêng.
* *
*
Trong cung ở Tử cấm thành, Thái thượng hoàng Trần Nghệ Tông liên tục nhận được tin báo:
-Bẩm thái thượng hoàng, khắp nơi nông dân chết đói ngổn ngang, ngày nào binh lính cũng phải thu nhặt chôn cất không kịp ạ.
Trần Nghệ Tông nói:
-Cho gọi Lê Quý Ly và Nguyễn Khả Vĩnh vào đây.
-Dạ.
Lê Quý Ly và Nguyễn Khả Vĩnh vào quỳ hành lễ:
-Thái thượng hoàng vạn tuế, vạn tuế.
-Bình thân.
-Tạ ơn Thái thượng hoàng.
-Nay khắp nơi đói khát, bách tính chết đói vô kể. Hai khanh làm khâm sai đại thần đi miền Trung thị sát xem quan lại địa phương giải quyết thế nào?
-Chúng thần tuân chỉ.
-Ta đợi tin tức của hai khanh.
-Tạ ơn Thái thượng hoàng.
Lê Quý Ly và Nguyễn Khả Vĩnh đi chưa được mấy ngày thì lại có thám mã về cấp báo:
-Dạ bẩm Thái thượng hoàng, có Phạm Sư Ôn là một nhà sư nổi loạn ở Quốc Oai đang đem 2 vạn quân tiến về Thăng Long, tình thế rất nguy cấp ạ.
Trần Nghệ Tông hoảng sợ kêu to:
-Nguy to rồi, Lê Quý Ly và Phạm Khả Vĩnh đã vào Thanh Hóa và miền Trung rồi, làm sao bây giờ?
Quan nội thị nói:
-Mời Thái thượng hoàng và triều đình tạm bỏ kinh đô, xa giá lánh lên Bắc Giang.
Thái thượng hoàng thở dài:
-Cũng chỉ còn cách tạm thời như vậy thôi. Truyền chỉ, triều đình tạm thời sơ tán lên Bắc Giang.
-Dạ, thần tuân chỉ.
Phạm Sư Ôn đem quân chiếm Thăng Long ba ngày nhưng kho tàng của cải trống rỗng, phần thì do bị quân Chiêm Thành hai lần tràn vào tàn phá cướp bóc, đốt phá, phần thì nay có chút vàng bạc nào, Trần Nghệ Tông khôn ngoan đã đem cất giấu trong núi. Dân quanh kinh thành cũng nghèo đói, không có gì cung cấp cho nghĩa quân. Phạm Sư Ôn đành ra lệnh cho nghĩa quân rút khỏi kinh thành. Nghĩa quân đi ra đến cầu Tương Đương (Cầu Giấy), hai bên đường cây cỏ rậm rạp, làng quê hoang vắng. Thốt nhiên có mấy phát tên lửa bắn lên trời. Không rõ cánh quân triều đình do tướng nào chỉ huy đã mai phục, nã tên đạn như mưa vào quân khởi nghĩa. Hàng nghìn nghĩa quân trúng tên ngã xuống chết chồng chất, máu tràn mặt đất. Rồi từ hai bên đường, quân triều đình tràn xuống chém giết. Phạm Sư Ôn bị trúng tên chết ngay tại trận. Cuộc nổi loạn ở Quốc Oai bị dẹp tan. Người đánh tan quân khởi nghĩa Phạm Sư Ôn là tướng Hoàng Phùng Thể, đóng ở Hoàng Giang Ninh Bình, nghe tin kinh thành có biến vội kéo quân về dẹp giặc. Sau đó Hoàng Phùng Thể lên Bắc Giang đón Trần Nghệ Tông, Trần Thuận Tông và triều đình trở về kinh đô. Trong khi đó lại có thám mã về báo:
-Dạ bẩm Thái thượng hoàng, Chế Bồng Nga lại dẫn thủy binh đánh vào sông Hoàng Giang - Ninh Bình rồi ạ.
Tướng Hoàng Phùng Thể nói:
-Thần xin tiến cử một người có thể đánh tan giặc Chiêm Thành.
Thái Thượng hoàng hỏi:
-Tướng nào vậy?
Hoàng Phùng Thể đáp:
-Dạ, tướng Trần Khát Chân, quê ở Vĩnh Lộc, Thanh Hóa, dòng dõi nhà Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng, rất giỏi thủy chiến.
-Cho gọi Trần Khát Chân đến đây.
-Dạ.
Trần Khát Chân vào quỳ hành lễ:
-Thái thượng hoàng vạn tuế, vạn tuế.
-Miễn lễ, ái khanh bình thân.
-Tạ thái thượng hoàng.
-Tướng quân Trần Khát Chân nghe khẩu dụ: nay phong Trần Khát Chân làm đại tướng, thống lĩnh quân Long Tiệp tới Ninh Bình phá giặc Chiêm Thành.
-Thần tuân chỉ.
-Ta chờ tin chiến thắng của tướng quân.
-Đa tạ Thái thượng hoàng.
Trần Khát Chân đem binh thuyền vào Hoàng Giang, trông thấy binh thuyền quân Chiêm Thành đông như kiến cỏ, cờ quạt rợp trời, trống chiêng dậy đất. Trần Khát Chân quan sát trận địa và nói với các tướng:
-Ở đây không có địa thế mai phục, phải lui binh về sông Luộc, chọn địa thế mai phục thì mới thắng được giặc.
-Tuân lệnh tướng quân.
Trần Khát Chân cho lui binh về đoạn sông Hải Triều của sông Luộc, nằm giữa một bên là Hưng Nhân (Hưng Hà) Thái Bình, bên kia là Tiên Lữ (Phủ Cừ) Hưng Yên. Hai bên bờ sông cây cỏ rậm rạp. Đây là đoạn sông mà giặc bắt buộc phải đi qua để vào sông Hồng vào Thăng Long. Trần Khát Chân cho bộ binh mai phục trên bờ, còn đại bộ phận binh thuyền đóng ở phía tây sông Hải Triều chặn giặc. Tối hôm đó, hai người lính Việt dẫn một người lính Chiêm Thành vào và nói:
-Trình tướng quân, có một lính Chiêm sang đầu hàng ta.
Trần Khát Chân hỏi:
-Tên ngươi là gì, sao lại sang đầu hàng ta? Ngươi có biết tiếng Việt không?
-Dạ bẩm tướng quân, tên tôi là Ba Lạu Kê. Tôi biết tiếng Việt. Trong quân doanh của Chiêm Thành, tôi trót vi phạm quân luật sợ bị Chế Bồng Nga xử tử nên phải chạy sang đây, mong tướng quân dung nạp cứu mạng.
-Ta sẽ dung nạp nếu như ngươi lập công, còn được thưởng. Ngươi có biết thuyền của Chế Bồng Nga sơn màu gì không?
-Dạ bẩm tướng quân, toàn bộ chiến thuyền của thủy binh Chiêm Thành sơn màu trắng, duy có thuyền của Chế Bồng Nga to nhất và sơn màu xanh.
Trần Khát Chân nói:
-Tốt, ngươi hãy ở quân doanh của ta, đi theo ta và khi lâm trận, nếu thấy thuyền Chế Bồng Nga thì chỉ cho ta.
-Đa tạ tướng quân.
Trần Khát Chân cho đặt trên bờ đoạn sông mai phục 4 máy bắn đá cực lớn, lại có nhiều cung cứng nỏ mạnh, cả tên có lửa và ra lệnh khi thấy thuyền màu xanh thì nhất loạt bắn vào.
Sáng hôm sau, binh thuyền của quân Chiêm Thành ào ạt đánh tới. Dòng sông hơi hẹp nên binh thuyền đi theo hàng dọc hai hàng. Toàn bộ binh thuyền lọt vào trận địa mai phục. Mười chiếc thuyền trắng đi đầu, một chiếc thuyền màu xanh to lớn đi theo sau. Ba Lạu Kê nói với Trần Khát Chân:
-Chiếc thuyền màu xanh đó chính là thuyền của Chế Bồng Nga.
Trần Khát Chân ra lệnh:
-Máy bắn đá và tất cả cung nỏ bắn vào thuyền màu xanh.
-Tuân lệnh chủ tướng.
Quân Việt hai bên bờ nã máy bắn đá và tất cả cung nỏ vào thuyền màu xanh. Chế Bồng Nga đang theo dõi đoàn binh thuyền của quân Việt ở phía trước để xông tới tác chiến thì bất ngờ bị đá dội vào đầu và trúng tên tới tấp. Chế Bồng Nga chết gục xuống thuyền, máu tuôn xối xả. Quân Chiêm Thành hỗn loạn, tiếng kêu thảm thiết vang khắp không gian. Ba Lạu Kê bảo Trần Khát Chân:
-Họ đang kêu hoàng thượng Chế Bồng Nga chết rồi.
Trần Khát Chân ra lệnh cho thủy binh:
-Xông lên đánh giết.
Đại đội binh thuyền quân Việt ở phía tây khoảng nửa dặm lao xuống leo lên thuyền quân Chiêm Thành chém giết. Quân Chiêm Thành bị giết hàng vạn, số còn lại nhảy xuống sông chết đuối, còn sống thì bơi vào bờ và bị bắt. Quân Chiêm đại bại, 100 chiến thuyền bị chìm, còn một ít chiến thuyền tháo chạy ra biển về nước. Trần Diệu Nguyên, tướng nhà Trần trước đã hàng phục Chế Bồng Nga, nay muốn lập công quay về, liền cắt đầu của Chế Bồng Nga chạy sang thuyền của Phạm Nhữ Lặc, Dương Ngang nhưng bị hai tướng này giết, cướp lấy đầu Chế Bồng Nga và đem về cho Trần Khát Chân. Trần Khát Chân sai người chạy ngựa gấp đem đầu Chế Bồng Nga về dâng cho Thái thượng hoàng. Khi đó Trần Nghệ Tông đang ở Bình Than, canh ba đang ngủ. Quan nội thị vào báo:
-Dạ bẩm Thái thượng hoàng, tướng Trần Khát Chân đã đánh tan giặc Chiêm Thành, giết chết Chế Bồng Nga, cắt đầu đem dâng Thái thượng hoàng.
Thái thượng nói:
-Đưa vào ta xem.
Hai người lính đem chiếc hòm gỗ vào, mở ra cho Trần Nghệ Tông xem. Râu tóc Chế bồng Nga dựng ngược, hai mắt vẫn mở trừng trừng. Trần Nghệ Tông cười sảng khoái:
-Ha!ha!ha!...Ta đợi ngươi đã lâu rồi, nay thấy được đầu nhà ngươi không khác gì Hán Cao Tổ xưa thấy được đầu Hạng Vũ. Trần Khát Chân khá lắm. Quan nội thị đâu:
-Dạ.
-Truyền khẩu dụ, nay phong Trần Khát Chân làm Long Tiệp bỗng thần nội vệ Thượng tướng quân, tước Vũ Tiết quan nội hầu.
-Thần sẽ đi thuyền khẩu dụ ngay.
Sau khi Chế Bồng Nga tử trận, Chiêm Thành bước vào thời kỳ suy thoái, họa xâm lăng từ phía nam Đại Việt tạm yên. Hai con của Chế Bồng Nga hàng Việt được thu dùng, trọng dụng. Đó là năm 1390.
* *
*
Vào cuối năm 1394, Thái thượng hoàng Trần Nghệ Tông bắt đầu đau ốm. Trong cung riêng của Thái thượng hoàng, các thái y tấp nập ra vào bắt mạch, các quan nội thị liên tục đem thuốc đã sắc đến, các đại thần lần lượt chăm chỉ tới thăm. Khi Lê Quý Ly tới thăm thì Thái thượng hoàng cho mọi người ra ngoài hết mới nói chuyện. Trong những câu chuyện có đề cập đến tôn thất nhà Trần có ý chống đối Lê Quý Ly thì Thái thượng hoàng nói:
-Việc Trần Nhật Chương mưu giết ái khanh, ta đã cho người giết ông ta rồi, ái khanh đừng lo nữa.
Lê Quý Ly đáp:
-Tạ ơn Thái thượng hoàng, vì thần Thái thượng hoàng đã mất lòng tôn thất rồi.
Lại một hôm khác, Lê Quý Ly vào thăm. Khi còn hai người, Thái thượng hoàng đưa ra một lá thư và nói:
-Có người học trò tên là Bùi Mai Hoa viết trong tương lai ái khanh sẽ lấy ngôi nhà Trần và đề nghị ta giết ái khanh để trừ hậu họa. Ái khanh xem đi.
Lê Quý Ly cầm tờ tâu xem xong trả lại cho Trần Nghệ Tông và nói:
-Đa tạ Thái thượng hoàng đã cho thần xem, đã tin tưởng hạ thần.
Trong một đêm, Thái thượng hoàng mơ thấy Trần Duệ Tông. Trần Duệ Tông vẻ rất đau khổ tiêu điều, hỏi Trần Nghệ Tông:
-Sao Thái thượng hoàng lại giết Trần Phế Đế là con của trẫm, cháu của huynh? Nó có làm gì sai đâu? Nó chỉ muốn trừ khử Lê Quý Ly để giữ cơ nghiệp nhà Trần. Ta báo cho huynh biết: Khi huynh mất, Lê Quý Ly sẽ đoạt ngôi nhà Trần và giết Trần Thuận Tông là con của huynh.
Trần Nghệ Tông nói:
-Cơ nghiệp nhà Trần đã đến bước suy vong, thiên hạ sẽ đại loạn, bá tính sẽ cơ cực. Ta muốn bắt chước tấm gương của Lý Huệ Tông chọn người ngoại tộc tài giỏi kế vị, thành lập một triều đại mới đưa đất nước đến hưng thịnh, thiên hạ thái bình. Ai bắt Trần Phế Đế lại mưu giết người mà ta đang cần để trao ngai vàng cho để cứu vãn đất nước.
Trần Duệ Tông nói:
-Huynh nhầm rồi, người đó sẽ cưóp ngôi thành lập triều đình mới nhưng không lâu sau thì đánh mất cả ngai vàng và đánh mất cả đất nước. Đất nước sẽ chìm trong máu và nước mắt.
Trần Nghệ Tông nói:
-Không thể nào, không thể nào.
Hình ảnh Trần Duệ Tông qua đi thì hình ánh Trần Phế Đế hiện ra với sợi dây thừng thắt ở cổ. Trần Phế Đế dãy dụa kêu gào thảm thiết:
-Ta không có tội, ta không có tội. Hu!Hu!Hu!...
Trần Nghệ Tông kêu thét lên và vùng dậy kinh hãi, toàn thân run rẩy, người đẫm mồ hôi, lúc nóng lúc lạnh. Các quan nội thị vội dìu Thái thượng hoàng nằm xuống. Bóng đêm đối với Trần Nghệ Tông bây giờ thật quá hãi hùng.
Tháng 1 năm 1394, bệnh của Thái thượng hoàng càng nặng. Các đại thần, tôn thất vào thăm rồi lần lượt về hết, cuối cùng vẫn chỉ còn Lê Quý Ly và Thái thượng hoàng. Trần Nghệ Tông nắm tay Lê Quý Ly và nói những lời trăn trối:
-Bình Chương là em bên ngoại của ta, là em rể của ta, là thông gia của ta, thân thích như người họ Trần. Mọi việc nước nhà ta đã giao cho khanh cả. Mọi thế lực chống đối ái khanh đã bị ta diệt trừ hết. Hiện nay thế nước suy yếu, họ Trần đã hết người xuất sắc. Ta chết đi, quan gia có thể giúp cho Trần Thuận Tông thì giúp, nếu nó hèn kém ngu muội thì ái khanh hãy nhận lấy ngai vàng để cứu thiên hạ khỏi sụp đổ. Được như vậy thì ta có thể yên lòng nhắm mắt.
Lê Quý Ly vội cỡi mũ, khấu đầu khóc mà thưa rằng:
-Nếu hạ thần không hết lòng giúp Trần Thuận Tông thì trời chu đất diệt. Vả lại ngày trước Trần Phế Đế có mưu hãm hại, nếu không có Thái thượng hoàng thì nay thần đã ngậm cười dưới đất, còn đâu đến ngày nay nữa. Vậy hạ thần đâu có ý khác, xin Thái thượng hoàng đừng lo ngại gì.
Ngày 15 tháng 12 năm Ất Hợi 1395 Thái thượng hoàng Trần Nghệ Tông băng hà, hưởng thọ 74 tuổi (1321-1395), tại vị 2 năm (1370-1372), làm Thái thượng hoàng 23 năm (1372-1395), thụy hiệu Thế Thiên Cực Thuần Hiếu hoàng đế, táng vào Nguyên Lăng ở Yên Sinh.
Sau khi Trần Nghệ Tông qua đời, Lê Quý Ly tự lên làm Nhập nội Phù chính Thái sư Bình Chương quân quốc trọng sự Tuyên trung vệ quốc Đại Vương, đeo lân phù vàng, còn tự xưng Phụ chính cai giáo hoàng đế. Vua Trần Thuận Tông cho Lê Quý Ly ở bên hữu sảnh đài gọi là Hoa Lư. Lê Quý Lý còn cho dịch “Thiên vô dật” của mình để dạy cho Trần Thuận Tông học. Quyền lực của Lê Quý Ly nghiêng cả thiên hạ, nghiêng cả triều đình.
IV
Năm 1397, trời mùa đông lạnh lẽo nhưng điện Càn Nguyên thì nóng lên hầm hập trong buổi thiết triều, Thái sư Lê Quý Ly đưa ra quyết định dời kinh đô từ Thăng Long về Thanh Hóa. Bá quan văn võ sửng sốt bàng hoàng. Nhiều người tưởng mình nghe nhầm, hỏi lại đại thần ngồi bên cạnh:
-Hả, dời đô về Thanh Hóa? Ta không nghe nhầm chứ, thưa ngài?
-Ngài không nghe nhầm, chính Thái sư nói vậy. Ta nghe tiếp xem ngài ta nói gì nữa.
Lê Quý Ly đứng trên nền cao của điện Càn Nguyên, bên cạnh vua Trần Thuận Tông im lặng ngồi trên ngai vàng. Lê Quý Ly nói:
-Các ngài có biết ở Trung Quốc cách đây vài chục năm đã thay đổi triều đại không? Người Mông Cổ xâm lược Trung Quốc từ năm 1279, thiết lập triều đại nhà Nguyên thống trị Trung Quốc. Đến năm 1368, triều đại này đã bị Chu Nguyên Chương lật đổ, một triều đại Minh hưng thịnh đã được thiết lập. Triều đại này không che dấu dã tâm xâm lược Đại Việt, uy hiếp Thăng Long. Cho nên ta phải dời đô về Thanh Hóa để tránh sự uy hiếp đe dọa trực tiếp của nhà Minh. Có vị nào có ý kiến gì không?
Cả triều đình không ai dám nói, nhất là những lời can ngăn trái ý Lê Quý Ly. Chỉ có Phạm Cự Luận, mưu sĩ bậc nhất của Lê Quý Ly cả gan đứng dậy nói:
-Triều đình ta không nên dời đô. Xưa Lý Thái Tổ không phải vô cớ mà dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long. Thăng Long là thế đất rồng chầu hổ cuộn, từ đây mà cai trị được thiên hạ, làm cho thiên hạ thái bình, vững mạnh, là trung tâm thiêng liêng của đất nước. Thái sư nên nhớ các triều đại Đinh-Lê đóng đô ở Hoa Lư, vương triều chỉ tồn tại ngắn ngủi được mấy chục năm. Khi Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long, nhà Lý tồn tại được 200 năm, nhà Trần ta cùng đã gần 200 năm. Đây là đất đế vương, xin Thái sư lưu ý.
Quan Khu mật chi sự Nguyễn Nhữ Thuyết cũng là một mưu sĩ của Lê Quý Ly đứng dậy nói:
-Bẩm thái sư, ngài Phạm Cự Luận nói không sai. Thăng Long là đất đế vương, long mạch bền vững của triều đình. Còn như nếu nhà Minh xâm lược, Tây Đô Thanh Hóa cũng chỉ cách Thăng Long có 300 dặm đường, giặc đã vào được Thăng Long tất chúng sẽ vào được Thanh Hóa. Nhưng giặc vào được Thăng Long chưa chắc chúng ta đã thua, mất Thăng Long tạm thời chưa chắc đã mất nước. Xưa đức Trần Thái Tông, đức Trần Nhân Tông, Thăng Long đã ba lần vào tay giặc Nguyên-Mông nhưng cuối cùng các vị tiên đế đã đánh cho chúng thua tơi bời không con mảnh giáp. Khi bị thế giặc mạnh uy hiếp các vị tiên đế có bàn chuyện dời đô đâu? Được thua là ở chỗ có tài cầm quân đánh giặc chứ được thua đâu ở chuyện dời đô. Vả lại có câu “Đức bất trái hiểm”, có nghĩa là gốc là ở đức chứ không phải là xây thành nơi hiểm yếu. Mong thái sư nghĩ lại.
Lê Quý Ly không ngờ hai mưu sĩ thân cận của mình lại phản đối với ý kiến sâu sắc xác đáng như vậy. Lê Quý Ly nổi giận để át đi cái lúng túng không còn lý lẽ của mình:
-Ý ta đã quyết, ai không nghe chém.
Cả triều đình im lặng, sợi hãi cúi đầu. Lê Quý Ly gọi:
-Đỗ Tĩnh đâu.
-Dạ, có hạ quan.
-Khanh vào động An Tôn, phủ Thanh Hóa xem đất đai, đo đạc, xem phong thủy và tính toán để huy động nhân công xây dựng. Nhớ phải tính toán cho hợp phong thủy không được sai sót.
-Hạ quan tuân lệnh.
-Lê Nguyên Trừng đâu.
-Có Trừng nhi.
-Con và Đỗ Tĩnh tính toán. Riêng con phải vẽ thiết kế thành Tây Đô và chỉ huy việc xây dựng công trình, không được sai sót.
-Hài nhi tuân lệnh phụ thân.
Ba tháng sau, tháng 4, thời gian mùa xuân đã kết thúc, chớm bước sang mùa hè, nắng chảy xuống kinh thành Thăng Long chói chang. Lê Quý Ly ngồi trong phủ Thái sư uống trà thì có tùy tướng vào báo:
-Dạ bẩm Thái sư, có Tư đồ Lê Nguyên Trừng từ Thanh Hóa về muốn vào gặp.
Lê Quý Ly vui mừng:
-Cho vào ngay.
-Dạ.
Lê Nguyên Trừng bước vào quỳ hành lễ:
-Kính chào phụ thân.
-Miễn lễ, đứng dậy đi.
-Đa tạ phụ thân.
Sau một lượt trà, Lê Quý Ly hỏi vào công việc:
-Thành Tây Đô con cho xây dựng đến đâu rồi?
Lê Nguyên Trừng đặt ly nước xuống bàn và nói:
-Thưa cha, triều đình đã huy động hàng chục vạn nhân công làm việc suốt ngày đêm hơn ba tháng ròng, đến nay về cơ bản đã xây dựng xong.
Rồi Lê Nguyên Trừng lôi từ ống tay áo ra một bản vẽ trải lên bàn và nói:
-Thưa phụ thân, đây là bản vẽ của thành Tây Đô An Tôn.
Lê Quý Ly chăm chú nhìn. Lê Nguyên Trừng chỉ tay nói tiếp:
-Thưa cha, thành An Tôn nằm trên diện tích của hai thôn Tây Giai và Xuân Giai, xã Vĩnh Tiến, lại thêm thôn Đông Môn, xã Vĩnh Long, huyện Vĩnh Lộc, phủ Thanh Hóa, cách Thăng Long gần 300 dặm. Thành An Tôn nằm vào địa thế rất hiểm trở, có sông nước bao quanh, có núi non hiểm trở. Thành bao gồm thành nội, thành ngoại và La Thành là thành ngoài cùng. Thành nội gần như là một hình vuông, mỗi cạnh dài 200 trượng. Mặt ngoài của thành dùng những tảng đá lớn ghép thẳng đứng, mặt trong đắp đất. Thành cao khoảng 1 trượng hai thước. Trong thành diện tích rộng 320 mẫu, trên đó xây dựng đầy đủ cung điện cần thiết cho triều đình như ở Thăng Long. Bốn cổng thành theo hướng nam-bắc, đông-tây gọi là cổng tiền, hậu, tả hữu. Cửa tiền là cửa nam, cửa bắc là cửa hậu, cửa đông là cửa đông môn, cửa tây là cửa tây giai. Các cổng đều theo kiểu vòm cuốn, đá khối lớn xếp theo múi bưởi. To nhất là cửa nam, gồm 3 cửa vòm cuốn, mỗi cửa dài 8 trượng 45 thước, cao hơn 2 trượng, rộng 3 trượng 9 tấc. Các phiến đá dùng để xây dựng đặc biệt lớn, mỗi phiến dài 2 trượng, cao 3/4 trượng , mỗi phiến đá nặng 3000 cân. Các phiến đá của thành nội đưa lên cao ghép với nhau, không cần vôi vữa hoặc một chất kết dính nào.
Thành ngoại đắp bằng đất. Đất dùng nhiều như núi. Bên trong thành trồng tre gai dày đặc, chung quanh có hào nước sâu hơn 12 trượng.
Bên ngoài thành ngoại là La Thành, là thành đất, cao 1,5 trượng, là con đê hình thang, thượng thu hạ thách, bên ngoài dốc đứng, phía trong thoai thoải kiểu bậc thang. La Thành dựa theo địa hình tự nhiên, có đoạn nối liền với núi đá, lấy núi làm tường thành thiên nhiên hùng vĩ, có đoạn là các dòng sông, sông biến thành hào lũy trường thành. La Thành vì vậy là thành vô cùng rộng lớn, phía tả từ tổng cổ Biên, phía đông qua các xã Bút Sơn, Cổ Điệp, theo sông Bảo (sông Bưởi) chạy về Đốn Sơn. Phía hữu từ tổng Quan Hoàng, huyện Cẩm Thủy, theo ven sông Mã chạy về đông thẳng đến núi Yên Tôn mấy vạn trượng.
Lê Quý Ly hỏi:
-Bao nhiêu địa phương đã được huy động xây dựng thành?
Lê Nguyên Trừng đáp:
-Thưa phụ thân, số địa phương được huy động là 249 với hàng chục vạn nhân công, họ là nông dân, lao động ngày đêm nặng nhọc, nguy hiểm, nhất là trong khai thác vận chuyển những khối đá lớn, lại đưa lên cao, số người chết và bị thương không kể xiết. Có một thiếu nữ tên là Bình Khương đã tự sát khi nghe tin chồng là Cống sinh Trần Xuân Sĩ đi xây dựng thành đã chết, bách tính địa phương đã lập đền thờ nàng ta.
Ngừng lại uống nước, Lê Nguyên Trừng nói tiếp:
-Về chi phí cho xây thành cũng không thể kể xiết. Thưa cha, việc xây dựng thành An Tôn đã vi phạm nguyên tắc khoan thư sức dân về cả nhân lực và tài lực. Bách tính và quốc gia thực sự đã hoàn toàn kiệt quệ
Lê Quý Ly nói:
-Vì việc lớn, vì đại cục, vì sự nghiệp chúng ta không được nản lòng.
Im lặng hồi lâu, sau cùng Lê Nguyên Trừng hỏi:
-Thân phụ bao giờ cho dời đô?
-Lê Quý Ly đáp:
-Trong tháng này thôi.
Sáng nay, văn võ bá quan đến thiết triều, có lẽ là phiên thiết triều cuối cùng của vương triều Trần ở Thăng Long. Vua Trần Thuận Tông ngồi trên ngai vàng. Thái sư Bình chương quân quốc trọng sự Lê Quý Ly đứng bên cạnh, bá quan văn võ quỳ xuống hành lễ:
-Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.
Trần Thuận Tông nói:
-Miễn lễ, các ái khanh bình thân.
-Tạ ơn hoàng thượng.
Trần Thuận Tông hỏi:
-Có ai tấu trình không?
Lê Quý Ly nói:
-Thần có tấu.
-Ái khanh có gì tấu đi.
-Ta thông báo cho triều đình biết, trong ba tháng qua, với sự cố gắng của Tư đồ Lê Nguyên Trừng, Thượng thư Bộ công Đỗ Tĩnh, huy động hàng chục vạn dân công ở 249 địa phương trong cả nước, đến nay thành An Tôn ở Vĩnh Lộc Thanh Hóa đã được xây xong. Ta tuyên bố thành An Tôn sẽ được gọi là Tây Đô, Thăng Long đổi thành Đông Đô. Ta tuyên bố triều đình bắt đầu dời kinh đô vào Tây Đô.
Đã biết trước trong phiên thiết triều cách đây ba tháng nhưng hầu hết các đại thần đều choáng váng:
-Hả, nhanh vậy sao?
-Hả, dời đô, ta ngủ mê hay là sự thật?
Nhưng rồi tất cả hiểu là sự thật khi Lê Quý Ly nói tiếp:
-Mọi người nghe mệnh lệnh sau đây:
-Tướng Phạm Nhữ Lạc, tướng Dương Ngang.
-Có mạt tướng.
-Hai tướng chỉ huy 2 vạn quân ở lại bảo vệ Thăng Long.
-Chúng mạt tướng tuân lệnh.
-Tướng Trần Khát Chân.
-Có mạt tướng.
-Tướng quân chỉ huy thủy binh, dùng thuyền chiến vận tải đồ đạc, của cải nặng nề và cồng kềnh của triều đình và của hoàng gia vào Tây Đô. Tướng quân hãy đi theo đường sông Hồng ra Lục Đầu Giang ra cửa Cấm theo đường biển mà vào sông Mã mà vào Tây Đô. Có thể chở thành nhiều chuyến, bao giờ hết thì thôi.
-Mạt tướng tuân lệnh.
-Tư đồ Lê Nguyên Trừng nghe lệnh.
-Có nhi thần.
-Tư đồ tổ chức cho hoàng gia di chuyển bằng xe ngựa kéo trong đó có cả hoàng thượng đi từ Thăng Long vào Tây Đô, cho 4 vạn quân đi theo bảo vệ.
-Nhi thần tuân lệnh.
-Tướng quân Trần Nguyên Hãn.
-Có mạt tướng.
-Tướng quân phụ trách sự di chuyển của các gia đình đại thần, quan lại vào Tây Đô. Mỗi gia đình đại thần, quan lại thuộc triều đình phải dùng xe ngựa riêng và ngựa để vận chuyển người và của cải đồ đạc. Tướng quân đem theo 3 vạn quân để giúp đỡ và bảo vệ. Đoàn của các gia đình đại thần quan lại đi sau xe của hoàng gia.
-Mạt tướng tuân lệnh.
-Ai còn tấu không?
Im lặng
-Không có tấu, bãi triều.
Từ đó cho đến nửa tháng sau, triều đình, hoàng gia và các gia đình đại thần quan lại tất bật chuẩn bị gói ghém cho sự ra đi. Thăng Long trong tình trạng hỗn loạn rối ren. Thế rồi vào một ngày mùa đông năm 1397, từ Thăng Long, hàng vạn quân đi trước, theo sau là xe ngựa, ngựa đầy sắc cờ màu vàng chở những gia đình quý tộc hoàng gia, áo quần sang trọng gấm vóc, kèm theo tư trang đồ đạc đi dài dằng dặc trên con đường thiên lý từ Thăng Long vào Tây Đô. Tiếp theo đoàn xe ngựa của hoàng gia là đoàn xe ngựa của gia đình các đại thần quan lại không có cờ quạt nhưng cũng kéo dài dằng dặc. Đi sau cùng là hàng vạn quân đội. Cuộc di tản khổng lồ làm bụi cuốn mù mịt bay theo gió. Hoàng gia và quý tộc nay mới dời Thăng Long lần đầu đi trên con đường thiên lý, trông thấy hai bên đường làng mạc nông thôn tiêu điều xơ xác, dân cư đói nghèo cực khổ. Những đứa trẻ gầy dơ xương, mùa đông mà hầu như không quần áo hoặc có thì cũng rách rưới ra đứng nhìn đoàn người, ngựa xe vàng son mệt mỏi ủ rũ đi trong bụi đường gió lạnh về phương nam mà chúng không hiểu họ đi về đâu và vì sao lại bỏ Thăng Long êm ấm sung sướng mà đi? Ba cụ già ngồi trong quán bên đường thiên lý nhìn đoàn người ngựa xe và quân đội đi dài như bất tận. Một cụ đầu chít khăn nâu, tóc hoa râm, áo dài nâu đặt đen, áo dài đen vẻ nhà Nho:
-Cụ đọc sách nhiều, nước ta có mấy lần thiên đô rồi cụ?
Cụ đồ uống xong bát nước, đặt bát xuống và vuốt râu trả lời:
-Thiên đô lần thứ nhất là sau khi kế vị vua Hùng, Thục Phán An Dương Vương dời đô từ Bạch Hạc, Phú Thọ về Cổ Loa. Cuộc dời đô thứ hai là Đinh Tiên Hoàng đế sau khi đánh bại và thu phục 11 sứ quân, lập nước Đại Cồ Việt thì đóng đô ở Hoa Lư, Ninh Bình. Cuộc dời đô thứ ba là sau khi khai sáng ra nhà Lý, năm 1010, Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long. Thăng Long là kinh đô của nước Đại Việt đã được 400 năm nay của hai triều Lý-Trần, còn đây là cuộc dời đô thứ tư, dời từ Thăng Long về Tây Đô Thanh Hóa.
Một cụ chít khăn nâu nhưng tóc bạc trắng thở dài nói:
-Không hiểu ngài tể tướng Lê Quý Ly này đang làm gì nữa? Xưa Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long là lúc thế nước đi lên, dời từ miền núi ra đồng bằng sông Hồng là đất rồng chầu hổ cuốn, trung tâm linh thiêng của cả nước nên Đại Việt đã thịnh trị được gần 400 năm, nay lại dời đô từ đồng bằng về miền núi, thật là ngược đời.
Cụ chít khăn nâu, tóc hoa râm nói:
-Có lẽ dời đô để chuẩn bị kháng chiến chống giặc Minh xâm lược. Nghe nói thời kỳ này quân Minh đang gây sức ép với Đại Việt rất mạnh. Còn nữa, dời đô để Lê Quý Ly chuẩn bị cướp ngôi nhà Trần.
Cụ đồ nói:
-Ôi trời ôi, xưa nhà Lý có dời đô đâu mà Lý Thường Kiệt đã đánh bại quân Tống trên bờ sông Cầu, ngay như nhà Trần có dời đô đâu mà Trần Thái Tông và Trần Hưng Đạo ba lần đánh bại quân Nguyên- Mông to lớn và tàn bạo khét tiếng. Nay nếu chiến tranh nổ ra, quân Minh chiếm được Thăng Long, chúng sẽ không tiến được vào Tây Đô chăng, chỉ cách Thăng Long 300 dặm.
Cụ bê chén nước uống và nói tiếp:
-Còn chuyện dời đô để cướp ngôi thì ở đâu mà chả cướp được khi binh quyền đã ở trong tay, thế lực tể tướng Lê Quý Ly hiện nghiêng cả triều đình và thiên hạ. Thực tế ông ta đã là hoàng đế rồi, còn đòi gì nữa.
Cả ba người im lặng thở dài. Một cụ than:
-Thời cuộc rối ren, đất nước hỗn loạn, không thể hiểu được, chỉ khổ bách tính chúng ta mà thôi.
Cả ba im lặng lại uống nước, mắt nhìn đoàn người ngựa dằng dặc trên đường thiên lý, bụi cuốn mù trời. Trời đất nhuốm màu ảm đạm, thê lương. Vận mệnh Đại Việt bước vào hồi mong manh, khó lường.
Qua hai ngày thì cuộc thiên di cũng kết thúc, cuộc dời đô thành công. Đại Việt đã có một kinh đô mới chật hẹp, núi sông bao quanh như một pháo đài cố thủ.
* *
*
Đến hôm trước thì sáng hôm sau Lê Quý Ly lên tầng cao nhất của điện Càn Nguyên ở thành nội quan sát bốn phương. Lê Quý Ly cảm thấy cực vui khi ý tưởng của mình đã thành hiện thực. Lê Quý Ly đang đứng trên tòa thành được gọi là kinh đô của nước Đại Việt. Thành nội là thành ghép bằng những khối đá lớn, đồ sộ, bề thế. Trong thành nội đủ các cung điện như ở Thăng Long cho triều đình làm việc, chỗ ở cho hoàng gia, cho gia đình các đại thần, quan lại trung ương. Những cung điện với những đà đao uốn cong rồng phượng nhô lên trên bầu trời màu xám.
Bao quanh thành nội là một khoảng không gian rộng lớn là thành ngoại. Đó là bức thành đất khổng lồ được phủ bởi những rặng tre gai xanh ngát. Những ngọn của rừng tre đung đưa theo gió. Bên ngoài lũy tre là hào nước bao quanh. Lê Quý Ly đưa mắt nhìn xa hơn nữa, ngoài thành ngoại là La Thành, có những đoạn đắp đất nối liền với những dãy núi tạo nên những bức tường thành tự nhiên. Núi xanh ngát vươn lên trong mây trắng sương bạc. Đó là các núi Đốn Sơn, núi Hắc Khuyển, núi Xuân Đài, núi Trác Phong, núi Tiến Sĩ, núi Kim Ngọ, núi Ngưu Ngọc, núi Voi. Chen giữa núi là các con sông Bưởi, sông Mã nước lồng như ngựa tung bờm phi ra biển. La Thành không chỉ là thành phòng thủ, còn là đê ngăn lũ lụt. La Thành xanh ngát màu xanh của núi sông cây lá, tre gai và nhiều cây lá vô danh khác.
Núi Đốn Sơn là nơi có Đền Thề như đền Đồng Cổ ở Thăng Long. Phía nam thành ngoại Lê Quý Ly dự tính cho xây đàn Nam Giao đồ sộ để triều đình làm lễ tế giao đại xá, để thiên tử tiếp xúc với thiên đình.
Buổi sáng mùa hạ năm 1398, bầu trời Tây Đô u ám, gió lặng im ngừng thổi. Trong điện Càn Nguyên, bá quan văn võ đang dự phiên thiết triều. Vua Trần Thuận Tông ngồi trên ngai vàng, Thái sư Lê Quý Ly đứng bên cạnh. Các quan quỳ xuống hành lễ:
-Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.
-Miễn lễ, các ái khanh bình thân.
-Tạ ơn hoàng thượng.
Trần Thuận Tông nói:
-Bá quan văn võ hãy nghe chiếu nhường ngôi của ta.
Các đại thần văn võ bá quan hoảng hốt ngạc nhiên:
-Hả, hoàng thượng nhường ngôi?
-Sao hoàng thượng lại nhường ngôi?
-Thái tử Trần An mới ba tuổi mà, còn quá bé.
Trần Thuận Tông giục quan nội thị:
-Khanh đọc chiếu đi, sao lại ngẩn người ra vậy?
-Dạ, thần tuân chỉ.
-“ Thuận thiên thừa vận, hoàng đế chiếu viết, trẫm vốn mộ đạo, không có bụng làm vua, không có đức mà tạm giữ ngôi báu thực khó làm nổi, huống chi bệnh thần kinh thường phát tác, thờ cúng và chính sự đều không làm được. Lời thề nguyền trước trời đất, quỷ thần đều nghe, nay nên nhường ngôi để vững nghiệp lớn. Hoàng thái tử Trần An lên ngôi đế. Phụ chính Thái sư Lê Quý Ly là Quốc tổ nhiếp chính. Trẫm tự làm Thái thượng hoàng Nguyên quân Hoàng đế, tu dưỡng ở cung Bảo Thanh để thỏa chí. Khâm thử"”
Lê Quý Ly gọi:
-Người đâu.
-Dạ.
-Đem hoàng thượng mới ra.
-Dạ.
Quan nội thị bế hoàng thái tử Trần An mới 3 tuổi ra, mình mặc áo màu vàng. Trần Thuận Tông rời khỏi ngai vàng. Thái tử khóc giơ hai tay đòi:
-Cha ơi, bế con, con sợ quá, cha ơi…
Trần Thuận Tông nói:
-Con đừng sợ, con ngồi lên ghế đi.
Quan nội thị đặt Trần An lên ngai vàng, đội vương miện lên đầu. Hoàng thái tử càng khóc to, giật vương miện xuống. Quan nội thị phải lùi về phía sau lưng giữ mũ lại. Lê Quý Ly nói:
-Hoàng Thái tử Trần An lên ngôi, đế hiệu là Trần Thiếu Đế.
Bá quan văn võ vội quỳ xuống:
-Hoàng thượng vạn vạn tuế.
Lê Quý Ly nói:
-Ta thay hoàng thượng mời các ái khanh bình thân.
-Tạ ơn hoàng thượng.
-Tạ Phụ chính Thái sư.
Sau lời hô của bá quan, ngoài trời bỗng nhiên sấm sét tóe lửa và giông bão nổi lên kèm theo tiếng mưa gào không dứt. Văn võ bá quan cả sợ. Một số nghĩ trong đầu mà không dám nói ra: “Điềm rất xấu, vận nhà Trần sắp hết”.
Sau khi nhường ngôi, ngày 30 tháng 4, Trần Thuận Tông đi tu đạo ở quán Ngọc Thanh, thôn Đạm Thủy. Trong tháng đó, Thái thượng hoàng Nguyên Quân Trần Thuận Tông qua đời, thọ 23 tuổi (1377-1400), ở ngôi 9 năm (1388-1398), tôn hiệu Nguyên Hoàng.
* *
*
Năm 1399, đêm mùa hè tháng 6 ở vùng núi Đốn Sơn khí trời oi bức. Khắp nơi phủ bóng đen mịt mù. Những vì sao trên trời lung linh như những viên ngọc. Những dòng sông Mã, sông Bưởi nước cũng nhuộm màu đem oằn mình trườn ra biển. Vài con thuyền trôi vô định lập lòe ánh lửa. Những dãy núi cao thấp say trong giấc ngủ. Kinh thành An Tôn đèn sáng lập lòe tạo nên vùng sáng tựa ngân hà xa xăm.
Trong ngôi nhà lợp ngói hai tầng của tướng Trần Khát Chân dưới chân núi Đốn Sơn cũng chìm trong bóng tối. Trên căn phòng tầng hai le lói ánh đèn, ngồi ghế chủ là Trần Khát Chân. Trước mặt Trần Khát Chân là hai chiếc ghế tràng kỷ màu gụ, giữa đặt một chiếc bàn, trên bàn đặt bộ ấm trà. Những người ngồi ở ghế gồm Phạm Ngưu Tất, Phạm Thu Tổ, Trần Nguyên Hãng, em Trần Khát Chân, Trụ Quốc Trần Nhật Đôn, Phạm Khả Vĩnh, Hành Khiển Hà Đức Lân, Lương Nguyên Bưu, Phạm Ông Thiên. Tất cả gồm tám đại thần (trừ Phạm Ngưu Tất là thích khách) còn có lòng trung với nhà Trần. Sau một lượt trà, Trần Khát Chân đặt ly xuống và nói nhỏ đủ cho người trong phòng nghe được:
-Thưa các vị, các vị cùng ta là những trung thần ít ỏi của nhà Trần. Hầu hết bá quan văn võ trong triều đình đều là tay chân của Lê Quý Ly. Thưa các vị, ngài vàng và vương triều nhà Trần đã đến hồi nguy cấp. Thái Thượng hoàng nguyên quân hoàng đế Trần Thuận Tông mới 23 tuổi, khỏe mạnh nhưng Lê Quý Ly ép buộc phải thoái vị, nhường ngôi cho hoàng thượng Trần Thiếu Đế, hoàng thượng còn quá nhỏ, Lê Quý Ly là Thái sư nhiếp chính nắm đại quyền, cha con anh em Lê Quý Ly chia nhau nắm hết các chức vụ trọng yếu của triều đình. Bây giờ Lê Quý Ly chỉ còn một việc là tuyên chiếu nói hoàng thượng nhường ngôi cho mình là ngồi lên ngai vàng, trở thành hoàng đế, nhà Trần diệt vong. Cách tốt nhất để bảo vệ cơ nghiệp nhà Trần là giết chết Lê Quý Ly. Nhưng giết được Lê Quý Ly không phải là chuyện dễ. Trong khi ông ta di chuyển thường có 20 võ sĩ võ nghệ cao cường trung thành bảo vệ. Tư dinh, phòng ngủ canh phòng cẩn mật, trong ăn uống cũng rất nghiêm ngặt, thức ăn thức uống đem đến qua nhiều lần dùng kim bạc thử độc và sau cùng có một võ sĩ chuyên nếm thức ăn trước khi Lê Quý Ly ăn. Khó tiếp cận như vậy, các ngài có cao kiến gì không?
Trần Khát Chân dừng lại uống nước và chờ đợi. Trần Nguyên Hãng nói:
-Theo truyền thống thì ngày mùng 4 tháng tư, các quan văn võ phải lên núi Đốn Sơn để hội thề. Hôm đó dứt khoát Lê Quý Ly phải đến, ta cho Phạm Ngưu Tất dấu gươm vào người chen lại gần bất ngờ đâm thì Lê Quý Ly chắc chết.
Phạm Ngưu Tất nói:
-Cần có bộ quần áo giống quần áo của 20 võ sĩ bảo vệ Lê Quý Ly, ta sẽ mặc và len vào gần bất ngờ đâm Lê Quý Ly thì việc lớn thành công.
Trần Nhất Đôn nói:
-Nhưng như vậy kiếm khách sẽ phải chết.
Phạm Ngưu Tất nói:
-Chết vì nghĩa lớn thì có xá gì.
Mọi người im lặng một hồi lâu, cuối cùng Trần Khát Chân nói:
-Thôi cũng đành phải hy sinh một người vậy. Việc kiếm bộ quân phục võ sĩ không khó, ta sẽ cung cấp cho huynh. Vậy thống nhất là ngày mùng bốn tháng tư là ngày hội thề, chúng ta sẽ hành động.
Tất cả đồng thanh đáp:
-Chúng tôi vâng lệnh tướng quân.
* *
*
Nắng ban mai rải xuống khắp vùng Tây Đô, rải xuống núi Đốn Sơn trắng xóa. Cây lá xanh tươi đung đưa theo gió. Dưới chân núi xe ngựa của đại thần, quan lại đến ngày càng đông. Quân lính triều đình quân phục, gươm giáo đã rải khắp từ chân núi và vây quanh khu đền thề. Hôm nay là ngày hội thề của quan lại triều đình theo thủ tục từ thời Lý đến bây giờ. Thủ tục là các quan theo thứ tự lên đốt hương trước bàn thờ và đọc lời thề trung nghĩa với triều đình, nếu làm trái sẽ bị thần linh tiêu diệt. Hội thề này là kế thừa hội thề ở đền Đồng Cổ ở Thăng Long. Trong đền thờ khói hương nghi ngút, lửa hương đó rực. Người đi lên đi xuống, đi ra đi vào tấp nập đông đúc, chen chúc nhau. Thái sư phụ chính Lê Quý Ly mặc áo vàng, đội mũ ô sa màu vàng, che lọng vàng, nghi lễ trang phục như của thiên tử. Kiệu Lê Quý Ly dừng lại ở chân núi. Khoảng 20 võ sĩ gươm bên mình hộ vệ cho Lê Quý Ly đi lên núi làm lễ. Thích khách Phạm Ngưu Tất trong trang phục giống hệt võ sĩ của Lê Quý Ly trà trộn vào và cùng đi lên núi. Khi Lê Quý Ly làm lễ xong, các vệ sĩ xúm vào bảo vệ ra khỏi đền. Phạm Ngưu Tất cũng chen vào gần, khi đã vừa tầm, bằng một cú nhảy nhanh như tên bắn, Phạm Ngưu Tất lao cả người và con dao vào ngực Lê Quý Ly, một võ sĩ trông thấy cũng nhanh như gió lao lại chắn trước ngực Lê Quý Ly và hứng trọn lưỡi dao giữa ngực, máu phun ra và gục xuống chết ngay. Lê Quý Ly thoát chết trong gang tấc. 5 võ sĩ lôi Lê Quý Ly chạy xa, số còn lại lao vào đâm chém Phạm Ngưu Tất. Phạm Ngưu Tất rút gươm giao đấu, giết thêm 4 võ sĩ nữa nhưng bị trọng thương mà chết.
Vụ ám sát làm chấn động Đại Việt và Triều đình. Lê Quý Ly thoát chết trong tích tắc nhờ có kỹ xảo điêu luyện của các võ sĩ bảo vệ, đặc biệt là tên võ sĩ lấy ngực hứng dao cho Lê Quý Ly khi Phạm Ngưu Tất lao vào như mũi tên bắn. Phạm Ngưu Tất đã chết nhưng không rõ từ đầu mối nào, một tháng sau, Lê Quý Ly đã cho bắt 8 đại thần có mặt họp tại nhà tướng Trần Khát Chân, cả gia đình thân thích của 8 đại thần này cũng bị bắt, tổng cộng 370 người đều bị giết tại núi Đốn Sơn. Thành Tây Đô và cả nước kinh hoàng bởi vụ huyết án máu chảy đầu rơi, những trung thần cuối cùng của vương triều Trần đã bị tiêu diệt. Tài sản của họ bị tịch thu. Trần Khát Chân là người cuối cùng bị hành hình trên núi Đốn Sơn. Trên đỉnh cao của núi, ông hiên ngang nhìn xuống Tây Đô và bao quát toàn phủ Thanh Hóa, xuống vùng Hà Lãng, Vĩnh Lộc, quê hương yêu dấu của ông. Núi non trời nước một màu xanh bao la tươi đẹp hùng vĩ. Ông thét vang lên nỗi uất hận không nguôi:
-Trời ơi sao lại phụ lòng người trung nghĩa, Than ôi!!!.
Tiếng ông vang vọng lan ra tạo nên một điệp khúc bi tráng. Lưỡi gươm vừa đưa vào cổ Trần Khát Chân thì sấm sét vang trời, chớp tung sáng lóa, gió nổi lên và cơn giông bão dữ dội ập đến điên cuồng gào thét. Đó là năm 1399, Trần Khát Chân khi đó mới 29 tuổi (1370-1399). Về sau, dân lập đền thờ ông. Dân gian kể mỗi khi vùng Thanh Hóa hạn hán, bách tính làm lễ cầu đảo thì quả nhiên mưa to gió lớn ập đến.
Tháng 2 năm 1400, kinh thành Tây Đô cũng như toàn vùng Vĩnh Lộc khí trời mùa xuân mát mẻ, nắng ban mai nhàn nhạt, sương phủ trắng núi đồi bay vật vờ như khói. Gió hơi se lạnh, vạn vật cây cối đang bắt đầu ra hoa nở lộc, khoác lên mình bộ áo mới, thay cho sự tàn tạ của mùa đông băng giá.
Trong điện Càn Nguyên đang có buổi thiết triều. Vua Trần Thiếu Đế ngồi trên ngai vàng. Thái sư phụ chính Lê Quý Ly mặc áo vàng đứng cạnh. Văn võ bá quan quỳ hành lễ:
-Hoàng thượng vạn vạn tuế.
Lê Quý Ly nói thay Trần Thiếu Đế:
-Miễn lễ, các ái khanh bình thân.
-Tạ hoàng thượng, tạ Thái sư phụ chính.
-Ái khanh nào có tấu bước ra.
-Thần có tấu.
-Tấu đi.
Một đại thần đứng dậy, mọi người nhìn ra thì đó là tướng Phạm Như Lặc. Phạm Như Lặc nói:
-Nhà Trần dựng nước được gần 200 năm, nay khí số đã hết. Triều đại suy vi, về kinh tế tiêu điều xơ xác, quốc khố trống rỗng, lụt lội triền miên, bách tính đói khổ. Bên ngoài thì nhà Minh tăng cường gây sức ép, sẽ tấn công xâm lược Đại Việt trong nay mai. Tất cả những công việc đó rất cần một hoàng đế tài giỏi để khắc phục, giải quyết, để đưa đất nước vượt qua những khó khăn đó, đi đến cường thịnh để bên ngoài đủ sức chống ngoại xâm, bên trong làm cho dân tình bớt khổ cực, ngày một no ấm, xã tắc vững bền. Kính mong Thái sư phụ quốc hãy ngồi vào ngai vàng để giải quyết những vấn đề bức xúc, khẩn thiết của triều đình, của đất nước. Thần rập đầu khẩn thiết cầu mong Thái sư chấp nhận đăng quang hoàng đế.
Bá quan văn võ rập đầu:
-Mong Thái sự phụ quốc đăng quang hoàng đế.
Lê Quý Ly nói:
-Không được, ta là bề tôi của nhà Trần nên dốc một lòng phò tá hoàng thượng. Bãi triều.
Phiên thiết triều thứ hai, bá quan văn võ lại đề nghị Lê Quý Ly đăng quang hoàng đế, Lê Quý Ly lại từ chối.
Phiên thiết triều thứ ba, bá quan văn võ lại quỳ hành lễ.
-Hoàng thượng vạn tuế vạn tuế.
-Miễn lễ, các ái khanh bình thân.
-Tạ ơn hoàng thượng
-Tạ ơn Thái sư phụ quốc.
-Ai có tấu trình lên.
-Thần có tấu.
Mọi người nhìn ra thì đó là quan đại thần Đỗ Tĩnh. Đỗ Tĩnh nói:
-Tâu hoàng thượng, tâu Thái sư, trên con đường đi của các vương triều, sự thay thế vương triều này bởi vương triều khác là hợp lẽ trời. Như nhà Đinh thay nhà Ngô, nhà Lê thay nhà Đinh, nhà Lý thay nhà Lê, nhà Trần thay nhà Lý. Nay nhà Trần đã hết số, mong Thái sư ngồi lên ngai vàng cho hợp lẽ trời và vì vận nước. Vả lại, khi Trần Nghệ Tông lâm chung đã di chiếu lại cho ngài nếu như vua nhỏ quá không làm được việc thì Thái sư ngồi vào để điều hành đất nước. Ngài Thái sư dám kháng chỉ cũng là di chúc của Thái thượng hoàng Trần Nghệ Tông sao?
Bá quan văn võ lại hô vang:
-Mong Thái sư đăng quang hoàng đế, không được kháng chỉ và di chiếu của Thái thượng hoàng.
Lê Quý Ly nói:
-Đã ba lần rồi, bá quan văn võ đề nghị ta đăng cơ, vả lại có di huấn của Thái thượng hoàng Trần Nghệ Tông, ta không thể kháng chỉ và thoái thác, đành phải chấp nhận ngồi lên ngai vàng vậy.
Quan nội thị đem áo vàng có rồng màu đỏ cuộn và vương miện màu vàng có nhưng dây ngọc lung linh rũ xuống trước mặt và hai vai. Lê Quý Ly khoác áo long bào, đội vương miện. Quan nội thị vội bế Trần Thiếu Đế xuống, Lê Quý Ly ngồi vào ngai vàng, chính thức đăng quang hoàng đế. Bá quan văn võ vội quỳ hành lễ:
-Hoàng thượng vạn vạn tuế.
Lê Quý Ly nói:
-Miễn lễ, các ái khanh bình thân.
-Tạ ơn hoàng thượng.
Lê Quý Ly nói tiếp:
-Ta nay đăng cơ hoàng đế, lấy niên hiệu Thánh Nguyên, đổi quốc hiệu Đại Việt thành Đại Ngu, đổi quốc tính từ họ Lê sang họ Hồ. Từ nay tên húy của ta là Hồ Quý Ly, giáng Trần Thiếu Đế xuống làm Bảo Ninh Đại Vương. Thái phó Hồ Hán Thương, Tư đồ Hồ Nguyên Trừng, Phán Thủ tri tả hữu Ban sự Hồ Quý Tỳ nghe chỉ:
Ba người vội quỳ. Hồ Quý Ly nói tiếp:
-Nay phong Hồ Hán Thương làm thái tử, Hồ Nguyên Trừng làm Tả tướng quốc, Hồ Quý Tỳ làm Hữu tướng quốc.
Ba người đồng thanh nói:
-Tạ ơn hoàng thượng.
Ai có tấu gì không?
Im lặng.
-Không có tấu. Bãi triều.
Một năm sau, năm 1401, Hồ Quý Ly nhường ngôi cho con là thái tử Hồ Hán Thương, lui về làm Thái thượng hoàng nhưng vẫn nắm toàn bộ quyền lực, quyết định mọi công việc của đất nước.
V
Sáu năm sau thành lập triều đại Nhà Hồ, tháng 9 năm 1406, nắng mùa thu như rải lụa xuống Tây Đô. Trong cung Càn Nguyên thành An Tôn, triều đình đang có phiên thiết triều. Hồ Hán Thương ngồi trên ngai vàng, Thái thượng hoàng Hồ Quý Ly ngồi chếch phía sau bên cạnh. Bá quan văn võ quỳ xuống hành lễ:
-Hoàng thượng vạn vạn tuế
-Thái thượng hoàng thiên thiên tuế.
Hồ Quý Ly nói:
-Miễn lễ, các ái khanh bình thân.
-Tạ ơn hoàng thượng.
-Tạ ơn Thái thượng hoàng.
Hồ Quý Ly hỏi:
-Các khanh ai có tấu bước lên.
Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng bước ra:
-Thần có tấu.
-Khanh nói đi.
-Tâu Thái thượng hoàng, tâu hoàng thượng. Suốt sáu năm nay triều đình đã ra sức thực hiện những chính sách cải cách do Thái thượng hoàng đưa ra về kinh tế, quân sự, kinh tế, tài chính và văn hóa. Cho đến nay, những cải cách đó ít mang lại hiệu quả, chưa có tác dụng đưa đất nước thoát khỏi cảnh đói nghèo, không thoát được cuộc khủng hoảng của kinh tế đại điền trang thái ấp.
Hồ Quý Ly có vẻ không hài lòng hỏi:
-Khanh có chứng cớ gì không?
-Dạ, về chính sách hạn điền, hạn nô quy định mỗi gia đình quý tộc chỉ được sử dụng một số lượng đất đai, một số lượng nông nô nhất định, còn thừa phải trao lại cho nhà nước để trao lại cho nông dân. Chính sách này bị bọn quý tộc nhà Trần kiên quyết chống lại quyết liệt, quý tộc nhà Hồ cũng phản đối gay gắt. Số ruộng đất lấy được của quý tộc nhà Trần không chia cho nông dân được vì bị bọn quý tộc nhà Hồ chiếm hết. Nông dân vẫn không có ruộng đất, ngày càng đói khổ và bị biến thành nô tì càng đông đảo. Cái cách thất bại mà nông dân bất mãn với triều đình, quý tộc nhà Trần chống lại. Triều đình ta bị cô lập trước mọi tầng lớp bách tính. Triều đình bị cô lập sẽ rất khó khăn cho công cuộc chống lại quân Minh nếu chúng sang xâm lược một lần nữa.
-Về chính sách thay tiền đồng bằng tiền giấy cũng bị bách tính phản đối vì tiền giấy in bằng giấy học trò rất dễ rách, lại rất dễ in lậu nên bọn in lậu in tiền giả không kể xiết làm đồng tiền phá giá, rối loạn nền tài chính, đời sống bách tính càng thêm khổ cực.
-Chính sách thay chữ Nôm bằng chữ Hán cũng không phải một sớm một chiều mà giải quyết được, phải dịch lại một khối lượng đồ sộ văn bản hàng nghìn năm nay, đặc biệt những văn bản 400 năm nay dưới triều Lý và triều Trần từ chữ Hán ra chữ Nôm. Muốn dịch được phải có một đội ngũ trí thức lớn, tiền bạc giấy tờ để in lại. Những điều đó thời gian còn ngắn nên ta chưa đủ điều kiện cho nên thực hiện được còn rất hạn chế. Vì thế, trong thi hội chúng ta chưa thể thi chữ Nôm được mà vẫn phải thi Nho. Năm 1400, triều đình mở được cuộc thi hội, thi Nho, lấy đỗ được 20 học vị Thái học sinh, trong đó những người tài như Nguyễn Trãi, Lý Tử Tấn, Vũ Mộng Nguyên.
-Về củng cố quốc phòng, chúng ta đã xây dựng xong phòng tuyến Đa Bang dài 800 dặm kéo dài từ núi Tản Viên, men theo bờ nam các sông Đà, sông Hồng, Sông Luộc đến sông Thái Bình, trong đó then chốt nhất là thành Đa Bang ở xã cổ Pháp, Quảng Oai - Sơn Tây (Vạn Thắng, Ba Vì), ngăn quân Minh tràn xuống Đông Đô và đồng bằng sông Hồng, bảo vệ Tây Đô từ xa.
-Chúng ta đã cho đóng cọc ở tất cả cửa sông cửa biển để chặn thủy binh giặc từ Lạng Sơn, từ Tuyên Quang tràn xuống, kể cả cửa sông Bạch Đằng. Chúng ta đã phát triển bộ binh lên đến 10 vạn, thủy binh cũng là lực lượng mạnh. Thủy binh chúng ta đã đóng những tàu chiến lớn hai tầng mang tên tàu “Tải lương Cổ Châu”, “Tải lương trung tàu”. Chúng ta đã chế tạo và sản xuất súng thần công “Thần cơ sang pháo” có sức bắn xa và công phá mạnh chưa nước nào có, kể cả nhà Minh. Thần cơ sang pháo khi bắn ra bằng thuốc nổ, bắn ra một mũi tên sắt dài, kèm theo các viện đạn sắt, đá sát thương rất khủng khiếp. Hiện nay đã có 40 khẩu “Thần cơ sang pháo” đặt ở thành Đa Bang và một số thành khác. Ngoài dao kiếm, bộ binh chúng ta đã có súng hỏa mai, một loại vũ khí cầm tay rất hiệu quả. Nhà Minh chưa có đại bác thần công nhưng quân đội của chúng cũng trang bị phần lớn bằng súng hỏa mai này. Với trang bị như vậy nếu quân Minh sang, thần không sợ đánh mà chỉ sợ lòng dân không theo.
Hồ Quý Ly hỏi:
-Tháng 6 năm 1406, ta đã đánh bại cuộc xâm lược của nhà Minh, bắt tên Việt gian Trần Thiêm Bình và giết chết, sau đó đã ngoại giao mềm dẻo mong để nhà Minh không tấn công xâm lược Đại Ngu nữa. Theo khanh, nhà Minh có còn tấn công xâm lược nước ta nữa hay không?
Hồ Nguyên Trừng đáp:
-Bẩm Thái thượng hoàng, chiến tranh hay không, không phụ thuộc vào ta mà phụ thuộc vào nhà Minh. Kẻ kia có dã tâm quyết xâm lược thì dù ta có ngoại giao mềm mỏng, nhân nhượng bao nhiêu thì chúng vẫn cứ đánh.
Hồ Nguyên Trừng vừa nói xong thì có quan nội thị vào báo:
-Dạ bẩm Thái thượng hoàng, bẩm hoàng thượng, có thám mã từ biên cương về muốn vào gặp báo tin khẩn cấp.
-Cho vào ngay.
-Dạ.
Thám mã vào quỳ và báo:
-Dạ bẩm Thái thượng hoàng, bẩm hoàng thượng, giặc Minh đã huy động 60 vạn lính chiến đấu và hàng vạn dân phu chia làm hai đạo, một đạo từ ải Pha Lũy đánh vào Lạng Sơn, một đạo từ Vân Nam đánh vào ải Phú Lệnh Hà Giang ạ.
Bá quan văn võ nhốn nháo:
-Hả, 60 vạn quân?
Hồ Nguyên Trừng nói:
-Xin bá quan trật tự, nếu là 60 vạn thì thường là chỉ có 20 vạn quân chiến đấu, còn lại là 40 vạnh dân phu bốc vác mang theo lương thực phục vụ, như vậy mỗi đạo quân là 10 vạn quân chiến đấu và 20 vạn dân phu.
Hồ Quý Ly hỏi:
-Quân ta tổng cộng bao nhiêu:
-Bẩm Thái Thượng hoàng, quân ta được khoảng 10 vạn, chỉ bằng một nửa quân số của nhà Minh tiến sang xâm lược.
Hồ Quý Ly nói:
-Quân ta ít hơn, càng phải cố thủ trong các thành lũy ở phòng tuyến Đa Bang để kéo dài chiến tranh, kẻ kia hết lương thực, ta sẽ phản công tiêu diệt chúng như Lý Thường Kiệt đã làm trước kia khi chiến tranh với quân Tống.
Hồ Quý Ly nói tiếp:
-Nay phong Tả tưởng quốc Hồ Nguyên Trừng làm Chủ tướng, tổng chỉ huy các lực lượng thủy bộ Đại Ngu cầm quân chống giặc.
Bá quan văn võ nói:
-Thái thượng hoàng anh minh.
Hồ Nguyên Trừng nói:
-Thần tuân chỉ.
* *
*
Lại nói tháng 9 năm 1406, Minh Thành Tổ huy động 20 vạn quân chiến đấu, 40 vạn dân binh phu khuân vác mở cuộc tấn công xâm lược Đại Ngu lần thứ hai. Quân Minh chia làm hai đạo tiến vào Đại Ngu. Đạo thứ nhất gồm 10 vạn quân chiến đấu, bộ binh và kỵ binh, 20 vạn phu do Chinh di Phó tướng quân Tân Thành hầu Trương Phụ cùng Tham tướng Huỳnh Dương Bá Trần Húc chỉ huy đánh vào ải Pha Lũy theo đường Lạng Sơn tiến xuống. Đạo thứ hai gồm 10 vạn quân chiến đấu, bao gồm bộ binh và kỵ binh, 20 vạn phu do Chinh di Tả phó tướng quân Tây Bình Hầu Mộc Thạnh chỉ huy cùng Tham hữu tướng quân Đô đốc đồng tri Phong Thành Hầu Lý Bân đánh vào cửa ải Phú Lệnh theo đường Hà Giang tiến xuống Bạch Hạc, chiếm Việt Trì Phú Thọ. Trương Phụ Từ Lạng Sơn theo đường Tiên Phúc tiến xuống hội quân với Mộc Thạnh, Lý Bân ở Bạch Hạc. Quân Việt ở Việt Trì do lực lượng mỏng nên nên phải rút về bờ Nam sông Hồng. Quân Minh chiếm được toàn bộ bờ bắc Bạch Hạc.